1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chất triết luận trong trường ca thanh thảo

117 630 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 765 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà thơ Chế Lan Viên, khi giới thiệu nhữngsáng tác này của Thanh Thảo đã viết: “Giữa những tháng ngày ác liệt nhấtcủa năm 1972 rền tiếng bom giặc Mỹ một anh bạn trẻ chuyển đến tôi một bà

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Có những cây bút sau một vài sáng tác đầu tay đã bắt đầu cảmthấy lúng túng và ngòi bút dường như chững trước những phạm vi hiện thựcmới Có người làm thơ chuyển sang viết văn xuôi và ngược lại Riêng ThanhThảo là một hiện tượng đặc biệt Trường ca đầu tay: “Những người đi tớibiển” (1977), đã khẳng định và đưa Thanh Thảo trở thành một gương mặttiêu biểu trong đội ngũ các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ Và cũng từ đó chotới nay, Thanh Thảo vẫn không ngừng tìm tòi, sáng tạo, vẫn kiên tâm trêncon đường mình đã chọn: sáng tác trường ca Thanh Thảo viết nhiều trường

ca và đó là thể loại chính ghi nhận những thành công, đóng góp quý báu củathơ anh trong nền văn học Việt Nam hiện đại Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơncho rằng: Thanh Thảo là “ông hoàng của trường ca” Thanh Thảo quả là cómột năng lực trường ca kỳ diệu và hiếm có Sau trường ca “Những người đitới biển” (1977), anh cho xuất bản liên tiếp các trường ca: “Những nghĩa sĩCần Giuộc” (1982), “Bùng nổ của mùa xuân) (1982), “Trẻ con ở Sơn Mỹ”(1982), “Đêm trên cát” (1985), “Trò chuyện với nhân vật của mình” (2002),

“Cỏ vẫn mọc” (2002) và gần đây nhất có “Trường ca Metro” Trường cacũng là nơi thể hiện đậm nét dấu Ên cá tính sáng tạo của ngòi bút ThanhThảo: ý tứ sâu xa, giọng thơ trầm, giàu suy tư với những liên tưởng độc đáo,bất ngờ mang chiều sâu khái quát

1.2 Thanh Thảo là một nhà thơ áo lính– mét nhà thơ tiêu biểu chophong trào thơ trẻ chống Mỹ Sau những trường ca đầu tay viết về cuộc đấutranh giành tự do của dân tộc, Thanh Thảo tiếp tục sáng tác khá sung sức với

ý thức cách tân không ngừng Thanh Thảo tạo ra trong sáng tác của mình mộtgiọng điệu riêng, giàu những suy tư, trăn trở, có chiều sâu “thơ Thanh Thảo

có dáng dấp riêng Đọc anh, chỉ một lần cũng cảm thấy ngay dáng Êy Nó đủsức gây chú ý và gợi suy nghĩ”– Thiếu Mai Thanh Thảo còn là tác giả khá

Trang 2

gần gũi và quen thuộc với văn học nhà trường Vì thế, người viết mong muốnthông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về Thanh Thảo sẽ tích luỹ, mở rộngđược vốn kiến thức để phục vụ cho công tác giảng dạy của mình.

1.3 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, thể trường ca nói chung vàtrường ca Thanh Thảo nói riêng, từ lâu đã được độc giả mến mộ, đặc biệtđược giới nghiên cứu phê bình hết sức quan tâm bởi những vấn đề mà nó đặt

ra, phạm vi hiện thực mà nó phản ánh Có nhiều công trình, bài viết nghiêncứu tìm hiểu về trường ca Thanh Thảo ngay sau năm 1975 và cả nhữngtrường ca sau này của anh Tuy nhiên đề cập đến chất triết luận trong trường

ca Thanh Thảo chỉ có một số bài viết riêng lẻ có khi chỉ đề cập đến một ýnhỏ, một khía cạnh mang tính khái quát; có một báo cáo về chất triết luậntrong trường ca Thanh Thảo, có thể do dung lượng còn hạn chế nên mới chỉdừng ở dạng sơ lược, gợi mở Và, theo thời gian, sức sống lâu bền của tácphẩm bao giờ cũng tiềm Èn những giá trị đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục côngcuộc khám phá Đây còn là khoảng đất trống khiến tác giả luận văn mongmuốn được đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu

1.4 Có ai đó nói rằng, trong suốt ba mươi năm qua, con người thơ củaThanh Thảo vẫn là con người sáng tạo của những trường ca lớn, vì có thể hơithở máu thịt chính của đời anh là hơi thở của trường ca, anh đã đưa hơi thở đờisống và thời đại vào trường ca của mình Bởi “trường ca là thể loại nghệ thuậttổng hợp, có nhiều ưu thế trong việc chiếm lĩnh và phản ánh cả một khoảngkhông gian, thời gian rộng lớn” Với ưu thế của thể loại, trường ca có khảnăng giãi bày cảm xúc suy tư, những trăn trở của người viết trên bình diệnkhông gian rộng lớn Với giọng thơ sắc sảo thông minh, đôi khi khách quanđến lạnh lùng, đây chính là mảnh đất màu mỡ để Thanh Thảo bộc lộ tài năng

1.5 Mấy năm gần đây, yếu tố triết luận, chất triết luận ngày càngđược nhiều người quan tâm, có nhiều luận văn đã nghiên cứu về chất triếtluận của nhiều tác giả khác nhau Thanh Thảo cũng không là ngoại lệ.Nhưng, nh chúng tôi đã nói ở trên, cái làm nên tầm vóc, phong cách nhà thơ

Trang 3

là ở tầm tư tưởng, thái độ, những suy ngẫm của nhà thơ đó trước con người

và cuộc đời Và cơ sở của tầm tư tưởng, thái độ đó là yếu tố triết học Xuấtphát từ những cơ sở đó, người viết chọn đề tài cho luận văn này là: “Chấttriết luận trong trường ca Thanh Thảo”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những ý kiến chung về Thanh Thảo và thơ Thanh Thảo

Xuất hiện vào cuối phong trào thơ chống Mỹ, Thanh Thảo đã trởthành gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ thời chống Mỹ Chùm thơđầu tay của Thanh Thảo “Dấu chân qua trảng cỏ” gồm 13 bài từ chiến trườngMiền Nam gửi ra, được đăng trên tạp chí “Tác phẩm mới” số 36, tháng 4 -

1974, được giải thưởng thơ Hội Nhà văn Việt Nam 1979, gây nhiều chú ýtrong giới nghiên cứu phê bình Nhà thơ Chế Lan Viên, khi giới thiệu nhữngsáng tác này của Thanh Thảo đã viết: “Giữa những tháng ngày ác liệt nhấtcủa năm 1972 rền tiếng bom giặc Mỹ một anh bạn trẻ chuyển đến tôi một bàithơ của bạn anh ở chiến trường Bài thơ hay nhưng mà đau xót quá Nhưnglần này không phải một bài mà là một tập Và cái riêng anh đã rắn rỏi lêntrong cuộc chiến đấu chung Có thể nói đây là một tập thơ làm cho cả tổ thơđều phấn khởi” Với con mắt tinh tường của một nhà thơ lớn, Chế Lan Viên

đã phát hiện tài năng, khẳng định sự hứa hẹn những thành công sau này củahồn thơ Thanh Thảo

Có khá nhiều bài phê bình, nghiên cứu về thơ Thanh Thảo Năm

1980, trong tập tiểu luận phê bình “Những vẻ đẹp thơ” (Nhà xuất bản NghĩaBình), tác giả Nguyễn Đức Quyền có vài nét phác hoạ chân dung nghệ thuậtcủa Thanh Thảo: “Thơ chống Mỹ đến Thanh Thảo đã lắng vào chiều sâu Cái

xô bồ của chiến tranh, cái tàn bạo của giặc Mỹ, cái gian khổ của người línhđược Thanh Thảo nhìn với cái nhìn trầm tĩnh lạ thường”

Tác giả Thiếu Mai trong bài “Thanh Thảo: thơ và trường ca” (Tạp chívăn học số 2– 1980) chủ yếu đánh giá về phong cách: “Thơ Thanh Thảo cóchiều sâu, có lẽ ai đọc thơ anh cũng đều dễ chấp nhận ý kiến đó Thơ Thanh

Trang 4

Thảo có dáng riêng Đọc anh dù chỉ một lần cũng cảm thấy ngay dáng Êy Nó

đủ sức gây chú ý và gợi suy nghĩ Thơ Thanh Thảo có khả năng gợi dậynhững suy nghĩ của người đọc, bởi vì thơ Êy là thơ của một tâm hồn giàu suytưởng, giàu trí tuệ Trước một sự việc, sự vật nhỏ bé cũng như trước nhữngvấn đề của cuộc sống, của con người, Thanh Thảo bao giờ cũng khát khaomuốn hiểu biết một cách thấu đáo, và anh muốn thơ mình góp phần lý giảimọi vấn đề đó Thơ Thanh Thảo có chiều sâu Có nhiều nguyên nhân nhưngphải chăng một nguyên nhân khá quan trọng là ở chỗ bao giê anh cũng muốnvượt qua những hiện tượng bên ngoài để tìm đến bản chất đích thực, cái lõicủa sự vật ”

Tác giả Lại Nguyên Ân với: “Dấu chân những người lính trẻ và thơThanh Thảo” (Văn học và phê bình – Nhà xuất bản Tác phẩm mới – 1982),nhấn mạnh chân dung và sự tự khẳng định mạnh mẽ của người lính trong thơThanh Thảo: “Thanh Thảo đã tìm được khá nhiều cung bậc, nhiều sắc thái để

tô đậm nét vô danh, bình thường ở những người lính cùng thế hệ” và nhữngnét vô danh bình thường này “như báo trước một thầm thì gì nữa, một xácnhận về đặc điểm thế hệ, hơn nữa, một thứ tuyên ngôn”

Năm 1983, các tác giả Sử Hồng và Trần Đăng Suyền đã đi sâu vàophân tích một chủ đề tư tưởng nổi bật của thơ Thanh Thảo trong bài “Suy nghĩ

về nhân dân trong “Những ngọn sóng mặt trời” của Thanh Thảo” (Báo Vănnghệ tháng 6 – 1983): “Những tập thơ của Thanh Thảo đã góp phần làm sâusắc thêm quan niệm về nhân dân trong văn học” Thơ Thanh Thảo được xemxét và đánh giá một cách khái quát trong bài “Thanh Thảo - một gương mặttiêu biểu trong thơ từ sau 1975” của Bích Thu đăng trên Tạp chí văn học sè 5 +

6 năm 1985: “Thanh Thảo đã đem đến cho người đọc “một thực đơn tinh thần”mới mẻ và độc đáo góp phần làm phong phú thêm tiếng nói của thơ hôm nay”

Tác giả Nguyễn Thuỵ Kha với “Lời quê góp nhặt” (Nhà xuất bảnHội nhà văn 1999), đề cập đến người lính trong thơ Thanh Thảo, nhưng tácgiả lại đề cập đến chất dân tộc, chất “Việt” rất độc đáo từ các anh chiến sĩ:

Trang 5

“Sức tự ý thức đến ngột ngạt trong thơ Thanh Thảo như đã khắc hoạ rõ sựriêng biệt của thơ chống Mỹ” “Theo tôi cái chất Việt đã ngấm vào từngcon người khiến cho anh khi viết ra những câu thơ của mình, ở đó đã có bảnsắc dân tộc rồi”.

Một số tác giả khi đánh giá chung về thơ và thơ trẻ chống Mỹ cũng đềcập đến Thanh Thảo: tác giả Mai Hương trong: “Nghĩ về đóng góp của độingũ trẻ trong thơ chống Mỹ” (Tạp chí văn học số 1 - 1981) khi nhận xétchung về sự đóng góp của các nhà thơ trẻ trong việc tăng cường chất kháiquát, chính luận đã coi Thanh Thảo cùng với một số cây bút khác là nhữngngười tiêu biểu và tiên phong cho khuynh hướng này Vũ Quần Phương với

“Thơ hôm nay” (Văn nghệ quân đội, số 6 – 1982) nói về các nhà thơ trẻchống Mỹ cũng đề cập đến Thanh Thảo: “Họ biết nhìn thẳng vào mình, vàothế hệ mình mà cất lên tiếng hát Khi Thanh Thảo viết “Bài ca ống cóng” cũng là lúc thơ của lớp trẻ phát hiện ra mình”

Các bài viết về thơ Thanh Thảo tuy mức độ dài ngắn khác nhau songđều nói được cái hay, cái riêng, cái mới và “lạ”, một bản lĩnh thơ luôn táobạo, gai góc, khẳng định thơ Thanh Thảo có chiều sâu, một giọng thơ luôntrăn trở, day dứt trước hiện thực

2.2 Những bài viết về trường ca Thanh Thảo

Với tập trường ca đầu tay “Những người đi tới biển” (1977), ThanhThảo thực sự đã gây được sự chú ý lớn đối với độc giả còng nh các cây bútphê bình

Năm 1979, trên báo văn nghệ số 24, bài viết: “Từ “Những người đitới biển” tới “Đường tới thành phố” của Tế Hanh đã so sánh để thấy được sựtương đồng và khác biệt giữa hai tập trường ca này: “Họ giống nhau ở chấtnghệ thuật: nghệ thuật của sự sống của cuộc đời chiến đấu, “Thanh Thảo viếtphóng khoáng nhưng có khi lỏng lẻo; Hữu Thỉnh thì chắc chắn nhưng đôikhi hơi khô ”

Trang 6

Lại Nguyên Ân với “Bàn góp về trường ca (Văn nghệ quân đội số 1

- 1981) đánh giá về cấu trúc trường ca Thanh Thảo: “Nhan đề của nó cóchất thơ ở nghĩa bóng, thống nhất với các chương của nó” Theo tác giả đó

là dạng “cấu trúc trữ tình triết lý” Nhan đề thống nhất với ý tứ sâu xa củatrường ca “Những người đi tới biển” mang bình diện triết lý ngay ở cáchxâu chuỗi các chương”

Trong tác phẩm “Văn học và phê bình” (Nhà xuất bản Tác phẩm mới1984), tác giả Lại Nguyên Ân đưa ra một vài suy nghĩ về cấu trúc trường ca,

về tính nhân dân của trường ca (đặc biệt là trường ca “Những ngọn sóngmặt trời”) để từ đó, tác giả tìm ra sự mới mẻ và sự kế thừa truyền thốngtrong những trường ca của Thanh Thảo và một số nhà thơ khác

Sử Hồng - Trần Đăng Suyền trong: “Hình tượng nhân dân trong

“Những ngọn sóng mặt trời”” (Báo Văn nghệ tháng 6 - 1983), đã giúp độcgiả khám phá ra những suy nghĩ mới mẻ của Thanh Thảo về đất nước vànhân dân: “tư tưởng nhân dân được khơi sâu và phong phú hơn, nó đánh dấumột bước tiến mới trong tư tưởng thẩm mỹ của anh”

BÝch Thu với bài viết: “Thanh Thảo – một gương mặt tiêu biểu trongthơ từ sau 1975” (Tạp chí văn học số 5 + 6 năm 1985) cho rằng: “Trường cacủa Thanh Thảo mang đậm dấu vết cá nhân, không lặp lại bất cứ ai Các sángtác của anh thường mang vẻ đẹp trong một chỉnh thể, có một hơi trường cakhông dễ lẫn Tác phẩm hấp dẫn người đọc ở ý tứ sâu xa” Bên cạnh đó, tácgiả cũng đã đề cập đến những yếu tố khác trong trường ca Thanh Thảo nh câuthơ, thể thơ, các hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ: “Thanh Thảo sử dụng linhhoạt các thể thơ Đối với câu thơ tự do, anh tá ra phóng khoáng trong phongcách diễn đạt Dường nh trong trường ca đòi hỏi thơ phải nói bằng giọng thậtgần với nội dung hiện thực Thanh Thảo đã viết những câu thơ không câu nệvào vần luật mà người đọc vẫn cảm nhận được chất thơ của đời sống”

Năm 1988 trong tạp chí văn học sè 5/6, tác giả Mã Giang Lân với bàiviết: “Thử phân định ranh giới giữa trường ca và thơ dài” để tìm hiểu hình

Trang 7

thức trường ca cho rằng: “Những người đi tới biển” từng mảng, từng khốichất liệu, cảm xúc, suy nghĩ đồng hiện Đường dây liên tưởng giữ vị trí quantrọng góp phần tạo nên cấu trúc tác phẩm Trữ tình là phương thức biểu hiệnchủ yếu nhưng vẫn xuất hiện nhiều mảng, nhiều đoạn tự sự mô tả để khắchoạ cuộc sống bề bộn nhiều màu sắc”.

Nguyễn Trọng Tạo trong “Văn chương cảm và luận” (Nhà xuất bảnVăn hoá thông tin - 1998) nhận xét riêng về trường ca Thanh Thảo: “trường

ca của Thanh Thảo có nhiều đoạn thơ, câu thơ đẹp Nếu như buổi đầu thơchống Mỹ chỉ chú ý đến cái hay của toàn bài mà Ýt chó ý đến cái hay củatừng câu, từng đoạn thì thơ Thanh Thảo, thơ trẻ cuối chống Mỹ đã phấn đấukhắc phục những nhược điểm trước đây”

Năm 1999, tác giả Vũ Văn Sỹ trong tác phẩm “Về một đặc trưng thipháp thơ Việt Nam” (Nhà xuất bản Khoa học xã hội) cho rằng, trường ca củaThanh Thảo “thiên về hình thức kết cấu lấy tư tưởng cảm xúc làm chỗ dựa”

Trong “Văn học 1975 - 1985, tác phẩm và dư luận” (Nhiều tác giả,Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 1997), tác giả Phong Lan cho rằng: “Nếucần nhận diện chân dung thơ Thanh Thảo thì đó là một tiếng thơ chân thành,thủ thỉ, day dứt đáng quý Người viết cốt diễn tả cái tâm trạng thực củamình Anh Ýt chó ý đến hình thức, vần điệu bên ngoài bài thơ, mà chỉ cốtdiễn tả thật hiệu quả cái mạch ngầm cảm xúc suy nghĩ bên trong Cho nênThanh Thảo hay dùng lối viết gọn lời, gọn chữ và dồn nén dưới nhiều hìnhảnh liên tưởng, móc xích chồng chất lên nhau, hay dùng thể thơ tự do khôngvần và ngay ở những bài làm theo từng thể nhất định, tác giả cũng khôngtuân theo quy tắc vần luật một cách câu nệ hình thức, vậy mà đọc lên vẫnthấy êm xuôi lôi cuốn”

Nhìn một cách tổng quát, những nhận xét, đánh giá của giới nghiêncứu phê bình đều có đặc điểm chung là khẳng định những đóng góp lớn vềtrường ca của Thanh Thảo cho nền văn học nước nhà Ở mỗi bài, mỗi tác giảđều đã đề cập đến một khía cạnh hay một số đặc điểm về nội dung và nghệ

Trang 8

thuật, một số bài khẳng định yếu tố triết luận trong trường ca Thanh Thảo ởnhững phương diện khác nhau như: cấu trúc, câu thơ, giọng điệu, thể thơ, hìnhtượng nhân dân, hình tượng đất nước Nh tác giả Bích Thu nhận xét: trongtrường ca Thanh Thảo “người đọc nhận thấy lúc nào anh cũng muốn nói lênđược những suy nghĩ tận cùng nhất của mình bằng một giọng lắng lại, trầmtư”

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, những bài viết có đề cập đếnchất triết luận trong trường ca Thanh Thảo song chỉ là những nhận xét mangtính phát hiện, hoặc khẳng định về một khía cạnh, khuynh hướng, đặc điểmnào đó liên quan đến chất triết luận, chưa có tính chất chuyên sâu, toàn diện,

hệ thống

Những ý kiến trên đây của các nhà nghiên cứu thực sự là những pháthiện mới mẻ về chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo Điều đó có ý nghĩakhai phá, định hướng cho chúng tôi khi tìm hiểu đề tài Trên cơ sở tiếp nhận, kếthừa ý kiến những người đi trước và phát triển hướng thẩm định đánh giá giá trịtrường ca cũng như phong cách nghệ thuật Thanh Thảo, người viết đã đi vàotìm hiểu một cách hệ thống chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo

3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề chất triết luận trongtrường ca Thanh Thảo, từ đó đi sâu vào khai thác những nội dung triết luậnchủ yếu và những phương thức nghệ thuật thể hiện chất triết luận Qua đó,thấy được sự phong phú và đặc sắc trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, người viết xác định phạm vi nghiêncứu bao gồm một số trường ca của Thanh Thảo: “Những người đi tới biển”,

“Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Bùng nổ của mùa xuân”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”,

“Đêm trên cát”, “Trò chuyện với nhân vật của mình”, “Cỏ vẫn mọc”

3.3 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

Tìm hiểu chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo trên cơ sở nhữngbiểu hiện của nó để nhận diện, đánh giá diện mạo, vai trò của chất triết luậntrong thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo nói chung, trong chỉnh thể phongcách nghệ thuật trường ca Thanh Thảo nói riêng Đồng thời thấy được chiềusâu, tầm khái quát của tư duy và đặc sắc trong trường ca Thanh Thảo đối vớitrường ca hiện đại Việt Nam.

4 Phương pháp nghiên cứu

Tìm hiểu trường ca Thanh Thảo với mục đích và hướng nghiên cứutrên, luận văn sử dụng một số phương pháp cơ bản:

- Phương pháp thống kê phân loại: Dùng để tập hợp, thống kê phân

loại các dữ liệu, trên cơ sở đó khảo sát theo các chủ đề Sau đó, khái quáttổng hợp thành các chủ đề triết luận trong trường ca Thanh Thảo

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tác phẩm văn học nói riêng và thế

giới nghệ thuật của nhà văn nói chung bao giờ cũng tồn tại nh một hệ thống,một chỉnh thể Phương pháp tiếp cận hệ thống nhằm giúp tái lập đối tượngtrong chỉnh thể hệ thống nghệ thuật trường ca Thanh Thảo

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Để xác định bản chất của đối

tượng cũng nh quy luật chi phối chúng, bao giờ cũng phải qua những phântích cụ thể Người viết dùng phương pháp này để phân tích các thành tố tạonên diện mạo triết luận trong trường ca Thanh Thảo, từ đó có thể tổng hợpđịnh dạng cho diện mạo Êy

- Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ nét

đặc sắc, độc đáo, riêng biệt của chất triết luận trong trường ca Thanh Thảotrong tiến trình Thơ Việt Nam hiện đại

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã tiến hành nghiên cứu chất triết luận trong trường caThanh Thảo từ quan niệm đến biểu hiện và giá trị nghệ thuật của nó trong thếgiới nghệ thuật của nhà thơ

Trang 10

Chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo được tiếp cận một cách hệthống từ quan niệm, ý thức triết luận, chủ đề triết luận đến hình thức triếtluận nổi bật.

Luận văn đề cập đến chất triết luận để thấy được những đóng góp độcđáo về tư tưởng, làm nổi bật tài năng và cá tính sáng tạo của Thanh Thảo

Tìm hiểu chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo không chỉ là cơ

sở để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo mà còn giúp thấyđược phần nào diện mạo và quá trình phát triển của thơ Việt Nam trước vàsau 1975 Mặt khác, luận văn cũng cho thấy những đóng góp của Thanh Thảocho kho tàng lý luận và kinh nghiệm sáng tác của văn học Việt Nam hiện đại

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm

3 chương:

- Chương I: Triết luận và những yếu tố, tiền đề của chất triết luận

trong trường ca Thanh Thảo

- Chương II: Những chủ đề triết luận trong trường ca Thanh Thảo

- Chương III: Những phương thức nghệ thuật thể hiện chất triết luận

trong trường ca Thanh Thảo

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG Chương I TRIẾT LUẬN VÀ NHỮNG YẾU TÈ, TIỀN ĐỀ CỦA CHẤT TRIẾT LUẬN TRONG TRƯỜNG CA THANH THẢO

1 Khái niệm về chất triết luận

1.1 Yếu tố triết học

Triết học là hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới, về

vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy, được coi là hạt nhân của thếgiới quan diễn tả thế giới bằng lý luận, nghiên cứu xem xét thế giới như làmột chỉnh thể và tìm cách đưa ra hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó

Với chức năng thế giới quan của mình, triết học ngày càng bắt rễ sâuvào đời sống Trong lĩnh vực văn học, từ thuở xa xưa, người ta đã nói đếnhiện tượng “văn - sử - triết” bÊt phân và càng về sau, văn học và triết họchiện đại đã tách rời nhau chuyên biệt để phát huy đặc thù của mỗi lĩnh vực.Văn học thuộc lĩnh vực nghệ thuật Mà, về căn bản nghệ thuật là làm theo quiluật của tình cảm Tư duy nghệ thuật thiên về cảm xúc– hình tượng Còn triếthọc lại nghiêng về khoa học, nó tuân theo những qui luật của lý trí.Tư duytriết học nghiêng về kiểu tư duy lớ trớ - trừu tượng Song, giữa chúng vẫn có

sự xâm nhập, bổ sung lẫn nhau - hiện tượng này thực chất là mang tính quiluật Yếu tố triết luận trong nghệ thuật chính là kết quả của trỡnh đú

1.2 Yếu tố triết luận

Trang 12

“Triết” có nghĩa là “có trí tuệ”, bao hàm sự hiểu biết sâu rộng, đạo lý[II.74] Nghĩa hẹp của “triết” và “luận”chớnh là những luận bàn, luận giảimang tính triết học.

Trên bình diện nhận thức, cả văn học và triết học đều phản ánhnhững vấn đề phổ quát của con người, tìm kiếm con đường giải phóng conngười, cắt nghĩa thế giới nhà triết học đi tìm ý nghĩa của cuộc sống khihướng tới việc khám phá những qui luật từ nhiều hiện tượng của đời sống.Còn người nghệ sỹ lại dựa vào sự đúc kết kinh nghệm từ những số phận vànhững mối quan hệ cá biệt Những triết luận mà người nghệ sỹ rút ra từnhững trải nghiệm của mình mang bản sắc cá nhân và gắn bó mật thiết vớithế giới hình tượng

Trong sáng tạo nghệ thuật, triết luận nảy sinh khi chủ thể có nhu cầunhận thức đời sống trên tinh thần triết học Yếu tố này đậm nét sẽ làm nêndiện mạo, phong cách và cả cá tính sáng tạo của nghệ sỹ Bằng tác phẩmnghệ thuật của mình, người nghệ sỹ sẽ chuyển tải, thể hiện ý tưởng nghệthuật mang chiều sâu triết học có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc

Tác phẩm văn học nào cũng chứa đựng tư tưởng của người nghệ sỹnhưng không phải bất cứ sáng tạo nghệ thuật nào cũng có chất triết luận.Trong mỗi thời đại, khi yêu cầu của lịch sử có những vấn đề bức xúc đặt ravới con người ở những thời điểm cụ thÓ thì trong nghệ thuật có cả mộtkhuynh hướng văn chương mang tính triết luận nảy sinh để giải quyết nhữngvấn đề của đời sống, của tư tưởng con người Triết luận trở thành một trongnhững khuynh hướng tư tưởng của văn học, thấm nhuần trong toàn bộ tácphẩm văn học Triết luận ấy được rút từ hiện thực nhân sinh xã hội Hiệu quảnghệ thuật của nó là nhà văn vẫn nói chuyện chÝnh trị, thế sự nhưng từ đó

mà khái quát được những điều sâu xa có ý nghĩa phổ quát về đời sèng xã hộitrong mọi sự biến thiên của thời cuộc

Trang 13

Như vậy: yếu tố triết luận là khái niệm nhằm chỉ khía cạnh triết họctiềm ẩn trong một sáng tạo nghệ thuật nào đó Nó gồm hai thành tố căn bản làchủ đề triết luận và hình thức triết luận.

Đi tìm chất triết luận trong văn học là thông qua những yếu tố nghệthuật được chi phối bởi những yêu cầu của nội dung để từ đó rút ra những tưtưởng, triết lý về đời sống xã hội mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm Trong

“Đại từ điển tiếng Việt” cho rằng: “Triết lý là quan niệm chung và sâu sắcnhất của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội” [II.74]

Còng theo “Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng” thì “triết lý làquan niệm về cuộc sống và cách giải quyết những vấn đề mà nó nêu lên” [II.24]

Ở đây, có thể hiểu triết lý là những ý tưởng có tính triết học, được diễnđạt thành mệnh đề và có thÓ đứng tỏch riờng độc lập; triết luận bao gồm cả ýtưởng triết học và hình thức triển khai ý tưởng đó trong một chỉnh thể nghệthuật nhất định Vì thế, triết luận có phạm vi lớn hơn và bao chứa cả triết lý

Triết luận và tư tưởng chủ đề là hai khái niệm gần gũi nhau, thậm chÝ

có thÓ trùng nhau nhưng không đồng nhất Tư tưởng chủ đề của tác phÈm làtâm sự ý tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm Tác phẩm nào cũng có chủ đÒnhưng chỉ khi nào chủ đề đó mang tầm triết học, được triển khai trong mộtmạch vận động, được luận giải bằng thao tác tư duy triết học thì mới được xem

là có tính triết luận

2 Những yếu tố, tiền đề của chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo

2.1 Thời đại chống Mỹ cứu nước

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1964– 1975) nằm trong chiếnlược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ chống chủ nghĩa xã hội vàphong trào giải phúng dân tộc Đối với dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổquốc là một thử thách vô cùng ác liệt nhưng cũng rất vĩ đại

Trang 14

Đây là cuộc chiến tranh có tương quan lực lượng chênh lệch nhất vềtiềm lực kinh tế giữa ta và địch trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.Ởmiền Nam đÕ quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào chiến trường, không ngừng tăngthêm lực lượng cho đội quân viễn chinh; liên tiếp tung ra hai cuộc phản côngchiến lược và hàng ngàn cuộc hành quõn tìm diệt của quân Mỹ và chư hầu,nhanh chóng áp dụng những âm mưu thâm độc và xảo quyệt như dồn dân lập

ấp, Việt Nam hoá chiến tranh Những âm mưu và hành động điên cuồng của

đế quốc Mỹ đÒu thất bại Thua đau ở miền Nam, đế quốc Mỹ mở rộng chiếntranh, leo thang bắn phá miền Bắc Ngày 05.08.1964, Mỹ cho máy bay bắnphá một số địa điểm ở miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phươnglớn cho tiền tuyến lớn

Với quyết tâm phi thường, cả dân tộc ta cùng ra trận “Ba mươi mốttriệu dân - Tất cả hành quân - Tất cả là chiến sĩ”(Tố Hữu) Việt Nam đượccoi là lương tâm của thời đại, là “vàng của lòng người hôm nay” (Tố Hữu).Hơn lúc nào hết, truyền thống yêu nước của dân tộc được phát huy cao độvới tinh thần “khụng cú gỡ quớ hơn độc lập tự do”, hễ còn một tên xâm lượctrên đất nước ta thì ta tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi (Hồ Chí Minh) Cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành cuộc kháng chiến toàn dân, toàndiện Đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị Đánh địch ở rừngnúi, đô thị, miền Bắc và miền Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta

đã đồng tâm hiệp lực, vững vàng từng bước đi lớn với mục đÝch cao cả “Tất

cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”

Cuộc kháng chiến chống Mỹ trên cả hai miền kéo dài hơn mười năm(1964 - 1975) với nhiều giai đoạn và diễn biến phức tạp: chiến thắng mùakhô (1965 - 1966) đến cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, chiếnthắng đường Chín - Nam Lào, chiến thắng cuộc tập kích chiến lược bằngkhông quân của Mỹ cuối năm 1972, lập nên một “Điện Biên Phủ trênkhông”, cuối cùng là chiến dịch Hồ ChÝ Minh toàn thắng– cái mốc vinhquang nhất giải phãng miền Nam, thống nhất đất nước

Trang 15

Từ sau cuộc tiến công Mậu Thân, cuộc kháng chiến tiếp tục trải quanhững chặng đường phức tạp, với nhiều khó khăn thử thách mới đi tới thắnglợi cuối cùng Cái không khí háo hức, sôi nổi, giàu tÝnh lãng mạn ở hồi đầudần lắng lại, nhưng ý chí quyết thắng và khát vọng độc lập, thống nhất của cảdân tộc vẫn không hề lay chuyển Chiến tranh không thể không tránh khỏinhững tổn thất hy sinh vô cùng to lớn của dân tộc ở cả hai miền Nam - Bắc.Nhưng cuộc chiến tranh cũng là một hoàn cảnh đặc biệt làm bộc lộ và pháthuy đến tận độ mọi sức mạnh, tiềm năng của cả dân tộc, trong hiện tại và quákhứ, cùng với sức mạnh của thời đại, của chủ nghĩa xã hội.

Không khí thời đại đã tác động trực tiếp tới đội ngũ người cầm bút

Là người phát ngôn của thời đại, đội ngũ văn nghệ ba lô lên đường đi vàocuộc chiến đấu, bình thường và giản dị, sống lại những ngày toàn quốc khángchiến trước kia Không còn băn khoăn trong buổi “nhận đường”, mà trái lại,tâm hồn họ háo hức, nhanh chóng nhập cuộc để viết về hiện thực vĩ đạinhững năm đánh Mỹ Họ sẵn sàng có mặt ở những nơi thử thách quyết liệtcủa cuộc chiến tranh chống xâm lược, thể hiện không khí thời đại, nhạy béntrước các vấn đề thời sự và dấy lên ngọn lửa yêu nước trong mỗi con người

Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đó không chỉ là đòihái của thời đại mà còn là sự thôi thúc tù bên trong của các nhà thơ Nhanhnhạy và kịp thời, nền thơ nóng bỏng tính thời sự, hừng hực tinh thần chiếnđấu của chúng ta đã “nhập cuộc”, tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩđại của toàn dân tộc Suốt trong những năm tháng chiến tranh, các thế hệ nhàthơ đã tiếp bước nhau dàn quân trên nhiều mặt trận với cảm hứng chủ đạo làthể hiện khát vọng độc lập tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của conngười Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại chống Mỹ

Trường ca là một trong những đóng góp quý báu của thơ ca chống

Mỹ Chính cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc đã tạo ra một tiền đề quan trọngcho thể loại này phát triển Theo sự vận động và phát triển của trường ca thời

Trang 16

kỳ chống Mỹ, ta có thể thấy trường ca được chia làm hai chặng: Nhữngtrường ca viết trong chiến tranh chống Mỹ và những trường ca viết sau chiếntranh chống Mỹ.

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, trường ca ra đời và pháttriển rầm rộ nhưng những tác phẩm đặc sắc còn hiếm Từ 1950 - 1960, sốlượng tác giả viết trường ca rất Ýt: Khương Hữu Dụng, Xuân Hoàng, ThuBồn đến những năm 1965 - 1975, các tác giả viết trường ca xuất hiện nhiềuhơn mà chủ yếu là những cây bút trẻ: Lê Anh Xuân, Trần Đăng Khoa,Nguyễn Khoa Điềm Có khá nhiều nhà thơ trẻ bắt đầu viết trường ca từnhững năm này song cũng có nhiều bản trường ca phải đợi sau khi chiếntranh kết thúc mới hoàn thành

Những trường ca ra đời trong những năm đầu của cuộc kháng chiếnchống Mỹ còn giới hạn ở một số đối tượng hay nhân vật cụ thể Về sau khicuộc chiến tranh được mở rộng mang tính toàn dân, toàn diện ở cả hai miềnđất nước, các tác giả thật sự được chứng kiến và được sống trong những cuộcchiến đấu sôi động, ác liệt, thì hiện thực trong trường ca càng được mở rộng

Những trường ca viết sau chiến tranh chống Mỹ có những bước tiến

rõ rệt Cùng với trường ca của các nhà thơ trẻ khác: Trần Mạnh Hảo, NguyễnTrọng Tạo, Anh Ngọc trường ca Thanh Thảo xuất hiện ở chặng thứ hainày

2.2 Tiểu sử và con người nhà thơ

Vào cuối những năm 1970, các nhà thơ trẻ xuất hiện từ đầu cuộckháng chiến chống Mỹ đã dần tự ổn định phong cách của mình và đang cónhững hướng thể nghiệm mới trong thơ, sau những thành tựu ban đầu Khitên tuổi của Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Vũ QuầnPhương đó định hình trong tâm trí bạn đọc thì Thanh Thảo với trường ca

“Những người đi tới biển” (1977), và tập thơ “Dấu chân qua trảng cỏ”(1979), mới bắt đầu xuất hiện Sự hiện diện của Thanh Thảo trong thời điểm

Trang 17

này như một sự tiếp sức trong đội ngũ những người làm thơ trên chặngđường sáng tạo.

Với thi phẩm “Hoa Niờn”, Tế Hanh đã từng nhận giải thưởng Tự lựcvăn đoàn 1939, trước khi Thanh Thảo ra đêi 7 năm Là một người có vị trívững chắc trong nền thi ca lúc sinh thời nhà thơ Tế Hanh đã từng nói vềnhững nhà thơ của quê hương ông như sau: “ Tôi chỉ là cái gạch nối giữaBớch Khờ và Thanh Thảo ” Với một lời nhận xét như thế, chúng ta trântrọng sự khiêm tốn của Tế Hanh và thấy ông đánh giá cao về Thanh Thảo.Theo thời gian, chúng ta càng nhận thấy những đánh giá của Tế Hanh vềThanh Thảo càng chính xác

Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại xã ĐứcTân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đạihọc tổng hợp Hà Nội, Thanh Thảo vào công tác ở chiến trường miền Namtrong chiến tranh chống Mỹ Ở chiến trường miền Nam, Thanh Thảo làmphúng viờn, công tác tại đài phát thanh Giải Phóng Trong giai đoạn nàyThanh Thảo đã đóng góp những bài thơ “nhập cuộc”, mang hơi thở nóngbáng của thời đại Anh đại diện cho kiểu nhà thơ - chiến sĩ, vừa cầm súngvừa cầm bút Sau ngày đất nước thống nhất, Thanh Thảo chuyên hoạt độngtrong lĩnh vực văn học nghệ thuật và báo chí

Thanh Thảo xuất hiện trên bầu trời thi ca vào những năm cuối cùngcủa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Những trang thơ của Thanh Thảoviết từ miền Nam máu lửa, ác liệt, nóng bỏng, dữ dội, trần trụi đã tạo đượcnột riờng:

Một thế hệ thức nhiều hơn ngủ Xoay trần đào công sự

Xoay trần trong ý nghĩ

Thế hệ chúng tôi trắng từng đêm lội nước Sính bết từ chân bết đến đầu

(Một người lính nói về thế hệ mình)

Trang 18

Những bài thơ với nội dung quá gai góc và một tư duy thơ lạ lẫm, táobạo lúc bấy giờ của Thanh Thảo đã khiến ông nổi tiếng từ đó và rồi gặp ngay

“tai nạn văn chương” cũng từ đó Cũng chớnh cỏi “án treo văn chương” lơlửng này mà sau ngày miền Nam giải phóng, từ chiến khu trở về, Thanh Thảotrở thành một nhà thơ không có nơi công tác, chỉ có vui một niềm vui lớncùng đất nước hoà bình Lang thang ở phố xá Sài Gòn chưa định hướng là sẽ

về đâu, may sao nhà văn Nguyễn Chí Trung xuất hiện Biết Thanh Thảo làngười em đồng hương “khu eo” đã từng nổi tiếng từ án treo văn chương thờichiến, ông đưa Thanh Thảo trở về trại sáng tác quân khu V (Đà Nẵng) và từtrại viết này hàng loạt bài thơ, đặc biệt là trường ca “Những người đi tớibiển” đã chào đời Rồi những năm của xã hội thời bao cÊp ở Qui Nhơn chínhlại là những tháng năm Thanh Thảo phát tiết tinh anh bao tháng năm dồn nén.Anh dồn dập viết trường ca như một sự giải thoát những ứ đọng cảm xúc củachính mình Và 7 trường ca nữa ra đời (không tớnh một trường ca còn dangdở) trong vòng chưa đầy mười năm (1976 – 1984) Ba trường ca “Trẻ con ởSơn Mỹ”, “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Bùng nổ của mùa xuân” in ra để rồisau đó nhận giải thưởng thơ Hội nhà văn Việt Nam (1996) Còn lại bốntrường ca hơi gai góc lại phải chờ thời cơ xuất hiện May sao lóc Êy NguyễnKhoa Điềm được tín nhiệm làm Tổng biên tập tạp chí sông Hương Bằng uytÝn của mình ông đã in “Đêm trên cát”– Thanh Thảo để rồi sau đó vài năm(1985) Nhà xuất bản Tác phẩm mới in chung vào tập trường ca “Khối vuông

Ru bích”, còn lại hai trường ca “Trò chuyện với nhân vật của mình” và “Cỏvẫn mọc” phải đến năm 2002, Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân mới cho ramắt cùng bạn đọc

Thanh Thảo được xem là “ông vua trường ca”, và đó là thể loại chínhghi nhận những thành công, đóng góp đáng quí của thơ anh Là một trongnhững nhà thơ viết nhiều về trường ca, Thanh Thảo đã có những quan niệmriêng về thể loại này Theo anh, trường ca không chỉ đơn thuần là kể, tả lạinhững sự việc có thật mà còn thể hiện cái nhìn của cái tôi cá nhân đối với vấn

Trang 19

đề được phản ánh và nhận quyền phát ngôn trước lịch sử Về hiện thực phảnánh, trường ca không chỉ phản ánh những chiến công, chiến thắng vẻ vang

mà phải phản ánh đúng hiện thực, đào bới mổ xẻ sự thật dù cho đó là sự thậtnghiệt ngã nhất; chính vì thế bên cạnh tính chất hùng tráng, trường ca cònmang tính chất bi tráng

Người viết trường ca phải không ngừng đổi mới, tìm tòi, chiếm lĩnhhiện thực cuộc sống dưới nhiều góc độ để phản ánh vào trường ca chứ khôngphải tuân theo khuôn mẫu đúc sẵn

Sau trường ca “Những người đi tới biển” (1977); năm 1982, Nhàxuất bản Quân đội nhân dân Ên hành trường ca “Những ngọn sóng mặt trời”bao gồm ba trường ca: “Những nghĩa sỹ Cần Giuộc”, “Bùng nổ của mùaxuân”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, năm 2002 trường ca: “Trò chuyện với nhân vậtcủa mình” và “Cỏ vẫn mọc” ra đời Víi những tập trường ca này, Thanh Thảotrở về lý giải cội nguồn sâu xa làm nên chiến thắng của dân tộc

Những năm gần đây, ngoài sáng tác thơ (“Khối vuông Ru bích” –(1985), “Tàu sắp vào ga”, “Từ một đến một trăm”– (1986); “Bạch đàn gửibạch dương” – (1987); Thanh Thảo còn hướng sự chó ý đến sáng tác của bạn

bè, đồng nghiệp qua những tập tiểu luận phê bình Độ lượng và trân trọng,mỗi tiểu luận của Thanh Thảo như: “Ngón thứ sáu của bàn tay”– Nhà xuấtbản Đà Nẵng 1995, là một phát hiện tâm đắc về những nét đáng quý riêngcủa bạn hữu đồng nghiệp và thêm một đóng góp của anh vào đời sống vănhọc đương thời

Mỗi tập trường ca của Thanh Thảo là một khám phá mới Đối với thơnói riêng và trường ca Thanh Thảo nói chung, chóng ta càng đọc nhiều lần càngthấy hay, thấm đẫm đầy chất thơ Như những vì sao trong đêm, chóng ta càngnhìn càng thấy sáng và rực sáng hơn Khác với những tác giả cùng thời, trường

ca của Thanh Thảo là những bản giao hưởng hoành tráng với nhiều cung bậc,ngữ nghĩa đa dạng, độc đáo và đầy thông minh Thanh Thảo đã đưa hơi thở thời

Trang 20

đại, hơi thơ Việt Nam vào trường ca của mình Và anh đã thành công ThanhThảo đã xác lập, khẳng định vị trí của mình trong nền thi ca Việt Nam.

Từ sau năm 1975, Thanh Thảo không ngừng sáng tác Nhà thơ đãhoà nhập với nhịp sống đương đại, dụng công nhiều cho việc đổi mới thơtheo chiều hướng cách tân hiện đại, bắt đầu là từ tác phẩm “Khối vuông Rubích”, Thanh Thảo đã xuất bản được nhiều tập thơ, trường ca, có nhiều bàitiểu luận phê bình, tản văn đăng trên các báo, tạp chí trong nước

Năm 1979, Thanh Thảo nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam.Năm 1995, nhận giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam Năm 2001,anh được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật Thơ của ThanhThảo đã được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy trong trường học

Hiện nay, anh là phó chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam vàchủ tịch Hội văn học nghệ thuật Quảng Ngãi

3 Triết luận trong trường ca thời kỳ chống Mỹ và sự hình thành yếu tố triết luận trong trường ca Thanh Thảo

3.1 Triết luận trong trường ca thời kỳ chống Mỹ

Trên cái nền của hiện thực chiến tranh, của đời sống chiến trường,thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã cất lên tiếng thơ mang sắc thái trí tuệ, chính luậnriêng của thế hệ mình, tiếp nối khuynh hướng tăng cường chất trí tuệ, chínhluận trong thơ hiện đại Việt Nam

Nói đến thơ chủ yếu là nói đến tính trữ tình Tuy vậy trữ tình khôngphải là phẩm chất duy nhất của thơ Thơ là tiếng nói của cảm xúc Songnhững cảm xúc hời hợt không làm nên thơ Cảm xúc chỉ đạt độ sâu và tầmcao khi “kết hợp” với “lý trí” một cách nhuần nhuyễn và có “nghệ thuật”(Sóng Hồng) Khi bàn về chất triết luận trong thơ, Hoàng Kim Ngọc trong

“Những đóng góp của thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ” cho rằng: “Nói về chất trítuệ chính luận trong thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ thì cần hiểu đó là thứ trí tuệ,chính luận không tách rời cảm xúc, mét thứ triết luận không xa rời đặc trưngnghệ thuật của thơ” Trong thơ phải có trí tuệ, có triết học, song “triết học

Trang 21

vào thơ phải được thơ hoá”, “lý trÝ vào thơ phải mang độ sâu của tình cảm”.Không có trí tuệ, chính luận, thơ nông, hời hợt Song, trí tuệ, chính luận đơnthuần sẽ khiến thơ khô khan Khi Êy “bài thơ chỉ còn cái khung xương tưtưởng”, và ngay cả cái “khung xương tư tưởng” Êy cũng “biến mất” khi bàithơ không thể tồn tại.

Sự nở rộ của thể loại trường ca sau năm 1975 chính là sự tiếp nối củatrường ca những năm trước đó Tuy nhiên trường ca sau năm 1975 cũng cónhững đóng góp lớn không chỉ về số lượng tác phẩm mà còn là sự trưởngthành thực sù trong cảm xúc làm nên tầm vóc nội dung Sù ra đời của hàngloạt các tác phẩm như: “Bazan khát” - Thu Bồn (1977), “Ngọn gió búp đa” –Ngô Văn Phú (1977), “Những người đi tới biển” (1977) – “Những ngọn sóngmặt trời” – Thanh Thảo (1982), “Ngày hội rạng đông” – Trần Vũ Mai (1979),

“Đường tới thành phố” – Hữu Thỉnh (1979), “Mặt trời trong lòng đất” và

“Đất nước hình tia chớp” – Trần Mạnh Hảo, “Trường ca sư đoàn” – NguyễnĐức Mậu (1980) đã gây được Ên tượng đậm nét trong lòng người đọc vàtrở thành một bộ phận không thể thiếu được trong nền văn học dân tộc

Xét về đặc trưng, thơ trữ tình luôn tiềm Èn một bản chất triết luận,bởi hình tượng thơ bao giờ cũng được diễn đạt trên một nền triết học phổbiến đương thời, dưới một lăng kính của sự cắt nghĩa, tiếp cận thế giới Triếtluận mang màu sắc thời đại, chịu ảnh hưởng tư duy còng nh những biến cốcủa thời đại Triết luận trong trường ca thời kỳ chống Mỹ không nằm ngoàiqui luật đó

Trường ca dù viết về đề tài gì cũng phải mang chất triết lý– khôngphải với ý nghĩa là đưa ra nhiều triết luận mà đây là những “chiêm nghiệmsâu sắc nhất về thế giới” - đồng thời phải đề cập đến “những vấn đề đạo đứccao sâu nhất của nhân loại hiện đại” [II 37; 48]

Tăng cường chất triết lý là một đòi hỏi của thơ ca nói chung và củatrường ca nói riêng trong thời đại chống Mỹ Trường ca ra đời trong mét thời

kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc, những người lính– nhà thơ đã từng vào sinh

Trang 22

ra tử ở chiến trường có một nhu cầu hết sức tự nhiên là muốn tổng kết, nhậndiện lại lịch sử một cách sâu sắc, trọn vẹn hơn Trước nhu cầu lớn về mặt nộidung như thế, một bài thơ trữ tình không thể chuyển tải hết nhu cầu phản ánh

và cảm xúc của nhà thơ Trong thời đại mới này, “thơ không chỉ bằng lòngđóng khung trong những bức tranh gọn hẹp, những cảm xúc ngắn gọn mà cókhát vọng vươn dài, nới rộng để khám phá và biểu hiện tầm vóc sử thi củacuộc sống” [II.15] Chính vì vậy, các nhà thơ đã tìm đến trường ca bởi

“Trường ca là một thể loại nghệ thuật tổng hợp, có nhiều ưu thế trong việcchiếm lĩnh và phản ánh cả một khoảng không gian, thời gian rộng lớn, dựnglên những chân dung và tÝnh cách hoàn chỉnh của người anh hùng, của nhândân, đÊt nước trong thời đại chống Mỹ” [II 72; 223] Có thời gian nhìn lạinhững chặng đường đã qua, cùng với những trải nghiệm thực tế trong cuộcchiến trường kỳ, các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ đã có một cái nhìn khá sâusắc trong việc tổng kết và nhận diện lịch sử Đó là một thế hệ sẵn sàng dấnthân, nhập cuộc Vừa trực tiếp cầm súng chiến đÊu, vừa sáng tác văn học,trong khi đi tìm những chân lý của thời đại, của dân tộc, họ đã nâng lên thànhnhững khái quát, triết luận mang tính nghệ thuật

Đó là những suy nghĩ sâu xa về con người Việt Nam, dân tộc ViệtNam trong bài “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy Từ hình tượng cây tre quenthuộc, tác giả đã khái quát về sự tương đồng sâu sắc giữa cây tre và conngười Việt Nam và để khẳng định phẩm chất kiên cường, bất khuất của dântộc: “Thân gầy guộc lá mong manh Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi ” Cókhi, từ những chi tiết, hình ảnh quen thuộc của cuộc sống đời thường, thơNguyễn Duy đem đến cho chóng ta những suy nghĩ sâu sắc đến bất ngờ:

Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no Riêng cái Êm nồng nàn như lửa Cái mộc mạc lên hương của lúa Đâu dễ chia cho tất cả mọi người

(Hơi Êm ổ rơm)

Trang 23

Trong trường ca “Mặt đường khát vọng”, thông qua những vần thơkết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, Nguyễn Khoa Điềmmuốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm gắn bó với nhân dân, đấtnước của thế hệ trẻ trong những năm chống Mỹ Đất nước không phải là cái

gì xa lạ mà ở ngay trong máu thịt của mỗi con người:

Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước

Vì thế, trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước không phải là cái gìkhác mà cũng là trách nhiệm đối với chính bản thân mình:

Em ơi em đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời

Tư tưởng đất nước của nhân dân có chiều sâu về địa lý, về danh lamthắng cảnh trên mọi miền Tổ quốc qua cái nhìn giàu trí tuệ của Nguyễn KhoaĐiềm, cảnh vật thiên nhiên hiện lên như một phần máu thịt tâm hồn nhândân Nhà thơ đã có một sự khái quát, suy ngẫm thật sâu sắc:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một một dáng hình một ao ước một lối sống ông cha

Ôi đất nước sau bèn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta

Thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước mang đậm sắc thái riêng của cáitôi– thế hệ Đó là cái tôi tự bộc lé mình, đại diện cho thế hệ mình– thế hệnhững người trẻ tuổi được tôi luyện trong ngọn lửa của chiến tranh

Thực sự nếm trải những gian lao thử thách, tự nguyện đem xươngmáu của mình để bảo vệ quê hương, đất nước, thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ làtiếng nói của cái tôi thế hệ võa trẻ trung, vừa già dặn, vừa hồn nhiên trongcảm xúc vừa sâu lắng những suy tư Không thiên về ca ngợi cổ vũ, tư thế trữtình chủ yếu của cái tôi thế hệ là suy ngẫm, tự bạch, tự phân tích, tự biểu

Trang 24

hiện, độc thoại, đối thoại với thế hệ mình, với những thế hệ khác qua nhữngkinh nghiệm và trải nghiệm của những người trong cuộc Thông qua đó đểkhám phá, phát hiện nhân dân, Tổ quốc, bằng kinh nghiệm của thế hệ mình.

Đó là thế hệ trẻ “làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh)

Các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ không chỉ nói về chiến tranh vớinhững chiến thắng vinh quang chói lọi mà còn là sự hy sinh, mất mát to lớnphản ánh tính chất ác liệt của chiến tranh Nguyễn Đức Mậu trong “Trường

ca sư đoàn” (1980) với khúc tâm tình nhẹ nhàng sâu lắng như lời tâm sự vớinhững người còn sống và đã khuất, không nói trực tiếp, bằng một giọng điệuthâm trầm mà vẫn thể hiện được sự mất mát to lớn trong chiến tranh:

Nếu tất cả trở về đông đủ

Sư đoàn tôi thành mấy sư đoàn

Là sù hy sinh, mất mát không gì có thể bù đắp để giữ lấy từng mảnhđất quê hương:

Da thịt người vá lành da thịt đất Trong khát khao của đất có con người

Số phận của con người trong những năm chiến tranh gắn liền với đauthương, mất mát, hy sinh Thanh Thảo đã khái quát cuộc đời người lính trẻ

trong mét so sánh bất ngờ: “Những năm/Chiếc áo dính chặt vào thân bạc

màu ngắn nhanh rồi rách/Những năm/Một chiếc áo có thể sống lâu hơn một cuộc đời” (Những người đi tới biển).

Hữu Thỉnh nhắc đến sự hy sinh của các anh qua cái nhìn đầy suy nghĩ:

Đứng lọt thỏm giữa bao nhiêu thương xót

Không thể nhìn đống súng thừa như nhìn thừa đũa thừa bát

(Đường tới thành phố)

Góp phần vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc là sự hy sinh âm thầmlặng lẽ của những người mẹ, những người vợ, trân trọng và cảm phục biếtbao những con người như vậy:

Trang 25

Chị goá bụa trong hồ sơ tự khai Chị cười cợt với thằng chỉ điểm

Chị tập làm cho thật lẳng lơ Thắt vạt áo trước bao lời dị nghị Mỗi năm một lần cúng kỵ

Khấn anh xong mang xôi trái xuống hầm

(Đường tới thành phố – Hữu Thỉnh)

Cuộc kháng chiến chống Mỹ càng quyết liệt thì nhu cầu nhận thứcđúng đắn sâu sắc về nó càng gay gắt Đó là nhu cầu nhận diện kẻ thù của dântộc, nhận diện cuộc chiến tranh, tìm ra quy luật của nó và trách nhiệm của tuổitrẻ đối với Tổ quốc và nhân dân trong chiến tranh Những vấn đề lớn Êy mở

ra cả bầu trời rộng lớn cho cả một thế hệ ham thích nghĩ suy, say mê triết luận

Trường ca là sự thống nhất của hai yếu tố tự sự và trữ tình Yếu tố tự

sự làm cho trường ca có điều kiện phản ánh hiện thực cuộc kháng chiến Yếu

tè trữ tình giúp tác giả bộc lộ cảm xúc chân thành, tự nhiên thể hiện suy ngẫmchiêm nghiệm Tăng cường chất triết luận là khuynh hướng chung của cả nềnthơ hiện đại Việt Nam Tuy nhiên, chất triết luận trong trường ca thời kỳchống Mỹ vẫn có sắc thái riêng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của mình Đó là chấtsuy nghĩ, triết luận được nảy sinh từ hiện thực đời sống của đất nước trongnhững năm tháng chiến tranh, đặc biêt là từ hiện thực gian khổ, ác liệt củađời sống chiến trường thông qua sự trải nghiệm sâu sắc của cái tôi thế hệ củacác nhà thơ trẻ Qua đó, chân dung tinh thần của thế hệ trẻ cầm súng thời kỳchống Mỹ hiện lên như những con người giàu suy tư, đầy tinh thần tráchnhiệm đối với nhân dân, đất nước

3.2 Sự hình thành yếu tố triết luận trong trường ca Thanh Thảo

Xuất hiện vào cuối phong trào thơ chống Mỹ, với trường ca “Nhữngngười đi tới biển”, và tập thơ “Dấu chân qua trảng cỏ” (từng được giảithưởng Hội nhà văn Việt Nam 1979), thơ Thanh Thảo vừa có sự tiếp nối

Trang 26

chắn chắn, khoẻ và tươi trẻ của thơ chống Mỹ, vừa góp phần làm phong phóthêm dòng thơ này nhờ những chất liệu thẩm mỹ mới và một giọng điệu mới.Còng khai thác hiện thực chiến tranh, hướng tới khắc hoạ chân dung ngườilính, nhưng thơ anh không dừng ở sự quan sát, miêu tả, mà đi vào khám pháthế giới tinh thần của một thế hệ trẻ “xoay trần đánh giặc” Bằng giọng điệusắc sảo, trầm tĩnh, sù suy cảm sâu sắc, hình tượng thơ khái quát, giàu chấtsuy tư, thơ Thanh Thảo không chỉ là sự bày tỏ, mà có sức khơi gợi Đó thực

sự là tiếng nói tâm đắc, sâu xa về những vấn đề của cuộc sống, của thế hệ cácanh và thời đại

Trước khi đến với thơ ca, Thanh Thảo là một người lính tuổi đời cònrất trẻ Lửa chiến trường đã tôi luyện ý chí, đã nung nấu những nghĩ suy vàtác động mạnh đến tình cảm, cảm xúc, thúc đẩy nhanh quá trình trưởng thành

và chín muồi của Thanh Thảo Được đào tạo dưới mái trường xã hội chủnghĩa, khi đến với thơ, Thanh Thảo cùng với các nhà thơ trẻ thời kỳ chống

Mỹ hiểu được sứ mệnh lịch sử của thế hệ mình Anh sáng tác do sự thôi thúccủa cuộc sống chiến đấu chống xâm lược Mỹ, do nhu cầu muốn bộc lộ tưtưởng, suy ngẫm của mình truớc Tổ quốc, nhân dân Thơ Thanh Thảo là tiếngnói của một thế hệ sinh ra và lớn lên trong lòng nôi của cách mạng, tiếng nóicủa những người trực tiếp xung kích trên mặt trận chống quân thù và anh đãthực sự trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻchống Mỹ cứu nước

Thanh Thảo làm thơ để thể hiện mình và thực sù anh cũng khôngmuốn là người đại diện cho nhiều người làm thơ Anh là người Ýt nói, khicười hay ngẩng mặt lên trời, nhưng nụ cười lắng buồn, dù tiếng cười có vẻ

“phá phách” Anh không thuộc nhóm các “nhà thơ biểu diễn” ChÝnh vì vậy,thơ Thanh Thảo gần nh dành cho người đọc, người xem hơn là người nghe.Thơ Thanh Thảo thật tới mức khô quánh và dữ dội, có khi khách quan tớimức lạnh lùng Theo Thanh Thảo “một bài thơ ngắn, một bài thơ trữ tình cóthể là kết quả của một cơn xuất hứng ngắn ngủi hay cũng có thể là kết quả

Trang 27

của một nghiền ngẫm, nhưng khi “ra đời” thì nó “ra nhanh” Còn trường ca,

do độ dài, do phải cấu trúc, nó là kết quả của nhiều cơn cảm hứng, nó kéo dàitrong những khoảng thời gian, và nó có nhiều cấu trúc, chứ không phải làmột bài thơ “kéo dài ra” [II 32]

Những trường ca của Thanh Thảo được bạn đọc biết đến bởi chấtgiọng “ngang ngang” thô tháp, trần trụi, chối bỏ ngôn từ hoa mỹ Chất trí tuệđược nén chặt trong những câu thơ mang vẻ thô tháp, góc cạnh nhng chấtchứa cảm xúc, Thanh Thảo thể hiện những suy nghĩ về nhân dân, về dân tộc

anh hùng qua hình ảnh dòng sông: “Mang lịch sử qua trăm nghìn thử thách.

Dân tộc này còn tiềm Èn những dòng sông” (Những người đi tới biển).

Thanh Thảo đã góp thêm một phong cách thơ trầm lắng, suy tư mang chiềusâu nhân bản trong nền thơ Việt Nam hiện đại

Trường ca của Thanh Thảo xuất hiện sau chiến tranh Bởi vậy, sẽ làkhông lạ khi hiện thực về cuộc kháng chiến chống Mỹ trong trường ca của anh

mở đến tận cùng chiều dài của thời gian, và chiều sâu của suy nghĩ, triết luận

Trang 28

Chương II NHỮNG CHỦ ĐỀ TRIẾT LUẬN TRONG TRƯỜNG CA THANH THẢO

Khái niệm chủ đề thường được chỉ phần nội dung của tác phẩm vănhọc Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” [II 36], chủ đề tác phẩm là vấn đề cơbản, vấn đÒ trung tâm được đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm Quachủ đề, người đọc có thể rót ra ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm “Chủ đề triếtluận” có thể hiểu là vấn đề có ý nghĩa triết học được trình bày theo lối triếtluận trong sáng tác nghệ thuật của một tác giả

Tìm hiểu chủ đề triết luận trong sáng tác của một tác giả để thấyđược sù phong phú và đa dạng của sáng tạo nghệ thuật, đồng thời để qua đókhẳng định: triết luận là yếu tố cơ bản tạo nên tầm vóc nghệ sỹ

Sức sống của một nền nghệ thuật được xây dựng trên sự kết hợp củatính thời đại và tính trường tồn Tính thời đại bộc lộ khát vọng của con ngườiđương thời, nhưng tinh thần Êy không nhất thiết thể hiện một cách trực tiếp

mà thông qua lăng kính của các chủ đề vĩnh cửu Sự lặp lại của các chủ đềxuyên suốt các nền thơ thể hiện niềm khát khao các giá trị bất biến, mongmuốn chạm tới cái vĩnh hằng Muốn ngang tầm nhân loại, một nền nghệ thuậtphải vươn tới chiều sâu nhất định nhờ sự hiểu biết và cảm nhận sâu sắc củacon người và thế giới theo những quan niệm thẩm mỹ có sức chi phối toàndiện, nói theo triết học là trên tổng giác về cái tồn tại Bằng sự trải nghiệmcủa cuộc đời người lính, trường ca Thanh Thảo là tiếng nói của người trí thứcnhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại Có lẽ vì vậy mà triếtluận về thế hệ trẻ, về nhân dân, Tổ quốc, về lịch sử, giá trị làm người và sángtạo nghệ thuật là nội dung chủ yếu trong trường ca Thanh Thảo

1 Triết luận vÒ thế hệ trẻ

Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là mét trong nhữngnhiệm vụ hàng đầu của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng trong thời

Trang 29

kỳ này Đó không chỉ là đòi hỏi của thời đại mà còn là sự thôi thúc bên trongcủa các nhà thơ Nhanh nhạy và kịp thời, nền thơ hiện đại nóng bỏng tínhthời sự, hừng hực tinh thần chiến đấu của chúng ta đã “nhập cuộc”, tham giavào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc.

Các nhà thơ thế hệ thứ ba phần lớn được sinh ra từ sau cách mạng,được trau dồi tri thức văn hoá trong nhà trường của chế độ mới, nhiÒu ngườitrong số họ đã từ cánh cửa nhà trường đi thẳng tới chiến trường cầm súngchiến đấu Hiện thực đời sống những năm chống Mỹ, ngọn lửa chiến tranhcách mạng đã tôi luyện họ thành những con người vững vàng trong cuộcsống, có bản lĩnh trong nghệ thuật Sáp mặt với thực tế chiến tranh, họ tự ýthức sâu sắc về vai trò của thế hệ mình, sự xuất hiện đúng lúc kịp thời của thế

hệ mình Đó là khi Phạm Tiến Duật dõng dạc lên tiếng: “Ta đi hôm nay đã

không là sớm - Đất nước hành quân mấy chục năm rồi – Ta đến hôm nay cũng chưa là muộn - Đất nước còn đánh giặc chưa thôi” Đó là khi Bằng

Việt tự nhận thức sâu sắc về sứ mệnh lịch sử của thế hệ mình: “Cả thế hệ

dàn hàng gánh đất nước lên vai”.

Với vốn trí thức văn hoá dồi dào, lại được nhào luyện trong thực tếbom đạn của cuộc chiến đấu, Thanh Thảo vào trận vừa trẻ trung, vừa già dặn,vừa hồn nhiên nhưng cũng đầy suy tư sâu lắng Viết về thế hệ trẻ dưới nhiềugóc cạnh, có cái anh hùng và đời thường, có cái lạc quan, tin tưởng, trăn trở

và lo âu Khi viết về thế hệ của những người trẻ tuổi, trường ca Thanh Thảokhông hÒ bồng bột mà thường lắng đọng những suy tư với sắc thái riêng, tạonên vẻ đẹp độc đáo Đó là chất suy tư nảy sinh từ hiện thực đời sống của đấtnước trong những năm tháng chiến tranh, đặc biệt là từ hiện thực gian khổ, ácliệt của đời sống chiến trường thông qua sự trải nghiệm sâu sắc của cái tôi thế

hệ trong Thanh Thảo Với chất trí tuệ này, chân dung tinh thần của thế hệ trẻcầm súng hiện lên như những con người đầy tinh thần trách nhiệm đối vớinhân dân, đất nước Nhiệt tình phát ngôn cho ý thức thế hệ trẻ đã khiến chocái tôi trữ tình trong trường ca Thanh Thảo lấp lánh màu sắc triết lý - tính

Trang 30

triết luận Êy được kết hợp với cảm xúc: “Cảm xúc trong trường ca ThanhThảo rất dạt dào và đầy sung mãn” Màu sắc suy tư trải nghiệm của cái tôi trữtình trong trường ca Thanh Thảo rất ráo riết, căng thẳng nhưng khoẻ khoắn,giàu tin tưởng và có hướng đi chắc chắn từ những mục đích hành động rõràng Đó là thế hệ tự nhận thức, phát hiện, tự thể hiện mình qua tiếng nói củangười đại diện - nhà thơ, gắn với ý thức của thế hệ - thế hệ chủ công - thế hệ

đi đầu, đối mặt với những gian lao thử thách lớn lao của chiến tranh, những

hy sinh mà họ phải nếm trải Đó là những “Nghĩa quân Cần Giuộc” thời kỳ

đầu chống Pháp: “họ lấm láp sình lầy bước vào thơ Đồ Chiểu”, được khắc

hoạ như một bức tượng đài “sừng sững” trong lịch sử:

Sừng sững trước Cần Giờ Hùng tâm những dân Êp dân lân Vung lưỡi dao bọn mã tà thất sắc Lớp lớp hò reo xáp tới nòng đại bác

(Những nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Đó là những người du kích Ba Tơ dám làm cuộc quật cường ngaytrong nhà tù thực dân Pháp Họ vô danh, tên tuổi chỉ được đánh bằng số áo:

“Và bầu trời rách tả tơi chiếc áo độc nhất Chiếc áo in số tù dán chặt vào

da Những con số gọi lên ngỡ như tuỳ tiện Giữa lằn roi cai ngục giữa phút vẩn vơ ngoài công sứ” (Bùng nổ của mùa xuân).

Là người lính trực tiếp cầm súng và chiến đấu, bằng sự trải nghiệm củachính mình, Thanh Thảo đã có cái nhìn sâu sắc, đầy suy tư về thế hệ trẻ Có

lẽ chính vì vậy mà triết luận về thế hệ được tập trung nhất trong trường ca:

“Những người đi tới biển” “Những người đi tới biển” kể về cuộc hành trìnhcủa lớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùng áo lính suốt 5 năm từ mùa khô

1971 đến 30/ 4/1975 Cuộc hành trình từ rừng ra biển, từ vất vả hy sinh đếnchiến thắng Khi đã nhận thức được sâu sắc về mục đích cuộc chiến đấu, vềtrách nhiệm và số phận của thế hệ mình trước nhân dân, Tổ quốc; các anhnguyện gắn bó với cuộc chiến đấu của dân tộc như một lẽ tự nhiên, như

Trang 31

“người ta được sinh ra” không thể chọn ngày, chọn tháng “Thanh Thảo đã

viết những câu thơ bề mặt tưởng như thanh thản nhưng thực ra, đằng saunhững câu chữ Êy là những suy nghĩ sâu sắc mà trầm tĩnh, thể hiện một sựlựa chọn triệt để” [II 71]:

Người ta không thể chọn để được sinh ra Nhưng chúng tôi đã chọn cánh rừng Phút giây năm tháng Êy

Ngay từ đầu họ đã nhận thức được trách nhiệm nặng nề của thế hệmình đối với lịch sử dân tộc Một sự lựa chọn giản dị mà quyết liệt Khôngcao giọng, lên gân, hô khẩu hiệu, mà tràn đầy khí thế, thể hiện sự quyết tâmgìn giữ Tổ quốc:

Chúng tôi đi không tiếc đời mình (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc) Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?

Tuổi hai mươi là thời điểm đẹp nhất của đời người - lứa tuổi vẫn cònnét hồn nhiên thơ trẻ:

Tuổi hai mươi thằng em tôi sững sờ Một cánh chim mảnh nh nét vẽ Nhiều đổi thay nh một thoáng mây

Tuổi hai mươi - sững sờ trước một cánh chim bay, sững sờ trước mộtcọng cỏ may, sững sờ trước sự đổi thay của cuộc sống đời thường Tuổi haimươi, đó còn là phẩm chất của con người, thể hiện khao khát của những conngười thời chiến về sự sống bình thường như cỏ mọc hồn nhiên trên mặt đất:

“Những dấu chân rồi lùi lại phía sau/Dấu chân in trên đời chúng tôi những

tháng năm trẻ nhất/Mười tám hai mươi sắc như cỏ/Dày như cỏ/ Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ”.

Thế hệ trẻ vừa tự hào, vừa trân trọng dâng hiến tuổi đời đẹp nhất cho

Tổ quốc Nhưng nếu “ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?” Phải

chăng Thanh Thảo đang đối thoại với mình, với những người cùng thế hệ để

Trang 32

vươn tới nhận thức đúng đắn của thời đại Lời thơ tự nhiên như lời nói hàngngày mà triết lý thật sâu xa, không ai có thể phủ nhận được.

Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, những cuộc hành quân thực sự

gian khổ: "Chúng tôi uống nước suối ăn lương khô Miếng đường nhỏ chia ba

trên đỉnh dốc Lệnh hành quân từ khoảng rừng mắc võng" Trong cảnh ngộ Êy

chỗ dựa đích thực là những người đồng đội: “Tôi đi giữa bàn tay hơi thở bạn

đường Không phải bó đuốc một trái tim riêng lẻ Dắt ta qua rừng đêm”

Thế hệ trẻ bước vào cuộc chiến đấu trong bối cảnh cả dân tộc “thành

chiến sĩ” Những đội quân ra trận trùng trùng điệp điệp “dài như tiếng hát”,

say sưa “hát khắp Trưêng Sơn” (Hoàng Nhuận Cầm) và con đường ra trận vì

thế càng trở nên tấp nập, vui tươi “Tiếng cười hăm hở đầy sông, đầy cầu”

(Đường ra mặt trận - Chính Hữu)

Ở giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, tiếng nói của thế hệ trẻ bớt đi cái “ồn

ào, náo nhiệt” mà trầm lắng suy tư, nghiêng về phân tích, lý giải về cuộc chiếntranh, về thế hệ mình Tư thế trữ tình suy ngẫm, tự bạch, độc thoại với thế hệmình hơn là ngợi ca thuần tuý một chiều, cảm nhận bằng kinh nghiệm củangười trong cuộc

Đó là thế hệ tự nguyện dấn thân vào cuộc chiến đấu gian khổ trong thửthách khó khăn nhất để bộc lộ tính cách, tinh thần chịu đựng, lòng quả cảm:

Chúng tôi những thằng lính trẻ Lớn lên khắp trăm vùng gọi nhau là đồng đội

Đi chiến đấu ngủ bụi nằm bờ đầu nguồn cuối bãi

(Những ngưòi đi tới biển)Cái tôi thế hệ ý thức rõ rệt về cá nhân, nhưng đồng thời cũng nhận ramình là một thành viên trong thế hệ, trong đội ngũ vô tận Đó chính là điểmkhác biệt đánh dấu sự phát triển từ cái tôi sử thi đến cái tôi thế hệ Bởi thế,

điệp khúc: “Tôi”, “chúng tôi”, “ta”, “một thế hệ”, “thế hệ chúng tôi”, xuất

hiện trong trường ca Thanh Thảo với mật độ đậm đặc đầy nghĩ suy:

Chúng tôi đi rung người ngày lặng gió

Trang 33

Ta sẽ vượt trên đầu năm tháng Êy

Tôi thương quá những gì đã nuôi nấng đời tôi

(Những người đi tới biển)Trường ca Thanh Thảo bớt đi cái giọng ồn ào, sôi động, cách tạohình ảnh bớt đi sự kỳ vĩ, hoành tráng, tình yêu được biểu hiện hết sức gầngũi, cụ thể Tình yêu quê hương đất nước gắn liền với ý thức trách nhiệm,vừa giản dị, thiêng liêng mà cũng rất đỗi tự hào:

Nơi đây đã nguồn sông Chốn tận cùng

Thì cắm bàn chân xuống đất này mà sống

Đó là Tổ quốc

(Những người đi tới biển)

Dù bao khó khăn, gian nan thử thách nhưng người lính trẻ luôn tự tin

Và đây là kỷ niệm ngày sinh nhật của người lính: “Buổi sáng Êy tôi bước vào

tuổi 25/Ở đường dây 559 – trạm 73/Ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt/Cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc/Bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng/Hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt đầu tiên/Ngày sinh nhật tuổi 25 mình được uống” (Những người đi tới biển).

Không chỉ là những cơn sốt rét rừng hành hạ mà người lÝnh còn phải

đối mặt với những cơn khát: “Những cơn khát bặm môi vào bẹ chuối”

Trang 34

(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh) Khát tới mức phải bặm môi vào bẹ chuối

để hót lấy chút nước Ýt ỏi, hiếm hoi mà quí giá là một sự thực của người línhtrong chiến tranh Mỗi giọt nước lúc này quí giá như giọt máu phải để dành

cho người khát nhất Có lẽ vì vậy mà ta hiểu vì sao khi được bạn “mở bi

đông” nhường hớp nước cuối cùng, nhân vật trữ tình mới có cảm giác thật lạ:

Chúng tôi đi qua buổi trưa Êy Với bi đông cạn khô

Và hớp nước cuối cùng chảy dịu dàng trong ngực

(Những người đi tới biển)Không đơn thuần là những giọt nước bình thường mà đó chính là giọtcủa sự sống người đồng đội đã nhường cho anh, là cử chỉ đầy tinh thần sẻchia của những người đồng chí– thật đáng quí và trân trọng biết bao Vàngười lính nhận ra triết lý thật đơn giản, sâu sắc:

Đó là khoảng trời trong trẻo nhất Tôi được uống bắt đầu tuổi 25

(Những người đi tới biển)Viết về sự hy sinh, Thanh Thảo không hề né tránh sự thật Trongcuộc hành quân vĩ đại, nhiều bạn anh đã ngã xuống trên những cánh rừngTrường Sơn đại ngàn: Miêu tả sự hy sinh âm thầm của người lính bằng hình

ảnh “chiếc võng mục” khiến ta cảm thấy rờn rợn, vừa thấm thía đến bề sâu

tận cùng của ý nghĩa hy sinh Chất thơ trong trường ca viết về chiến tranh mà

bây giờ đọc lên vẫn cứ nghe xèn xang lòng dạ: "Những chiếc võng mục giữa

rừng nguyên thuỷ/Còn ôm bạn ta cơn sốt rét cuối cùng” (Những người đi tới

biển)

Nói đến tính chất dữ dội, ác liệt, sù gian khổ trong chiến tranh nhằmthể hiện thực chất đời sống chiến trường, qua đó đốt cháy lên ngọn lửa căm thùquân xâm lược Tuy nhiên đời sống chiến trường dù có gian khổ, ác liệt, tànkhốc đến đâu cũng chỉ là cái phông, cái nền, để làm nổi bật chân dung tinhthần của một thế hệ trẻ cầm súng Hình ảnh người lính trẻ trong trường ca

Trang 35

Thanh Thảo còn là những thanh niên rất trẻ trung, vui tươi, yêu đời Trênnhững chặng đường hành quân, trước những trận đánh ác liệt hay sau nhữngtrận càn của giặc, người lính có những lúc thả tâm hồn mình với những kỷ

niệm về quê hương: “Chúng tôi những người lính trẻ/Không biết dấu diếm

lòng mình/ /Ngồi kể cho nhau nhiều chuyện đâu đâu/Tự nhiên cười ồn ào tự nhiên thấm thía/ Trong đời ai chẳng có quê hương” (Những người đi tới biển).

Cả thế hệ sẵn sàng trải qua vô vàn gian khổ:

Chúng tôi sống ở đây mấy mùa khô mấy mùa mưa

Có mùa đói và mùa nào cũng giặc

Bấu vào đất mong kiếm tìm sự sống Một củ chụp mài nuôi bài ca cho anh

(Những người đi tới biển)

Từ những củ chụp mài bé nhỏ, người lính đã làm nên lịch sử, họ viết

nên những bài ca chiến công và bài ca của tình đồng đội: “Bài ca và ngọn

lửa/ /Những đớn đau mơ ước hy sinh/Không của riêng một trái tim nào nữa / Tôi đi trong ánh sáng mọi người ” (Những người đi tới biển).

Cùng với nguồn sáng cao cả Êy, trong sâu thẳm trái tim thế hệ luôn

da diết hình ảnh mẹ, hình ảnh người yêu như dấu nối đặc biệt giữa chung vàriêng, giữa lý tưởng và những nhu cầu của con người đáng có, cần phải có.Những tình cảm riêng tư Êy cứ vấn vít, trở đi trở lại nhiều lần trong các bảntrường ca như những nốt lặng trầm của bản giao hưởng nhiều bè

Với Thanh Thảo, người lính trong trường ca của anh, Mẹ là ngọnnguồn, là nơi mở ra và kết thúc của trường ca tất cả những gì riêng, chung,bình thường hay vĩ đại đều bắt đầu từ mẹ Chính mẹ chứ không phải ai khác

là người đẻ ra “anh hùng và truyền thuyết”, mẹ tái sinh và bảo tồn đất nước

mình Mẹ là niềm tự hào, là niềm sung sướng đến tột cùng, là mong nhớkhôn nguôi, là tình yêu thương khôn xiết, là ngọn lửa sưởi Êm lòng nhữngngười lính trẻ Chính vì vậy, những dòng thơ đầu tiên của bản trường ca hào

Trang 36

hùng “Những người đi tới biển” là những dòng viết về mẹ, về buổi chia taybịn rịn giữa hai mẹ con mà anh mang theo suốt cuộc hành quân:

Khi con thưa vớimẹ Mưa bay mờ đồng ta Ngày mai con đi Khói bếp mẹ con mình chợt ngừng trên mái rạ

Với các anh, không ai khác, mẹ là nơi bắt đầu cho tất cả những gì gầngũi mà thiêng liêng Hành trình mở đất của dân tộc bắt đầu từ mẹ, hành trìnhlàm người của con cũng bắt đầu từ mẹ Tình yêu của mẹ thấm vào từngđường kim mũi chỉ trên chiếc áo sờn vai con mặc suốt đường hành quân:

“Ngày mai con đi/Chiếc áo lính thức tròn đêm có mẹ/Chiếc áo bọc hình hài

mẹ cho/Bọc trái tim dòng máu mẹ cho/Không bao giờ đổi khác”.

Trải qua bao bước đường kháng chiến, bao gian lao khó khăn khôncùng, vào ngày chiến thắng nhìn lại mọi điều, Thanh Thảo lại muốn bắt đầu

từ mẹ Nghĩ tới mẹ, người lính nh được trở về với ngọn nguồn của thắng lợi

và vinh quang, của tương lai và hạnh phúc Anh tự hào về thế hệ mình nhưngtrước hết tự hào về những người mẹ Mẹ chính là nơi bắt đầu của tất cả:

Cho con xin bắt đầu từ mẹ

Để hát về chúng con

Thanh Thảo viết về mẹ với sự thấu hiểu sâu sắc bao nỗi đắng cay,bao sù hy sinh vất vả trong cuộc đời của mẹ Phải biết ơn, trân trọng, nângniu bao nhiêu sự hy sinh đằng đẵng, sự chịu đựng lớn lao của người mẹ mới

có được những câu thơ như thế này:

Phải thương lắm mới đi làm cách mạng Phải thương nhiều hơn mới giữ nổi lòng tin Nhưng phải thương tận cùng đớn đau mới làm người mẹ

Mẹ hiện lên trong tâm tưởng các anh giữa đêm rừng Trường Sơn, giữakhông gian địa hình khắc nghiệt

Trang 37

Mẹ là nơi để con quay về tìm lại thế giới trẻ thơ: “Con sẽ về chạy rát

bỏng bàn chân”, “về với má con lại là trẻ nhỏ” để được sống trong không

gian có “trái ổi chín vàng”, có “hàng bông bụt/trên cát trắng màu hoa day

dứt” với “mùi mùa thu trước ngõ nhà mình”.

Tấm lòng mẹ như nguồn sông Dù bình yên hay bão tố, sông vẫn

“trằn sóng đỏ” lặng thầm bồi đắp phù sa cho cuộc đời con và cho đất nước

này Mẹ đã trở thành hành trang tinh thần theo người lính suốt cuộc trườngchinh

Và trong niềm cảm khái thiêng liêng, nhà thơ ý thức một cách sâu sắcrằng: mẹ là mẹ của các anh, nhưng mẹ cũng là một nguồn sáng cao hơn–người Mẹ Tổ quốc, người mẹ nhân dân, đất nước:

Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người

Là đứng theo dáng mẹ

“Đòn gánh tre chín rạn hai vai”

(Những người đi tới biển)Không chỉ mang trong trái tim mình hình ảnh mẹ thân yêu, cái tôi thế

hệ còn nhiều thổn thức về một khoảng trời riêng tư khác: người yêu dấu.Trong nỗi nhớ tình yêu của các anh, ta nghe rất rõ nhịp đập dồn của những

trái tim rất trẻ, chân thực, táo bạo và nồng say: “Anh nhí em/Quân thù không

thể biết/Anh nhí em/ Trường Sơn có bao nhiêu cây xanh/Chót vót trên kia thắm một vòm lá đỏ/Nỗi nhí anh dâng lên tới đó” (Những người đi tới biển).

Nỗi nhớ vượt qua thời gian, vượt qua không gian dâng cao chót vót.ChÝnh tình yêu em đã hoá thành ngọn lửa sưởi Êm tâm hồn và có lẽ nó đãgiúp người lính đứng vững trước những thử thách khốc liệt của cuộc chiếntranh, giúp họ sống xứng đáng với con đường đã chọn:

Tình yêu em hoá thành cây lá đỏ Suốt bốn mùa cháy hoài ngọn lửa

(Những người đi tới biển)

Trang 38

Ngọn lửa tình yêu đã bùng lên và thăng hoa cùng ngọn lửa lý tưởng

để anh và em: “Cả những điều nhỏ nhoi bình lặng nhất Của hai ta cùng soi

vào đất nước Bằng ngọn lửa riêng bền bỉ suốt đời mình”.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh, tình yêu và niềm tin Êy đãgóp phần làm nên bao kỳ tích Hình ảnh người yêu trong trái tim người línhnhư vòm trời xanh mát, bình yên bất chợt hiện ra giữa cái khốc liệt của chiếntranh đã thành nguồn năng lượng tinh thần vô giá mà không một một sứcmạnh nào sánh được

Cả thế hệ ra chiến trường, chiến đấu để đem lại bình yên cho mẹ, chongười yêu và cũng là cho tất cả chung– riêng trong hành trang tinh thần của

mơ: “Người bạn tôi đã mất một cánh tay/ Vùi trong lòng địa đạo/Mà địa đạo

cũng không tìm thấy nữa/Đã mười năm /Anh bây giờ thành một giáo viên/Lên líp cho các em về quả đất tròn” (Trẻ con ở Sơn Mỹ).

Như vậy, trong trường ca của mình, Thanh Thảo đã xây dựng đượcdiện mạo cụ thể bức chân dung tinh thần của những người lính cùng thế hệmình: những người lính có đời sống nội tâm sâu sắc, luôn suy nghĩ, trăn trởtrước số phận và vận mệnh của mình cũng như của toàn dân tộc Trực tiếp cómặt trong những trận chiến khốc liệt, Thanh Thảo đã miêu tả nhiều mảnghiện thực chiến tranh chân thực, cụ thể cũng như đã khắc hoạ được tâm trạng

đa dạng, cảm xúc phong phó trong tâm hồn những người lính trẻ: “Xích lạigần sự thể hiện trần trụi người lính cùng thế hệ”

Và, theo quy luật của thơ ca, sự hài hoà giúp cho cái tôi trữ tình thểhiện sứ mệnh nghệ thuật của nó: khái quát chân dung của thời đại anh

Trang 39

hùng để mỗi bản trường ca của Thanh Thảo là một bản hùng ca “mãi mãi

là ngọn lửa ánh lên, bùng lên trong chính bóng tối của sự quên lãng” (Nhàthơ Paul Hoover)

2 Triết luận về nhân dân, Tổ quốc

Hình tượng Tổ quốc là hình tượng có ý nghĩa khám phá mới mẻ củavăn học chống Mỹ Phát hiện về Tổ quốc cũng có nghĩa là khám phá về dântộc, vÒ con người Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp và bền vững Thơchống Mỹ đã xây dựng hình tượng đẹp về con người Việt Nam ở nhiều tầnglớp, lứa tuổi Họ là biểu tượng của dân tộc và nhân dân “Nhận thức về đấtnước luôn gắn liền với nhận thức về nhân dân đó cũng là nét nổi bật trongchủ nghĩa yêu nước ở thơ thời kỳ này Cuộc kháng chiến chống Mỹ một lầnnữa thể hiện sức mạnh vô tận, phẩm chất tuyệt vời và những hy sinh vô cùng

to lớn của nhân dân” [II.51;23]

Qua các thời kỳ lịch sử, quan niệm Tổ quốc trong thơ ca truyền thống

có bước phát triển Trong thơ chống Mỹ, hình tượng Tổ quốc trở thành biểutượng thiêng liêng được gắn với người thân, gắn với quê hương đất nước, vớitrách nhiệm chiến đấu và hy sinh

Tổ quốc thân thương không chỉ là những địa danh cương vực, là cáchcắt nghĩa kiểu khái niệm:

Đất là nơi em đến trường Nước là nơi em tắm

(Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)Trong tâm hồn người lính trong trường ca Thanh Thảo, Tổ quốc mang

hình đồng đội “nằm úp thìa bên nhau”, mang hình khuỷu tay cho họ gối đầu,

mang hình võng dù, võng bạt, qua trải nghiệm chứng kiến, đã thấm thía nhận

ra: Tổ quốc thân thương kỳ diệu hơn cả những giấc mơ: “Bạn có gì hiến cho

Tổ quốc/ Tổ quốc ở trong tôi/Hơn những giấc mơ kỳ diệu nhất/Nếu phút nào tôi ở ngoài Tổ quốc/Đó là điều bất hạnh của đời tôi” (Bùng nổ của mùa xuân).

Trang 40

Cảm nhận về Tổ quốc nhưng không hề cao giọng, lên gân với nhữngcảm xúc chân thành, đầy trăn trở , trữ tình, suy tư trầm lắng đã góp phần thểhiện những suy nghĩ của anh về nhân dân, dân tộc trong những năm thángđánh Mỹ cũng như trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước ta

Tổ quốc cũng thật giản dị, gần gũi thân quen như cơm ăn nước uống

hàng ngày và còn hơn cả thế mà rất đỗi thiêng liêng: “Như nước uống cơm

ăn/ Tổ quốc/Hơn nước uống cơm ăn/ Tổ quốc” (Bùng nổ của mùa xuân).

Với người chiến sĩ, Tổ quốc không còn là khái niệm trừu tượng nữa

mà là những gì cụ thể, chân xác nhất Tổ quốc là một nhịp tim khác thườngcủa những chàng trai mười tám tuổi, là một làn mây mỏng đến bâng khuâng,

là mùi mồ hôi thật thà của lính Đôi khi Tổ quốc lại dễ thương như mét giọng

nữ cao nghe từ Hà Nội trong phút giải lao ngắn ngủi trên đường hành quân,

là một bát canh nấu bằng rau rừng: “Hái lá “mì chính”/Nấu một nồi canh

/Thương nhau sốt rét thèm chua” Chỉ những người đã từng hy sinh xương

máu mới có thể nhìn đất nước mình cụ thể, thân thương đến thế Nghĩ về Tổquốc, người lính trẻ bồi hồi xóc động, biết ơn những gì bình dị nhất đã nuôi

dưỡng đời mình: “Tôi thương quá những gì đã nuôi nấng đời tôi/Bờ suối

ngọn nguồn con tôm con tép/Bát canh tàu bay tiếng bầy chim két/Một chút trăng thu trái bắp đầu mùa ” (Những người đi tới biển).

Nhìn về Tổ quốc, người lính còn cảm nhận được sự che chở của

người mẹ cho đàn con cũng là sự che chở của đất nước: “Con sẽ về chạy rát

bỏng bàn chân/ Vầng trán mẹ giờ này lặng sóng/Sau mưa bão mía ngọt dần lên ngọn/ Vẫn chỗ ướt mẹ nằm đất nước mình ơi” (Những người đi tới biển).

Bằng trải nghiệm của mình, Tổ quốc được hiện lên qua biểu tượngtấm áo lính là cách nhìn mới, mét so sánh táo bạo mang ý tưởng sáng tạo chỉ

có ở thế hệ trẻ, đặc biệt thế hệ giáp trận “Tổ quốc là tấm áo lính sờn vai.

Mặc áo lính chúng tôi thành chiến sĩ” (Trường ca Sư đoàn – Nguyễn Đức

Mậu)

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
35. Tế Hanh. Từ “Những người đi tới biển” đến “Đường tới thành phố” - Văn nghệ số 58 - 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người đi tới biển” đến “Đường tới thành phố
43. Lê Thị Hường. Chuyên đề dạy - học Ngữ văn 12. “Đàn ghi ta của Lor - ca” - NXB Giáo dục - 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàn ghi ta của Lor - ca
Nhà XB: NXB Giáo dục - 2008
44. Sử Hồng - Trần Đăng Suyền. Tư tưởng nhân dân trong “Những ngọn sóng mặt trời” - Báo Văn nghệ tháng 6 - 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngọn sóng mặt trời
45. Nguyễn Thuỵ Kha. Lời quê góp nhặt - NXB Hội nhà văn - HN - 1999 46. Đỗ Văn Khang. Từ ý kiến về trường ca sử thi của Hêghen đến “trườngca” hiện đại ở ta - Tạp chí văn học số 6 - 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: trường ca
Nhà XB: NXB Hội nhà văn - HN - 199946. Đỗ Văn Khang. Từ ý kiến về trường ca sử thi của Hêghen đến “trường ca” hiện đại ở ta - Tạp chí văn học số 6 - 1982
47. Lê Văn Khoa. Mấy ý kiến về anh hùng ca: “Bài ca Đăm San” - Tạp chí văn học số 6 - 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài ca Đăm San
79. Nguyễn Thị Hưởng. Chất triết lý trong trường ca “Những người đi tới biển” và “Những ngọn sóng mặt trời” của Thanh Thảo - Báo cáo khoa học - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người đi tới biển” và “Những ngọn sóng mặt trời
1. Thanh Thảo. Những người đi tới biển - NXB Quân đội nhân dân - HN - 1977 Khác
2. Thanh Thảo. Những ngọn sóng mặt trời - NXB Văn học nghệ thuật Nghĩa Bình - 1982 Khác
3. Thanh Thảo. Trò chuyện với nhân vật của mình - NXB Quân đội nhân dân - HN - 2002 Khác
4. Thanh Thảo. Khối vuông Rubích - NXB Tác phẩm mới - HN - 1985 5. Thanh Thảo. Dấu chân qua trảng cỏ - NXB Tác phẩm mới - HN - 1978 6. Thanh Thảo. Từ một đến một trăm - NXB Đà Nẵng - 1988 Khác
12. Nguyễn Đức Mậu. Trường ca sư đoàn - NXB Quân đội nhân dân - HN - 1980 Khác
13. Hữu Thỉnh. Đường tới thành phố - NXB Quân đội nhân dân - Hà Nội - 1979II. Các công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình Khác
14. Vũ Tuấn Anh. Những vấn đề của văn học Việt Nam qua ba cuộc hội thảo - Tạp chí văn học - sè 1 - 1994 Khác
15. Lại Nguyên Ân. Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca - Tạp chí văn học số 4 - 1975 Khác
16. Lại Nguyên Ân. Bàn góp về trường ca - Tạp chí văn nghệ Quân đội - sè 1 - 1981 Khác
17. Lại Nguyên Ân. Văn học và phê bình - NXB Tác phẩm mới - HN - 1984 Khác
18. Mai Bá Ên. Thanh Thảo và những trăn trở về con người - Tạp chí văn hoá nghệ thuật - sè 4 - 2005 Khác
21. Nguyễn Phan Cảnh. Ngôn ngữ thơ - NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp - HN - 1987 Khác
22. Nguyễn Việt Chiến. Thơ Việt Nam: tìm tòi và cách tân (1975 - 2005) - NXB Hội Nhà Văn Khác
23. Hồng Diệu. Người lính và nhà văn - NXB Quân đội nhân dân - 2003 24. Nguyễn Văn Đạm. Từ điển Tiếng Việt - tường giải và liên tưởng - NXBVăn hoá thông tin - HN - 1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w