Xuất phát từ những lí do trên, tôi Khảo sát khẩu ngữ trong truyện ngắn “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp với mong muốn chỉ ra được... Từ đó hiểu thêm về sự cống hiến của ông đối với nề
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
1.1 Lí do khoa học 3
1.2 Lí do thực tiễn 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Phương pháp nghiên cứu 5
4.2 Đóng góp của đề tài 5
5 Kết cấu của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Từ tiếng việt, các lớp từ tiếng việt 6
1.1.1 Từ tiếng việt 6
1.1.2 Các lớp từ tiếng việt 7
1.2 Lớp từ khẩu ngữ 9
1.3 Khái niệm về khẩu ngữ 10
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT KHẨU NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN “KHÔNG CÓ VUA” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 12
2.1 Khẩu ngữ là danh từ 18
2.2 Khẩu ngữ là động từ 21
2.3 Khẩu ngữ là tính từ 24
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ CỦA LỚP TỪ KHẨU NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN “KHÔNG CÓ VUA” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 26
3.1 Khẩu ngữ thể hiện con người đê tiện, thực dụng trong thế giới “ không có vua” 26
Trang 23.2 Khẩu ngữ làm tăng thêm vẻ đẹp tâm hồn nhân vật nữ và nhân vật thiểu năng 27 KẾT LUẬN 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 PHỤ LỤC
Trang 3ăn tiếng nói hàng ngày – Khẩu ngữ của nhân dân làm chất liệu Khi đi vào văn học viết, tiếng nói ấy mang cả điệu hồn dân tộc vào trong đó Có lẽ vì thế nên các nhà văn, nhà thơ ở bất kỳ thời đại nào cũng đều ý thức sâu sắc việc đưa khẩu ngữ vào trong tác phẩm của mình
Khẩu ngữ là loại ngôn từ sinh động và có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần biểu đạt những nội dung mà tác giả muốn thể hiện Nhận thức được điều này Nguyễn Huy Thiệp đã khẳng định vị trí của khẩu ngữ trong sáng tác nghệ thuật – trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc tác phẩm.
1.2 Lí do thực tiễn
Nguyễn Huy Thiệp là một trong những nhà văn tiên phong, ngược dòng nước chảy, sử dụng nhiều khẩu ngữ trong các tác phẩm của mình Câu văn trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ngắn gọn, cộc lốc, sắc bén mà hàm súc, lối nói gọn lỏn, trắng trợn, dung tục, thẳng thừng đốp chát Nhận diện sự bất nhân trong nhân tính là biện pháp hiện thực, là nhân
sinh quan và xã hội quan trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp truyện ngắn “ Không Có Vua” phô diễn lưỡng diện thiện ác trong con người, cho
chúng giao thoa và sau đó bằng cách này hay cách khác giải mã vấn đề và truy nguyên nhân tại sao nó như thế.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi Khảo sát khẩu ngữ trong truyện ngắn “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp với mong muốn chỉ ra được
Trang 4đặc điểm, sử dụng khẩu ngữ trong truyện ngắn “không có vua” Từ đó hiểu thêm về sự cống hiến của ông đối với nền văn học dân tộc.
những khái niệm về khẩu ngữ, mặc dù có thể nhấn mạnh ở khía cạnh này hay khía cạnh khác nhưng tựu chung lại các tác giả đều cho rằng, khẩu ngữ
là lời nói thường dùng trong cuộc sống người dân.
Tuy nhiên các công trình này chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra các nhận xét khái quát về đặc điểm của khẩu ngữ mà chưa đi sâu tìm hiểu, khảo sát các biểu hiện cụ thể của khẩu ngữ Tôi viết tiểu luận này với mong muốn sẽ tổng kết, phân loại các biểu hiện của khẩu ngữ trong truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, thống kê, phân tích các đặc điểm của khẩu ngữ trong truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp Đồng thời sẽ đưa ra những nhận định, đánh giá khoa học về mức độ ảnh hưởng của khẩu ngữ trong truyện ngắn “không có vua” Nhằm củng cố thêm lí thuyết về khẩu ngữ ở trong tác phẩm, để làm phong phú thêm hệ thống lí thuyết về khẩu ngữ, giúp người học có thêm tình yêu đối với môn học.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát khẩu ngữ ở nhiều góc độ thể hiện như danh từ, động từ, tính từ được thể hiện trong trong truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn
Trang 5Huy Thiệp Thu thập tất cả tài liệu liên quan đến vấn đề, tiến hành khảo sát đối tượng, thống kê, phân loại, phân tích để thấy đặc điểm và giá trị của khẩu ngữ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung khảo sát khẩu ngữ trong truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tôi vận dụng tổng hợp một số phương pháp chính sau : Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Khảo sát khẩu ngữ trong truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3: Giá trị của các lớp từ khẩu ngữ trong truyện ngắn “không
có vua” của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Từ tiếng việt, các lớp từ tiếng việt
Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ độc lập về ý nghĩa và hình thức (Nguyễn thiện Giáp)
Khái niệm về từ tiếng việt, Đỗ hữu Châu cho rằng:
Từ tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng việt và nhỏ nhất để tạo câu.
Nguyễn thiện Giáp lại cho rằng: Từ tiếng việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói,nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền.
Đặc điểm chung nhất của từ tiếng Việt:
+ Về ngữ âm : Từ của tiếng Việt bất biến, dù ở ngôi nào, số nhiều hay số ít, nó vẫn giữ nguyên hình thái.
+ Về ngữ pháp: Từ chịu sự chi phối của quy tắc ngữ pháp Nếu là danh từ có thể kết hợp với các từ khác để tạo nên ngữ danh từ Nếu là động
từ có thể kết hợp với các từ khác để tạo nên ngữ động từ Tính từ làm vị ngữ trong câu.
Trang 71.1.2 Các lớp từ tiếng việt
Các lớp từ tiếng việt gồm: phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc; phân lớp
từ ngữ theo phạm vi sử dụng; phân lớp từ ngữ tích cực và tiêu cực và phân lớp từ ngữ theo phong cách sử dụng.
- Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc gồm 2 lớp: từ bản ngữ và lớp từ ngoại lai
+ Lớp từ bản ngữ hay còn gọi là lớp từ thuần Việt, làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từ khác.
+ Lớp từ ngoại lai là những từ ngữ mà chúng vay mượn hoặc có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác Lớp từ ngoại lại phân thành 2 loại : các từ ngữ gốc Hán và các từ ngữ gốc Ấn – Âu
Từ vựng tiếng việt chia thành 5 nhóm: thuật ngữ, từ ngữ địa phương,
từ nghề nghiệp, tiếng lóng và lớp từ chung
+ Thuật ngữ là những từ ngữ làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được xác định chặt chẽ, chuẩn xác trong mỗi nghành, mỗi lĩnh vực
khoa học Ví dụ: hợp chất vô cơ, hợp chất hữu cơ…
+ Từ ngữ địa phương là những từ thuộc 1 phương ngữ nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ địa phương đó Ví
dụ: má – mẹ, gốm – gầy…
Trang 8+Từ nghề nghiệp là 1 lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó Ví
dụ : nghề thợ mộc có bào cóc, bào xoa, mộng vuông, bức bàn…
+ Tiếng lóng là từ ngữ do những nhóm người, lớp người trong xã hội dùng để gọi tên những sự vật, hiện tượng, hành động…vốn đã có tên gọi
trong vốn từ vựng chung, nhằm giữ bí mật nội bộ Ví dụ: dân phi công có tiếng lóng: lính phòng không (giai chưa vợ), thanh niên có tiếng lóng là vẹo (đáng ghét), chuối (hâm hâm), khoai ( khó khăn)…
+Lớp từ chung: Trừ những từ ngữ thuộc các lớp từ sử dụng hạn chế,
số còn lại là lớp từ chung Lớp từ chung là những từ toàn dân, mọi người
đều có thể sử dụng rộng rãi, có khối lượng từ ngữ lớn Ví dụ : cây, hoa, cỏ,
tủ, bàn, ghế, sách, vở, bút…
- Phân lớp từ ngữ tích cực và tiêu cực
+ Từ tích cực là những từ ngữ luôn luôn được mọi người sử dụng ở mọi nơi, mọi lúc Thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp ở dạng nói hoặc viết, đối thoại hay độc thoại, có tần số xuất hiện cao, độ phân bố lớn Ví dụ:
đẹp, xấu, cô gái, lá, cây…
+ Từ tiêu cực gồm 2 loại: từ mới và từ cũ
Từ mới là những từ xuất hiện để bù đắp những thiếu hụt, không phù
hợp, thỏa mãn với nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng Ví dụ: tin học, phần mềm, xây dựng, tổ chức…
Từ lịch sử là những từ đã bị đẩy ra ngoài phạm vi từ vựng chung,
tích cực bởi các nguyên nhân lịch sử xã hội Ví dụ: điền chủ, dân cày, thái thú…
Trang 9- Phân lớp từ ngữ theo phong cách sử dụng
Phân lớp từ ngữ theo phong cách sử dụng gồm 3 loại : lớp từ khẩu ngữ, lớp từ thuộc phong cách viết và lớp từ trung hòa
+ lớp từ khẩu ngữ là những từ ngữ sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp
nói Ví dụ: con giai, giời ơi, nhé, nhỉ
+lớp từ thuộc phong cách viết là những từ chỉ chủ yếu dùng trong các sách vở, báo chí…, hiểu sâu xa, đó là những từ được chọn lọc, trau dồi,
gắn bó với chuẩn tắc nghiêm ngặt Ví dụ: phong cách khoa hoc gồm đạo hàm, ẩn số…; phong cách nghệ thuật : đắm đuối, mơ màng, sóng sánh, lộng lẫy…
+ lớp từ trung hòa về phong cách là những từ ngữ không mang dấu hiệu đặc trưng của lớp từ khẩu ngữ hoặc lớp từ thuộc phong cách viết Ví
dụ: đau khổ, đi dạo, buồn, tăng giá…
1.2 Lớp từ khẩu ngữ
Do đặc trưng của lớp từ khẩu ngữ là những từ ngữ sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp hàng ngày, cho nên đặc điểm của những từ này là những từ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và màu sắc thái biểu cảm
Trước hết về mặt cấu trúc hình thức, lớp từ khẩu ngữ có cấu trúc khá lỏng lẻo, dẫn tới khả năng biến đổi cấu trúc vốn có tính bền vững Ví
dụ: chồng con: chồng với chả con; học hành: học với chả hành; vớ vẩn: vở
va vớ vẩn
Từ khẩu ngữ thường là những từ có nội dung biểu cảm phong phú.
Ví dụ: Nói về cảm xúc, khẩu ngữ dùng: dở, hết xẩy, hết chê…
Bắt nguồn từ tính chất tự nhiên của từ khẩu ngữ, cho nên khi nói người ta thường sử dụng nhiều cảm thán từ chỉ những màu sắc tình cảm, cảm xúc, thái độ khác nhau vốn làm thành nội dung biểu hiện bổ sung lời
nói mang lại cho khẩu ngữ cái ý nhị duyên dáng sâu sa, hấp dẫn: a ha, mẹ cha mày, cha chúng mày…, các ngữ khí từ như: à, ạ, hở, sao, ừ, nhỉ, nhé,
ấy, chứ…
Trang 10Các từ ngữ đưa đẩy: nói khí không phải, nói dại mồm, bỏ quá cho… các phó từ nhấn mạnh: ngay, cả, ngay cả, nào, đến cả…
Từ khẩu ngữ chấp nhận lối sưng hô thân mật đậm màu sắc bày tỏ
thái độ Ví dụ: cậu, tớ, mình, nó, hắn, mày, tao, chúng mày, người ta,…
Bên cạnh đó là những từ có sắc thái thông tục, thô thiển Ví dụ: ôn vật, khốn nạn, nỡm, thằng, cha chúng mày,…
Sự xuất hiện của các từ thưa gửi: ơi, dạ, vâng, ừ…
Như vậy những đặc điểm của lớp từ khẩu ngữ tạo nên giá trị khu biệt của từ khẩu ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt với ngôn ngữ gọt giũa, gia công trong văn chương Và cũng chính vì thế trong kinh nghiệm trau dồi vốn ngôn ngữ để sáng tác các nhà văn đều cho rằng nguồn từ ngữ quý báu nhất đối với mình cần phải thường xuyên ghi chép lượm nhặt là những từ ngữ dùng trong lời nói thường ngày của quần chúng.
1.3 Khái niệm về khẩu ngữ
Hoàng Phê với Từ điển tiếng việt cho rằng, “khẩu ngữ là dạng lời nói thường, dùng trong cuộc sống hàng ngày, có phong cách đối lập với phong cách viết” (tr.196)
Tiếp nhận đối tượng ở khía cạnh tính chất của khẩu ngữ, chỉ ra sự khu biệt giữa ngôn ngữ cầu kì kiểu cách trong văn chương với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, các tác giả Quang Hùng và Minh Nguyệt nêu định
nghĩa khẩu ngữ như sau: “Khẩu ngữ là lời nói thường, bạch thoại (lời nòi thường không kiểu cách, xa hoa) khác với văn chương cầu kì kiểu cách”
(tr.574).
Hay Nguyễn Như Ý khi nói về khẩu ngữ thì lại cho rằng khẩu ngữ giống như ngôn ngữ nói và định nghĩa ngôn ngữ nói như sau:
“1.Ngôn ngữ nói chỉ tồn tại dưới dạng nói, không có chữ viết.
2.Biến thể phong cách của ngôn ngữ đặc trưng cho dạng nói, còn gọi là khẩu ngữ (Đó là một hệ thống kí hiệu có thể được thể hiện bằng âm thanh và có chức năng đáp lại một kích thích tố hữu quan (thường đòi hỏi
Trang 11phản ứng ngay lúc ấy) một cách năng động, tức là sự phản ứng phải hoàn chỉnh và nêu rõ mặt cảm xúc cũng như nội dung của các sự kiện hữu quan) (tr.170) Như vậy, tác giả cho rằng khẩu ngữ chỉ là một biến thể phong
cách của ngôn ngữ đặc trưng cho dạng nói Cho nên biến thể này có thể có rất nhiều Nó mang đặc điểm của người nói, của môi trường giao tiếp, năng lực ngôn ngữ của người giao tiếp Và nó chỉ tồn tại dưới dạng nói.
Khác với quan niệm trên, các tác giả trong các công trình, Phong cách học tiếng Việt; Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt; Phong cách học và đặc điểm tu từ trong tiếng Việt, Ngữ văn 10 (tập 1) sách nâng cao…cũng
đưa ra khái niệm về khẩu ngữ nhưng với tư cách là phong cách sinh hoạt
hàng ngày Có thể dẫn ra quan niệm của Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt như sau: “Phong cách sinh hoạt hàng ngày(SHHN) là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày” (tr.122).
Đồng thời tác giả cũng chỉ rõ vai của người tham gia giao tiếp trong sinh
hoạt hàng ngày có thể là “vai của người ông, người bà, vai của bố, mẹ, con, cháu, anh, em, bạn, đồng nghiệp, đồng hành…tất cả những ai với tư cách cá nhân trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người khác”
(tr.122)
Vậy theo tôi hiểu, khẩu ngữ là ngôn ngữ cửa miệng của người dân Khẩu ngữ là kiểu diễn đạt trong giao tiếp hàng ngày, mang tính chất tự nhiên, thoải mái và sinh động, giàu cảm xúc, ít chau chuốt khác với kiểu diễn đạt theo quy cách.
Trang 12CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT KHẨU NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
“KHÔNG CÓ VUA” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
Bảng khảo sát từ khẩu ngữ trong truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp (sai số 0,02 %)
STT Từ khẩu ngữ Từ toàn dân Số lần
Trang 16Bảng khảo sát khẩu ngữ là danh từ STT Từ khẩu ngữ là
Trang 18người như bò, khuy, chiếc voan, đầu đanh, anbum…
Từ Lão xuất hiện nhiều nhất, 64 lần xuất hiện chiếm 25.9072%.
Chẳng hạn:
- Bà bán xôi bảo: "Chẳng bao giờ tôi bán được một hào xôi cho lão già này"
- Khảm bảo: "Lão Cấn tham lắm, anh em mình rồi ra đường thôi
- Lão Kiền suốt ngày cau có
Như vậy, có thể thấy danh từ trong truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp xuất phát từ đời thường và gần gũi với đời sống của nhân dân Với việc sử dụng danh mang tính đời thường, Nguyễn Huy Thiệp
đã làm tăng số lượng từ vựng cho kho từ tiếng Việt và câu văn trơn tuột như lời nói hàng ngày Bên cạnh đó tác giả diễn tả thành công những trạng huống, những cung bậc tình cảm cũng như những ý đồ sáng tạo nghệ thuật.
2.2 Khẩu ngữ là động từ
Trang 19Trong giao tiếp hàng ngày, động từ là những từ biểu thị hoạt động hay trạng thái nhất định của sự vật trong quá trình Trong truyện ngắn
“không có vua” những suy tư, trăn trở, những cung bậc tinh thần đã được Nguyễn Huy Thiệp khắc họa rõ nét Với cuộc sống đời thường và đây là một tác phẩm hiện thực nghiêm túc chứ không phải kể đến việc tốt xấu theo cái nghĩa lý thông thường
Trang 20động rất gần gũi với người dân như xới, xơi, lèn, và, vái, lạy, ngó…Những động từ chỉ trạng thái như thót, gác lại, hãi, khinh…chẳng hạn:
- khiêm có vẻ khinh hải ông anh
- Ở trong nhà Sinh hãi nhất lão Kiền, sau đến Khiêm
- Khảm bảo: “Hôm qua em nghe anh Khiêm kể chuyện, thế là đến tối gặp phải giấc mơ kinh quá
Qua khảo sát tôi nhận thấy các động từ miêu tả hành động, trạng thái phần lớn được sử dụng là các động từ đơn âm Động từ xuất hiện nhiều nhất là
vái xuất hiện 15 lần, lạy xuất hiện 9 lần.
Có thể nói miêu tả cuộc sống thường ngày lại gắn với những trạng huống tâm lí của cá nhân nên những hoạt động từ mang tính chất đời thường xuất hiện như một hiện tượng bình thường Nguyễn Huy Thiệp viết truyện phóng khoáng, nhẹ nhàng, tạo ra rất nhiều cách hiểu khác nhau Một vấn đề cực kì gây cấn nhưng ông viết như chơi, thực như giỡn, giỡn như thực Vậy ta thấy Nguyễn Huy Thiệp đã khẳng định được vị thế của ngôn
từ dân tộc
2.3 Khẩu ngữ là tính từ
Trang 21Trong cuộc sống hàng ngày, tính từ là những từ diễn đạt những đặc điểm về chất lượng, về tính chất, về màu sắc, mùi vị, trạng thái…Trên cơ
sở này, tôi khảo sát truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp và
Trang 22Nguyễn Huy Thiệp miêu tả đối tượng về mặt định lượng và tính chất
một cách tự nhiên, giàu sức gợi như đen nhẻm, bụ, khốn nạn, teo tóp, dở…
Chẳng hạn:
- Tốn, con út bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng
- Cô My Lan bảo: "Anh Khảm hồi bé bụ ghê
Tính từ thể hiện cảm súc, thường dùng trong tình huống chửi rủa
như bỏ mẹ, cha mẹ mày, mẹ cha mày…Chẳng hạn:
- Cha chúng mày , chúng mày ám hại ông Chúng mày mong ông chết, nhưng trời có mắt, ông còn sống lâu.
- Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à.
Tính từ miêu tả về trạng thái thể hiện của con người như thu lu, ngô nghê…
Với việc dùng tính từ chân chính và tính từ lâm thời, Nguyễn Huy Thiệp
đã làm tăng khả năng biểu đạt hình ảnh trong truyện và giúp cho nhà văn diễn
tả những huống trạng tâm lí, tâm tư, tình cảm một cách dễ hiểu, chân thực và cụ thể Điều này đã làm cho truyện có tính hàm súc cao nhưng lại hết sức gần gũi với người dân Việc sử dụng những tính từ có nguồn gốc từ lời nói thường đã tạo cho Nguyễn Huy Thiệp có phong cách ngôn từ độc đáo
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ CỦA LỚP TỪ KHẨU NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN “KHÔNG CÓ VUA” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 3.1 Khẩu ngữ thể hiện con người đê tiện, thực dụng trong thế giới “ không có vua”
Với sự mẫn cảm đặc biệt của một nhà văn có thực tài, ông đã thoát ra ngoài những chuẩn mực đạo đức, luân lý thông thường để xác định diện mạo thật của cuộc sống Cuộc sống đâu chỉ có cái đẹp, cái cao cả như một thời văn
Chương của ta ca ngợi Cuộc sống còn là một cõi tục hoang sơ, trì đọng, một thế giới hỗn tạp xô bồ Có những con người bạc ác, đểu cáng Ở
Trang 23đó có những con người vụ lợi, dối trá, nhưng cũng có những con người đáng thương đến tột cùng.
Nguyễn Huy Thiệp dùng phần lớn dung lượng tác phẩm của mình
để viết về kiểu người đê tiện, thực dụng Đây là kiểu nhân vật bị thoái hóa
về nhân cách, bị vấy bẩn về tâm hồn, sống độc ác và tàn nhẫn Họ lấy đồng tiền, lấy quan hệ vật chất làm thước đo cho mọi giá trị Họ tham lam, ích
kỉ, thực dụng một cách tỉnh táo và vụ lợi một cách bỉ ổi Gia đình lão Kiền
trong “ Không có vua” là một thế giới thu nhỏ, một cõi nhân gian không
còn trật tự tôn ti Tất cả mọi thứ đã bị đảo lộn, cha con không ai nể ai Mọi chuẩn mực truyền thống của một gia đình Việt dường như bị triệt tiêu hoàn toàn khi lão Kiền – bố chồng của Sinh bắt ghế lén xem con dâu tắm, và lại
hoàn toàn thản nhiên trước mâu thuẫn của các con “ Chúng mày giết nhau
đi, ông càng mừng”, khi Đoài – em chồng chòng ghẹo, dở trò bì ổi, đòi ngủ
với chị dâu, ghen cả với bố Tác giả dùng khẩu ngữ làm cho chúng ta cảm thấy gần gũi, thân quen với cuộc sống hàng ngày Đọc tác phẩm chúng ta như đang được chứng kiến tận mắt cuộc sống lẫn lộn, mất tôn ti của một gia đình Chúng ta cảm thấy rờn rợn trước cái tình huống biểu quyết cho bố
chết của Đoài: “ Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé” Sự sa đọa
về phẩm chất đã đẩy con người đến chỗ đốn mạt, không còn tình nghĩa cha con Với việc dùng khẩu ngữ, cái xấu xa, đê tiện đã lên tới tột cùng Khẩu
ngữ trong truyện đã tác động đến chúng ta,“ Không có vua” như một tiếng
chuông báo hiệu cho sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức con người Con người có thể bất chất tất cả chỉ vì đồng tiền.
3.2 Khẩu ngữ làm tăng thêm vẻ đẹp tâm hồn nhân vật nữ và nhân vật
thiểu năng
Khẩu ngữ trong truyện ngắn giúp ta cảm thấy gần gũi, thân quen,
làm tăng sác thái biểu cảm, miêu tả Trong thế giới của truyện ngắn “ Không có vua” của gia đình lão Kiền, giữa lúc mọi giá trị bị lật nhào, mọi
tôn ti sụp đổ, người ta nhìn thấy ở Tốn – đứa trẻ thiểu năng một tâm hồn
Trang 24thánh thiện Chỉ có Tốn là đối xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến và cũng chỉ có nó là không chịu được bẩn, lúc nào cũng lau sàn hay là lau đi cái bạc
ác của thế gian KHẩu ngữ giúp ta hiểu sâu cái bản chất bên trong, sự vô tư,
trong sáng của bé Tốn Khi đọc truyện “ Không có vua” chắc ai cũng sẽ
ngán ngẩm cho cái bệ rạc, đen tối, thối nát của cả gia đình lão Kiền Nhưng
một phút nào đó , hãy lắng lòng lại để nghe Sinh nói: “ Khổ chứ Nhục lắm Vừa đau đớn vừa chua xót nhưng thương lắm” Ba chữ “ nhưng thương lắm” thổi vào mảnh đất cằn cỗi nhà lão Kiền làn gió mát rượi của
sự yêu thương Với việc dùng khẩu ngữ, ta căm thông với cuộc sống của sinh, căm mến tấm lòng cao cả của Sinh Khẩu ngữ trong tác phẩm giúp ta thấy Sinh thật gũi gũi, quen thuộc Với vẻ đạp tâm hồn cao thượng Sinh đã nhẫn nhục, chịu đựng cũng vì yêu chồng, thương cái gia đình này lắm Nghe đến đây, chúng ta như thấy bị cào xé tâm can Vì một gia đình đầy rẫy những đen tối, xấu xa lại có hai tâm hồn cao đẹp đến như vậy.
Có thể nói, những tấm lòng cao thượng, những nhân cách cao đẹp trong truyện ngắn “không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp mở ra niềm tin mãnh liệt rằng cuộc đời dẫu còn nhiều đắng cay ngang trái nhưng có thể cải tạo được Nhất định sẽ cải tạo được vì còn có những con người có tấm lòng yêu thương cao cả.
Với việc dùng khẩu ngữ của nhân dân, Nguyễn Huy Thiệp đang tỏa sáng trên văn đàn Việt Nam như một tên tuổi lớn, như một nhà văn có thực tài Điều đáng quý ở Nguyễn Huy Thiệp là lòng dũng cảm Dũng cảm nhìn vào sự thật để phô bày hiện thực đúng theo những gì mình thấy, những gì mình nghĩ.
Trang 25KẾT LUẬN
1 Nguyễn Huy Thiệp đã tiếp thu và vận dụng ngôn từ dân tộc trong truyện rất xuất sắc Những ngôn từ trong truyện ngắn “không có vua” đã thể hiện nội lực mạnh mẽ, đồng thời thể hiện cái nhìn của tác giả về một xã hội hỗn tạp, xô bồ Ở xã hội đó có kẻ đểu cáng, dâm dục, và những con người có tấm lòng cao đẹp.
2 Việc khai thác vốn ngôn từ dân gian đã cho thấy Nguyễn Huy Thiệp đã đóng góp lớn đối với việc khẳng định vị thế của ngôn từ dân tộc.
Trang 263 Nguyễn Huy Thiệp đã thành công trong việc vận dụng ngôn ngữ đời thường, tạo nên sức sống mới lạ của truyện và ngôn từ dân tộc chính thức được kế thừa, tiếp thu và vận dụng một cách độc đáo.
4 Việc nghiên cứu tìm hiểu từ khẩu ngữ trong truyện ngắn “không
có vua” của Nguyễn Huy Thiệp là minh chứng cho sức sống, tiếm năng mạnh mẽ của ngôn từ dân tộc.
Tóm lại, với những thành công lớn trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc vào trong văn chương và khẳng định vị thế ngôn từ dân tộc.
Nguyễn Huy Thiêp được mệnh danh là nhà văn của “ những cái trớ trêu”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa; phong cách học tiếng Việt; NXB Giáo Dục; (2009).
2 Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết;
Dẫn luận ngôn ngữ học; NXB Giáo Dục; (2010).
3 Đỗ Hữu Châu; Từ Vựng Ngữ Nghĩa Tiếng Việt; NXB Đại Học
Quốc Gia Hà Nội; (2009).
4 (http://ngonngu.net/index.php?p=206
Trang 275 Nguyễn Huy Thiệp; Không Có Vua; NXB Văn Hóa Thông Tin;
(2009).
6 Hoàng Phê; Từ Điển Tiếng Việt; Nhà Xuất Bản Đà Nẵng, Trung
Tâm Từ điển Học, Hà Nội - Đà Nẵng; ( 2000).
7 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Ngọc Phiến; Cơ Sở Ngôn Ngữ Học Và Tiếng Việt; NXB Giáo Dục; (1997).
8 Cù Đình Tú; Phong Cách Học Và Đặc Điểm Tu Từ Tiếng Việt, Ngữ Văn 10 (tập 1) sách nâng cao; NXB Giáo Dục; (2009).
9 Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (Đồng Chủ Biên);
Từ Điển Thuật Ngữ Văn Học; NXB Giáo Dục; (2007).
10 Nguyễn Như Ý; Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học;
64
Trang 288.Lão Kiền suốt ngày cau có
9.Mọi người không ai thích lão Lão kiếm ratiền, lão cãi nhau với mọi người như cơmbữa, lời lẽ độc địa
10.Như với Đoài, lão bảo: "Mày ấy à?
11 Với Cấn, lão có đỡ hơn, thỉnh thoảngcũng khen, nhưng lời khen lại quá lời chửi12.Riêng với Khiêm, lão ít gây sự
13.Vài tháng đầu, lão Kiền không gây sự gìvới con cái
14.Ba giờ sáng, lão Kiền dậy, cắm bếp điệnđun nước pha chè
15.lão Kiền bị điện giật
16 Lão Kiền chửi
17.Lão Kiền lẩm bẩm: “Chứ không à?
18 Lão Kiền bảo: "Mẹ cha mày, thế màynâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày cónghĩ không?"
19.Lão Kiền mở cửa hàng
20 Lão Kiền xua tay quầy quậy
21.Bà bán xôi bảo: "Chẳng bao giờ tôi bánđược một hào xôi cho lão già này"
22 Lão Kiền bảo: "Quân trí thức bây giờtoàn phường phàm phu tục tử"
23 Lão Kiền hỏi: "Bọn chúng mày bây giờthì vực đạo gì?"
24.Lão Kiền ngồi uống nước
Trang 29lúi húi làm việc
26 Giỗ bà Nhớn, lão Kiền làm năm mâm
27 Trên phố xuống có vợ chồng cô em gáilão Kiền, bà này bán hàng khô, chồng tên làHiển, làm thợ thiếc
28 Lão Kiền mặc quần bảo hộ lao động, áocộc tay trắng ba túi, đầu chải nước lã rấtmượt, ra trước bàn thờ chắp tay, lầm rầmkhấn
29.Cúng xong, lão Kiền quay ra bảo ông
Vỹ: "Cậu vào lạy chị cậu một cái”
30 Đoài bảo: “Cái lão Cấn của Sinh nhưcon cua bấy mà lại hách dịch"
31 Lão Kiền say rượu, nằm ngủ lơ mơtrên giường, nước dãi đọng trên chiếu
32 Lão Kiền tỉnh rượu, thấy nhà vắng tanh,hỏi: “Chúng mày đâu cả?"
33 Lão Kiền bảo: " Chúng mày cứ giếtnhau đi, tao càng mừng"
34 Thấm thoắt đến Tết Rằm tháng Chạp,lão Kiền đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm đượctám nghìn đồng
35 Lão Kiền mua cho Tốn cái áo sơ mi,mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cảcho Cấn
36 Lão Kiền bảo: "Đừng nghe nó"
37 Lão Kiền bảo: “Đừng nghe nó" 38.Ngày 27 , lão Kiền gói bánh chưng
39 Lão Cấn vừa ngu vừa hèn, lại yếu, bác sĩbảo bị lãnh tinh, lấy Sinh hai năm mà cócon cái gì đâu?"
40 Hai chín Tết, lão Kiền đi chợ mua vềmột cành hoa đào
41 Ông bà Hiển cho con rể đi xe máy
Trang 30xuống mời lão Kiền với Cấn lên phố chơi từchập tối, chắc uống rượu say chưa về được
42 Một giờ sáng lão Kiền với Cấn về
43 Đến tám giờ, lão Kiền bảo: "Tao đi chúcTết hàng xóm, vợ chồng thằng Cấn đi theotao
44 Lão Kiền và vợ chồng Cấn đi chúc Tết
45 Lão Kiền mặc quần bảo hộ lao động, áo
dạ len, đội mũ len trùm đầu
46 Tháng năm xảy ra việc lão Kiền ốm, đầutiên tưởng nhẹ, ai ngờ cứ nặng dần
47 Đầu tiên lão Kiền chỉ hoa mắt, nhìn mộthóa hai, cửa không đi cứ đâm sầm vàotường
48.Nằm một tuần, mắt lão Kiền mờ đi
49 Đoài về, xin cho lão Kiền chuyển viện 50.Lão Kiền điều trị Đông y, không khỏi,người rạc đi, đầu đau nhức
51 Hôm lão Kiền mổ não, trừ Sinh với Tốn,mấy anh em đều kéo nhau lên bệnh viện52.Lão Kiền im lặng, mắt đỏ hoe
53.Lão Kiền lau mắt, bảo: "Bây giờ thứ tự,người nào vào cúng thì cúng
54 Khảm bảo: "Lão Cấn tham lắm, anh emmình rồi ra đường thôi"
55 Hôm đưa lão Kiền về, lão Kiền đầuquấn băng, hỏi gì cũng không nói, mắt lờđờ
56 Đầu lão Kiền trọc lốc, nổi lện một khối
u to như quả trứng gà
57 Vợ chồng lão Cấn còn có tiền
58 lão Kiền mê sảng, cứ rên rỉ: “Cho tôichết đi, đau đớn lắm"
Trang 3160 Sau hôm giỗ lão Kiền một trăm ngày,Sinh đẻ con gái.
2 Lạy 1.Lạy Trời, lạy Phật, lạy tổ, lạy tiên, lạy vợ
tôi là Ngô Thị Nhớn Mời tất cả chư vị về
dự cơm nhạt với tôi
2 Cúng xong, lão Kiền quay ra bảo ông Vỹ:
"Cậu vào lạy chị cậu một cái”
3 Bà Hiển bày lên bàn thờ năm trăm vàng,một xếp tiền âm phủ, một bộ quần áo giấyrồi quỳ thụp xuống, chống tay, lạy ba lạy,đầu chạm sát đất
4 Đoài bảo: "Lạy mẹ, mẹ phù hộ cho con đihọc nước ngoài, kiếm cái xe Cub"
9
3 Chư vị 1 Lạy Trời, lạy Phật, lạy tổ, lạy tiên, lạy vợ
tôi là Ngô Thị Nhớn Mời tất cả chư vị về
dự cơm nhạt với tôi
2 Tất cả đều lòng thành, xin chư vị phù hộ
độ trì, cho sức khỏe dồi dào, làm ăn tấn tới”
2
4 Mày 1.Như với Đoài, lão bảo: "Mày ấy à?
2.Công chức gì mặt mày?
3.Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi”
4.Hay thật, cái nghề cạo râu ngoáy tai củamày, nhục thì nhục nhưng hái ra tiền
5.Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à?
6.Tao không hiểu thế nào người ta lại chomày làm việc ở Bộ giáo dục
7.Lão Kiền bảo: "Mẹ cha mày, thế màynâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày cónghĩ không?"
8.Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giátrị gấp mười lần cái bằng đại học của taovới mày”
9 Lão Kiền bảo: "Mày ngồi vá cho tao cáixăm để góc kia kìa, rồi tao cho tiền
10 Đoài hỏi: " Cô có cái nốt ruồi là người
19
Trang 32yêu mày đấy à?"
11 Thế hồi xưa sao mày bóp vú vợ tao?”
12 Tối nay mày đưa tao đến con ông ánhsáng ban ngày đấy nhé"
13 Mày chìm cả người trong bể cứt, có khimày trúng xổ số độc đắc cũng nên
14 Khiêm ơi, mày cho bố ít tiền để đi mừngtuổi"
15 Mày bảo một cây mua nổi nhà không?”
16 Tao khuyên mày cẩn thận
17 Tao với mày lở bệnh, tiền đâu màchữa?"
5 Tao 1.Tao không hiểu thế nào người ta lại cho
mày làm việc ở Bộ giáo dục2.Chúng mày thì tao không biết, nhưng từtao ngược lên, nhà này chưa có ai làm gìthất đức
3 Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giátrị gấp mười lần cái bằng đại học của taovới mày”
7.Đoài bảo: "Tao chim nó đấy
8 Lão Kiền bảo: " Chúng mày cứ giết nhau
đi, tao càng mừng"
9 Thế hồi xưa sao mày bóp vú vợ tao?”
10 Tối nay mày đưa tao đến con ông ánhsáng ban ngày đấy nhé"
11 Đoài hỏi: "Không tin tao à?
12 Khiêm bảo Tốn: "Tao treo bánh pháo
ở cửa, lúc nào tao khấn xong thì châm lửa
20
Trang 3313.Đến tám giờ, lão Kiền bảo: "Tao đi chúcTết hàng xóm, vợ chồng thằng Cấn đi theotao
14 Đoài bảo: "Sang năm tao cưới MỹTrinh, ông ánh sáng ban ngày hứa cho mộtcây
15.Tao khuyên mày cẩn thận
16 Tao với mày lở bệnh, tiền đâu màchữa?"
6 Lở Tao với mày lở bệnh, tiền đâu mà chữa?" 1
8 Mẹ cha mày 1.Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à
2.Lão Kiền bảo: "Mẹ cha mày, thế màynâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày cónghĩ không?"
2
9 Chúng mày Cha chúng mày, chúng mày ám hại ông
Chúng mày mong ông chết, nhưng trời cómắt, ông còn sống lâu"
Chúng mày thì tao không biết, nhưng từ taongược lên, nhà này chưa có ai làm gì thấtđức
Lão Kiền hỏi: "Bọn chúng mày bây giờ thìvực đạo gì?"
4 Lão Kiền tỉnh rượu, thấy nhà vắng tanh,hỏi: “Chúng mày đâu cả?"
5 Lão Kiền bảo: " Chúng mày cứ giếtnhau đi, tao càng mừng"
6.Bà Hiển bảo: "Chúng mày xem thế nàochứ
7
10 Cha chúng mày Cha chúng mày, chúng mày ám hại ông
Chúng mày mong ông chết, nhưng trời cómắt, ông còn sống lâu
1
11 Người ta 1 Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi 3
Trang 342 Một năm nó ăn cắp đến nửa tấn thịt màngười ta để yên cho nó!
3.Tao không hiểu thế nào người ta lại chomày làm việc ở Bộ giáo dục
12 Cơm toi 1.Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi
2.Thế là toi trăm bạc
2
13 Ngó 1.Một bà cắp thúng xôi đi qua ngó vào:
"Mời bác xơi quà sáng”
2 Khiêm không trả lời, đi lên nhà, ngó vàobuồng Sinh thấy Cấn đang ngáy khò khò
3 Đoài ngó vào, vẫy tay gọi Khảm
3
14 ấy 1 Như với Đoài, lão bảo: "Mày ấy à?
2.Cái thằng ấy tôi đã thấy trước tương laicủa nó
3.Chú làm anh như người ngoài ấy"
4.Sinh bảo chồng: "Anh nhận tiền chú ấykhinh cho
5.Đoài bảo: "ấy là tôi nói chú khéo xử sựvới người, mà nhanh xử sự với lợn
6 Đoài bảo: " Em giai ơi, thằng ấy là phúcthiện tinh của nhà mình đấy
7.Tôi đang ngờ cái ông ngày xưa nói racâu ấy chẳng hiểu quái gì về đạo
8 My Lan hỏi: "Có phải hồi ấy anh ăn trộmkhoai, bị dân quân bắt không"
9 Khảm cười: "Đấy là Mỹ Trinh, bố cô ấy
là ông ánh sáng ban ngày, chủ hiệu điện
10 Lên nhà trên mà bảo hai cô bạn của chúKhảm ấy"
11 Đoài bảo: “Hai con ôn vật ấy bằng thếnào được Sinh"
12 Lúc ấy cũng hơn hai giờ chiều
13 Ông ấy khó tính bỏ mẹ
21
Trang 35Tácdăng"
15 Không biết chú ấy đâu?"
16 Cấn giơ nắm đấm trước mặt bố, bảorằng: "Ông liệu tống thằng ấy ra khỏi nhànày, không tôi giết nó
17 Mưa bão đến, bể cứt trôi phăng phăng,
em ngập trong ấy, cứt vào cả mồm, cả lỗtai"
18 Cô có người bạn, bà ấy có bài kinh Vôthường, bây giờ xin chép về đọc, may raông ấy sẽ đi yên ổn"
19 Lúc giao thừa, ở nhà khi ấy chỉ cóKhiêm, Tốn với Sinh
20 Lúc ấy là chập tối
15 Tácdăng Cô Mỹ Trinh bảo: “Anh ấy trông như
Tácdăng"
1
16 Quái Tôi đang ngờ cái ông ngày xưa nói ra câu ấy
chẳng hiểu quái gì về đạo
1
17 À 1 Như với Đoài, lão bảo: "Mày ấy à?
2.Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à
3 Lão Kiền lẩm bẩm: “Chứ không à?
4 " Khảm hỏi: “ăn rồi à?"
5 Đoài hỏi: " Cô có cái nốt ruồi là ngườiyêu mày đấy à?"
6 "Nói năng thế à?
7.Sinh hỏi: "Lại lòng à?
8 Đoài hỏi: "Không tin tao à?
9 Để thế này à?”
10 Cấn hỏi: "Thế ngày thường thì thấy khổà?"
10
20 Sao 1.Cấn chẳng biết trả lời ra sao, phải nhận
tiền
2.Sinh lùi lại, hốt hoảng: Chết, chú Đoài,
7
Trang 36sao lại thế
3 Cấn hỏi: "Chú Khiêm sao im thế?"
4 mấy cái bát này sao chưa rửa?”
5 Sinh chạy lên hốt hoảng nói: " Sao lạithế" Khiêm gạt Sinh ra
6 Thế hồi xưa sao mày bóp vú vợ tao?”
7 Anh Minh nghe thấy bảo: “Đi hay khôngsao lại phụ thuộc vào tôi?
21 Khinh 1.Khiêm có vẻ khinh hải ông anh
2.Sinh bảo chồng: "Anh nhận tiền chú ấykhinh cho
3.Cấn bảo: Tôi là anh cả, nó khinh tôi thếnào được"
3
22 khốn nạn Sinh bảo: "Tại cái bếp nhà mình khốn nạn
quá”
1
25 thôi 1.Trước sau cũng vào tù thôi
2.Không phải người ngoài, anh không nhậnthì thôi, tôi đi hàng khác, tôi bắt thằng khácngoáy tai cho tôi
3 Đợi Khảm đi khuất, Đoài bảo: "Thiếumột tý tình thôi, Sinh cho tôi xin một tý tình
4 Khảm bảo: "Ta ăn thôi
5 " Đoài bảo: "Chỉ có con đường lấy vợgiàu thôi
6 Khảm bảo: "Được thôi
7 Khảm bảo: "Lão Cấn tham lắm, anh emmình rồi ra đường thôi"
7
26 Ta 1.Khảm bảo: "Ta ăn thôi
2 Nhà kia có cô con dâu, bố chồng bóp vú
cô ta
2
27 Làm bộ Khiêm bảo: "Anh đừng làm bộ với tôi 1
28 Đây 1.Đoài bảo: "Có chút đạm này là đủ hai
nghìn calo để làm việc cả ngày đây Cũng lànhờ chú Khiêm nhà mình vừa khéo vừa
7
Trang 37nhanh2."Thôi thôi, anh Đoài ơi anh thương emvới, hôm nay em phải thi vấn đáp môn triếthọc đây"
3.Đoài bảo: "Đây chẳng sợ"
4 Anh đến gần đây là tôi giết đấy!
5.Đây là lộc của chú Khiêm"
6 Bác sĩ bảo: "Đây này, dây thần kinh thếnày, hai dây chập vào nhau, thế là trông mộtthành hai, trông gà hóa cuốc”
7 Chú về đưa ông cụ đến đây”
30 Họ Đoài cười: "Họ xét lý lịch, họ thấy nhà
mình truyền thống, ba đời trong sạch nhưgương"
2
31 Ơi 1."Thôi thôi, anh Đoài ơi anh thương em
với, hôm nay em phải thi vấn đáp môn triếthọc đây"
2.Đoài bảo: " Em giai ơi, thằng ấy là phúcthiện tinh của nhà mình đấy
3.Giời ơi, nhà làm ăn, mới sáng ra đàn bàcon gái đã ám thế này thì làm ăn gì”
4.Tình ơi tình, mình ơi mình, tình hở hanglắm cho mình ngẩn ngơ"
5 Khảm bảo: "Anh Cấn ơi, anh cho em nămchục"
6.Khiêm ơi, mày cho bố ít tiền để đi mừngtuổi"
7.Bà Hiển trên phố xuống, thấy anh mìnhvật vã đau đớn, khóc: "Anh ơi, tiền oannghiệp chướng gì mà anh chết khổ, chết sởthế này
8.Khiêm bảo: "Chị Sinh ơi về làm dâu họ Sĩnhà này chị có khổ không?"
9
Trang 382 Đấy là bốn rưỡi sáng, Sinh dậy nấu cơm3.Sinh dậy nấu cơm, lấy sáu bò rưỡi gạo
4 Hồi học đại học, có thằng bạn ăn sáu bát
cơm trong một phút rưỡi
5 Khảm mở cửa buồng, trông trước trôngsau không thấy ai, mở thùng gạo xúc ra bòrưỡi vào cặp rồi lẻn đi ra
6.Gói một yến rưỡi nếp, được hăm támchiếc bánh
33 Hăm tám Gói một yến rưỡi nếp, được hăm tám chiếc
bánh
1
34 đống Khi về, cô Sinh mang theo bốn bộ quần áo
mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏchăn hoa, bốn cái xoong nhôm một cáixoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, mộtcái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại làmột đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làmnghề buôn gạo ở chợ Xanh
1
35 Thế 1.(thế mới biết nhà văn ở ta xông xáo!)
2.Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à3 Lão Kiền bảo: "Mẹ cha mày, thế màynâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày cónghĩ không?"
4 Khảm xới cơm, Sinh bảo: "Cơm nóng,chú lèn thế thì ai ăn được?”
5 Khảm bảo: "ăn nhanh thế, em mới đượchai và"