Trường ca Thanh Thảo đã trở thành một phần không thể thiếu được trong nền thơ Việt Nam hiện đại, việc tìm hiểu thi pháp trường ca của Thanh Thảo là một phương thức tiếp cận và định vị ch
Trang 1Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Thành Hưng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
Xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã dành sự ủng hộ, chia sẻ, giúp đỡ qúy báu để tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 6 năm 2011
Tác giả
Đỗ Thị Minh Thúy
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu 9
6 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Thể loại trường ca và trường ca Thanh Thảo
trong thơ Việt Nam hiện đại
10
1.1.1 Những quan niệm về trường ca trờn thế giới 10 1.1.2 Những quan niệm về trường ca ở Việt Nam 12 1.1.3 Cỏc khỏi niệm Trường ca, Thơ và Truyện thơ 15 1.2 Trường ca Thanh Thảo trong tiến trình thơ Việt Nam
đương đại
19
1.2.1 Thơ Thanh Thảo thời chống Mỹ 19 1.2.2 Trường ca Thanh Thảo những năm sau chiến tranh 20 1.2.3 Trường ca Thanh Thảo những năm trước thời đổi mới 23 1.2.4 Trường ca Thanh Thảo đương đại 25
1.3 Những căn nguyờn của thành tựu trường ca Thanh Thảo 26
Trang 41.3.1 Những yếu tố cơ bản cấu thành năng lực, phẩm chất
nhà văn
26
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật và những tỡm tũi, cỏch tõn về thi
phỏp là căn nguyờn thành tựu
28
1.4 Quan niệm của Thanh Thảo về trường ca 29 1.5 Thành tựu trường ca Thanh Thảo 30 Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ
2.1.2 Cơ sở lịch sử xã hội và văn hóa của quan niệm nghệ
thuật về con người
Thanh Thảo
66
Trang 53.1 Cấu trúc trường ca Thanh Thảo 66
3.1.1.1 Cấu trúc kiểu phim tài liệu nghệ thuật 67 3.1.1.2 Cấu trúc kiểu kịch 69
3.3.1 Mặt đất cỏ xanh và bầu trời lửa đỏ 91
Trang 6Phần Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thanh Thảo là một trong những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc, một cây bút luôn biết tự làm mới mình bằng
những sáng tạo và cách tân độc đáo Dấu ấn mạnh mẽ mà Thanh Thảo gieo
vào lòng người đọc là một bản lĩnh táo bạo, dám dấn thân tiên phong trên con
đường đổi mới cách nhìn và phương thức biểu hiện Đó không phải là những
“dấu chân trên trảng cỏ” thời gian hiền lành, mà là những dấu chân mở lối
giữa chông gai nhiều khi rớm máu Và chính những giọt máu rỏ xuống trên
con đường tìm kiếm đã để lại những đóa hoa sáng tạo rực rỡ sắc màu mà
những đóa hoa đẹp nhất chính là các trường ca của ông
Thanh Thảo bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ với tâm nguyện được “trả
nghĩa đời mình bằng máu” Tâm nguyện ấy cùng với không khí hào hùng của
những ngày “cả nước ra trận ” đã tạo nên âm hưởng chính trong các sáng tác
của ông
1.2 Trưởng thành từ trong phong trào thơ trẻ những năm cuối của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, tiếng thơ Thanh Thảo nổi bật là tiếng nói riêng,
trung thực của một thế hệ cầm súng tự giác trước vận mệnh dân tộc và lịch sử
Sau 1975, Thanh Thảo dành nhiều tâm huyết cho việc đổi mới thơ, làm mới
hình thức biểu đạt của thơ, cách tân cấu trúc thơ Những tác phẩm thành công
của ông có sự gia tăng chất nghĩ, cảm hứng phân tích - triết luận trên một cấu
trúc thơ linh động mà lại kết dính bởi mạch liên tưởng phóng túng, tự do
Với chín trường ca và năm bài thơ dài mang dáng dấp trường ca thì Thanh
Thảo có đến 14 “trường ca” Chỉ xét riêng trường ca đã thấy rõ những cách tân
và những sáng tạo độc đáo của tác giả trong quá trình vận động của thể loại
này
Trang 7Nhiều bài thơ Thanh Thảo đi vào văn tuyển, có bài được trích giảng trong chương trình văn học phổ thông trung học, nhiều trường ca Thanh Thảo được tái bản liên tục Trường ca Thanh Thảo đã trở thành một phần không thể thiếu
được trong nền thơ Việt Nam hiện đại, việc tìm hiểu thi pháp trường ca của Thanh Thảo là một phương thức tiếp cận và định vị chỗ đứng của nhà thơ cũng như những đóng góp nghệ thuật của nhà thơ trên con đường cách tân, đổi mới thơ Việt Nam đương đại
Xuất phát từ quan niệm đó, chúng tôi chọn vấn đề “Thi pháp trường ca Thanh Thảo” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Cho đến nay, đã có rất nhiều ý kiến, chuyên luận, luận văn, luận án bàn về thơ và trường ca Thanh Thảo:
Trong bài Thanh Thảo - thơ và trường ca (1980), Thiếu Mai chủ yếu đánh giá
về phong cách : “Thơ Thanh Thảo có những dáng riêng Đọc anh, dù chỉ một lần, thấy ngay dáng ấy ”, tác giả cũng là người đầu tiên nói về độ mờ nhòe trong nghĩa thơ Thanh Thảo
Một trong những người quan tõm nhiều đến thơ Thanh Thảo là Mai Bỏ ấn,
ụng cú rất nhiều viết về thơ Thanh Thảo Tiờu biểu như: Quan niệm của
Thanh Thảo về thơ; Thanh Thảo – ụng hoàng của trường ca; Thanh Thảo và những trăn trở về con người, Người lính trong trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo; Cỏ xanh và lửa đỏ - một đối lập lôgic của thơ Thanh Thảo và mới đây (2008) là Luận án Tiến sĩ Văn học Đặc trưng trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo Trong những bài viết
và công trình nghiên cứu này, Mai Bá ấn mới dừng lại ở việc chỉ ra những nét
đặc trưng trong thơ và trường ca Thanh Thảo
Giống như Mai Bá ấn, Lại Nguyên Ân cũng chú ý đến hình ảnh người lính
trong thơ Thanh Thảo (Dấu chân những người lính trẻ và thơ Thanh Thảo,
http: //lainguyenan.free.fr/Vanhoc/Dauchan.html ), còn Chu Văn Sơn lại khai thác thơ Thanh Thảo ở một phương diện khác: đó là bản lĩnh nhà thơ và những
Trang 8nỗ lực tìm tòi nghệ thuật (Thanh Thảo nghĩa khí và cách tân,
Trong Thanh Thảo - nhà thơ của những cách tân đầy sáng tạo, Đỗ Quang
Vinh mới chú ý đến yếu tố cách tân và sự sáng tạo trong thơ Thanh Thảo Vũ
Văn Sĩ trong Thơ 1975 - 1995, sự biến đổi thể loại (1995) cho rằng: Thanh
Thảo là người đi đầu trong sự “phân hóa cấu trúc thể loại trường ca” nhằm trữ
tình hóa yếu tố tự sự Trần Mạnh Hảo với Có một thời đại mới trong thơ ca
(1996) nhận xét: “Lần đầu xuất hiện trên thi đàn Lập tức thơ ông trở thành một hiện tượng vào năm 1974 và nối dài qua những ngày giải phóng với
trường ca Những người đi tới biển” Trần Đình Sử trong bài Văn học Việt
Nam trong những thập kỉ chuyển mình cho rằng: Thanh Thảo có “ý thức nhìn
nhận con người ở nhiều hướng, nhiều chiều đang được nhiều nhà văn chia sẻ
Trong Văn chương và cảm luận (1998), Nguyễn Trọng Tạo nhấn mạnh tính bí
ẩn, độ mờ nhòe về nghĩa trong thơ Thanh Thảo “thơ anh không sờ mó được
Nó là một tia chớp từ trời cao làm hiện lên lung linh tất cả sự vật xung quanh
ta vốn chìm trong bóng tối bí mật, rồi vụt tắt sau khoảnh khắc”
Bùi Công Hùng trong Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại, (2000) tập trung
nhận xét “tính giao hưởng, tính phức điệu” của thơ Thanh Thảo Còn trong
Thanh Thảo còn những bài thơ lẻ, (2007) Nguyễn Việt Chiến ghi nhận và
khẳng định sự thành công của ThanhThảo ở cả thơ trước và sau chiến tranh
Từ những kết quả nghiên cứu trên, chúng ta thấy các bài viết chủ yếu nghiên cứu về đặc điểm trường ca nói chung, trong đó có đề cập đến Thanh Thảo Còn những bài viết riêng về Thanh Thảo thì đề cập đến cả thơ và trường ca Nếu có riêng cho trường ca thì cũng chỉ đề cập đến một mảng nào đó của một vài trường ca, hoặc một trường ca mang tính chất giới thiệu chung Vấn đề cấu trúc thể loại, cách tân nghệ thuật đã được đề cập đến song chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến thi pháp trường ca Thanh Thảo một cách hệ thống
Trang 92.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở thành tựu của những người đi trước, luận văn cố gắng đưa ra một khái niệm về trường ca và những nét độc đáo trong thi pháp trường ca Thanh Thảo trong mối tương quan với trường ca Việt Nam nhằm tìm ra phong cách nghệ thuật riêng của tác giả và những đóng góp của ông trong quá trình hiện
đại hóa thơ ca dân tộc Đồng thời luận văn cũng cố gắng chỉ ra những đặc trưng cơ bản trong thi pháp trường ca Thanh Thảo
- Khảo sát trường ca Thanh Thảo, cắt nghĩa những thành công của ông Cụ thể
là chỉ ra được:
+ Quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới trong thơ Thanh Thảo + Những yếu tố thi pháp đặc thù trong trường ca Thanh Thảo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ trường ca và một số bài thơ dài mang dáng dấp trường ca của Thanh Thảo Liên hệ với các trường ca hiện đại của các tác giả khác để có cái nhìn
đối sánh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Những yếu tố thi pháp đặc thù trong trường ca Thanh Thảo Từ góc nhìn quan niệm nghệ thuật về con người và xem xét trên các bình diện cấu trúc, ngôn ngữ, biểu tượng trong các tác phẩm của ông
Trang 106 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Thể loại trường ca và trường ca Thanh Thảo trong thơ Việt Nam hiện đại
Chương II: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Thanh Thảo Chương III: Những yếu tố thi pháp đặc thù trong trường ca Thanh Thảo
Trang 11Phần Nội dung
CHƯƠNG 1: THỂ LOẠI TRƯỜNG ca VÀ trường ca
thanh thảo TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1 Trường ca
1.1.1 Những quan niệm về trường ca trên thế giới
Trường ca là một thể lọai xuất hiện sớm trong văn học thế giới Trong lịch sử phát triển, trường ca đã ghi lại được những giai đoạn hào hùng, những chiến công vang dội của các dân tộc Bất kì một đất nước nào cũng mong có
được những bản tráng ca muôn đời
Với tư cách là một thể loại văn học mang đậm chất sử thi, gắn liền với tinh thần dân tộc, trường ca có một ý nghĩa rất đặc biệt Từ thể loại này chúng ta sẽ thấy được sự vận động của ý thức cộng đồng, của lịch sử và sự vận động của trường ca trong tiến trình văn học dân tộc Trên thế giới hiện nay tồn tại khá nhiều quan niệm về trường ca
* Hêghen quan niệm: Thơ ca là lĩnh vực cao nhất của nghệ thuật lãng mạn Trong thế giới thơ ca ấy thì sử thi lại mang tính khởi nguyên, mở đầu Tuy nhiên Hêghen chỉ chấp nhận trường ca với tư cách là “thánh kinh của một dân tộc” đối với những trường ca xuất hiện về sau, đó là những trường ca chính thức - trường ca chân chính Hêghen cho rằng, tuy gắn với biểu hiện cộng đồng dân tộc, song “sử thi tức trường ca, theo cách gọi của chúng ta hiện tại vẫn không kém mang tính chất cá nhân sinh động và cụ thể” và “không có một loại thơ nào mà trong đó chi tiết lại chiếm một địa vị to lớn như trong trường ca sử thi”
* Quá trình hình thành lý thuyết thể loại trường ca ở Nga cũng khá
phức tạp Trong cuốn Lịch sử văn học Nga (do nhóm tác giả Việt Nam biên soạn) gọi Rútxlan và Liútmila là trường ca và nhấn mạnh đây là một ‘‘bản
Trang 12trường ca kiểu mới, lãng mạn chủ nghĩa” đồng thời gọi tác phẩm Người tù
Cápcaz là “loại trường ca lãng mạn cách mạng” Còn ở Puskin thì có sự đồng
nhất giữa truyện thơ và trường ca Đến Lécmontốp, Maiacôpxki và từ những năm 50 - 60 của thế kỉ XX, thì tất cả các tác phẩm trần thuật bằng thơ đều
được gọi là trường ca Nhưng A.N.Sôkôlôp cho rằng: thể loại trường ca được hiểu với hàm nghĩa rộng và ông phản đối việc sử dụng rộng rãi tên gọi trường
ca cho bất kì một tác phẩm trần thuật bằng thơ nào Bởi theo ông, Trường ca là một tác phẩm ca ngợi vì vậy nó mang tính chất anh hùng Cho dù mỗi tác phẩm đó mang một thể loại đặc biệt (biến thể) của trường ca, nhưng vẫn mang
đặc trưng chung là nhân tố anh hùng, dù nhân tố này xuất hiện ở mỗi tác phẩm một cách khác nhau
Viện sĩ Gulaiep quan niệm trường ca xác định hơn: “Trường ca là những tác phẩm gồm nhiều phần mang đặc tính sử thi và trữ tình - trường ca, đó là một
kế tục trực tiếp của sử thi cổ điển và anh hùng ca” [30, tr.233]
Quan niệm về truờng ca hiện đại ở Nga có rất nhiều ý kiến khác nhau Một số quan điểm chỉ chấp nhận những trường ca trữ tình và cho rằng loại trường ca
kể theo cốt truyện đã lỗi thời Tuy nhiên nhiều ý kiến lại cho rằng, trường ca hiện đại không thể chỉ giới hạn ở hình thức độc thoại trữ tình mà vẫn cần phải
sử dụng cốt truyện
* Từ giữa thế kỉ XI đến cuối thế kỉ XII được xem là giai đoạn mở đầu của lịch sử văn học Pháp Đây là giai đoạn ra đời của những trường ca anh
hùng cổ nhất như Bài ca Rôland, Bài ca Guilaure, Những bài thơ dài viết
bằng ngôn ngữ thông tục được gọi chung là “bài ca anh hùng” Giai đoạn này người ta đồng nhất giữa các khái niệm sử thi anh hùng, trường ca anh hùng và bài ca anh hùng
Đến thế kỉ XVIII, Vônte, tác giả tiêu biểu của thơ ca Pháp thời đại ánh sáng
đã sáng tác Anh hùng ca La Henriade (1728) và trường ca Nàng trinh nữ xứ
Orléan (1755) Tuy nhiên bản anh hùng ca La Henriade lại mang dáng dấp
khác với kiểu anh hùng ca thời cổ còn trường ca Nàng trinh nữ xứ Orléan lại
Trang 13được xem như một tác phẩm sử thi anh hùng hài hước Rõ ràng ở đây vẫn có
sự đồng nhất ranh giới giữa sử thi và trường ca Nghĩa là, chúng vẫn chỉ là một dạng cụ thể của sử thi anh hùng và trường ca anh hùng
Đến thế kỉ XIX, Lamactin không gọi là trường ca mà chỉ gọi là “một tác phẩm thơ đồ sộ” Đến nửa sau thế kỉ XIX, Victo Huygô đã sáng tác nhiều tác phẩm
thơ đồ sộ như: Truyền kì các thời đại, Nghệ thuật làm ông, .nhưng vẫn
không thấy gọi là sử thi hay trường ca
1.1.2 Những quan niệm về trường ca ở Việt Nam
Đến nay, khỏi niệm và thuật ngữ trường ca vẫn chưa được hiểu thống nhất Cú người dựng khỏi niệm trường ca để chỉ cỏc tỏc phẩm sử thi, anh hựng ca Cú người coi những tỏc phẩm được viết bằng thơ, dung lượng lớn, thường cú cốt truyện, hoặc sườn truyện trữ tỡnh và chỳng cú thể được
ca ngõm hoặc kể theo lối ngõm là trường ca Số khỏc quan niệm, trường ca
cú 4 đặc điểm cơ bản sau: được viết bằng thơ; nội dung lớn, chia thành nhiều phần; chất trữ tỡnh lấn ỏt chất tự sự; cảm hứng ngợi ca trở thành điểm tựa chủ đạo và nhất thiết phải cú nhạc điệu
ở Việt Nam, trường ca với tư cách là một thể loại văn học chuyên nghiệp, văn bác học chỉ thực sự phát triển trong nền văn học hiện đại Tuy nhiên nó đã có tiền đề từ xa xưa, từ những thể loại như khan, mo, sử thi Tây Nguyên, diễn ca lịch sử, cho đến các truyện thơ Nôm khuyết danh hoặc có tác giả, những bài thơ dài Trong nền văn học hiện đại, cách nhìn nhận về thể loại trường ca cũng rất khác nhau Có người cho rằng nó không tồn tại, nghĩa là không xứng đáng trở thành một thể loại tồn tại độc lập Tuy nhiên, trên thực tế thể loại trường ca vẫn luôn tồn tại, dù sôi nổi như thời chống Mỹ hay bình lặng như giai đoạn sau này, dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về nó
* Trong Mấy suy nghĩ về thể trường ca, Lại Nguyên Ân cho rằng:
Trường ca có khả năng phản ánh rộng lớn, nó là nơi gặp gỡ, dung hợp của các phương thức tự sự và trữ tình Có thể tìm thấy ở trường ca các yếu tố của
Trang 14truyện, thơ, kịch, kí và tuy thơ không làm nhiệm vụ của tiểu thuyết hay kí sự
nhưng nó vẫn không ngừng tăng cường bề rộng phản ánh Thực tế đời sống
phong phú và đa dạng cần được phản ánh một cách quy mô không chỉ bằng
kịch hay tiểu thuyết mà còn bằng các tập trường ca
Trang 15* Trên Tạ chí văn học số 6 (1982), Vũ Đức Phúc cho rằng ‘ Trường
Trang 16Như vậy có hai c ch hiểu về trường c ,theo q an niệm rộng (gọi chun c sử
thế sự
1.1.3 Các khái niệm Trường ca, Thơ và Truyện thơ
Trong sự hiện hữu của các thể thơ, trường ca, thơ dài và truyện thơ, các
đặc điểm cần phân biệt: Đều là những tác phẩm dài hơi, truyện thơ có nhân vật, cốt truyện, tác giả thường khuất lấp đằng sau; Thơ dài thì chủ yếu bày tỏ những suy cảm của tác giả - cái tôi trữ tình bộc lộ trực tiếp Hai thể tài này có
đường biên khá rõ, dễ phân biệt Nhưng giữa thơ dài và trường ca (đặc biệt là trường ca hiện đại) đều lấy cái mạch trữ tình làm cái sườn chính để phát triển Nếu lấy cái chỗ đứng cá nhân, sự phát ngôn của tác giả làm tiêu chí phân biệt thì đôi khi không rõ ràng, dễ nhầm lẫn, vì chúng đều liên kết với nhau xung quanh chủ đề bằng những suy cảm trữ tình, tâm lý, triết lý của tác giả dẫu có nhiều chương đoạn phân khúc chăng nữa ở đây, chỗ dựa duy nhất để bám vào mà phân biệt đó là một tư duy hướng về tinh thần cao cả với cảm hứng sử thi, ca ngợi những gì mang tính lý tưởng cao đẹp, với tính cách vĩ đại của nhân dân, dân tộc Nói cách khác, cái tôi trữ tình trực cảm đều có trong thơ dài và trường ca trữ tình, nhưng khác về chất, cái tôi trữ tình trong trường ca chính là chủ thể trữ tình mang sắc thái cộng đồng, thể hiện tính lý tưởng cao đẹp của cộng đồng, sắc thái cá nhân không lộ rõ như trong thơ
Với cách hiểu: “Trường ca là tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử
Trang 17thi thời cổ và thời trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả ” [13, tr.319-320], thì nhiều tác phẩm thực chất là truyện thơ hoặc thơ dài, thậm chí là diễn ca vẫn
được gọi là trường ca Thể loại trường ca mà chúng ta nghiên cứu ở đây chính
là những tác phẩm thơ theo hướng tự sự được trữ tình hóa bằng một cấu trúc nghệ thuật phức hợp và hoành tráng cả về phương diện nội dung và hình thức Tuy nhiên trên thực tế sáng tác, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra sự khác biệt của chúng, từ đó nảy sinh nhiều cuộc tranh luận bàn bạc về thể loại văn học
đặc biệt này, mà đến nay vẫn chưa có một công trình nào đưa đến một kết quả hoàn chỉnh Vì vậy sự phân biệt của chúng tôi ở đây cũng chỉ mang tính chất tương đối
Có những thể thơ không thể tự nó độc lập làm phương tiện phản ánh trong một bài thơ vì dễ gây nhàm chán, nhưng lại có thể đứng rất vững vàng cả một đoạn dài trong một trường ca, vì trước và sau nó được sự bảo bọc, “trợ giúp” của rất nhiều thể thơ khác Như vậy, trường ca chính là sự mở rộng dung lượng và cấu trúc của thơ trữ tình bởi: có rất nhiều bài thơ lẻ nằm trong trường ca và có thể tách một đoạn thơ trong trường ca ra khỏi chỉnh thể mà nó vẫn tồn tại như
một bài thơ độc lập (Ví dụ: khúc một trong chương một: Chiếc áo ngắn trong trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo: chương Đất nước trong
Trang 18trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm; đoạn thơ có nhan đề
Vĩnh biệt trong trường ca Mặt trời trong lòng đất của Trần Mạnh Hảo )
Như vậy, có thể nói, trường ca và thơ trữ tình giống nhau ở chỗ: đều là thơ, điểm khác nhau cơ bản là trường ca đã thực hiện tốt chức năng ‘‘tự sự
được trữ tình hóa” những “nội dung lớn” mang tính sử thi của thời đại mà thơ trữ tình không thực hiện được Cho nên trường ca là hệ quả của sự mở rộng quy mô trữ tình của thơ trữ tình Chính vì lẽ đó mà trường ca hiện đại có sức sống lâu bền, cho dù nó vẫn tự sự về những “nội dung lớn” mang tính sử thi thời hiện đại
* Phân biệt trường ca với thơ dài
Thơ dài thực chất là thơ trữ tình nhưng mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực bằng cách tăng cường yếu tố tự sự, vì thế trong một thời gian dài chúng ta đã
đánh đồng thơ dài và trường ca
ở đây, chúng ta có thể phân biệt, thơ dài là thơ trữ tình nới rộng trường độ Nghĩa là thơ dài cũng là thơ, nhưng để phản ánh nội dung rộng lớn, nhà thơ phải nới dài độ rộng lớn của hình thức thơ để chuyển tải được hết nội dung rộng lớn đó Tuy nhiên, dung lượng của một bài thơ dài cũng có giới hạn nhất
định vì trong thơ dài hình bóng “nhân vật” không lấn át được cái tôi của thơ trữ tình
Như vậy, chúng ta có thể phân biệt trường ca và thơ dài như sau: Nếu thơ dài là sự mở rộng dung lượng của thơ trữ tình ở mức độ vẫn còn được gọi
là thơ thì trường ca cũng là sự mở rộng dung lượng của thơ trữ tình nhưng
“lượng” mở rộng này đã tích lũy đủ để biến thành một “chất” mới: thể loại trường ca Nó hoàn toàn không phải thơ trữ tình mà có khả năng nhận thơ trữ tình như một thành tố trong chỉnh thể tác phẩm trường ca
* Phân biệt trường ca với truyện thơ
Trang 19Nhìn lại tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam, ta thấy truyện thơ Nôm là thể loại phát triển đến đỉnh cao và làm nên diện mạo văn học trung đại Người Việt vốn là cư dân nông nghiệp lúa nước, thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình cho nên rất mạnh về tư duy tổng hợp và yếu trong tư duy phân tích, có thiên hướng duy cảm hơn duy lý, trọng tình hơn trọng lý Vì lẽ đó, người Việt trọng thơ hơn văn, xem thơ là loại hình nghệ thuật siêu phàm nhất trong mọi loại hình văn học nghệ thuật Chữ viết của người Việt cổ sớm bị hủy diệt bởi âm mưu đồng hóa của ngoại xâm, các loại chữ Hán, chữ Nôm sau này lại quá khó học, khó phổ cập, nên số lượng người biết chữ trong xã hội Việt Nam giai đoạn trước cách mạng tháng Tám - 1945 tương đối thấp Vì vậy, những sáng tác mà họ ưa thích là những sáng tác viết bằng thơ, có vần, có nhịp, dễ truyền miệng
Do xuất phát từ đặc trưng văn hóa này mà trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam vào đầu thế kỉ XX đã xảy ra hiện tượng “sống lại” của truyện thơ sau khi tiểu thuyết bằng văn xuôi hiện đại xuất hiện và không được
người đọc chấp nhận (Truyện thầy La za rô Phiền của Nguyễn Trọng Quản
vừa ra đời, không được bạn đọc đón nhận và bị chìm ngay vào quên lãng)
Cho đến khi văn xuôi của nhóm Tự lực văn đoàn ra đời chiếm lĩnh được văn
đàn, truyện thơ mới lui vào im lặng Thực tế cho thấy, văn xuôi Tự lực văn
đoàn thắng thế do lượng người đọc ở đô thị (trí thức tiểu tư sản, tiểu thương
thành thị) chứ quảng đại quần chúng công nông thì vẫn còn mê truyện thơ Vì thế khi bước vào kháng chiến với khẩu hiệu “đại chúng hóa’’ văn học để phục
vụ công, nông binh, truyện thơ đột nhiên sống lại Điều đặc biệt là truyện thơ
được sống lại bằng chính sáng tác của các nhà thơ hiện đại như: Huy Cận, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm…Điều này cho thấy, chức năng thể loại trước yêu cầu hiện thực là yếu tố quyết định đối với văn học Có nghĩa là, do tính “bảo thủ” của các giá trị văn hóa mà trong lịch sử văn học nước ta, truyện thơ cứ sống dai dẳng trong khi thực tế nó đã hoàn thành “sứ mạng thể loại” từ văn học trung đại Chỉ sống chứ không thể phát triển cao hơn truyện thơ Nôm
Trang 20truyền thống vì bản chất truyện thơ là tự sự - trữ tình về đề tài thế sự, đời tư, không thể đủ sức hoành tráng hóa hiện thực sử thi Vì lẽ đó mà cho đến nay, tất cả các truyện thơ hiện đại đều không còn sống được mà duy chỉ có truyện thơ Nôm truyền thống là tồn tại vĩnh viễn với thời gian (“Truyện Kiều” của Nguyễn Du, truyện “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu…) Như vậy ta
dễ dàng nhận ra sự giống và khác nhau của truyện thơ và trường ca Cả truyện thơ và trường ca đều được viết bằng thơ, nhưng truyện thơ nghiêng về phía tự
sự kết hợp với trữ tình trên nền một cốt truyện và nhân vật có tính cách, trong khi trường ca lại trữ tình hóa các yếu tố tự sự mà không cần cốt truyện hoàn chỉnh, không cần hình tượng nhân vật điển hình, mà chỉ khơi gợi những con người, những sự kiện mang đậm chất thơ Có thể thấy rằng, truyện thơ là những tác phẩm văn xuôi có cốt truyện, nhân vật hoàn chỉnh theo lối truyền thống, còn trường ca như là những tác phẩm thơ không có cốt truyện, nhân vật
rõ nét, đang làm nên điểm nhấn đổi mới trong văn xuôi Việt Nam đương đại
Theo Từ điển thuật ngữ Văn học [13, tr.319-320] Trường ca là tác phẩm
thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi thời cổ và thời trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả
Nhỡn chung, cỏc nhà nghiờn cứu và phờ bỡnh đều xem Trường ca là một tác phẩm được viết bằng thơ trên phương thức kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu
tố tự sự và trữ tình, có tính hoành tráng về cả phương diện nội dung tư tưởng
và cấu trúc nghệ thuật tác phẩm, được nhà thơ viết nên bằng một dung lượng cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào, gắn liền với những biến động lớn lao của lịch sử, của dân tộc và thời đại
1.2 Trường ca Thanh Thảo trong tiến trình thơ Việt Nam đương đại
1.2.1 Thơ Thanh Thảo thời chống Mỹ
Trang 21Thời chiến tranh, Thanh Thảo làm thơ với tư cỏch một phúng viờn của đài Giải phúng Những bài thơ lẻ trờn chiến trường chưa đem lại tờn tuổi nhưng đó bỏo hiệu những đúng gúp đột xuất của ụng sau này trong thể trường
ca Thử núi về hạnh phỳc, Dấu chõn qua trảng cỏ là hai tác phẩm tiờu biểu
Đó là những trải nghiệm chiến trường ỏc liệt, bề bộn được soi chiếu, chưng cất trờn một tầm cao nhõn văn, thể hiện trong những băn khoăn, trăn trở về hạnh phỳc:
Hạnh phỳc nào cho tụi ? Hạnh phỳc nào cho anh ? Hạnh phỳc nào cho chỳng ta ? Hạnh phỳc nào cho đất nước?
Những cõu hỏi chưa bao giờ nguụi được
[49, tr.21]
Đú cũng là những cõu hỏi đeo bỏm suốt đời thơ Thanh Thảo Và cả những băn khoăn về giỏ trị người trước sự sống cũn của đất nước, được phơi trải trong một hỡnh thức mở của thơ dài:
Những câu hỏi chưa thể nào nguôi được Mảnh đất hôm nay bè bạn chúng ta nằm Nơi máu đổ phải sống bằng thực chất
Nơi cao nhất thử lòng ta yêu nước Thử lòng ta chung thủy vô tư
Nơi vỡ vụn dưới chân ta những mảng đêm hèn nhát Những gương mặt ngẩng lên lấp lánh chất người
[49, tr.21-22]
1.2.2 Trường ca Thanh Thảo những năm sau chiến tranh
Trang 22Giai đoạn từ năm 1976-1981, Thanh Thảo có các trường ca
Những người ®i tới biển; Trẻ con ở Sơn Mỹ; Những nghĩa sĩ Cần Giuộc; Bùng nổ mùa xuân; Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt các trường ca đó là cảm
hứng anh hùng ca, phản ánh khí thế hào hùng và những hy sinh mất mát của nhân dân, đất nước trong cuộc chiến tranh chống Mỹ
Những người đi tới biển (1976) đựợc xem như trường ca đầu tiên sau 1975
mang tính mở đầu cho giai đoạn nở rộ của trường ca Việt Nam những năm sau đó Đã có lần Thanh Thảo thú nhận rằng, khi viết trường ca này và cả cái tên của trường ca, ông chịu sự ảnh hưởng từ mô - típ cấu trúc trường ca
“Những người trên cửa biển” (1956) của Văn Cao vốn là trường ca hiện đại một cách hoàn thiện không cốt truyện đầu tiên trong lịch sử phát triển của trường ca Việt Nam mà nhiều nhà thơ sau này chịu chung sự ảnh hưởng
“Những người đi tới biển” nối tiếp cấu trúc theo mạch tư tưởng, cảm xúc của
trường ca Nguyễn Khoa Điềm ngay trước đó, nhưng cấu trúc tự do và thoáng đạt hơn, trong đó, cái tôi trữ tình cũng hiển hiển mạnh mẽ hơn, vì thế, cả trường ca yếu tố tự sự cũng giảm đi nhiều Sợi dây nối mạch đi rất phóng khoáng nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất của cả trường ca đó chính là hành trình đi tới thành công (tới biển bao la) của cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại qua bao mất mát, hi sinh “Nhân vật” trong trường ca xuất hiện thoáng qua, gọn nhưng khắc họa được từng số phận cụ thể Cái khác nhất, mới nhất trong trường ca này chính là cái giọng thơ táo bạo, gai góc vốn có của Thanh Thảo khi phản ánh về chiến tranh qua cái nhìn hiện thực trần trụi và khốc liệt vốn
có của chiến tranh, không lý tưởng hóa quá đà, không lên gân mà vẫn đầy chất bi hùng của một sử thi hiện đại
Trẻ con ở Sơn Mỹ (1978) là kết quả của gần sáu tháng trời Thanh Thảo
khoác ba lô từ Quy Nhơn về ở hẳn Sơn Mỹ để lấy cảm hứng sáng tác như là một sự trả nợ cho nỗi đau lớn của chính mảnh đất Quảng Ngãi - mảnh đất đã
Trang 23sinh ra ông và nuôi dưỡng hồn thơ ông.Vào thời điểm ấy, làng Tư Cung (nơi diễn ra vụ thảm sát 504 thường dân vô tội của đế quốc Mỹ vào ngày 16/3/1968) vẫn còn im lìm như một làng chết Có điều đặc biệt là Thanh Thảo
đã sống cùng nỗi đau thảm sát, hòa cùng nỗi đau chưa nguôi và cuộc sống khổ nghèo trong hiện tại của đồng bào ruột thịt mình và ông đã nhìn quá khứ đau thương, hiện thực điêu tàn bằng con mắt của tương lai, vì thế mới gọi tên
là “Trẻ con ở Sơn Mỹ” Mặc dù viết về vụ thảm sát lớn nhất Việt Nam của đế quốc Mỹ, nhưng “Trẻ con ở Sơn Mỹ” không hề sa đà vào sự kiện chi tiết
(không hề có tên “nhân vật”) mà chỉ xoáy quanh những chủ đề chính, đó là tội
ác man rợ của kẻ thù, nỗi đau của nhân dân và niềm tin tất thắng ủ mầm sau nỗi đau cùng những khát vọng tương lai của người dân Sơn Mỹ Cũng vì mục tiêu đó mà Thanh Thảo đã chọn cấu trúc kiểu điện ảnh để xây dựng trường ca này
Những nghĩa sĩ Cần Giuộc (1978-1980) là trường ca Thanh Thảo viết
về đề tài lịch sử, về những người nông dân chân đất hiến thân mình cho quê hương trong bối cảnh những “cha mẹ của dân” đang làm ngơ cho kẻ thù cướp nước Trường ca đẫm chất sử thi của một giai đoạn lịch sử bi hùng, được nhập
đề đầy ngẫu hứng, bất ngờ nhưng hoàn toàn hợp lý do được cấu trúc theo thủ
pháp điện ảnh Đặt những người Dân mộ nghĩa - Những nghĩa sĩ Cần Giuộc
trong tương quan với những nhân vật lịch sử nổi tiếng những ngày đầu chống thực dân phương Tây như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình
Chiểu, khiến tầm vóc người nông dân sau Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ
Đồ đã được nâng lên một tầm cao mới, thật sự đã trở thành nhân vật chính theo mô – típ nhân vật số đông của trường ca hiện đại
Bùng nổ của mùa xuân (1980-1981) lại là một đề tài lịch sử gắn liền
với cuộc nổi dậy của những người tù căng an trí Ba Tơ (Quảng Ngãi) vào ngày 11/3/1945 Lần đầu tiên trong lịch sử khu V, ngọn cờ đỏ sao vàng đã
Trang 24được chớnh những người tự chớnh trị phất lờn ngay trờn nhà tự giặc, ngay mảnh đất trung dũng, kiờn cường Viết về sự kiện lịch sử diễn ra ngay trờn mảnh đất quờ mỡnh, Thanh Thảo cú nhiều lợi thế về tư liệu và cảm xỳc Thành cụng đặc biệt của Thanh Thảo ở trường ca này là lại tiếp tục xõy dựng nhõn vật số đụng bằng một cấu trỳc mới mẻ của bốn chương giao hưởng chặt chẽ, hài hũa để làm mới thể loại và ghi được dấu ấn khi đó trữ tỡnh húa thành cụng một sự kiện lịch sử khỏ nghiờm tỳc và khụ khan
1.2.2 Trường ca Thanh Thảo những năm trước thời đổi mới
Giai đoạn 1982-1984: Tớnh từ Đờm trờn cỏt đến cỏc trường ca Trũ
chuyện với cỏc nhõn vật của mỡnh, Cỏ vẫn mọc, Khối vuụng ru-bớch, đõy là
thời kỳ cảm xỳc anh hựng ca lắng xuống, nhường chỗ cho những suy tư, trăn trở về kiếp sống con người, về biến động thời đại, về thế giới nhõn sinh Thơ
và trường ca Thanh Thảo giai đoạn này õm vang những biến động và nhu cầu đổi mới của thời đại và nhu cầu đổi mới thi ca
Với Đờm trờn cỏt (1982), như khụng chịu lặp lại mỡnh, Thanh Thảo đó mở
đầu cho loạt trường ca xúa nhũa chương, mục của mỡnh Khụng phõn thành chương đoạn, “Đờm trờn cỏt” thả sức tung hoành theo bỳt phỏp đồng hiện độc đỏo về nhõn vật Cao Bỏ Quỏt mà cú người gọi là một “hiện tượng nhập hồn” (hồn Cao Chu Thần nhập vào Thanh Thảo để tuụn ra những cõu thơ như rỳt ruột tằm) Cỏi tài của Thanh Thảo chớnh là ở chỗ, chỉ từ một sự kiện nhỏ là Cao Bỏ Quỏt trờn bước đường cụng cỏn đó cú một đờm dừng chõn uống rượu trờn sụng Trà và để lại cho Quảng Ngói một bài thơ bất hủ “Trà giang thu nguyệt ca” đầy khớ phỏch, nhưng vỡ cảm khỏi nhõn cỏch nhà thơ chiến sĩ của thi sĩ họ Cao mà Thanh Thảo đó sỏng tạo nờn một trường ca bất hủ Cõu chuyện dồn nộn trong chỉ một đờm tại một địa điểm cụ thể mà đó khỏi quỏt được khụng khớ ngột ngạt của cả một giai đoạn lịch sử đặc biệt trong một
Trang 25trường liên tưởng mạnh mẽ, tỏa rộng theo khí phách ngất trời cao và hồn thơ phóng khoáng bao la của Cao Chu Thần
Trò chuyện với nhân vật của mình (1983) lại là một cách làm mới
trường ca nữa của Thanh Thảo Từ đây, ông không còn dùng thơ có vần để viết như những trường ca trước đó mà chuyển hẳn sang thơ văn xuôi Lúc này, đơn vị thơ không còn tính bằng câu mà bắt đầu tính bằng đoạn Ở trường
ca này, Thanh Thảo đã sử dụng bút pháp đồng hiện hết sức độc đáo, ông đã hòa cảm xúc mình vào tâm trạng nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu để làm cuộc
“trò chuyện” có một không hai với tất cả nhân vật văn học của cụ Đồ Trong tất cả các trường ca Việt Nam, có lẽ lối dựng trường ca theo kiểu “trò chuyện” này là một sáng tạo khá độc đáo, nó tạo điều kiện cho nhà thơ thả tung tư tưởng của mình mà không sợ bị bung ra ngoài cấu trúc chỉnh thể Vì “trò chuyện” với nhân vật văn học (không có thật) nên trường ca được cấu trúc theo dạng kịch độc thoại vô cùng hấp dẫn và sâu lắng Mà đã là “trò chuyện” với những Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Kỳ Nhân Sư, những nghĩa quân Cần Giuộc, Trương Định… nên trường ca vẫn đẫm chất sử thi của cả một thời kỳ lịch sử
Cỏ vẫn mọc (1983) cũng là một trường ca bằng thơ văn xuôi mà chủ đề
xoay quanh câu nói nổi tiếng của Nguyễn Trung Trực “Bao giờ hết cỏ nước Nam thì người Nam mới hết đánh Tây” Qua câu nói nổi tiếng của anh chài Lịch (tên gọi bình dân của Nguyễn Trung Trực), trường ca nói về sự tồn tại và sức sống vĩnh viễn của cỏ, về những anh hùng số đông vô danh chiến đấu hi
sinh trên vàm Nhật Tảo Không chỉ có cỏ bạt ngàn ở Đồng Tháp Mười, Cỏ
vẫn mọc còn mở ra rất nhiều không gian cỏ khác: Cỏ giấu những căn hầm bí
mật bên dưới những nghĩa trang, cỏ ở nghĩa trang Hàng Dương, cỏ ở nhà ngục Côn Đảo, cỏ mọc cả trong những giấc mơ, cỏ cháy trong thời chiến, cỏ xanh êm ả thời bình… được cấu trúc như một kịch bản phim với những pha
Trang 26chuyển cảnh đầy ngoạn mục khiến trường ca vừa lạ lẫm vừa gần gũi, thõn quen
Khối vuụng ru – bớch (1984) là trường ca cuối cựng của Thanh Thảo
với ý thức cỏch tõn thể loại rừ rệt Trước Khối vuụng ru – bớch, ụng đó thử nghiệm trường ca Một trăm mảnh gỗ vuụng cấu trỳc bằng những đoạn thơ văn
xuụi là những khối vuụng ghộp lại (bỏ loại thơ từng cõu xuống dũng trước đú) Cũng là một lối sỏng tạo độc đỏo, nhưng nếu ghộp như thế dễ trở thành cứng nhắc, anh đó quyết định bỏ dở “cuộc chơi ghộp gỗ vuụng” này để chơi trũ chơi ru – bớch nhằm đưa thể loại trường ca (vốn là sử thi nghiờm tỳc) tham gia vào cuộc chơi xoay và xoay bất tận từ sử thi chiến tranh đến những mảng đời thường Tỏc giả xoay theo ý tỏc giả, người đọc tham gia chơi cứ tựy
ý mà xoay những ụ vuụng cho thơ chuyển động trũn Mỗi ụ màu là mỗi mảnh
đời, mỗi giai đoạn, mỗi số phận khỏc nhau Lối thơ của “Khối vuụng ru –
bớch” rất lạ, nú vừa là thơ vừa là văn vừa là nhạc vừa là kịch vừa là phim…
nhưng cuối cựng vẫn cứ là thơ khi liờn tục những vũng xoay ru – bớch cũn chuyển động trũn
1.2.3 Trường ca Thanh Thảo đương đại
Trên con đường tìm kiếm những giá trị mới cho thi ca, bằng tài năng và
nỗ lực, Thanh Thảo đã vỡ vạc chính ông ở mảng đời sống: tâm trạng một người lính đã thấm đẫm nỗi đau trận mạc “Metro” là một trường ca như thế - một bản trường ca viết về Trường Sơn với một cái tên thật lạ nghe có vẻ kiểu cách và tân kỳ, nhưng ngẫm kĩ, chính nó là đầu mối đem lại nét mới về cấu
trúc cho trường ca này, một cấu trúc rất Metro Và ngay cả giọng điệu của
trường ca này cũng có cái gì đó rất mới so với các trường ca khác Nó suồng sã mà rất trang nghiêm, trang nghiêm mà tưởng chừng như suồng sã, khá hậu hiện đại Có lúc như nói trêu, nói tếu, nói nhảm nhưng cái tâm trạng lớn xuyên
Trang 27suốt trường ca này - những suy cảm về cái Được cái Mất của cá nhân, của thế
hệ, của dân tộc trong cái thời máu lửa, thì rất chân thật, sâu sắc
Bản trường ca này mở đầu bằng những câu thơ thấm thía về hình ảnh những người lính trong “chuyến tàu trận mạc” đã vĩnh viễn nằm lại dưới một Trường
Sơn đại ngàn nhắc nhở chúng ta về những năm tháng đau thương ấy: “tôi được
gì không? chẳng được gì / hàng triệu người đi qua con đường này cũng thế / có những cái mất là được / có nhiều cái được mất nhiều hơn / có sự yên lặng tuyệt đối nào bằng những ngôi mộ giữa Trường Sơn / Năm mươi năm một trăm năm và hơn thế…” [61, tr.347-348] Cũng tha thiết và xót xa như thế, hình
ảnh những cô gái ở Trường Sơn những năm tháng ấy cứ cồn cào, thao thức
dưới những mạch ngầm trong hành trình của Metro qua từng sân ga: “những
cô gái ngày ấy thường chân ngắn / có lẽ họ leo dốc nhiều quá / mang ba lô lâu quá / gùi cõng gạo nặng quá / nếu tôi nói những cô gái ngày ấy đẹp hơn những cô gái 8X 9X chân dài / nhiều người sẽ không tin tôi / có lắm sự thật / bao cách nhìn / Trường Sơn chỉ một” [61, tr.349 - 350]
Bằng trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của mình, Thanh Thảo đã tìm đến cái vùng tối riêng của một miền ánh sáng để nhìn ngược lại vùng thực tại chúng ta đang sống Trên cái đường biên mập mờ hai chiều tối - sáng (dòng chảy tới của thời gian và dòng chảy ngược của quá khứ) ấy là những phát hiện mới về các giác cảm, về không gian, thời gian, về sự tồn tại của con người
Trong hành trình metro đầy ưu tư, mệt mỏi, Thanh Thảo đã tìm cách trả lời:
“sau 34 năm / tôi một mình mở kho hàng anh giữ / những thùng đạn đại liên
đựng toàn nỗi nhớ / những thùng gỗ quân nhu lương khô /không phải cất những bánh 701,702 / mà tuyền những hạt gì tròn tròn trong trong của mẹ của
vợ của người yêu, tất tật / nước mắt ” [61, tr.364]
Trường ca đương đại của Thanh Thảo đi sâu vào khai thác mảng đề tài chiến tranh với những nỗi đau thường ngày, với những trăn trở cách tân, cho ta thấy rõ một diện mạo sâu sắc và đầy đủ hơn về Thanh Thảo
Trang 28Sự phân chia thành 4 giai đoạn như trên chỉ mang tính phương pháp và
có ý nghĩa tương đối, nhằm nhận diện một cách hệ thống những đóng góp thi
ca của Thanh Thảo và những đổi mới trong thơ ông
1.3 Những căn nguyên của thành tựu trường ca Thanh Th¶o
1.3.1 Những yếu tố cơ bản cấu thành năng lực, phẩm chất nhà văn
- mối quan hệ giữa thế giới quan, vốn sống và trình độ nghiệp vụ
Thanh Th¶o sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Ngãi, đời ông và thơ ông đều gắn với “Quảng Ngãi - đất mẹ ngoan cường” Trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc nên thơ ông luôn chất chứa những ám ảnh khôn nguôi về cuộc kháng chiến, về Tổ quốc, nhân dân Ông
đã đến với trường ca như là duyên nợ, bởi chỉ có thể loại này mới đủ sức chứa những “ám ảnh khôn nguôi” của ông
Bằng chứng là «ng đã trở thành nhà thơ Việt Nam viết nhiều trường ca nhất (9 trường ca) và có đóng góp lớn nhất đối với thể loại văn học đặc biệt này Ông được các nhà nghiên cứu trân trọng gọi là “Ông hoàng của trường ca”
Trong đời thơ Thanh Thảo có ba con người gắn liền với ba sự kiện quan trọng liên quan đến bước đường sáng tác của ông Đầu tiên là Chế Lan Viên - người
mà ngay trong thời chiến tranh khốc liệt đã cho in những bài thơ đầu tay với nội dung quá gai góc và một tư duy thơ lạ lẫm, táo bạo lúc bấy giờ của nhà thơ trẻ Thanh Thảo từ chiến trường miền Nam gửi ra
Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, từ chiến khu trở về, Thanh Thảo trở thành một nhà thơ không có nơi công tác, chỉ có vui một niềm vui lớn cùng đất nước hòa bình Lang thang ở Sài Gòn chưa định hướng sẽ đi đâu
về đâu thì người thứ hai - Nguyễn Chí Trung xuất hiện Biết Thanh Thảo là đồng hương và tài thơ của ông, Chí Trung đã đưa Thanh Thảo về trại sáng tác
Trang 29Quõn khu V (Đà Nẵng), và từ trại viết này hàng loạt bài thơ của chàng lớnh
phục viờn Thanh Thảo, đặc biệt là trường ca Những người đi tới biển đó chào
đời Rồi những thỏng năm ngột ngạt khụng khớ của xó hội bao cấp ở Quy Nhơn (thời của tỉnh Nghĩa Bỡnh) chớnh lại là những thỏng năm Thanh Thảo khẳng định tài năng và sức sáng tạo của ông sau bao nhiờu năm dồn nộn Cỏc trường ca của ụng lần lượt ra đời cựng với hàng chục tập thơ của ông đã được xuất bản
Bài thơ đầu tay của Thanh Thảo - Thử núi về hạnh phỳc đó tràn
đầy hơi thở trường ca Những trải nghiệm chiến trường ỏc liệt, bề bộn được soi chiếu, chưng cất bằng một tầm nhõn văn cao, thể hiện trong những băn khoăn về hạnh phỳc và giỏ trị người trước sự sống cũn của đất nước, được phơi trải trong một hỡnh thức mở của thơ dài Và chựm thơ kỉ lục gồm 13 bài
được trỡnh làng trờn Tỏc phẩm mới, cũng như tập Dấu chõn qua trảng cỏ tập
hợp những bài thơ ngắn, về thực chất là những mảnh vỡ khỏc nhau của một bản trường ca Cú thể xem chỳng như là những tiền thõn, phõn thõn khỏc nhau
của trường ca Những người đi tới biển được viết sau đú Chỳng mang một hơi
thở chung, một phong độ sỏng tạo chung, thuộc một kiểu tư duy chung với
trường ca này và với cả những trường ca sau này của Thanh Thảo như Những
nghĩa sĩ Cần Giuộc, Trẻ con ở Sơn Mỹ, Bựng nổ của mựa xuõn, Khối vuụng
ru bich, Đờm trờn cỏt, Cỏ vẫn mọc… và mới đõy là Metro
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật và những tỡm tũi, cỏch tõn về thi phỏp
là căn nguyờn thành tựu
Phần cốt lừi nhất của tư tưởng nghệ sĩ là gỡ nếu khụng phải là những quan niệm riờng? Quan niệm nào vậy? Quan niệm nhõn sinh và thẩm mỹ Nếu quan niệm nhõn sinh trả lời cõu hỏi về hạnh phỳc, thỡ quan niệm thẩm mỹ trả lời cõu hỏi về cỏi đẹp Cả hai tỡm thấy nhau trong cựng một băn khoăn chung:
Trang 30thế nào là giỏ trị người, giỏ trị sống Mỗi nghệ sĩ chõn chớnh phải là một niềm băn khoăn, một cõu trả lời Tất nhiờn, bằng sỏng tỏc của mỡnh,băn khoăn ấy là cỏi lừi trầm trong ruột người nghệ sĩ Dự cú thể anh ta khụng ý thức rừ về nú,
dự cú khi bất lực trước nú Kẻ viết cú thành tỏc giả hay khụng, lớn hay bộ, phụ thuộc vào điều anh cú hay khụng mối băn khoăn ấy và tầm cỡ nú thế nào
Để lý giải những thành tựu sỏng tỏc nghệ thuật, nhiều nhà nghiờn cứu và phờ bỡnh thường tỡm về ba yếu tố quyết định: Thế giới quan - Vốn sống - Trỡnh độ nghề nghiệp Cỏch lý giải này cú thiờn hướng đề cao quan điểm lập trường chớnh trị Theo chỳng tụi, cú thể trả lại yờu cầu về thế giới quan cho trỡnh độ nghề nghiệp, cho tài năng nghệ sỹ Bởi vỡ thế giới quan chỉ phỏt huy tỏc dụng trong sỏng tỏc nghệ thuật khi nú chuyển húa thành quan điểm thẩm
mỹ, thành cỏch nhỡn một cỏch nghệ thuật trước thế giới, con người Cỏch nhỡn ấy, quan điểm ấy chớnh là quan niệm nghệ thuật, một yếu tố đặc biệt quan trọng, cú vai trũ quyết định trong thi phỏp nhà văn
Bờn cạnh đú, lý giải thành tựu sỏng tỏc của nhà văn từ gúc nhỡn nghiệp
vụ, trỡnh độ nghề nghiệp, suy cho cựng chớnh là tỡm hiểu lý giải trờn quan điểm thi phỏp học, tức là xem xột cỏc yếu tố cấu thành thi phỏp tỏc giả Xuất phỏt từ quan niệm đú, trong hai chương tiếp theo của luận văn, chỳng tụi sẽ trở lại vấn đề này, tức là đi vào khảo sỏt quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo với những biểu hiện “húa thõn” của nú trong thế giới nghệ thuật trường
ca của ụng
1.4 Quan niệm của Thanh Thảo về trường ca
Thanh Thảo là nhà thơ viết nhiều trường ca nhất trong thơ hiện
đại Việt Nam Ông đã suy ngẫm rất nhiều về thể loại này, nên mỗi lần được phỏng vấn hoặc mỗi lần giới thiệu trường ca của các bạn thơ, ông đều nêu lên quan niệm của mình Ông nhận xét: “Thể loại anh hùng ca thường gắn với những thời điểm trọng đại của lịch sử, nó trước tiên là sự lựa chọn tư tưởng
Trang 31của nhà thơ, nó luôn cực đoan trong sự khách quan, nó là lịch sử được hát lên, văn xuôi được trào lên như phún thạch núi lửa” Khi nói về nguồn gốc trường
ca, Thanh Thảo đã phát biểu: “khi những cảm nhận cá nhân và không khí chung của một xã hội, một dân tộc còn chưa nguôi, chưa lặng, đó là thời điểm xuất hiện những anh hùng ca, những trường ca” Về sự giống nhau và khác nhau giữa anh hùng ca cổ đại và trường ca, ông so sánh: “Nếu nhân vật chính của anh hùng ca cổ đại là Định Mệnh, thì nhân vật chính của anh hùng ca hiện
đại (trường ca) là Nhân Dân, là ý chí chiến đấu với định mệnh lịch sử.”
Nhận xét về trường ca hiện đại Việt Nam, Thanh Thảo có cái nhìn khá bao quát và rút ra được phong cách trường ca của rất nhiều tác giả Ông cho rằng:
Từ đêm mười chín của Khương Hữu Dụng là “một trường ca bắc cầu về thi
pháp”, từ “thơ cũ” chuyển sang “thơ mới”, từ thơ truyền thống chuyển sang thơ hiện đại… Nó “bắt đầu mới mẻ, bắt đầu mang những nét dáng đầu tiên của cách tân” cho dù “trong trường ca vẫn còn nhiều đoạn hơi tự nhiên…hơi
thô” Và “nhất là Văn Cao, với Những người trên cửa biển”, “cách đi” của
trường ca Văn Cao đã ảnh hưởng đến bản thân ông và cả các thế hệ viết trường
ca Còn trường ca Tố Hữu là sự “kết hợp giữa anh hùng ca và diễn ca”, “nền hoang dại của các khan Tây Nguyên”, là cảm hứng của trường ca Thu Bồn,
“Trần Dần lặng lẽ và mãnh liệt với cách kết hợp giữa vị lai và cách mạng của Maiacốpxki ”, còn sự “Hòa trộn sách vở với cuộc chiến đấu trên nền những con người mang sách vở đi chiến đấu” đã làm nên trường ca Nguyễn Khoa
Điềm… Trường ca Nguyễn Đức Mậu thì “hồn hậu, đa cảm mà rắn chắc”, Hữu Thỉnh “vừa dân dã vừa tài hoa”, Nguyễn Trọng Tạo thì “lãng mạn”, còn Trần Mạnh Hảo thì “biến báo” Và Thanh Thảo kết luận rằng: “Sức mạnh của một trường ca là ở sự thật mà nó kể lại, mà nó hát lên Sức mạnh ấy nằm ẩn sau từng con chữ, trong từng câu thơ, và nằm bàng bạc trong cả cấu trúc trường ca”… Như vậy, ta thấy quan niệm về trường ca của Thanh Thảo thật đa dạng, phong phú và sâu sắc Nó là cái nhìn tổng thể về lịch sử phát triển của trường
ca Việt Nam
Trang 321.5 Thành tựu trường ca Thanh Thảo
ca Bởi dũng sống thế kia chỉ thực sự thoải mỏi khi thả sức trong một hỡnh thức phúng khoỏng với một cấu trỳc luụn mở Mà trường ca chớnh là một thể đầy hứa hẹn cho hỡnh thức ấy, cấu trỳc ấy Quan niệm và nhõn cỏch thơ của Thanh Thảo đó giỳp ông thoải mỏi marathon với trường ca, mặc sức "đi tới biển" cựng trường ca
Về thể loại, sự bựng nổ của trường ca cú lẽ là hiện tượng đỏng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX đến giờ Người ta đó đưa ra nhiều cỏch định nghĩa, định danh khỏc nhau Người sớnh dựng những lớ thuyết tớt từ thời Heghen để ỏp vào hụm nay Người bận tõm phõn định nú với những anh hựng ca và sử thi thời cổ Người loay hoay khu biệt nú với thơ dài, truyện thơ, khỳc ngõm Gặp gỡ cú, bất đồng cú Thỏi độ với trường ca cũng vậy: lắm người hoài nghi, khối người hài lũng, khụng hiếm người say mê Song, bất chấp những phõn húa, chia rẽ, trường ca vẫn cứ trường ca, cả trong nước lẫn ngoài nước Và khi thơ trữ tỡnh muốn trỡnh bày suy cảm về những vận động lớn lao, thậm chớ kỡ vĩ của đời sống bằng một hỡnh thức lớn, khi ấy trường ca xuất hiện Núi gọn hơn, khi thơ trữ tỡnh muốn chiếm lĩnh thực tại ở cấp độ cỏi
kỡ vĩ thỡ trường ca bắt đầu lờn tiếng Cỏc trường ca hiện đại của ta manh nha
từ thời Thơ Mới, lỏc đỏc trong cuộc chống Phỏp, rộ lờn suốt thời chống Mỹ và bội thu sau chống Mỹ, chẳng phải là một bằng chứng sinh động hay sao?
Khụng phải thi sĩ nào cũng cú thể là tỏc giả trường ca Khụng ớt người định dấn thõn vào thể này, sau đó bỏ cuộc Người thỡ đó lờn những đề cương tỉ
mỉ cho cỏc bản đại trường ca, cuối cựng đề cương hoen rỉ trong ngăn kộo Người thỡ gắng kẽo kẹt cho hết một bản, rồi cạch đến già Sự ấy cũng thường tỡnh Trong điền kinh, cựng mụn chạy thụi, cú người vụ địch cự li ngắn, nhưng chỡm nghỉm khi marathon Trong trận mạc, cú người giỏi đoản binh mà
Trang 33bớ trường trận Cú tạng thơ chỉ sở trường ở những thể vừa vừa trung trung Cú tạng chỉ thực là nú ở những thể nhỏ nhỏ xinh xinh Hễ họ bộn mảng sang thể lớn là lập tức hẫng chõn, cụt hơi Đó cũng là thường
Và như để giải thoát những ứ đọng cảm xúc của chính mình, Thanh Thảo liên tiếp cho ra đời 8 bản trường ca trong vòng 9 năm (từ 1976 đến 1984)
và gần đây nhất, năm 2009, Thanh Thảo cho ra mắt bạn đọc bản trường ca thứ
9 với tên gọi Metro Và có lẽ , trường ca Thanh Thảo sẽ không dừng lại ở con
số 9 Điều này, thời gian sẽ trả lời
Vâng! con số 9 đã giúp Thanh Thảo trở thành người có số lượng trường
ca nhiều nhất ở Việt Nam.Quả là một năng lực trường ca kỳ diệu và hiếm cú Chín trường ca, cỏi nào in được thỡ gửi in cũn những cỏi gai gúc hơn thỡ rỳt kinh nghiệm lần đầu, ông cho nằm im chờ cơ hội Vậy là ba trường ca “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc” và “Bựng nổ của mựa xuõn” in
ra để rồi sau đú nhận được giải thưởng thơ của Ban văn học quốc phũng - Hội Nhà văn Việt Nam (1995) Cũn lại bốn trường ca hơi “gai gúc” lại phải chờ thời cơ xuất hiện May sao, lỳc ấy, Nguyễn Khoa Điềm được tớn nhiệm làm Tổng biờn tập tạp chớ Sụng Hương, bằng uy tớn của mỡnh ụng đó in “Đờm trờn cỏt” của Thanh Thảo để rồi sau đú vài năm (1985), Nhà xuất bản Tỏc phẩm mới in chung vào tập trường ca “Khối vuụng ru-bớch” Cũn lại, hai trường ca
“Trũ chuyện với nhõn vật của mỡnh” và “Cỏ vẫn mọc” phải đến năm 2002, Nhà xuất bản Quõn đội nhõn dõn mới cho ra mắt cựng bạn đọc Bẵng đi một thời gian dài (đến gần 25 năm), đột nhiờn năm 2009, Thanh Thảo lại cho ra đời trường ca “Metro” với một cấu trỳc mang đầy đủ bản chất của thể loại mà vẫn hũa hợp với quỏ trỡnh hiện đại húa trong thời đại hội nhập thơ ca Qua khảo sỏt 10 trường ca tiờu biểu do Nhà xuất bản Quõn đội nhõn dõn tuyển chọn [62] xuất bản, ta chỉ thấy duy cú Thanh Thảo là cho “cỏi tụi” nhập
đề trực khởi như làm một bài thơ, bằng cỏch khẳng định ngay cỏi tụi trữ tỡnh
cỏ nhõn nhà thơ Nghĩa là, đó “tụi húa” cỏi chung ngay từ đầu, đặt cỏi tụi trữ
Trang 34tỡnh ngay cõu thơ đầu để làm nền cho toàn bộ cảm xỳc của cả một trường ca:
“Khi con thưa với mẹ/ mưa bay mờ đồng ta/ ngày mai con đi/ khúi bếp mẹ con
mỡnh chợt ngừng trờn mỏi rạ/ chuyến tàu tăng bo ngoài ga sơ tỏn/ vẳng tiếng cũi đờm cú bao người vội núi lời chia tay”[62, tr.182] Thực ra, ở “Trường ca
Sư đoàn”, Nguyễn Đức Mậu cũng nhập đề “tụi” nhưng cỏi tụi ấy là cỏi tụi hũa
trong cỏi chung của “Sư đoàn tụi”: “Bài hỏt đầu tiờn tụi hỏt ở Sư đoàn/ Mây
trôI trắng khoảng trời Tây Bắc /Các anh tôi thuở mũ nan, súng kíp/ Có bao người tôi chưa được tìm thăm… ” [62, tr.331] hoặc “Gọi nhau qua vỏch nỳi” của Thi Hoàng cũng xưng “tụi” nhưng chỉ là sự xuất hiện trong phần “Xin
giấy phộp xuất bản” chứ chưa phải phần mở đầu của trường ca: “Vâng, thật
tình tôi muốn được in ra / Tôi là kẻ bị những ý tưởng đuổi săn chạy vào con
đường độc đạo/ Những con chữ đã in đó là nốt chân của tôi chạy qua trang báo / Mong tìm về nơi yên ổn cũng không xong” [62, tr.548]
Nếu xét kĩ, ta nhận thấy cõu nhập đề của Thanh Thảo trong thời điểm ấy vẫn
cứ là cỏch nhập đề nhằm khẳng định cỏi tụi riờng tư, tạo ấn tượng mạnh nhất
“Những người đi tới biển” là một giao hưởng gồm ba chương và một Vĩ thanh Ở “Những người đi tới biển”, Thanh Thảo đó vận dụng cấu trỳc nhạc giao hưởng để xõy dựng tỏc phẩm Đõy là trường ca cú cấu trỳc bề mặt theo mụ-tip chương mục phổ biến, tuy nhiờn, khi tiến hành khảo sỏt và so sỏnh với cỏc trường ca xuất hiện trước và liền sau nú, ta vẫn nhận ra cỏi nột riờng trong cấu trỳc trường ca này của Thanh Thảo
Những người đi tới biển (1976), không chỉ là bản trường ca đầu tiên của
Thanh Thảo mà còn được xem như trường ca đầu tiên sau 1975, tác phẩm mang tính mở đầu cho giai đoạn nở rộ của trường ca Việt Nam sau chiến tranh Tác phẩm này đã nối tiếp mạch tư tưởng, cảm xúc của Nguyễn Khoa
Điềm ngay giai đoạn trước đó, nhưng tự do và khoáng đạt hơn rất nhiều Tự
do, khoáng đạt mà vẫn đảm bảo tính thống nhất của cả trường ca; đó là hành trình đi tới thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại qua bao mất
Trang 35mát hi sinh Nét mới nhất, khác nhất của Những người đi tới biển so với các
trường ca trước đó chính là giọng thơ táo bạo, gai góc vốn có của Thanh Thảo khi phản ánh về chiến tranh qua cái nhìn hiện thực trần trụi, khốc liệt vốn có của chiến tranh, không lý tưởng hóa quá đà, không lên gân mà vẫn đầy chất bi hùng của một sử thi hiện đại Thanh Thảo từng tõm sự, khi viết trường ca này
và cả cỏi tờn của trường ca, ông chịu sự ảnh hưởng từ mụ - tớp cấu trỳc trường
ca Những người trờn cửa biển (1956) của Văn Cao Trường ca này vốn được
Thanh Thảo đỏnh giỏ rất cao Vỡ đõy chớnh là trường ca hiện đại một cỏch hoàn thiện khụng cốt truyện đầu tiờn trong lịch sử phỏt triển của trường ca
Việt Nam mà nhiều nhà thơ sau này chịu chung sự ảnh hưởng “Những người
đi tới biển” nối tiếp cấu trỳc theo mạch tư tưởng, cảm xỳc của trường ca
Nguyễn Khoa Điềm Ở đú, cỏi tụi trữ tỡnh cũng thể hiện mạnh mẽ hơn, vỡ thế,
cả trường ca yếu tố tự sự cũng giảm đi nhiều Sợi dõy nối mạch đi rất phúng khoỏng mà vẫn đảm bảo tớnh thống nhất của cả trường ca đú chớnh là hành trỡnh đi tới thành cụng (tới biển bao la) của cuộc khỏng chiến chống Mỹ vĩ đại qua bao mất mỏt, hi sinh “Nhõn vật” trong trường ca xuất hiện thoỏng qua, gọn nhưng khắc họa được từng số phận cụ thể Nột mới trong trường ca này là phản ỏnh về chiến tranh qua cỏi nhỡn hiện thực trần trụi và khốc liệt vốn cú
của nú, khụng lý tưởng húa quỏ đà Với Những người đi tới biển, Thanh Thảo
chịu ảnh hưởng rất lớn cấu trỳc nhạc giao hưởng Cú thể núi, đõy là một giao
hưởng gồm ba chương và một Vĩ thanh Chương 1: Chiếc ỏo ngắn được phõn
thành bảy khỳc đỏnh theo số thứ tự, khụng cú nhan đề Mỗi khỳc đều cú phối
thanh ở ba bố chớnh Chương 2: Nguồn sụng hỏt là chương hũa õm về nguồn cội của những bài ca tuổi trẻ với chủ õm“muụn đời là nhõn dõn chắp cho
chỳng ta đụi cỏnh những bài ca” [41, tr.17] Chương 3: Địa hỡnh là chương
giao hưởng cuả đất Bố trầm ẩn dưới lũng địa đạo, bố trung là õm thanh sự sống trờn “địa hỡnh”, bố cao là tiếng gầm rỳ đe dọa của B.52 giặc Mỹ và khộp
lại với bố chủ là tiếng đàn chiến thắng của Tỏm Hựng để “điệu lý thương yờu
Trang 36dâng ngập cả bầu trời” át cả tiếng bom rền của giặc Khúc Vĩ thanh Tới biển
là khúc khải hoàn sau một chặng đường dài gian khổ với ngập tràn âm thanh sóng biển
Chương 1 “Chiếc áo ngắn” được phân thành bảy khúc đánh theo số thứ
tự, không có nhan đề Khúc 1 là khúc chia tay mẹ già, quê hương lên đường vào Nam chiến đấu, âm thanh sâu lắng, ngùi ngùi của một đêm khuya Hà Nội với bè trầm của con “sông Hồng trằn sóng đỏ”, bè trung trong trẻo của dòng nước con sông Cầu “chảy lơ thơ”, bè cao vút lên của tiếng vẳng “còi tàu” ngoài ga sơ tán và lan tỏa vào đêm với “tiếng gà gáy sang canh” Khúc 2 là khúc Trường Sơn mà bè trầm là tiếng “ấm ào” của “rừng săng lẻ”, bè trung với những lời nhắn khắc tên cây rừng như “thông điệp của một thời gian khổ”
và bè cao với tiếng cười rúc rích phát ra từ những câu “chuyện tiếu lâm” thủ thỉ kể trong đêm rừng cho “khuây nỗi nhớ” Khúc 3 chát chúa, đe dọa bởi tiếng máy, tiếng quạt của “thằng OV.1O” vút qua đầu, tiếng “thốt kêu lên” của chàng chiến sĩ Long, tiếng ngân vang của “con sông hát”, tiếng “cười vang” chờ “ba mươi phút nữa hành quân” Khúc 4 là khúc thầm thì tư riêng nhớ người yêu Hà Nội Khúc 5 là khúc ác liệt với âm thanh “gió ào ã trên đầu
lá thầm vỡ dưới chân” hòa với “khúc hát bâng quơ” mơ về phía đồng bằng chen trong dàn “đồng ca” của những chú ve rừng Không khí hi sinh và tưởng niệm với bè trầm “không yên nghỉ”, bè trung “bạn thương mến” và bè cao trong trẻo của “khoảng trời trong trẻo nhất” Khúc 6 rộn rã niềm tin yêu của người lính trẻ giữa rừng già với những câu “chuyện vui đến nỗi rừng mê” và
“sau bom rách xé tiếng ve lại đầy” Khúc 7 khép lại chương 1 với âm thanh
“yếu mềm và mãnh liệt” của cỏ, nhưng với một thông điệp rõ ràng, dứt dạc,
mạnh mẽ: “chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ nhưng tuổi hai mươi làm sao
không tiếc/ nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi đất nước/ cỏ sắc mà
ấm quá, phải không em?” Nhà thơ Đào Nguyễn - tức nghệ sĩ nhân dân - đạo
diễn phim tài liệu nổi tiếng Đào Trọng Khánh đã có lần nói với Thanh Thảo:
Trang 37“Tôi xếp câu thơ “cỏ sắc mà ấm quá, phải không em?” của Thanh Thảo vào
hàng những câu thơ viết về cỏ (và người) hay nhất mọi thời đại”
Chương 2 “Nguồn sông hát” là chương hòa âm về nguồn cội của những bài ca tuổi trẻ với chủ âm “muôn đời là nhân dân chắp cho chúng ta đôi cánh những bài ca” Vì cấu trúc trường ca là cấu trúc nhạc giao hưởng nên ta dễ nhận ra ở chương này rất nhiều những âm thanh với nhiều bè nhiều giọng:
“anh đã đến trước tôi một mùa kháng chiến/ tiếng ghi ta bếp lửa đêm rừng…/
…trái tim anh rung giữa những dây đàn/ giữa những dây đàn bỗng dòng sông chảy xiết/ và cô gái hiện lên đột ngột/ cất giọng hát như một luồng gió ngược/ cuốn ta về nguồn sông”
Chương 3 “Địa hình” là chương giao hưởng của đất Bè trầm ẩn dưới lòng địa đạo, bè trung là âm thanh sự sống trên “địa hình”, bè cao là tiếng gầm rú đe dọa của B.52 Mỹ và khép lại với bè chủ là tiếng đàn chiến thắng của Tám Hùng để “điệu lý thương yêu dâng ngập bầu trời” át cả tiếng bom
rền của giặc: “ta bỗng hiểu ngay phút giây này những năm tháng này đây/
những gì của ta sẽ biết còn biết mất/ trước luồng sáng địa hình bùng tận mắt/ soi rất rõ trong đêm - từng gương mặt/ và điệu lý thương yêu dâng ngập bầu trời” Khúc Vĩ thanh “Tới biển” là khúc khải hoàn giải phóng miền Nam sau
một chặng đường dài gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ từ
Bắc vào Nam, rừng về với biển: “những dòng sông băng qua những vết
thương/ về với biển đâu phải tìm yên nghỉ/ tới cửa sông là bắt đầu sóng gió/ những cây giá xoay trần ngâm nước giữ phù sa/ nơi trộn lẫn mặt trời muối mặn đời ta/ Tổ quốc kiên trì nhoài ra phía biển/ ôm những quần đảo trong vòng tay thương mến/ mắt dõi nhìn hút cánh hải âu bay” Tính hoành tráng,
không khí sử thi là đặc điểm nổi bật của trường ca Điều này lý giải tại sao trong và sau hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc (chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ), trường ca hiện đại Việt Nam mới ra đời, mặc dù thơ ca hiện đại Việt Nam đã đạt đến đỉnh cao từ “Thơ Mới”
Trang 38Chớnh Thanh Thảo đó từng nhận xột: “Thể loại anh hựng ca thường gắn với những thời điểm trọng đại của lịch sử, nú trước tiờn là kết quả của sự lựa chọn tư tưởng của nhà thơ, nú luụn cực đoan trong sự khỏch quan, nú là lịch
sử được hỏt lờn, là văn xuụi được trào lờn như phỳn thạch nỳi lửa” Về nguồn gốc trường ca, Thanh Thảo phỏt biểu: “Khi những cảm nhận cỏ nhõn và khụng khớ chung của một xó hội, một dõn tộc cũn chưa nguụi, chưa lặng, đú là thời điểm của xuất hiện những anh hựng ca, những trường ca” Như vậy, từ lý thuyết thể loại đến thực tiễn sỏng tỏc, Thanh Thảo là người đó thể hiện rừ tớnh nhất quỏn theo yờu cầu và đặc trưng của thể loại trường ca Trường ca
“Những người đi tới biển” đã gắn chặt với từng chặng đường trong cuộc hành trỡnh gian lao của cuộc khỏng chiến chống Mỹ đầy bi thương và hào hựng của dõn tộc Gọi Thanh Thảo là “ụng hoàng của trường ca” chớnh vỡ lẽ đú
Trẻ con ở Sơn Mỹ (1978) là kết quả của gần sỏu thỏng trời Thanh
Thảo khoỏc ba lụ từ Quy Nhơn về ở hẳn Sơn Mỹ để lấy cảm hứng sỏng tỏc Trường ca này như là một sự trả nợ cho nỗi đau của mảnh đất Quảng Ngói, nơi nhà thơ đó sinh ra và lớn lờn Vào thời điểm ấy, làng Tư Cung (nơi diễn ra
vụ thảm sỏt 504 thường dõn vụ tội của đế quốc Mỹ vào ngày 16/3/1968) vẫn cũn im lỡm như một làng chết Cú điều đặc biệt là ông sống cựng nỗi đau thảm sỏt, hũa cựng nỗi đau chưa nguụi và cuộc sống khổ nghốo trong hiện tại của đồng bào ruột thịt mỡnh, nhưng ông đó nhỡn quỏ khứ đau thương, hiện thực
điờu tàn bằng con mắt của tương lai và vỡ thế mới gọi tờn là Trẻ con ở Sơn
Mỹ Mặc dự viết về vụ thảm sỏt lớn nhất Việt Nam của đế quốc Mỹ, nhưng Trẻ con ở Sơn Mỹ khụng hề sa đà vào sự kiện chi tiết (khụng hề cú tờn “nhõn
vật”) mà chỉ xoỏy quanh những chủ đề chớnh, đú là tội ỏc man rợ của kẻ thự, nỗi đau của nhõn dõn và niềm tin tất thắng ủ mầm sau nỗi đau cựng những khỏt vọng tương lai của người dõn Sơn Mỹ Cũng vỡ mục tiờu đú mà Thanh Thảo đó chọn cấu trỳc kiểu điện ảnh để xõy dựng trường ca này
Trang 39Những nghĩa sĩ Cần Giuộc (1978-1980) là trường ca Thanh Thảo
viết về đề tài lịch sử, về những người nông dân chân đất hiến thân mình cho quê hương trong bối cảnh những “cha mẹ của dân” đang làm ngơ cho kẻ thù cướp nước Trường ca đẫm chất sử thi của một giai đoạn lịch sử bi hùng, được nhập đề đầy ngẫu hứng, bất ngờ nhưng hoàn toàn hợp lý do được cấu
trúc theo thủ pháp điện ảnh Đặt những người Dân mộ nghĩa – Những nghĩa sĩ
Cần Giuộc trong tương quan với những nhân vật lịch sử nổi tiếng những ngày
đầu chống thực dân phương Tây như Trương Định, Nguyễn Trung Trực,
Nguyễn Đình Chiểu, khiến tầm vóc người nông dân sau Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc của cụ Đồ đã được nâng lên một tầm cao mới, thật sự đã trở thành nhân
vật chính theo mô - típ nhân vật số đông của trường ca hiện đại
Có thể nói, “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một bộ phim tài liệu về
nhân dân Nam bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp Phần đầu: có tên Cửa biển Cần Giờ mùa Hạ hiện ra như một dòng tít mở đầu bộ phim, tập trung đặc tả hình ảnh người nông dân Nam bộ trong tiến trình khai khẩn đất hoang trên một vùng đất mới Với chỉ bốn câu thơ mà khuôn mặt người nông dân đặc tả cận cảnh cũng chuyển biến khá bất
ngờ:“khuôn mặt buồn hơn câu hát/ câu hát buồn hơn đêm rừng Sác hoang vu/
khuôn mặt hừng lên ánh chớp cuối ngày/ buổi sáng tàu Tây đến”
Phần 2: Tàu sắt ống khói đen hiện lên như dòng tít cùng với sự đột ngột xuất
hiện của nó như “con quái vật” Rồi khi bốn phát đại bác đầu tiên “Bùm!
Bùm! Bùm! Bùm!” bắn vào Đà Nẵng, cảnh tang thương đã hiện lên Sau đó,
ống kính thơ “lia” ra viễn cảnh với hình ảnh “vua rung đùi ngồi uống rượu
bình thơ”, đối lập với số phận đọa đày của nhân dân nô lệ “đói tự do và đói cơm đói muối” [43, tr.9-16] Rồi hình ảnh nghĩa khí của Cao Bá Quát,
Nguyễn Trung Trực hiện lên khơi dậy niềm tin cho nhân dân để họ sẵn sàng
đứng lên tuyên bố:“dù đứng trước các người mắt ta đầy nước mắt/ đừng vội
cười hỡi bọn chủ nô” [43, tr.28]
Trang 40Phần 3: Dân mộ nghĩa tiếp tục trở lại với hình ảnh nhân vật chính: những
người nông dân Nam bộ phóng khoáng, ngang tàng, yêu ghét rạch ròi với nhiều thước phim thơ đầy sống động
Phần 4: Người hát rong ống kính dừng lại đặc tả nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu;
Phần 5: Đám-lá-tối-trời quay lại cảnh chiến khu của người anh hùng Trương Định;
Phần 6: Nước rực cháy đặc tả người anh hùng Nguyễn Trung Trực Như vậy, chỉ cần đọc sáu tuýt đề của sáu phần (được in đậm trên đây), ta thấy, Thanh Thảo đã cố tình sử dụng những cụm từ mang đầy chất điện ảnh Sở dĩ Thanh Thảo thích dựa vào thủ pháp điện ảnh để cấu trúc trường ca, là bởi, giữa nó và cái “khoảng trống” của thơ hiện đại rất gần nhau Bước thơ đầy khoảng lặng
bí ẩn của tư duy thơ hiện đại rất phù hợp với bước chuyển hình trong điện ảnh; vì ta biết, trung bình mỗi phút, ống kính có thể lia đi thu được đến khoảng trên dưới 50 hình ảnh Cho nên, việc tìm tòi cấu trúc trường ca theo mô-tip của điện ảnh cũng là sự gặp nhau giữa phong cách thơ hiện đại và nghệ thuật điện ảnh, đặc biệt là loại phim tài liệu hình ảnh kèm theo lời bình thuyết minh
Bùng nổ của mùa xuân (1980-1981) lại là một đề tài lịch sử gắn
liền với cuộc nổi dậy của những người tù căng an trí Ba Tơ (Quảng Ngãi) vào ngày 11/3/1945 Lần đầu tiên trong lịch sử khu V, ngọn cờ đỏ sao vàng đã được chính những người tù chính trị phất lên ngay trên nhà tù giặc, ngay mảnh đất trung dũng, kiên cường Viết về sự kiện lịch sử diễn ra ngay trên mảnh đất quê mình, Thanh Thảo có nhiều lợi thế về tư liệu và cảm xúc Thành công đặc biệt của Thanh Thảo ở trường ca này là lại tiếp tục xây dựng nhân vật số đông bằng một cấu trúc mới mẻ của bốn chương giao hưởng chặt chẽ, hài hòa để làm mới thể loại và ghi được dấu ấn khi đã trữ tình hóa thành công một sự kiện lịch sử khá nghiêm túc và khô khan