Phác thảo diện mạo của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, Bùi Việt Thắng đã rất tinh tế khi nhận định “Không ham hố, viết ít nhưng găm lại được dòng chảy của cảm hứng ca ngợi qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tuyết Lan
TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tuyết Lan
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Lê Thị Tuyết Lan
Trang 4Tôi xin cám ơn Ban giám hiệu, Tổ Ngữ văn, các đồng nghiệp ở Trường THPT
Trần Phú, Quận Tân Phú đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong công tác để tôi có
thể theo học chương trình sau đại học
Tiếp theo, tôi xin gửi lời cám ơn đến Quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy lớp Lí luận văn học K.22 đã cung cấp cho chúng tôi nhiều kiến thức quý giá và hướng dẫn chúng tôi phương pháp nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS Phùng Quý Nhâm vì Thầy đã rất tận tình hướng dẫn tôi cách tiếp cận, động viên, giúp tôi hoàn thành luận văn
Sau nữa, xin cám ơn gia đình đã hỗ trợ tôi trong quá trình đi học và thực hiện luận văn
Cuối cùng, cho tôi được nói lời tri ân tất cả
Trang 53
MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
M Ở ĐẦU 5
1 Lí do ch ọn đề tài 5
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3 L ịch sử vấn đề nghiên cứu 7
4 Đóng góp của luận văn 15
5 Phương pháp nghiên cứu 16
6 K ết cấu của luận văn 16
CHƯƠNG 1: THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT C ỦA ĐỖ CHU 17
1.1 Xác định khái niệm Thế giới nghệ thuật 17
1.1.1 Khái niệm 17
1.1.2 Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn 17
1.2 Đỗ Chu - con người và hoạt động văn chương 19
1.2.1 Con người 19
1.2.2 Hoạt động văn chương 22
1.3 Khái quát v ề truyện ngắn Đỗ Chu 34
1.3.1 Những chặng đường phát triển của truyện ngắn Đỗ Chu 34
1.3.2 Khái quát thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu 40
1.3.3 Truyện ngắn Đỗ Chu trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam những năm 1960 - 1980 41
CHƯƠNG 2: ĐỀ TÀI, TƯ TƯỞNG, CẢM THỨC CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU 46
2.1 Đề tài 46
2.1.1 Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ ở miền Bắc 46
2.1.2 Hiện thực đời sống đất nước sau 1975 50
2.1.3 Hoài niệm về quê hương - tuổi thơ 52
2.2 Tư tưởng 54
2.2.1 Tự hào về vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước 55
2.2.2 Ca ngợi vẻ đẹp của con người 56
Trang 64
2.2.3 Trăn trở, lo lắng trước những biểu hiện chưa tốt của đất nước trong thời kỳ mới 61
2.3 C ảm thức con người trong truyện ngắn Đỗ Chu 63
2.3.1 Con người sử thi 63
2.3.2 Con người đời tư, thế sự 70
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT VIẾT TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ CHU 80
3.1 Ngh ệ thuật xây dựng cốt truyện, kết cấu 80
3.1.1 Cốt truyện đơn giản, chi tiết chọn lọc hấp dẫn 80
3.1.2 Kết cấu truyện 85
3.2 L ời văn nghệ thuật 98
3.2.1 Lời văn sống động, giàu hình ảnh 98
3.2.2 Lời văn đậm chất thơ 100
3.2.3 Lời văn đa giọng điệu 102
3.3 Th ủ pháp xây dựng nhân vật 105
3.3.1 Xây dựng ngoại hình nhân vật 106
3.3.2 Khắc họa ngôn ngữ và hành động nhân vật 108
3.3.3 Miêu tả nội tâm nhân vật 111
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 7Nhìn lại những nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, hiện tượng Đỗ Chu là một hiện tượng đáng chú ý Tuy sáng tác không nhiều nhưng chỗ đứng của ông trong làng văn thật vững Phác thảo diện mạo của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, Bùi Việt Thắng đã rất tinh tế khi nhận định “Không ham hố, viết ít nhưng găm lại được
dòng chảy của cảm hứng ca ngợi quê hương, đất nước, con người Việt Nam bằng một lối văn mượt mà, sâu lắng, trữ tình, đầy chất thơ để khẳng định vị trí của mình như ông từng
nói “b ề dày của một tác giả là uy tín văn học, là những đóng góp đáng kể cho văn học từng đất nước” [6] Trong một đời cầm bút, Đỗ Chu đã từng bước chinh phục đồng nghiệp, độc
giả bằng một số giải thưởng cao quý như: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
năm 2001 với tập truyện Hương cỏ mật, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002 với
tập tùy bút Tản mạn trước đèn, Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2004 với tập truyện Một
phẩm Một loài chim trên sóng, Tản mạn trước đèn
Đỗ Chu thử sức ở nhiều thể loại Mỗi thể loại mang nét độc đáo riêng Đến với những bài tùy bút, người đọc thật sự bị cuốn hút bởi vốn kiến thức sâu rộng, khả năng suy ngẫm, chiêm nghiệm, đúc kết thành những triết lí sâu sắc của một cái tôi tài hoa, uyên bác Từ cõi tâm tư của mình, nhà văn đã làm phong phú hơn cõi tâm tư của độc giả Từ chuyện đời, chuyện người gắn với bao biến động của lịch sử, bao đổi thay, tác động cuả thời cuộc, người đọc nghiệm ra được những giá trị vĩnh hằng Bước vào truyện ngắn, Đỗ Chu nhẹ nhàng đưa
ta vào thế giới của cái đẹp Vẻ đẹp của cuộc sống, của con người bàng bạc, hòa quyện, lấp lánh, cứ len lỏi như một mạch nước ngầm thấm mát tâm hồn Trang sách mở ra như mời
Trang 8tự sự có tính cơ động, ngắn gọn, chỉ là một lát cắt của đời sống, nhưng khả năng phản ánh
hiện thực, con người cùng chủ thể sáng tạo ra nó lại vô cùng lớn Hầu như, nhà văn tài năng nào cũng đến với truyện ngắn, để lại dấu ấn của mình ở truyện ngắn, tạo nên sự đa dạng trong tính chất, giọng điệu, cảm hứng Trong đó, mảng truyện ngắn đậm chất thơ có sức
hấp dẫn, có chỗ đứng riêng trong lòng độc giả
Nghiên cứu về Đỗ Chu ở cấp độ luận văn Thạc sĩ có Luận văn nghiên cứu Đặc trưng
văn xuôi nghệ thuật Đỗ Chu của Ngũ Nhị Song Hiền (2010) và Luận văn nghiên cứu Thế
Do vậy, khi viết luận văn này, chúng tôi xin đi vào tìm hiểu Thế giới nghệ thuật
trong truy ện ngắn Đỗ Chu để thêm một lần nữa thấy được rõ hơn những điểm độc đáo của
truyện ngắn Đỗ Chu trong bức tranh đa diện, đa sắc của truyện ngắn Việt Nam hiện đại
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhà văn Đỗ Chu viết nhiều thể loại: truyện ngắn, tùy bút, tiểu thuyết, thơ Trong đó,
thể loại ông gắn bó lâu dài và thành công là truyện ngắn và tùy bút Thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các truyện ngắn của Đỗ Chu đã thu thập được qua các tập truyện đã xuất bản như:
Trang 97
Ngoài ra, chúng tôi tiếp cận thêm các tác phẩm thuộc các thể loại khác của Đỗ Chu để
có được cái nhìn trọn vẹn hơn về tác giả:
• Một số bài thơ
Đồng thời, chúng tôi tìm hiểu một số vấn đề lý luận về đặc trưng thể loại, một số thuật
ngữ có sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài Trong điều kiện và khả năng, chúng tôi tiếp
cận một số truyện ngắn của một số tác giả cùng thời với Đỗ Chu như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, Nguyễn Huy Thiệp để so sánh nhằm phát hiện những nét tương đồng và riêng biệt của truyện ngắn Đỗ Chu
2.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đề tài, tư tưởng, cảm thức về con người và nghệ thuật viết truyện ngắn của Đỗ Chu
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đỗ Chu là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại Trong
phạm vi tư liệu có được, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều bài viết về truyện ngắn Đỗ Chu trên các báo, tạp chí, các sách hợp tuyển, một số luận văn Thạc sĩ Chúng tôi đặc biệt chú ý
một số nhận định về những khía cạnh nổi bật trong truyện ngắn Đỗ Chu
3.1 Đề tài
Đọc những truyện ngắn của Đỗ Chu, ngay từ những sáng tác đầu tay, Nhật Vũ nhận
thấy đề tài chính là những vấn đề thời sự của đất nước, của cốt cách, bản sắc văn hóa của dân tộc “Từ những trang viết đầu tiên khi 17, 18 tuổi, ông đã bộc lộ nhiều suy tư, khi đó
dường như ông đã vượt qua những vấn đề thời sự chiến tranh đang nóng bỏng để nghĩ xa
hơn đến vấn đề cốt cách văn hóa dân tộc” [98]
Còn Lê Hương Thủy khi nghiên cứu Đặc trưng truyện ngắn Đỗ Chu đã khẳng định
rằng hiện thực đời sống chính là gốc rễ, là điểm tựa cho nhà văn khi viết truyện ngắn “Đỗ
Trang 108
Chu đã có lần nói rằng: “Cái chân đế của một tác phẩm chính là sự gắn bó với đời sống” Cũng bởi chính ý thức đó, cho nên, dù được xếp vào loại “tác giả truyện ngắn nghiêng về
thương và mất mát nhưng rất đỗi hào hùng trong những năm tháng chiến tranh và cả hiện
Nguyễn Văn Thọ trong Lão Mai - quế hương đời không những nhận ra được nét chung
của Đỗ Chu trong dòng văn học phản ánh hiện thực cách mạng, phục vụ nhân dân, mà còn
thấy được nét riêng trong truyện ngắn Đỗ Chu “Văn chương Việt Nam không thể thiếu ông,
Nói như thế không có nghĩa văn Đỗ Chu phỏng hiện thực, mà là Văn ông không tách rời đời
gi ống ai, có sắc diện đặc biệt” [94]
3.2 C ảm hứng
Điểm nổi bật khác trong truyện ngắn Đỗ Chu là cảm hứng Điều đó thể hiện qua cách nhìn cuộc sống của nhà văn Vương Trí Nhàn cho rằng “cảm hứng chủ đạo trong anh
thường chân tình, đầm ấm Đó là một cái nhìn cuộc sống trong trẻo, yêu thương Trải qua
đối với quê hương, gia đình”, “tình nghĩa đối với đồng đội, bạn bè”, “tình yêu đất nước”,
“tình yêu thương đùm bọc giữa nhân dân” [88]
Trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 năm 2006, trong bài viết Đặc trưng truyện ngắn
Đỗ Chu, Thạc sĩ Lê Hương Thủy cho rằng “Trong gần ba thập kỉ đầu cầm bút, sáng tác của
Đỗ Chu thể hiện rõ chủ nghĩa anh hùng cách mạng , nổi bật với cảm hứng lãng mạn cách
“cái đẹp được biểu hiện ở tình yêu quê hương, tình quân dân, tình đồng chí, đồng đội, ở
Trang 119
Ngũ Nhị Song Hiền trong Luận văn Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật của Đỗ Chu đã
nhận thấy về mặt cảm hứng sáng tác, ngoài cảm hứng chủ đạo là cảm hứng lãng mạn, truyện
ngắn Đỗ Chu ở giai đoạn sau được viết với cảm hứng thế sự “trong truyện ngắn Đỗ Chu,
lãng m ạn và cảm hứng thế sự” [34, tr.35]
3.3 Nhân v ật
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh nhận thấy điểm độc đáo ở nhân vật trong truyện
Đỗ Chu là những nam nữ thanh niên “xuất hiện một cách đông đảo, giữ vị trí trung tâm và
và hành động rất giống nhau về bản chất”, “họ có thể bước đi trên đất Mẹ, ngay ở những vùng bom đạn ác liệt nhất, một cách vững chãi hơn, tin cậy và hồn nhiên hơn” [31, tr.436]
Ngòi bút Đỗ Chu khi khắc họa những con người ấy đã giúp ta “nhận ra rõ hơn vị trí của họ
rằng nhân vật trong truyện Đỗ Chu còn là lớp người lớn tuổi “đã tham gia cuộc kháng chiến
l ần trước, bây giờ lại tiếp tục hoạt động say mê và sáng tác trên cương vị mới” [31, tr.438],
là những em bé “thông minh, lanh lợi, biết đùm bọc, thương yêu nhau, ngây thơ cũng dũng
đều có một cái lõi tính cách giống nhau Tất cả đều trưởng thành hoặc được nuôi dưỡng
Nhân vật của Đỗ Chu thuộc loại nhân vật “ít hành động, mà nặng yêu thương, tâm sự, hồi
tưởng” [31, tr.443]
Vương Trí Nhàn trong bài viết Đỗ Chu như là một nhà văn của những vùng quê chiến
sĩ chỉ rõ nét nổi bật trong truyện ngắn Đỗ Chu là thế giới nhân vật Ông gọi đó là “một thứ
động, yêu cuộc sống, nhanh chóng thích hợp với cuộc chiến đấu hiện nay” Trên trang sách,
họ hiện ra thật sống động “trong nhiều công việc khác nhau, ở nhiều ngả đường khác nhau
Trang 1210
khăn” [88] đóng góp sức mình cho sự nghiệp chung với một niềm tin phơi phới
Theo ông, dù nhân vật khá đông nhưng Đỗ Chu đã “hiểu biết” và xây dựng thành
công ấy có được là bởi nhà văn có khả năng quan sát, nắm bắt, thể hiện đối tượng của mình
“Đỗ Chu đã cảm thấy họ, và cảm xúc của tác giả là gần với họ, lấy họ làm nền cho những điều định nói”, hay nói cách khác “Đỗ Chu nắm bắt được tinh chất trong con người anh
Dường như giữa tác giả và nhân vật không có một ranh giới nào “nhân vật chính trong
Nguyễn Văn Thọ cũng nhận thấy “nhân vật của ông đa phần xoay quanh người lính
và con người sống ở nông thôn, gốc gác là nông dân”, “những trang văn của Đỗ Chu đều
đi sâu vào tâm lí và thân phận con người trong những cảnh huống nhất định”, “bàn cho ra cái văn hóa của vùng và con người Việt”, đi sâu vào tâm tình của con người trong chiến tranh, sau chi ến tranh” [94]
Nhân vật của Đỗ Chu thiên về kiểu nhân vật tâm trạng “nặng về hoài niệm và hồi
tưởng Đỗ Chu thường chú ý khắc họa những dòng hồi ức của nhân vật Ở đó, quá khứ và
tr.123]
Ngũ Nhị Song Hiền nhìn thấy trong truyện ngắn Đỗ Chu có nhiều kiểu nhân vật “nhân
v ật lí tưởng, nhân vật tính cách - số phận, nhân vật tư tưởng” [34, tr.61]
3.4 Văn phong
3.4.1 Văn phong trữ tình, đậm chất thơ
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh trong tác phẩm Văn học Văn hóa - vấn đề và suy
nghĩ, có bài viết bàn về những đặc trưng của truyện ngắn Đỗ Chu Theo ông, điểm bao
trùm, cũng là một nét hấp dẫn trong tác phẩm của Đỗ Chu là “làm nổi bật được cái tích cực,
hợp của vẻ đẹp tâm hồn và chất thơ “Cái vốn nghệ thuật cơ bản của anh là tâm hồn, là tình
Trang 1311
hôm qua và nhìn ra phía trước” [31, tr.445] Giáo sư đã nhắc đến Nam Cao, Nguyễn Đình
Thi, Nguyên Ngọc, Sêkhôp, Pautôpxki, Aitmatôp, để khẳng định “Đỗ Chu vẫn có cái tươi
từ khi là một nhà văn trẻ đã có được “những đoạn văn xúc động, giàu chất thơ” [31, tr.446],
ph ải đọc chậm rãi, phải dừng lại ở giữa trang để thưởng thức” [31, tr 447]
Trong phần giới thiệu của Tuyển tập Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Truyện ngắn 1945 -
thành công ở thể loại truyện ngắn, bên cạnh một số nhà văn khác như: Nguyễn Kiên, Nguyễn Khải , Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thi, Phan Tứ Bùi Việt Thắng
gọi Đỗ Chu là một nhà văn “tài hoa”, “lãng tử”, với quan niệm “mỗi truyện ngắn là một
những “áng văn xuôi mọc cánh”, đã tạo nên những tác phẩm “có vẻ như là tất cả mà vẫn
tình của dòng văn học trước đó với đại diện tiêu biểu là Thạch Lam “Trong văn học hiện
đại Việt Nam, có thể nói Thạch Lam là nhà văn tiêu biểu cho phong cách tự sự - trữ tình
tr.17]
Nhật Tuấn trong bài viết Uy lực già làng Đỗ Chu có dẫn lại ý kiến của nhà thơ Trần
Mạnh Hảo viết trên Dân luận ngày 08/09/2011 “Đỗ Chu mê “Bông hồng vàng”, “Lẵng quả
như “Phù sa”, “Hương cỏ mật”, “Thung lũng cò” khá hấp dẫn như một ông Pautopxki con con” [97]
Văn Chinh đã thấy được chất trữ tình, chất thơ bàng bạc là điểm nổi bật trong truyện
ngắn Đỗ Chu Ông cho rằng “Một chút lãng mạn Pháp, một chút cổ điển Nga và một chút lý
Trang 1412
tưởng hóa Nga Xô Viết đã như những đám mây lạ được làn gió chuyển mùa làm nên mùa xuân trên vùng quê văn hóa màu mỡ là Kinh Bắc, khiến hạt mầm nghệ sĩ vẫn còn phong kín trong lòng đứa con rồi ra sẽ làm vinh dự cho quê hương, một đứa trẻ buồn nỗi con côi pha
ngàng [6]
Khi xem Đỗ Chu như một nhà văn của những vùng quê chiến sĩ, Vương Trí Nhàn
cũng nhắc đến sự hòa quyện giữa chất thơ và văn xuôi, tạo nên lối văn giàu chất thơ “Ngay
cho đến hiện nay Có người gọi là truyện giàu chất thơ Có người gọi là truyện ngắn trữ tình, có màu s ắc chủ quan” [88]
Còn Nguyễn Hữu Quý thừa nhận yếu tố tạo nên dấu ấn Đỗ Chu trong sáng tác chính là
chất thơ “Đỗ Chu đã làm tôi mê đắm với nhiều truyện ngắn và tùy bút man mác chất thơ”
[91]
Nguyễn Trọng Tạo thấy được có một nguồn mạch trữ tình chảy tràn trên trang viết Đỗ Chu, cái tình của người viết được gửi gắm vào những câu văn giàu nhạc điệu khiến “Văn
bác ấy thật mê ly, như có một điệu nhạc réo rắt du dương vang ra từ câu này đến câu
Trong bài viết Phiên bản Đỗ Chu, Nguyên An khẳng định “Chu là một phong cách
người có công chưng cất lại, tô thắm thêm Hình như trong cảnh bẫn bách, thì người ta càng có cơ gượng dậy, đứng lên vui sống là nhờ những trang văn giàu chất thơ như thế”
[68]
Theo Lê Hương Thủy, truyện ngắn Đỗ Chu có được vị trí và sức sống trong lòng độc
giả là ở “cái không khí mà nhà văn tạo nên cho mỗi tác phẩm Bầu không khí bàng bạc chất
thơ luôn “dăng dện trong tâm trí người đọc”, “Với một tâm hồn mẫn cảm và tinh tế trong
[61, tr.122] Và chính “nh ững trang viết đầy chất thơ của Đỗ Chu hồi bấy giờ đã làm hấp
d ẫn nhiều thế hệ người đọc” [61, tr.118]
Trên Văn nghệ quân đội số 6 năm 2002, trong bài viết Cũng một loài chim trên sóng,
Phạm Thị Minh Thư nhìn thấy cách thức truyện ngắn Đỗ Chu đi vào lòng người đọc, không
Trang 1513
dụng công ở cốt truyện, chỉ nhẹ nhàng mà rất đỗi ngọt ngào chiếm lĩnh tâm hồn mọi người
thôi trong tâm h ồn họ” [62, tr.94]
3.4.2 Văn phong lịch lãm, sâu sắc
Cầm bút từ khi còn là học sinh, nhưng ngay từ những sáng tác đầu tay, Nguyễn Văn
Thọ đã nhận thấy một lối viết rất chững chạc, tinh tế “đem đến cho người đọc nhiều suy
nghĩ rốt ráo về tình người và trách nhiệm làm Con Người”, “Sự chín, sâu sắc tới mức, các nhà văn đàn anh như Nguyễn Minh Châu hay Nguyễn Khải đều nhầm lẫn, cứ tin đấy là một người già cầm bút Sau này càng viết càng đẹp, Đỗ Chu như cây mai già đến độ mãn khai, cho Văn chương Việt những áng văn khó trộn vào bất cứ tác giả nào Ăm ắp tinh thần Việt,
[94]
Còn Nguyễn Việt Chiến khẳng định “Đỗ Chu là một trong số các văn tài đặc biệt của
3.5 K ết cấu
Ngũ Nhị Song Hiền nhận thấy truyện của Đỗ Chu có nhiều kiểu kết cấu, mỗi kiểu có
một phương thức thể hiện riêng Với kiểu “truyện không có cốt truyện”, “những trang văn
Kiểu “truyện lồng trong truyện” có “điểm nối giữa các câu chuyện là những lời dẫn
kiểu “cốt truyện đơn tuyến” thường “ít nhân vật, ít thoại, ít hành động, nhưng nhiều hồi
tưởng, nhiều độc thoại nội tâm, nhiều giọng điệu trần thuật tạo nên các bè giọng khác nhau làm sinh động cho chuyện kể”, “tạo nên những mạch ngầm tư tưởng”, “thể hiện sự lột xác
3.6 Gi ọng điệu
Trang 1614
Đọc truyện Đỗ Chu, ta dễ dàng cảm nhận được một giọng kể thân mật, gần gũi “như
Nguyễn Minh Châu cho rằng “Đỗ Chu trong những năm tháng chống Mỹ, bằng một
cu ả nhiều giống cây khác” [54, tr.231]
Với Văn Chinh, giọng văn Đỗ Chu “đằm thắm mà tinh tế, trẻ trung mà bặt thiệp, rất
th ức dậy” [74]
Ngũ Nhị Song Hiền không những phát hiện mà còn phân loại được tính đa dạng trong
giọng điệu của truyện ngắn Đỗ Chu “Hầu hết trong sáng tác của Đỗ Chu trước 1975 là
bi ếm” [34, tr.81]
3.7 M ột số hạn chế
Theo Vương Trí Nhàn, nhân vật trong truyện Đỗ Chu còn đơn giản “những nhân vật
thường đơn giản và trở đi trở lại trong một dáng nào đó”, “chưa có tính cách, chỉ có những
quát, phản ánh hiện thực của tác phẩm chưa rộng, chưa sâu “Đỗ Chu chưa chỉ rõ cuộc sống
là như thế nào”, “anh còn dừng lại ở phần bên ngoài” [88] Bởi thế, “cuộc kháng chiến
nó chưa vào tác phẩm của Đỗ Chu một cách mãnh liệt”, và “cái khác nhau trong hai thời
c ảm thấy và thể hiện đầy đủ” [88]
Và tình huống trong truyện Đỗ Chu còn “đơn giản lắm”, bởi tình huống thường thấy
là “nh ững cuộc hội ngộ: chiến tranh đẩy các nhân vật vốn cùng gốc gác đi theo những
Trang 1715
Theo Nguyễn Văn Hạnh, trong truyện ngắn Đỗ Chu, nhân vật xuất hiện chưa đa dạng,
tính cách chưa rõ ràng Phần lớn là “nhân vật chính diện”, “tuy khác nhau về tuổi tác, về
môi trường sinh hoạt, nhưng tính cách lại rất giống nhau và ít biến đổi trong tác động qua
chuy ển sang cung bậc khác, anh tỏ ra lúng túng, bất lực” [31, tr.442]
Về khả năng phản ánh hiện thực, do ngòi bút thiên về “những khía cạnh tích cực của
Tác phẩm của Đỗ Chu “chưa đặt ra được những vấn đề lớn, chưa nói được cái rắn rỏi, ác
li ệt, cái bề bộn của cuộc sống” [31, tr.443]
Về tình huống truyện, Giáo sư cũng cho rằng “Đỗ Chu ít phân tích xã hội, không nhìn
tr.443] Sự giản dị và tự nhiên vừa là ưu điểm “Một nét rất đáng qúy trọng trong sáng tác
cho tác phẩm có “sức khái quát nói chung còn yếu” [31, tr.443], “không cân đối, lỏng lẻo,
dàn tr ải” [31, tr.449]
Nhìn chung, qua các tài liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy những phương diện trong truyện ngắn Đỗ Chu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Song ở cấp độ luận văn
Thạc sĩ, chưa có luận văn nào đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu
Bởi thế, chúng tôi mong muốn được góp thêm một góc nhìn để thấy rõ hơn sự thành công
của nhà văn Đỗ Chu ở thể loại truyện ngắn Những ý kiến của những người đi trước sẽ là
định hướng quý giá cho việc nghiên cứu của chúng tôi
4 Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu nhằm
làm rõ hơn các chặng đường sáng tác, những nét độc đáo trong tư duy, sáng tạo nghệ thuật
của nhà văn Đỗ Chu ở thể loại truyện ngắn
Với cá nhân, luận văn này giúp tôi mở rộng cái nhìn, có thêm kiến thức về truyện ngắn
Việt Nam hiện đại, về những tác giả ngoài chương trình học bậc Trung học phổ thông
Trang 1816
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình viết luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp các dữ liệu: sau khi xác định đối tượng
nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tìm kiếm, tập hợp các dữ liệu có liên quan từ nhiều nguồn như tác phẩm, sách, báo viết, báo mạng, bài nghiên cứu về Đỗ Chu Sau đó, chúng tôi đọc, phân loại thành từng mục nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong phạm vi nghiên cứu của
luận văn
Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: chúng tôi vận dụng những điều đúc kết được
về đặc trưng thể loại, nội hàm của các thuật ngữ để tiếp cận văn bản, nhằm rút ra những yếu
tố đặc sắc trong truyện ngắn Đỗ Chu
Phương pháp hệ thống - cấu trúc: chúng tôi nghiên cứu từng tác phẩm trong mối
liên hệ thống nhất giữa nội dung và hình thức, giữa truyện ngắn với toàn bộ những sáng tác
của tác giả, giữa nhiều tác phẩm trong cùng một giai đoạn, cùng thể loại để thấy được hết
những nét độc đáo của truyện ngắn của Đỗ Chu
Phương pháp so sánh: chúng tôi so sánh các truyện ngắn của Đỗ Chu trong từng giai
đoạn, so sánh truyện ngắn Đỗ Chu với một số tác giả cùng thời hoặc ở các giai đoạn trước,
nhằm thấy được một cách toàn diện những điểm tương đồng và riêng biệt, những đóng góp
và hạn chế của truyện ngắn Đỗ Chu
6 Kết cấu của luận văn
Tên đề tài luận văn: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu
Ngoài Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thế giới nghệ thuật và hành trình nghệ thuật của Đỗ Chu
Chương 2: Đề tài, tư tưởng, cảm thức con người trong truyện ngắn
Đỗ Chu
Chương 3: Nghệ thuật viết truyện ngắn của Đỗ Chu
Trang 1917
THUẬT CỦA ĐỖ CHU 1.1 Xác định khái niệm Thế giới nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm
Theo T ừ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán chủ biên Thế giới nghệ thuật là khái
thực tại bên ngoài, cũng không giống y như thế giới tâm hồn con người Đó là “một thế giới
riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng”, “có không gian riêng, thời gian
dạng của thế giới văn chương, mỗi một tác giả là một thực thể có tư tưởng, quan điểm, cá tính, dụng ý nghệ thuật riêng, mỗi một tác phẩm là một đơn vị sáng tác trong hệ thống các sáng tác của mỗi tác giả, mỗi một trào lưu văn học là tập hợp của những tác giả, tác phẩm
có nhiều tương đồng trong quan điểm, phương pháp sáng tác, nên “mỗi thế giới nghệ thuật
thuộc vào sự độc đáo trong tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong sáng tác của một tác giả nghĩa là khám phá những nét độc đáo trong tư duy nghệ thuật của tác giả đó
1.1.2 Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác phẩm văn học là một sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Mỗi một tác phẩm có một
thế giới nghệ thuật riêng Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn thật không đơn
giản Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “Đọc văn nghiên cứu văn là đi vào thế giới
ch ặt” [45, tr.82]
Trong chuyên luận của mình, Giáo sư cũng đã gợi ý cho người đọc cách mở “cánh cửa nghệ thuật” ấy “Văn học nghệ thuật là một hoạt động tư tưởng” [45, tr.7], và “Tư tưởng
Trang 2018
ngh ệ thuật là một cái gì rất riêng, nó là tài riêng và tình riêng kết hợp, là tư tưởng cá nhân
và hình tượng độc đáo thống nhất hài hòa, là chỗ mạnh riêng, là sở trường riêng của mỗi
tiên là “tư tưởng của tác giả” được “rút ra từ toàn bộ tác phẩm của nhà văn” [45, tr.8]
Giữa tư tưởng và sáng tác của người nghệ sĩ có mối liên hệ mật thiết với nhau “Tư tưởng
hay nói đúng hơn, tính chỉnh thể” [45, tr.8] Việc nghiên cứu tư tưởng nghệ thuật của nhà
văn phải đặt trong quá trình sáng tác để thấy được sự vận động, biến đổi, phát triển của tư tưởng nghệ thuật Muốn vậy, người nghiên cứu phải nắm bắt chính xác số lượng tác phẩm
của tác giả, thời điểm sáng tác của từng tác phẩm Khi thấy được sự vận động, biến đổi của
tư tưởng nghệ thuật, người nghiên cứu phải căn cứ vào “tác động của hoàn cảnh khách
quan” tới sự vận động ấy để lí giải [45, tr.55]
Để nắm bắt được tư tưởng của nhà văn - yếu tố chi phối thế giới nghệ thuật của họ -
người nghiên cứu có thể căn cứ vào nhiều yếu tố Trước hết là đề tài Hiện thực cuộc sống
rất phong phú Chất liệu từ đời sống rất đa dạng, không phải nhà văn nào khi viết cũng phải bao quát, sử dụng hết những chất liệu ấy Mỗi nhà văn tùy thuộc vào khả năng quan sát,
nắm bắt, tùy thuộc vào độ nhạy và độ rung của tâm hồn, tùy thuộc vào nhu cầu thể hiện,
mục đích viết, tùy thuộc vào tài năng và sở thích, họ sẽ lựa chọn “những nguồn chất liệu
mỗi nhà văn sẽ có được một hệ thống đề tài riêng, mà khi căn cứ vào đó, chúng ta sẽ hiểu
được tư tưởng của tác giả “các nhà văn dù lớn đến đâu cũng chỉ có một vùng đề tài ưa thích
nh ất và ông ta chỉ có thể viết hay về đề tài ấy” [45, tr.12]
Sau khi xem xét nhà văn “viết cái gì ?”, với “tư tưởng ra sao?”, người nghiên cứu
phải chú ý đến việc nhà văn “viết như thế nào ?” Tạo nên thế giới nghệ thuật, thể hiện tư
tưởng của mỗi nhà văn có rất nhiều yếu tố Xét trong chỉnh thể văn bản, các yếu tố phải kết
hợp chặt chẽ với nhau “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó, là một
có nghĩa là “quan hệ giữa các yếu tố trong chỉnh thể có tính quy luật” [45, tr.34] Các yếu
tố ấy là hình tượng nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật, thủ pháp nghệ thuật Người nghiên
cứu phải chú ý phân tích hình tượng nghệ thuật trong “quan hệ với toàn bộ tác phẩm như
Trang 2119
có “m ột số hình tượng tâm huyết nhất, cứ trở đi trở lại nhiều lần như một “ám ảnh” đối với nhà văn” [45, tr.23] Thông qua những hình tượng ấy, người đọc hiểu rõ hơn tư tưởng, tình
cảm của tác giả
Bên cạnh đó, những yếu tố ngoài văn bản cũng cần được lưu ý Có chi phối đến tư
tưởng nghệ thuật, thế giới nghệ thuật của nhà văn, đó là hoàn cảnh lớn (hoàn cảnh lịch sử -
xã hội - văn hóa - tâm lí của thời đại tác giả sống và viết) và hoàn cảnh nhỏ (hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ của nhà văn, đặc điểm con người, môi trường sống ) Trong đó,
văn, hoàn cảnh nhỏ đem đến cho tư tưởng ấy nội dung và hình hài cụ thể” [45, tr.48]
Đồng thời, người nghiên cứu phải chú ý đến phương diện văn hóa trong quá trình đi
vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, vì “Văn học là một hoạt động văn hóa” [45, tr.52], có
sự giao lưu, ảnh hưởng giữa các nền văn học, giữa các tác giả Chính bản sắc văn hóa của
từng cá nhân, dòng chảy văn hóa của một dân tộc tạo nên sức sống cho những sáng tác văn
và chắp cánh cho bao mơ ước
Ông bén duyên với văn chương từ khi còn là học sinh trường phổ thông trung học Không phải mất nhiều thời gian để khẳng định mình, hai mươi tuổi, văn đàn đã xôn xao
trước những truyện ngắn đầu tay của ông như Hương cỏ mật, Phù sa, Thung lũng cò, Chiến
sĩ quân bưu
Đỗ Chu từng học qua trường bồi dưỡng viết văn Hội Nhà văn Việt Nam khóa II (1965) Khi cả nước bước vào cao trào của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, ông hăng hái nhập ngũ, trở thành người lính cao xạ thuộc quân chủng Phòng không - Không quân Từ năm 1975, ông chuyển ngành, là Ủy viên Hội đồng văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam
Trang 2220
Đỗ Chu sáng tác khá đều đặn Từ trong những sáng tác ấy, chúng tôi nhìn thấy được những điểm nổi bật ở con người ông
1.2.1.1 Con người yêu quê hương, đất nước
Bước vào những sáng tác của Đỗ Chu, có thể thấy rằng vùng đất Kinh Bắc nổi tiếng đẹp cảnh, đẹp người, giàu truyền thống văn hóa chính là cội nguồn, là bệ phóng cho ông
“Có con sông Thương chảy vào đời tôi, lại có dòng sông Cầu đi qua đời tôi, và có những trang sách hay nâng bước tôi đi theo năm tháng” [18, tr.91] Kinh Bắc đi vào các tác phẩm
của Đỗ Chu một cách tự nhiên như hơi thở, làm nên diện mạo một nhà văn, làm nên bản sắc
của một miền quê đất nước “Quê nhà chính là đôi cánh để tôi bay qua những tháng năm
và Kinh Bắc được bắt đầu rất đỗi nhẹ nhàng “tôi là một nhà văn đã được thở bằng một nền
văn hóa dân tộc trong đó miền Kinh Bắc là sự bắt đầu đầy duyên phận”, và ngày càng gắn
bó, nồng đượm, dày nghĩa, nặng tình theo suốt một đời cầm bút “càng về già trong lòng
càng thương nhiều hơn, yêu nhiều hơn Từ nội lực ấy, không một người cầm bút nào là lại không thèm được nghĩ, được viết tiếp như con chim cuối đời muốn gửi lại cho mai sau những tiếng hót cuối cùng Đó là những âm thanh trân trọng, gửi gắm” [72]
Tình yêu tha thiết ông dành cho quê hương, đất nước được biểu hiện ở niềm tự hào về
vẻ đẹp của cảnh vật, của con người, ở ý thức giữ gìn và phát huy khả năng biểu đạt của ngôn ngữ nước nhà “Tổ quốc của tôi, những thiếu nữ mắt đen tóc đen, biển xanh, trời xanh,
đất nâu và gió mùa Nhưng yêu quý hơn cả là những mái tóc điểm sương của các bà các
ch ị Tôi nhìn vào những mái tóc ấy để sống, để nghĩ ngợi, để viết và để vẽ Người tôi biết ơn hơn hết là mẹ Nơi gần gũi nhất với tôi là Hà Nội Tiếng tôi hiểu nhất là tiếng Việt Cảm ơn
Tình yêu quê, yêu nước hiện diện trong ông như một lẽ thật tự nhiên, hòa quyện thành
lí tưởng của kẻ làm trai thời binh biến Học hết trung học, cuộc chiến chống Mỹ bước vào
giai đoạn đầy cam go, khốc liệt, ông đầu quân, trở thành “anh bộ đội”, thành “người chiến
sĩ” Khi ấy, cậu học trò Chu Bá Bình cảm thấy “hởi lòng hởi dạ”, vì ngay từ nhỏ đã được
dạy rằng “mấy từ người chiến sĩ có mang một ý nghĩa cao quý, vì nhân dân mà phục vụ vì
Trang 2321
vất vả, cay đắng cũng nhiều, tự đáy lòng mình, ông nhận thấy “Tổ quốc một tình yêu lớn
hơn mọi tình yêu đứng trên tất cả những gì đúng sai khôn dại, để ta phải có những đêm dài
Cùng với sự chuyển mình của đất nước, những thử thách đặt ra càng nhiều, đòi hỏi con người càng phải có trách nhiệm hơn trong công cuộc xây dựng đất nước Và ông lại không
thể bình thản Dõi theo bao biến động của thời cuộc, ông vẫn canh cánh một nỗi niềm trăn
trở “Cái chất kẻ sĩ nơi anh hay để cho người ta thấy có chút tự hào vì đã di cùng dân tộc,
vượt qua bao cơ cực mà không sờn lòng, không oán thán, nhưng nhiều hơn, là cả một tâm
Từ yêu đất nước, ông quý trọng nhân dân Mọi suy nghĩ của ông đều hướng về những
con người cao cả ấy Với ông, nhân dân là “những người đã nuôi sống ta, đùm bọc ta và hết
lòng thương yêu tin cậy ta Đấy là những người đã từng cùng ta sống chết, chẳng ai khác
mình” [76]
1.2.1.2 Con người tài hoa, uyên bác
Không phải ngẫu nhiên, Đỗ Chu được giới đồng nghiệp và các nhà nghiên cứu gọi là
một nhà văn tài hoa, lãng tử Chất tài hoa ấy thể hiện rõ ở những lĩnh vực nghệ thuật mà Đỗ Chu đã thử sức và khẳng định mình như viết văn, làm thơ, vẽ tranh Trong lĩnh vực văn chương, Đỗ Chu đã là một nhà văn nổi tiếng, có được chỗ đứng riêng trong làng văn Còn
việc vẽ tranh chỉ là việc làm trong lúc nhàn rỗi, chỉ để giải khuây, như ông từng bộc bạch
nghĩ nghiêm túc như thế nên dù chỉ là một cuộc dạo chơi, Đỗ Chu cũng kịp để lại dấu ấn
của mình khi bức tranh ông vẽ Nguyễn Đình Thi được Bảo tàng Văn học Việt Nam đưa về trưng bày
Trang 2422
Điều mà Đỗ Chu khiến chúng ta kính trọng là sự uyên bác Với vốn kiến thức phong phú, sâu rộng, bao quát nhiều lĩnh vực: văn chương, lịch sử, triết học, tôn giáo, những trang
viết của ông thật sự cuốn hút người đọc
1.2.1.3 Con người giản dị, khiêm nhường mà nghiêm túc, sâu sắc
Đỗ Chu từng chia sẻ “tôi sống cũng giản dị như viết, không có gì là cầu kỳ Văn là
người Viết về những cái quanh mình, về mình và sống cùng mọi người” [89] Đó không
phải là sự giản dị theo kiểu xuề xòa, hời hợt, mà là sự khiêm nhường, hướng đến lối sống
tĩnh lặng Với ông “Lặng lẽ, âm thầm, cô đơn được thì càng tốt Và đôi khi mình phải chấp
nghiệp, ông là một người “đọc nhiều, sức nhớ tốt, trí thông minh hơn người, lại biết khái
quát, đúc rút rất nhanh điều đã đọc thành vốn liếng của mình”, nổi trội ở khả năng “quan
tượng ấy lại được phù trợ bởi sức lao động bền bỉ, chăm chỉ và một ý thức trách nhiệm cao
lại để cùng ngẫm nghĩ với những điều ông đã chiêm nghiệm, đúc kết về chuyện đời, chuyện nghề
1.2.2 Hoạt động văn chương
1.2.2.1 Quan niệm sáng tác
Đỗ Chu xem việc cầm bút là hạnh phúc “Tôi xem việc được cầm bút viết những trang
văn gửi tới nhân dân mình vừa là một sứ mệnh lại vừa là một hạnh phúc” [96] Bởi thế,
trong quá trình lao động nghệ thuật, ông hướng mình vào những suy nghĩ đúng đắn, những nguyên tắc khắt khe về nghề viết và trách nhiệm của một người cầm bút
Ông coi trọng sứ mệnh của văn chương “Văn học dẫu là quan trọng đến đâu thì mãi
mãi nó vẫn chỉ có một việc bồi đắp cho đời sống tinh thần của con người giàu có thêm những giá trị thuộc về chân - thiện - mỹ ” [89] Quá trình cầm bút là hành trình tự nhận
thức, tìm kiếm, sáng tạo, lưu truyền, tôn vinh cái đẹp, nâng cao nhận thức, làm phong phú
tâm hồn con người “Tôi nghĩ rất nhiều và viết cũng không ít Với tôi, viết vừa là sáng tạo
vừa phải là nhận thức Nó như là một sự tu thân, tự dạy mình trong sống trong nghĩ Sống
Trang 2523
thế nào thì viết thế nấy Mọi chuyện đều giản dị và chân thật Tôi luôn luôn muốn đời sống phải đẹp hơn, sang trọng hơn, dẫu lúc nào cũng hết sức gian khó” [98]
Ông ý thức được trách nhiệm của người cầm bút “Nhà văn có những đóng góp riêng
bằng sứ mệnh cuả mình trong đời sống chung, rộng lớn Nhà văn mang cái nhạc chữ, nhạc
ý tứ, nhạc tình cảm của bản thân mình để hát lên, góp phần làm đẹp cho cây đời” [90] Đưa
nghệ thuật đến với cái đẹp, người nghệ sĩ phải miệt mài sống và sáng tạo Với Đỗ Chu, cái
đẹp của nghệ thuật như một “trái hồng đỏ lựng như máu”, “rất đẹp, thảng thốt, khơi gợi” thường hiện ra trước mắt Vẻ đẹp “chứa đựng nhiều bất thường, nhiều vô lý và có lý” của
nó khiến “những người làm nghệ thuật nói chung và nhà văn nói riêng phải vượt qua và có
thể vượt qua được nhiều điều” [53, tr.32]
Theo ông, không phải cứ cầm bút viết hay viết nhiều là được gọi là nhà văn Nguyễn
Đăng Mạnh từng cho rằng cái quyết định làm nên một nhà văn lớn là “viết cho hay, là tạo
ra những đỉnh cao nghệ thuật, những kiệt tác văn chương” [45, tr.3] Đỗ Chu cũng vậy
“viết nhiều là quý nhưng phải hay Viết nhiều mà không hay thì thà viết ít, thậm chí đừng viết nữa” [84] Giá trị của một tác phẩm phụ thuộc vào sự thẩm định của bạn đọc và thử
thách của thời gian “Một nền văn học chỉ được gọi là mạnh khi có những nhà văn lớn Một
nhà văn chỉ được gọi là lớn khi anh ta có tác phẩm lớn Một tác phẩm chỉ được gọi là lớn khi nó được bạn đọc gần xa trân trọng đón nhận và nó cần phải có một sức sống lâu bền”
[96]
Điều cốt lõi cần có ở nhà văn là tấm lòng nhân hậu, sự sâu sắc, lòng tự trọng “Ở đây
cái cần phải có là lòng trung hậu, là những lo âu xa xăm, cần là những nỗi buồn sâu, khinh ghét sâu, và yêu thương sâu Và cả sự kiêu hãnh nữa” [50, tr.160] Khi cầm bút, người viết
phải thực là chính mình “Khi trang viết của mình là hết sức, là thật nhất đối với mình, dám
nói nhiều điều mà trước đây do kiêng kỵ, gượng nhẹ mình chưa dám Tóm lại đã dốc tuột
thế, có một hiện tượng lạ là “có khi ở đoạn trước là nhà văn, đoạn sau lại chưa phải, lại
không còn là nhà văn nữa” [69] Theo đó, ông tự đánh giá “có lẽ trong 40 năm cầm bút thì chỉ có độ 4 tháng hay 4 năm là nhà văn thôi” [69]
Ông khinh lối viết văn theo kiểu vội vàng, tính toán của con buôn, chạy theo những
ham hố tầm thường “Cái đáng sợ là ở sự chuẩn bị thiếu chu đáo trong bản lĩnh, trong trí
Trang 26lực phát triển của một nền văn học “Thiếu bạn đọc, để mất người đọc thì những cái viết ra
phỏng còn có ý nghĩa gì, bất quá nó cũng chỉ là một đám bèo bọt Trôi theo dòng chảy thời
với bạn đọc “Có bạn đọc là rất khó, giữ được mối quan hệ lâu bền cùng bạn đọc, đối với
biết “lắng nghe những đòi hỏi nghiêm khắc của bạn đọc” [50, tr.159], phải xem việc họ khen chê, hạch chỗ nọ, chỗ kia, bàn cãi là “rất cần thiết trong đời sống văn học” [50,
tr.159]
Trách nhiệm của một nhà văn không chỉ giới hạn trong phạm vi với cá nhân và thế hệ
họ mà còn là với thế hệ trước Từ sự coi trọng những nhà văn bậc thầy, xem họ là tấm
gương để sống và viết “Cứ nhìn vào cuộc đời của những bậc thầy mà tự rút ra những bài
học, xem nên sống ra sao,viết ra sao”, “Tôi kính yêu những bậc tiền bối, họ là những người vạch đường cho mình tiến lên” [50, tr.160], từ sự biết ơn lớp nhà văn đàn anh, Đỗ Chu càng
nhận thấy rõ hơn sứ mệnh của mình “Giữa những năm tháng nhiều thách thức cay đắng này
chúng ta thấy biết ơn Quang Dũng, Hồng Nguyên, Trần Đăng, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Nguyễn Mỹ và rất nhiều nhà văn đã nằm xuống dọc đường văn học Đấy là những người thầy đầu tiên của chúng ta Họ đều là những cây bút đại thụ mà không cần đến nhiều tác phẩm Những gì họ để lại cho mai sau đều là những viên đá tảng đặt nền móng cho cái lâu đài mà hôm nay chúng ta, những kẻ đến sau cần phải xúm vào xây cất lên bằng khối óc và bàn tay của những người thợ biết trọng danh dự”, “Cái đích của sự sáng tạo vẫn còn đang
ở rất xa Chao ôi, cái con đường mà mỗi chúng ta đã lưạ chọn sao mà dài dằng dặc và nhiều trắc trở, biết vậy lại càng phải giục nhau trau dồi bản lĩnh để đi tới Trên vai mỗi người cầm bút không bao giờ cảm thấy nhẹ nhõm Đó là trách nhiệm lớn, sứ mệnh lớn”
[14]
Trang 2725
1.2.2.2 Khái quát hoạt động văn chương của Đỗ Chu
Đỗ Chu sáng tác từ năm 1962, lúc còn là học sinh của trường Hàn Thuyên, Bắc Ninh Bút danh Đỗ Chu được ghép từ họ của bố và mẹ Ông sử dụng bút danh này trong suốt quá trình sáng tác Truyện ngắn đầu tay Hương cỏ mật đạt giải nhất trong cuộc thi Truyện ngắn
sự nghiệp sáng tác của ông Từ thành công đó, ông tiếp tục sáng tác và vinh dự nhận nhiều
giải thưởng cao quý khác như: Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001, Giải thưởng Văn học Asean năm 2004, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm
Tùy bút : Đỗ Chu đã cho xuất bản 3 tùy bút
Thơ : chưa có tập thơ nào xuất bản, nhưng có 2 bài thơ được phổ biến trên mạng:
Trang 2826
Đám cháy trước mặt được xuất bản năm 1973, ra đời trong những năm nhân dân hai
miền Nam Bắc chung sức chung lòng đánh Mỹ Muôn người như một, hướng về cuộc chiến
bằng quyết tâm và niềm tin tưởng cao độ “Đám cháy” ở đây chính là những cuộn khói bốc lên từ bom đạn của giặc Mỹ dội xuống miền Bắc và một số tỉnh miền Trung, thiêu rụi làng
mạc, phá tan sự yên bình, hủy diệt con người, hòng đè bẹp tinh thần chiến đấu của con
người, nhằm phá hoại hậu phương vững chắc, đang tiếp sức cho chiến trường miền Nam
“Chất Đỗ Chu“ trong tiểu thuyết này thể hiện ở đề tài viết về đất nước, con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhiều cam go, khốc liệt Bằng Đám cháy trước
dân miền Bắc Nỗi đau càng sâu, tinh thần chiến đấu càng mạnh mẽ, ý chí càng kiên cường
“Chất Đỗ Chu” thể hiện ở cảm hứng ca ngợi vẻ đẹp của nhân dân miền Bắc, của thế hệ thanh niên, của con người Việt Nam trong những năm đánh Mỹ Mỗi người một vẻ Họ thuộc nhiều thế hệ, từ thế hệ những người lớn tuổi (ông chủ nhiệm Bào, bố mẹ Nhạ, mẹ
Thúy, b ố mẹ vợ Phiệt, bác Lưỡng ), đến thế hệ thanh niên (Nhạ, Vầu, Phiệt, Toái, Quang, Ngôn, Thúy, Lưu Chín, Xuân, Bảy, Điều, vợ Phiệt, chị Tấn, ), và đám trẻ con ( Hoài, Nam, nh ững đứa trẻ ở xóm Xanh ) Họ đến từ nhiều vùng quê, đảm nhận nhiều
công việc khác nhau Nhưng tất cả họ đều chung nhau một vẻ đẹp Họ đẹp ở lòng yêu nước,
ở tinh thần chiến đấu hăng hái, nhiệt tình, ở niềm lạc quan “nghĩ đến một ngày trở về, một
ngày đầy vinh quang của những người chiến thắng” [9, tr.73] Họ cũng rất đẹp ở tâm hồn
Họ yêu gia đình, yêu quê hương, rất chân thành và mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa
“Chất Đỗ Chu” còn được thể hiện ở văn phong lãng mạn, đầy chất thơ “chân trời miền
tr.201] Song song đó, ta có thể tìm thấy những câu văn mang giọng điệu chiêm nghiệm, triết lí kiểu Đỗ Chu “một cuộc đời chỉ được xem là vô giá khi bản thân nó đã phải trả
Về nghệ thuật, tác giả kể chuyện theo dòng hồi tưởng của nhân vật, chuyển dịch điểm nhìn trần thuật, thời gian đồng hiện, quá khứ hiện tại đan xen, khiến tác phẩm như là sự lắp ráp nhiều mảng để tạo nên một bức tranh chung về con người và thời đại
Trang 2927
Bên cạnh những mặt thành công là những điểm hạn chế Đó là mạch truyện còn rời
rạc, số phận, tính cách nhân vật chưa được tập trung khắc họa sâu nên chưa có nhân vật nào
đạt đến tầm khái quát, thiếu những chi tiết nghệ thuật độc đáo, ấn tượng
Tùy bút
Đỗ Chu đến với tùy bút một cách ngẫu nhiên Như mọi nhà văn giàu vốn sống, kiến
thức phong phú, khả năng quan sát, cảm nhận tinh tế, khi có sự thôi thúc của nhu cầu được
thể hiện, Đỗ Chu trải lòng mình qua những trang tùy bút Bước vào thế giới tùy bút của ông,
ta như đi vào thế giới của cái đẹp, cái cao cả, tài hoa Bởi ông quan niệm “Tùy bút là viết
tùy bút cũng cao hơn” [98]
Đỗ Chu cũng rất thành công trong thể loại tùy bút Trong 3 tùy bút được xuất bản,
Thăm thẳm bóng người, Tản mạn trước đèn được độc giả đánh giá cao
Nh ững chân trời của các anh tập hợp 14 tùy bút Đỗ Chu viết từ 1965 đến 1984 gắn
với những chặng đường của đất nước, từ lúc nhân dân hai miền Nam Bắc chung sức chống
Mỹ đến khi giành được hòa bình, cùng nhau xây dựng đất nước Trong tập tùy bút này, ta
nhận ra một Đỗ Chu yêu đất nước, yêu nhân dân, lúc nào cũng đặt trọn niềm tin vào Đảng, vào sức mạnh của dân tộc, vào sự vươn mình đi đến tương lai của đất nước Từ tình yêu và
niềm tin ấy, nhà văn nhìn thấy những điều chưa hay cùng những đổi thay đáng mừng của
đất nước (Đứng trước một mùa xuân, Người chiến sĩ, Vầng sáng trong đêm, Một ngọn
l ửa, Một cành đào nở sớm) Đồng thời, ông nhắc đến sự hi sinh của những con người trong
sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh lính trẻ
(Là con cháu c ủa Người), những người chỉ huy (Đứng trước một mùa xuân), những người
chiến sĩ trẻ (Người chiến sĩ), nhà văn Bùi Nguyên Khiết (Đứng trước một muà xuân), anh
hùng liệt sĩ Tạ Đông Trung (Những chân trời của các anh)
Nhà văn trân trọng những đóng góp của thế hệ con người mới với niềm khát khao đem
đến một diện mạo mới cho đất nước Họ là những người thợ trẻ, những cô gái (Đứng trước
m ột mùa xuân), đồng chí bí thư Tỉnh ủy, vị chủ tịch huyện (Là con cháu của Người), anh
chiến sĩ (Người chiến sĩ), những anh lính đảo (Trên đôi cánh đất nước), anh giám đốc xí
nghiệp gỗ trụ mõ (Một ngọn lửa, một cành đào nở sớm)
Trang 3028
Tập tùy bút ra đời trong hoàn cảnh đất nước bước vào cao trào của cuộc kháng chiến
chống Mỹ và vừa mới giành độc lập nên cảm hứng chủ đạo vẫn là cảm hứng ngợi ca, ngưỡng mộ, tin tưởng, âm hưởng chủ yếu là hào hùng, mạnh mẽ, mang tính cổ động mình
và mọi người, nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng như Lửa, Vầng sáng, Đôi cánh, Vòm
đỏ của con sông hồng, màu xanh ngắt của bầu trời Giọng điệu cũng rất đa dạng, ngoài
giọng trữ tình, êm đềm (Đứng trước một mùa xuân), còn có giọng chua xót căm hờn, mỉa
mai, kêu gọi (Việt Nam muôn năm), giọng lạc quan, tin tưởng (Trên đôi cánh đất nước),
giọng triết lý (Đứng trước một mùa xuân)
Tập tùy bút Thăm thẳm bóng người dày 316 trang gồm 3 phần Hoa bờ giậu, Thăm
th ẳm bóng người, Về quê đốt lửa, chất chứa những suy nghĩ, trăn trở, chiêm nghiệm của
nhà văn về chuyện đời, chuyện nghề, chuyện người, chuyện mình Để từ mỗi câu chuyện ấy,
người đọc “có một cảm giác thăng hoa như vừa được uống rượu quý, một cảm giác bình
sách c ủa người thắp lửa” [33, tr.93] Tên mỗi phần trong tập tùy bút khái quát được tư
tưởng, nội dung chính của phần ấy
Hoa b ờ giậu là những suy nghĩ, đúc kết của nhà văn về những con người, những nghệ
sĩ tuy sống giản dị, khiêm nhường, nhưng với tài năng, ý thức trách nhiệm cao, đặc biệt là
biết dùng trái tim để yêu thương nhân loại, để viết, họ đã để lại cho đời những áng văn thơ
đẹp, những chân dung đáng quý Đỗ Chu ví họ như những bông hoa nơi bờ giậu “tuy mỏng
ưa” [18, tr.5] Đó là “bờ hoa tư tưởng”, “bờ hoa của nghệ thuật và văn học” của mỗi dân
tộc “Ở đó, những khuôn mặt trí tuệ ẩn hiện, những hình hài nhân cách ẩn hiện, những tình
yêu thương ràng bện như những vồng hoa dầu dãi trong mưa nắng thời gian” [18, tr.22]
Thăm thẳm bóng người chứa đựng những chiêm nghiệm về cái bóng mà mỗi con
người để lại ở cuộc đời Ông từng nhận thấy rằng “Không có cái hiện hữu nào là bền vững
tr.6] Bởi thế, trước những “bóng đẹp” của các văn nghệ sĩ, ông không thể không miên man
Để rồi, khi miên man cùng ông, nhìn vào bóng người, chúng ta sẽ nhìn lại và chăm chút hơn
cho bóng mình Đó chính là chất nhân văn trong tùy bút này “Trong nhiều câu chuyện tác
Trang 3129
V ề quê đốt lửa là cái nhìn hoài niệm về quê nhà, về tuổi thơ Ở nơi đó có những nét
đẹp của cảnh, của người, của truyền thống văn hóa vùng Kinh Bắc, có những kỉ niệm thân thương Dù tất cả đã là ký ức, nhưng trước dòng trôi của thời gian, trước bao thay đổi của
thời cuộc, có một điều Đỗ Chu vẫn luôn muốn nói là “với tôi quê nhà yêu dấu bao giờ cũng
[18, tr.266]
Trong tùy bút, người đọc phải có những lúc dừng lại để chia sẻ với nhà văn những đúc
kết về chuyện nghề “Sự thực cái sung sướng nhất với mỗi nhà văn là được nhân dân mình
không gì thiêng liêng b ằng tiếng mẹ đẻ” [18, tr.79], về cái bản sắc riêng cần giữ của mỗi
người “Cái tính cách riêng của mỗi người là phải cố mà giữ lấy, để mất đi, để giống nhau,
ai cũng như ai thì đời sống chung thành thê thảm” [18, tr.192]
Tập tùy bút Tản mạn trước đèn gồm 15 tùy bút, dày 375 trang Có thể nói đấy là
những trang viết được chắt lọc từ những năm tháng sống và viết của Đỗ Chu Đây là tập tùy bút có giá trị nhất trong số những tùy bút của ông Năm 2012, ông được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật với tập truyện Một loài chim trên sóng và tập tùy bút này Cùng T ản mạn trước đèn với Đỗ Chu, ta nhận thấy đằng sau những câu chuyện được viết
bằng một lối viết nhẹ nhàng, như chia sẻ, tâm tình cùng bạn đọc là những vấn đề đáng để
suy nghĩ “ta được gặp lại ở Tản mạn trước đèn vẫn một Đỗ Chu thời Hương cỏ mật, Mùa
xưa nhiều, vậy mà vẫn giữ được phần lớn cách nhìn ấy và giọng văn ấy, xét ở một khía cạnh nào đó, có thể nói người viết tỏ ra rất tự tin ở mình hay nói cách khác là có bản lĩnh” [22,
tr.60]
Trong tùy bút này, nhà văn nhắc đến những người đã hi sinh cho đất nước như người
anh hùng Vũ Xuân Thiều (Kìa đàn hồng hạc), những con người bước ra từ cuộc chiến, mỗi người mỗi việc, có người giữ những trọng trách và đóng góp xây dựng đất nước (Kìa đàn
h ồng hạc, Trời Điện Biên mây trắng, Ghi chép ở Ban Mê), những con người có vị trí quan
trọng trong lịch sử - văn hóa như cụ Điểu Câu, cụ giáo Thấu (Ông già ngồi dịch Đăm Săn),
Trang 3230
cụ Huỳnh Thúc Kháng (Cát nóng); cùng những vùng đất nổi tiếng như vùng đất anh hùng
Quảng Nam - Đà Nẵng (Cát nóng), hay là một Điện Biên kết tinh hào khí của dân tộc (Trời
Điện Biên mây trắng)
Đặc sắc nhất trong tùy bút này là những chân dung văn học Bằng những quan sát tinh
tế, lối kể hóm hỉnh, Đỗ Chu đã giúp người đọc hiểu thêm về những nhà văn, nhà thơ ưu tú
Cũng là họ đấy thôi, nhưng có những điều mới mẻ, thú vị “Phải nhận rằng tác giả tản mạn
trước đèn đã biết cách dẫn ta một lần nữa “đến thăm” họ và lưu ý ta không ít chi tiết tưởng không đâu nhưng lý thú mà những lần “đến thăm” trước đó cùng với người khác, ta không được biết Phải chăng đó cũng là một cách phát hiện riệng, và đóng góp riêng của Đỗ Chu trên phương diện dựng chân dung văn học” [22, tr.59]
Không dừng ở đó, qua những con người ấy, nhà văn chia sẻ những suy nghĩ của mình
về chuyện đời, chuyện nghề, trách nhiệm của người cầm bút như chuyện lũ lụt ở miền trung, nghèo đói, đồng tiền lên ngôi, nhiều sách dở được in, nạn tham nhũng cùng sự trăn trở
đậu mãi trong lòng người” [18, tr.226] Muốn vậy, người cầm bút cần phải viết nghiêm túc
và cẩn trọng “người viết càng phải tự đòi hỏi nghiêm khắc ở mình hơn nữa, viết khó nhọc kỹ
lưỡng hơn nữa, chứ không nên sống tùy thời, ăn theo nói theo” [18, tr.259], phải có lương
tâm, nhân cách “m ột tác phẩm đúng nghĩa rất gần với một đài sen Một con người cũng
c on người ta việc đầu tiên là phải biết xấu hổ” [18, tr.214]
Rõ ràng, nhà văn nhìn vào hiện thực đất nước và đời sống văn học bằng cái nhìn trung
thực, đầy nhân văn Dù tỉnh táo nhận thấy những thách thức phải vượt qua, ông vẫn tin
tưởng “Bão rồi bão lại tan, lũ lụt chán phải đến lúc khô hạn, khô hạn chán lại mưa dầm
đường đổi mới mà dân tộc ta đang đi tới là một lựa chọn đúng đắn Quả là đã và đang có
m ột nhân dân đầy nhạy cảm, rất giàu tiềm lực cùng Đảng đi trên con đường này” [18,
tr.285]
Cao hơn nữa, ông còn bàn về văn hóa dân tộc Theo ông, có một dòng chảy văn hóa
của dân tộc Trong dòng chảy ấy, con người Việt Nam “cần cù, chịu khó học hỏi”, “có tinh
Trang 3331
chúng ta “ph ải nhìn rõ phận mình, phải biết chăm lo cho dân trí nước mình và phải biết
vào c ảnh bị diệt chủng tinh thần” [18, tr.219]
Nhìn chung, đến với tùy bút, Đỗ Chu đã phát huy được cá tính, tài năng của mình Quá trình quan sát, ngẫm nghĩ, đúc kết, viết trong một đời cầm bút đã đem đến sức sống cho
những trang tùy bút “cái thể tài tùy bút rất thuận cho việc chuyển tải vốn sống và vốn tri
mạn, người đọc miên man, điểm gặp nhau ở họ là tình yêu đất nước, tình yêu văn chương, yêu cái đẹp
Về mặt nghệ thuật, chất tài hoa - uyên bác in đậm trong tùy bút của Đỗ Chu, kiến thức được huy động thật sâu rộng, bao quát nhiều lĩnh vực từ văn chương đến hội họa, âm nhạc,
lịch sử, đời sống, Phật giáo, Giọng điệu đa dạng, câu văn giàu nhạc điệu, đăng đối, bằng
trắc nhịp nhàng, tạo nên chất thơ sâu lắng Việc chêm những câu ca dao, thành ngữ, thơ,
những đoạn trích từ những tác phẩm, những lời bàn luận đầy chất triết lý đã mở rộng trường liên tưởng, tăng khả năng thụ cảm cho người đọc
Không mạnh mẽ, dữ dội như tùy bút Nguyễn Tuân, cũng không mềm mại, lịch lãm như tùy bút Hoàng Phủ Ngọc Tường, tùy bút Đỗ Chu nhẹ nhàng mà đọng lại những dư vị sâu lắng nơi người đọc “Vẫn là những rung động sâu lắng, những quan sát tinh tế, sự kỹ
Thơ
Trong những năm gần đây, Đỗ Chu cũng đã thử đặt chân vào làng thơ Đây chỉ là một
cuộc dạo chơi đem đến cho ông những trải nghiệm mới “Việc làm thơ đối với tôi những
năm cuối đời như một thứ chơi” [96] Khi sắm vai một nhà thơ, ông nghiệm ra được những
yêu cầu đối với thơ cùng những vất vả của người làm thơ, và càng kính trọng họ “Thơ là sự
Trang 3432
M ột khi đã làm thơ, tôi thêm yêu và trọng các thi sĩ” [73]
Trong thơ, cũng vẫn là một Đỗ Chu tinh tế, sâu sắc, cái tình dành cho quê hương, đất
nước, con người thuở nào vẫn nồng nàn, tha thiết
Chỉ là cái bất chợt nhìn thấy, cảm nhận những gì thân thương gần gũi, bất chợt nhìn lại mình, rồi mượn thơ chia sẻ, Đỗ Chu khiến người đọc cũng bất chợt nhận ra cái đẹp bình dị
đang hiện diện quanh mình, nhận ra giá trị của cuộc sống:
l ẩn thẩn nhặt đầy vơi
th ả vào trang sách
R ồi một ngày
b ất chợt nhận ra đông tóc em sương gió se lòng
Tôi b ỗng hiểu
em mong manh dáng vóc hao g ầy
chim thôi ríu ran r ặng cây trước ngõ
t ừ bao giờ chẳng rõ sân nhà ta lũ trẻ ít cười người ấy thành ít lời đôi mắt buồn lơ đãng gửi vào đâu
Trang 35tôi bi ết lấy gì giát lên áo em
t ừ độ ấy tôi bu ộc vào tôi nỗi thèm khát một đời sóng sánh gi ếng thơm
tháng tư hoa trẩu rụng
tr ắng ngần em trắng ngần hoa
nh ững cánh trắng ngần rập rờn xúi bẩy tôi
th ả sợi dây dài kéo gầu nước mát tưới lên lưng ong con gái
d ội vào ngực trần con gái
t ắm em anh tắm bằng hương
t ắm em anh tắm bằng thương tháng tư vời vợi
đường xa nhớ nhớ quên quên
th ất thểu bước cao bước thấp nhi ều đêm dạ như xát muối rùng mình m ỗi bận trẩu rung hoa
ối a ai ấy ơi trăng lên trăng đứng trăng tà hình như ngoài kia có người đang hát
ai ấy ngoài kia ơi
( Tháng tư xa) - Hà Nội, tháng 9/2010
Trang 3634
Chưa có điều kiện nghiên cứu cụ thể, nhưng chúng tôi nhận thấy Đỗ Chu làm thơ cũng
rất tỉ mỉ, câu từ được chọn lọc, tình ý sâu sắc, chất truyền thống và nét hiện đại hài hòa “Cái
tôi trong thơ ông ấy nó sang trọng quá, sâu sắc quá, Nó chẳng hề véo von, vay mượn, sáo
r ỗng” [73]
1.3 Khái quát về truyện ngắn Đỗ Chu
1.3.1 Những chặng đường phát triển của truyện ngắn Đỗ Chu
Nhìn vào những tác phẩm đã được xuất bản của Đỗ Chu, truyện ngắn chiếm đa số Đây chính là thể loại đem đến sự thành công cho ông Có những giai đoạn lực bút dồi dào,
cảm xúc thăng hoa, ông viết được những truyện ngắn đặc sắc như Phù sa, Thung lũng cò,
lặng cần thiết để nhà văn nghiền ngẫm, tìm kiếm, nhìn đời, nhìn người, nhìn mình Đến khi
có một độ dồn nén thích hợp, Đỗ Chu trở lại với một bản lĩnh cứng cỏi, một tầm nhìn sâu
sắc hơn Có thể chia quá trình viết truyện ngắn của Đỗ Chu thành 3 chặng đường
Ch ặng đường thử nghiệm
Năm 18 tuổi, chưa học xong chương trình phổ thông, cậu học sinh Chu Bá Bình đã
bắt đầu tập tành viết, đặt những bước chân đầu tiên trong mảnh đất văn chương Tác phẩm
đầu tay là đoản văn Ao làng được đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội số 12 năm 1962 Dù
chưa là một truyện ngắn hoàn chỉnh nhưng được đánh giá là hay Đó là một khởi đầu thuận
lợi Tuy là một “người mới” nhưng Đỗ Chu đã viết văn với một tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc Ông từng chia sẻ với độc giả quá trình viết công phu, đầy trách nhiệm
“Tôi đã thuộc lòng đoạn văn ngắn ấy, tôi sửa đi sửa lại từng chữ một, cân nhắc nhịp điệu
tr.322-323] Tô Hoàng cũng từng nhận thấy Đỗ Chu “có một trí tưởng tượng nhanh nhạy,
của thế hệ nhà văn đàn anh, sự thành công sớm đến với ông Có lẽ, ông là một trong số ít
những nhà văn không mất nhiều thời gian trong chặng đường thử nghiệm, tìm kiếm, khẳng định vị trí của mình trong văn đàn
Ch ặng đường khẳng định mình
Trang 3735
Năm 1963, tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức cuộc thi Truyện ngắn hay Trong cuộc
thi ấy, với truyện ngắn đầu tay Hương cỏ mật, Đỗ Chu đã đạt giải thưởng cao nhất, chính
thức khẳng định tên tuổi mình trong văn đàn Truyện có bố cục rất hợp lý, từ một tình
huống truyện đơn giản, có thể bắt gặp trong đời thường, mạch truyện được phát triển thật tự nhiên Hình ảnh gần gũi, thi vị Từ ngữ, câu văn nhịp nhàng, gợi hình, giàu nhạc điệu, nhiều chi tiết có sức gợi Người viết tỏ ra thật chín chắn, tinh tế, nhìn đời, nhìn người bằng trái tim nhân hậu, ấm áp, tin yêu, hiểu được hoàn cảnh, tâm lí nhân vật, làm chủ trang viết Từ một
cuộc thi truyện ngắn, bằng một truyện ngắn Hương cỏ mật, Đỗ Chu đã có một cách xuất
hiện thật ấn tượng Mùi hương cỏ mật cứ quyện mãi trong lòng người dù trang sách đã khép
lại Nhà văn Nguyễn Trí Huân vẫn không quên cái giây phút Tạp chí Văn nghệ quân đội
xôn xao khi thưởng thức Hương cỏ mật “Nhiều người bấy giờ đọc Hương cỏ mật không
tưởng tượng nổi đây là tác phẩm viết trên một làng nhỏ nằm trên vùng Kinh Bắc của một
Chu Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
năm 2001
Khi tiếng súng của giặc Mỹ vang lên ở miền Bắc, Đỗ Chu nhập ngũ, trở thành một người lính pháo cao xạ Vừa chiến đấu vừa sáng tác, những truyện ngắn của Đỗ Chu giai đoạn này mang không khí, tinh thần của thời đại “tất cả thành chiến sĩ” (Tố Hữu) Năm
1967, tập truyện Phù sa ra đời, gồm 11 truyện ngắn được viết từ 1962 đến 1966, được độc
giả đón nhận nồng nhiệt Một người lính trẻ, với tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu con
người, với một hướng viết đã sớm được xác định là “hướng về việc ca ngợi con người với
phản ánh được tâm tư, tình cảm của thế hệ thanh niên lúc bấy giờ Mỗi một truyện như một
mảng tranh đẹp, để khi đọc hết 11 truyện, ghép lại một bức tranh lớn, người đọc sẽ có được cái nhìn toàn cảnh về hiện thực đất nước và vẻ đẹp của con người Việt Nam trong những
năm đánh Mỹ Những con người bình dị mang những vẻ đẹp ẩn tàng “giống như những lớp
nước Họ là cô sinh viên (Phù sa), anh chủ nhiệm, cụ già (Mùa cá bột), những người lính
trẻ, những cán bộ chỉ huy, những con người ở hậu phương (Phù sa, Chiến sĩ quân bưu, Gia
đình những người đi xa, Hương cỏ mật, Đường qua nhà, Thành phố bên kia cầu, Chân
Trang 3836
tr ời ), những đứa trẻ (Hương cỏ mật, Thung lũng cò) Theo Tô Hoàng, sức hút của Phù sa
là ở chỗ nhà văn đã “cất lên một tiếng nói tươi tắn, mới lạ để kể lại những ước ao, khát
tr.94] Với tập truyện Phù sa, Đỗ Chu đã định hình được văn phong của mình, một lối văn
tr ữ tình, đậm chất thơ từ nội dung, cảm hứng đến bút pháp
Năm 1971, Đỗ Chu cho xuất bản tập truyện Gió qua thung lũng, gồm 4 truyện viết từ
1969 đến 1970 Vẫn là Đỗ Chu ở thời Hương cỏ mật, tiếp tục đưa người đọc vào những
gian nan của cuộc kháng chiến chống Mỹ để hiểu hơn tinh thần chiến đấu, vẻ đẹp tâm hồn
của những cô gái gan góc, dũng cảm với công việc giữ đường, những anh lính lái xe vận chuyển hàng quân sự, vui tính, đa tình, đầy tinh thần trách nhiệm (Ráng đỏ), những người làm công tác khí tượng (Chuyện mùa hạ), những người lính giàu lòng yêu nước, tinh thần
chiến đấu dũng cảm, những phụ nữ, bà mẹ anh hùng (Trong tầm súng, Gió qua thung
lũng) Xen kẽ là những câu chuyện tình yêu lãng mạn, tuy chưa đi đến kết thúc tốt đẹp,
nhưng thể hiện vẻ đẹp tinh tế, sâu sắc trong tâm hồn của con người Văn phong nhẹ nhàng,
lịch lãm, đậm chất thơ
Tập truyện Trung du xuất bản năm 1977, gồm 6 truyện viết từ năm 1973 đến 1977
Nội dung chủ yếu viết về những vất vả trong đời sống, tinh thần hăng hái làm việc, tình cảm lãng mạn của những người chiến sĩ địa chất (Người và quặng), của các pháo thủ (Khoảng
xanh), c ủa người lính công binh, của nữ văn công xung kích (Nhành quế), của những anh
lính thủy và những cô nữ sinh trung học (Trung du) Họ như những nhành quế giữa rừng,
giản dị mà anh dũng, như những lớp quặng quý, làm giàu đẹp quê hương (Nhành quế,
Người và quặng) Đất nước được giải phóng, ngòi bút Đỗ Chu hướng đến khắc họa vẻ đẹp
của những con người hăng hái xây dựng đất nước, đi vào phản ánh cuộc sống, tâm tư người chiến sĩ khi từ mặt trận trở về với gia đình, với cuộc sống đời thường (Ngọn lửa, Một người
lính tr ở về)
Năm 1985, tập truyện Tháng hai được xuất bản, gồm 5 truyện được viết từ năm 1981 đến 1984 Đất nước đã độc lập, nhưng hào quang của cuộc chiến vẫn còn Tâm sự người ở
l ại nơi hậu phương là nỗi lòng của người con gái, của người mẹ già khi phải giấu tình riêng
để người con trai mình yêu thương lên đường đi bộ đội, tuy xa cách nhưng họ vẫn rất gần
Trang 3937
bởi luôn nghĩ đến nhau và mong chờ ngày sum họp Và, người lính khi trở lại quê nhà, trở
về với cuộc sống đời thường, vẫn không quên được ngày nhập ngũ, không quên được đồng
đội, không quên những năm tháng chiến đấu gian khổ mà hào hùng (Mưa tạnh, Đất bãi,
M ận trắng), còn những người dân đã từng gặp gỡ những con người dũng cảm, đầy tinh thần
trách nhiệm ấy cũng không thể quên được họ (Tháng hai)
Trong tuyển tập truyện ngắn xuất bản năm 2003, có một số truyện không có ở những
tập truyện trên như Ghi chép ở cửa Nhật Lệ, Trên một chặng đường, Tiếng vang của
cảm hứng ca ngợi vẻ đẹp của đất nước, con người trong cuộc kháng chiến chống Mỹ như vẻ
đẹp của bà mẹ đưa đò và cô gái kỹ sư thủy sản (Ghi chép ở cửa Nhật Lệ), những người thợ
cầu và đội nữ công nhân thuộc công ty đường goòng phía Nam, những người lính cao xạ,
những tay anh nuôi, thợ sửa chữa pháo, những anh lính của trạm thủy văn trên một nhánh
của sông Đà (Một vùng núi phía Bắc, Trên một chặng đường), đời sống kháng chiến cùng
vẻ đẹp trong tâm hồn người lính (Tiếng vang của rừng), những hoài niệm về tuổi thơ, về quê hương (Bồng chanh đỏ)
Nhìn chung, về mặt bút pháp, ở các sáng tác trước năm 1975, tác giả chủ yếu viết theo
bút pháp lãng m ạn, văn phong đậm chất thơ, nhiều hình ảnh quen thuộc, cách tiếp cận và
phản ánh hiện thực cuộc sống, con người còn đơn giản So với thời Hương cỏ mật, ba tập
truyện chưa có bước tiến gì đáng kể, chỉ là sự lặp lại của những cái đã có “Sau những thành
ngòi bút, đổi mới cách nghĩ của người cầm bút Đã có lúc ông cảm thấy đau xót vì “những
gì mình đã có, lại nhoài khỏi vòng tay mình” [61] Bản thân nhà văn cũng nhận ra khoảng
lặng đó Có lần, ông thổ lộ với đồng nghiệp “Dạo đi lính có lúc tao buồn tới mức cứ quần đi
cũng chả thiết về”, “Nhiều lúc tao cứ nghĩ hay là chính mình đã nhặt được cái ba lô truyện
r ỗng tuếch” [62]
Dù vậy, cũng phải thừa nhận rằng, những truyện ngắn của Đỗ Chu đã hoàn thành sứ
mệnh của văn chương trong thời đại cách mạng, bởi “Ngòi bút Đỗ Chu luôn hướng về việc
Trang 4038
người nói riêng Đó là nét hiện thực cơ bản tạo nên sức mạnh tinh thần của người dân miền
s ức của cho miền Nam ruột thịt” [80]
Ông như một người thắp lửa bằng chính trái tim mình Ngọn lửa ấy tiếp tục bùng cháy trong trái tim mọi người, tạo nên một ngọn lửa lớn, một nguồn sức mạnh tinh thần để cả dân
tộc đi qua và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Ch ặng đường đổi mới, vượt qua bóng mình
Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, mỗi nhà văn đều có ý thức và nỗ lực đổi
mới mình trên nhiều phương diện Đỗ Chu cũng thế Đường lối đổi mới của Đảng và nhất là Nghị quyết 05 của Bộ chính trị giúp ông cũng như văn nghệ sĩ được tự do trong sáng tác
Những vùng cấm trong văn chương được mở ra, Đỗ Chu trở lại mảnh đất truyện ngắn với
một diện mạo mới, hấp dẫn “Khi người ta quên một Đỗ Chu tài hoa rực sáng thì lộ trình
nhà văn của anh chừng mới bắt đầu, và phải chăng nó sẽ là giai đoạn chính yếu của đời văn anh Với “Cánh đồng không có chân trời”, “Mảnh vườn xưa hoang vắng”, “Mê lộ”
thi ếu” [62, tr.97]
Số lượng tác phẩm giai đoạn này không nhiều như giai đoạn trước (10 truyện): Cánh
đồng không có chân trời (1988), Mê lộ, Mảnh vườn xưa hoang vắng (1989), Chuyến đi
cu ối năm, Một loài chim trên sóng (1994), Lão Mai, Người của muôn năm trước (1995),
H ọa mi hót (1996), Quanh một bàn tiệc (1997), Ngày đang trôi (1999), nhưng đều là
những tác phẩm có giá trị Nội dung chủ yếu đề cập đến những biểu hiện đáng lo ngại đang
diễn ra trong đời sống xã hội, con người như tình trạng người buôn thuốc nhiều mà thầy thuốc lại hiếm (Lão Mai), tiền bạc làm người ta sống đểu giả, các ông quan bà quan vẻ mặt
lạnh tanh vô hồn, giới trẻ kiếm tiền thì nhanh nhưng ý tứ thì ít, sống nhạt thếch, không có lý
tưởng (Hoạ mi hót), sự biến chất cuả một số cán bộ (Người của muôn năm trước), môi trường sinh thái bị tàn phá, văn chương xuống cấp (Chuyến đi cuối năm), tình trạng phá đền, đốt chùa, lãng quên những giá trị văn hóa truyền thống (Ngày đang trôi, Một loài chim
trên sóng )
Những biểu hiện đó tác động đến cuộc sống, tâm tư của con người, khiến cho những con người đang ngày đêm quan sát, nhạy cảm trước những chuyển biến của đất nước phải