1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực thi pháp luật về hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán việt nam

114 419 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật về hoạt động CBTT của các chủ thể tham gia TTCK còn nhiều bất cập nhất là đối với công ty đại chúng, một chủ thể chiếm phần lớn trên thị trường, làm ản

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THÙY DƯƠNG

THùC THI PH¸P LUËT VÒ HO¹T §éNG C¤NG Bè

TH¤NG TIN CñA C¤NG TY §¹I CHóNG TR£N THÞ TR¦êNG

CHøNG KHO¸N VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THÙY DƯƠNG

THùC THI PH¸P LUËT VÒ HO¹T §éNG C¤NG Bè

TH¤NG TIN CñA C¤NG TY §¹I CHóNG TR£N THÞ TR¦êNG

CHøNG KHO¸N VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THUẬN

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 5

1.1 Công ty đại chúng 5

1.1.1 Khái niệm công ty đại chúng 5

1.1.2 Đặc điểm công ty đại chúng 8

1.1.3 Phân loại công ty đại chúng (dưới góc độ công bố thông tin) 9

1.2 Công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 11

1.2.1 Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 11

1.2.2 Công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 12

1.2.3 Vai trò của hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 14

1.3 Thực thi pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán và các yếu tố ảnh hưởng 15

1.3.1 Hệ thống pháp luật 15

1.3.2 Chính các công ty thực hiện nghĩa vụ CBTT 16

1.3.3 Cơ chế quản lý của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 16

1.4 Pháp luật về hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 16

1.4.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 16

1.4.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 17

Trang 5

1.4.3 Vai trò của pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên

thị trường chứng khoán Việt Nam 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

Chương 2: THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 35

2.1 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 35

2.2 Thực tiễn thực thi pháp luật về hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 38

2.2.1 Thực tiễn công bố thông tin định kỳ 38

2.2.2 Thực tiễn công bố thông tin bất thường 61

2.2.3 Thực tiễn công bố thông tin theo yêu cầu 73

2.2.4 Thực tiễn về trách nhiệm công bố thông tin của cổ đông lớn, người nội bộ của công ty đại chúng và người có liên quan của người nội bộ 76

2.2.5 Thực tiễn về xử lý vi phạm công bố thông tin 81

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 89

Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT TĂNG CƯỜNG VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 90

3.1 Hoàn thiện khung pháp lý về công bố thông tin đối với các công ty đại chúng 90

3.1.1 Cần nhanh chóng ban hành văn bản thay thế Thông tư 121/2012/TT-BTC để tăng cường quản trị công ty và Nghị định số 108/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán 90

3.1.2 Bổ sung một số quy định theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn về công bố thông tin định kỳ, bất thường, công bố thù lao về người quản lý điều hành, quy định chuẩn trong nội dung báo cáo để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của các cổ đông và nhà đầu tư 91

3.1.3 Quy định về nhân viên chuyên trách trong công bố thông tin 93

Trang 6

3.1.4 Bổ sung quy đi ̣nh công bố thông tin phải th ực hiện song song cả tiếng

Viê ̣t và tiếng Anh là điều kiê ̣n bắt buô ̣c 93

3.2 Hoàn thiện phương tiện công bố thông tin 95

3.3 Tăng cường mức độ xử phạt các vi phạm về công bố thông tin 96

3.4 Tăng cường hiệu quả việc thực thi pháp luật về hoạt động công bố thông tin bằng các giải pháp thực tiễn 97

3.4.1 Tăng cường nhận thức và tính tự giác minh bạch thông tin của các công ty đại chúng 97

3.4.2 Nâng cao chất lượng thông tin trên thị trường chứng khoán 98

3.4.3 Thực hiện các nguyên tắc về quản trị công ty (Corporate Governance) trong các công ty đại chúng nhằm tăng cường minh bạch thông tin 99

3.4.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiến thức nhà đầu tư 99

3.4.5 Xử lý nhanh chóng khi Doanh nghiệp gặp khủng hoảng do tin đồn thất thiệt gây ra 100

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Ý nghĩa

BCTC Báo cáo tài chính

BCTN Báo cáo thường niên

CBTT Công bố thông tin

CTCP Công ty cổ phần

ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông

HĐQT Hội đồng quản trị

HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

HOSE Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh TTCK Thị trường chứng khoán

UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thị trường chứng khoán vốn được coi là một thị trường rất nhạy cảm với thông tin Trên TTCK, rủi ro cho nhà đầu tư do thiếu thông tin là rất lớn và người hưởng lợi thường là người có lợi thế về thông tin Sự bất cân xứng thông tin hay thực trạng thông tin bất cân xứng (information asymmetry) không chỉ ảnh hưởng đến nhà đầu tư mà còn có tác động lâu dài về niềm tin đối với thị trường

Do đó, các nhà lập pháp luôn đặt ra những quy định, biện pháp để đảm bảo độ cân xứng thông tin giữa các chủ thể tham gia trên TTCK Vì vậy mà tiêu chí đầu tiên để đánh giá sự phát triển của TTCK tại bất cứ quốc gia nào cũng là mức độ công khai, minh bạch thông tin

Tại Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập, các nhà lập pháp cũng quy định rất

rõ về việc CBTT và ngày càng chặt chẽ về vấn đề này Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhiều chủ thể tham gia thị trường chứng khoán có nghĩa vụ công khai và công bố thông tin như Sở Giao dịch chứng khoán, công ty giám sát, công ty đại chúng, các quỹ đầu tư chứng khoán… song thông tin từ công ty đại chúng có thể nói là nguồn thông tin phong phú và đa dạng nhất Từ Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 của Bộ Tài chính về CBTT trên TTCK đã tạo động lực rất lớn cho việc tăng cường tính minh bạch của các chủ thể tham gia trên TTCK như: Tăng cường trách nhiệm CBTT của công ty đại chúng, đặc biệt là nâng chuẩn trách nhiệm CBTT của công ty đại chúng quy mô lớn; Quy định chặt chẽ hơn nghĩa vụ CBTT của cổ đông lớn, cổ đông nội bộ; Yêu cầu khắt khe hơn trong thực hiện nghĩa vụ CBTT của tổ chức kinh doanh chứng khoán Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được, Thông tư 52/2012/TT-BTC đã bộc lộ những hạn chế về thời hạn CBTT báo cáo tài chính, nhất là đối với các công ty có mô hình công ty mẹ - công ty con, công

ty liên kết đều phải lập và CBTT báo cáo tài chính hợp nhất; Các quy định liên quan đến kế toán và kiểm toán mới chưa được cập nhật Ngoài ra, Thông tư 52 còn chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế, đó là chưa có quy định về CBTT bằng tiếng Anh, CBTT nội dung liên quan đến phát triển bền vững… Do đó, ngày 06/10/2015, Bộ tài chính

Trang 9

2

đã ban hành Thông tư 155/2015/TT-BTC thay thế Thông tư số 52/2012/TT-BTC về CBTT phù hợp với sự phát triển và quy mô của thị trường chứng khoán cũng như nhằm nâng cao vai trò, tầm quan trọng của công tác CBTT đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư Như vậy, khung pháp lý về CBTT trên TTCK ở Việt Nam đã ngày một hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật về hoạt động CBTT của các chủ thể tham gia TTCK còn nhiều bất cập nhất là đối với công ty đại chúng, một chủ thể chiếm phần lớn trên thị trường, làm ảnh hưởng đến sự bất ổn của thị trường chứng khoán

Vì vậy, vấn đề “Thực thi pháp luật về hoạt động công bố thông tin của

công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là vấn đề cấp bách cả

về lý luận và thực tiễn Do đó, tôi đã chọn làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu quy định của pháp luật, việc thực thi pháp luật trên thực tiễn và

đề xuất giải pháp nhằm tăng cường việc thực thi pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu những vấn đề chung về CBTT của công ty đại chúng;

- Phân tích quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK;

- Đánh giá việc thực thi pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán;

- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường việc thực thi pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Những đóng góp của đề tài bao gồm:

Một là, nghiên cứu một cách cụ thể những vấn đề chung của pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Hai là, phân tích, đánh giá việc thực thi các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 10

3

Ba là, qua quá trình nghiên cứu việc thực thi các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam, luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao tính hiệu quả của các quy định pháp luật trong thực tiễn thực hiện

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Pháp luật về hoạt động CBTT của công

ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam và việc thực thi hoạt động này trên thực tế

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu làm rõ quy định pháp luật và thực tiễn tuân thủ nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và được cụ thể thông qua một số tình huống thực tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, nhiều phương pháp nghiên cứu được sử dụng như:

- Điều tra và thu thập thông tin để tổng hợp và phân tích kết hợp phương pháp logic;

- Phương pháp thống kê, so sánh và tổng hợp để chứng minh cho đề tài;

- Khảo sát tình hình thực tế nhằm đưa ra các bình luận, đánh giá khuyến nghị thích hợp

6 Tổng quan tài liệu

Hiện nay, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu quy định pháp luật của Việt Nam về hoạt động CBTT trên thị trường chứng khoán như:

 Luận văn thạc sĩ “Công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường

chứng khoán theo pháp luật Việt Nam” của Phạm Thị Hằng Nga năm 2014, Khoa

Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội;

 Luận văn thạc sĩ “Áp dụng pháp luật về công bố thông tin đối với công ty

niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Ngô Xuân Thường năm 2013,

trường Đại học Luật Hà Nội;

 Luận văn thạc sĩ “Các điều kiện pháp lý nhằm đảm bảo tính minh bạch của

thị trường chứng khoán” của Hà Thị Út năm 2014, trường Đại học Luật Hà Nội;

Trang 11

4

 Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin trên thị trường

chứng khoán Việt Nam” của Vũ Lan Phương năm 2013, trường Đại học Luật Hà Nội

Những đề tài trên đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK Tuy nhiên, các đề tài trên đều làm trong khi Thông tư số 52/2012/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 5/4/2012, do đó tính đến thời điểm hiện tại, chưa có đề tài luận văn nào khai thác những điểm mới tại Thông tư 155/2015/TT-BTC cũng như chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu thực tiễn tuân thủ nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thực thi pháp luật hoạt động công bố

thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán

Chương 2: Thực tiễn thực thi pháp luật về hoạt động công bố thông tin của

công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 3: Một số đề xuất tăng cường việc thực thi pháp luật về công bố

thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 12

5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Công ty đại chúng

1.1.1 Khái niệm công ty đại chúng

1.1.1.1 Ở các nước phương Tây

Ở Anh, công ty đại chúng được gọi là public limited company, viết tắt là Plc (đuôi Plc bắt buộc phải ghi sau tên công ty) Plc cần số vốn tối thiểu là 50.000 bảng Anh, được huy động vốn và giao dịch cổ phần rộng rãi, số cổ đông tham gia không giới hạn và có tối thiểu hai thành viên quản trị thường trực (công ty nội bộ chỉ cần một) Ở Mỹ, công ty đại chúng là loại “C Corporation” (công ty cổ phần có trên 100

cổ đông) Khác với S Corporation là hình thức công ty chỉ được phát hành một loại

cổ phần duy nhất, có số cổ đông không vượt quá 100 và cổ đông phải là cá nhân mang quốc tịch Mỹ [38], C Corporation phải đóng thuế thu nhập công ty và cổ đông khi nhận cổ tức phải khai thuế thu nhập lần nữa

Điểm chung từ thuật ngữ “công ty chứng khoán” trong pháp luật Anh, Mỹ và

Úc đều quy định trong Luật Công ty Tuy nhiên, đối với những nước mà Luật Công

ty không đề cập thì Luật Chứng khoán đương nhiên quy định cụ thể [16, tr.103-104]:

+ Điều 110 Luật Chứng khoán Bulgari quy định: “Công ty đại chúng là công

ty: đã phát hành cổ phần của công ty theo các điều kiện của việc phát hành ra công chúng lần đầu, hoặc đã đăng ký với Ủy ban chứng khoán về việc phát hành chứng khoán với mục đích tham gia giao dịch tại thị trường chứng khoán được quản lý”

+ Theo Luật Chứng khoán Ba Lan (Khoản 4 Điều 4): “Công ty đại chúng là

công ty có cổ phiếu của ít nhất một lần phát hành được chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng”

Qua các quy định trên, người viết cho rằng, thuật ngữ “Công ty đại chúng” là thuật ngữ mang tính ước lệ, là tình trạng pháp lý mà doanh nghiệp chạm đến hay rơi

Trang 13

6

vào, sau khi tiến hành bước “chuyển mình về quy mô vốn và cách thức quản trị”, ngoài ra, một công ty cũng có thể tổ chức với tình trạng công ty đại chúng ngay từ khi mới thành lập Mặt khác, pháp luật các nước đã mở đường “bước chuyển” này chính những quy định loại hình công ty nội bộ được xem giai đoạn để tích lũy dọn đường bước qua sân chơi đại chúng “Bước chuyển” này trong hoạt động thị trường chứng khoán là thủ tục IPO (viết tắt theo tiếng Anh: Initial Public Offering) là việc chào bán chứng khoán lần đầu tiên ra công chúng Khái niệm công chúng được hiểu

là một số lượng nhà đầu tư đủ lớn với giá trị chứng khoán chào bán cũng đủ lớn Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, một công ty cổ phần sẽ trở thành công ty đại chúng (hay công ty cổ phần đại chúng) 38]

Dù luật lệ mỗi nước có thể khác nhau, công ty đại chúng có nhiều điểm giống nhau: Công ty có thể phát hành nhiều loại chứng khoán để huy động vốn đại chúng trong và ngoài nước, kể cả tổ chức Nhờ yếu tố thanh khoản, doanh nghiệp và cổ đông có thể tận dụng được lợi thế của thị trường vốn, tận dụng các khoản nhàn rỗi, tạo cơ hội gia tăng giá trị cho nhà đầu tư, đặc biệt là những người khởi lập doanh nghiệp

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Trước khi Luật Chứng khoán 2006 được ban hành, tại Việt Nam, pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán chưa đặt ra cơ sở pháp lý (định nghĩa) về thuật ngữ “công ty đại chúng” Tuy nhiên thực tế đã xuất hiện mô hình công ty đại chúng dưới dạng: (i) Các công ty niêm yết phát hành chứng khoán số lượng lớn ra công chúng, từ trước khi Luật Chứng khoán 2006 có hiệu lực (Quyết định 07/2002/QĐ-VPCP về việc ban hành Điều lệ Mẫu áp dụng công ty niêm yết) (ii) công ty cổ phần phát hành riêng lẻ nhiều lần có số lượng cổ đông lớn, theo Luật Doanh Nghiệp 1990, 1999 (iii) và doanh nghiệp Nhà nước thực hiện cổ phần hóa Điều bất cập giữa mô hình (i) so với (ii) và (iii) chính là nghĩa vụ minh bạch, công khai hóa thông tin, đây là quy định bắt buộc đối các công ty niêm yết (mô hình i) trong thời kỳ đó Về vốn lẫn quy mô thì cả ba mô hình trên đều tương đồng, trong khi

đó các công ty niêm yết phải thực hiện nghĩa vụ trên một cách chặt chẽ và đó chính là

Trang 14

7

một trở ngại chủ yếu khiến các mô hình (ii), (iii) ngại đưa chứng khoán ra niêm yết

Chính vì vậy pháp luật Việt Nam đã du nhập và tiếp nhận quy định pháp luật tiến bộ của các nước đi trước, Luật Chứng khoán 2006 đã xây dựng một chương riêng về công ty đại chúng Theo Luật Chứng khoán 2006, công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc ba loại hình sau đây:

1 Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; đây là hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chúng và được thực hiện theo một trong ba cách thức: (i) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; (ii) Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (iii) Chào bán cho một

số lượng nhà đầu tư không xác định

2 Công ty có cổ phần được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán; tức công ty đưa chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán

3 Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và vốn điều lệ đã góp

từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên [11, Điều 25, Khoản 1]

Với đặc thù tại Việt Nam, các công ty đại chúng chủ yếu là công ty cổ phần

có quy mô vốn từ trên 10 tỷ và số lượng cổ đông từ trên 100 cổ đông, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp

Công ty đại chúng được hiểu là Công ty Cổ phần có quy mô và độ phổ biến

“đủ lớn” để đạt được tính “Đại chúng”, “đủ lớn” ở đây được hiểu trên 2 khía cạnh vốn điều lệ thực góp và số lượng cổ đông Theo quy định của Luật ở Việt Nam thì công ty đại chúng là công ty:

(i) Có vốn điều lệ thực góp ít nhất là 10 tỷ đồng

(ii) Ít nhất 100 cổ đông, không kể các cổ đông là các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp - Các tổ chức bên lĩnh vực tài chính như Ngân hàng thương mại, Công ty Tài chính, Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty Bảo hiểm, Công ty Chứng khoán và Công ty Quản lý Quỹ (Cùng các Quỹ đầu tư do các Công ty này Quản lý)

Do đó khi một Công ty Cổ phần đạt đủ cả 02 điều kiện nói trên thì chính

Trang 15

8

thức được xem là công ty đại chúng, theo quy định của Luật Chứng khoán thì trong vòng 90 ngày kể từ ngày thành công ty đại chúng thì Công ty Cổ phần đó phải nộp hồ sơ để báo cáo Ủy ban Chứng khoán biết và quản lý Như vậy các công ty đại chúng sẽ do Ủy ban Chứng khoán quản lý, còn các Công ty cổ phần khác còn lại chưa đạt được tính “Đại chúng” vẫn sẽ do Sở kế hoạch Đầu tư các Tỉnh, Thành phố quản lý

1.1.2 Đặc điểm công ty đại chúng

Một là, công ty đại chúng là CTCP theo pháp luật về doanh nghiệp Đây là đặc điểm đầu tiên được ghi nhận tại Điều 25 LCK Theo đó, công ty đại chúng mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản CTCP

Hai là, công ty đại chúng có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản

lý Sự tách biệt triệt để này chính điểm khác biệt giữa công ty đại chúng và công ty

cổ phần theo luật doanh nghiệp Theo đó, cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty đại chúng theo quy định pháp luật như chủ tịch hội đồng quản trị không được kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc điều hành, trừ khi được phê chuẩn tại Đại hội đồng cổ đông thường niên hoặc công ty đại chúng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán bắt buộc quy định chức danh Thư ký công ty Rõ ràng việc quy định pháp luật như vậy nhằm tạo sự giám sát trong mối quan hệ nội bộ công ty cũng sự tạo sự kiểm soát thuận tiện từ phía cơ quan Nhà nước

Ba là, có số lượng cổ đông lớn Bản thân tên gọi “đại chúng” đã cho thấy

số lượng cổ đông công ty, cổ đông công ty đại chúng không giới hạn và có khả năng thay đổi thường xuyên Đây được xem là ưu điểm và cũng là nhược điểm của loại hình này

Ưu điểm là do tính đại chúng, công ty được đặt dưới sự kiểm soát của xã hội thông qua việc công khai các thông tin về hoạt động kinh doanh, trách nhiệm Hội đồng quản trị và Ban điều hành và người quản lý phải chăm lo cho sự phát triển công ty Từ ưu điểm này, cổ đông đặt ra vấn đề nghĩa vụ minh bạch thông tin và bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty đại chúng Ngược lại, do quá nhiều

cổ đông cũng như số lượng cổ đông thường xuyên thay đổi dẫn đến tình trạng

Trang 16

9

khó quản lý cổ đông cũng như mất tính ổn định trong quản trị công ty khi có sự thay đổi các cổ đông lớn

Bốn là, mối liên hệ chặt chẽ trên TTCK Công ty đại chúng là loại hình công

ty được thiết kế phù hợp để huy động vốn từ công chúng đầu tư thì thị trường chứng khoán chính là phương tiện để loại hình công ty này thực hiện điều đó Ngoài sự điều chỉnh Luật doanh nghiệp, công ty đại chúng còn chịu sự điều chỉnh của Luật chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành, với tư cách luật chuyên ngành Ngoài ra trong một số lĩnh vực đặc biệt như ngân hàng, bảo hiểm… còn phải chịu sự điều chỉnh luật chuyên ngành đó

1.1.3 Phân loại công ty đại chúng (dưới góc độ công bố thông tin)

Dưới góc độ CBTT, tùy từng quốc gia sẽ phân loại công ty đại chúng theo tiêu chí niêm yết hoặc theo tiêu chí quy mô Cụ thể như sau:

Xét theo quy mô công ty, công ty đại chúng được phân loại thành:

(i) Công ty đại chúng thông thường là công ty đáp ứng được các yêu cầu về

tính đại chúng như có số lượng người sở hữu chứng khoán hoặc có quy mô vốn hoặc tổng giá trị các khoản nợ cao hơn các doanh nghiệp thông thường khác

(ii) Công ty đại chúng quy mô lớn là các công ty đáp ứng được các tiêu chí

về quy mô vốn, giá trị các khoản nợ hoặc quy mô cổ đông cao hơn so với các công

ty đại chúng thông thường Do đó, các công ty đại chúng quy mô lớn có trách nhiệm minh bạch thông tin cao hơn so với các công ty đại chúng khác

Xét theo tiêu chí niêm yết chứng khoán, công ty đại chúng được phân thành:

(i) Công ty đại chúng niêm yết là các công ty có chứng khoán (cổ phiếu hoặc

trái phiếu) niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán

(ii) Công ty đại chúng không niêm yết là công ty đáp ứng tiêu chí về tính đại

chúng nhưng không có chứng khoán niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán

Theo cách thức phân loại này, các công ty đại chúng niêm yết phải chịu nghĩa vụ công khai thông tin nghiêm ngặt hơn các công ty đại chúng không niêm yết bởi khi niêm yết, công ty còn phải tuân thủ các quy định của Sở giao dịch nhằm đảm bảo chất lượng chứng khoán niêm yết

Trang 17

10

Theo Luật Chứng khoán thì công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây:

1 Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;

2 Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại SGDCK hoặc TTGDCK;

3 Công ty có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không

kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10

tỷ đồng Việt Nam trở lên [11, Điều 25, Khoản 1].

Với 3 loại hình trên, có thể nhận thấy công ty đại chúng chưa niêm yết là loại hình 1 và 3, công ty đại chúng đã niêm yết trên SGDCK hoặc TTGDCK là loại hình 2

Để thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty cổ phần phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Luật Chứng khoán:

1) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

2) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;

3) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được

từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua

4) Công ty đại chúng đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua [11, Điều 12]

Một công ty muốn niêm yết cổ phiếu trên SGDCK nhất thiết phải là công ty đại chúng Tuy nhiên, một công ty cổ phần sau khi trở thành công ty đại chúng, không có nghĩa công ty đã có thể niêm yết trên SGDCK Để được niêm yết trên SGDCK, công ty đại chúng phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 53, 54 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán

Đây chính là sự khác nhau giữa công ty đại chúng niêm yết và công ty đại chúng chưa niêm yết bởi các công ty đại chúng niêm yết phải đáp ứng những điều kiện chặt chẽ hơn

Trang 18

11

Theo quy định của Luật thì tất cả các Công ty Đại chúng đều phải có website riêng, và trong đó đều phải có 1 mục riêng chuyên để công bố thông tin cho cổ đông được biết nhằm đảm bảo tính “Đại chúng” cũng như quyền lợi của mọi cổ đông là ngang nhau - đều có thể tiếp cận được thông tin của Công ty, ngoài ra khi đăng lên web thì Các Công ty cũng đồng thời phải gửi thông tin nói trên đến Ủy ban Chứng khoán để báo cáo, giám sát và công bố

Theo quy định về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, các công ty đại chúng niêm yết trên SGDCK phải thực hiện các nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin cho UBCKNN và cho SGDCK nơi mà công ty thực hiện niêm yết cổ phiếu Do vậy, việc giám sát các công ty đại chúng niêm yết được thực hiện chặt chẽ theo 2 cấp giám sát Trong khi đó, các công ty đại chúng chưa niêm yết cổ phiếu chỉ thực hiện nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin cho UBCKNN

Ở nước ta hiện nay còn tồn tại tình trạng nhiều công ty cổ phần thành lập và công ty thực hiện cổ phần hóa đã thực sự là những công ty đại chúng nhưng không

hề có nghĩa vụ công bố những thông tin quan trọng cho người đầu tư một cách thường xuyên bởi các công ty này chưa niêm yết trên TTCK, do đó việc thực hiện công bố thông tin chỉ phải tuân thủ theo quy định đối với công ty chưa niêm yết Trong khi đó, các công ty niêm yết phải thực hiện nghĩa vụ này một cách chặt chẽ theo quy định của chủ thể quản lý thị trường để đảm bảo chất lượng chứng khoán niêm yết Đây chính là một trở ngại chủ yếu khiến các doanh nghiệp ngại đưa chứng khoán ra niêm yết Cũng theo chuẩn mực quốc tế của IOSCO và các nguyên tắc về quản trị công ty được áp dụng phổ biến trên thế giới, các công ty có chứng khoán được công chúng sở hữu rộng rãi và các bên liên quan phải thực hiện việc công bố thông tin thường xuyên về các sự kiện quan trọng nhằm đảm bảo quyền lợi của người đầu tư

1.2 Công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán

1.2.1 Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Theo từ điển Tiếng Việt, công bố được hiểu là thông báo cho mọi người biết một vấn đề hoặc thông tin nào đó Việc CBTT của bất kỳ chủ thể nào phải đảm bảo

Trang 19

12

cho một nhóm đối tượng có thể tiếp cận được Trên TTCK, CBTT được hiểu là việc làm cho thông tin được công khai một cách tin cậy và đông đảo công chúng đầu tư đều có thể biết được Hoạt động CBTT có thể thực hiện thông qua các phương tiện như trang thông tin điện tử, báo in, báo hình hoặc các ấn phẩm khác như tạp chí, bản tin… Nói cách khác, CBTT là việc các chủ thể thông báo đến công chúng đầu

tư các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình cũng như các thông tin

về tình hình thị trường theo quy định của pháp luật

Tóm lại, CBTT trên TTCK là hoạt động tuân thủ quy định của pháp luật về chứng khoán và TTCK của các chủ thể tham gia TTCK về công bố các thông tin liên quan đến tổ chức và hoạt động của chính mình trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đảm bảo tính minh bạch của TTCK cho công chúng đâu tư

Đặc điểm của hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán: Một là, CBTT trên TTCK là hoạt động thường xuyên của các chủ thể, nó gắn liền với các diễn biến trong quá trình hoạt động của các chủ thể tham gia TTCK

Hai là, việc CBTT trên TTCK phải tuân thủ các quy định của pháp luật

Ba là, hoạt động CBTT phải được công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng

1.2.2 Công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán

1.2.2.1 Khái niệm công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán

Trên TTCK, công ty đại chúng có vai trò là chủ thể cung cấp hàng hóa cho thị trường, do đó các công ty này phải tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật về CBTT để đảm bảo tính minh bạch, chất lượng hàng hóa mà nó cung cấp theo quy định của cơ quan quản lý thị trường Dưới góc độ xã hội có thể hiểu “CBTT của công ty đại chúng” là việc công ty đại chúng cung cấp rộng rãi các thông tin tài chính hoặc phi tài chính liên quan đến các mặt hoạt động của mình mà công chúng đầu tư có thể dễ dàng tiếp nhận được thông tin đó Dưới góc độ pháp lý, CBTT của công ty đại chúng là việc công ty tuân thủ các yêu cầu về chế độ báo cáo, công khai thông tin ra công chúng theo quy định pháp luật Nghĩa vụ CBTT của công ty đại

Trang 20

13

chúng có thể phát sinh định kỳ, bất thường hoặc theo yêu cầu, tùy thuộc vào loại thông tin mà công ty phải công bố Do đó, CBTT của công ty đại chúng là việc công bố các thông tin cần thiết về tình hình hoạt động của chính tổ chức mình trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật

1.2.2.2 Phân loại hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán

Pháp luật Việt Nam quy định: công ty đại chúng có nghĩa vụ CBTT như sau:

 Theo thời gian thực hiện nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng

Một là, CBTT định kỳ: CBTT định kỳ của công ty đại chúng là việc công ty

phải công bố một số loại thông tin có tính chất lặp đi lặp lại theo từng chu kỳ Nội dung thông tin liên quan đến các báo cáo tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ Các báo cáo thường niên phải có ý kiến của tổ chức kiểm toán độc lập được UBCK chấp thuận

Theo quy định của nhiều nước, nghĩa vụ CBTT định kỳ của công ty đại chúng thường được áp dụng đối với Báo cáo tài chính (công bố định kỳ hàng quý), Báo cáo quản trị công ty (công bố định kỳ sáu tháng), Báo cáo thường niên (công

bố định kỳ hàng năm)

Hai là, CBTT bất thường: CBTT bất thường của công ty đại chúng được

hiểu là việc công ty phải công bố các thông tin, sự kiện bất ngờ, quan trọng, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc đến giá chứng khoán hoặc lợi ích của nhà đầu tư Nhiều quốc gia quy định công ty phải CBTT ngay lập tức (công

bố trong ngày) đối với các thông tin bất thường (như Mỹ, Úc, Nhật Bản…)

Ba là, CBTT theo yêu cầu: CBTT theo yêu cầu là việc CBTT khi UBCK

hoặc SGDCK yêu cầu phải CBTT do có những dấu hiệu bất thường, hoặc nguồn tin đồn trên thị trường có tác động đến giá chứng khoán

 Theo tính chất thông tin mà công ty đại chúng phải công bố trên TTCK

Một là, công bố các thông tin tài chính: Các thông tin tài chính, mà chủ

yếu là thông tin về Báo cáo tài chính của công ty đại chúng cho thấy tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở quan trọng để xây dựng

Trang 21

14

chiến lược đầu tư của nhà đầu tư trên TTCK và là thông tin được nhà đầu tư quan tâm nhất Do đó, yêu cầu công ty đại chúng công bố Báo cáo tài chính là

quy định bắt buộc tại mọi TTCK

Hai là, công bố các thông tin phi tài chính: Công bố các thông tin có tính

chất phi tài chính được hiểu là việc công ty đại chúng phải công bố các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình quản trị công ty nhưng các thông tin này không mang tính chất tài chính như thông tin thay đổi nhân

sự chủ chốt; thông tin về họp Đại hội đồng cổ đông; thông tin về thay đổi tên, trụ sở chính của công ty

1.2.3 Vai trò của hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Đối với nhà đầu tư: Trên TTCK, nhà đầu tư sẽ đối mặt với rủi ro rất lớn khi

có được thông tin không chính xác, không kịp thời Do vậy, việc CBTT sẽ đáp ứng được nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư, giúp cho các nhà đầu tư có được thông

tin một cách chính xác nhất Việc công bố các thông tin định kỳ, bất thường sẽ giúp

các nhà đầu tư có cái nhìn đầy đủ và khách quan hơn để nắm bắt thị trường nhằm phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình

Đối với chính công ty thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin: Lợi ích của việc

thực thi nghĩa vụ CBTT không chỉ là những lợi ích ngắn hạn mà nó còn hướng đến các mục tiêu lâu dài hơn, đó chính là sự phát triển bền vững của công ty Việc CBTT chính xác, minh bạch có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng đầu tư đối với doanh nghiệp CBTT giúp công chúng đầu

tư nâng cao hiểu biết về cơ cấu và hoạt động của công ty, các chính sách của công

ty liên quan đến các tiêu chuẩn môi trường và đạo đức, quan hệ của công ty với cộng đồng Đây là phương thức quảng bá hình ảnh công ty một cách tốt nhất, nhờ

đó cổ phiếu công ty được đánh giá đúng giá trị của nó, góp phần tạo nên tính thanh khoản đối với chứng khoán, làm tăng khả năng huy động vốn khi công ty phát hành chứng khoán Mặc dù, giá cổ phiếu công ty có thể sẽ giảm khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả được công ty công bố Tuy nhiên, điều này vẫn có mặt tích cực của

nó, bởi các thông tin trung thực chính là động lực để giúp công ty tìm ra phương án tốt nhất phát triển thương hiệu của mình

Trang 22

15

Đối với cơ quan quản lý: Hệ thống thông tin trên TTCK phản ánh tính ổn

định của thị trường, tính hiệu quả trong công tác quản lý của cơ quan chức năng và

là cơ sở để cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán) xây dựng, triển khai công tác giám sát, điều hành TTCK, cũng như hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật Ngoài ra, thông qua hệ thống thông tin trên TTCK, cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình, sức khỏe của doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư, từ đó có những biện pháp đảm bảo sự phát triển ổn định của thị trường như kịp thời đưa ra các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK, có động thái trấn an nhà đầu tư khi TTCK xuất hiện các “tin đồn”, yêu cầu công ty giải trình khi có các dấu hiệu giao dịch bất thường…

1.3 Thực thi pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán và các yếu tố ảnh hưởng

Thực thi pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK có thể hiểu là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật

về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK để những quy định này đi vào cuộc sống và trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Trong quá trình thực thi pháp luật về hoạt động CBTT có một số yếu tố khách quan có ảnh hưởng nhất định tới hiệu quả thực thi

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán bao gồm:

1.3.1 Hệ thống pháp luật

Có thể nói, TTCK không thể vận hành và phát triển mạnh nếu không có một khuôn khổ pháp lý cần thiết cho tổ chức và hoạt động của nó Bởi vậy, bản thân hệ thống pháp luật về hoạt động CBTT là một trong những yếu tố lớn ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về hoạt động CBTT Điều này được thể hiện ở việc hệ thống pháp luật về CBTT trên TTCK đã hoàn thiện hay chưa hoàn thiện, đã đầy đủ các nội dung cần thiết, là hành lang pháp lý chặt chẽ để TTCK có thể hoạt động ổn định

và phát triển, đồng thời để tạo niềm tin cho nhà đầu tư Các nội dung cơ bản, cần thiết chủ yếu về CBTT trên TTCK bao gồm các vấn đề từ nguyên tắc CBTT, hình

Trang 23

16

thức, người công bố, tài liệu công bố cần phải đúng, đủ và phù hợp với nền kinh

tế thị trường

1.3.2 Chính các công ty thực hiện nghĩa vụ CBTT

Cần nhấn mạnh rằng nỗ lực minh bạch hóa thị trường không phải chỉ từ phía

cơ quan lập pháp mà cần sự hợp sức và chung tay của các doanh nghiệp, thành viên thị trường và các đơn vị truyền trong việc tuân thủ quy định pháp luật về CBTT Bởi lẽ, khung pháp lý hiện nay đã có và điều chỉnh tương đối chặt chẽ nhưng nó là chưa đủ nếu như bản thân các doanh nghiệp không nghiêm túc tuân thủ và bỏ qua trách nhiệm xã hội đối với công chúng đầu tư Hơn nữa, việc CBTT chính xác, minh bạch có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng đầu tư đối với doanh nghiệp Lợi ích của việc thực thi nghĩa vụ CBTT không chỉ là những lợi ích ngắn hạn mà nó còn hướng đến các mục tiêu lâu dài hơn, đó chính là sự phát triển bền vững của công ty Do vậy nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của chính các công ty đại chúng cũng là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán

1.3.3 Cơ chế quản lý của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Việc cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình, sức khỏe của doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư, từ đó mới có những biện pháp đảm bảo sự phát triển ổn định của thị trường như kịp thời đưa ra các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK

1.4 Pháp luật về hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.4.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là một

bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK

Nó là tổng hợp những nguyên tắc, định hướng cơ bản về hoạt động CBTT của công ty

Trang 24

+ Nhóm quy phạm về CBTT bất thường của công ty đại chúng (bao gồm nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố các thông tin phát sinh bất thường, có ảnh hưởng lớn đến công ty đại chúng hoặc đến giá chứng khoán như thông tin về thay đổi nhân sự quản lý, việc ký kết hợp đồng có giá trị lớn, quyết định tổ chức lại hoặc giải thể, phá sản doanh nghiệp…);

+ Nhóm quy phạm về CBTT theo yêu cầu của công ty đại chúng (bao gồm các quy định liên quan đến nghĩa vụ công bố các thông tin có ảnh hưởng đến giá chứng khoán hay đến quyền lợi của nhà đầu tư mà UBCKNN, SGDCK thấy cần thiết phải yêu cầu công ty đại chúng CBTT)

Các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng như trên tương ứng với các nghĩa vụ CBTT mà công ty đại chúng phải tuân thủ Việc CBTT của công ty đại chúng có thể diễn ra định kỳ, bất thường hay theo

yêu cầu của UBCKNN, SGDCK

1.4.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.4.2.1 Quy định về đối tượng công bố thông tin

Đối tượng thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng là 01 người đại diện theo pháp luật hoặc 01 cá nhân là người được ủy quyền công bố thông tin của công ty Ngoài ra, nhà đầu tư là cá nhân cũng thuộc đối tượng phải công bố thông tin, có thể tự mình thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin hoặc ủy quyền cho 01 tổ chức hoặc 01 cá nhân khác thực hiện

Theo đó, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ,

Trang 25

18

chính xác và kịp thời về thông tin do người được ủy quyền công bố thông tin công bố Trường hợp phát sinh sự kiện công bố thông tin mà cả người đại diện theo pháp luật và người được ủy quyền công bố thông tin đều vắng mặt thì thành viên giữ chức vụ cao nhất của Ban Điều hành có trách nhiệm thay thế thực hiện công bố thông tin;

Theo Thông tư 155/2015/TT-BTC, các nhà đầu tư thuộc đối tượng công bố thông tin bao gồm:

a) Nhà đầu tư là người nội bộ của công ty đại chúng, người nội bộ của quỹ đại chúng và người có liên quan của người nội bộ;

b) Cổ đông lớn, nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết của công ty đại chúng; nhà đầu tư sở hữu từ 5% trở lên chứng chỉ quỹ của quỹ đóng; cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng của công ty đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; thành viên sáng lập của quỹ đại chúng;

c) Nhà đầu tư hoặc nhóm nhà đầu tư có liên quan mua vào để trở thành cổ đông lớn của công ty đại chúng, sở hữu từ 5% trở lên chứng chỉ quỹ của quỹ đóng;

d) Tổ chức, cá nhân thực hiện chào mua công khai cổ phiếu của công ty đại chúng Theo đó, nhà đầu tư thuộc đối tượng công bố thông tin của công ty đại chúng bao gồm: (i) cổ đông lớn và (ii) người nội bộ của công ty đại chúng, người có liên quan của người nội bộ

(i) Cổ đông lớn

Quy định về công bố thông tin của cổ đông lớn và người nội bộ/người có liên quan của người nội bộ không thay đổi nhiều so với Thông tư 52

Theo đó, tổ chức, cá nhân, nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số

cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết của một công ty đại chúng, công ty đầu

tư chứng khoán đại chúng, quỹ đóng, phải công bố thông tin trong thời hạn 7 ngày

kể từ ngày trở thành hoặc không còn là cổ đông lớn

Nhóm đối tượng trên nếu có sự tăng hoặc giảm tỷ lệ sở hữu cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng qua các ngưỡng 1% phải công bố thông tin trong thời hạn 07 ngày

Ví dụ: nhà đầu tư A sở hữu 5,2% số lượng cổ phiếu đang lưu hành có quyền

Trang 26

19

biểu quyết của tổ chức niêm yết X Ngày T, ông A đặt lệnh giao dịch mua vào làm tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu X từ 5,2% lên 5,7% Tiếp sau đó, vào ngày T’, ông A đặt lệnh mua tiếp làm tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu X từ 5,7% lên 6,1%

Giao dịch tại ngày T’ đã làm cho tỷ lệ sở hữu cổ phiếu X của ông A thay đổi vượt qua ngưỡng 6%, do vậy, trong vòng 07 ngày, kể từ ngày kết thúc việc thanh toán giao dịch chứng khoán, ông A phải công bố thông tin và báo cáo công ty X, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán về việc thay đổi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của mình

Thời điểm bắt đầu, kết thúc việc nắm giữ từ 5% số lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng hoặc thời điểm thay đổi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng qua các ngưỡng 1% được tính kể từ thời điểm hoàn tất giao dịch chứng khoán (Ngày hoàn tất giao dịch chứng khoán được xác định là ngày kết thúc việc thanh toán giao dịch trong trường hợp giao dịch thực hiện qua Sở giao dịch chứng khoán; hoặc ngày kết thúc việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán tại VSD)

(ii) Người nội bộ của công ty và người có liên quan của người nội bộ

Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Thông tư 155/2015/TT-BTC, người nội bộ của công ty đại chúng là thành viên HĐQT; thành viên ban kiểm soát, thành viên Ban kiểm toán nội bộ; Tổng Giám đốc/Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc/Phó Giám đốc hoặc các chức danh quản lý tương đương do Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bổ nhiệm; cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty; Giám đốc tài chính, kế toán trưởng, trưởng phòng tài chính kế toán, người phụ trách kế toán; người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền công bố thông tin

Người nội bộ và người liên quan phải công bố thông tin và báo cáo về dự kiến giao dịch trước ngày thực hiện giao dịch tối thiểu là 03 ngày làm việc Thời hạn thực hiện giao dịch không được quá 30 ngày, kể từ ngày đăng ký thực hiện giao dịch và chỉ được bắt đầu tiến hành phiên giao dịch đầu tiên sau 24 giờ kể từ khi có công bố thông tin từ Sở giao dịch chứng khoán

Người nội bộ của công ty đại chúng và người có liên quan của người nội bộ

Trang 27

Trường hợp sau khi đăng ký giao dịch, đối tượng đăng ký giao dịch không còn là người nội bộ của công ty đại chúng hoặc người có liên quan của người nội

bộ, đối tượng đăng ký giao dịch vẫn phải thực hiện việc báo cáo và công bố thông tin theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 28 Thông tư 155/2015/TT-BTC

1.4.2.2 Quy định về nguyên tắc công bố thông tin

a) Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định pháp luật

Nguyên tắc CBTT phải đầy đủ, chính xác là nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong thực hiện nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng vì các thông tin từ công ty đại chúng là căn cứ của hành vi mua bán trên TTCK, là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo sự công bằng trong việc hình thành giá chứng khoán Nguyên tắc này có nghĩa là khi thực hiện CBTT, công ty phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin, không được xuyên tạc, bóp méo hoặc có hành vi cố ý gây hiểu nhầm thông tin Các thông tin có thể được công bố định kỳ dưới hình thức tài liệu phải được kiểm tra kỹ để đảm bảo tính chính xác trước khi công bố như đối với các Báo cáo tài chính, kiểm toán độc lập là một phần thiết yếu của việc kiểm tra các tài liệu này trước khi công bố Ngoài ra, những thông tin không thể dự liệu trước nhưng nếu

nó ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư và giá chứng khoán thì doanh nghiệp phải có ý thức tự giác CBTT hoặc phải công bố theo yêu cầu của cơ quan quản lý

Về mặt nguyên tắc, công ty đại chúng phải cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin quan trọng về công ty một cách đầy đủ nhất, ngay cả khi thông tin đó gây ra bất lợi cho công ty và phải chịu trách nhiệm đối với thông tin do mình công bố Bên cạnh

đó, việc có được thông tin kịp thời sẽ đem lại lợi ích, đôi khi rất lớn cho nhà đầu tư thông qua quyết định mua, bán chứng khoán đúng thời điểm và ngược lại Nguyên

Trang 28

21

tắc kịp thời trong CBTT thể hiện sự khách quan trong CBTT, đồng thời tránh được những tin đồn làm sai lệch sự hình thành giá chứng khoán, giảm bớt các giao dịch nội gián, làm giá Ngày nay, hầu hết các TTCK đều yêu cầu công ty thực hiện CBTT qua trang thông tin điện tử (website) do phương thức này đảm bảo tốt nhất tính kịp thời, nhanh chóng trong cung cấp thông tin đến nhà đầu tư

b) Đối tượng công bố thông tin phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin

công bố, bảo quản, lưu giữ thông tin đã báo cáo, công bố Việc công bố các thông tin cá nhân (Thẻ căn cước công dân, số Chứng minh nhân dân hoặc số Hộ chiếu còn hiệu lực, địa chỉ liên lạc, địa chỉ thường trú, số điện thoại, số fax, email, số tài khoản giao dịch chứng khoán, số tài khoản lưu ký chứng khoán, số tài khoản ngân hàng) chỉ được thực hiện nếu chủ thể liên quan đồng ý

c) Các đối tượng thực hiện công bố thông tin khi công bố thông tin phải đồng

thời báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán nơi chứng khoán đó niêm yết, đăng ký giao dịch về nội dung thông tin công bố, bao gồm đầy đủ các thông tin theo quy định

d) Ngôn ngữ thông tin công bố trên thị trường chứng khoán là tiếng Việt Việc

công bố thông tin bằng tiếng Việt và tiếng Anh được áp dụng đối với Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán theo quy định của Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán được UBCKNN chấp thuận Các đối tượng khác được khuyến khích công bố thông tin bằng tiếng Anh theo hướng dẫn tại Quy chế của SGDCK, UBCKNN Trường hợp công bố thông tin bằng tiếng Việt và tiếng Anh thì nội dung thông tin công bố bằng tiếng Anh chỉ có tính tham khảo

1.4.2.3 Quy định về nội dung công bố thông tin

Theo quy định của pháp luật Việt Nam , công bố thông tin của công ty đại chúng bao gồm:

Công bố thông tin định kỳ: CBTT về báo cáo tài chính năm, báo cáo thường

niên, họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, CBTT về việc chào bán chứng khoán

và tiến độ sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán, CBTT về tỷ lệ sở hữu nước ngoài

Quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t các quốc gia ngoài báo cáo tài chính bán niên và báo cáo tài

Trang 29

22

chính năm còn yêu cầu báo cáo tài chính quý được kiểm toán viên xác nhận quy

đi ̣nh ta ̣i Điều 56 Luâ ̣t Chứng khoán và giao di ̣ch chứng khoán Thái Lan năm 1992,

Luâ ̣t Chứng khoán và TTCK Hàn Quốc năm 1994

Công bố thông tin bất thường, công bố thông tin theo yêu cầu: theo quy đi ̣nh

của pháp luật Việt Nam là trong vòng 24 giờ Trong khi các quốc gia đều quy đi ̣nh viê ̣c công bố thông tin này “ngay lâ ̣p tức” khi có sự kiê ̣n bất thường phát sinh Điều

186 Luâ ̣t Chứng khoán Hàn Quốc 1994 quy đi ̣nh khi có thông tin bất thường , công

ty niêm yết phải có nghĩ a vu ̣ báo ngay lâ ̣p tức cho Uỷ ban và Sở giao di ̣ch biết (trong đó có phân thành bốn loa ̣i công bố thông tin : công bố thông tin trực tiếp , công bố thông tin gián tiếp , công bô thông tin theo yêu cầu , công bố thông tin tự nguyê ̣n) Theo đánh giá của Tổ chức Quốc tế các Uỷ ban Chứng khoán (IOSCO) viê ̣c quy đi ̣nh thời ha ̣n công bố thông tin trong vòng 24 giờ là chưa phù hợp với TTCK khi các giao di ̣ch đă ̣t lê ̣nh và kiếm lời được thực hiê ̣n chỉ trong vòng vài giây Các thông tin được công bố theo quy định của pháp luật các quốc gia được phân thành 3 nhóm: các thông tin chung như lịch sử công ty , hoạt động kinh doanh của công ty , mối quan hê ̣ giữa người chủ và người lao đô ̣ng đều được ghi n hâ ̣n trong luâ ̣t của các quốc gia Indonesia , Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan Thông tin về trách nhiê ̣m xã hô ̣i cũng được quy đi ̣nh bắt buô ̣c trong Luâ ̣t của

Singapore và Thái Lan ; Nhóm thông tin về quản trị bao gồm tên , lương, chức năng

và trách nhiệm của người quản trị điều hành được quy định trong luật Malaysia và Singapore, còn hầu như lương của thành viên này không được đề cập trong công bố thông tin của các nước ; Nhóm thông tin thứ ba là các t hông tin liên quan đến vốn của công ty như những thay đổi về vốn của công ty , số lươ ̣ng cổ phần , tỷ lệ vốn nắm giữ đều được quy đi ̣nh trong viê ̣c công bố thông tin của pháp luâ ̣t các quốc gia ; Nhóm thông tin thứ tư là lịch sử tó m tắt các vấn đề quan tro ̣ng về tài chính và hoa ̣t

đô ̣ng của công ty , báo cáo tài chính của công ty ; nhóm thông tin thứ năm là liên quan đến sự phát triển của công ty như thông tin ảnh hưởng đến giá chứng khoán của công ty , nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh trong năm , lợi nhuâ ̣n dự kiến đều được quy đi ̣nh trong pháp luâ ̣t của các quốc gia [37, tr.246-274]

Trang 30

23

Cụ thể, nội dung các thông tin mà công ty đại chúng phải công bố trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm:

a) Công bố các thông tin tài chính của công ty đại chúng

Báo cáo tài chính của các công ty đại chúng luôn là tài liệu vô cùng cần thiết đối với các nhà đầu tư Thông tin trên BCTC là căn cứ quan trọng, có độ tin cậy cao

và gần như là duy nhất để đánh giá "sức khỏe" của một doanh nghiệp Từ đó, nhà đầu tư sẽ phân tích, xem xét và ra quyết định đầu tư phù hợp

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư số 155/2015/TT-BTC, yêu cầu CBTT định kỳ BCTC năm đã được kiểm toán là yêu cầu bắt buộc Việc kiểm toán BCTC năm nhằm đảm bảo các thông tin tài chính do công ty cung cấp là tin cậy và chính xác, thể hiện đúng đắn vị thế và kết quả hoạt động của công ty Điều này có nghĩa là vào thời điểm kết thúc năm tài chính, các kiểm toán viên sẽ tham gia công việc kiểm kê tài sản, xem xét các vấn đề đền bù, xử lý công nợ, lãi, lỗ… của công ty đại chúng, để đưa ra xác nhận đảm bảo những nội dung, số liệu trong BCTC năm do công ty lập là trung thực, hợp lý hoặc đưa ra các điểm ngoại trừ hoặc từ chối đưa ra

ý kiến kiểm toán…

Về tổ chức kiểm toán thực hiện kiểm toán BCTC năm của công ty đại chúng: Đối với các công ty đại chúng thông thường, BCTC chỉ cần được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập Còn với các công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết, theo khoản 1 Điều 11 Thông tư số 155/2015/TT-BTC, BCTC năm của các công

ty này phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên được UBCKNN chấp thuận

Về thời hạn CBTT Báo cáo tài chính năm: Các công ty đại chúng đều phải CBTT BCTC năm đã được kiểm toán trong thời hạn mười (10) ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán, đồng thời thời hạn CBTT không được vượt quá chín mươi (90) ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính (điểm c, khoản 1 Điều 8

Thông tư số 155/2015/TT-BTC) Thời hạn 90 ngày là khoảng thời gian nhằm đảm

bảo công ty đại chúng có thể hoàn thành việc lập và kiểm toán BCTC năm, nhất là khi thủ tục kiểm toán mang tính phức tạp và mất nhiều thời gian

Trang 31

24

b) Công bố thông tin về tình hình hoạt động và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty đại chúng

 CBTT bất thường khi phát sinh các sự kiện có ảnh hưởng lớn đến quá trình

hoạt động, sản xuất kinh doanh của công ty đại chúng:

Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước đều quy định nghĩa vụ công khai thông tin của công ty đại chúng khi phát sinh các thông tin quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh của công ty như việc ký hợp đồng có giá trị lớn hoặc khi công ty bị tổn thất lớn về mặt tài sản… bởi những thông tin này đều có ảnh hưởng tức thời đến giá chứng khoán Đa số các nước như Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Úc… đều quy định công ty đại chúng phải CBTT ngay lập tức trong các trường hợp này Tại Việt Nam, công ty đại chúng phải CBTT bất thường khi phát sinh các sự kiện được quy định tại Điều 101 Luật Chứng khoán năm 2006; khoản 19 Điều 1 Luật Chứng khoán năm 2010 và được cụ thể tại Điều 9 Thông tư

- Quyết định về mức cổ tức, hình thức trả cổ tức, thời gian trả cổ tức; quyết định tách, gộp cổ phiếu;

- Quyết định tham gia góp vốn thành lập, mua để tăng sở hữu trong một công

ty dẫn đến công ty đó trở thành công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết hoặc bán để giảm sở hữu tại công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết dẫn đến công ty đó không còn là công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết hoặc giải thể công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết; đóng, mở chi nhánh, nhà máy, văn phòng đại diện;

Trang 32

- Khi nhận được Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động của công ty được sửa đổi, bổ sung hoặc khi công ty nhận được thông báo của Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp;

- Các sự kiện khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tình hình quản trị của công ty

- Khi có quyết định về thay đổi kỳ kế toán, chính sách kế toán áp dụng; quyết định khởi tố, tạm giam, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nội bộ của công ty; quyết định phát hành trái phiếu chuyển đổi, khi có sự thay đổi số cổ phiếu có quyền biểu quyết đang lưu hành (Đây là điểm mới của Thông tư số 155/2015/TT-BTC)

 CBTT về tình hình hoạt động và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty

đại chúng tại Báo cáo thường niên:

Báo cáo thường niên (Annual Report ) là tài liệu quan trọng được doanh nghiê ̣p lâ ̣p hàng năm để truyền tải thông tin về quản tri ̣ , hoạt động kinh doanh , tình hình tài chính cũng như các khía cạnh khác của doanh ngh iê ̣p trong mô ̣t năm qua và

đi ̣nh hướng, chiến lược trong thời gian tới

Nhiều doanh nghiê ̣p, đă ̣c biê ̣t là doanh nghiê ̣p niêm yết, đầu tư rất nghiêm túc cho Báo cáo thường niên từ khâu nô ̣i dung, thiết kế cho đến in ấn, bởi vì tài liệu quan trọng này là công cụ giúp tiếp cận nhiều bên có lợi ích liên quan của doanh nghiệp

Theo khoản 2 Điều 8 Thông tư số 155/2015/TT-BTC:

Công ty đại chúng phải lập báo cáo thường niên theo Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này và công bố báo cáo này chậm nhất là 20 ngày sau ngày công bố báo cáo tài chính năm được kiểm toán nhưng không vượt quá 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính [4]

Trang 33

- Tình hình hoạt động trong năm: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh,

Tổ chức và nhân sự, Tình hình đầu tư, tình hình thực hiện các dự án, Tình hình tài chính, Cơ cấu cổ đông, thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu

- Báo cáo và đánh giá của Ban Giám đốc (Ban Giám đốc báo cáo và đánh giá

về tình hình mọi mặt của công ty): Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Tình hình tài chính, Những cải tiến về cơ cấu tổ chức, chính sách, quản lý, Kế hoạch phát triển trong tương lai, Giải trình của Ban Giám đốc đối với ý kiến kiểm toán (nếu có)

- Đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Công ty: Đánh giá của Hội đồng quản trị về các mặt hoạt động của Công ty, Đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Ban Giám đốc công ty, Các kế hoạch, định hướng của Hội đồng quản trị

- Quản trị công ty: Hội đồng quản trị và các hoa ̣t đô ̣ng trong năm , Ban Kiểm soát và các hoa ̣t đô ̣ng trong năm , Các giao dịch, thù lao và các khoản lợi ích của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát

- Báo cáo tài chính: Ý kiến kiểm toán và Báo cáo tài chính được kiểm toán Nghĩa vụ CBTT Báo cáo thường niên đã được nhiều quốc gia quy định như tại Hoa Kỳ, Malaysia, Nhật Bản…, theo đó các công ty đại chúng phải nộp BCTN đến cơ quan quản lý TTCK và phải công bố bản tiếng Anh của tài liệu này trên website của mình với các nội dung khá tương đồng với pháp luật Việt Nam

c) Công bố thông tin liên quan đến quyền biểu quyết của cổ đông công ty đại chúng

Trong công ty đại chúng, các cổ đông thực hiện quyền của mình chủ yếu

Trang 34

27

bằng cách tham gia biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông Một điểm chung giữa quy định pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước là yêu cầu các công ty đại chúng phải công bố trước khi tiến hành các cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên Trước khi họp, công ty đại chúng phải công bố trên trang thông tin điện tử của Công ty và của UBCKNN, SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch) về việc họp Đại hội đồng cổ đông, trong đó nêu rõ đường dẫn đến toàn bộ tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông thường niên chậm nhất là mười (10) ngày trước khi khai mạc họp ĐHĐCĐ (khoản 3 Điều 8 Thông tư số 155/2015/TT-BTC) Biên bản họp, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông thường niên đều phải CBTT trong vòng

24 giờ, kể từ khi có Nghị quyết đó

d) Công bố thông tin về các rủi ro và hệ thống giám sát, quản lý rủi ro của công ty đại chúng

Pháp luật quy định công ty đại chúng phải công bố các rủi ro có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chính của công ty, tình hình đầu tư, thực hiện các dự án, để nhà đầu tư biết Thông thường, công ty đại chúng phải liệt kê các rủi

ro có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các mục tiêu của công

ty trong Báo cáo thường niên Tuy nhiên, trên thực tế các công ty đại chúng đưa thông tin rất hạn chế về các rủi ro tiềm ẩn đối với công ty mình cũng như môi trường đầu tư kinh doanh Trong những năm gần đây chất lượng của BCTN ngày càng nâng cao nhưng vẫn còn những điểm yếu Điểm yếu lớn nhất là trong BCTN thông tin về rủi ro được các công ty đại chúng nêu ra rất chung chung, chỉ vài dòng, không nêu cụ thể rủi ro có thể ảnh hưởng đến hoạt động của công ty cũng như biện pháp mà công ty đưa ra để giảm thiểu rủi ro

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 9 Thông tư 155/2015/TT-BTC, công ty đại chúng phải CBTT bất thường khi xảy ra một số sự kiện có thể đem lại rủi ro lớn cho công ty mà nhà đầu tư cần thiết phải có các thông tin này kịp thời để xác định chiến lược đầu tư hiệu quả, cụ thể công ty đại chúng phải CBTT trong vòng 24 giờ trong các trường hợp sau: khi có thông tin về tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa; thông tin về việc

Trang 35

28

bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động; thông báo của Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp…

đ) Công bố các thông tin khác của công ty đại chúng

Ngoài các thông tin về tài chính, quản trị công ty, thông tin liên quan đến tình hình hoạt động, kết quả sản xuất kinh doanh, thông tin về rủi ro và chính sách phòng ngừa rủi ro, công ty đại chúng còn phải công bố một số thông tin khác như: trường hợp công ty đại chúng chào bán chứng khoán, công ty còn phải định kỳ sáu tháng CBTT về tiến độ sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cho đến khi giải ngân hết số tiền huy động được, đồng thời tuân thủ quy định khác theo pháp luật chào bán chứng khoán

Ngoài ra, công ty đại chúng phải CBTT theo yêu cầu của SGDCK (đối với công ty niêm yết, đăng ký giao dịch), UBCKNN khi xảy ra sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư hoặc khi có thông tin ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó

1.4.2.4 Quy định về phương tiện công bố thông tin, hình thức công bố thông tin

Về phương tiện công bố thông tin: Theo quy định tại Điều 5 Thông tư

155/2015/TT-BTC, công ty đại chúng phải thực hiện CBTT trên Trang thông tin điện tử (website) của mình và Hệ thống công bố thông tin của UBCKNN Điều này cũng quy định công ty đại chúng phải lập trang thông tin điện tử trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày trở thành công ty đại chúng và mọi thông tin phải được thực hiện công bố trên website Yêu cầu này nhằm đảm bảo tính kịp thời của thông tin, đáp ứng nhu cầu về thông tin của nhà đầu tư trên TTCK

Khi lập trang thông tin điện tử phải báo cáo với UBCKNN, SGDCK và công khai địa chỉ trang thông tin điện tử và mọi thay đổi liên quan đến địa chỉ này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hoàn tất việc lập trang thông tin điện tử hoặc khi thay đổi địa chỉ trang thông tin điện tử này; Trang thông tin điện tử phải có các nội dung về ngành, nghề kinh doanh và các nội dung phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh

Trang 36

29

nghiệp và mọi thay đổi liên quan tới các nội dung này; chuyên mục riêng về quan

hệ cổ đông (nhà đầu tư), trong đó phải công bố Điều lệ công ty, Quy chế quản trị nội bộ (nếu có), Bản cáo bạch (nếu có) và các thông tin công bố định kỳ, bất thường

và theo yêu cầu quy định tại Thông tư này; Trang thông tin điện tử phải hiển thị thời gian đăng tải thông tin, đồng thời phải đảm bảo nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm

và tiếp cận được các dữ liệu trên trang thông tin điện tử đó

Về hình thức công bố thông tin: Theo Điều 4 Thông tư 155/2015/TT-BTC,

các công ty đại chúng phải thực hiện CBTT thông qua 01 người đại diện theo pháp luật hoặc 01 cá nhân là người được ủy quyền CBTT của công ty Người đại diện theo pháp luật phải chịu mọi trách nhiệm liên quan đến thông tin do người được ủy quyền CBTT của công ty công bố Nhà đầu tư thuộc đối tượng CBTT là cá nhân có thể tự thực hiện nghĩa vụ CBTT hoặc ủy quyền cho 01 tổ chức (công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đại chúng, thành viên lưu ký, Trung tâm lưu ký chứng khoán hoặc tổ chức khác) hoặc 01 cá nhân khác thực hiện nghĩa vụ CBTT

Đối tượng công bố thông tin được tạm hoãn công bố thông tin trong trường hợp vì những lý do bất khả kháng (thiên tai, hỏa hoạn, ) Trong trường hợp này, đối tượng công bố thông tin phải báo cáo UBCKNN, SGDCK về việc tạm hoãn công bố thông tin ngay khi xảy ra sự kiện, trong đó nêu rõ lý do của việc tạm hoãn công bố thông tin, đồng thời công bố về việc tạm hoãn công bố thông tin Ngay sau khi đã khắc phục được tình trạng bất khả kháng, đối tượng công bố thông tin có trách nhiệm công bố đầy đủ các thông tin mà trước đó chưa công bố theo quy định pháp luật

1.4.2.5 Quy định về xử lý vi phạm công bố thông tin

Hiện nay, việc xử lý hành chính đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ CBTT trên TTCK được quy định tại Nghị định số 108/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK Các nội dung của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 217/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK Theo đó, các hình thức xử lý vi phạm khi công ty đại chúng không tuân thủ quy định về CBTT trên TTCK gồm:

Trang 37

30

- Biện pháp cảnh cáo: Chỉ áp dụng trong trường hợp công ty đại chúng không thực hiện đăng ký người được ủy quyền CBTT; không thông báo, thông báo không đúng thời hạn về việc thay đổi người được ủy quyền CBTT hoặc không thông báo với UBCKNN, SGDCK về địa chỉ trang thông tin điện tử và mọi thay đổi liên quan đến địa chỉ này theo quy định pháp luật

- Hình thức phạt tiền áp dụng với các vi phạm sau: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với hành vi không tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về phương tiện, hình thức CBTT; không lưu giữ thông tin công bố theo quy định pháp luật Nghị định mới này cũng bổ sung quy định về phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với mọi hành vi CBTT không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung theo quy định pháp luật hoặc theo yêu cầu của UBCKNN (trước đây Nghị định 85/2010/NĐ-CP chỉ áp dụng đối với vi phạm về CBTT bất thường) Còn hành

vi không CBTT hoặc CBTT không chính xác theo quy định pháp luật hoặc theo yêu cầu của UBCKNN có mức phạt đến 100.000.000 đồng (tăng so với mức 90.000.000 đồng trước đây) Ngoài ra, Nghị định số 108/2013/NĐ-CP cũng quy định trường hợp công ty đại chúng không lập trang thông tin điện tử cũng bị phạt đến 100.000.000 đồng (trước đây là 30.000.000 đồng), nhằm đẩy mạnh hoạt động CBTT điện tử của công ty đại chúng Bên cạnh đó, Nghị định cũng bổ sung các hành vi vi phạm như: không xác nhận hoặc đính chính thông tin hoặc xác nhận, đính chính thông tin không đúng thời hạn khi có thông tin làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán hoặc khi nhận được yêu cầu xác nhận, đính chính thông tin của UBCKNN (mức phạt đến 100.000.000 đồng) Đặc biệt, đối với hành vi tổ chức trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào việc tạo dựng thông tin sai sự thật, CBTT sai lệch nhằm lôi kéo, xúi giục việc mua, bán chứng khoán hoặc không công bố kịp thời, đầy đủ thông tin về các sự kiện xảy ra có ảnh hưởng đến giá chứng khoán… mức phạt lên đến 1,2 tỷ đồng

Ngoài ra, với vai trò là chủ thể “cung cấp hàng hóa” trên thị trường giao dịch

có tổ chức, các công ty niêm yết/đăng ký giao dịch còn phải tuân thủ quy định của cơ quan tổ chức thị trường - các SGDCK Theo Quy chế CBTT của các SGDCK hiện có năm hình thức xử lý vi phạm khi các công ty niêm yết/đăng ký giao dịch không tuân

Trang 38

31

thủ quy định về CBTT, bao gồm (i) Nhắc nhở bằng văn bản; (ii) Đưa chứng khoán vào diện cảnh báo; (iii) Đưa chứng khoán vào diện kiểm soát; (iv) Tạm ngừng giao dịch; (v) Hủy niêm yết/hủy đăng ký giao dịch cổ phiếu theo quy định tại Quy chế Niêm yết chứng khoán/Quy chế Quản lý thị trường đăng ký giao dịch Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm quy định về CBTT mà Tổng Giám đốc SGDCK quyết định một trong năm hình thức xử lý trên đối với công ty niêm yết/đăng ký giao dịch Các quy định này cũng góp phần đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư, giúp cung cấp hàng hóa có chất lượng trên thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức

Đặc biệt, Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016 đã sửa đổi theo hướng tăng mức phạt đối với cả 3 tội danh liên quan đến lĩnh vực chứng khoán gồm:

(1) tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán; (2) tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán; (3) tội thao túng giá chứng khoán Những hành vi này cần

áp dụng chế tài nghiêm khắc do nó xâm hại đến trật tự quản lý nhà nước

về chứng khoán và TTCK, tạo ra cung cầu giả tạo đối với cổ phiếu, làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào môi trường đầu tư chứng khoán Việt Nam [14]

Như vậy, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng đã

có bước tiến đột phá, đồng bộ, nhằm quản lý, giám sát chặt chẽ các công ty đại chúng, buộc các công ty đại chúng phải minh bạch trong quản trị công ty và CBTT Đi kèm với những quy định trên, Nghị định về xử phạt về vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán cũng đang được sửa đổi, bổ sung và có kế hoạch ban hành trong thời gian tới Đây là những giải pháp đồng bộ mang tính đột phá tại TTCK Việt Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc quản lý, giám sát các công ty đại chúng

1.4.3 Vai trò của pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Thứ nhất, pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng góp phần bảo vệ nhà đầu tư

TTCK được xem là thị trường của thông tin và điều này được minh chứng

Trang 39

32

trong sự phát triển của tất cả các thị trường Trên TTCK, thông tin được công bố

từ công ty đại chúng giúp nhà đầu tư đánh giá được tiềm năng phát triển, khả năng sinh lời để đưa ra quyết định đầu tư Đây chính là cơ sở để hình thành giá chứng khoán Việc quy định nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng càng đầy đủ thì TTCK càng minh bạch, rủi ro cho nhà đầu tư càng giảm và từ đó giúp cho TTCK phát triển bền vững hơn

Ngoài ra luôn tồn tại tình trạng bất cân xứng thông tin trên TTCK do những cổ đông nhỏ thường không có lợi thế về thông tin như các cổ đông chiến lược hoặc người nội bộ, vì vậy họ thường chịu những thiệt hại xảy ra do không nắm bắt được thông tin chính xác, kịp thời Do đó, việc CBTT phải đảm bảo tính chính xác, ngay cả khi điều

đó gây bất lợi cho chính công ty; đồng thời công ty đại chúng phải tuân thủ nguyên tắc kịp thời trong CBTT Quy định này nhằm tránh cho thị trường bị ảnh hưởng bởi tin đồn, làm sai lệch sự hình thành giá cổ phiếu, góp phần bảo vệ nhà đầu tư

Thứ hai, pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng góp phần hạn chế nguy cơ lạm quyền của người quản trị công ty

Bản chất của các công ty đại chúng luôn có sự mâu thuẫn về lợi ích giữa công ty với công chúng đầu tư, mà cụ thể là giữa các nhân sự quản lý với nhà đầu tư

về mặt CBTT Các công ty thường không muốn tiết lộ các thông tin về ban quản trị hoặc thông tin liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh Ngược lại, nhà đầu tư lại muốn biết các thông tin này càng nhiều càng tốt Việc thực hiện nghiêm ngặt chế

độ báo cáo và CBTT có thể ngăn chặn những ảnh hưởng to lớn từ việc che giấu thông tin, các gian lận hay các giao dich nội gián, đồng thời đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin như nhau đối với công chúng đầu tư Yêu cầu các công ty đại chúng phải CBTT định kỳ và bất thường cũng giúp cho công ty hoạt động minh bạch hơn, tránh tình trạng trục lợi, lạm quyền từ các nhân sự chủ chốt bởi việc CBTT đòi hỏi phải trung thực, nhà đầu tư và cơ quan quản lý sẽ kiểm trả tính xác thực của thông tin Ngoài ra, thông qua các thông tin được công bố, các cổ đông nắm bắt được tình hình của doanh nghiệp, từ đó có những quyết định phù hợp với

sự phát triển của chính công ty

Trang 40

Thứ tư, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu xây dựng và hoàn thiện TTCK cũng như phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là rất lớn Để thu hút nguồn vốn này, trước hết môi trường đầu tư và bản thân các doanh nghiệp Việt Nam phải minh bạch bởi nhà đầu tư nước ngoài luôn đầu tư trên cơ sở phân tích thông tin về môi trường đầu tư, tình hình doanh nghiệp để đánh giá những rủi ro Thông thường các công ty có mức vốn hóa lớn, tính minh bạch cao như Vinamilk (VNM), Masan (MSN)… luôn được họ ưu tiên lựa chọn Ngoài ra, Việt Nam cũng đang tham gia chương trình kết nối với các SGDCK ASEAN, nghĩa là để tham gia sân chơi chung này, chúng ta sẽ phải tuân thủ các tiêu chuẩn chung cũng như đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch thông tin như các nước trong khu vực, trong đó có những TTCK rất phát triển như Singapore hay Malaysia

Ngày đăng: 22/05/2017, 12:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Thanh Bình , Phạm Thị Hằng Nga , (2013), “Đẩy ma ̣nh hoa ̣t đô ̣ng công bố thông tin trên thi ̣ trường chứng khoán”, Tạp chí chứng khoán Việt Nam, (180) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy ma ̣nh hoa ̣t đô ̣ng công bố thông tin trên thi ̣ trường chứng khoán”, "Tạp chí chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Tạ Thanh Bình , Phạm Thị Hằng Nga
Năm: 2013
2. Bộ Tài chính (2012), Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/6/2012 hướng dẫn về quản trị công ty đại chúng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/6/2012 hướng dẫn về quản trị công ty đại chúng
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
3. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
4. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 6/10/2015 hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 6/10/2015 hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
5. Chính phủ (2012), Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
6. Chính phủ (2013), Nghị định 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Lê Hoàng Nga, (2012), Quản trị công ty trong các công ty niêm yết và công ty đại chúng ở Viê ̣t Nam, Một số vấn đề về kinh tế Tài chính Viê ̣t Nam 2011-2012 , Trường bồi dưỡng cán bô ̣ tài chính - Bô ̣ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị công ty trong các công ty niêm yết và công ty đại chúng ở Viê ̣t Nam, Một số vấn đề về kinh tế Tài chính Viê ̣t Nam 2011-2012
Tác giả: Lê Hoàng Nga
Năm: 2012
19. Báo Đầu tƣ chứng khoán ra ngày 22/09/2015), http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/co-dong-noi-bo-giao-dich-co-phieu-chui-can-xu-nang-130460.html Link
20. Báo Đầu tƣ chứng khoán ra ngày 23/08/2016), http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/boc-sai-pham-trong-huy-dong-von-cua-doanh-nghiep-khoang-san-161867.html Link
21. Báo điện tử An ninh tiền tệ và truyền thông ra ngày 18/08/2016), http://antt.vn/tap-doan-masan-mua-20-trieu-co-phieu-quy-0120980.html Link
25. Báo điện tử Dân trí, ngày 27/02/2016), http://dantri.com.vn/kinh-doanh/bi-huy-niem-yet-vi-vi-pham-nghiem-trong-cong-bo-thong-tin-2016022707105662.htm Link
26. Báo điện tử Dân Việt, ngày 12/04/2016), http://danviet.vn/kinh-te/nhieu-ngan-hang-danh-cap-thong-tin-cua-co-dong-673379.html Link
27. Báo điện tử Khánh Hòa 24h, ngày 11/05/2016), http://khanhhoa24h.info/vi-pham-ve-cong-bo-thong-tin-nhom-khanh-hoa-bi-phat-50-trieu-dong/ Link
28. Báo điện tử Thời báo tài chính Việt Nam, ngày 26/07/2016), http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/chung-khoan/2016-07-26/2-cong-ty-bi-phat-130-trieu-dong-do-vi-pham-ve-cong-bo-thong-tin-33941.aspx Link
29. Báo điện tử VnEconomy, ngày 04/01/2016), http://vneconomy.vn/chung- khoan/sep-cmi-bi-phat-gan-700-trieu-vi-thao-tung-co-phieu-2016010311425386.htm Link
30. Báo điện tử VTC News ngày 03/07/2015), http://www.vtc.vn/bi-ong-chu-thoi-bay-ngan-ty-dai-gia-nhat-con-co-co-hoi-loi-nguoc-dong-o-vn-d212630.html Link
32. Báo Kinh doanh và Pháp luật ra ngày 16/04/2016), http://kinhdoanhnet.vn/hanoimilk-cham-bao-cao-tai-chinh-vi-nham_t114c16n27931 Link
33. Báo mới, ra ngày 29/06/2016), http://www.baomoi.com/vafi-lai-de-nghi-minh-bach-trong-bo-nhiem-nhan-su-sabeco/c/19727399.epi Link
34. Cổng thông tin điện tử - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, ngày 06/05/2016), http://www.ssc.gov.vn/ Link
35. Cổng thông tin điện tử - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, ngày 12/05/2016), http://www.ssc.gov.vn/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w