Chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khai thác biểu tượng nghệ thuật trong đọc - hiểu bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca Thanh Thảo ở lớp 12 THPT” với mong muốn rằng sẽ có những đóng góp trên hành t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ SÂM
KHAI THÁC BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG ĐỌC-HIỂU BÀI THƠ “ĐÀN GHI TA CỦA
LOR-CA” (THANH THẢO) Ở LỚP 12 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ SÂM
KHAI THÁC BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG ĐỌC-HIỂU BÀI THƠ “ĐÀN GHI TA CỦA
LOR-CA” (THANH THẢO) Ở LỚP 12 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS - TS Nguyễn Thanh Hùng
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình tới GS.TS Nguyễn Thanh Hùng - người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cám ơn sự nhiệt tình, lòng tâm huyết của các thầy cô giáo đang công tác và giảng dạy trong khoa Sau đại học của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên Các thầy cô đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng em được học tập, được nghiên cứu để mở mang kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Tác giả luận văn xin gửi lời cám ơn tới gia đình và bè bạn vì đã tạo điều kiện, giúp đỡ, đông viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái nguyên, tháng 09 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Sâm
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các từ viêt tắt iv
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 12
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Cơ sở lí luận 12
1.1.1 Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương 12
1.1.2 Đọc- hiểu, vấn đề thời sự của nghiên cứu và dạy học văn 23
1.1.3 Tầm quan trọng và ý nghĩa phương pháp của việc khai thác biểu tượng nghệ thuật trong đọc hiểu TPVC 31
1.2 Cơ sở thực tiễn: 33
1.2.1 Định hướng dạy đọc hiểu bài thơ “Đàn ghi ta của Lor- ca” (Thanh Thảo) trong hai bộ sách giáo khoa cơ bản và nâng cao lớp 12 33
1.2.2 Khảo sát giáo án của giáo viên hướng dẫn HS đọc- hiểu “Đàn ghi ta của Lor-ca” 37
1.2.3 Khảo sát thực trạng đọc -hiểu bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của học sinh ( Xét hoạt động đọc là chính) 43
1.2.4 Khảo sát một số sách tham khảo có hướng dẫn đọc-hiểu bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” 43
1.2.5 Nhận xét kết quả khảo sát 45
1.2.6 Một số đề nghị của các em học sinh và nhận thức của giáo viên về hướng dạy học văn hiện tại 46
2.2 Tiếp thu, bổ sung nội dung thiết kế dạy học đọc hiểu theo hướng khai thác biểu tượng nghệ thuật 47
Trang 5Chương 2 CÁCH THỨC HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG ĐỌC - HIỂU BÀI THƠ
“ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA” (THANH THẢO) 49
2.1 Vận dụng hoạt động đọc- hiểu trong quá trình dạy học bài thơ Đàn
ghi ta của Lor-ca 49
2.1.1 Trang bị tri thức đọc- hiểu bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca cho học sinh 492.1.2 Định hướng hoạt động đọc để học sinh tự học 562.2 Hướng dẫn học sinh phân tích mối quan hệ giữa các biểu tượng nghệ thuật thể hiện phong cách sáng tác mang tính chất siêu thực, tượng trưng của Thanh Thảo 732.2.1 Phát hiện và phân tích cái hay, cái đẹp của những biểu tượng về văn hoá Tây Ban Nha trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca 742.2.2 Phát hiện và phân tích cái hay, cái đẹp của những biểu tượng về
âm nhạc trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca 752.2.3 Phát hiện và phân tích cái hay, cái đẹp của những biểu tượng về hội hoạ trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca 802.2.4 Phân tích giá trị của biểu tượng trong bài thơ Đàn ghi - ta của Lor - ca góp phần khắc họa hình tượng khách thể trữ tình 842.2.5 Phân tích và lí giải sự thành công của các biểu tượng nghệ thuật trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca bộc lộ sâu sắc hình tượng chủ thể trữ tình 892.2.6 Bình luận nội dung và cách thể hiện tiêu đề, lời đề từ độc đáo của bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca 952.3 Học sinh đề xuất một số thắc mắc về nội dung và hình thức của bài thơ chưa hiểu rõ 99
Chương 3 THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM DẠY HỌC BÀI THƠ “ĐÀN GHI TA CỦA LOR- CA” (THANH THẢO) 100
3.1 Mục đích thiết kế thực nghiệm 100
Trang 63.2 Địa bàn thực nghiệm 100
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 100
3.4 Quy trình thực nghiệm 100
3.4.1 Soạn thiết kế thực nghiệm 100
3.4.2 Dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 125
3.5 Kết quả thực nghiệm và đối chứng 126
3.5.1 Bảng so sánh kết quả 127
3.5.2 Nhận xét kết quả so sánh 127
3.6 Đánh giá hiệu quả của thiết kế thực nghiệm 128
C KẾT LUẬN 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 8A MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Về lí luận
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học luôn là sự thôi thúc, đòi hỏi của
ngành giáo dục nói chung và môn Văn nói riêng Vì thế mà các nhà nghiên cứu cũng như bản thân người dạy học luôn mong muốn tìm ra những cách thức, phương pháp dạy học mới, phù hợp và hiệu quả ứng với từng thể loại văn học nói chung và với từng bài học nói riêng Tìm hiểu TPVC, chúng ta luôn nhận thấy, biểu tượng nghệ thuật có một vai trò đặc biệt trong việc thể hiện nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật của tác phẩm Bởi vì vai trò đặc biệt của biểu tượng nghệ thuật nên các nhà nghiên cứu đã quan tâm khám phá nó ở nhiều khía cạnh, nhưng để có một cách thức, phương pháp dạy học theo hướng liên kết các hệ thống biểu tượng cho từng bài học thì chưa được chú ý
1.2 Sự ra đời của lí thuyết đọc - hiểu trên thế giới và sự du nhập lí
thuyết đó vào Việt Nam mấy năm gần đây đã ảnh hưởng nhiều đến phương hướng nghiên cứu, giảng dạy TPVC trong nước GS.TS Nguyễn Thanh Hùng
cho rằng: “Đọc - hiểu là một địa hạt mới, gợi ra nhiều vấn đề khoa học để
phương pháp dạy học phát triển thêm về mặt lí luận và vận dụng thực tế Đọc
- hiểu cần tách ra khỏi vòng kiểm soát chật hẹp của phương pháp để trở thành nội dung tri thức chung gắn liền với lí thuyết tiếp nhận, lí thuyết giao
tiếp, thi pháp học, lí luận dạy học Ngữ văn”
Qua nghiên cứu, chúng ta nhận thấy rằng, vấn đề đọc - hiểu tuy đã xuất hiện ở Việt Nam một vài năm nay nhưng mới được xem là một trong những vấn đề tâm sự khoa học cơ bản trong chương trình cải cách giáo dục ở bậc phổ thông Nó gợi ra nhiều vấn đề đáng suy nghĩ đối với các nhà giáo dục,
Trang 9đến lúc phải chuyển việc giảng văn trong nhà trường thành việc dạy đọc, dạy cách đọc để học sinh tự đọc lấy thì việc học văn mới thực sự có kết quả, phải
đọc văn để người đọc tự phát hiện ra và thấy mình lớn lên”(Đọc hiểu văn-
Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện đại,Trần Đình Sử, tr 38) Đọc - hiểu đang trở thành xu thế tiếp cận và giải mã văn bản
mà cả giáo viên và học sinh cần quan tâm
Hiểu là mục đích cuối cùng của hoạt động đọc Trong dạy học TPVC đọc - hiểu theo đúng nghĩa, là mục đích lí tưởng, mục đích cao nhất của việc đọc văn Nhưng trong khoa học phương pháp giảng dạy mãi đến những năm gần đây, đọc - hiểu mới được nghiên cứu như một nội dung lí thuyết có giá trị phương pháp Đọc hiểu đã đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của dạy học hiện đại Đổi mới phương pháp đặt ra yêu cầu bức bách cho giáo dục là phải đào tạo được những con người có khả năng tự học, tự đọc, tự lĩnh hội tri thức, có năng lực chủ động, sáng tạo trong công việc, có kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức khoa học vào cuộc sống Đọc - hiểu đã bộc
lộ những ưu điểm phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đang đặt ra Ý thức được vai trò của dạy đọc - hiểu nên có rất nhiều nhà nghiên
cứu đã quan tâm đến vấn đề này
2 Về thực tiễn
2.1 Đọc - hiểu là một hoạt động phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với yêu cầu Trên cơ sở “lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn phương pháp giảng dạy”, phần “đọc - hiểu văn bản” được thay thế cho phần “giảng văn” quen thuộc Chương trình, SGK Ngữ văn cải cách mới đã biên soạn kiểu bài đọc - hiểu văn bản văn học nhằm mục đích rèn luyện kĩ năng đọc hiểu, giúp học sinh tiếp cận, khám phá nội
dung ý nghĩa của các loại văn bản văn học trong chương trình Vấn đề “ Đọc -
Trang 10hiểu văn bản” trở thành đầu mối của việc đổi mới phương pháp dạy học
TPVC trong nhà trường Đọc hiểu cũng là một quá trình nắm vững ý nghĩa xã hội và nội dung nghệ thuật thông qua hoạt động nhận thức các mối quan hệ
Hiểu bản chất, thực hiện đúng yêu cầu của dạy đọc - hiểu là điều không đơn giản Dạy thế nào để giúp học sinh vừa rèn luyện kĩ năng đọc và tạo lập văn bản, vừa không làm giảm chất văn của môn văn là một vấn đề luôn luôn cần giải quyết Đọc - hiểu văn bản văn chương đã được đưa vào chương trình SGK Ngữ văn phổ thông và được thực thi từ năm học 2002-
2003 nhưng đến nay vẫn chưa có hiệu quả như mong muốn Qua khảo sát
thực trạng dạy học có thể nhận thấy một bộ phận giáo viên còn vướng mắc, lúng túng trong cách thức dạy đọc - hiểu văn bản văn học nói chung và thơ trữ tình, cũng như thơ trữ tình hiện đại nói riêng Từ đó dẫn đến thái độ học và tự
học phần đọc văn của học sinh cũng chưa thực sự hiệu quả
Hơn nữa, loại thơ trữ tình hiện đại được viết theo khuynh hướng tượng trưng và siêu thực là loại thơ không dễ hiểu Xu hướng thẩm mĩ của khuynh hướng thơ này được hình thành ở phương Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX và được du nhập vào Việt Nam dầu thế kỉ XX Người đọc đã được biết đến loại thơ này từ khi chúng ta tiếp xúc với một số văn bản thơ của Xuân Diệu, Chế Lan Viên…trong phong trào Thơ mới Mặc dù xuất hiện cũng khá lâu, nhưng lối thơ đó vẫn thật sự xa lạ với tư duy tiếp nhận của người đọc Việt Nam, khi họ vốn quen thuộc với các văn bản thơ cổ và kiểu tư duy phương Đông Chính vì thế khi loại thơ này được tuyển chọn và đưa vào giảng dạy trong chương trình đã gây không ít khó khăn cho giáo viên cũng như học sinh trong quá trình dạy và học
2.2 Bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca của Thanh Thảo mới được đưa vào
chương trình SGK Ngữ văn phổ thông (lớp 12) là một bài thơ trữ tình hiện đại
Trang 11in đậm dấu ấn thơ tượng trưng, siêu thực Đó là bài thơ hay, nhưng khó, vì thế gây không ít khó khăn cho giáo viên khi giảng dạy và học sinh khi tiếp nhận
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Khai thác biểu
tượng nghệ thuật trong đọc - hiểu bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo) ở lớp 12 THPT” Với đề tài này, chúng tôi mong muốn ít nhiều tìm ra
con đường khắc phục những khó khăn khi dạy và học thơ trữ tình hiện đại viết theo khuynh hướng tượng trưng và siêu thực Đồng thời, thông qua việc hướng dẫn học sinh khám phá cái hay và đẹp của các biểu tượng nghệ thuật trong bài thơ trên, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề đọc hiểu văn bản trong dạy học Ngữ văn
Trong lịch sử nhân loại, từ khi xuất hiện những văn bản kí tự đã bắt đầu
có hoạt động đọc Đọc là một quá trình chuyển hoá nội dung ý nghĩa từ văn bản sang âm thanh lời nói và âm vang trong óc
Ở nước ta, ngay từ những năm 80 của thế kỉ XX, các giáo trình viết về phương pháp giảng dạy môn văn có nói đến khái niệm đọc văn và phương pháp đọc học trong một số tài liệu tài liệu sau:
GS Trần Đình Sử trong bài viết “Đọc - hiểu văn bản một khâu đột
phá trong nội dung và phương pháp dạy hiện nay” đã nhìn nhận rất thẳng
thắn về phương pháp cũ Theo GS: “Cách giảng, phương pháp giảng của
thày sao cho đúng, cho hay và học trò chỉ là người học cái hay, cái đẹp do thầy mang lại” Cũng trong bài viết này, giáo sư đã chỉ ra rằng: “Người ta không thể thưởng thức hộ cái hay, cái đẹp cho người khác…” Do vậy: “dạy văn là phải chỉ ra cách hiểu cho người đọc văn, cơ sở của nó là sự đọc- hiểu”
Trang 12Có thể coi người đặt nền móng đầu tiên cho vấn đề đọc - hiểu ở Việt Nam là GS Nguyễn Thanh Hùng Với một số bài báo, tiểu luận khoa học, tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò của việc dạy đọc hiểu văn bản trong trường phổ thông và làm sáng tỏ một số phương diện về bản chất của hoạt động dạy
học đọc hiểu Trong tiểu luận mang tên “Dạy đọc -hiểu là tạo nền tảng văn
hoá cho người đọc” trình bày tại hội thảo khoa học chương trình và sách giáo
khoa (SGK) thí điểm tổ chức tháng 9-2000 tại Hà Nội, tác giả đã xác định:
“Đặt vấn đề đọc - hiẻu vào trong “ vùng trời” của nó sẽ thấy hiện lên một hệ thống những nhân tố có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong hệ thống ấy, hoạt động đọc là cơ bản và có tầm quan trọng hết sức to lớn càn giải quyết thấu đáo Còn hiểu thì không nên xem là một hoạt động mà chỉ là kết quả mong muốn của hoạt động đọc và là mục đích duy nhất của bất cứ hoạt động đọc nào” Đặc biệt, tầm quan trọng của đọc còn được GS khẳng định: “Đọc được xem như năng lực văn hoá ý nghĩa cơ bản đối với sự phát triển nhân cách bởi vì phần lớn những tri thức hiện đại được truyền thụ qua việc đọc của học sinh Trên cơ sở đó sự phát triển kĩ năng đọc của học sinh trong nhà trường phổ thông là nhiệm vụ cơ bản của giáo viên Ngữ văn…Dạy đọc- hiểu
là dạy học sinh cách đọc ra nội dung trong mối quan hệ ngày càng bao quát văn bản”
Một người rất tâm huyết với vấn đề đọc - hiểu mà chúng ta phải kể đến,
đó là Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn Trong nhiều bài viết của mình, tác giả đã làm sáng tỏ giá trị đọc - hiểu, đặc biệt là đọc - hiểu TPVC trong nhà trường
Cốt lõi của vấn đề đọc - hiểu mà tác giả trình bày đó là: “ Việc đọc
gắn liền với tài năng, phong cách tác giả; gắn liền văn bản với vấn đề loại thể, chú giải văn bản và mở rộng các lớp nghĩa từ văn bản… để từ đó người đọc vượt lên những kinh nghiệm, vươn tới những chân trời rộng lớn và mới
Trang 13lạ của tri thức nhân loại” Do vậy đọc được xem như “điểm khởi đầu cho những năng lực khác, đặc biệt là năng lực nhận biết, phân loại và tri giác các văn bản”
Từ những nhận định trên, tác giả đã đưa ra những mục đích rất phù hợp
với quan điểm dạy học hiện đại Đó là “Dạy đọc - hiểu phải tác động đến nhu
càu đọc của học sinh, hướng học sinh đến những vấn đề của cuộc sống, để học sinh biết quan tâm đến những vấn đề thời sự mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống hôm nay… làm cho cuộc sống của học sinh thêm phong phú, đào tạo nên nhũng thế hệ học sinh có đủ bản lĩnh và khả năng hoà nhập với xã hội hiện đại
mà yêu cầu đầu tiên là biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống”
Lấy cơ sở từ lí thuyết tiếp nhận văn học, Phó giáo sư tiến sĩ (PGS.TS) Nguyễn Huy Quát đã rất coi trọng đọc văn sáng tạo là phương pháp đặc thù của phương pháp dạy văn học Trong cuộc giao tiếp giữa người đọc và nhà
văn qua tác phẩm văn chương “người đọc có thể thâm nhập, quên mình và
phân thân cùng tác giả, tác phẩm nhưng vẫn giữ khoảng cách thẩm mĩ để nhìn nhận, đánh giá tác phẩm” Bàn về vấn đề đọc - hiểu, tác giả coi đọc-
hiểu nằm trong định hướng về phương pháp dạy học với phương châm lấy học sinh làm trung tâm đòi hỏi phải biến môn văn thành môn dạy kỹ năng đọc hiểu bất cứ một văn bản nào Từ đó tác giả xác định vai trò của đọc - hiểu
trong phương pháp dạy họcvà nêu ra những yêu cầu đối với giáo viên: “Giáo
viên phải có cách dạy bắt buộc học sinh phải tự đọc sách giáo khoa, coi đó cũng là một hoạt động đọc- hiểu trong suốt quá trình ngồi trên ghế nhà trường, rèn luyên thói quen tự học…”
Tất cả các bài viết trên đều tập trung làm sáng tỏ và phong phú thêm vai trò của đọc - hiểu văn trong dạy học TPVC trong nhà trường
Xác định được vai trò của đọc - hiểu và dạy học đọc - hiểu văn bản văn chương trong nhà trường phổ thông nên hiện nay đội ngũ giáo viên cả nước
Trang 14đều rất quan tâm đến vấn đề này Nhiều luận văn sau Đại học đã quan tâm đến vấn đề dạy đọc - hiểu ở các cấp học Song, hiểu đúng vai trò, nhưng hiểu rõ bản chất và thực hiện đúng yêu cầu của dạy học đọc - hiểu không phải là điều đơn giản Vì vậy, tiếp tục tìm hiểu và thực nghiệm dạy học đọc hiểu văn bản văn chương là nhu cầu của rất nhiều giáo viên, trong đó có bản thân người viết
Kế thừa và vận dụng những thành tựu nghiên cứu về dạy học đọc - hiểu văn bản văn chương vào dạy học tác phẩm cụ thể là điều chúng tôi mong muốn khi thực hiện đề tài này Với những đặc trưng tiêu biểu của loại thơ trữ
tình hiện đại in đậm dấu ấn thơ tượng trưng và siêu thực như bài thơ: Đàn ghi
ta của Lor-ca (Thanh Thảo) yêu cầu có một phương hướng dạy học thích hợp
2.2 Lịch sử nghiên cứu phương pháp dạy học bài thơ: Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo
Chương trình và SGK Ngữ văn THPT có rất nhiều tác phẩm thuộc
nhiều thể loại văn chương mới được lựa chọn đưa vào giảng dạy Đàn ghi ta
của Lor-ca cũng là một tác phẩm như thế Bài thơ được đưa vào SGK Ngữ
văn 12, tập 1 Vì đây là tác phẩm mới nên việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nay chưa nhiều Nhìn chung các tác giả chủ yếu nghiên cứu cách giảng dạy hay cách cảm nhận, phân tích, bình giảng bài thơ
Trên tạp chí Văn học và tuổi trẻ số 8/2008, TS Nguyễn Phượng đã bộc
lộ “Vài suy nghĩ về đọc- hiểu bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca” Tác giả lưu ý
người đọc trước khi tiếp cận bài thơ, cần phải nắm vài nét khái lược về thơ hiện đại dòng tượng trưng, siêu thực Phần bàn về đọc - hiểu, tác giả quan tâm tới phong cách thơ Thanh Thảo, nội dung, nghệ thuật chính của bài thơ, cách chia bố cục, sức gợi của hệ thống hình ảnh, yếu tố âm nhạc của bài thơ
Cũng trên tạp chí Văn học và tuổi trẻ, trong số 6/2009, tác giả Lê Thị
Tú Anh đã khai thác “Lời đề từ trong Đàn ghi ta của Lor-ca” trên góc độ tình
yêu quê hương xứ sở và lời đề từ là khát vọng cách tân nghệ thuật, cũng như
Trang 15sự hy sinh chân chính của người nghệ sĩ hết mình vì nghệ thuật Bài viết ca ngợi nhân cách cao đẹp của Lor-ca như hiện thân cách của khát vọng tự do và cách tân nghệ thuật
Trong bài “Đàn ghi ta của Lor-ca và nỗ lực đổi mới của Thanh Thảo”-
Thẩm bình tác phẩm Ngữ văn 12, NXB Giáo dục/2008, tác giả Nguyễn Văn Bính nhận xét: Đây là bài thơ giàu nhạc tính và nhạc tính được tạo nên bởi thể thơ, cấu trúc trùng điệp, âm hưởng tiếng đàn…Bên cạnh đó đặc sắc của bài thơ còn là sự sáng tạo hình ảnh, những hình ảnh tượng trưng gợi nhiều suy tưởng
Lời bàn của nhà nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn ở bài “Một tìm tòi thú vị
của Thanh Thảo” in trong cuốn “Thơ - điệu hồn và cấu trúc” NXBGD/2006
cũng là một phát hiện độc đáo về bài thơ Tác giả nghiên cứu chất nhạc trong
bài thơ, thế giới thi liệu trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca gần gũi với
những thi ảnh trong thế giới nghệ thuật của Lor-ca, mạch triển khai trong thi phẩm là hợp lưu của hai dòng tự sự và âm nhạc Tác giả đã phát hiện ra Thanh Thảo vay mượn không ít vốn liếng âm nhạc để đầu tư cho thơ mình
Sách Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn-
NXB Giáo dục/2008, PGS-TS Lê Nguyên Cẩn có bài viết về bài thơ, giúp
GV có những hiểu biết về quan niệm mĩ học của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực để cảm nhận bài thơ Đồng thời, tác giả của bài viết cũng nêu lên cách cảm thụ về bài thơ giúp GV có thêm một kênh tiếp nhận
Trong Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12, TS Lê Hường đã nghiên cứu
khá chi tiết về tác phẩm từ những hiểu biết về tác giả đến việc chú thích các hình ảnh, cách giảng dạy tác phẩm, hướng dẫn HS học bài
Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục của Phạm Thị Hoàn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học giáo dục đã nghiên cứu về cách dạy học bài
Trang 16thơ này theo hướng phân tích và bình giá chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm để bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho HS
Một số bài viết của các GV THPT trên tạp chí Văn học và tuổi trẻ như của Lê Thị Minh Duyên bàn về bài thơ ở góc độ “ tiếng đàn gọi tiếng tri âm” (
số 10/2008); của Hoàng Lan Anh bàn về “sự biến ảo ánh sáng hay cấu trúc hình ảnh trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca” (số 11/2009); của Cát Văn khám phá bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca, một khúc tri âm”, khúc tưởng niệm đối với nhà thơ thiên tài Tây Ban Nha (số 10/2010)
Các Giáo sư, Tiến sĩ, các tác giả nghiên cứu,…đều tập trung hướng dẫn
cách tiếp cận, đọc - hiểu hay bàn thêm về việc hiểu bài thơ “Đàn ghi ta của
Lor-ca” của Thanh Thảo Những đóng góp đó rất quan trọng và có ý nghĩa vô
cùng đối với người dạy và học bài thơ này, cũng như đối với những người muốn tìm hiểu về thơ của Thanh Thảo, tìm hiểu về Lor-ca- người nghệ sĩ nổi tiếng của Tây Ban Nha và tấc lòng tri âm mà nhà thơ Thanh Thảo đã dành cho Lor-ca trong bài thơ này Song, đến thời điểm này chưa có một luận văn sau đại học nào bàn về đọc - hiểu bài thơ này, cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào chú ý đến biểu tượng nghệ thuật trong bài thơ
Chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khai thác biểu tượng nghệ thuật trong đọc - hiểu
bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo) ở lớp 12 THPT” với mong
muốn rằng sẽ có những đóng góp trên hành trình xác định một phương hướng dạy học phù hợp để phát huy hết những khả năng tác động lớn lao của loại thơ hiện đại viết theo khuynh hướng tượng trương, siêu thực nói chung và bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca nói riêng đối với sự phát triển nhân cách của học sinh
III ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Trang 17Khi thực hiện luận văn, chúng tôi xác định: Đối tượng nghiên cứu của
đề tài là: Hoạt động dạy và học bài thơ Đàn ghi - ta của Lor - ca (Thanh
Thảo) trong SGK Ngữ văn 12, tập 1 qua việc khai thác biểu tượng nghệ thuật
IV PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát một số phương pháp, biện pháp dạy học nhằm hướng dẫn học sinh khai thác biểu
tượng nghệ thuật trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo) đã được
đưa vào chương trình SGK Ngữ văn 12, tập 1 Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khảo sát thực trạng dạy bộ môn Ngữ văn ở THPT với riêng thể loại thơ hiện đại viết theo khuynh hướng tượng trưng và siêu thực Đồng thời, chúng tôi
tiến hành dạy thực nghiệm với bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)
Các vấn đề khác được đề cập trong luận văn chỉ với mục đích làm sáng
tỏ những vấn đề đã nêu ở trên
V MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Tổ chức học sinh khai thác giá trị biểu tượng nghệ thuật để đọc - hiểu
bài thơ Đàn ghi - ta của Lor - ca (Thanh Thảo) trên lớp có hiệu quả
- Đề xuất một cách thức dạy và học bài thơ Đàn ghi - ta của Lor - ca
(Thanh Thảo) phù hợp với những biểu tượng nghệ thuật của nó nói riêng và cách thức dạy học khai thác biểu tuợng nghệ thuật đối với những tác phẩm thơ trữ tình hiện đại nói chung
VI NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
- Vận dụng kỹ năng, biện pháp đọc - hiểu văn bản văn học để đọc -
hiểu bài thơ Đàn ghi - ta của Lor - ca bằng cách khai thác biểu tượng nghệ
thuật trong bài thơ
- Khảo sát tình hình dạy học trữ tình nói chung và bài thơ Đàn ghi - ta
của Lor - ca nói riêng ở nhà trường THPT từ khi chương trình SGK mới được
thực thi
Trang 18- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng những biện pháp dạy học do
luận văn đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả khi đọc - hiểu bài thơ Đàn ghi - ta
của Lor - ca (Thanh Thảo) trong SGK Ngữ văn 12, tập 1
VII GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu giáo viên và học sinh biết khai thác giá trị nội dung và hình thức
của biểu tượng nghệ thuật phù hợp thì việc dạy học đọc - hiểu bài thơ Đàn ghi
ta của Lor-ca nói riêng và thơ trữ tình hiện đại nói chung sẽ có kết quả tốt
hơn
VIII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành luận văn này, trong quá trình thực hiện, chúng tôi sử dụng các phương pháp, biện pháp khoa học sau:
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, khái quát hoá lí luận
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
IX CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
- Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
- Chương II: Cách thức hướng dẫn khai thác biểu tượng nghệ thuật trong
đọc - hiểu bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)
- Chương III: Thiết kế thực nghiệm dạy học bài thơ Đàn ghi ta của
Lor-ca (Thanh Thảo)
Trang 19B NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương
1.1.1.1 Khái niệm về biểu tượng nghệ thuật
Trên bình diện của ngành tâm lý học:
Theo từ điển tâm lý học (Vũ Dũng- NXB Khoa học xã hội, 2000):
“Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tưởng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai”
Theo từ điển tiếng Việt của GS Hoàng Phê chủ biên, biểu tượng được
định nghĩa như sau: “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của
nhận thức cao hơn cảm giác , cho ta hình ảnh còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt”
Như vậy biểu tượng là những hình ảnh của sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh được hình thành trên cơ sở của cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước Biểu tượng không phải hoàn toàn là thực tế, bởi nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác Tuy nhiên những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt động tâm trí của chủ thể
Trên bình diện ngôn ngữ:
Biểu tượng mang bản chất kí hiệu nhưng nó khác với kí hiệu thông thường Kí hiệu thông thường có thể dùng một từ thích hợp để gợi tín hiệu
P.Gairaud cho rằng: “Một tín hiệu…là một kích thích mà tác động của nó đã
có thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [10, tr.51]
Trang 20Dựa trên định nghĩa của P Gairaud, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra sự phân
tích khá thú vị: “Một sự vật muốn trở thành tín hiệu phải được cảm nhận
bằng giác quan Nó phải gợi ra, phải đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó, phải có ý nghĩa, phải được chủ thể lí giải nó, phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định” [10, tr.51.52]
Trên bình diện văn hoá:
Theo từ điển biểu tượng văn hoá thế giới: biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, ngụ ngôn, luân lí đều không phải là biểu tượng, chúng chỉ là những dấu hiệu
và không vượt quá mức độ của sự biểu nghĩa Ngay cả những biểu tượng đại
số học, toán học, khoa học và một số những công thức giáo lí…cũng chỉ là những kí hiệu
Vậy biểu tượng khác kí hiệu thông thường là “biểu tượng rộng lớn hơn
cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo” [53, tr.19], “hiệu lực của nó vượt ra ngoài ý nghĩa…Nó đầy gợi cảm và năng động, nó không chỉ vừa biểu tượng theo một cách nào đó vừa tháo dỡ ra”[53, tr.20], “cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt” [53, tr.27]
Như vậy, được gọi là biểu tượng khi một sự vật hiện tượng nào đó tích đọng trong nó những ý nghĩa sâu sắc, nó được cộng đồng, giai cấp, dân tộc, nhân loại thừa nhận, nó luôn hướng về một ý nghĩa cố định nào đó, nhưng đồng thời lại tiềm ẩn khả năng mở ra những ý nghĩa khác trong sự cảm nhận của con người Có thể nói, biểu tượng là những hình ảnh sự vật cảm tính chứa đầy ý nghĩa và nó càng trở nên sinh động hơn trong đời sống văn hoá, trong cảm nhận của con người
Chẳng hạn, ngọn lửa trong các truyền thuyết, “là biểu tượng của sự tẩy
uế, sự toả sáng của tình yêu theo nghĩa tinh thần Ngọn lửa là hình ảnh của tinh thần và sự siêu việt, linh hồn của lửa Theo nghĩa xấu và đen tối, ngọn lửa làm cho đồi bại, gây chia rẽ, bất hoà: đó là hơi thở cháy bỏng của sự nổi
Trang 21loạn, mẩu củi cháy dở dày vò của sự thèm muốn, lũ than hồng thuỷ của sự
nhân loại, ngọn lửa luôn sống động trong những ý nghĩa đó
Trên bình diện nghệ thuật:
Biểu tượng nghệ thuật là những hình ảnh sự vật cụ thể cảm tính bao hàm trong nó nhiều ý nghĩa, gây được ấn tượng sâu sắc đối với người đọc Biểu tượng nghệ thuật được coi là kí hiệu thẩm mỹ đa nghĩa bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nó là sự mã hoá cảm xúc, ý tưởng của nhà văn Biểu tượng trở thành phương tiện diễn đạt cô đọng, hàm xúc, có sức khai mở rất lớn trong sự tiếp nhận của độc giả
1.1.1.2 Chức năng của biểu tượng nghệ thuật trong việc biểu hiện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương
Lí thuyết mô phỏng, phản ánh đã ngự trị trong văn học phương Tây hàng nghìn năm, nhưng càng ngày người ta càng khẳng định văn học không bao giờ là sự bê nguyên hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm là một thế giới hư cấu, giống thật chứ không phải
là thật Để tạo nên một thế giới như thế, nhà văn sử dụng nhiều yếu tố, trong
đó có biểu tượng nghệ thuật Tìm hiểu biểu tượng nghệ thuật sẽ góp phần hiểu
rõ hơn bản chất của việc xây dựng hình tượng trong văn học, đồng thời giúp cho viêc sử dụng thuật ngữ này được chính xác hơn Những tác phẩm sử dụng nhiều biểu tượng thể hiện sự chối từ cách viết trực tiếp giãi bày tâm tư, tình cảm (nhất là đối với thơ ca) Những tác phẩm viết có sử dụng biểu tượng nghệ thuật không dễ đọc chút nào nhưng đầy ám ảnh và sức khêu gợi
Biểu tượng nghệ thuật khác với biểu tượng văn hoá Tuy trong trường
kì lịch sử, biểu tượng văn hoá có xu hướng được bổ sung ý nghĩa, nhưng sau một thời gian, ý nghĩa đó trở nên cố định và nhiều khi khó hiểu đối với con người thời sau Còn biểu tượng nghệ thuật luôn luôn có xu hướng tái sinh về mặt ý nghĩa, không chỉ trong sáng tác mà còn cả trong tiếp nhận Cái biểu đạt
Trang 22có thể vẫn giữ nguyên nhưng ý nghĩa của nó đó được bổ sung Và như vậy, khi xuất hiện trong tác phẩm với nét nghĩa mới nó vẫn lưu giữ trong mình những ý nghĩa đã từng có trong lịch sử Sở dĩ biểu tượng văn hoá cổ xưa trở nên khó hiểu với người hiện đại vì thời đại phát sinh không cùng hiện hữu, cùng biểu tượng nghệ thuật, ngoài môi trường thời đại, nó tồn tại trong một môi trường không bao giờ mất đi chỉnh thể tác phẩm Do đó, biểu tượng nghệ thuật, cho dù thời đại sản sinh lùi sâu vào quá khứ, nó vẫn sống động trong tác phẩm với rất nhiều mối quan hệ - ý nghĩa của nó vẫn được cảm nhận và lí giải không mấy khó khăn Không thể phủ nhận yếu tố truyền thống (mẫu số chung, ý nghĩa khách quan) của biểu tượng nghệ thuật Yếu tố truyền thống chính là sự thừa nhận về mặt ý nghĩa của một cộng đồng trong một thời kì lịch sử nhất định đối với một biểu tượng Khi tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật, không thể bỏ qua yếu tố này Chính nó đem lại giá trị độc đáo cho biểu tượng nghệ thuật- giá trị thời gian, giá trị lịch sử, giá trị của chiều sâu quan niệm, cảm nhận của con người trong một thời, nó trở thành cơ sở tạo nên tính đa nghĩa, cơ sở tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật Thế nhưng, bên cạnh những ý nghĩa truyền thống, bên cạnh mẫu số chung, biểu tượng nghệ thuật luôn luôn
có xu hướng cách tân, hoặc là bổ sung ý nghĩa cho những biểu tượng cũ hoặc
là phát sinh những biểu tượng hoàn toàn mới Chẳng hạn, trong ca dao, con
thuyền thường là biểu tượng cho người con trai, gắn với sự chuyển động, tìm
tòi, khi vào thơ Xuân Quỳnh, nó lại gắn với người con gái:
Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa em Anh chỉ còn bão tố
Trong biểu tượng nghệ thuật thường xuyên đan xen giữa yếu tố truyền thống và yếu tố cách tân Chính điều đó khiến cho biểu tượng nghệ thuật một
Trang 23mặt dễ thức dậy những nỗi niềm từ ngàn đời trong tâm thức của độc giả, mặt khác lại tạo nên cảm hứng về những điều mới lạ
Giữa biểu tượng văn hoá và biểu tượng nghệ thuật thường có sự hoán đổi vị trí Biểu tượng văn hoá di chuyển vào trong tác phẩm nghệ thuật trở thành biểu tượng nghệ thuật, và ngược lại, có trường hợp biểu tượng nghệ thuật bước ra cuộc sống để trở thành biểu tượng văn hoá Hiện tượng này cũng góp phần chỉ ra sự khác biệt giữa hai loại biểu tượng Nhà văn thường
sử dụng những biểu tượng đó ăn sâu vào trong tâm thức của con người và khai thác một số lớp ý nghĩa nào đó Chẳng hạn, biểu tượng mặt trời mang rất
nhiều ý nghĩa, “mặt trời là nguồn của ánh sáng, sức nóng và sự sống”[53, tr 576], “dưới một dạng vẻ khác, quả vậy, mặt trời cũng là kẻ phá hoại, là bản
nguyên của sự khô hạn” “mặt trời là một biểu tượng phổ biến của nhà vua, trái tim của vương quốc” [53, tr.577] Những nét nghĩa này ta dễ dàng tìm
thấy trong các biểu tượng nghệ thuật Khi những biểu tượng trong tác phẩm văn học được nhiều người thừa nhận, nó có một đời sống rộng lớn trong lòng công chúng, cộng hưởng được nỗi niềm của con người, thì nó trở thành biểu tượng văn hoá Sự hoán đổi này khiến ta không biết một số biểu tượng đi từ đời sống vào trong văn học hay ngược lại Tuy nhiên, hiện tượng này cho thấy, một biểu tượng văn học muốn trở thành biểu tượng văn hoá, nó phải có một đời sống ngoài tác phẩm, nó phải được ít nhất đông đảo bạn đọc của một thời đại thừa nhận và sử dụng nó trong đời sống hàng ngày Văn học là một
bộ phận của văn hoá Có thể nói, trở thành biểu tượng văn hoá là một trong những thành công của những biểu tượng nghệ thuật
Trong một tác phẩm văn học, có thể tồn tại một hoặc nhiều biểu tượng
Có thể toàn bộ tác phẩm chỉ tập trung làm sáng tỏ một biểu tượng nghệ thuật Trong trường hợp này, biểu tượng là sự hoá thân của hình tượng trung tâm,
chẳng hạn như biểu tượng Lá diêu bông trong bài thơ cùng tên của Hoàng
Trang 24Cầm Khi trong một tác phẩm có nhiều biểu tượng hoặc một biểu tượng gắn với phần nào đó của tác phẩm, thì biểu tượng thực chất là sự nâng cấp của những hình ảnh, chi tiết - nâng cấp bằng cách trao cho nó những ý nghĩa sâu
sắc, giàu ấn tượng, chẳng hạn như hình ảnh Con tàu trong “Hai đứa trẻ” của
Thạch Lam.Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hình ảnh, hình tượng, ý tượng có thể trở thành biểu tượng nghệ thuật Trong đời sống văn hoá, một sự vật trở thành biểu tượng khi người ta gán cho nó một hoặc một vài ý nghĩa nào đó Nhưng quan trọng hơn là ý nghĩa đó phải được xây dựng trên một nền tảng nhất định và được nhiều người thừa nhận Từ cách nhìn nhận này, ta có thể hiểu được phần nào cơ chế tạo thành biểu tượng trong tác phẩm nghệ thuật Không phải cứ lấy một biểu tượng trong đời sống đưa vào tác phẩm nghệ thuật là lập tức có biểu tượng nghệ thuật Biểu tượng nghệ thuật thực sự là kết quả của sáng tạo nghệ thuật đầy dụng ý của nhà văn Để có những biểu tượng trong tác phẩm, trước hểt nhà văn phải tạo ra được những hình ảnh cụ thể cảm tính có đường nét, màu sắc, hình hài mà người đọc có cảm giác có thể nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy Nếu thiếu đi cái thân xác này thì không có bất kì một biểu tượng nghệ thuật nào Tiếp đến, nhà văn chú ý đến việc sắp xếp, bố cục sao cho hình ảnh cụ thể cảm tính đó trở nên nổi bật, gây ấn tượng sâu sắc về mặt ý nghĩa Nhà văn làm sao cho người đọc luôn có cảm tưởng rằng đằng sau những hình ảnh, chi tiết, hình tượng có một vài ý nghĩa nào đó khiến họ cảm thấy bị ám ảnh Mà ý nghĩa của bất kì một sự vật, hiện tượng nào cũng chỉ có được trong các mối quan hệ Một sự vật, một hiện tượng chỉ thực sự có
ý nghĩa với một sự vật, hiện tượng khác Cho nên, để cho hình ảnh, sự vật trở thành biểu tượng, nhà văn thường sắp xếp nó trong nhiều mối quan hệ, biến
nó trở thành trung tâm của những quan hệ đó Chẳng hạn, Bát cháo hành của
Thị Nở trong “Chí Phèo” trở thành một kí hiệu đa nghĩa (biểu tượng), gây ấn tượng sâu sắc vì nó được Nam Cao sắp xếp cho xuất hiện trong thời điểm Chí
Trang 25Phèo đang tha hoá, tạo ra những chuyển biến quan trọng: giúp Chí hoàn lương
và ngăn cản không cho nhân vật tha hoá trở lại Bát cháo hành cũng xuất hiện trong tương quan với nhân vật Thị Nở - khiến nó mang thêm ý nghĩa: sự quan tâm một cách hồn nhiên của con người đối với con người, sự quan tâm của một người cũng bị đẩy ra bên lề xã hội Cách tạo biểu tượng này thường xuất hiện trong tác phẩm tự sự, dù ngắn hay dài Ngoài ra, sự lặp lại đi lặp lại của một hình ảnh, hình tượng đa nghĩa trong nhiều tác phẩm của một tác giả cũng
là cách tạo thành biểu tượng nghệ thuật Chẳng hạn, trong tập thơ Về Kinh
Bắc của Hoàng Cầm, hình tượng Đêm xuất hiện nhiều lần trong các bài: Đêm
Hoả, Đêm thuỷ, Đêm Thổ, Đêm Mộc, Đêm Kim, và nhiều bài thơ khác với
những câu thơ đầy mơ hồ: Hạt mưa hoa nhài; Tàn đêm kĩ nữ; Giếng ngọc
ễnh ương quát đêm tiền sử; Chợt rùng mình níu đêm đồng loã; Đêm dài rạo rực; Tên là Đêm Xanh Cùng với những ám ảnh trong tâm thức dân gian, sự
lặp đi lặp lại với những nét nghĩa khác nhau đó khiến Đêm trong tập thơ của Hoàng Cầm trở thành biểu tượng nghệ thuật có sức ám ảnh sâu sắc
Như vậy, biểu tượng nghệ thuật mang chức năng mã hoá cảm xúc, tư tưởng, quan niệm của nhà văn về đời sống; kết tinh bản sắc văn hoá, suy nghĩ, quan niệm của dân tộc; thể hiện sâu sắc dấu ấn của thời đại, khuynh hướng văn học Hệ thống biểu tượng tồn tại như những mã nghệ thuật, lưu giữ dấu
ấn dân tộc, thời đại, khuynh hướng sáng tác và cái riêng của nhà văn Nhà văn
có thể dùng những biểu tượng trong đời sống, đặt nó vào trong một chỉnh thể mới, cấp cho nó những quan hệ mới để không những chuyển cảm xúc, tư tưởng của mình vào trong nó mà còn tạo cơ hội để nó có thể mang thêm ý nghĩa Mỗi thời đại có một khuynh hướng xây dựng biểu tượng riêng, và mỗi nhà văn cũng có những hứng thú riêng trong xây dựng biểu tượng nghệ thuật Nếu như biểu tượng trong Thơ mới thiên về những cái riêng tư, cô đơn, thì biểu tượng trong văn học cách mạng lại có xu hướng nghiêng về cái cao cả
Trang 26Việc giải mã các biểu tượng sẽ góp phần không nhỏ trong việc chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật Do biểu tượng trước hết là những hình ảnh, sự vật cảm tính, nhà văn dùng biểu tượng để nói về những điều mà lí trí nhiều khi bất lực, cho nên tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật đòi hỏi sự nhạy cảm, trực cảm, phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng phong phú để nhập thân, để trải nghiệm Chỉ như thế mới khiến cho biểu tượng trở nên sống động, mới có thể tiếp cận được những vùng mờ ý nghĩa, nếu tiếp nhận thuần tuý lí trí sẽ rất dễ khiến cho biểu tượng trở nên đông cứng Bên cạnh đó, khi tiếp nhận biểu tượng
nghệ thuật, ta không được “tách rời bè đệm hiện sinh của nó”, không được
tách rời “vầng hào quang nơi nó nảy sinh” Vầng hào quang mà biểu tượng nghệ thuật nảy sinh có thể hiểu ở nhiều cấp độ Trước hết phải đặt biểu tượng
trong bối cảnh thời đại, trong nền văn hoá mà nó nảy sinh Bởi vì, “qúa trình
tạo nghĩa của mỗi biểu tượng thường có lịch sử lâu đời hàng vạn năm, gắn liền với quá trình hình thành quan niệm về thế giới của con người cổ xưa”
[12, tr.25] Nhà văn thường sử dụng những nét nghĩa này như một phương tiện để cộng hưởng với người đọc Nếu không nắm được yếu tố truyền thống trong mỗi mã nghệ thuật thì rất khó khăn trong việc tiếp cận tác phẩm nghệ thuật nói chung, biểu tượng nghệ thuật nói riêng Đặt trong bối cảnh này, chúng ta sẽ tìm được ý thức chung của xã hội trong mỗi biểu tượng Tuy nhiên, biểu tượng nghệ thuật cũng thường chứa đựng những ý tứ kín đáo, thâm trầm, thậm chí bí hiểm của nhà văn, cho nên, khi tìm hiểu biểu tượng chúng ta phải đặt nó trong một cái nền khác nữa: chỉnh thể tác phẩm, toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn Thời đại thì có thể thay đổi, nhiều khi trở thành quá khứ khó nhận biết, khó tái hiện một cách toàn vẹn, nhưng văn bản tác phẩm, cấu trúc khách quan của tác phẩm và toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn thì không đổi, vì vậy, nó trở thành cơ sở quan trọng để giải mã biểu tượng Nhìn chung, chúng ta vận dụng toàn bộ tâm hồn, tình cảm, cả tư
Trang 27duy hình tượng lẫn tư duy lôgic để tìm hiểu biểu tượng, xét nó trong nhiều mối quan hệ, chính trong các mối quan hệ, biểu tượng mới hiện lên như một tín hiệu “ứ đầy ý nghĩa” Biểu tượng nghệ thuật là một vấn đề thú vị, hấp dẫn nhưng tương đối phức tạp Nhà văn khi sáng tác, bao giờ cũng muốn tác phẩm của mình sống mãi với thời gian Muốn làm được điều ấy, tác phẩm phải có một cái gì đó để độc giả thưởng ngoạn, suy ngẫm, phải thức dậy cả những suy
tư và cảm nhận, lưu giữ trong lòng người những dư vị sống động Phải chăng, cái đọng lại trong lòng độc giả sau khi tiếp nhận tác phẩm chính là những biểu tượng nghệ thuật hay những hình tượng đã hoá thành biểu tượng?
1.1.1.3 Đặc điểm của biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm thơ trữ tình hiện đại
Biểu tuợng nghệ thuật xuất hiện trong TPVC rất nhiều Nhờ các biểu tượng được sử dụng sáng tạo trong TPVC, đặc biệt là đối với thơ ca mà tư tưởng của tác giả được bộc lộ Nhưng biểu tượng trong thơ trung đại có đặc điểm khác biệt so với đặc điểm của biểu tượng nghệ thuật trong thơ hiện đại Đọc Truyện Kiều, ai cũng biết Kiều đẹp, đẹp hơn Vân, nhưng đẹp hơn như thế nào thì không ai rõ Bởi với thủ pháp ước lệ tượng trưng, Nguyễn Du chỉ đem đến cho người đọc một hình dung mơ hồ, trừu tượng về nhan sắc của Kiều Sắc đẹp của Vân được đánh giá là "rõ ràng" hơn Thúy Kiều Nàng được miêu tả về khuôn mặt, miệng cười còn Thúy Kiều thì chỉ cần hai câu thơ:
Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
là muôn người đều tôn nàng lên bậc mỹ nhân Thực sự, với hai câu thơ này, người đọc hình dung về Kiều chỉ có thể là hình ảnh đôi mắt và hàng chân mày Đó là nét mày đậm và thanh tú như thoảng dáng vẻ, nét núi mùa xuân trong một bức tranh thủy mặc, đó là đôi mắt trong veo, sâu thăm thẳm như mặt nước hồ thu, tĩnh lặng và man mác nỗi sầu Có lẽ người đẹp chỉ cần đôi
Trang 28mắt? Còn làn mi và chân mày, cao và thẳng dài như nét liễu là quy chuẩn của sắc đẹp giai nhân suốt bao nhiêu thế hệ Như vậy, chỉ cần hai nét phác họa thanh thoát và nhẹ nhàng, Nguyễn Du đã làm nổi bật lên nét đẹp sắc sảo của Kiều, vẻ đẹp mà" Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh", thiên nhiên cũng phải ghen tị
Trong văn học Việt Nam, con cò đã trở thành một biểu tượng vô cùng
quen thuộc Từ ngàn đời xưa, hình tượng con cò đã có mặt trong các câu ca dao, dân ca, tục ngữ gợi lên hình ảnh của những người dân lao động cần mẫn, vất vả Nhưng đó cũng là biểu tượng cho người vợ, người con nghĩa tình…
Chẳng hạn, hình ảnh “thân cò” trong bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương
Đến giai đoạn văn học hiện đại, con cò lại trở thành biểu tượng cho khúc hát
ru, biểu tượng cho lòng mẹ sẽ theo con suốt cuộc đời trong thơ Chế Lan Viên
Rõ ràng, con cò trong thơ hiện đại không còn đặc điểm mang tính mô phạm như mà đã được các tác giả vận dụng một cách sáng tạo
Ta có thể thấy rõ đặc điểm đó qua biểu tượng con đường trong thơ Tố
Hữu Con đường được xác định và trở đi trở lại trong thơ Tố Hữu bắt đầu từ cuối tập "Từ ấy": Đó là con đường đi đày, con đường của những người chiến
sĩ, con đường giải phóng của những người cùng khổ Đến tập "Gió lộng", "Ra trận", con đường đó đã hiện hữu rõ nét, dưới ánh sáng bình minh của đất trời Trong hai tập thơ, ta bắt gặp mọi nẻo đường:
Yêu biết mấy những con đường ca hát Qua công trường mới dựng mái nhà son
Khắp nẻo đường náo nức tôi đi Hiển hiện LêNin phơi phới diệu kì
Trang 29Đường ta rộng thênh thang tám thước Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên
Đường qua Tây Bắc, đường qua Điện Biên Đường cách mạng dài theo kháng chiến…
Qua hình ảnh về con đường cụ thể: đường rộng thênh thang, đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên…nhà thơ đã tái hiện lại con đường lịch sử hào hùng của dân tộc ta trong những năm kháng chiến chống Pháp Với cảm hứng
tự hào, hồi tưởng "ba ngàn ngày" gian khổ của nhân dân ta
Đường vào khu Bốn, vào Thanh Không đi thì nhớ, không đành phải đi Lắng nghe như biển rì rầm
Đường ra tiền tuyến lắm khi giục lòng
Đắng cay mới nhớ ngọt bùi Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau
Chúng ta được gặp gỡ nhiều tầng lớp quần chúng trên con đường rộng
mở, ngập gió và nắng lịch sử: từ vị lãnh tụ đáng kính đến những anh bộ đội, anh công nhân, chị nông dân, chị hàng hoa, chị lao công và cả những người
Trang 30bất hạnh khổ đau nhất trong xã hội…tất cả hoà vào nhau, cùng làm nên không khí nhộn nhịp, tươi vui và náo nhiệt:
Đường phố bỗng rào rào chân bước vội Người người đi như nước xối lên hè
Một con đường mới được trồng cây sau hoà bình lập lại:
Đường nở ngực Những hàng dương liễu nhỏ
Đã lên xanh như tóc tuổi mười lăm
Qua những ví dụ trên, chúng ta đã nhận biết rõ đặc điểm trong thơ trữ tình hiện đại Nếu như người đọc chỉ thấy những biểu tượng mang tính ước lệ, tượng trưng trong thơ trữ tình trung đại thì trong thơ trữ tình hiện đại, biểu tượng mang tính suy tư đa chiều, người viết sử dụng một cách sáng tạo để khơi gợi trong tâm trí người đọc những liên tưởng, tưởng tượng vô cùng
phong phú
1.1.2 Đọc - hiểu, vấn đề thời sự của nghiên cứu và dạy học văn
1.1.2.1 Khái niệm đọc - hiểu
Đọc hiểu là một hoạt động, đồng thời là mục đích tất yếu của mọi hoạt động đọc Đối với TPVC, hiểu là mục đích cuối cùng, mục đích cao nhất dù người đọc đến với văn bản bởi bất cứ động cơ nào Trong dạy học văn, dạy đọc văn là yêu cầu đầu tiên và theo chủ trương của chương trình mới là mục đích cuối cùng Hoạt động giảng văn trước đây được thay bằng việc tổ chức hoạt động đọc hiểu văn bản Ngữ văn Cần phải hiểu rằng sự thay đổi này không phải là sự thay thế hoàn toàn những nội nội hàm của phương pháp dạy học truyền thống mà là một sự thay đổi có tính chất kế thừa Đó là sự đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với yêu cầu thời đại GS Trần Đình Sử đã nhận định:
Trang 31“Vấn đề đọc - hiểu Văn bản không phải hoàn toàn xa lạ đối với giáo
viên văn xưa nay và không thủ tiêu yếu tố giảng văn của người giáo viên Nó chỉ biến người giảng văn thành người hướng dẫn đọc văn Nó chỉ tăng cường vai trò hướng dẫn của Thầy, tạo điều kiện cho học sinh tự học tập” (Môn
văn- thực trạng và giải pháp)
Đọc hiểu là một thuật ngữ không mới đối với giáo dục của nhiều nước trên thế giới nhưng lại rất mới mẻ với Việt nam Các nhà khoa học ở một số nước khi nghiên cứu về đọc - hiểu vẫn dùng thuật ngữ “reading comprehension”
để gọi tên hoạt động này Còn ở Việt Nam, cho đến nay, thuật ngữ “đọc hiểu” được sử dụng dưới hình thức understanding- reading, comprehension- reading
và reading comprehension Dưới hình thức Tiếng Việt cũng tồn tại hai cách viết là “đọc hiểu” và “đọc- hiểu”
“Đọc hiểu” là một thuật ngữ kép dùng để chỉ một hoạt động có mục đích cụ thể của con người Đó là hoạt động tự lĩnh hội tri thức bằng hoạt động trí tuệ Đọc vừa là trí tuệ vừa là kỹ năng cần rèn luyện con người
Các công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Thanh Hùng - người đặt móng đầu tiên của Việt Nam về vấn đề đọc - hiểu đã bàn khá nhiều đến đọc hiểu, trong đó có đặc biệt chú trọng đến các khái niệm then chốt của đọc-
hiểu Trong cuốn “Đọc- hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường”, GS
cho rằng: “Trong hệ thống đọc văn ở nhà trường, chúng ta đã nói tới đọc
đúng, đọc hay, đọc diễn cảm, đọc sáng tạo Thực hiện tốt nhất các yêu cầu đọc ấy cũng là nhằm tới hiểu được văn bản đọc Như vậy, đọc - hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong qua trình dạy học văn Năm vững khái niệm đọc - hiểu và vận dụng thành thạo nội dung đọc - hiểu băn bản sẽ góp phần thay đổi hệ hình phương pháp dạy học văn”
Với GS Nguyễn Thanh Hùng: Đọc - hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động học; đọc - hiểu đồng thời cũng chỉ năng
Trang 32lực văn của người đọc GS cũng lí giải cụ thể về: Thế nào là hiểu? Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó
và ý nghĩa của mối liên hệ đó Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống
Đọc hiểu bao giờ cũng là kết quả của hoạt động phân tích trong khi đọc
Nó cho phép người đọc không chỉ dừng lại với những phản ứng và kinh nghiệm tức thời của bản thân với những gì đang đọc Phân tích trong khi đọc làm cho năng lực trí tuệ người đọc năng động sáng suốt hơn, qua đó cảm xúc,
ký ức và liên tưởng được đánh thức để làm cho nội dung phân tích có giá trị thẩm mỹ
1.1.2.2 Nội dung đọc - hiểu tác phẩm văn chương
Nội dung cần đọc hiểu là nội dung văn bản hay là vấn đề mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm Văn bản văn học là một sinh thể nghệ thuật, là sản phẩm tinh thần của nhà văn - con người có một bề sâu, bề rộng văn hoá Vì vậy không dễ gì nắm bắt được nội dung văn bản văn học
Đọc hiểu là làm rõ mối quan hệ giữa ba tầng cấu trúc: cấu trúc ngôn từ, cấu trúc hình tượng thẩm mỹ và cấu trúc tư tưởng thẩm mỹ (Theo quan niệm của GS Nguyễn Thanh Hùng) Một phần rất quan trọng của nội dung đọc hiểu văn bản Ngữ văn trong nhà trường và cũng là mục đích cao nhất, mục đích hành dụng của môn văn chính là kỹ năng vận dụng kiến thức Hiểu nội dung tư tưởng và cảm nhận được giá trị thẩm mĩ của tác phẩm, không chỉ giúp học sinh phát triển tình cảm nhân văn, năng lực thẩm mĩ mà còn giúp học sinh vận dụng
nó trong đời sống hàng ngày Đó là trong cảm thụ nghệ thuật, trong lối hành
xử, giao tiếp và cụ thể và trực tiếp là việc đọc và viết văn bản
1.1.2.3 Kỹ năng cơ bản của đọc - hiểu tác phẩm văn chương
Khi rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh, người dạy nên chú ý đến việc rèn luyện kỹ năng đọc (nghe, đọc) và tạo lập văn bản (nói, viết) Rèn luyện kỹ
Trang 33năng không phải là hoạt đọng tách rời với hoạt động đọc hiểu ở trên lớp mà là kết quả tất yếu của hoạt động đọc hỉểu Sau khi đọc hiểu mỗi văn bản, học sinh đã tự bổ sung cho mình một lượng tri thức nhất định về nhiều phương diện Tất nhiên, việc hình thành và rèn luyện những kỹ năng này là cả một quá trình lâu dài và tích cực, có thể là suốt đời
Có rất nhiêu kỹ năng đọc hiểu TPVC mà các nhà nghiên cứu quan tâm nhưng theo GS Nguyễn Thanh Hùng, trong đọc hiểu nổi lên một số kỹ năng
cơ bản sau đây:
* Đọc kỹ
Đọc kỹ trước hết phải đọc thật nhiều lần Đây là một dạng đọc có tần số cao- là đọc sử dụng thao tác phân tích và tổng hợp - là đọc không bỏ sót một đơn vị nào của văn bản
Những hoạt động và thao tác của đọc kỹ là: Đọc để giới hạn quang cảnh
và bối cảnh xã hội và những vấn đề của nó Người ta cần biết đến các thao tác đọc phân loại và hệ thống hoá từ ngữ, hình ảnh để tái hiện không gian và thời gian Đọc để tìm vấn đề (tính có vấn đề) của con người qua việc xác lập đường dây sự kiện, tình huống, trạng thái trong quan hệ với nhân vật văn học
* Đọc sâu
Đọc để biểu hiện, làm bộc lộ mối liên hệ thống nhất nhiều mặt của đời sống và nghệ thuật, của trí tuệ và tình cảm ngày càng bao quát trọn vẹn văn bản Những hoạt động của thao tác đọc sâu tác phẩm là:
+ Đọc chậm, phát hiện những cái mới lạ của từ, của hình ảnh, sự kiện, của thế giới suy tư và tâm tình nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại trong giao tiếp với môi trường sống của nhân vật tác phẩm
+ Đọc và thống kê những mối quan hệ giữa nhân vật với sự kiện, tình huống chính Phân loại và hệ thống hoá nhân vật theo mối quan hệ đồng hướng và nghịch hướng theo kiểu hoà giải và xung đột để xác định nhân vật (tính cách hoặc trữ tình) trung tâm
Trang 34+ Đọc âm vang để nhận ra giọng điệu tác phẩm
+ Đọc và sơ đồ hoá mạng lưới hệ thống giữa các yếu tố hình thức và nội dung, bộ phận và toàn thể, chi tiết và chỉnh thể, giữa các tầng chuyển hoá bố cục và kết cấu, bên ngoài và bên trong tác phẩm để tìm ra kiểu tư duy nghệ thuật và phương thức trình bày nghệ thuật của tác phẩm
+ Đọc và tham khảo thời điểm sáng tác, chặng đường nghệ thuật, sự chuyển biến tư tưởng của nhà văn để xác định cảm hứng sáng tác của nhà văn trong tác phẩm
+ Đọc những hồi ký và ghi chép của tác giả về quá trình sáng tạo tác phẩm và những bài nghiên cứu phê bình tác phẩm
+ Đọc nhiều, thật nhiều lần để hoá giải những băn khoăn, ngộ nhận về một số điểm sáng thẩm mỹ và chi tiết nghệ thuật chưa có lời đáp phù hợp với văn cảnh và văn bản, với bối cảnh thời đại và lẽ sống
* Đọc sáng tạo
Đọc để bổ sung những nội dung mới, làm giàu có về ý nghĩa xã hội và ý
vị nhân sinh của tác phẩm Đọc biểu hiện sự đánh giá và thưởng thức giá trị vĩnh hằng của tác phẩm
Những hoạt động và thao tác sáng tạo:
+ Đọc tái hiện lại chặng đời của hình tượng nhân vật trung tâm và khái quát sự vận động của hình tượng từ đầu cho đến hết
+ Đọc nhận ra giá trị và ý nghĩa của kết thúc tác phẩm đối với đời sống Phân tích và đánh giá ý nghĩa thời đại lịch sử, ý nghĩa xã hội, đạo đức và ý nghĩa nghệ thuật thẩm mỹ của hình tượng đối với quá khứ, hiện tại và tương lai
+ Đọc phát hiện và kết nối những yếu tố ngoại đề trữ tình với giọng điệu và tuyên ngôn nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật về con người cùng với thái độ chính trị, tư cách công dân của tác giả
+ Đọc để khái quát thành sức sống, tiềm năng sáng tạo của hình tượng trung tâm trong tác phẩm
Trang 35+ Đọc cắt nghĩa và bình luận thuộc tính nghệ thuật khách quan, ổn định của tác phẩm theo quan điểm văn hoá truyền thống
+ Đọc tác phẩm và cân nhắc chiều hướng định giá giữa lịch sử tiếp nhận và tiếp nhận cá nhân trên nền tảng văn hoá hiện đại
1.1.2.4 Cách thức đọc- hiểu tác phẩm văn chương
Phương pháp đọc TPVC là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu văn học, nhà phương pháp giáo dục quan tâm Vậy để đọc - hiểu một TPVC, độc giả sẽ đọc theo cách thức nào? Đọc - hiểu văn phải được xem là như một đối tượng khoa học của văn hoá tinh thần, bởi nội dung bản chất nhất của nó là văn hoá
đọc “Tác phẩm văn học là một sản phẩm có ý thức nhưng chính tác giả của
nó chưa ý thức hết những gì họ viết và những gì sẽ được đọc Hay nói đúng
hơn, tác phẩm văn học không phải là hiện tượng văn hoá “đã làm sẵn” mà là hiện tượng đang “trở thành” Nó được hình thành và khẳng định giá trị của
mình dưới con mắt người đọc” [22, tr 90]
Hoạt động đọc văn là một loại lao động trong đó tổng hợp rất nhiều thao tác cơ năng và trí năng, phải huy động khả năng bao quát tất cả những dấu hiệu của văn bản, từng từ, từng câu…tìm hiểu tầng bậc ý nghĩa của tác phẩm và phải nhập cuộc, hoá thân trong thế giới cảm xúc, khơi gợi những khả năng liên tưởng, tưởng tượng để tái tạo thế giới thẩm mỹ mà người nghệ sĩ để lại Từ đó, người đọc sẽ bộc lộ những cảm xúc khâm phục hay bất bình về giá
trị thẩm mỹ của tác phẩm Đại thi hào Gớt cho rằng “ Nghệ thuật đòi hỏi
những ý nghĩ và tình cảm đặc biệt vừa là sự dấn thân, nếu không một tác phẩm nghệ thuật đối với chúng ta hoàn toàn chỉ là đối tượng quan sát Nhìn thấy nó mà vô hồn sẽ không tiếp cận được và không thể hiểu sâu sắc những điều mà nghệ sĩ suy nghĩ về cuộc sống” Đó chính là điểm khác nhau căn bản
đặc thù giữa đọc văn chương với đọc các loại văn bản khác Đọc không chỉ là tái tạo âm thanh, nhận thức sự thống nhất giữa cú pháp và ngữ điệu mà còn là
Trang 36quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình nhuần thuấn tín hiệu nghệ thuật chứa
mã văn hoá, đồng thời người đọc còn huy động vốn sống, vốn kinh nghiệm để lựa chọn giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm văn chương Như vậy là hoạt động đọc mang tính sáng tạo và thẩm mỹ bởi ở đó xảy ra quá trình
đồng sáng tạo giữa người đọc và tác giả: “ nhà văn đi từ tư tưởng đến ngôn
ngữ, người đọc lại đi từ ngôn ngữ đến tư tưởng” [ 22, tr 193]
Đọc được xem như “kỹ thuật có văn hoá” có ý nghĩa cơ bản đối với sự phát triển nhân cách của con người Sự phát triển năng lực đọc, đặc biệt đối với việc đọc TPVC của HS ở tất cả các lớp trong trường phổ thông là một nhiệm vụ cơ bản của GV ngữ văn Việc dạy đọc-hiểu văn chính là một quá trình rèn luyện về năng lực đọc chuẩn cũng như năng lực truyền đạt ý nghĩa của tác phẩm Vì thế khi hướng dẫn tiếp cận một TPVC, người GV bao giờ cũng muốn vận dụng những cách đọc hợp lí nhất
Theo nghiên cứu của GS Nguyễn Thanh Hùng, chúng ta nhận thấy tác giả đưa ra ba cách thức đọc - hiểu:
Một là: Đọc tìm hiểu, một cách đọc cho mình Đó là cách đọc mang
tính chất đối diện một mình, tự lực với văn bản, nó có cái hay là tập trung và tích đọng, lắng kết thầm lặng năng lực cá nhân
Hai là: Đọc cho người khác nghe hay đọc trong số đông, một cách đọc biểu hiện Đây là cách đọc thành lời Lời đọc, giọng đọc, kỹ thuật đọc,
biện pháp đọc có thiên hình vạn trạng nhưng cốt lõi vẫn là biểu hiện được thái độ đánh giá của người đọc về những điều đã đọc Cách đọc này rất cần người đọc phải thận trọng với tác phẩm, đồng thời phải tôn trọng người nghe
Ba là: Đọc trong nhà trường, một cách đọc mang tính chất đào tạo
sư phạm
Người đọc có văn hoá phải tuần tự đi qua ba bước:
Trước hết là “đọc đúng” Đọc đúng là hoàn trả trung thành nội dung
thông tin trong ký hiệu chữ viết thành nội dung ký hiệu âm thanh Nghĩa là
Trang 37phải đọc đúng quy tắc ngữ pháp, ngắt nghỉ theo đúng dấu câu, ngắt đúng ý văn,
lời thơ Bởi “ Dấu câu trong nhiều trường hợp được coi như một phương tiện
biểu hiện nghĩa, một hình thức tu từ tạo nên “ý tại ngôn ngoại” cho văn bản”
Tiếp theo là “đọc hay” Đọc hay là biết đọc xuyên tầng ngôn ngữ để
thấy ý tưởng đằng sau - là bước vượt qua tự nhiên ranh giới ngôn ngữ và văn học, từ thông tin nội dung bề mặt đến thông tin nội dung bề sâu Nói cách khác, đọc hay là đọc phối hợp hài hoà chất giọng với giọng đọc để chuyển tải
đa dạng giọng điệu tác phẩm trong những thể loại và phương thức biểu đạt khác nhau của văn bản Đọc hay xao động tình người trong chia sẻ hân hoan
Bước cuối cùng là “đọc diễn cảm” Đọc diễn cảm là rất cần, nhất
là trong nhà trường và trong sinh hoạt văn hoá nghệ thuật Đọc diễn cảm phụ thuộc khá nhiều vào năng khiếu cá nhân: sự nhạy cảm trong xúc động thẩm
mỹ, sự tinh tế trong xúc cảm ngôn từ, sự di chuyển năng động, linh hoạt của
các kiểu xung lực tâm lý và các kiểu diễn đạt nội tâm Nói cách khác “Đọc
diễn cảm là kỹ năng thể hiện cảm xúc về ngôn ngữ cao độ, sự mẫn cảm với từng từ thông qua khả năng đánh giá được nhũng sắc thái tinh tế khác nhau
về nghĩa của chúng trong văn cảnh” (Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hoá
cho người đọc) Song việc đọc diễn cảm này không phải là dạy cho tất cả học
sinh, bởi người đọc chỉ có thể đọc diễn cảm tốt khi xác lập được quan hệ hoàn toàn riêng tư đối với tác phẩm Vì thế, đọc đúng, đọc hay là bắt buộc, còn đọc diễn cảm chỉ nên khuyến khích, không dạy mà tự mình vượt lên, đơn giản vì không thể dạy người ta xúc động khi bản thân mỗi người không có tố chất bẩm sinh ấy
Để hoạt động đọc - hiểu không đi chệch quỹ đạo, người đọc có thể tham khảo hệ thống câu hỏi sau mỗi văn bản Đây là hệ thống câu hỏi không yêu cầu tái hiện kiến thức mà khuyến khích người đọc tích cực động não tham gia nhận diện trong cấp độ kiến thức đến khả năng lựa chọn phương án trả lời
Trang 38trên cơ sở giả thuyết Do đó, những câu hỏi hướng dẫn của SGK và SGV sẽ định hướng cách đọc cho người đọc, đồng thời gợi mở về một hệ thống hoạt động chiếm lĩnh kiến thức mà GV sẽ tổ chức cho HS tự học nhằm đạt hiệu quả cao nhất
1.1.3 Tầm quan trọng và ý nghĩa phương pháp của việc khai thác biểu tượng nghệ thuật trong đọc hiểu TPVC
Như chúng ta đã biết, biểu tượng là hình ảnh cảm tính cụ thể về những hiện tượng của thế giới bên ngoài Biểu tượng cùng với cảm giác và tri giác tạo nên nhận thức cảm tính hay theo thuật ngữ của Páp-lốp tạo nên tín hiệu thứ nhất của hiện thực.Khai thác tri giác, biểu tượng phản ánh hiện thực mang tính khái quát và trừu tượng hơn tri giác “Biểu tượng là con số bình quân của những tri thức cảm tính về sự vật” (Xê-xê-nốp)
Từ biểu tượng nói chung, Hêghen xem biểu tượng nghệ thuật hay là
“biểu tượng nên thơ” là biểu tượng của hình tượng, nó không nhằm tới bản chất trừu tượng của hiện thực Khi ta nói mặt trời, nhờ ý thức thông thường, ta hiểu ngay ý nghĩa của nó Còn khi nhà văn viết “Thái dương xòe những ngón tay hồng” thì người đọc vừa hiểu vừa trực giác hiện thực ấy
Biểu tượng trong thơ là hình ảnh cụ thể giàu cảm xúc và chứa đựng ý nghĩa sâu xa, có khả năng kết hợp và biến hóa đa dạng, phong phú Khi xây dựng hình tượng văn học, biểu tượng nghệ thuật được bổ xung, phát triển và góp phần hoàn thiện hình tượng trung tâm của tác phẩm
Biểu tượng mang sắc thái riêng từng nhà thơ trong việc lựa chọn hình ảnh, tứ thơ…Biểu tượng sông nước đậm đà với Tế Hanh, biểu tượng ngọn đèn trong thơ Chính Hữu…Từ những hiểu biết về biểu tượng nghệ thuật (hay còn gọi là biểu tượng văn học) vừa trình bày có thể nói biểu tượng giữ vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận TPVC Biểu tượng văn học là một trong những phương tiện nghệ thuật làm cho hình tượng của tác phẩm
Trang 39sinh động, sâu sắc và mới mẻ hơn Ngoài ra, biểu tượng nghệ thuật còn là cách tư duy văn học cụ thể mang cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn, giúp người đọc phân biệt tài năng và sự đóng góp của từng tác giả vào tiến trình phát triển của văn học dân tộc
GV dạy văn nên lưu ý khai thác giá trị tạo hình và biểu hiện của biểu
tượng nghệ thuật trong những tác phẩm cụ thể như Từ ấy (Tố Hữu), Tiếng hát
con tàu (Chế Lan Viên), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Đàn ghi ta của
Lor-ca (Thanh Thảo)… để HS làm quen và nắm vững được biểu tượng vừa như
một phương tiện nghệ thuật thường được nhà văn sử dụng để tạo nên tác phẩm vừa như là tri thức đọc- hiểu để HS chiếm lĩnh được các tác phẩm cùng loại
Trong quá trình dạy văn, GV có ý thức và hướng dẫn HS khai thác biểu tượng nghệ thuật sẽ góp phần tạo hứng thú đọc văn kết hợp với sự tìm tòi, phân tích bám sát vào những yếu tố hình thức đặc sắc của tác phẩm Qua đó hình thành cho người học những thói quen đi từ hình thức nghệ thuật đến nội dung tư tưởng để rèn luyện năng lực “cụ thể hóa nghệ thuật” trong khi đọc, tránh suy diễn vô căn cứ về giá trị tác phẩm và bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ, một trong những chức năng cơ bản của dạy học TPVC
Biểu tượng văn học đồng thời cũng là sự thể hiện tính đa nghĩa và mang tính khái quát cao độ Chú trọng khai thác biểu tượng văn học sẽ tạo cơ hội cho HS rèn luyện năng lực “khái quát hóa nghệ thuật” khi đọc - hiểu TPVC Năng lực “cụ thể hóa nghệ thuật” và năng lực “khái quát hóa nghệ thuật” là những thành phần cơ bản nhất trong việc rèn luyện tư duy văn học cho HS
Ý nghĩa phương pháp của vấn đề khai thác biểu tượng văn học chính là chỗ làm thay đổi mục đích dạy học văn là dạy HS biết cách đọc văn, biết vận dụng tri thức đọc - hiểu để tiếp nhận độc lập giá trị đích thực của TPVC và dạy văn là dạy cách suy nghĩ bằng trí óc của mình về vẻ đẹp của văn chương, cuộc sống
Trang 401.2 Cơ sở thực tiễn: Thực trạng dạy đọc - hiểu tác phẩm “Đàn ghi - ta của
Lor - ca Thanh Thảo) ở lớp 12 THPT
1.2.1 Định hướng dạy đọc hiểu bài thơ “Đàn ghi ta của Lor- ca” (Thanh Thảo) trong hai bộ sách giáo khoa cơ bản và nâng cao lớp 12
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là nhằm mục đích hướng học sinh tới khả năng tự học Mục đích của dạy học Ngữ văn nói cũng vậy Văn chương không những được nhìn nhận từ bản chất thẩm mỹ mà còn được xem xét trong bản chất văn hoá, không những bồi dưỡng kiến thức mà còn giúp học sinh có thể vận dụng vào đời sống Vì thế khi học sinh có khả năng tự học thì sẽ tự biết vận dụng kiến thức của mình vào đời sống thực tế của chính mình Mỗi một văn bản văn học lại có thể cung cấp cho học sinh những bài học, những kinh nghiệm cuộc sống khác nhau Trong khuôn khổ của đề tài
này, chúng tôi tập trung vào văn bản Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)
* Mục đích khảo sát:
Tìm hiểu thực tiễn hướng dẫn đọc - hiểu bài thơ Đàn ghi - ta của Lor -
ca (Thanh Thảo), cụ thể là việc hướng dẫn của giáo viên khi dạy và việc cảm
thụ cũng như quá trình tự học của học sinh với văn bản này
Từ đó tìm ra giải pháp để phát huy những điều đã đạt được và khắc phục những hạn chế còn vướng mắc, tìm ra hướng khám phá mới trong việc hướng dẫn đọc - hiểu bài thơ của Thanh Thảo
Đàn ghi ta của lor-ca (Thanh Thảo) là một tác phẩm mới được đưa
vào chương trình Ngữ văn THPT ở lớp 12, giảng dạy vào tuần 14 (Cơ bản) học kì 1 với thời lượng 1 tiết và giảng dạy vào tuần 8 (Nâng cao) học kì 1 với thời lượng 2 tiết, thời gian khá bó hẹp (Cơ bản) và thời gian không nhiều (Nâng cao), bởi vậy cần phải tìm ra phương pháp, biện pháp dạy học phù hợp
* Nội dung khảo sát:
Luận văn tập trung khảo sát hai yếu tố: