1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất sử thi của trường ca sau 1975

85 766 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất Sử Thi Của Trường Ca Sau 1975
Tác giả Nguyễn Thị Thảo
Người hướng dẫn Ngô Thái Lễ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam Hiện Đại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 240 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là sử thi và chất sử thi là một trong những đặc trng nổi trội của thể loại trờng ca Việt Nam hiện đại viết trong những năm chiến tranh ác liệt và ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc..

Trang 1

Trờng đại học vinh khoa ngữ văn - -

Nguyễn thị thảo

Khóa luận tốt nghiệp đại học

chất sử thi của trờng ca sau

1975

Chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại

vinh 2009

Trang 2

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo Ngô Thái Lễ, các

thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn và các bạn đồng nghiệp

Do cha có nhiều kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu khoa học, trình độ còn có hạn, điều kiện thời gian không cho phép cũng nh trong quá trình in ấn không tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong đợc sự thông cảm, sự góp ý chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2009.

Sinh viênNguyễn Thị Thảo

Mục lục

Trang 3

A Mở đầu

1

1 Lý do chọn đề tài

1

2 Lịch sử vấn đề

5

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

11

4 Phơng pháp nghiên cứu

11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

13

6 Cấu trúc khóa luận

13

B Nội dung

15

Chơng 1: Chất sử thi của trờng ca sau 1975 trong sự vận động chung

của nền văn học Việt Nam mang khuynh hớng sử thi

15

Trang 4

1.1 Trờng ca sau 1975 trong sự phát triển chung của trờng ca Việt Nam hiện đại

15

1.1.1 Khái niệm trờng ca

15

1.1.2 Sự phát triển của trờng ca trong nền văn học Việt Nam hiện đại

17

1.1.3 Sự nở rộ của trờng ca sau 1975

19

1.2 Trờng ca sau 1975 tiếp tục viết theo khuynh hớng sử thi

24

1.2.1 Thuật ngữ sử thi

24

1.2.2 Những cơ sở cho sự xuất hiện chất sử thi trong trờng ca sau 1975 26

1.2.2.1 Cơ sở lịch sử xã hội

26

1.2.2.2 Cơ sở văn học

27

Chơng 2: Chất sử thi của trờng ca sau 1975 xét trên phơng diện nội dung

Trang 5

31

2 1 Cái tôi sử thi

31

2.1.1 Bản chất của cái tôi sử thi

31

2.1.2 Những biểu hiện của cái tôi sử thi

33

2.1.2.1 Cái tôi thế hệ mang tầm vóc cái ta dân tộc hớng tới cái cao cả hào hùng

33

2.1.2.2 Cái tôi chuyển sang âm hởng đối thoại với sử thi

42

2.2 Những hình tợng chính biểu hiện chất sử thi

44

2.2.1 Hình tợng ngời lính

44

2.2.2 Hình tợng Tổ Quốc

47

2.2.3 Hình tợng nhân dân

49

Trang 6

Chơng 3: Chất sử thi của trờng ca sau 1975 xét trên phơng diện nghệ thuật

53

3.1 Chất sử thi của trờng ca sau 1975 trên phơng diện kết cấu

53

3.2 Chất sử thi của trờng ca sau 1975 trên phơng diện nghệ thuật xây dựng nhân vật

59

3.3 Chất sử thi của trờng ca sau 1975 trên phơng diện ngôn ngữ

62

3.3.1 Đa ngôn ngữ thơ trở về gần ngôn ngữ đời sống

63

3.3.2 Vận dụng linh hoạt các biện pháp tu từ

65

3.4 Chất sử thi của trờng ca sau 1975 trên phơng diện giọng điệu

70

C Kết luận

74

Tài liệu tham khảo

78

Trang 7

a mở đầu

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, trờng ca là thể loại chiếm tỉ lệ nhỏ nhng lại có những đóng góp đáng kể vào diện mạo phát triển thơ ca dân tộc Đặc biệt nó đã làm sống lại âm hởng của một thể loại vốn chỉ tồn tại ở những thời kỳ ban đầu của sự phát triển xã hội và có trớc khi bắt đầu: “Sự sản sinh nghệ thuật thực sự” (Mác) Đó là sử thi và chất sử thi là một trong những

đặc trng nổi trội của thể loại trờng ca Việt Nam hiện đại viết trong những năm chiến tranh ác liệt và ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc Trờng ca viết trong những năm chiến tranh ác liệt mang đậm chất sử thi Đó là một điều tất yếu, hợp quy luật Vì nó nằm trong hệ thống một nền văn học sử thi rộng lớn Thế nhng, sau 1975 đặc biệt trong khoảng mời năm đầu một loạt trờng ca ra đời vẫn tiếp tục khơi dậy nguồn mạch sử thi đã chảy khá lâu trong nền văn học truyền thống Đây quả là một điểm độc đáo, đầy bất ngờ

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sau 1975 với sự xuất hiện hàng loạt những tác phẩm trờng ca đã gây

nên một hiện tợng lạ trong văn học, thu hút sự chú ý của đông đảo độc giả cũng

nh giới phê bình ở thời điểm đó và cho đến mãi sau này Ngời viết khóa luận này cũng nằm trong số những độc giả đó Tôi đã thực sự ấn tợng mạnh với sự xuất hiện “kỳ lạ” này, từ đó kích thích sự tò mò, niềm say mê hứng thú với thể loại trờng ca Đây là một thể loại văn học có bề dày lịch sử Qua mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, trờng ca có những tên gọi riêng phù hợp với từng thời kỳ

Đồng thời, trong quá trình phát triển của mình, trờng ca có sự vận động, biến

đổi để phù hợp với từng thời đại.Việc nghiên cứu trờng ca ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ khác nhau là công việc rất cần thiết để nhận diện rõ đặc điểm của chúng

Trang 8

1.2 Trờng ca viết trong thời gian chiến tranh mang đậm chất sử thi Trờng ca

viết sau chiến tranh cũng tiếp tục kế thừa đặc điểm đó Vậy sau một độ lùi thời gian, đặc điểm đó có còn giữ nguyên tính thuần khiết nữa không? Đây là một câu hỏi khá thú vị, hấp dẫn khiến nhiều độc giả phải băn khoăn, day dứt, trăn trở Chính điều đó cũng đã thôi thúc ngời viết khóa luận này muốn tìm câu trả lời, tạo niềm hứng thú và say mê để lựa chọn và tìm hiểu đề tài này

Thật vậy cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra cho dân tộc ta một thời kì lịch sử mới, thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH dới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam Hơn nửa thế kỉ đó nhân dân ta đã tiến hành hai cuộc kháng chiến gian khổ, lập nên những kỳ tích đánh thắng những kẻ thù có tiềm lực kinh tế - quân sự hơn hẳn mình bảo vệ độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nớc Trong hoàn cảnh đầy thử thách này, nền văn học cách mạng ra đời và không ngừng phát triển cả về chất và về lợng Sự chuyển biến về chất và lợng ở đây đã đợc chuẩn bị một phần từ giai đoạn trớc, một phần

do những tác động tích cực của các tác giả trẻ đã đợc rèn luyện qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng

ta về đờng lối văn nghệ tạo nên Nó đã làm cho thế giới quan, nhân sinh quan trong cuộc sống và tác phẩm văn học thực sự chuyển đổi mạnh mẽ, đều khắp

Từ đó tác động mạnh đến hệ thống thể loại văn học Đây cũng là thời kỳ, chuyển biến mạnh về mặt thể loại và phơng pháp sáng tác góp phần đẩy nhanh

và lạ của các sáng tác văn học

Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn văn học thờng có một hệ thống thể loại với t cách những mô hình nghệ thuật tơng ứng, phản ánh đặc điểm xã hội văn hóa, trình độ nhận thức và nhu cầu thẩm mỹ của ngời đọc Nên hệ thống thể loại cùng sự vận động và biến đổi của nó trong quá trình phát triển của văn học là một phơng diện quan trọng bộc lộ quan niệm văn học và đặc điểm t duy nghệ thuật của một thời đại Vì thế cấu trúc thể loại của mỗi giai đoạn văn học luôn

Trang 9

có những nét khác biệt so với giai đoạn trớc nó Nhng dù có những nét khác biệt

ta không thể không thấy rằng những biến đổi này luôn luôn có ý nghĩa tiếp nối truyền thống của giai đoạn trớc, đồng thời đa toàn bộ truyền thống này sang một giai đoạn phát triển mới về chất Nếu nh thơ lãng mạn 1930 - 1945 là sự trổi dậy của cái tôi cá nhân thì thơ giai đoạn 1945 - 1975 là một nền thơ có tính tập trung cao, có xu hớng nhất thể hóa quan niệm thẩm mỹ và cảm hứng trữ tình Đặc điểm của thơ giai đoạn này thấm đậm tinh thần sử thi Lấy thể tài lịch

sử xã hội làm nội dung khai thác chủ yếu, lấy số phận cộng đồng làm đối tợng thể hiện và phân tích, lấy cảm hứng anh hùng ca làm nền tảng, nên đã phản ánh

đợc những chuyển động kì vĩ của lịch sử dân tộc, làm sáng lên những phẩm chất tinh thần cơ bản của cả cộng đồng Sử thi với t cách là siêu thể loại đã thâm nhập và ảnh hởng vào mỗi thể loại đặc biệt là thể trờng ca Một số những trờng

ca ra đời trong giai đoạn này nh: Ba mơi năm đời ta có Đảng (1960 - Tố Hữu); Bài ca chim Chơ Rao (1963 - Thu Bồn); Theo chân Bác (1970 - Tố Hữu); Mặt

đờng khát vọng (1971 - Nguyễn Khoa Điềm); Nớc non ngàn dặm (1973 - Tố

Hữu) đã thể hiện xu h… ớng chung của thơ ca trong sự cố gắng vơn lên nhận thức tầm lớn lao của thực tế cách mạng Thơ không chỉ tự bằng lòng đóng khung trong những bức tranh gọn hẹp những cảm xúc ngắn gọn mà còn có khát vọng vơn dài, nới rộng những khám phá và biểu hiện tầm sử thi của cuộc sống Chính trên những đề tài lớn, trên những vấn đề có ý nghĩa khái quát sâu rộng, trờng ca tỏ ra có nhiều hiệu quả trong việc thể hiện cuộc sống cách mạng, trong việc mở rộng tầm suy nghĩ, tầm nhận thức của thơ - nhận thức bằng tự sự bằng suy nghĩ Bởi thế nếu trong thơ ngắn, thơ tồn tại ở dạng trữ tình thuần khiết thì trong trờng ca thơ ít nhiều có yếu tố kể chuyện, ít nhiều có một câu chuyện, một cốt truyện, tính cách và hoàn cảnh, sự kiện và chi tiết, miêu tả chân thực bức tranh sinh động của cuộc sống hiện tại Vì thế phần lớn các tác phẩm trờng ca giai đoạn này là sự thể hiện cảm hứng sử thi hào hùng

Trang 10

Năm 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử chúng ta đã quét sạch đế quốc Mỹ ra khỏi lãnh thổ nớc ta Tuy nhiên đất nớc vẫn cha hoàn toàn sạch bóng quân thù Chúng ta vẫn phải đơng đầu với những cuộc chiến tranh biên giới chống lại bọn Pôn-pốt-Iêng-xa-ri để bảo vệ biên giới của tổ quốc Tuy vậy những cuộc chiến tranh này mang tính chất lẻ tẻ không phát triển thành cuộc chiến tranh mang tính chất dân tộc Nhìn trên đại thể sau 1975 đất nớc ta cơ bản thống nhất bớc sang trang mới, khép lại trang sử vẻ vang hào hùng trong lịch sử dân tộc Mặc dù chiến tranh đã qua đi nhng âm hởng hào hùng và khí thế anh hùng ca vẫn còn vang vọng mãi Âm hởng đó, khí thế đó đã tạo nên nguồn cảm hứng mãnh liệt thôi thúc các nhà thơ cho ra đời hàng loạt những tác phẩm trờng

ca mang âm hởng sử thi Hầu hết những tác giả trờng ca đều là những ngời đã kinh qua chiến tranh với những trải nghiệm sâu sắc Phải chăng những ngời viết trờng ca hôm nay, trong ý thức về thể loại đang muốn bằng tiếng hát, bằng hình thức giọng ca của mình, khắc họa cho đợc cuộc sống một thời của chúng ta vào cuộc sống vĩnh cửu hoặc ít nữa cũng là để nhớ về cội nguồn sử thi, nhớ về văn hóa sử thi cổ Có thể nói sự phát triển của thể loại trờng ca trong vòng một thập

kỉ đầu sau khi chiến tranh chấm dứt là một biểu hiện cụ thể của xu hớng sử thi hóa ở văn học xã hội chủ nghĩa Trong một hoàn cảnh đã thay đổi, chất sử thi của trờng ca sau 1975 đã không còn giữ nguyên tính sử thi thuần khiết nữa Đó

là lý do cần đợc khảo sát và nghiên cứu để thấy chất sử thi một nét riêng lẻ

nh-ng hấp dẫn nổi trội nhnh-ng thú vị và khác lạ tronh-ng bút pháp của nhữnh-ng nh-ngời viết ờng ca sau 1975 Hơn nữa cũng là để hiểu thêm những chuyển biến và đóng góp của trờng ca sau 1975 trong việc lu giữ những yếu tố “hạt nhân”, những “mã di truyền” để bảo tồn trạng thái của một thể loại văn học quá khứ, mặt khác có xu hớng biến thể cho phù hợp với thời đại văn học ngày nay

tr-1.3 Ngoài ra, xét về mặt thực tiễn giảng dạy hiện nay, chúng ta thấy các

tác phẩm trờng ca góp mặt khá khiêm tốn trong chơng trình THPT, cũng nh cao

đẳng, đại học Đặc biệt là những trờng ca sau 1975 hầu nh ít đợc nói đến Mặc

Trang 11

dù vậy việc nghiên cứu chất sử thi của trờng ca sau 1975 vẫn rất cần thiết Nó tạo tiền đề lí luận giúp học sinh, sinh viên hiểu sâu sắc hơn một trong những

đặc điểm cơ bản xuyên suốt của nền văn học cách mạng Việt Nam - đó là chất

sử thi và cảm hứng lãng mạn Hơn nữa đặc điểm đó vẫn đợc bảo tồn và lu giữ ở thể loại trờng ca ngay cả khi chiến tranh không còn Thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận còn thể hiện sự mong muốn sơ kết một chặng đờng đóng góp của thể loại trờng ca vào nền văn học nớc nhà, và sự vận động bền bỉ bên trong của thể loại, thay đổi để thích ứng với nhu cầu và quan niệm thẫm mĩ mới

2 Lịch sử vấn đề

Trờng ca đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử văn học dân tộc Trong thời gian chiến tranh đã ra đời nhiều tác phẩm trờng ca có giá trị Nhng đặc biệt sau khi chiến tranh kết thúc, với sự xuất hiện ồ ạt những tác phẩm trờng ca đã trở thành “hiện tợng” nổi bật mang tính thời sự trong văn học Chỉ trong vòng một thập kỉ đầu sau chiến tranh số lợng trờng ca phải tính đến hàng chục tác phẩm

Đó là con số không phải là ít Nó trở thành một vấn đề nóng bỏng trong giới sáng tác, các nhà thơ đua nhau viết trờng ca với quan niệm rằng: “nhà thơ không trờng ca khác nào nhà vua không vơng miện” Không khí nóng bỏng trong giới sáng tác đã nhanh chóng lan truyền sang giới nghiên cứu phê bình Không khí tranh luận thực sự căng thẳng trên các tạp chí văn học và văn nghệ quân đội vào những năm 1980 - 1982, là thời kì sung sức của trờng ca Những bài viết, những chuyên luận trực tiếp, những bài phê bình, những công trình nghiên cứu về thơ chống Mỹ, thơ hậu chiến, ở mọi góc độ đều bàn đến thể loại trờng ca

Nhìn chung các ý kiến, những bài phê bình, những công trình nghiên cứu

đều xoay quanh một số vấn đề cơ bản sau: Bàn về khái niệm trờng ca và những

đặc trng về nội dung và nghệ thuật của thể loại trờng ca; Giải thích những nguyên nhân dẫn đến sự nở rộ của trờng ca sau 1975 và đánh giá đặc điểm của trờng ca nh một thành tựu lớn của thơ đợc nhìn trong sự vận động và biến đổi

Trang 12

thể loại Do vậy, khi xem xét lịch sử vấn đề chúng tôi cũng xem xét lịch sử những vấn đề cơ bản đó.

2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về khái niệm trờng ca và những đặc trng về nội dung và nghệ thuật của trờng ca

Sau sự nở rộ của trờng ca trong khoảng thập kỉ đầu khi chiến tranh kết thúc, ngời ta bắt đầu có nhu cầu tìm hiểu về khái niệm trờng ca để tìm cho nó một định nghĩa hoàn chỉnh Theo Đỗ Văn Khang, khái niệm “trờng ca” không phải là một thuật ngữ chính xác và khoa học, “bởi lẽ khái niệm này không nói lên đợc đặc trng cơ bản của một thể loại thơ nào cả Hơn nữa nó còn gây nên tình trạng mơ hồ lẫn lộn” [12, 93] Vũ Đức Phúc cũng có nhận định nh vậy khi

cho rằng: “Trờng ca là một thuật ngữ văn học mới cha chính xác, cha ổn định”

[27, 93] Phạm Tiến Duật trong bài “Nhân bàn về trờng ca đôi điều nghĩ về hình thức” cho rằng: “trờng ca từ trớc đến nay ở nớc ta cũng đã biến thiên khá nhiều Đến những trờng ca đợc viết trong mấy chục năm nay không giống với những trờng ca cổ điển nữa” [7, 117] Hữu Thỉnh trong bài viết “Vài suy nghĩ nhỏ” cũng đã cố gắng tìm một định nghĩa hoàn chỉnh về trờng ca Theo

ông, “trờng ca cũng giống nh các thể loại khác đã và đang có sự thay đổi phát triển Rõ ràng những ngời viết trờng ca bây giờ không còn quan niệm giống

nh thời của tác giả Iliat và Ôđixê nữa Từ các trờng ca Tây Nguyên đến các trờng ca mới xuất hiện, nhận thức về thể loại của ngời viết đã trải qua một chặng đờng dài” [37, 120].

Nhìn chung có nhiều ý kiến khác nhau bàn về khái niệm trờng ca nhng cho đến nay vẫn cha thống nhất đợc các ý kiến

Trên cơ sở đi tìm một định nghĩa hoàn chỉnh về trờng ca, các bài viết của những nhà nghiên cứu cũng đã có những điểm gặp gỡ chung, đều có một cách nhìn và đánh giá tơng đối giống nhau về thể loại trờng ca nh sau:

Hớng vào những sự kiện và vấn đề lớn của cuộc sống cách mạng, trờng

ca thờng thiên về khai thác và biểu hiện mặt đẹp đẽ cao cả, hào hùng Tuy “

Trang 13

tầm cỡ lịch sử” rất khác nhau nhng tất cả đều mang hơi thở thời đại: Đó là những tình cảm thiêng liêng trong sạch với nhân dân đất nớc trong những ngày tháng làm nên lịch sử Đó là những suy tởng về lẽ sống của một thế hệ đã lớn lên và hóa thân trong chiến tranh Đó là những suy nghĩ về ý nghĩa của chiến thắng và những sự hi sinh trong cuộc chiến đấu ác liệt và oanh liệt vừa qua [10, 57] Nhà lý luận văn học Đỗ Văn Khang cho rằng, vấn đề quan trọng nhất ở tr-ờng ca là: “phải xem xét cái trạng thái tổng thể của thế giới hiện đại mà các tác giả trờng ca mô tả nó trong trạng thái gì” Và theo tác giả cái làm nên chất

sử thi của trờng ca là: “chất khái quát tổng thể lịch sử là cái phong cách đồ sộ, hoành tráng muốn thâu tóm cả một thời kì hoạt động sôi nổi của cả dân tộc

để làm nên cái mục đích tinh thần và bản chất sự nghiệp dân tộc đang theo

đuổi” [13, 38] Trên cơ sở đó tác giả cho rằng trong trờng ca có cá tính nhng là:

“cái cá tính trong trạng thái thế giới dân tộc”, chúng đợc biểu hiện “qua cái tôi nhà thơ” Còn xét về mặt loại hình, trờng ca lấy “tự sự làm chính vì thế vẫn có thể coi nó là khúc ca anh hùng” Quan niệm này ta cũng tìm thấy trong bài

Xung quanh mấy vấn đề trờng ca” của nhà nghiên cứu văn học Vũ Đức Phúc

Tác giả đã phân tích những khả năng của thời đại cho phép tồn tại những anh hùng ca hiện đại - tức trờng ca

Điểm qua các ý kiến đánh giá về thể loại trờng ca ta có thể thấy các nhà nghiên cứu đã rất chú ý đến phơng thức tự sự - phần làm nên cái khung xơng của tác phẩm: “Ta thờng gặp nhiều kiểu tự sự khác nhau Có nhiều trờng ca lấy những biến cố của một quá trình lịch sử làm điểm tựa kết cấu Nhiều tr- ờng ca dựa vào một hệ thống sự kiện hoặc cốt truyện có thật Nhiều trờng ca dựa hẳn vào một cốt truyện h cấu Có khi sờn tự sự là cả một cuộc hành trình

mà những sự kiện mắt thấy tai nghe, những ngời và cảnh dọc đờng chính là

điểm tựa cho cảm xúc suy nghĩ” [3, 32] Họ nhấn mạnh đến việc khai thác các

phơng thức thể hiện phong phú ở trờng ca sử thi dân gian nh các mô típ cốt truyện, mô típ biểu hiện các phơng thức chuyển nghĩa trong ngôn ngữ thơ…

Trang 14

Nhìn chung các phơng diện nh vậy đều đã đợc soi sáng dới nhiều góc độ khác nhau và bằng sự đánh giá trân trọng đề cao.

ở nhiều những góc độ khác nhau những ý kiến đa ra đều xoay quanh những vấn đề về nội dung, hình thức của trờng ca Nhng nhìn chung các ý kiến còn tản mạn cha thống nhất hầu nh mới chỉ dừng lại ở vài ý nhỏ, những suy nghĩ nhỏ

2.2 Vấn đề giải thích nguyên nhân tại sao sau 1975 trờng ca lại xuất hiện

nhiều nh vậy, đã có nhiều ý kiến khác nhau bàn về vấn đề này Các bài viết

đăng trên các báo, tạp chí văn học, văn nghệ quân đội đã nói nhiều đến vấn đề

nở rộ của trờng ca Đó là các bài viết của Vũ Quần Phơng, Phạm Ngọc Cảnh, Hữu Thỉnh rồi trong một số công trình nghiên cứu của Nguyễn Đăng Điệp,…Mã Giang Lân, Vũ Tuấn Anh cũng đã tập trung lý giải nguyên nhân sự nở rộ…của trờng ca sau 1975 Hầu hết các ý kiến cho rằng nguyên nhân cơ bản là: “sự

đòi hỏi thúc bách của đời sống” là “xu hớng tổng kết chặng đờng chiến tranh dân tộc đã qua và u thế của thể loại trờng ca trong việc chuyển tải nội dung

đó” [28, 163].

2.3 Trờng ca sau năm 1975 cũng đợc bàn đến khá nhiều trong một số

công trình nghiên cứu về thơ Việt Nam hiện đại

Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức trong công trình nghiên cứu: “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại” đã xếp “trờng ca” là hình thức phổ biến của

áng thơ tự sự Các tác giả này cho rằng trờng ca là một hình thức của truyện thơ nhng không phải mọi loại truyện thơ nào cũng là trờng ca Trờng ca không dung nạp mọi loại đề tài và tính cách Đề tài thờng gắn với các phạm trù thẩm mỹ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả Tính cách phải có những phẩm chất cao cả ở mức

độ này hay ở mức độ khác Tuy nhiên do chỉ dừng lại ở việc “điểm danh” các hình thức thơ ca để phục vụ mục đích nghiên cứu, nên chuyên luận chỉ nói sơ qua về thể loại trờng ca và đa ra những kết luận cha thực sự thuyết phục

Trang 15

Nguyễn Đăng Điệp trong chuyên luận: “Thơ Việt Nam sau 1975 - diện mạo và khuynh hớng phát triển” đã đề cập đến trờng ca nh một thành tựu nổi

bật của thơ Việt Nam sau 1975 Ông đã chỉ rõ sự thay đổi và khuynh hớng phát triển của hai đợt sóng trờng ca (đợt thứ nhất là vào những năm cuối thập kỷ 70

đầu thập kỷ 80, đợt thứ hai xuất hiện những năm cuối thế kỷ XX) Tác giả nhấn mạnh: “Sự vạm vỡ, tính trờng sức của thể loại đợc gắn kết với những trải nghiệm cá nhân và những suy t mang tính khái quát cao đã khiến cho thơ ca giai đoạn này có đợc những khúc ca giàu tính nghệ thuật về đất nớc nhân dân” Tuy nhiên thể loại trờng ca cũng chỉ đợc nhắc đến với số lợng câu chữ khá khiêm tốn, chỉ mang tính chất điểm qua cho đầy đủ “diện mạo” thơ Việt Nam sau 1975

Vũ Tuấn Anh trong công trình: “Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 -1995”

cũng đã đề cập đến đặc điểm thể loại trờng ca nh là thể loại biểu hiện các dạng thức của cái tôi trữ tình trong sự vận động của thơ Việt Nam 1945 -1995 Tác giả nhận định: “Thể trờng ca đã có những thành công đỉnh cao nh là sự tổng hợp về chất toàn bộ quá trình phát triển của t duy thơ trong tinh thần sử thi” Tuy nhiên, công trình cũng chỉ đề cập đến thể loại trờng ca nh một thể loại nhỏ nằm trong mạch vận động của thơ trữ tình giai đoạn từ 1945 - 1995

Mã Giang Lân trong công trình nghiên cứu: “Văn học hiện đại Việt Nam vấn đề - tác giả” cũng đã đánh giá đặc điểm của trờng ca nh một thành tựu lớn

của thơ Nhìn thể loại trờng ca trong sự vận động, biến đổi thể loại và hình thức cho phù hợp với việc phản ánh hiện thực cuộc sống

Gần đây, Vũ Văn Sỹ trong chuyên luận: “Về một đặc trng thi pháp thơ Việt Nam” đã tìm hiểu khá công phu những đặc điểm của trờng ca hiện đại Việt

Nam trên phơng diện nghệ thuật Theo tác giả, trờng ca không nằm ngoài quy luật vận động chung của thơ trữ tình, và một trong những hiện tợng mang tính quy luật đó là sự tăng cờng chức năng của các yếu tố tự sự trong thơ trữ tình Tác giả đã đi vào khảo sát sự thâm nhập lẫn nhau giữa các yếu tố tự sự và trữ

Trang 16

tình trong trờng ca nh: tuyến sự kiện, nhân vật và vai trò của nó trong kết cấu ờng ca để làm nổi bật những đặc trng của nó trong trờng ca Việt Nam hiện đại

tr-Nhìn chung xoay quanh việc nghiên cứu trờng ca sau 1975 có nhiều những bài viết tranh luận khác nhau Song hầu hết các ý kiến còn tản mạn, cha

có hệ thống Tất cả những ý kiến này hầu nh cha làm nổi bật một cách hệ thống các bình diện của chất sử thi trong trờng ca sau 1975 Kế thừa ý kiến của những ngời đi trớc nhng để tránh sự trùng lặp mà nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề có liên quan, chúng tôi khảo sát những bình diện của chất sử thi trong trờng ca sau

1975 theo hai hệ thống: Chất sử thi xét trên phơng diện nội dung và chất sử thi xét trên phơng diện nghệ thuật Đồng thời qua đó cho phép chúng tôi hình dung diện mạo thực, đặc sắc thực của những kiến thức thể loại và: “Chúng ta mới thấy hết sự sáng tạo của các nhà thơ về mặt thể loại vì xét trên một khía cạnh nào đó thì thể loại của tác phẩm là hình thức mà nhà văn tạo ra theo yêu cầu phô diễn cái chứa đựng bên trong chứ nó không phải là cái khuôn chung có thể trừu tợng vạch ra bằng sơ đồ lôgic” [4, 8] Trong văn học cách mạng có sự xuất hiện ngày càng nhiều những trờng ca lớn, xứng đáng với tầm vóc thời đại của sự sống cách mạng, xứng đáng với những trang sử chói lọi mà Đảng và dân tộc ta

đã viết nên trong nửa thế kỷ qua Trờng ca sau 1975 vẫn tiếp tục mạch truyền thống đó Cho nên việc nghiên cứu trờng ca sau 1975 từ góc độ sử thi theo chúng tôi là một việc làm mới mẻ và cần thiết

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Ngay từ tên đề tài đã xác định rõ đối tợng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận này tập trung nghiên cứu: “Chất sử thi của trờng ca Việt Nam sau 1975” nhằm làm sáng tỏ một trong những đặc trng nổi trội của thể trờng ca nói riêng

và của nền văn học cách mạng Việt Nam nói chung

Trong thời kỳ chiến tranh đã xuất hiện một số tác phẩm trờng ca đạt đợc những thành tựu về nội dung và nghệ thuật Sau năm 1975 số lợng trờng ca ra

đời một cách ồ ạt Giai đoạn đầu sau chiến tranh các tác phẩm trờng ca còn

Trang 17

mang âm hởng sử thi nhng càng vào những năm cuối của thế kỉ XX chất sử thi trong trờng ca nhạt dần Do vậy để nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành khảo sát các tác phẩm trờng ca xuất hiện vào những thập niên 70, 80, của thế kỉ XX tập trung vào những tác phẩm tiêu biểu sau:

1 Những ngời đi tới biển (1976 - Thanh Thảo)

2 Đờng tới thành phố (1977 - Hữu Thỉnh)

3 Trờng ca s đoàn (1977 - Nguyễn Đức Mậu)

4 Mặt trời trong lòng đất (1979 - Trần Mạnh Hảo)

5 Con đờng của những vì sao (1981 - Nguyễn Trọng Tạo)

Những tác phẩm trờng ca ra đời trớc đó và sau đó đợc chúng tôi liên hệ

so sánh để cung cấp một cái nhìn khái quát toàn diện về sự phát triển của trờng

ca Đặc biệt thể loại trờng ca xét ở một khía cạnh nào đó có quan hệ mật thiết với thơ trữ tình dạng ngắn nên trong quá trình nghiên cứu đợc chúng tôi sử dụng

để đối sánh Còn các thể loại khác nh tiểu thuyết, tùy bút, bút kí không thuộc…

đối tợng nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi chỉ sử dụng để liên hệ so sánh khi cần thiết

Trang 18

áp dụng phơng pháp thống kê nhằm chỉ ra sự lặp lại những chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc khảo sát từng bình diện của chất sử thi đặc biệt là phần liên hệ đến chất sử thi của các tác phẩm trờng ca.

4.2 Phơng pháp phân tích

Đây là phơng pháp truyền thống thờng gặp trong quá trình tìm hiểu và cảm thụ tác phẩm văn học Để khái quát và đánh giá đợc chất sử thi của trờng ca sau 1975 một cách khoa học khách quan ngời viết cũng đã vận dụng phơng pháp phân tích cụ thể từng hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ, nhịp điệu thơ Đây là ph… ơng pháp cơ sở rất cần thiết trong quá trình nghiên cứu Muốn tổng hợp và đánh giá chính xác khách quan phải trải qua quá trình phân tích

4.3 Phơng pháp so sánh

Sức mạnh của so sánh là ở nhận thức và cụ thể hóa đối tợng Trong khi nghiên cứu chất sử thi của trờng ca sau 1975 chúng tôi thấy rất cần thiết phải sử dụng phơng pháp này So sánh để tìm ra những nét tơng đồng và dị biệt của chất

sử thi trong trờng ca trớc và sau 1975 Từ đó để thấy đợc những nét riêng biệt và tài năng sáng tạo của các nhà thơ trong khát vọng muốn khái quát một chặng đ-ờng lịch sử hào hùng của dân tộc vào thể loại trờng ca - thể loại có nhiều u thế hơn cả Đối tợng để so sánh là những tác phẩm trờng ca trớc đó, hoặc cùng thời, hoặc những tác phẩm, mặc dù không cùng thể loại nhng có những nét gần gũi tơng đồng với đối tợng đang nghiên cứu

4.4 Phơng pháp tổng hợp

Để thấy đợc chất sử thi biểu hiện cụ thể trên từng bình diện ở thể loại ờng ca sau 1975, chúng tôi không thể sử dụng riêng biệt từng phơng pháp Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn các phơng pháp khác nhau nhằm mục đích làm rõ đợc vấn đề cần nghiên cứu Sau quá trình thống kê, hệ thống, so sánh, cần phải tổng hợp và khái quát để đánh giá đ-

Trang 19

tr-ợc thành tựu của thể loại trờng ca và bớc chuyển biến của nó trong sự vận động của tiến trình thơ Việt Nam hiện đại.

5 Nhiệm vụ của đề tài

Khi trình bày lý do chọn đề tài, chúng tôi cũng đã xác định nhiệm vụ chính cần phải làm khi thực hiện đề tài này nh sau:

- Cần làm rõ đợc những biểu hiện của chất sử thi trên những bình diện cụ thể trong thể loại trờng ca

- Trên cơ sở đó, thấy đợc những nét khác biệt của chất sử thi trong trờng

ca sau 1975 so với trớc đó, và sự vận động phát triển của thể loại trờng ca trong

hệ thống thể loại văn học Việt Nam

- Ngoài ra, nhiệm vụ của đề tài này còn góp phần giải thích tại sao sau

1975 thể loại trờng ca lại phát triển rầm rộ nh vậy Và chất sử thi đợc hiểu nh là một bình diện của thi pháp sáng tác vẫn đợc các tác giả sử dụng nhiều Từ đó ngời viết rút ra đợc những vấn đề có tính chất lí luận giúp bạn đọc hiểu thấu đáo hơn, sâu sắc hơn về khái niệm “chất sử thi”

6 Cấu trúc của khóa luận

Khóa luận gồm 3 phần, ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm các chơng sau đây:

Chơng 1: Chất sử thi của trờng ca sau 1975 trong sự vận động chung của

nền văn học Việt Nam mang khuynh hớng sử thi

Chơng 2: Chất sử thi trong trờng ca sau 1975 biểu hiện trên phơng diện

Trang 21

b nội dung

Chơng 1

Chất sử thi của trờng ca sau 1975 trong sự vận

động chung của nền văn học Việt Nam mang

khuynh hớng sử thi

1.1 Trờng ca sau 1975 trong sự phát triển chung của trờng ca Việt Nam hiện đại

1.1.1 Khái niệm trờng ca

Khái niệm trờng ca bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX, dùng để gọi tên những sáng tác dân gian có tính sử thi và có độ dài nh Đam San, Xinh Nhã theo cách gọi này tr… ờng ca còn đợc hiểu nh là sự

đồng nhất với sử thi, anh hùng ca (Iliat, Ôđixê, Ramayana ) hoặc nh… các Khan

ở Tây Nguyên, các Mo của dân tộc Mờng vùng núi Tây Bắc Khái niệm trờng

ca dần dần đợc vận dụng để gọi tên những tác phẩm thơ hiện đại dài hơi có dung lợng lớn, sự kiện bao quát và có quy mô cảm xúc, t tởng lớn Thực tế sáng tác, đặc biệt là sự phát triển rầm rộ của trờng ca vào hai thập niên 70 và 80 của thế kỉ trớc đã buộc giới nghiên cứu văn học phải đa ra những lý thuyết chung,

về những đặc trng thi pháp của trờng ca

Trên đờng đi tìm định nghĩa hoàn chỉnh cho thể loại trờng ca đã có rất nhiều những ý kiến khác nhau Hà Minh Đức - Bùi Văn Nguyên xếp trờng ca vào “hình thức thơ tự sự hoặc ít nhiều dựa trên phơng thức tự sự”, “nội dung của trờng ca thờng gắn liền với các phạm trù thẩm mĩ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả…” [23, 395] Lại Nguyên Ân thì cho rằng: “Có thể gọi chung những sáng tác thơ dài hiện nay là trờng ca với nhiều kiểu kết cấu khác nhau:

Trang 22

Trờng ca kể chuyện, thơ sân khấu, trờng ca trữ tình và chính luận” Võ Quang

Nhơn có ý cho rằng: “Khái niệm trờng ca không phải là một thuật ngữ chính xác, khoa học Bởi lẽ khái niệm này không nói lên đợc đặc trng cơ bản của một thể loại thơ nào cả Hơn nữa nó còn gây nên tình trạng mơ hồ lẫn lộn”

Trần Ngọc Vơng khẳng định: “Trờng ca của ta bây giờ không phải là cùng một khuôn với các thể loại trờng ca đã từng tồn tại trong lịch sử Thế nhng có một điểm gặp gỡ là tính chất tầm cỡ của thể loại này” Thu Bồn cho rằng: “Tr- ờng ca là một thể loại dài hơi nhằm thể hiện một chủ đề t tởng thông qua hình tợng thơ ca, sử dụng ngôn ngữ, nhân vật, âm điệu, bố cục một cách điêu

luyện và tinh xảo nhất của toàn bộ nghệ thuật thơ ca”.[6, 536] Vũ Văn Sỹ

trong cuốn: “Về một đặc trng thi pháp của thơ Việt Nam (1945-1995)” trên cơ

sở tổng hợp những ý kiến của những ngời đi trớc cho rằng: “Trờng ca là một hiện tợng thâm nhập của các thể loại thơ, là một kết cấu mềm dẻo, đa diện”

[32, 152]

Nhìn chung cho đến nay nội dung khái niệm trờng ca vẫn cha có quan niệm thống nhất Chúng ta thống nhất với định nghĩa chính thức đợc nêu trong cuốn: “Từ điển thuật ngữ văn học” (1999), nhà xuất bản ĐHQGHN, do Lê Bá

Hán - Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử (đồng chủ biên): “Trờng ca là tác phẩm thơ có dung lợng lớn, thờng có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trờng ca (Pòeme) cũng đợc dùng để gọi các tác phẩm sử thi (époppée) thời cổ và thời trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả ( ) tên gọi tr… “ ờng ca một thời dùng

để chỉ các sử thi dân gian nh Đam San, Xinh Nhã nay đợc dùng để chỉ các sáng tác thơ dài của các tác giả nh Bài ca chim Chơ Rao của Thu Bồn, Đờng tới thành phố của Hữu Thỉnh” [9, 319]

Trang 23

1.1.2 Sự phát triển của trờng ca trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Trong nền thơ Việt Nam, trờng ca chỉ có một vị trí khá khiêm tốn nhng

nó đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thành tựu thơ ca: “Bởi dù sao đi nữa những cái tợng nho nhỏ dù có tinh xảo đến đâu cũng không thể thay thế đợc những tợng đài, ca khúc không thể thay thế đợc giao hởng Nếu coi dung lợng mỗi bài thơ nh một phân số khi đã đến mức tối giản mà tử số và mẫu số của nó vẫn cứ lớn ấy chỉ vì chúng lớn mà thôi” Cả thời kì văn học Trung đại thể loại trờng ca gần nh vắng bóng, nó bị phai mờ trong các thể loại văn học khác Tr-ờng ca hòa lẫn vào trong các thể loại khác nh truyện thơ, biền văn, và tự đánh mất chân dung của mình Nói đến thành tựu của văn học Trung đại là nói đến thành tựu của thơ Thơ Trung đại chịu sự chi phối của quan điểm thẩm mĩ phong kiến mang tính quy phạm chặt chẽ và chịu ảnh hởng lớn của văn hóa văn học Trung Quốc trên các phơng diện ngôn ngữ, thể loại, đề tài, quan niệm… Nhìn chung các nhà thơ Trung đại sáng tác trên một mô hình có sẵn, cha thể nói thể loại trờng ca trong nền văn học Trung đại đợc

Phong trào thơ mới 1932 - 1945 ra đời là một sự “nổi loạn”, “phá phách”

để đoạn tuyệt với những khuôn phép gò bó so với “thơ cũ”, cái tôi muốn bứt ra khỏi cái ta chung để tự khẳng định mình Phong trào thơ mới đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa thơ ca Thơ mới vào giai đoạn cuối đã xuất hiện những sáng tác dài hơi nh Tiếng địch sông Ô của Phạm Huy Thông Tuy nhiên thể loại tr… -ờng ca vẫn cha thực sự ra đời Thơ ca đang ở giai đoạn tìm tòi, sáng tạo những hình thức biểu hiện mới

Cách mạng tháng 8 thành công, đất nớc bớc vào cuộc kháng chiến chống Pháp Trờng ca giai đoạn này cha có thành tựu gì đáng kể Sự xuất hiện của một

số trờng ca: Ngọn Quốc kỳ và Hội nghị non sông của Xuân Diệu, Từ đêm 19

của Khơng Hữu Dụng ch… a gây đợc dấu ấn gì trong đời sống văn học Trờng ca giai đoạn này đang nằm trong quá trình thể nghiệm Trờng ca chỉ thực sự phát triển và trở thành một hiện tợng văn học vào giai đoạn chống Mỹ cứu nớc và

Trang 24

giai đoạn sau khi chiến tranh kết thúc Những năm tháng chống Mỹ “đau thơng

mà vĩ đại” là nền sử thi rộng lớn cho sự ra đời của nhiều tác phẩm trờng ca Bài

ca chim Chơ Rao (1963) của Thu Bồn có thể xem là phát súng khởi đầu cho sự

phát triển rầm rộ của trờng ca chống Mỹ, là thành công đáng chú ý cho thể loại trờng ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc Sau đó hàng loạt trờng ca

ra đời: Nguyễn Văn Trỗi (1967) của Lê Anh Xuân; Ngời anh hùng Đồng Tháp

(1967) của Giang Nam; Theo chân Bác (1970), Nớc non ngàn dặm (1973) của

Tố Hữu; Núi rừng mở cánh (1970), Kể chuyện ăn cốm giữa sân (1974) của

Nguyễn Khắc Phục; Mặt đờng khát vọng (1974) của Nguyễn Khoa Điềm; Khúc hát ngời anh hùng (1974) của Trần Đăng Khoa Chính hiện thực cuộc sống…rộng lớn đòi hỏi thơ ca phải tìm cho nó hình thức thể hiện mới Và trờng ca với

sự ra đời kịp thời đã đánh dấu bớc phát triển mới của thơ ca chống Mỹ

Nhng thể loại trờng ca thực sự phát triển rầm rộ và trở thành “hiện tợng văn học” vào những thập niên 70, 80 của thế kỷ XX - giai đoạn sung sức nhất của thể loại trờng ca Chỉ trong vòng chục năm số lợng trờng ca có đến hàng chục tác phẩm Thanh Thảo là ngời mở đầu chặng đờng này bằng trờng ca

Những ngời đi tới biển (1977), sau đó là Hữu Thỉnh với Đờng tới thành phố,

Nguyễn Đức Mậu với Trờng ca S đoàn, Trần Mạnh Hảo với Đất nớc hình tia chớp, Mặt trời trong lòng đất, Thi Hoàng với Gọi nhau qua vách núi,

Nguyễn Trọng Tạo với Con đờng của những vì sao Những tác phẩm tr… ờng ca giai đoạn này đã đạt đợc những thành tựu cao về nội dung và nghệ thuật đa thể loại trờng ca phát triển vào độ sung mãn nhất

Sau chặng đờng sung sức đó, khoảng từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay, trờng ca có dấu hiệu chững lại Điều này cũng đợc giải thích bằng nhiều nguyên nhân khác nhau Có thể văn hóa nghe nhìn chiếm hết nhiều thời gian, ngời đọc cần đến hình thức ngắn gọn hơn Cũng có thể là chính không khí trờng ca đã nhạt Những vấn đề lớn trọng đại của lịch sử đất nớc, nhân dân vốn

là nội dung cảm hứng của trờng ca ít đợc các nhà thơ chú ý Vấn đề thế sự, đời

Trang 25

t chiếm hầu hết các trang thơ, tập thơ Cuối những năm 90, một số trờng ca của các tác giả thuộc lớp nhà thơ xuất hiện sau 1975 đợc xuất bản Đáng chú ý là các trờng ca: Trầm tích (1998) của Hoàng Trần Cơng, Đổ bóng xuống mặt trời

(1999) của Trần Anh Thái, Nhịp điệu châu thổ mới (1997), Nhân chứng của một cái chết (1999) của Nguyễn Quang Thiều, Ngời cùng thời của Mai Văn

Phấn Các tr… ờng ca xuất hiện gần đây không chỉ viết về chiến tranh mà bắt

đầu có dấu hiệu mở rộng đề tài, mở rộng phạm vi phản ánh hớng đến những vấn

đề thế sự nhân sinh, mang đậm tính triết lý với những hình thức biểu hiện mới Qua các chặng đờng phát triển, trờng ca đã không ngừng mở rộng, biến

đổi cho phù hợp với xu thế chung của văn học và hiện thực cuộc sống Từ chỗ cha có mặt trong hệ thống thể loại văn học trải qua những bớc tìm tòi thể nghiệm đến chỗ khẳng định đợc chỗ đứng của mình trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam Trờng ca đã định hình đợc gơng mặt thể loại trong hệ thống thơ

ca Việt Nam hiện đại

1.1.3 Sự nở rộ của trờng ca sau 1975

Nh những mầm cây đã đợc ơm trồng từ lâu, sau những cơn ma tầm tã dới

ánh nắng ban mai những mầm cây đó đã đồng loạt vơn dậy mạnh mẽ, trờng ca sau 1975 cũng đã đồng loạt nở rộ giống nh những mầm cây ấy Sự nở rộ ấy, đến mức trở thành một “hiện tợng văn học” Chỉ trong một thời gian ngắn mà thể loại trờng ca đã đạt đợc nhiều thành tựu cả về chất và về lợng Chỉ vài năm sau chiến tranh, Thanh Thảo cho ra đời trờng ca Những ngời đi tới biển (1977) Có

thể xem đây là sự khởi đầu có tính báo hiệu, có sức mời gọi các tác giả trong việc viết trờng ca trớc và sau chiến tranh kết thúc Tác giả những tập trờng ca này không ai khác là những cây bút thuộc thế hệ chống Mỹ, chủ yếu là những cây bút đã từng tham gia chiến đấu trên các mặt trận, từng có những tác phẩm

đợc ghi nhận trong thời gian chiến tranh, từng đợc giải thởng văn học, đợc xem

là những cây bút có triển vọng nh: Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Đức Mậu, Vơng Trọng, Anh Ngọc, Võ Văn Trực, Thi Hoàng, Có thể điểm qua một…

Trang 26

số tác phẩm của một số tác giả tiêu biểu nh: Thanh Thảo với Những ngọn sóng mặt trời, Những ngời đi tới biển; Thu Bồn với Bazan khát (1976), Oran 76 ngọn (1989); Ngô Văn Phú với Màu đỏ ngón tay, Ngọn giáo búp đa (1977);

Võ Văn Trực với Ngời anh hùng đất Hoan Châu (1976), Ngày hội của rạng

đông (1978); Trần Vũ Mai với ở làng Phớc Hậu (1978); Hữu Thỉnh với Đờng tới thành phố (1979); Trần Mạnh Hảo với Mặt trời trong lòng đất (1979), Đất nớc hình tia chớp (1980); Nguyễn Đức Mậu với Trờng ca S Đoàn (1980);

Nguyễn Trọng Tạo với Con đờng của những vì sao (1981)

Sự nở rộ của trờng ca sau 1975 là sự tiếp nối mạch trờng ca đợc khơi dậy trong những năm trớc đó Vậy trong những ngày tháng chống Mỹ cứu nớc oanh liệt và hào hùng là mảnh đất màu mỡ để trờng ca nở rộ nhng tại sao sau một độ lùi thời gian trờng ca mới thực sự nở rộ và phát triển rầm rộ nh vậy Không có một hiện tợng gì xảy ra mà không có nguyên nhân của nó Hiện tợng trờng ca sau 1975 nở rộ có nhiều nguyên nhân Đã có nhiều ý kiến, bài viết tranh luận giải thích về hiện tợng này

Nguyên nhân trớc hết và quan trọng nhất là sự thực hiện ý nguyện trả

“món nợ chiến tranh” của phần đông những nhà thơ thế hệ chống Mỹ Trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh, có mặt trên các chiến trờng ác liệt, những nhà thơ áo lính có nhu cầu nội tại phải viết đợc những tác phẩm lớn về cuộc chiến tranh yêu nớc mà họ đã đi qua Đó là món nợ tinh thần, đó cũng là ý thức trách nhiệm của ngời cầm bút Nhà thơ Thanh Thảo cũng đã viết về quy luật phát triển của trờng ca: “Bao nhiêu ngời chết thảm trong chiến tranh, bao nhiêu liệt sỹ hy sinh khi còn rất trẻ, đã có yêu cầu đợc phát ngôn đợc nói Ai sẽ nói thay họ, ai sẽ nói giùm họ trong khoảnh khắc trong sự mong manh với những tiếng kêu không rõ lời, nếu không phải là nhà thơ Tôi nghĩ nếu chỉ riêng cá nhân nhà thơ thôi thì chẳng bao giờ anh ta viết trờng ca hay anh hùng ca làm gì mà chỉ viết thơ trữ tình, chỉ hát tình ca Vì thế có thể nói chính những ngời đã chết, chính lịch sử bi tráng đã đặt hàng cho nhà thơ viết anh hùng ca hay trờng ca ”[34, 83] Các…

Trang 27

nhà thơ viết trờng ca sau 1975 chủ yếu là những ngời trong cuộc, những ngời đã qua những trải nghiệm khốc liệt của chiến tranh, họ có nhu cầu đợc phát ngôn cho những đau thơng mất mát mà thế hệ mình, đất nớc nhân dân mình đã trải qua Việc trả món nợ chiến tranh ấy họ đã thực hiện nhng cha có điều kiện để thực hiện một cách trọn vẹn Cuộc chiến tranh khốc liệt suốt hai mơi năm qua

đã kéo căng sức lực của cả một đất nớc và của mỗi ngời Tất cả đều phải tập trung cho chiến trờng với diễn biến ngày càng ác liệt Thơ phải theo kịp tính thời sự phải theo kịp sự kiện, nhà thơ cha có điều kiện thời gian để suy t chiêm nghiệm, cha có điều kiện để viết dài Sau cuộc chiến đấu trờng kỳ của dân tộc, hơn bao giờ hết ngời viết có thời gian suy nghĩ nghiền ngẫm, chắt lọc t liệu, vốn sống để thể hiện những đề tài mà lịch sử “đặt hàng” lơng tâm trách nhiệm ngời cầm bút hối thúc Nhà thơ Thanh Thảo có lần tâm sự: “Cuộc chiến tranh ấy là một phần đời anh, có khi là phần đẹp đẽ nhất của đời anh, phần nhiều cảm xúc nhất, đau xót nhất, nhng cũng đáng tự hào nhất” Nhà thơ Hữu Thỉnh thì cho rằng: “phản ánh cuộc chiến tranh đó vừa là trách nhiệm vừa là niềm say mê của chúng tôi ” Và đó là một phần lý do để các nhà thơ - những ng… ời lính ngay sau chiến tranh viết những bản trờng ca

Sự phát triển rầm rộ của trờng ca viết về chiến tranh những năm sau 1975 xuất phát từ nhu cầu tổng kết nhận diện một cách đầy đủ trọn vẹn, sâu sắc hơn

về cuộc chiến tranh mà dân tộc đã đi qua, xuất phát từ nhu cầu tìm ở chiến tranh những bài học lớn và những lời giải đáp về sức mạnh Việt Nam Cuộc chiến tranh mà dân tộc ta tiến hành - nhân danh lẽ sống thiêng liêng độc lập tự do - là cuộc chiến đấu quyết liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm và có ý nghĩa thế giới trọng đại Cuộc chiến tranh ấy là nơi tập trung, thử thách cao độ mọi giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc cũng nh thâm tâm của thời đại Đồng thời, cuộc chiến đấu với tầm vóc lớn lao của nó cũng đặt ra những vấn đề có ý nghĩa

về mặt xã hội, lịch sử, triết học Nhu cầu đợc nhận diện tổng kết, khái quát về cuộc chiến tranh của dân tộc bằng chính nhận thức trải nghiệm của bản thân d-

Trang 28

ờng nh là nhu cầu của tất cả mỗi ngời dân Việt Nam, không riêng gì các nhà thơ Hiện tợng các nhà thơ đều vận dụng sức tải lớn của trờng ca đó là điều cũng dễ hiểu.

Sở dĩ ngời ta tìm đến thể loại trờng ca mà không phải thể loại nào khác, vì trờng ca có nhiều u thế đặc biệt trong việc phản ánh tầm sử thi rộng lớn của hiện thực cuộc sống Độ dài của trờng ca cho phép các nhà thơ có điều kiện miêu tả tái hiện những vùng hiện thực rộng lớn Các trờng ca thờng dung nạp trong đó yếu tố tự sự rõ nét, thông qua các sự kiện biến cố xảy ra trong đời sống

để trình bày những suy ngẫm của nhà thơ về đất nớc, nhân dân Trong trờng ca các nhà thơ có đất để sử dụng cùng lúc nhiều thể thơ khác nhau nh một hình thức phô diễn các cung bậc của cảm xúc, tạo dựng tiết tấu, âm hởng thơ

Xu hớng trờng ca nở rộ trong thời điểm sau chiến tranh kết thúc còn có thể đợc giải thích bằng quy luật của tâm lý sáng tạo Cuộc chiến tranh vừa mới kết thúc, âm hởng của “ngày hội chiến thắng” vẫn còn vang vọng trong trái tim mỗi ngời, đặc biệt là các nhà thơ Trong không khí ấy, mỗi ngời đều chỉ muốn hát về chiến thắng, về chiến công, kỳ tích mà lịch sử dân tộc đã làm nên: “nhìn lại lịch sử từ một khoảng cách ngắn của thời gian, khi những cảm nhận của cá nhân và không khí chung của một xã hội, một dân tộc còn cha nguôi lặng, đó là thời điểm xuất hiện của những anh hùng ca, những trờng ca” [34, 82] Văn học vừa bớc ra từ khói lửa chiến tranh, từ âm vang của anh hùng ca cha dễ gì bắt nhịp ngay đợc với đời sống sau chiến tranh, với những xô bồ hỗn tạp, các nhà thơ đã có vốn sống đầy ắp và những trải nghiệm sâu sắc trong những năm lăn lộn ở chiến trờng đều có xu hớng quay trở lại với mảnh đất quen thuộc là viết về chiến tranh với những dự định nghệ thuật đã từng đợc thai nghén, ấp ủ Thứ nữa, chiến tranh với những vấn đề của nó luôn là đề tài không bao giờ vơi cạn đối với văn học, cho đến thời điểm bây giờ và cả trong tơng lai văn học vẫn còn viết về chiến tranh huống gì là thời điểm những năm sau chiến tranh

Trang 29

Đó là những lý do giải thích cho sự nở rộ của trờng ca ở chặng đờng sau khi chiến tranh kết thúc.

Trờng ca viết trong giai đoạn chiến tranh nằm trong mạch vận động của nền văn học đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn Mặc dù chiến tranh đã kết thúc nhng theo đà quán tính văn học vẫn kéo dài âm hởng sử thi thêm một thời gian nữa Tuy cùng nằm trên trục viết theo khuynh hớng sử thi, nhng trờng ca viết sau chiến tranh có nhiều điểm khác so với trờng ca viết trong thời gian chiến tranh Sau một độ lùi thời gian, cảm quan hiện thực, cảm hứng cũng nhnhu cầu của cuộc sống, con ngời thay đổi, cho nên chất sử thi của trờng ca giảm bớt tính chất hào hùng, ngợi ca so với giai đoạn viết trong chiến tranh Nhng nhìn chung, qua việc khảo sát các trờng ca viết trong khoảng thập niên 70, 80 sau khi chiến tranh kết thúc, trờng ca giai đoạn này chất sử thi vẫn là bút pháp

đợc phần đông các nhà thơ sử dụng và hớng tới Trờng ca giai đoạn này vẫn mang đậm chất sử thi

Bàn về chất sử thi của trờng ca sau 1975 là vấn đề không phải đơn giản Trớc khi đi vào khảo sát những bình diện chính thể hiện chất sử thi trong trờng ca một câu hỏi đợc đặt ra là tại sao sau 1975 khi hiện thực khơi nguồn sử thi đã lùi xa nhng trờng ca giai đoạn này vẫn mang đậm chất sử thi Vậy những cơ sở nào làm tiền đề cho sự xuất hiện chất sử thi trong tr -ờng ca Việt Nam sau 1975

1.2 Trờng ca sau 1975 tiếp tục viết theo khuynh hớng sử thi

1.2.1 Thuật ngữ sử thi

Về thuật ngữ sử thi, từ trớc đến nay đã có rất nhiều những nhà lý luận phê bình, những nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này Từ thế kỷ IV trớc Công Nguyên, Arittốt nhà triết học lỗi lạc Hy Lạp cổ đại đã đa ra những ý kiến có tính chất kinh điển về sử thi Tiếp đó đến Heghen nhà Mỹ học Đức thế kỷ XVIII

Trang 30

- XIX cũng đã đa ra nhiều luận điểm đúng đắn và có giá trị Kế tục sự nghiệp của những ngời đi trớc, đến thời kỳ chủ nghĩa xã hội khoa học Mác và Angghen

đã có những công trình nghiên cứu công phu khoa học về thể loại sử thi Từ đó các nhà lý luận Mácxít đã trình bày những quan điểm sâu sắc hơn, tinh tế hơn

về thể loại sử thi

Cùng với thế giới, ở Việt Nam thể loại sử thi cũng đợc các nhà nghiên cứu quan tâm bắt đầu vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX Đó là giáo s Đinh Gia Khánh trong công trình nghiên cứu về “Văn học dân gian”, giáo s Phan

Đăng Nhật trong bài viết nhằm xác định thể loại của tác phẩm “Đẻ đất đẻ n ớc ,

là PGS Võ Quang Nhơn trong cuốn: “Văn học dân gian các dân tộc ít ngời ở Việt Nam” đã có những luận điểm quan trọng về sử thi.

Nhìn chung các công trình lý luận văn học và các từ điển thuật ngữ văn học đều có một cách giới thuyết chung về thuật ngữ sử thi

Sử thi còn đợc gọi là anh hùng ca Theo tiếng Hy Lạp cổ là: “êpoée” do

“epos” có nghĩa là lời nói, kể chuyện, ngôn từ tự sự và “pôiêin” nghĩa là làm, sáng tạo Vậy sử thi đợc hiểu trong hai phạm vi rộng và hẹp của nó Trong nghĩa rộng, épos chỉ loại tự sự nh một trong ba loại hình văn học theo sơ đồ phân loại có từ Aristoteles Trong nghĩa hẹp épos chỉ thể loại sử thi anh hùng,…tức là những thiên tự sự dài (thờng là thơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc: “nhằm ngợi ca những sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân

và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử” Nên

sử thi là một câu chuyện kể có đầu có đuôi với quy mô lớn, vì theo Heghen nhà

mỹ học Đức thì: “Nội dung và hình thức của tính sử thi thực sự là toàn bộ các quan niệm về thế giới và cuộc sống của một dân tộc đợc trình bày dới một hình thức khách quan của những biến cố thực tại” Nh vậy đối tợng của sử thi là những biến cố thực tại có quan hệ đến số phận dân tộc Một dân tộc đang vận

động trong lịch sử bỗng một lực lợng bên ngoài đến xâm phạm trắng trợn, định dùng sức mạnh của mình thay đổi dòng chảy của lịch sử đó, lập tức nó bị cả dân

Trang 31

tộc đứng lên chống lại Những tính “cách mạng”, “những con ngời đợc xoa mình bằng một chất dầu thánh” đã đón nhận sứ mạng đi đầu tập hợp nhân dân lập lại trật tự hiện hành, họ trở thành nhân vật sử thi Đó là những anh hùng, tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và anh hùng, cho ý chí, trí thông minh

và lòng dũng cảm của cả cộng đồng Hình tợng nghệ thuật trong sử thi có nhiệm vụ dựng lại những bức tranh nhiều mặt về đời sống vật chất, tinh thần, phong tục tập quán, đạo đức của nhân dân Vì thế ngời nghệ sĩ phải có khả năng vận dụng ngôn ngữ, kết cấu ngôn ngữ để thể hiện khái quát một giai đoạn lịch

sử khá dài của dân tộc

Các Mác từng nhận định: “Sử thi ra đời vào buổi bình minh của lịch sử loài ngời” và “một đi không bao giờ trở lại” Thế nhng trong thời đại hiện nay ngời ta vẫn hay dùng khái niệm sử thi Tuy nhiên sử thi ở đây không nhằm chỉ một loại hình văn học ra đời trong một hoàn cảnh nhất định của lịch sử mà nhằm chỉ đặc điểm của một giai đoạn văn học sáng tác mang đặc trng sử thi Văn học Việt Nam 1945 - 1975 và văn học những năm đầu sau chiến tranh là nền văn học mang đậm chất sử thi Trong đó có thể loại trờng ca

“Sử thi” đây không phải là khái niệm thể loại nh sử thi cổ đại mà là đặc

điểm của văn học sáng tác trên nền tảng của ý thức cộng đồng toàn dân xuất hiện vào các thời kỳ có đấu tranh chống ngoại xâm, có phong trào xã hội bảo vệ các lợi ích toàn dân Cho nên xung đột có tính sử thi là xung đột với kẻ thù xâm lợc, của cộng đồng toàn dân ta với địch và chủ đề cơ bản là dân tộc, nhân dân,

tổ quốc, truyền thống Các nhân vật có tính sử thi là nhân vật anh hùng đại diện cho phẩm chất, ý chí, và sức mạnh dân tộc, đặc biệt là hình tợng lãnh tụ, ngời chiến binh, hình tợng ngời mẹ, và trên hết thảy là hình tợng nhân dân Do…

có đặc điểm này mà các khía cạnh đời sống khác nh đời sống cá nhân, sinh hoạt đời thờng đều đợc nhìn nhận theo xu hớng sử thi Đó là những biểu hiện chính của chất sử thi

Trang 32

1.2.2 Những cơ sở cho sự xuất hiện chất sử thi trong trờng ca sau 1975

1.2.2.1 Cơ sở lịch sử xã hội

Vừa mới ra đời, nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đang còn non trẻ đã ngay lập tức phải đơng đầu với hai tên đế quốc đầu sỏ hùng mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Sức mạnh truyền thống yêu nớc của dân tộc Việt Nam lại trào dâng mạnh mẽ Nhân dân Viêt Nam đã giành đợc độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ Cả nớc ra trận với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” với khí thế: “xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc” dù khó khăn, gian nguy nhng: “xe vẫn chạy vì miền Nam phía trớc” và tâm hồn“phơi phới dậy tơng lai” Mọi ngời dân

đều gác tình riêng mu việc lớn, tất cả đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, đặt tình yêu đất nớc lên trên tình yêu lứa đôi, hạnh phúc lứa đôi

Nền văn học cách mạng ra đời trong bối cảnh lịch sử hào hùng và oanh liệt ấy, nền văn học đó không thể không hào hùng, đậm chất anh hùng ca Cuộc kháng chiến chống chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại trong suốt ba mơi năm thực

sự tạo nên một hiện thực sử thi rộng lớn thúc đẩy sự ra đời của những tác phẩm

có quy mô và âm hởng anh hùng ca Nhà thơ Hữu Thỉnh cho rằng: “Thực tiễn

đời sống và thực tiễn cách mạng trên đất nớc ta là những điều kiện thuận lợi cho những ai muốn viết trờng ca” Quả vậy, với sự trởng thành nhất định của thơ ca, với hiện thực lớn của cách mạng, có thể nói đã đến lúc thơ ca Việt Nam có đủ

điều kiện để thai nghén và cho ra đời những tác phẩm dài hơi Chiến tranh là một tình huống đặc biệt của đời sống xã hội, những quan hệ bản chất của xã hội

đợc thử thách, là nơi đụng đầu của những giá trị, đặt ra nhiều vấn đề lớn cần suy ngẫm, là thời điểm mà những vấn đề lớn của dân tộc của cộng đồng đợc đặt ra

và giải quyết Chiến tranh đã tạo ra nội dung lớn cho phép nhà thơ thực hiện những dự định nghệ thuật lớn, vợt qua giới hạn khuôn khổ trữ tình vơn tới quy mô của trờng ca Trờng ca ra đời trong bối cảnh hiện thực xã hội ấy, đơng nhiên phải đậm chất sử thi Chất sử thi không chỉ là đặc điểm của trờng ca viết trong

Trang 33

chiến tranh mà ngay cả sau khi chiến tranh kết thúc trờng ca vẫn mang đậm chất sử thi Lịch sử văn học và lịch dân tộc thống nhất nhng không đồng nhất Sau ngày đất nớc giải phóng lịch sử sang trang mới nhng văn học theo đà quán tính vẫn cha có những thay đổi tạo nên bớc ngoặt Các nhà thơ vẫn tìm đến thể loại trờng ca lấy thể tài chiến tranh cách mạng trớc đó làm đối tợng phản ánh Hiện thực lịch sử đau thơng nhng hào hùng ấy một lần nữa đợc dựng lại trong thể loại trờng ca Nh vậy chính hiện thực chiến tranh đó đã khiến cho trờng ca viết sau chiến tranh vẫn mang hơi thở và sức sống sử thi

1.2.2.2 Cơ sở văn học

Lịch sử phát triển của văn học không phải là những mảnh đoạn cắt rời nhau mà bao giờ cũng là sự kế tiếp, biến đổi và phát triển mọi giá trị truyền thống Đại thi hào Gớt khi đề cập tới vai trò của văn học truyền thống trong sáng tác thơ văn đã nhấn mạnh: “Nếu xem xét một tài năng lớn thì luôn biết rằng con ngời ấy đã biết vận dụng những giá trị u việt của cha ông mình và nhờ vậy anh ta trở thành vĩ đại”

Sau năm 1975 một loạt những tác phẩm trờng ca ra đời: “đóng góp cho văn học những tác phẩm mang hơi thở lớn lao của một thời chiến tranh ác liệt

và oanh liệt, những tác phẩm làm nhân chứng cho một thời kỳ lịch sử rạng rỡ của dân tộc” [11, 59] Với thể loại trờng ca các nhà thơ đã thật sự tìm lại đợc nguồn mạch sử thi Họ đã biết vận dụng sáng tạo những giá trị văn học truyền thống của dân tộc, đó là những thiên sử thi dân gian, nhất là của các dân tộc Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, đậm đà màu sắc trữ tình và anh hùng ca phong phú độc đáo Những thiên sử thi dân gian đó là những nguồn gợi ý khá mạnh, khơi nguồn cảm hứng, bút pháp và cung cấp chất liệu để các nhà thơ Việt Nam viết nên những bản trờng ca hào hùng trong hai cuộc chiến tranh thần thánh của lịch sử dân tộc Sau năm 1975 các nhà thơ Việt Nam vẫn kế tục truyền thống

đó, có sự sáng tạo, phát triển, đa thể loại trờng ca đến độ viên mãn nhất

Trang 34

Bên cạnh sự kế thừa sáng tạo những di sản văn học truyền thống, các nhà thơ Việt Nam cũng rất cởi mở, tiếp cận học hỏi những thành tựu của văn học n-

ớc ngoài, chủ yếu là văn học Nga - Xô Viết Đặc biệt trờng ca là một thể loại có truyền thống lâu đời và có vị trí quan trọng trong văn học Nga Sự tiếp cận một loạt trờng ca của các nhà thơ nh Puskin, Lecmôtốp, Maiacopxki, đã ảnh h… ởng khá mạnh đến t duy của các nhà thơ Việt Nam - những ngời vẫn còn mang trong dòng máu của mình thứ văn phong hùng tráng của sử thi Đam San, Xinh Nhã,…sự hài hòa êm ả nên thơ của những bản tình ca nh Xống chụ xôn xao,

Đăm Di,…khơi dậy ở họ những tiềm năng sáng tạo ấp ủ trong lòng, giúp họ

h-ớng đến một hình thức thể hiện mới có thể soi chiếu bề rộng những vấn đề lịch

sử - xã hội và cộng đồng Thế là con mắt trờng ca trở thành công cụ soi chiếu, là nơi để các nhà thơ bộc lộ cái tôi mới - cái tôi cộng đồng Nói cách khác, cảm hứng của cái tôi trữ tình cá thể đợc thay thế bởi cảm hứng của cái tôi trữ tình sử thi Chất sử thi, với t cách là siêu thể loại thâm nhập và chi phối mạnh mẽ quan

điểm sáng tác của nhà thơ Từ đây nhà thơ bắt đầu suy nghĩ những vấn đề lịch

sử xã hội trên cấp độ số phận dân tộc đất nớc, cuộc đời, số phận của mỗi cá nhân lúc này sẽ đợc đánh giá theo cấp độ đóng góp của nó cho sự nghiệp của dân tộc, nhân dân và Đảng Đó là một trong những thuộc tính của sử thi, đồng thời cũng là dòng chảy chủ đạo của thơ ca trong thời đại chuyển biến của một dân tộc cổ truyền sang một dân tộc hiện đại, là thơ của kỉ nguyên đấu tranh để bảo vệ và phát triển dân tộc trong thời đại mới Đó là cơ sở để tạo nên chất sử thi trong trờng ca viết trong những năm chiến tranh Và sau chiến tranh, trờng

ca Việt Nam lại kế tục những tác phẩm trờng ca viết trớc đó, kế thừa và phát huy một cách sáng tạo, khơi dậy chất sử thi hào hùng của một thời đã đi qua

Mặt khác sở dĩ trờng ca sau 1975 mang đậm chất sử thi là vì nó đợc viết bởi thế hệ nhà văn thuộc thế hệ chống Mỹ Họ chính là những ngời trực tiếp cầm súng chiến đấu, từng trải qua những ngày tháng ác nghiệt của chiến tranh, bây giờ do ý thức sáng tạo thôi thúc, họ cầm bút viết về chính mình, viết về

Trang 35

chính thế hệ của mình Đây là đội ngũ nhà thơ hùng hậu trởng thành và lớn lên trong chiến tranh Phần lớn trong số họ là những sinh viên, học sinh đang học

đại học hoặc phổ thông, hoặc vừa tốt nghiệp thì cuộc chiến tranh chống Mỹ mở rộng trên quy mô lớn Từ cánh cửa của nhà trờng đi thẳng tới chiến trờng cầm súng chiến đấu, hòa nhập ngay với thực tế chiến đấu Lớp nhà thơ trẻ thuộc thế

hệ chống Mỹ có đợc những u thế và thuận lợi hơn so với thế hệ đi trớc Phần lớn trong số họ đợc sinh ra sau cách mạng, lớn lên khi nhân dân ta đã giành đợc hòa bình trên một nửa đất nớc, đợc đào tạo một cách bài bản trong nhà trờng xã hội chủ nghĩa Vốn kiến thức văn hóa nói chung, những hiểu biết có hệ thống về văn học và thơ ca nói riêng đã nằm ngay trong hành trang của họ, trong những bớc đầu tiên đến với thơ Thế hệ chống Mỹ cũng đợc kế thừa những kinh nghiệm thành tựu nghệ thuật của thế hệ đi trớc, họ bớc đi trên con đờng thẳng, rộng dài của nền thơ cách mạng đã đợc vạch sẵn từ mấy chục năm qua Truyền thống yêu thơ cùng với cuộc sống phong phú, sôi nổi chứa đựng nhiều t tởng tình cảm và hành động lớn của dân tộc là điều kiện xã hội quan trọng nhất góp phần hình thành, trởng thành nhanh chóng của đội ngũ trẻ đầy tài năng Sáng tác của họ là tiếng nói của ngời trong cuộc nói về chính họ, thế hệ họ Do vậy tác phẩm của họ nóng hổi hơi thở của cuộc chiến đấu, thấm nhuần tinh thần lãng mạn cách mạng, thấm nhuần chất sử thi - anh hùng ca

Có thể nói sự tiếp nối quá khứ và tiếp cận cái mới dờng nh đã tăng thêm sức mạnh cho các nhà thơ trẻ của ta, những ngời “đứng ngang tầm chiến lũy” tìm đến thể loại trờng ca để thể hiện những tình cảm thiêng liêng trong sạch với nhân dân và đất nớc trong những ngày tháng làm nên lịch sử Họ viết trờng ca không giống nh cha ông mình, nhng cũng không phải là những bản sao chép của các bậc thầy phơng tây Các nhà thơ hiện đại đã phát huy đợc những yếu tố truyền thống kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại đem lại khí sắc mới cho đời sống thơ ca Việt Nam hiện đại

Trang 36

Nh vậy trong mỗi con ngời Việt Nam hiện đại “Âu hóa” vẫn chứa đựng tâm hồn phơng Đông cổ xa Đó chính là mảnh đất cho các thể loại văn học truyền thống, trong đó có bộ phận văn học mang đậm chất sử thi có cơ sở tồn tại

Chơng 2 Chất sử thi của trờng ca sau 1975 xét trên

phơng diện nội dung

2.1 Cái tôi sử thi

2.1.1 Bản chất của cái tôi sử thi

Thơ là để nói chí mình, nói lòng mình Vì thế thơ đợc xem là sự biểu hiện của chủ thể và cảm nhận của chủ thể, nghĩa là thơ bao giờ cũng gắn liền với cái tôi Nhng chủ thể và cái tôi trong thơ không phải là một Trong triết học, chủ

Trang 37

thể là phạm trù đối lập với khách thể ở tính tích cực, thể hiện trên các mặt hoạt

động có mục đích, tự giác, và tự do Còn cái tôi là yếu tố của chủ thể làm cho chủ thể ý thức đợc chính mình Từ điển tâm lí học của A.N.Lêôchiep đã xác

định: “Cái tôi là kết quả của việc con ngời tách mình ra khỏi môi trờng xung quanh, cho phép con ngời cảm thấy mình nh là một chủ thể Cái tôi là quan niệm của chủ thể về chính mình, hình thành trong hoạt động và giao tiếp, mang các đặc điểm nh chỉnh thể thống nhất có khả năng tự đánh giá, tự quan sát, tự

điều chỉnh, bao gồm nhiều phơng diện có mâu thuẫn nhng thống nhất Nh vậy cái tôi là chức năng tự nhận thức của chủ thể ” Mà chủ thể, theo triết học lại…

là một phạm trù đa thức Đó có thể là một cá nhân không lặp lại, có thể là một nhóm ngời cùng chung cảm thức ý chí, cũng có thể là một cộng đồng lịch sử hoặc là toàn thể xã hội ứng với các chủ thể ấy có những cái “tôi”, “ta” tự ý thức phù hợp trớc cuộc sống Theo quan niệm trên, có thể nói trờng ca sau năm

1975 đã phát huy tính tích cực của chủ thể Chủ thể của thơ ca giai đoạn này chủ yếu là giai cấp, dân tộc Mỗi nhà thơ cảm nhận ý chí, mục đích của dân tộc, giai cấp nh là của chính mình Nên dù làm thơ ngắn hay viết trờng ca các nhà thơ đã phát huy mạnh mẽ tính tích cực của chủ thể dân tộc, giai cấp và cá nhân trong tác phẩm của mình Họ đã để lại một ấn tợng khó phai mờ về một cái tôi,

đó là cái tôi sử thi - cái tôi mang tầm vóc cái ta dân tộc Nó khác với cái tôi cá nhân trong thơ mới, cái tôi cá nhân đợc giải phóng về tình cảm, cảm xúc và trí tởng tợng nên khát vọng đợc đánh thức, đợc nói về mình, về cá nhân mình Cái tôi ấy đòi hỏi một biên độ mới của tự do:

Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết Chân tự do đạp phăng cả hàng rào”

Và ngời ta có thể tự coi mình là: “Là Một, là Riêng, là Thứ nhất” Ngời ta

đòi hỏi thơ lấy cái tôi, cái cá nhân làm đề tài, thậm chí làm trung tâm Cái tôi sử thi là cái tôi khẳng định cái chung mọi ngời cùng sự nghiệp cùng số phận cùng khổ đau vui sớng, cùng sống chết vinh nhục nh Xuân Diệu đã có lần khẳng

Trang 38

định: “Tôi cùng xơng thịt với nhân dân của tôi - cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu” Chính vì thế các nhà thơ cảm nhận cuộc đời trên cấp độ của cái tôi chung, hòa hợp cái riêng với cái chung nên buộc thơ lấy đề tài xã hội - lịch sử làm nội dung khai thác chủ yếu, lấy số phận của cộng đồng làm đối tợng thể hiện và phân tích, lấy cảm hứng anh hùng ca làm cảm hứng nền tảng Do đó họ

đã tạo ra: “áp lực của thể tài lịch sử dân tộc, hay còn gọi là quá trình sử thi hóa của thể tài đời t và thể tài thế sự ” Cho nên thơ giai đoạn này vẫn thể hiện cái tôi nhng ý thức về cái tôi phải đợc đặt trong sự thống nhất với cái ta của cộng

đồng Đó chính là bản chất của cái tôi sử thi

Sau năm 1975, mặc dù chiến tranh không còn là vấn đề thời sự nóng bỏng mang tính chất toàn dân nữa, nhng ám ảnh về chiến tranh vẫn không thôi day dứt, dằn vặt các nhà thơ - những thế hệ đã từng trực tiếp cầm súng chiến

đấu, thôi thúc họ viết trờng ca về chiến tranh Nội dung thể tài lịch sử dân tộc vẫn đợc u tiên Cuộc chiến tranh của toàn dân tộc với những con ngời, biến cố,

sự kiện mang trạng thái tinh thần chung của dân tộc vẫn là nội dung h… ớng tới của các tác phẩm trờng ca Do vậy cái tôi trữ tình sau 1975 vẫn là cái tôi sử thi

độc đáo Quy luật phát triển của văn học là không ngừng đổi mới và sáng tạo

Sự phát triển của thơ trong một chừng mực nhất định cũng là sự phát triển của cái tôi trữ tình và phơng thức thể hiện của nó Từ cái tôi sử thi trong giai đoạn

1945 - 1975 đến cái tôi sử thi giai đoạn sau 1975 đã có nhiều chuyển biến và thay đổi Sự thay đổi này cũng là phù hợp với quy luật tất yếu của văn học

2.1.2 Những biểu hiện của cái tôi sử thi

2.1.2.1 Cái tôi thế hệ mang tầm vóc cái ta dân tộc hớng tới cái cao cả hào hùng

Những trờng ca viết trớc 1975, khi cuộc chiến tranh đang diễn ra chủ yếu

để cỗ vũ kịp thời cho cuộc chiến đấu phải bám sát sự kiện, nhân vật, cái tôi trữ tình vì thế cha có điều kiện để bộc lộ Sau chiến tranh những nhà thơ, ngời lính trở về, họ có điều kiện để tổng kết nhận diện về những vấn đề lớn của dân tộc,

Trang 39

nhân dân, thời đại trong đó có sự nhận diện về thế hệ mình Trờng ca sau 1975, cái tôi trữ tình - thế hệ là tiếng nói nổi trội, nhiệt tình đối thoại, phát ngôn trong

đó chủ yếu là tiếng nói phát ngôn mạnh mẽ cho thế hệ tôi Trờng ca sau 1975 chủ yếu lấy trữ tình làm yếu tố chính đã mở ra không gian cho những lời tự bạch cho những bức chân dung tự họa tinh thần của một thế hệ cầm súng Một thế hệ cầm súng nhận thức đợc vai trò lịch sử trớc vận mệnh đất nớc, đi vào cuộc chiến bằng một vóc dáng vững vàng sôi nổi : “Chúng tôi đầy rừng, tắm giặt, hái rau, đào hầm, mơ mộng sống đời thờng suốt cuộc chiến tranh, yêu

đời lính yêu luôn gian khổ” (Hữu Thỉnh) Dù cuộc sống đời lính gian nan thiếu

thốn nhng họ vẫn giữ đợc góc cạnh của một bản lĩnh sống để không bị mài nhẵn, bị lăn tròn vô thức Họ là những chàng trai : “Chân dép lốp đạp mòn trăm ngọn núi / mà không hề rợp bóng xuống tơng lai”.

Bằng nội lực tiềm ẩn, bằng sức sống dẻo dai bền bỉ, cả một thế hệ cầm súng hóa thân trong chiến tranh, ý thức đợc đầy đủ sự tàn bạo khốc liệt của cuộc chiến, nhng vì sự sống còn của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân mà ngời lính thêm một lần bò lên đồi chốt trụ bám, giành giật với giặc từng gốc sim cằn:

Anh quên thơ để nhớ gốc sim cằn Vài chiếc lá lèo tèo nh mực rớt Sim nh là không có cũng không sao

Nhng trời ơi nếu kẻ thù chiếm đợc Chỉ một gốc sim thôi, dù chỉ gốc sim cằn

Tổ Quốc sẽ ra sao? Tổ quốc?”

(Hữu Thỉnh - Đờng tới thành phố)

Chính thời điểm ngời lính hình dung về tổ quốc trở nên cụ thể, nó là cái gốc sim

một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn” thì cũng là lúc diện mạo cụ thể của ngời

lính đợc khắc họa :

Đó những ngời trẻ trai Tóc dài không kịp cắt

Trang 40

Ngày mời trận đánh thù

Ăn cơm mốc muối ruốc Ngủ trên hòm đạn thùng lơng khô

Họ nằm bên xác ngời đã khuất Nớc mắt lng tròng nối với bớc xung phong”

(Nguyễn Đức Mậu - Trờng ca S đoàn)

ở đây không có sự đối chọi giữa những giọt nớc mắt và những bớc xung phong, ngợc lại đó là những nét hòa hợp thống nhất giữa lý trí và tình cảm của những ngời lính trẻ Cái đau xót trầm xuống trớc những mất mát hi sinh cũng là tự nhiên, nó là cái tình giữa những ngời đồng đội gắn bó đã từng chia nhau từng ngụm nớc đến giành nhau từng cái chết Những giọt nớc mắt sinh ly tử biệt này không hàm một sự sợ hãi mà làm con ngời ta tỉnh táo hơn lên, dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật khốc liệt Và cứng cỏi chấp nhận, giống nh dân gian xa chấp nhận mọi sự cay đắng ở đời thờng qua ý tứ gửi vào câu ca dao về ngọn rau răm: “gió

đa cây cải về trời Rau răm ở lại chịu đời đắng cay” Có thể nói trong nỗi đau mất

mát ấy con ngời hiểu ra mình hơn và càng thấm thía tình đồng đội:

Khi cùng ghé lng mang quá sức nặng chính mình Trong chia sẻ rừng ơi ta thành đồng đội”

(Thanh Thảo - Những ngời đi tới biển)

Lịch sử Việt Nam là lịch sử trận mạc, dân tộc Việt Nam dù muốn hay không cũng là dân tộc trận mạc Bao nhiêu thế lực ngoại xâm đã đến Việt Nam thì có bấy nhiêu thế hệ đã đứng lên nhận lấy trách nhiệm cao cả đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo

vệ đất nớc Và ở mọi thế hệ, khi nhận lĩnh trách nhiệm lịch sử đều có những tuyên ngôn và bức tự họa chân dung tinh thần Vẫn là sự khảng khái vô t của những ngời lính sẵn sàng chấp nhận sự hi sinh vì lý tởng độc lập dân tộc, vẫn là sự dấn thân tự nguyện với cách nói rất trẻ, nhng thế hệ chống Pháp ít nhiều còn có sự phân hóa trong giọng điệu Những anh lính của Hồng Nguyên ra đi từ những miền quê nghèo

có cách nói chất phác mộc mạc:

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
2. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẫm bình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẫm bình
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
3. Lại Nguyên Ân (1975), “Mấy suy nghĩ về thể trờng ca”, Tạp chí văn học,(số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về thể trờng ca
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1975
4. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
5. Lại Nguyên Ân (1986), “Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 một nền sử thi hiện đại”, Tạp chí văn học, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 một nền sử thi hiện đại
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
6. Thu Bồn (2003), Thơ và trờng ca, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và trờng ca
Tác giả: Thu Bồn
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
7. Phạm Tiến Duật (1980), “ Nhân bàn về tr ờng ca đôi điều nghĩ về hình thức”, Văn nghệ quân đội, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân bàn về trờng ca đôi điều nghĩ về hình thức
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Năm: 1980
8. Trần Mạnh Hảo (1996), Đất nớc hình tia chớp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nớc hình tia chớp
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1996
9. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử ( 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
11. Hoàng Ngọc Hiến (1996), Tập bài giảng và nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng và nghiên cứu văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
12. Đỗ Văn Khang (1982), “Chung quanh vấn đề trờng ca”, Tạp chí văn học, (sè 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chung quanh vấn đề trờng ca
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Năm: 1982
13. Đỗ Văn Khang (1982), “Từ ý kiến về trờng ca sử thi của Hêghen đến tr “ - ờng ca hiện đại ở ta ” ”, Tạp chí văn học, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ý kiến về trờng ca sử thi của Hêghen đến tr"“ "-ờng ca hiện đại ở ta"”
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Năm: 1982
14. Đinh Gia Khánh (1991), Văn học dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1991
15. Chu Lai (2002), “ Sử thi và hoành tráng câu trả lời cho một đời ”, Văn nghệ quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử thi và hoành tráng câu trả lời cho một đời
Tác giả: Chu Lai
Năm: 2002
16. Mã Giang Lân (1982), “ Trờng ca vấn đề thể loại”, Tạp chí văn học, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trờng ca vấn đề thể loại
Tác giả: Mã Giang Lân
Năm: 1982
17. Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam vấn đề- tác giả, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại Việt Nam vấn đề- tác giả
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
18. Nguyễn Văn Long- Lã Nhâm Thìn ( 2006), Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Thiếu Mai (1980), “Thanh Thảo thơ và trờng ca”, Tạp chí văn học, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Thảo thơ và trờng ca
Tác giả: Thiếu Mai
Năm: 1980
20. Thiếu Mai (1980), “Hữu Thỉnh trên đờng tới thành phố , ” Văn nghệ quân đội, (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh trên đờng tới thành phố
Tác giả: Thiếu Mai
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w