Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ để Nhà nước quản lý đất đai được thống nhất, là phương tiện để Nhà nước tiếp tục khẳng định và thực hiện quyền định đoạt đối với đất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HUY CẬN
THùC THI PH¸P LUËT VÒ QUY HO¹CH, KÕ HO¹CH Sö DôNG §ÊT QUA THùC TIÔN
T¹I THÞ X· S¥N T¢Y THµNH PHè Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HUY CẬN
THùC THI PH¸P LUËT VÒ QUY HO¹CH, KÕ HO¹CH Sö DôNG §ÊT QUA THùC TIÔN
T¹I THÞ X· S¥N T¢Y THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DOÃN HỒNG NHUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Huy Cận
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY HOẠCH KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 7
1.1 Khái niệm, đă ̣c điểm, mục đích, mục tiêu và nguyên tắc của quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 7
1.1.1 Khái niệm quy hoạch, kế hoạch sử du ̣ng đất 7
1.1.2 So sánh giữa quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất 10
1.1.3 Đặc điểm của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 10
1.1.4 Mục đích, mục tiêu của quy hoạch, kế hoạch sử du ̣ng đất 13
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản của quy hoạch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 15
1.2 Những vấn đề chung về pháp luâ ̣t quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch sử dụng đất 19
1.2.1 Vai trò của pháp luâ ̣t quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 19
1.2.2 Sự cần thiết quy đi ̣nh pháp luâ ̣t đối với quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch sử dụng đất 21
1.2.3 Đặc điểm của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 25
1.2.4 Nội dung chủ yếu của pháp luâ ̣t về quy hoa ̣ch, kế hoạch sử du ̣ng đất 25
1.2.5 Thực thi pháp luật và đặc điểm của thực thi pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 26
1.3 Sơ lược lịch sử phát triển về quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất ở Việt Nam 27
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1980 27
Trang 51.3.2 Giai đoạn từ năm 1981 đến trước năm 1986 27
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1987 đến trước năm 1993 28
1.3.4 Giai đoạn từ năm 1993 đến trước năm 2003 29
1.3.5 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2013 32
1.3.6 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay 34
1.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam 35
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc về quy hoạch đô thị 35
1.4.2 Kinh nghiệm của Singapore về quy hoạch đô thị 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH , KẾ HOA ̣CH SỬ DỤNG ĐẤT QUA THỰC TIỄN TH ỰC THI TẠI THI ̣ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40
2.1 Quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất theo Luâ ̣t đất đai năm 2013 40
2.1.1 Các nguyên tắc và căn cứ lập quy hoạch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 40
2.1.2 Các quy định về quy hoạch , kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất và kỳ quy hoạch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 47
2.1.3 Xây dựng quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 51
2.1.4 Công bố quy hoạch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 55
2.1.5 Thực hiê ̣n và quản lý quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 57
2.2 Thực tiễn thực thi pháp luâ ̣t về quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất trên đi ̣a bàn thi ̣ xã Sơn Tây thành phố Hà Nô ̣i 61
2.2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây tác động đến việc thực thi pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 61
2.2.2 Tình hình th ực thi việc quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch đất ta ̣i thi ̣ xã Sơn Tây thành phố Hà Nô ̣i 65
2.2.3 Những tồn ta ̣i , hạn chế tro ng viê ̣c thực thi pháp luâ ̣t về quy hoạch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 72
Trang 62.2.4 Nguyên nhân củ a những tồn ta ̣i , hạn chế trong việc lập và thực
hiê ̣n quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất 75 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH , KẾ
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN
THỰC THI TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 80 3.1 Yêu cầu nâng cao chất lươ ̣ng thực thi pháp luâ ̣t về quy
hoạch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay 80 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thực thi pháp luật quy hoạch,
kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay 84
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử du ̣ng đất 84 3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thự c thi pháp luâ ̣t về quy hoa ̣ch , kế
hoạch sử dụng đất trên địa bàn thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội 91 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu luận văn
Đất đai là một loại tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố dân cư, là bộ phận cấu thành nên lãnh thổ quốc gia Việt Nam, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nơi diễn ra tất cả các hoạt động sống của con người và động thực vật Có vai trò to lớn về mọi mặt trong đời sống kinh tế, chính trị,
xã hội của con người, nhưng đất đai ngày càng cạn kiệt, suy thoái.Việc sử dụng đất tại Việt Nam hiện nay chưa hợp lý, chưa phát huy được hết vai trò của đất đai Trong giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội hiện nay, bình ổn quan hệ đất đai là góp phần bình ổn các quan hệ xã hội Nâng cao hiệu quả quản lý
và sử dụng đất vì thế đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết của xã hội Trong
đó xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một hoạt động cơ bản trong quá trình quản lý nhà nước về đất đai Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ để Nhà nước quản lý đất đai được thống nhất, là phương tiện để Nhà nước tiếp tục khẳng định và thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai, giúp Nhà nước lựa chọn được phương án sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế-xã hội, môi trường-sinh thái, an ninh - quốc phòng… có ý nghĩa pháp lý và vai trò như vậy, nhưng hoạt động xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiện nay đang còn nhiều hạn chế, bất cập ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý và sử dụng đất Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đến lúc cần được đổi mới để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Luâ ̣t đất đai năm 2013 đã có những thay đổi quan tro ̣ng trong đó có quy
đi ̣nh về quy hoa ̣ch và kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất Điều này nhằm đảm bảo sự bắt kịp của quy định trong Luật đất đai với các biến đổi về cơ cấu kinh tế xã hội
và nhu cầu phá t triển viê ̣c sử du ̣ng đất cho các mu ̣c đích phát triển kinh tế ,
Trang 8phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng Vấn đề đất đai , thu hồi đất , quy hoa ̣ch sử dụng đất đai đang là vấn đề bức x úc trong dư luận , gây ra những phản ứng quyết liê ̣t từ phía người dân mất đất Chính vì lẽ đó, viê ̣c sửa đổi, bổ sung quy
đi ̣nh về quy hoa ̣ch kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất có ý nghĩa quan tro ̣ng trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay Tuy nhiên, trên thực tế , những sửa đổi , bổ sung của Luâ ̣t đất đa i
2013 mặc dù đã tương đối toàn diê ̣n nhưng về mă ̣t nào đó vẫn còn nhiều ha ̣n chế, tồn ta ̣i nhất đi ̣nh như quy hoa ̣ch chưa ổn đi ̣nh , viê ̣c thực hiê ̣n quy hoa ̣ch còn bất cập , chưa tuân thủ chă ̣t chẽ nên có thay đổi liên tu ̣c trong quá trình thực hiê ̣n, viê ̣c phân bổ pha ̣m vi các loa ̣i đất chưa thực sự hợp lý , vấn đề bảo
vê ̣ đất nông nghiê ̣p , thực hiê ̣n triê ̣t để viê ̣c chỉ quy hoa ̣ch đất không có nhiều lợi ích về sản xuất nông nghiê ̣p vào trong phát triển côn g nghiê ̣p và cơ sở ha ̣ tầng còn chưa thực sự tuân thủ
Thị xã Sơn Tây là một thị xã thuộc Thủ đô Hà Nội, với vi ̣ trí quan tro ̣ng về kinh tế , văn hóa, xã hội Thị xã Sơn T ây có diê ̣n tích 11.346ha, dân số 181.831 ngườ i, với đơn vi ̣ hành chính gồm 9 phường, 6 xã Trong thời gian gần đây, thị xã Sơn Tây đã có những thay đổi lớn về kinh tế , xã hội, đă ̣c biê ̣t sau giai đoa ̣n sáp nhâ ̣p vào thành phố Hà Nô ̣i Vấn đề đất đai luôn là vấn đề nóng ở một đô thị như Sơn Tây , viê ̣c phát triển kinh tế trong giai đoa ̣n vừa qua kéo theo nhu cầu đất phi nông nghiê ̣p cho các dự án công nghiê ̣p - dịch
vụ, hạ tầng ngày càng nhiều Quy hoạch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất của Thi ̣ xã Sơn Tây đã đa ̣t hiê ̣u quả tốt, nhằm đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế cũng như an ninh quốc phòng Tuy nhiên, qua quá trình thực hiê ̣n , vấn đề quy hoa ̣ch , kế hoạch sử dụng đất của thị xã Sơn Tây vẫn còn những tồn tại , hạn chế nhất
đi ̣nh cần được khắc phu ̣c
Đứng trước yêu cầu cấp thiết đó, tôi lựa chọn đề tài “Thực thi pháp
luật về quy hoạch , kế hoạch sử dụng đất qua thực tiễn tại thi ̣ xã Sơn Tây thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ luật học, với mong muốn
Trang 9góp phần hoàn thiện pháp luật đất đai, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất nói chung, nâng cao hiệu quả của hoạt động xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội thị xã Sơn Tây hiện nay
2 Tình hình nghiên cư ́ u đề tài
Hoạt động xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Việt Nam không còn là vấn đề mới khi nó được ghi nhận là một hoạt động cơ bản của
cơ quan quản lý nhà nước Đã có một số bài viết trên tạp chí, trên báo điện tử
về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Song các bài viết này còn mang tính nhỏ,
lẻ đề cập những thiếu sót, bất cập, hạn chế của một quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cụ thể ở một địa phương, một dự án nào đó Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống về các quy định của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu đã được công bố về quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất:
Dự án 3 – Quy hoạch sử dụng đất đai, chương trình hợp tác Việt Nam- Thụy Điển về đổi mới hệ thống địa chính, CPLAR
Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội (2005), Giáo trình quy hoạch sử
dụng đất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
Trường đại học Nông lâm Huế (2005), Tập bài giảng quy hoạch sử
dụng đất, Huế
Trung tâm đào tạo từ xa Đại học Huế (2006), Giáo trình Luật Đất đai,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Tư
pháp, Hà Nội
Trường Đại học kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình quản lý nhà nước
về đất đai và nhà ở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Hạnh Nguyên “Quản lý và quy hoạch đất đai: Nóng bỏng và bất cập”,
ngày28/2/2007, http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT2820741289
Trang 10Kiều Minh, “Làm gì khi quy hoạch sử dụng đất còn nhiều ''khuyết tật”,
Tác giả Tôn Gia Huyên với công trình “Quy hoạch sử dụng đất ở Viê ̣t
Nam trong thời kỳ công nghiê ̣p hóa và hội nhập” đăng trên ta ̣p chí Khoa ho ̣c,
Trường Đa ̣i ho ̣c tài nguyên môi trường thành phố Hồ Chí Minh năm 2014
Tác giả Lê Thị Phúc với Luận văn “Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất t ại Việt Nam” bảo vệ năm 2008 tại Khoa Luật Đa ̣i ho ̣c quốc gia
Hà Nội; Luận án “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất qua thực tiễn tại tỉnh
Thừa Thiên Huế” bảo vệ năm 2014 tại Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
Như vậy, có thể nói, dưới góc độ pháp lý chưa có nhiều công trình nghiên cứu thực chuyên sâu về pháp luật quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đặc biê ̣t nghiên cứu thực tra ̣ng áp du ̣ng trên mô ̣t đi ̣a bàn cu ̣ thể như thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và thực tiễn của pháp luật về quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất Đặc biệt luận văn nghiên cứu về thực trạng thực thi pháp luật về quy hoạch kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thị xã Sơn Tây thành phố H à Nội Thông qua việc tìm hiểu thực trạng của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thực trạng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thị xã Sơn Tây , luận văn đề xuất một
số giải pháp góp phần đổi mới hoàn thiện hệ thống pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
Trang 11- Nghiên cứu những vấn đề lí luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật đất đai hiện hành về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Tìm hiểu một số vấn đề về hoạt động xây dựng quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất trong thực tiễn tại thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội , tình hình thực hiện pháp luật quy hoạch kế hoạch sử dụng đất;
- Đánh giá, tìm ra những hạn chế, bất cập của pháp luật về xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai nói chung, chế định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng, đồng thời nâng cao hiệu quả của hoạt động xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong thực tiễn
4 Phương pha ́ p nghiên cứu luâ ̣n văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi sử dụng phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu Phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề của tôi là luôn luôn có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Tìm hiểu những quy định của pháp luật trên cơ sở xem xét thực tế áp dụng chúng Các phương pháp cụ thể mà tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài này đó là:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để phân tích, lý giải, lập luận những vấn đề lý luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Phương pháp phân tích, giải thích pháp luật được sử dụng chủ yếu để phân tích, giải thích các quy phạm pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Phương pháp so sánh pháp luật dùng để so sánh quy phạm pháp luật về
Trang 12quy hoạch, kế hoạch hiện hành với quy phạm pháp luật về quy hoạch, kế hoạch ở giai đoạn trước đây, so sánh pháp luật về quy hoạch sử dụng đất với các quy định của pháp luật về các loại quy hoạch khác như quy hoạch xây dựng, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Phương pháp thống kê cũng được sử dụng khi xử lý các số liệu từ các báo cáo tình hình sử dụng đất để có cái nhìn khái quát về thực trạng pháp luật
về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 Tính mới và những đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức liên quan trong việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung, pháp luật quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất nói riêng
Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho việc học tập và giảng dạy của các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, chuyên ngành quản lý đất đai
Luâ ̣n văn có thể được sử du ̣ng trong viê ̣c nâng cao chất lượng thực thi quy hoa ̣ch và kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất đai của thi ̣ xã Sơn Tây thành phố Hà Nô ̣i
6 Kết cấu cu ̉ a luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu , kết luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , đề tài được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:
dụng đất và pháp luật về quy hoạch, kế hoa ̣ch sử dụng đất
Chương 2: Thực tra ̣ng p háp luật về quy hoạch , kế hoạch sử du ̣ng đất
qua thực tiễn thực thi tại thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất ở
Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY HOẠCH
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Khái niệm , đặc điểm , mục đích , mục tiêu và nguy ên tắc cu ̉ a quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất
1.1.1 Khái niệm quy hoạch, kế hoa ̣ch sử dụng đất
Khi bàn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà khoa học, do họ nhìn nhận quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
ở những khía cạnh khác nhau hoặc cách diễn đạt khác nhau
Xét về mặt thuật ngữ, quy hoạch nói chung được hiểu là “sự bố trí sắp
xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn” [49, tr.883]
Theo Giáo sư Nguyễn Lân, quy hoạch là “sự trù tính một cách cụ thể
công việc sẽ tiến hành để đạt kết quả tốt nhất” [21, tr.598]
Còn Đất đai được hiểu là:
Một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đất như khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hình, địa mạo, nước mặt (hồ, sông, suối, đầm lầy…) các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, xây dựng hồ chứa nước, hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa…) [54, tr.36]
Để sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả cần phải làm quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác
Trang 14định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định
Theo Dent (1988, 1993) quy hoạch sử dụng đất như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai [47, tr.133]
Một định nghĩa khác của Fresco và ctv, (1992), “quy hoạch sử dụng
đất như là dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác” [47, tr.134]
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội có tính đặc thù, đây là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế - xã hội được xử lý bằng các biện pháp phân tích, tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện
tự nhiên, kinh tế xã hội để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm, khoa học và có hiệu quả cao nhất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần là các biện pháp
kỹ thuật, cũng không đơn thuần là một quy phạm pháp luật thông thường Xét một cách toàn diện, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh
tế - xã hội đặc thù thể hiện đồng thời ba tính chất
Một là, tính pháp chế: Quy hoạch, kế hoạch có tính pháp chế bởi nó
nhằm đảm bảo chế độ quản lý và sử dụng đất theo pháp luật thông qua việc xác nhận mục đích sử dụng đất của người sử dụng đất theo quy hoạch Cùng với pháp luật thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ để Nhà nước quản lý đất đai được thống nhất
Trang 15Hai là, tính kỹ thuật: Ngoài tính pháp chế, quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất còn có tính kỹ thuật bởi đó là việc sử dụng các công tác chuyên môn như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu để xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên cơ sở tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Ba là, tính kinh tế: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mang tính kinh tế
thể hiện bằng việc hiệu quả sử dụng đất đai phụ thuộc vào tính khoa học, hợp
lý của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Đây là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác hợp lý và có hiệu quả cao tiềm năng đất đai
Như vậy, Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh
tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý,
có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước,
tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường
Từ góc nhìn pháp lý, tập thể tác giả Trường Đại học Luật Hà Nội đưa
ra định nghĩa về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
+ Quy hoạch đất đai là việc khoanh định hoặc điều chỉnh việc khoanh định đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước là sự tính toán, phân bổ sử dụng đất cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian [52, tr.235]
+ Kế hoạch đất đai là việc xác định các biện pháp, thời gian để sử dụng đất theo quy hoạch [52, tr.236]
Tóm lại quy hoạch sử dụng đất là ý đồ sử dụng đất của nhà nước được ghi nhận, thể hiện dưới hình thức văn bản, còn kế hoạch sử dụng đất là các biện pháp được xác định theo từng thời gian cụ thể để thực hiện đúng ý đồ sử dụng đất đã được thể hiện trong quy hoạch
Trang 161.1.2 So sánh giữa quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Như đã phân tích, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất luôn đồng hành nhằm thực hiện tốt công tác quản lý đất đai Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
có sự giống nhau ở chỗ chủ thể lập và chủ thể ra quyết định thi hành Các cơ quan như Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh sau khi đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua…
Bên cạnh đó, giữa quy hoạch với kế hoạch sử dụng đất có những sự khác biệt Do quy hoạch là ý đồ sử dụng đất đai của cơ quan nhà nước được thể hiện dưới hình thức bằng văn bản, do đó quy hoạch thường có tính tương đối ổn định, thời gian khoảng mười năm, căn cứ để lập quy hoạch đó là chiến lược có tính tổng thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh của một quốc gia, của vùng, ngành, lĩnh vực Trong khi đó, kế hoạch sử dụng đất là các biện pháp cụ thể, nhằm sử dụng đất thực sự có hiệu quả, do vậy thường có thời gian ngắn hơn khoảng một nửa so với thời gian quy hoạch, mặt khác căn cứ để lập ra kế hoạch bắt buộc phải có yếu tố quy hoạch
sử dụng đất bên trong Ngoài ra, việc thay đổi điều chỉnh quy hoạch chỉ diễn
ra trong trường hợp có sự thay đổi tương đối lớn, căn bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội mang tính chiến lược…; còn kế hoạch sử dụng đất sẽ phải điều chỉnh khi đã có điều chỉnh quy hoạch hoặc có sự thay đổi về khả năng thực hiện trước đó
1.1.3 Đặc điểm của quy hoạch, kế hoa ̣ch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử
xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp chung và dài hạn, là một bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Các đặc điểm của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện như sau:
Trang 17Thứ nhất, đặc điểm lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch
sử dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai và quan hệ giữa người với người Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội
Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội Nó góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn, nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất
xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và môi trường - sinh thái nảy sinh trong quá trình sử dụng đất
Thứ hai, đặc điểm tổng hợp
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu ở chỗ, đối tượng của quy hoạch sử dụng đất là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Quy hoạch sử dụng đất đai cũng đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và
xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường sinh thái
Với đặc điểm này, quy hoạch có trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu
sử dụng đất, điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực Quy hoạch sử dụng đất còn xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định
Trang 18Thứ ba, đặc điểm dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh
tế - xã hội quan trọng như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp , từ đó xác định quy hoạch trung hạn và dài hạn về sử dụng đất, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch
sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn
Quy hoạch sử dụng đất dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh
tế - xã hội cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của quy hoạch sử dụng đất đai thường từ trên 10 năm (theo Điều 37 Luật đất đai năm 2013 của Viê ̣t Nam) đến 20 năm hoặc lâu hơn, có những quốc gia thời hạn quy hoạch còn lên đến 60, 70 năm
Thứ tư, đặc điểm về chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất mang tính tổng thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung
cụ thể, chi tiết của sự thay đổi Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ
mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như: Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng; Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành; Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng; Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng; Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều
Trang 19nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá, quy hoạch sẽ càng ổn định
Thứ năm, đặc điểm về chính trị
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện tính chính trị Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách, quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế -
xã hội Quy hoạch tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái…
Thứ sáu, đặc điểm khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất
đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc "quy
hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện " với chất
lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
1.1.4 Mục đích, mục tiêu của quy hoạch, kế hoa ̣ch sử dụng đất
Mục đích của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa to lớn về mọi mặt đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Cùng với pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý đất đai được thống nhất, biểu hiện cụ thể như sau:
Trang 20Thứ nhất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ
để Nhà nước quản lý đất đai được thống nhất
Trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai không thể tách rời quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước nói chung của các địa phương nói riêng sau khi được quyết định, xét duyệt nó mang tính pháp lý Mọi hoạt động giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Người sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất và thực hiện các quyền của mình cũng phải tuân thủ, không được trái với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thứ hai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo cho đất đai được sử
dụng hợp lý, tiết kiệm
Ý đồ sử dụng đất của Nhà nước được ghi nhận và thực hiện thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Bằng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Nhà nước tính toán đến các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, đến nhu cầu sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển của đất nước, tính toán đến quỹ đất của cả nước
và từng địa phương để tìm ra phương án sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm
Thứ ba, thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Nhà nước sử dụng
quyền định đoạt với đất đai
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Vì vậy, Nhà nước có đầy đủ ba quyền năng của chủ sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Nhưng đất đai là loại tài sản đặc biệt nên nhà nước không thể định đoạt đất đai như tài sản thông thường là bán, tặng, cho mà định đoạt thông qua hoạt động quy hoạch sử dụng đất và một số hoạt động khác
Mục tiêu của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng hướng đến những mục tiêu nhất định Mục tiêu của việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 21là nhằm lựa chọn được phương án sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất Hiệu quả sử dụng đất cao mà Nhà nước hướng đến trong hoạt động quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng và công tác quản lý đất đai nói chung không chỉ
là hiệu quả về mặt kinh tế mà là hiệu quả về nhiều mặt, như hiệu quả về kinh
tế - xã hội, môi trường - sinh thái hay an ninh - quốc phòng
1.1.5 Các nguyên tắc cơ ba ̉ n của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Các quy luật phát triển kinh tế khách quan của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa là yếu tố quyết định nội dung và phương pháp quy hoạch sử dụng đất Nói một cách khác, các quy luật đó đã điều khiển hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực phân phối và sử dụng tài nguyên đất Quyền sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là chủ thể đại diện là cơ sở để bố trí hợp lý các ngành, tạo điều kiện để chuyên môn hóa sâu các vùng kinh tế và là một trong những điều kiện quan trọng nhất của bước quá độ từ nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu lên nền kinh tế sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Trong quá trình đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng Thông qua quy hoạch Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và phân phối lại quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về đất sử dụng cho các ngành, các chủ thể sử dụng đất Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn là công cụ để nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ đất đai, tiết lập thể chế quản lý, sử dụng tài nguyên đất, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa Đặc trưng của quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất thể hiện qua 5 nguyên tắc sau:
Một là, tuân thủ nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu
Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp có liên quan tới quyền sử dụng đất, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Nó không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng, bởi đất đai đã được xã hội hóa thành sở hữu
Trang 22toàn dân Nhà nước là người có quyền đại diện toàn dân thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các hành vi xâm phạm đến quyền là lợi ích của các chủ thể sử dụng đất
Khi quy hoạch dụng đất người ta đã lập nên đường ranh giới giữa các chủ thể sử dụng đất, giữa các loại đất, tức là đã xác định phạm vi quyền lợi giữa những người sử dụng đất với nhau Người sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu Người sử dụng đất được mở rộng các quyền trong quá trình sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa
kế, thế chấp tặng cho quyền sử dụng đất,… nhưng mọi thay đổi trong cơ cấu
sử dụng đất phải được kịp thời phản ánh trong các tài liệu thích hợp để Nhà nước theo dõi, kiểm tra, giám sát
Hai là, sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ thiên nhiên
Đất đai có một đặc tính quan trọng là nếu được sử dụng đúng và hợp lý thì chất lượng đất ngày càng tốt lên Tính chất đặc biệt này của đất đòi hỏi chúng ta phải hết sức chú ý trong quá trình sử dụng đất Một trong những vấn
đề bảo vệ đất là ngăn ngừa và hạn chế quá trình xói mòn do gió và nước gây nên Ngoài ra trong lĩnh vực bảo vệ đất, quy hoạch sử dụng đất không chỉ làm nhiệm vụ chống xói mòn mà còn phải chống quá trình ô nhiễm đất, suy thoái đất, bảo vệ các yếu tố của môi trường thiên nhiên
Bảo vệ và cải tạo thảm thực vật, diện tích đất mặt nước cũng là nhiệm
vụ quan trọng trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Để tránh lãng phí, khi cấp đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, trong các phương án quy hoạch sử dụng đất phải bố trí hợp lý các công trình nhà ở và phục vụ sản xuất với tinh thần hết sức tiết kiệm đất
Ba là, tổ chức phân bổ quỹ đất cho các ngành
Khi phân bổ quỹ đất cho các ngành, cần đảm bảo nguyên tắc tổ chức
Trang 23sử dụng tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp Sự phát triển của các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thủy điện, dầu khí…đều đòi hỏi phải có đất Việc bố trí các khu công nghiệp, các tuyến đường giao thông vận tải, các khu khai thác khoáng sản và các công trình xây dựng lớn thường được dự kiến trước trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân dài hạn Nhưng trong các quy hoạch đó thường mới chỉ dự kiến vùng và địa điểm sẽ xây dựng, còn vị trí cụ thể (bãi xây dựng) thì sẽ được xác định trong quá trình quy hoạch sử dụng đất dưới hình thức thành lập một đơn vị sử dụng đất phi nông nghiệp mới Thực chất là việc lấy một khoảnh đất nào đó từ quỹ đất dự phòng của quốc gia hoặc từ quỹ đất nông nghiệp để
bố trí cho một công trình phi nông nghiệp
Khi giao đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, hầu như bao giờ cũng làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất của đơn vị bị mất đất Do đó, khi xây dựng
dự án giao đất cần lưu ý để hoạt động sản xuất của cơ sở đó không bị hoặc ít
bị ảnh hưởng nhất Diện tích đất giao cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ đất chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả trong nông nghiệp Trong trường hợp việc giao đất cho nhu cầu phi nông nghiệp làm cơ cấu sử dụng đất
bị thay đổi nhiều, tổ chức lãnh thổ bên trong bị đảo lộn thì phải quy hoạch lại toàn phần hoặc từng bộ phận cho đơn vị sử dụng đất bị ảnh hưởng đó
Trong trường hợp giao đất cho nhu cầu khai thác khoáng sản (vị trí của các khoảnh đất này không thể thay đổi được) thì phải lường trước mọi hậu quả có thể xảy ra cho các đơn vị bị mất đất và từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục hậu quả hoặc giảm bớt ảnh hưởng xấu của nó
Khi đánh giá về mặt kinh tế những hậu quả do việc thu hồi đất, giao đất gây ra phải tính đến các khoản chi phí và thiệt hại như sau: Giá trị nhà cửa, công trình có trên diện tích đất bị thu hồi; Những chi phí đầu tư trên đất chưa
Trang 24sử dụng hết của người sử dụng đất; Những chi phí để di chuyển dân cư; Chi phí để tháo gỡ nhà cửa, công trình và khôi phục lại ở địa điểm mới; Những thiệt hại của sản xuất và những phí tổn do phải quy hoạch mang lại
Bốn là, tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý
Khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý để thực hiện những nhiệm vụ kế hoạch của Nhà nước, của riêng từng ngành
Quy hoạch sử dụng đất phải nhằm mục đích tạo ra những điều kiện về
tổ chức lãnh thổ thúc đẩy các đơn vị sản xuất Khi quy hoạch sử dụng đất, người ta dự kiến phương hướng sử dụng đất trong một thời gian dài Tương lai phát triển các đơn vi sử dụng đất cũng là một trong những căn cứ để xây dựng các phương án trong quy hoạch
Tóm lại, khi giải quyết mỗi nội dung của đồ án quy hoạch sử dụng đất phải căn cứ vào yêu cầu tổ chức hợp lý sản xuất Chẳng hạn, khi tổ chức và
bố trí sử dụng đất nông nghiệp và luân canh, trước hết cần dựa vào cơ cấu, quy mô và hướng chuyên môn hóa của các ngành đã được xác định trước trong kế hoạch phát triển tương lai Việc tổ chức sử dụng hợp lý đất đai phụ thuộc vào việc tổ chức sử dụng các tư liệu sản xuất khác và toàn bộ quá trình sản xuất nói chung Bên cạnh đó việc sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc phát triển và bố trí các ngành nghề, đến việc tổ chức lao động và năng suất lao động, đến hiệu quả sử dụng các tư liệu sản xuất Như vậy đất đai chỉ có thể được tổ chức sử dụng đúng và hợp lý nếu nó gắn bó với việc tổ chức các tư liệu sản xuất khác, với tổ chức lao động và quản lý đơn vị
Năm là, phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng lãnh thổ
Mỗi vùng, mỗi đơn vị sử dụng đất đều có những điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, nếu không tính đến điều đó thì không thể tổ chức sử dụng hợp lý đất đai
Trang 25Điều kiện tự nhiên như chất lượng đất, độ màu mỡ, phì nhiêu của đất sẽ được tính toán để phân bổ, quyết định mục đích sử dụng đất Ngoài ra, khi khi lựa chọn phương án sử dụng đất các nhà quy hoạch còn phải tính đến hiệu quả kinh tế, các điều kiện xã hội để phương án mình lựa chọn có tính khả thi
Tóm lại, khi xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất của cả nước, của từng vùng, từng đơn vị hành chính lãnh thổ phải tính đến các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội
1.2 Như ̃ng vấn đề chung về pháp luâ ̣t quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất
1.2.1 Vai tro ̀ của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Hiến pháp năm 2013 quy định "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên
khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" [32, Điều 53]
Quy định trên của Hiến pháp cho thấy quản lý nhà nước về đất đai thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã trở thành một nguyên tắc hiến định Mọi
tổ chức, cá nhân, và cả các cơ quan nhà nước đều phải tuân thủ nguyên tắc ấy Tất cả văn bản pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn như các đạo luật, luật, văn bản dưới luật đều nhằm cụ thể hóa hiến pháp và không được trái với hiến pháp
Luật Đất đai hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
đã cụ thể hóa quy định quản lý nhà nước về đất đai bằng quy hoạch
Trong công tác quản lý đất đai, qui hoạch sử dụng đất chính là cơ sở khoa học là căn cứ pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý các biến động về đất đai, nó trực tiếp thể hiện phương thức yêu cầu trong công tác quản lý và
sử dụng đất đai Qui hoạch sử dụng đất đai là một trong những phương tiện để Nhà nước thực hiện các chủ trương, chính sách đất đai của mình, giúp cho Nhà nước can thiệp một cách sâu sắc vào quá trình sử dụng đất, đồng thời khắc phục những khó khăn do lịch sử để lại Việc quản lý đất đai theo qui hoạch chính là điều kiện để đất đai được sử dụng hợp lý và có hiệu quả
Trang 26Trong nền kinh tế hiện nay, người sử dụng đất có nhiều mục đích sử dụng đất khác nhau nhưng nếu trái với qui hoạch là trái với pháp luật Vì qui hoạch sau khi đã được quyết định là biện pháp, chính sách, phương thức để Nhà nước quản lý đất đai
Tất cả các cơ quan quản lý đất đai và người sử dụng đất phải tuyệt đối tuân thủ theo qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt Đất đai dù là nguồn tài nguyên có phong phú, đa dạng đến đâu thì nó cũng không phải là vô tận, mà là một đại lượng hữu hạn Trong khi đó, nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng Nhà nước không thể cho phép các nhu cầu đó phát triển một cách tự phát mà phải có kế hoạch, điều tiết
nó phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở khoa học của quá trình xây dựng các chiến lược về khai thác, sử dụng đất, là tiền đề cho việc thực hiện đúng đắn các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ
là quy tắc xử sự bắt buộc để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quá trình sử dụng đất của mọi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, quá trình quản lý đất đai của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Pháp luật điều chỉnh hoạt động quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai
ở chỗ, quy định trách nhiệm của mỗi cơ quan nhà nước, mỗi ngành, mỗi đơn
vị trong xây dựng quy hoạch và kế hoạch hóa sử dụng đất đồng thời đảm bảo cho các quy hoạch và kế hoạch đó có hiệu lực pháp luật trong thực tế
Tóm lại, không có quy hoạch rất khó khăn trong quản lý đất đai Quy hoạch được xây dựng mà không quản lý đất đai theo quy hoạch, không sử dụng đất theo quy hoạch là hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước
về đất đai, trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 271.2.2 Sư ̣ cần thiết quy đi ̣nh pháp luật đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có Nhà nước
Một trong những chức năng của pháp luật là chức năng điều chỉnh Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội Như vậy, pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội
Quan hệ xã hội là mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ngoài mối quan hệ giữa chính quy hoạch với kế hoạch thì còn phát sinh rất nhiều quan hệ xã hội
Quan hệ giữa người với người trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Một là, Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong quá trình
lập, xét duyệt, công bố và thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất
Hai là, Quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với các tổ
chức chuyên môn xây dựng quy hoạch
Ba là, Quan hệ giữa cơ quan nhà nước, tổ chức chuyên môn xây dựng
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với tổ chức, cá nhân, cơ sở tôn giáo, cộng
đồng dân cư sử dụng đất (gọi chung là người sử dụng đất)
Trang 28Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó là quan hệ giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới như giữa Chính phủ với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, quan hệ giữa Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với Ủy ban nhân dân cấp huyện…, ví dụ như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh gửi lên cho Chính phủ xét duyệt Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất còn là quan hệ giữa các cơ quan cùng cấp như giữa Ủy ban nhân dân với Hội đồng nhân dân; quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
có thẩm quyền chung với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền chuyên môn như giữa Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh với Sở Tài nguyên và Môi trường, quan hệ giữa Chính phủ với Bộ Tài nguyên và Môi trường
Quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với các tổ chức chuyên môn xây dựng quy hoạch như quan hệ giữa cơ quan nhà nước các cấp
có trách nhiệm tổ chức việc lập quy hoạch với các trung tâm quy hoạch, các đội quy hoạch, các chuyên gia kỹ thuật về quy hoạch bởi đặc điểm của quy hoạch là mang tính kỹ thuật như đã phân tích ở phần trên Quy hoạch vì thế sẽ không được lập nếu không có các chuyên gia quy hoạch, chuyên gia có kiến thức sâu và chuyên môn như: chuyên gia khảo sát đất, chuyên gia đánh giá đất đai, chuyên gia nông học, chuyên gia lâm nghiệp, các chuyên gia về chăn nuôi thú y, nhà kinh tế và nhà xã hội học…
Trong qúa trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn phát sinh mối quan hệ giữa giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, giữa tổ chức chuyên môn xây dựng quy hoạch với người sử dụng đất Người
sử dụng đất là người mà quyền và lợi ích của họ gắn chặt với quy hoạch Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế và cả lợi ích môi trường sinh thái của người dân trong và lân cận với vùng quy hoạch Vì vậy,
họ không chỉ có mối quan hệ với các cơ quan nhà nước trong quá trình thực
Trang 29hiện quy hoạch mà quan hệ đó còn phát sinh ngay trong quá trình xây dựng quy hoạch Cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức chuyên môn khi xây dựng quy hoạch phải lắng nghe ý kiến, nhu cầu, nguyện vọng của người sử dụng đất Thông thường cho thấy, những cố gắng thành công nhất là biết kết hợp giữa các nghiên cứu kỹ thuật với mong ước của người địa phương đang sống, giúp cho quy hoạch được tốt hơn Một trong những nguyên tắc lập quy hoạch
là phải dân chủ công khai Phương pháp quy hoạch tiến bộ mà chúng ta cần ghi nhận là huy động sự tham gia của cộng đồng
Quan hệ phát sinh trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn là mối quan hệ giữa con người với đất đai Đó là quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với đất đai, giữa tổ chức chuyên môn xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với đất đai, giữa người sử dụng đất với đất đai Hay nói cách khác là thái độ đối xử giữa con người với đất đai trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch nói trên đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật, cần phải có nguyên tắc xử sự bắt buộc, được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào để hướng chúng đi theo một trật tự nhất định, không thể là mối quan hệ tự phát Có như vậy đất đai mới được bảo vệ, được sử dụng hợp lý tiết kiệm và
có hiệu quả Pháp luật có chức năng điều chỉnh, tuy nhiên pháp luật không thể điều chỉnh hết tất cả các quan hệ xã hội, mà chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản Quan hệ phát sinh trong quá trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng vậy, nó không thể được điều chỉnh hết bằng pháp luật Pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất ở nhiều cấp độ khác nhau
Hiến pháp quy định nguyên tắc chung rằng: quản lý nhà nước về đất đai phải được quản lý bằng quy hoạch (Hiến pháp năm 1992, Điều 18); Đất
Trang 30đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luâ ̣t (Hiến pháp năm 2013, Điểu 54) Luật Đất đai cụ thể hóa nguyên tắc hiến định ấy nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kỳ quy hoạch, kế hoạch cũng như quy định về trách nhiệm, thẩm quyền, trình tự lập, công bố, thông qua, xét duyệt, công bố, thực hiện và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Nội dung này được cụ thể hóa tại các Nghị định, Thông
tư Những quy định về quy trình kỹ thuật trong qúa trình xây dựng quy hoạch (mối quan hệ giữa tổ chức chuyên môn xây dựng quy hoạch với đất đai) chủ yếu được quy định tại các Thông tư do Bộ chuyên ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường) ban hành
Các quan hệ cơ bản phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch có nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật bởi bên cạnh chức năng điều chỉnh, pháp luật còn có chức năng bảo vệ Pháp luật là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy
ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
Ý thức bảo vệ đất đai, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của chúng ta còn rất hạn chế trong quá trình sử dụng đất nói chung và trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng vì vậy pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần được ban hành nhằm tác động vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật Từ sự nhận thức này hướng con người đến những hành vi, cách xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội, lợi ích của nhà nước, lợi ích của bản thân trong qúa trình sử dụng đất nói chung và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng
Trang 31Tóm lại pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là hệ thống các quy
tắc xử sự bắt buộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.2.3 Đặc điểm của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Như đã phân tích, quản lý nhà nước về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thông qua hệ thống các quy tắc xử sự chung bắt buộc trở thành nguyên tắc hiến định Tuy mỗi giai đoạn khác nhau, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có sự thay đổi, bổ sung theo hướng ngày một hoàn chỉnh, song nhìn chung chúng có những đặc điểm tương đối bền vững
Các quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (cái riêng) phải
có tính phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh (cái tổng thể); phải thống nhất với điều kiện
tự nhiên, kinh tế- xã hội Mặt khác, quy định về quy hoạch sử dụng đất có tính dài hạn, thường là mười năm và quy mô nhất là quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, trong đó kế hoạch sử dụng đất thường có tính ngắn hạn (năm năm hoặc hàng năm) phải đảm bảo được nội dung quy hoạch và thường gắn với các ngành, lĩnh vực, địa phương
1.2.4 Nô ̣i dung chủ yếu củ a pháp luật về quy hoạc h, kế hoạch sử dụng đất
Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng không thể điều chỉnh hết tất cả các quan hệ ấy mà chỉ điều chỉnh những quan hệ cơ bản Pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm những nội dung chủ yếu sau - Chương IV Luâ ̣t đất đai năm 2013:
Thứ nhất, nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thứ hai, hê ̣ thống quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất
Trang 32Thứ ba, nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và kỳ quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất
Thứ tư, trình tự, trách nhiệm , thẩm quyền xây dựng quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất, gồm có: Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Xét duyệt, quyết định quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất
Thứ năm, công bố và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thứ sáu, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều chỉnh quy
Đối với pháp luật về đất đai nói chung, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng việc thực thi pháp luật chia thành hai nhóm: hoạt động lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ( hoạt động quản lý) và hoạt động chấp hành, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tương ứng với hai nhóm đối tượng đó là cơ quan nhà nước (chủ thể quyền lực) và chủ thể có nghĩa vụ thực hiện Về phía các cơ quan nhà nước, để thực thi pháp luật nói chung và pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng đòi hỏi phải có các điều kiện cơ bản giúp hoạt động quản lý đạt kết quả như có các thiết chế,
cơ quan làm việc, đội ngũ con người thực hiện…; trong khi đó, về phía người
Trang 33dân là những chủ thể có nghĩa vụ thực hiện, điều kiện để thực thi pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó là họ phải có đủ năng lực để thực hiện
1.3 Sơ lược lịch sử phát triển về quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất ở Viê ̣t Nam
1.3.1 Giai đoa ̣n trước năm 1980
Trước những năm 1980, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Việt Nam chưa được coi là công tác của ngành quản lý đất đai mà chỉ được đề cập đến như là một phần của quy hoạch phát triển nông nghiệp Từ năm 1975 đến cuối năm 1978, Chính phủ đã phê duyệt phương án phân vùng sản xuất nông lâm nghiệp và công nghiệp chế biến nông lâm sản theo bảy vùng và trên địa bàn lãnh thổ là cấp tỉnh Các phương án phân vùng nông lâm nghiệp của tỉnh đã
đề cập đến phương hướng sử dụng tài nguyên trong đó có tính toán đến quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiên, do mục đích đề ra ngay từ đầu chỉ là phục vụ, phát triển nông lâm nghiệp nên các loại đất khác chưa được đề cập đến Bên cạnh đó, do thiếu nhiều tài liệu, chưa tính được khả năng đầu tư nên các phương án này có tính khả thi chưa cao
Tóm lại, trước những năm 1980, pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được chú trọng đúng mức, nó chỉ là một phần trong pháp luật quy hoạch phát triển nông nghiệp và chưa có tính khả thi
1.3.2 Giai đoa ̣n từ năm 1981 đến trước năm 1986
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ năm đã chỉ rõ: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm sau” Thực hiện Nghị quyết này, các bộ, ngành, tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất tại Việt Nam đến năm 2000 Cũng trong thời kỳ này, hầu hết 500 huyện của cả nước đã tiến hành xây dựng quy hoạch
tổng thể của huyện
Trang 34Trong các sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của tỉnh đều đề cập đến vấn đề sử dụng đất đai và được tính toán tương đối có hệ thống để khớp với cả nước, các vùng kinh tế lớn, các huyện trong tỉnh Các tài liệu này đã bước đầu đánh giá được hiện trạng, tiềm năng đất đai và đưa ra được dự kiến sử
dụng quỹ đất quốc gia đến năm 2000
So với thời kỳ trước những năm 1980, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tiến bộ về chất lượng, tính khả thi có cao hơn song nó vẫn chưa phải là một công tác độc lập mà vẫn chỉ là một phần trong sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của các tỉnh, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vì
vậy cũng chưa được quan tâm xây dựng
1.3.3 Giai đoa ̣n từ năm 1987 đến trước năm 1993
Đây là thời kỳ có Luật đất đai đầu tiên năm 1987 ra đời đến trước khi
có Luật đất đai năm 1993 Thời kỳ này công tác quy hoạch đã có được cơ sở pháp lý quan trọng Triển khai một thời gian ngắn, sau đó lại trầm lắng, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn chưa được xúc tiến như luật định Nguyên nhân của vấn đề này là do nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ này đang đứng trước nhiều khó khăn và thử thách lớn lao khi chuyển sang cơ chế thị trường Tuy vậy, đây là thời kỳ công cuộc đổi mới ở nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm vai trò quản lý tập trung của hợp tác xã nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho nông dân và thực thi các chính sách đổi mới khác Công tác quy hoạch cấp xã trong giai đoạn này nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất Đây là mốc đầu tiên của việc triển khai quy hoạch
sử dụng đất đai cấp xã trên khắp các xã của cả nước Tuy nhiên, quy hoạch sử dụng đất vẫn còn nhiều hạn chế về nội dung và phương pháp thực hiện
Mặc dù còn nhiều hạn chế song công tác quy hoạch thời kỳ này được xem như bước khởi đầu và tồn tại độc lập với các công tác quy hoạch khác và
đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật Luật Đất đai năm 1987 cụ thể
Trang 35hóa Hiến pháp năm 1980 đã quy định quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất là một trong các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai Điều 11, Luật Đất
đai 1987 quy định: Thứ nhất- Việc lập quy hoạch, kế hoạch: Hội đồng bộ
trưởng lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước; Ủy ban nhân dân các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong địa phương mình;
Các ngành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của ngành mình Thứ hai-
Thẩm quyền phê chuẩn và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai: Quốc hội phê chuẩn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước, Hội đồng nhân dân các cấp phê chuẩn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của địa phương mình trước khi trình lên chính quyền cấp trên trực tiếp xét duyệt; Hội đồng bộ trưởng xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các ngành ở Trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương; Ủy ban nhân dân cấp trên xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; Ủy ban nhân dân mỗi cấp cùng với các ngành cấp trên xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của ngành đó tại địa phương
1.3.4 Giai đoa ̣n từ năm 1993 đến trước năm 2003
Sau Đại hội Đảng khóa VII năm 1991, nước ta triển khai công tác nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội ở hầu hết các tỉnh, thành trực thuộc trung ương, các vùng kinh tế và hầu hết ở các bộ ngành Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này đều tính đến việc sử dụng đất đến năm 2010, việc nghiên cứu, triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất trên phạm vi cả nước được các ngành, các cấp và mọi thành viên trong xã hội hưởng ứng Đây chính là cái mốc bắt đầu của thời kỳ đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp sau một thời gian dài tuyệt đối hóa về công hữu đất đai ở miền Bắc và buông lỏng công tác này ở các tỉnh phía Nam dẫn đến tình trạng có quá nhiều diện tích bỏ hoang, không có chủ sử dụng đất
Trang 36Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993, tại Điều 13 quy định một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai là quy hoạch,
kế hoạch hóa việc sử dụng đất Từ Điều 16 đến Điều 18, Luật Đất đai năm
1993 quy định về thẩm quyền lập, xét duyệt, nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Từ năm 1995, Chính phủ đã chỉ đạo công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cụ thể hơn Tổng cục Địa chính xây dựng báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 để Chính phủ trình ra Quốc hội khóa 9 kỳ họp thứ 10, 11 Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội đã thông qua kế hoạch
sử dụng đất của cả nước 5 năm từ năm 1996 đến năm 2000 Đây là lần đầu tiên có một báo cáo về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tương đối đầy đủ các khía cạnh về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái đối với việc khai thác sử dụng đất đai cho một thời gian tương đối dài được soạn thảo theo phương pháp tiếp cận từ trên xuống dưới và có điều tra thống kê để tổng hợp từ dưới lên
Cùng với báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cả nước, có nhiều tỉnh soạn thảo triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 1996- 2010
Còn ở cấp huyện và xã cũng đang được tổ chức triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường Các phương án quy hoạch này ngày càng được đảm bảo tốt hơn các yêu cầu về nội dung khoa học và pháp lý nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt
ra Đặc biệt, trên tinh thần kế thừa Luật Đất đai năm 1993 và các luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai 2003 ra đời đã
bổ sung và hoàn thiện các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được Nhà nước ngày càng quan tâm Luật Đất đai 2003 lần đầu tiên đã quy định về nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch, nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 37Pháp luật hiện hành về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định bởi các văn bản sau:
Một là, tại Hiến pháp năm 1992 quy định: Nhà nước thống nhất quản lý
đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả (Điều 18)
Hai là, Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Mục II Chương II từ Điều
21 đến Điều 30
Ba là, các nghị định, thông tư, quyết định bao gồm: Nghị định số 181/2003/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai: Chương III từ Điều 12 đến Điều 29; Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh
và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số BTNMT ngày 22/5/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng dự toán kinh phí thực hiện lập và
04/2006/TT-điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số
04/2005/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30 tháng 6 năm 2005 Ban hành Quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, của cấp vùng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã
Tóm lại, với mấy chục năm ra đời và phát triển, pháp luật quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai ở nước ta đã không ngừng được đổi mới, hoàn thiện
Mặc dù còn bộc lộ một số nhược điểm như vấn đề bảo vệ môi trường,
sử dụng đất bền vững, tính khả thi nhưng pháp luật đã điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đem lại nhiều thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng vào quá trình quản lý và sử dụng đất hiệu quả, bền vững đồng thời thúc đẩy sự phát triển một cách tích cực của nền sản xuất xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 381.3.5 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2013
Trong bối cảnh Viê ̣t Nam đã thực hiê ̣n đường lối đổi mới nền kinh tế và
hô ̣i nhâ ̣p vào nền kinh tế quốc tế Nhu cầu phát triển kinh tế đã dẫn đến viê ̣c thu hồi đất cho các dự án công nghiê ̣p , hạ tầng cơ sở là rất lớn , viê ̣c quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai bị thay đổi cho bắt kịp với thời kỳ mới
Luâ ̣t đất đai 1993 trải qua mười năm thực hiện đã có những đóng góp rất quan tro ̣ng cho sự phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên đất đai của đất nước Tuy nhiên trải qua 10 năm thực thi , Luâ ̣t đất đai 1993 được ban hành dưới sự soi sáng của Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp đổi mới của Việt Nam cũng đã bô ̣ lô ̣ nhiều vướng mắc , bất câ ̣p, đă ̣c biê ̣t là vấn đề quy hoa ̣ ch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất đai đường lối chính sách phát triển của đất nước sau đa ̣i
hô ̣i X của Đảng và sau khi ban hành Hiến pháp sửa đổi năm 2001
Về quy đi ̣nh liên quan đến quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất được Luâ ̣t đất đai 2003 quy đi ̣nh tương đối cu ̣ thể Theo Điều 20 Luâ ̣t đất đai 2003 thì: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất được lập mười năm một lần gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất quy định tại Điều 24 của Luật này Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập trên bản đồ địa chính gọi là bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết
Nhằm tránh tình tra ̣ng la ̣m dụng việc quy hoạch , không tuân theo quy
đi ̣nh, có can thiệp vào công tác quy hoạch sử du ̣ng đất, Luâ ̣t đất đai 2003 quy
đi ̣nh các Nguyên tắc cần tuân thủ khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Theo đó, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm bảo: Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt; Quy hoạch,
Trang 39kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới; Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả; Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; Dân chủ và công khai; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó
Ngoài ra, Luâ ̣t đất đai 2003 còn quy định về căn cứ lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất Theo đó, căn cứ để lập quy hoạch sử dụng đất bao gồm: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường; Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất; Định mức sử dụng đất; Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc
sử dụng đất; Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước
Căn cứ để lập kế hoạch sử dụng đất bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm và hàng năm của Nhà nước; Nhu cầu sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước; Khả năng đầu tư thực hiện các dự án, công trình có sử dụng đất
Những quy đi ̣nh trong Luâ ̣t đất đai 2003 về quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch sử dụng đất đã có sự sửa đổi , bổ sung so với trước đó Nhiều quy đi ̣nh đã khắc phục nhược điểm là “tính ta ̣m thời” của quy hoa ̣ch , viê ̣c thay đổi quy hoa ̣ch
có thể diễn ra không theo trình tự nhất định
Ngoài Luật đất đai năm 2003, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn ban hành các văn bản có liên quan đến thi hàn h luâ ̣t đất đai nói chung và quy hoạch, kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất nói riêng Những văn bản này gồm có:
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 về thi hành Luâ ̣t đất đai năm 2003
Trang 40Nghị Định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/06 sửa đổi các nghị định hướng dẫn Luật Đất đai
Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Như vâ ̣y, nghiên cứu những quy đi ̣nh về quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất trong Luâ ̣t đất đai năm 2003 cho chúng ta đánh giá được quy đi ̣nh trong văn bản này về vấn đề quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất Trong đó có nhiều quy đi ̣nh đã trở nên bất câ ̣p, hạn chế Điều này đã được Luâ ̣t đất đai năm 2013 sửa đổi , bổ sung nhằm ta ̣o ra sự hoàn thiê ̣n về hê ̣ thống quy hoa ̣ch và kế hoạch sử dụng đất
1.3.6 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay
Trong giai đoạn này pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử đụng đất nói riêng có sự đổi mới trên cơ sở có Nghị quyết
số 19-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 6 (Khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách,pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong bối cảnh sau gần mười năm thực hiện Luật đất đai năm 2003, bên cạnh những kết quả tích cực trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất góp phần khai thác và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, thì cũng bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 gồm 14 chương 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều so với Luật Đất đai năm 2003 Trong đó vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Chương IV từ Điều 35 tới Điều 51 Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền còn ban hành một loạt các văn bản có liên quan tới vấn
đề thi hành luật và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Gồm có: