1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trong tiểu thuyết nguyễn bắc sơn

131 273 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 731,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chỉ phơi bày sự nhem nhuốc của đời sống mà xuyên suốt tác phẩm vẫn là cảm hứng về lẽ phải.Nguyễn Chí Hoan với bài viết: “Một cuốn tiểu thuyết về đổi mới” in trên báo Người Hà Nội ngày 31

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Biện Minh Điền

Trang 2

NGHỆ AN, 2014

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiểu thuyết là thể loại có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở

mọi giới hạn không gian và thời gian, có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính chất đa dạng Đây là thể loại có khả năng tiếp cận con người và cuộc sống chi tiết, sinh động trên cả chiều rộng và bề sâu, không bị giới hạn về dung lượng, tiểu thuyết có thể dung chứa trong tác phẩm nhiều cuộc đời trong những điều kiện văn hóa, lịch sử, xã hội không giới hạn

Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay đã có những biến chuyển đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu thuyết Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn đã

và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại Có thể nói tiểu thuyết đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong loại hình văn học hiện đại

Trong những năm gần đây thể loại tiểu thuyết được coi là thể loại phát triển mạnh mẽ nhất của văn học Việt Nam, phát triển ở cả bề rộng và chiều sâu, tạo nên sức hấp dẫn đối với thế hệ bạn đọc, đồng thời cũng mang đến cho nền văn học nói chung một sức sống mới Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã gây được sự chú ý của giới phê bình và độc giả vì đề cập đến nhiều vấn đề nóng bỏng của cuộc sống, thậm chí có thể là những vấn đề mạo hiểm của cuộc sống hiện đại - một thời đại vốn chứa đựng tất cả cái phức tạp bộn bề

“đa sự, đa đoan” của nó Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn là một trong những

Trang 4

trường hợp như vậy

1.2 Nguyễn Bắc Sơn - nhà văn được chú ý trong thời gian gần đây bởi

có chùm tiểu thuyết gây được tiếng vang: Luật đời và cha con, Lửa đắng, Gã tép riu Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn đã nhằm đúng những vấn đề nóng hổi,

bức xúc của xã hội, những tồn tại, hạn chế những tiêu cực nảy sinh trong thời đại mới Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn đa dạng,

đa tính cách, thể hiện rõ bản chất con người trong thời đại hôm nay… Đây là một thành công nổi bật của Nguyễn Bắc Sơn trong nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết Chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm tiếng nói vào việc khẳng định sự say mê, tìm tòi và bút pháp tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn, khẳng định những đóng góp của nhà văn đối với tiểu thuyết của nước nhà trong thời kì hiện nay

1.3 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn khá phong

phú đa dạng, gồm nhiều tầng lớp, nhiều hạng người, nhiều kiểu loại nhân vật khác nhau được nhà văn xây dựng khá công phu Mỗi nhân vật có những mặt khác nhau, thậm chí cùng một nhân vật lại biểu hiện nhiều khía cạnh khác nhau hết sức đa dạng, đa tính cách Có nhân vật cao thượng, có nhân vật thấp hèn, đểu giả Có nhân vật tự cho mình là “gã tép riu” nhưng suy nghĩ và việc

làm thì không hề tép riu tí nào Gã tép riu là tiểu thuyết mới nhất của Nguyễn Bắc Sơn (Nxb Hội Nhà văn, 2013), sau 2 tiểu thuyết nổi tiếng là Luật đời và cha con, và Lửa đắng Vẫn tiếp tục bám sát những vấn đề thời sự của cuộc

sống nhưng lần này tác phẩm của ông xoáy sâu vào lĩnh vực văn hóa, báo chí

để từ đó làm nổi bật triết lý sống của một trí thức có tâm, có tài, "đã là trí thức thì phải biết phản biện, thậm chí phản bác, đối lập, chống lại những cái ác, cái xấu, những gì sai trái, miễn là với động cơ xây dựng chứ không phá hoại"

Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trên nhiều phương diện, rất cần được tìm hiểu, nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Bắc Sơn và sáng tác của nhà văn

Nguyễn Bắc Sơn là một hiện tượng văn học khá mới mẻ trong những

Trang 5

năm gần đây, ông thành công sớm so với tuổi đời khá muộn của mình Dù mái đầu đã bạc trắng nhưng những trang tiểu thuyết của ông lại có một sức trẻ, một sức viết hết sức mạnh mẽ, táo bạo Chính vì vậy trong mấy năm gần đây

đã có khá nhiều bài viết nghiên cứu về Nguyễn Bắc Sơn và những sáng tác của ông Tuy nhiên những nghiên cứu về Nguyễn Bắc Sơn và tác phẩm của ông vẫn còn sơ giản, chưa toàn diện, hệ thống

Chưa có công trình nào thực sự nổi bật Những bài viết về ông mà chúng tôi thu thập được chủ yếu là những bài viết trên các báo, các trang mạng, một số luận văn tốt nghiệp đại học, Cao học, các bài viết tham gia hội

thảo về tiểu thuyết Luật đời và cha con do báo Văn nghệ tổ chức ngày

26/12/2005, một số bài phỏng vấn trên báo chí, truyền hình,…

2.2 Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

Tiểu thuyết Luật đời và cha con, Lửa đắng, Gã tép riu ra mắt bạn đọc

đã gây được sự chú ý của đông đảo công chúng độc giả và giới nghiên cứu phê bình Luôn có ý thức cách tân văn học, nghiêm túc với công việc của mình, bạo dạn trong cách viết Nguyễn Bắc Sơn đã có những đóng góp rất

đáng kể cho văn học Việt Nam đương đại Tiểu thuyết Luật đời và cha con, Lửa đắng của Nguyễn Bắc Sơn cho đến nay theo tìm hiểu của chúng tôi vẫn

chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện chuyên sâu về nó Trong những tài liệu mà chúng tôi bao quát được, mới chỉ là những bài báo, những ý kiến phê bình nhỏ lẻ

Đáng chú ý là một số ý kiến đăng trên tờ báo trung ương và địa phương

gần đây Trong bài viết “Đi qua ranh giới để tồn tại”, Nguyễn Đăng Điệp

nhận xét: “Với ý thức tái hiện lại một cách sinh động bức tranh hiện thực đương đại nhiều màu, Nguyễn Bắc Sơn đã nhìn những chuyển động của lịch

sử qua ba thế hệ trong một gia đình Từ gia đình mà nhìn thấy luật đời, dòng đời với vô vàn các quan hệ chồng chéo, phức tạp thậm chí nhiêu khê, khó lường Có thể nói, sự nóng hổi và đầy ắp các sự kiện đời sống như lao động

và chiến đấu nếu không biết tổ chức và lựa chọn cách hợp lý thì tiểu thuyết dễ

rơi vào tình trạng kí sự” [22] Thực ra tiểu thuyết Luật đời và cha con không

Trang 6

chỉ phơi bày sự nhem nhuốc của đời sống mà xuyên suốt tác phẩm vẫn là cảm hứng về lẽ phải.

Nguyễn Chí Hoan với bài viết: “Một cuốn tiểu thuyết về đổi mới” (in trên báo Người Hà Nội ngày 31.3.2006) cho rằng: Điểm nhìn đặc biệt khiến tiểu thuyết Luật đời và cha con gây chú ý và gợi suy nghĩ không nằm ở hình

thức văn chương của nó, những năm gần đây, dường như có một xu hướng rộng rãi trong các giới văn chương và văn học khi nói đến tiểu thuyết như một lựa chọn loại hình sáng tác như một tiêu điểm luận bàn về các thể loại tiến trình văn học nước nhà, người ta thường ưu tiên chú ý đến khuynh hướng được xem là có cách tân về hình thức mà về sau được công nhận rộng rãi đều không phải là những thay đổi theo kiểu “cái cày ra đằng trước con trâu” mà đều là những phương pháp mới trong việc nhận thức cái thực tại này, trung thành với tính chất căn bản của tiểu thuyết như một cách thức nhìn nhận cái thực tại Tất nhiên cái sẽ được coi như “vấn đề xã hội” ở đây sẽ không mặc nhiên có ý nghĩa xã hội học hay bất cứ ý nghĩa gì khác bên ngoài cái ngữ cảnh

văn chương cụ thể của tác phẩm Câu chuyện và nhân vật của tiểu thuyết Luật đời và cha con vẫn chỉ là những hình ảnh khúc xạ nhiều lần cái thực tại ngoài

kia, bởi nhiều tính phức tạp vô hạn và luôn luôn vận động của đời sống chẳng bao giờ cho phép người ta tóm lấy nó rồi “đóng đinh” vào ngôn ngữ vật chất

một lần coi như xong được Tiểu thuyết Luật đời và cha con được triển khai

theo hình mẫu ngôn ngữ tiểu thuyết hiện thực truyền thống Đồ án là chuyện

về ba thế hệ của một gia đình thuộc lớp cao cấp với các ứng xử và hệ quả hành động của họ trong bối cảnh xã hội đang chuyển đổi Điểm đặc biệt của

đồ án này, là ở chỗ hầu như các nhân vật đều được nhìn từ góc độ, họ là những cán bộ - Đảng viên và các “vai” nổi bật đều là các Đảng viên ở các cương vị lãnh đạo trong bộ máy chính quyền các cấp ở thành phố lớn hay lãnh đạo chuyên môn ở xí nghiệp lớn, doanh nghiệp Tuy nhiên toàn bộ sự triển khai của đồ án truyện lại cho thấy một âm hưởng sắc thái bi thảm Tất cả các nhân vật tử nạn đều dường như đã gánh chịu hậu quả trực tiếp từ cách lựa chọn lối sống hành vi của họ Tuyến nổi bật hơn là tuyến truyện về các nhân

Trang 7

vật cán bộ - Đảng viên góp phần làm tác nhân và động lực của quá trình xã hội chuyển đổi Những câu chuyện kết nối đan dệt nên cuốn tiểu thuyết này thực sự không xa lạ với hầu hết các cư dân của thời kì đổi mới của một xã hội đang chuyển đổi đó là những chuyện phổ biến, ở những mức độ và tình huống khác nhau trong đời sống xã hội đương thời”.

Trên báo An ninh thủ đô cuối tuần ngày 12.11.2005 có đăng bài: “Một

bức tranh sống động” của Công Minh nhà giáo dạy văn đưa ra một số nhận định: “Tác giả không giấu giếm tính luận đề của cuốn tiểu thuyết về đề tài chính trị trị xã hội của mình, không ngần ngại đụng chạm đến những vấn đề

bức xúc, nóng bỏng của đời sống xã hội chính trị thiết chế hôm nay Luật đời

và cha con là cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên mổ xẻ sự vận động của toàn

xã hội trong quá trình thay đổi cơ chế, một sự vận động, động chạm đến từng gia đình, từng số phận rải rác đâu đó có những bí thư thành ủy, chủ tịch công

chức các cơ quan công quyền… Lần đầu tiên trong Luật đời và cha con họ

xuất hiện với tư cách là những bánh răng, chiếc ốc vít trong cơ chế đang vận hành Với ý nghĩa đó, tác giả là người đầu tiên khai phá đề tài cơ chế, điều mà không một ai trong chúng ta không quan tâm Nhưng tôi không tán thành với Hoàng Nam khi ông chê tác giả tham lam đưa vào những chuyện tiếu lâm hiện đại, coi đây là biểu hiện thương mại hóa Thiết nghĩ trong cuộc sống còn nhiều bất cập, biến ứng, bất khả kháng này nếu không có chuyện vui để giải tỏa những bức bối ẩn ức xã hội mà mỗi người ít nhất đều phải hứng chịu thì không khéo hóa điên lên hết Dẫu sao đây cũng là cuốn sách đáng đọc trong thời buổi sách báo ngồn ngộn trên quầy để hiểu hơn những giá trị cuộc sống

mà đôi khi chúng ta bị nhầm lẫn hay không nhận ra”

Xin lược trích ý kiến thảo luận tiểu thuyết Luật đời và cha con do báo Văn nghệ tổ chức ngày 26-12-2005 Đáng chú ý là ý kiến phát biểu trực tiếp của Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng Biên tập báo Văn nghệ Theo Hữu

Thỉnh: Chúng ta cần khuyến khích những nhà tiểu thuyết xông thẳng vào những vấn đề nóng bỏng thậm chí có thể mạo hiểm của cuộc sống hiện tại Tác phẩm của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã thành công về mặt thể loại, chúng

Trang 8

ta cần tránh sự trì trệ trong sáng tác, cần mạnh dạn tìm kiếm cái mới Nguyễn

Bắc Sơn đã có nhiều cố gắng Tuy nhiên về nghệ thuật thể loại Luật đời và cha con vẫn còn hiền lành, vẫn nặng về truyền thống Thể loại tiểu thuyết cho

phép nhà văn cách tân táo bạo

Nhà văn Phan Ngọc Tuấn (trung tâm sản xuất phim truyền hình Đài

Tiếng nói Việt Nam) lại đánh giá Luật đời và cha con: “Văn đàn năm nay có

một số sự kiện trong đó có cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn Lâu lắm mới có một cuốn tiểu thuyết thế sự xông thẳng vào đời sống chính trị như thế

này Đọc thật thích thú”…“Tiểu thuyết Luật đời và cha con có những trang

đau đớn… càng đọc càng thấy rõ nhiều điều… nhân vật Trần Kiên trăn trở chấp nhận thất bại lại nghĩ ra nếp nghĩ mới, lòng tin mới”

Trong cuộc hội thảo tọa đàm còn có ý kiến tham gia phát biểu của Nguyễn Hoành Sơn (nhà thơ, nhà phê bình, ủy viên Hội đồng lý luận phê bình

Hội nhà văn Việt Nam): “Tác phẩm Luật đời và cha con có chất tiểu thuyết

Rõ ràng hiện nay nhà văn, bạn đọc đã trưởng thành, cấp trên đã thích nghi Nhà xuất bản đã ủng hộ, nhà văn sớm phát hiện ra và phản ánh đúng những vấn đề cơ bản của nông thôn miền Bắc thời kỳ cải tạo xây dựng kinh tế Tác giả có cái nhìn mới về con người trong quan hệ với hoàn cảnh Viết thành thực, theo tôi viết về gia đình tức là trở lại với tiểu thuyết đích thực đấy Những cuộc tình ở đây viết được, chuyện dâm cũng không nhiều Nói tác phẩm có màu tối thì không phải, tôi thấy lạc quan, kết thúc là lạc quan Dạ

Ngân - nhà văn, Trưởng ban văn xuôi báo Văn nghệ: “Tôi muốn nói rằng

Nguyễn Bắc Sơn hay quan tâm đến những vấn đề gần với báo chí Một trang viết cũng như nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn trước đây cái tạng nói lên tinh thần công dân của nhà văn, thái độ xã hội của nhà văn, nhà văn đóng góp cho xã

hội ở thời điểm xuất hiện của họ Tiểu thuyết Luật đời và cha con của Nguyễn

Bắc Sơn được đọc hiện nay là nhờ vấn đề gai cạnh, nóng sốt của nó”

Về tiểu thuyết Lửa đắng, Vũ Duy Thông nhận xét: “Bằng trực cảm tiên tri nhà văn dự báo những gì chưa tới sẽ tới” Trong bài Về ngọn lửa đắng của luật đời ông còn viết: “Lửa đắng là cuốn tiểu thuyết viết về ngày

Trang 9

hôm nay ở ngay dòng chảy chính của hiện thực, trực tiếp có mặt ở những

va đập kiến tạo ra nó cả những đổ vỡ hào sảng, cả những kết tụ phũ phàng”

Thu Thanh trong bài Từ Lửa đắng ngẫm về bệnh ăn bẩn của công chức

có quyền đã viết: “Phải chăng Lửa đắng là ngọn lửa của cuộc đấu tranh những

chiến tuyến tư tưởng và lối sống trong cuộc sinh thành cái mới, cơ chế mới Ngọn lửa đắng đót không ngọt ngào nhưng có thể phân định vàng thau”

Trên đây là lược thảo những ý kiến của các nhà nghiên cứu phê bình và

độc giả Do cuốn tiểu thuyết Luật đời và cha con ra đời trước, nó thu hút được

sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Chính vì vậy, các ý kiến về cuốn tiểu thuyết này phong phú và đa dạng hơn những cuốn tiểu thuyết còn lại

Báo Lao động cuối tuần đánh giá về ba cuốn tiểu thuyết của Nguyễn

Bắc Sơn như sau: “ Gần hai mươi đầu sách của Nguyễn Bắc Sơn dù là viết

về giáo dục, về ngôn ngữ, văn hóa hoặc báo chí, xuất bản hay những tập bút

ký và nhất là ba cuốn tiểu thuyết “Luật đời và cha con” (2005, đã chuyển thể thành phim truyền hình 26 tập được bạn xem truyền hình bình chọn là phim truyền hình hay nhất năm 2007), “Lửa đắng” (2008), “Gã Tép Riu” (2013) đều là văn chương đích thực, đều đáng để bạn đọc trân trọng đọc, thích thú đọc vì tính hiện thực, tính đời của nó Tiểu thuyết gần bốn trăm rưỡi trang khổ lớn mà chỉ có ba nhân vật chính có tên, một người đàn ông giữa hai người đàn

bà” Nói về cuốn tiểu thuyết Gã tép riu báo này nhận xét: Cốt truyện đơn

giản, nhưng đấu tranh nội tâm của nhân vật trong mối quan hệ giữa họ với nhau, giữa họ với những quan hệ khác, qua những vụ việc cụ thể trong công việc, với các mối quan hệ của cuộc sống thì vô cùng phức tạp Điều thú vị như tác giả nói ngay trước khi vào sách là bối cảnh cuốn sách phần lớn là có thật, hầu hết sự việc đều có thực, nhưng không hề ám chỉ một ai Vậy thì vì sao “Gã Tép Riu” hấp dẫn người đọc? Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã lý giải (in trong bìa 4): “Sức mạnh của tác giả là ở khả năng tinh nhạy nắm bắt những vấn đề thời sự nóng hổi đang diễn ra trong đời sống hằng ngày Người đọc có thể dễ dàng nhận ra trong đội ngũ nhân vật của ông bóng dáng số phận của

Trang 10

những con người có thật ngoài đời Cuộc sống và trang sách nhiều khi không còn khoảng cách Bởi thế tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn thường rất hấp dẫn Hấp dẫn cũng bởi nó rất thật Mê hoặc người đọc mà không cần dùng đến son phấn đâu có dễ Đấy là cái tài của Nguyễn Bắc Sơn, cũng là sự đóng góp rất cần được ghi nhận của ông trong văn học đương đại”.

Nhìn chung, giới nghiên cứu phê bình và dư luận bạn đọc đã có những luồng ý kiến khác nhau Song phần lớn đều khẳng định vai trò, vị trí đóng góp của Nguyễn Bắc Sơn đối với nền văn học nước nhà Tuy nhiên các bài viết, các ý kiến mới chỉ dừng lại ở vấn đề tổng quát chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu các cuốn tiểu thuyết một cách hệ thống, nhất là vấn đề nhân vật trong các cuốn tiểu thuyết này Song các ý kiến của các nhà phê bình nghiên cứu kể trên

là những phát hiện, những gợi ý hết sức quý báu đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn nói chung, nhân vật trong tiểu thuyết của

ông (Luật đời và cha con, Lửa đắng, Gã tép riu) nói riêng, vẫn còn những

khoảng trống, những vấn đề cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu

2.3 Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

Nhân vật là một vấn đề vô cùng quan trọng của tác phẩm văn học, mỗi nhà văn để cho nhân vật của mình biểu hiện ở những khía cạnh khác nhau, thể hiện nhân vật ở những góc độ nhất định nào đó Nhân vật nhiều khi là cái loa phát ngôn cho tư tưởng của tác giả, thông qua nhân vật tác giả gửi gắm suy nghĩ, thể hiện cách nhìn nhận của mình về con người, cuộc đời và xã hội

Nguyễn Bắc Sơn đã biết khai thác thành công mảng đề tài mà ít người chạm tới, ông thành công ngay lần đầu thử bút, thành công về nội dung, nghệ thuật và đặc biệt là thành công trong cách thể hiện nhân vật Nhân vật trong tiểu thuyết của ông không màu mè, không quá sinh động mà trái lại, rất thực

tế, gần gũi với đời sống Nhiều lúc chúng ta cảm thấy ai đó ngoài đời sống rất giống với nhân vật trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn, điều đó rất bình thường bởi lẽ nhân vật trong tác phẩm của ông là con người của thực tại, của xã hội chúng ta đang sống Nó chân thật và ngồn ngộn những toan tính,

Trang 11

ích kỷ, đố kỵ và mưu mô

Về vấn đề nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Bắc Sơn thì cũng đã có một

số bài báo, bài tiểu luận, phê bình đề cập tới tuy nhiên ở góc độ nhất định nào

đó, chưa khai thác sâu, chưa đi vào tìm hiểu kỹ về nhân vật ở từng tiểu thuyết

mà đang chỉ dừng ở mứ độ khái quát, chung chung Trên các trang báo điện tử

như trang Văn hóa, Văn nghệ, Tin tức Báo in như báo Tuổi trẻ, Hà Nội mới, Lao động đã có những bài viết về các tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn

nhưng như chúng tôi đã nói từ đầu nó chỉ dừng ở mức là những phát biểu cảm nhận chứ chưa phải là những bài viết có chiều sâu, nhiều bài viết chỉ điểm xuyết, vờn vẽ một vài nét mà thôi

3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn qua ba cuốn tiểu thuyết được sáng tác gần đây của nhà văn

- Tài liệu mà luận văn dùng làm văn bản khảo sát, nghiên cứu là ba

cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn: Luật đời và cha con (2005), Nxb Văn học, Hà Nội; Lửa đắng (2007), Nxb Lao động, Hà Nội; và Gã tép riu (2013), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Qua khảo sát, tìm hiểu nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn, luận văn nhằm xác định đây là một phương diện quan trọng góp phần tạo nên thành công của tiểu thuyết Nguyễn Băc Sơn, từ đây đề xuất một số vấn đề nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Ngyễn Bắc Sơn nói riêng, nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói chung

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.2.1 Đưa ra một cái nhìn tổng quát về tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

Trang 12

trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại…

4.2.2 Khảo sát, phân lọai, phân tích và xác định đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

4.2.3 Chỉ ra, phân tích và xác định những đặc điểm về thi pháp nhân vật của tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

Cuối cùng đưa ra một số kết luận về nhân vật trong tiểu thuyết và tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó

có các phương pháp chính: phân tích – tổng hợp, so sánh – loại hình, cấu trúc – hệ thống

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn

6.2 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai

trong ba chương:

Chương 1: Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong bối cảnh tiểu thuyết Việt

Nam đương đại

Chương 2: Cảm hứng sáng tạo và hệ thống nhân vật của tiểu thuyết

Trang 13

Chương 1 TIỂU THUYẾT NGUYẾN BẮC SƠN TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Tổng quan về tiểu thuyết Việt Nam đương đại (từ sau 1986)

1.1.1 Những tiền đề xã hội – thẩm mỹ của sự đổi mới tiểu thuyết Việt

Nam từ sau 1986

Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay đã có những chuyển biến đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu thuyết Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết - một loại hình tự sự lớn đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại Không khí dân chủ của môi trường sáng tạo đã giúp nhà văn ý thức sâu sắc hơn về tư cách nghệ sĩ nơi mình, vượt lên trên những quy định, khuôn khổ truyền thống đã thành áp lực với ngòi bút của người viết lâu nay Chưa bao giờ những quan niệm mới về văn chương, về nhà văn, về hiện thực và con người, về đổi mới

tư duy nghệ thuật lại cởi mở, dân chủ như lúc này Nhiều cây bút tiểu thuyết

đã có ý thức cách tân trong cách nhìn và trong lối viết, có những tác phẩm thành công hoặc đang trên đường tìm tòi, thể nghiệm, song điều đáng nói ở đây là tất cả đều hướng tới hệ quả: làm mới, làm hấp dẫn văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng

Có thể nói trong quá trình vận động và đổi mới, tiểu thuyết đã trải qua

Trang 14

“những bước thăng trầm” So với những loại hình văn xuôi khác, tiểu thuyết với những thành tựu và hạn chế của nó luôn là vấn đề “nóng” lôi cuốn sự quan tâm và kích thích cảm hứng “đối thoại” của cả giới sáng tác, lý luận, phê bình và công chúng Trên diễn đàn văn học Việt Nam những năm đổi mới, không ít lần đã xuất hiện các ý kiến tỏ ra băn khoăn, lo lắng cho sự dẫm chân tại chỗ hoặc đang mày mò của tiểu thuyết mà thực chất là sự mong muốn có những tác phẩm hay, những tác phẩm đạt chất lượng nghệ thuật, mang tính nhân loại Gần đây nhất, câu hỏi Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu? đã ít nhiều thu hút sự chú ý của dư luận đối với thực trạng tiểu thuyết đồng thời thể hiện khát vọng của công chúng đến sự đổi mới tư duy tiểu thuyết, đến sự cách tân về nội dung cũng như hình thức thể loại, sao cho tiểu thuyết không chỉ được đón nhận ở trong nước mà còn được giới thiệu ra nước ngoài, hoà nhập vào quỹ đạo của văn chương thế giới.

Giai đoạn 1945 - 1975, cả đất nước Việt Nam gần như chung cả dáng hình, một sức vóc suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quyền sống, quyền làm người, quyền độc lập dân tộc

Có thể nói, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là hai cuộc chiến tranh thần thánh kết tinh sức mạnh, bản lĩnh và tinh thần dân tộc suốt hàng ngàn năm, trở thành “trạng thái sử thi” điển hình, là biểu tượng của nhân loại yêu chuộng tự do và hòa bình ở thế kỷ XX Do sự chi phối của bối cảnh thời đại, khuynh hướng chủ đạo trong sáng tác văn chương chính là khuynh hướng

sử thi Khuynh hướng này trong văn học hiện đại khác với thể loại sử thi thời

cổ đại Nó chỉ giữ lại một số yếu tố nhất định liên quan đến cái mã làm nên những quy luật loại hình đặc thù của thể loại Cụ thể hơn cả đấy chính là những sự kiện, những vấn đề lịch sử trọng đại không tách rời số phận cộng đồng, mang tầm vóc, quy mô lớn lao được chuyển tải qua các nhân vật sử thi, xung đột sử thi, giọng điệu sử thi Các tiểu thuyết sử thi ba mươi năm chiến tranh cơ bản tái hiện cuộc đấu tranh bền bỉ của quân dân ta trên hai mặt trận: chống giặc ngoại xâm nơi tiền tuyến và xây dựng hậu phương chủ nghĩa xã

hội vững mạnh Từ Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Dấu chân người lính

Trang 15

(Nguyễn Minh Châu) đến Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải) Tất cả đều rừng rực một khí thế tiến công Việc tập

trung tái hiện bức tranh rộng lớn của cuộc chiến tranh nhân dân lúc bấy giờ được xem như một lẽ tất yếu, phù hợp với yêu cầu cách mạng và mục đích, nhiệm vụ, quy luật phát triển văn học của dân tộc trong hoàn cảnh chiến tranh

Nguyễn Minh Châu với tiểu thuyết Miền cháy, Khuất Quang Thụy với Trong cơn gió lốc, Ma Văn Kháng với Đồng bạc trắng hoa xòe, Nguyễn Trí Huân với Năm 75 họ đã sống như thế Sự vận động của văn học rõ ràng đã có sự

ít nhiều chuyển biến Văn học đã mang nhiều hơi thở của tiểu thuyết, chứ không bảo lưu toàn vẹn những đặc điểm cơ bản của giai đoạn văn học 1945 –

1975 trước đây Xu hướng chung là các nhà văn đang cố gắng gỡ mình ra

khỏi những quan niệm đơn giản là tái hiện hiện thực Từ Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy) đến Đứng trước biển, Cù lao tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn Khải), Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng) đã là những minh chứng cho sự

chuyển đổi tư duy sáng tạo và quan niệm nghệ thuật của nhà văn Đấy là những khởi động bước đầu chuẩn bị cho sự đổi mới triệt để và quyết liệt hơn của tiểu thuyết từ 1986 đến nay

Từ 1986, Đảng ta đã xác định: “Đổi mới là nhu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”, “Phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn” [19, 15] Từ thời điểm đó, đất nước thực sự mở cửa, cải tổ nền kinh tế - chính trị, hiện thực đời sống gần như được tháo tung mọi đầu mối, sắp xếp lại một cách đồng bộ

Trang 16

Theo đó, đời sống văn chương cũng được hưởng một không khí dân chủ và cởi mở hơn rất nhiều Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ có những tìm tòi, những thể nghiệm rộng rãi và mạnh bạo trong lao động nghệ thuật Trên tuần báo Văn nghệ, Nguyễn Minh Châu đề nghị “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, đặt ra vấn đề sáng tạo tự do cho người nghệ sỹ, trong đó, ông đánh giá một cách công bằng: “Tôi không hề nghĩ rằng, mấy chục năm qua, nền văn học cách mạng không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực Nhưng cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, đối với những lối viết chỉ quen cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ có sẵn ( ) mà chúng ta quy cho đấy là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn” Từ 1986, với xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã dấn thân vào hiện thực ở thời hiện tại, đang hình thành, chưa ổn định; ở chính

“tiêu điểm” của đời sống Trong tác phẩm của họ ý thức “lột trần mặt nhau, lột trần mặt mình, lột trần mặt đời” và cao hơn là “bóc trần thế giới”, đồng thời với ý thức hướng tới “chất lượng cuộc sống”, sống sao cho đúng với cuộc sống của con người đã thẩm thấu các tầng ngữ nghĩa, mang đậm tính nhân

văn: Thời xa vắng, Hai nhà (Lê Lựu), Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Một cõi nhân gian bé tý (Nguyễn Khải), Đi về nơi hoang dã (Nhật Tuấn), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Một thời hoa mẫu đơn, Ngoài khơi miền đất hứa (Nguyễn Quang Thân), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Trả giá, Sóng lừng, Cõi mê (Triệu Xuân), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ăn mày dĩ vãng, Phố, Cuộc đời dài lắm (Chu Lai), Ngày hoàng đạo (Nguyễn Đình Chính), Một ngày và một đời, Cơn giông (Lê Văn Thảo), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Thuỷ hoả đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Trùng tu (Thái Bá Lợi), Luật đời và cha con (Nguyễn Bắc Sơn), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân) Trong số đó Đi về nơi hoang dã, Ngoài khơi miền đất hứa,

Trang 17

Sóng lừng, Cơn giông, Luật đời và cha con đã từng được đương thời và hôm

nay nhận định là những tác phẩm mang tính “dự báo của lương tri” trước một

xã hội hiện đại còn nhiều bất an và khiếm khuyết

Tiểu thuyết xuất hiện ngày càng nhiều Các thế hệ nhà văn vẫn mải miết trên cánh đồng chữ nghĩa, lặng lẽ cho ra mắt bạn đọc những đứa con tinh thần của mình Không phải ngẫu nhiên mà người ta đã cảm nhận thời bây giờ

là “thời của tiểu thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp), thời của dân chủ hoá trong sáng tạo và tiếp nhận Thế hệ những nhà văn lão thành vẫn không ngừng sáng

tạo: Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa, Nguyễn Khải với Thượng đế thì cười, Châu Diên với Người sông Mê, Mạc Can với Tấm ván phóng dao, Bùi Ngọc Tấn với Chuyện kể năm 2000, Ma Văn Kháng với Ngược dòng nước lũ Đồng hành với những

thế hệ “lão làng” ấy, là một dàn những cây bút của thế hệ kế tiếp luôn ý thức

về sự đổi mới trong sáng tạo, sẵn sàng thể nghiệm, cách tân, chấp nhận hệ số mạo hiểm cao, cho ra hàng loạt tác phẩm gây được chú ý của công luận: Hồ

Anh Thái với Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột; Nguyễn Bình Phương với Vào cõi, Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thuỷ và Ngồi; Nguyễn Việt Hà với Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn; Tạ Duy Anh với Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối; Võ Thị Hảo với Giàn thiêu; Nguyễn Thế Hoàng Linh với Chuyện của thiên tài, Võ Thị Xuân Hà với Tường thành, v.v Trong bối cảnh giao lưu và

hội nhập quốc tế, sáng tác của các cây bút hải ngoại đã xuất hiện ở Việt Nam

và hầu hết đều được giới thiệu với bạn đọc trong nước: Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Phố Tầu, Paris 11 tháng 8 (Thuận), Tìm trong nỗi nhớ, Trên đỉnh dốc (Lê Ngọc Mai), Thảo (Võ Hoàng Hoa), Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phương), Gió từ thời khuất mặt (Lê Minh

Hà) Diện mạo tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay rõ ràng là phong phú,

đa dạng và cũng phức tạp hơn Con người, nhân vật trong tiểu thuyết cũng vậy

Trang 18

Một cái nhìn khái quát về đội ngũ các tiểu thuyết gia và tác phẩm của

họ trong không khí phóng khoáng, cởi mở của đời sống văn học cho thấy tiểu thuyết đã vận hành trong cơ chế vận động và đổi mới của văn xuôi đương đại Những người cầm bút trong nước cũng như đang sống ở bên ngoài bằng các tác phẩm của mình đã ít nhiều chứng minh được tiềm năng sáng tạo cùng với

nỗ lực đổi mới và hiện đại hoá ngòi bút của chính họ Trong bối cảnh gợi lên cái “thời của tiểu thuyết”, độc giả đã trở lại với văn hoá đọc Một văn hoá đọc

đã được nâng cấp, được lựa chọn không bị áp đặt bởi chủ nghĩa đề tài hoặc một phương pháp sáng tác duy nhất Trong cái “thời của tiểu thuyết” hôm nay, người đọc đã có hứng thú đi tìm những cuốn sách hay, những cuốn sách trở về với chức năng thẩm mỹ và giải trí, tôn trọng vai trò của người đọc, khêu gợi ở

họ những suy ngẫm, liên tưởng và đồng sáng tạo

Tư duy tiểu thuyết trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới thực sự

đã đổi mới Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái hiện thực hàng ngày, cái đời thường của đời sống cá nhân Các nhà tiểu thuyết đã nhìn thẳng vào những “mảnh vỡ”, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa vào trường nhìn mới, hướng tới những gấp khúc trong đường đời và thân phận con người, thấm đẫm cảm hứng nhân văn Nhìn từ góc độ thể loại, trong những năm đổi mới, tiểu thuyết đã có những tìm tòi, cách tân thể hiện ở nhiều phương diện: Cấu trúc, kết cấu, cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ

Đời sống vận động không ngừng, ngòi bút của nhà văn theo đó cũng phải biến chuyển linh hoạt, đa dạng qua từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau với những khuynh hướng tư tưởng, thẩm mỹ khác khác nhau Quan niệm văn học phản ánh hiện thực cũng có những biến đổi nhiều chiều cho phù hợp với yêu cầu đổi mới luôn thường trực trong sáng tác

1.1.2 Bức tranh đa sắc của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986

Sau năm 1975, đất nước ta được hòa bình, nhịp sống hối hả tất bật tràn đầy, không khí chiến trận đã đi qua

Trang 19

Có thể nói, chưa bao giờ văn xuôi phát triển mạnh mẽ như giai đoạn từ

1986 đến nay Sự đổi mới văn học ấy được nhận diện trên nhiều phương diện trong nhiều thể loại, đáng chú ý nhất là tiểu thuyết Tiểu thuyết luôn được xem là thể loại ưu việt nhất trong cách khám phá nhận thức đời sống ở nhiều mặt và nhiều tầng bậc Với tư cách là sản phẩm của các loại tư duy nghệ thuật tổng hợp, tiểu thuyết là nơi mà nhà văn có thể nhìn và biểu đạt đến tột cùng mọi suy nghĩ sáng tạo của mình đến bạn đọc với cách viết mới, đặc biệt đối với các nhà văn "hậu đổi mới" vấn đề quan tâm lớn nhất là "viết về cái gì và viết như thế nào" Trên văn đàn lần lượt xuất hiện những tác giả mới và những đóng góp của họ có thể nói đã làm thay đổi nhiều hệ thống tiêu chí thẩm mĩ cũ, từ đó một loạt các giá trị mới đã được hình thành và xác lập

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ đổi mới đến nay có nhiều đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc trên cả hai phương diện nội dung và hình thức biểu đạt Những mạch nguồn truyền thống đã được thay thế bằng nhiều cảm hứng mới Những trang viết về con người cá nhân về cuộc sống đời thường với tất cả sự phức tạp và bề bộn đã xuất hiện, thay thế những quy phạm và cảm hứng sử thi truyền thống trước đó

Văn học dần dần trở về trạng thái phát triển bình thường của nó từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư So với thời kỳ trước đổi mới, các nhà văn nhập cuộc vào sự thật

"tàn nhẫn" của thời hậu chiến, thời khủng hoảng, thời xây dựng, văn học bước vào một hiện thực khác dẫu bình lặng, yên ả nhưng cũng ngổn ngang với người thách thức mới Trong bản thân mỗi một cá nhân cầm bút từng ngày, từng giờ đã diễn ra một quá trình "tự vấn", thay đổi âm thầm những quyết liệt

về quan niệm về đề tài, về cảm hứng và cả phương pháp sáng tác Từ suy nghĩ của Nguyễn Khải về văn học cũ - mới trước đây: "viết về cái thường ngày là văn học cũ, viết về cái phi thường là văn học mới - viết về hi sinh day dứt, nhiều day dứt về những nỗi khổ đau của cá nhân là văn học cũ - viết về những chiến công của tập thể là văn học mới" (nghề văn cũng lắm công phu) đến giờ những trăn trở của ông lại là: "thời rộng cửa, gợi được rất nhiều thứ để viết

Trang 20

Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động những bất ngờ, mới thật là

mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ" (Gặp gỡ cuối năm -

Nguyễn Khải)

Chiêm nghiệm, triết lý đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với người sáng tác, tiểu thuyết với hành động xé rách tấm màn giả dối khám phá những điều mới mẻ, tra tấn con người ở mọi khía cạnh sâu kín lắm Hiện thực trong tiểu thuyết vì thế được nhìn thấy như một nguồn sự kiện mang tính

đa tầng, đa phương, ẩn khuất, phi li, bất ngờ

Tiểu thuyết từ đổi mới đến nay quan tâm đến nhiều vấn đề khác nhau từ cuộc chiến tranh đã qua, cuộc sống đổi mới, đời tư đời thường chuyện gia đình, làm ăn, cơ chế đổi mới nhận thức làm việc, vấn đề riêng, bao nhiêu mối quan hệ phức tạp, chồng chéo

Cho dù không ít người tỏ ra hoài nghi về số phận của tiểu thuyết nhưng đến nay, tiểu thuyết vẫn tiếp tục phát triển và thực sự vẫn là "thể loại máy cái" đáng vai trò quyết định đối với sự phát triển và quy mô của bất cứ một nền văn học nào Một mặt tiểu thuyết xâm thực vào các thể loại, mặt khác dung nạp vào đó ưu thế của nhiều thể loại để tạo thêm "dưỡng chất" cho mình Ngay cây bút xuất sắc trong lĩnh vực truyện ngắn như Nguyễn Huy Thiệp cũng từng khẳng định "thời nay là thời của tiểu thuyết" Tiểu thuyết biến hóa

để đáp ứng những yêu cầu mới trong một thời đại mới với những đặc thù của một đời sống hiện đại xô bồ hỗn loạn, khủng hoảng niềm tin

Để tạo được sức hấp dẫn nhằm đáp ứng thị hiếu của người đọc cũng như để bắt kịp bước chuyển mình của thời đại, tiểu thuyết có những cách tân đổi mới trên nhiều phương diện: đổi mới quan niệm và hình thức, đổi mới quan niệm về con người, đổi mới về thi pháp thể loại tiểu thuyết đương đại mang đậm chất đời tư, những số phận có trong hạnh phúc không trọn vẹn, thể hiện những khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phức tạp có những đổi mới trong trần thuật và

Trang 21

trong bút pháp để tạo nên tính đa thanh của tác phẩm Các tác phẩm đã đi thẳng vào những vấn đề gai góc của cuốc sống, cách viết táo bạo hơn, tiếp cận đời sống một cách trực tiếp hơn quan sát kỹ lưỡng hơn, vì thế đòi hỏi ngôn ngữ văn chương phải mang tính đa nghĩa biểu tượng và ẩn dụ Một trong những cách viết ấy, có Nguyễn Bắc Sơn là một gương mặt nổi bật, ông không

né tránh những vấn đề phức của cuộc sống mà mổ xẻ mọi vấn đề một cách tường tận, ông nhìn thấy được rằng, hiện thực trong cuộc sống không đơn giản là hiện tượng được "nhìn thấy" mà quan trọng hơn là thứ hiện thực "tự cảm thấy" Nhà văn đã phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lượng, những thói quen, nếp sống, cách hành xử lạc hậu lỗi thời làm cản trở quyền sống quyền nhu cầu hạnh phúc chính đáng của con người cũng như sự phát triển của xã hội

1.1.3 Một số khuynh hướng của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986

Trong văn học hiện đại, tiểu thuyết luôn được coi là thể loại “máy cái”,

là nơi biểu hiện tập trung nhất trình độ tư duy văn học, nơi kết tinh quan trọng nhất thành tựu của một thời đại văn học Quá trình đổi mới văn chương ở nước ta diễn ra đã hơn hai thập kỷ với rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được lý giải, đánh giá mà dư luận chung thì còn rất phức tạp

Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau Theo quan điểm phân loại của Nguyễn Thị Bình (dựa vào tiêu chí bút pháp), tiểu thuyết Việt Nam từ thời điểm đổi mới đến nay phát triển thành mấy khuynh hướng phong cách chính: 1 Tiểu thuyết theo phong cách “lịch sử hoá”; 2 Tiểu thuyết theo phong cách “tự thuật”; 3 Tiểu thuyết

tư liệu – báo chí; 4 Tiểu thuyết hiện thực kiểu truyền thống; 5 Tiểu thuyết theo phong cách hậu hiện đại [7] Đấy là một cách phân loại có cơ sở và cũng sát với thực tiễn của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đương đại (1986 đến nay)

Sự năng động của thể loại tiểu thuyết là hệ quả tất yếu của những đặc trưng thể loại chi phối ngòi bút sáng tạo của nhà văn Từ sau năm 1975, nhất

là từ thời điểm cao trào đổi mới (1986) nay, không khí dân chủ, cởi mở của đời sống xã hội, sự phức tạp của hiện thực đổi mới thực sự là bầu khí quyển

Trang 22

nuôi dưỡng sự phát triển của thể loại tiểu thuyết Giai đoạn này tiểu thuyết nở

rộ, đội ngũ người viết ngày càng đông đúc, số lượng tác phẩm dồi dào, nhiều cuốn nhận được giải thưởng từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội

Nhà văn, có cuốn không được giải nhưng làm xôn xao dư luận: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bên kia bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Côi cút giữa cảnh đời (Ma Văn Kháng), Một cõi nhân gian bé tý (Nguyễn Khải), Ông cố vấn – hồ sơ một điệp viên (Hữu Mai), Sao đổi ngôi (Chu Văn), Ác mộng (Ngô Ngọc Bội), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu), Quãng đời xưa in bóng (Dũng Hà), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Phố, Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Lời nguyền hai trăm năm (Khôi Vũ), Miền hoang tưởng (Đào Nguyễn), Ngoại tình, Nền móng (Nguyễn Mạnh Tuấn), Nước mắt

đỏ (Trần Huy Quang), Người và xe chạy dưới ánh trăng (Hồ Anh Thái), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Không phải trò đùa, Góc tăm tối cuối cùng (Khuất Quang Thuỵ), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Ngày thường (Phùng Khắc Bắc), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt Hà), Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Tuổi thơ im lặng (Duy Khánh)… Có thể nói tiểu thuyết

chặng này viết về mọi đề tài nhưng hệ quy chiếu phổ biến là các giá trị nhân bản Không phải sự kiện lịch sử mà số phận cá nhân mới là trung tâm chú ý Chính những câu hỏi về con người là nơi giao hội nhiều cảm hứng, nhiều chủ

đề, làm nảy sinh nhiều loại nhân vật, nhiều sắc thái ngôn ngữ, nhiều cảm thức văn học

Sự phân biệt đề tài chiến tranh, đề tài sản xuất, đề tài tình yêu… thực ra chỉ có ý nghĩa hình thức vì mối bận tâm của cá nhân sáng tác lẫn người đọc nằm ở cái nhìn hiện thực, ở quan niệm nghệ thuật về con người mà mỗi tác phẩm đề xuất Nỗ lực đổi mới chặng đường này chủ yếu dồn vào cách xử lý chất liệu hiện thực: một hiện thực đa chiều, hiện thực vừa có tính tất định, vừa

Trang 23

đáng ngờ, vừa hữu lý vừa phi lý, vừa trật tự vừa hỗn loạn, vừa thuộc về cái rành rõ lý trí vừa như thuộc cõi siêu linh bí ẩn huyền hồ… đó là sự nới rộng đáng kể biên độ hiện thực so với tiểu thuyết trước 1975 Soi qua “tấm gương” tiểu thuyết, có thể thấy các mối quan hệ giữa văn chương với hiện thực, nhà văn với bạn đọc đều được dân chủ hoá mạnh mẽ Nhà văn có quyền xem hiện thực là mục đích phản ánh hay chỉ là phương tiện để công bố tư tưởng riêng,

do vậy không còn bị lệ thuộc vào hiện thực Người đọc từ bỏ dần thói quen đối chiếu những điều tác phẩm kể lại với cuộc sống có thực ngoài tác phẩm để suy tư về những gì được nhà văn gửi gắm qua cái hiện thực được lựa chọn có khi đầy tính chủ quan, cá biệt Người đọc có quyền tin hay không tin câu chuyện được kể bằng kinh nghiệm cá nhân như thế

Điều đáng lưu ý là dù nhu cầu đổi mới văn chương đã trở thành phổ biến và cấp thiết trong toàn bộ đời sống văn học nhưng văn xuôi (trong đó có tiểu thuyết) cho tới chặng cao trào vẫn tập trung vào sự đổi mới nội dung hiện thực của tác phẩm, nghĩa là câu hỏi “viết về cái gì” luôn được ưu tiên hơn hẳn câu hỏi “viết như thế nào?” Dù viết về người lính hay người nông dân, trí thức hay doanh nhân, trẻ em hay người già, người gặp thời hay kẻ lạc thời, về quá khứ lịch sử hay về hiện tại, hướng tới cảm hứng triết luận hay cảm hứng trào lộng; ngợi ca, khẳng định hay phê phán, phủ nhận… thì tinh thần chung vẫn là kể một câu chuyện có đầu có cuối theo logic nhân - quả, sao cho người đọc có thể dễ dàng quy chiếu ý nghĩa tác phẩm về hình tượng thế giới khách quan Nói cách khác, giá trị thẩm mỹ mà tác phẩm đem lại chủ yếu phụ thuộc vào nội dung hiện thực của câu chuyện Những biến đổi ở nghệ thuật trần thuật như: điểm nhìn di động, người kể chuyện, bút pháp huyền thoại hoá, bút pháp hài hước giễu nhại, ngôn ngữ suồng sã bụi bặm, v.v… vẫn không đủ tạo

ra một bước ngoặt trong tư duy thể loại

Theo dõi bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt từ 1986 đến nay, nhìn theo các khuynh hướng vận động của nó, có thể thấy khuynh hướng tiểu thuyết viết theo mô hình truyền thống hoặc làm mới trên cái khung truyền thống vẫn vẫn có thành tựu và có vị thế quan trọng Có

Trang 24

thể nhận thấy hàng loạt tác phẩm của nhiều nhà văn vẫn được viết theo

khuynh hướng này: Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Dòng sông mía của Đào Thắng, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Ba người khác của Tô Hoài, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Cuộc đời dài lắm của Chu Lai, Thời của những tiên tri giả của Nguyễn Viện, Chuyện lan man đầu thế kỷ của Vũ Phương Nghi, Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau của Đoàn Minh Phượng,

Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn (Luật đời và cha con, Lửa đắng, Gã tép riu) nằm trong khuynh hướng này

Cũng cần nói thêm “Thời hiện tại, màu sắc của các bi kịch trở nên đa dạng hơn cùng với vòng xoáy chóng mặt của cơ chế thị trường thời mở cửa Phần lớn các tác giả thường khai thác sự phức tạp của những bi kịch gia đình, hôn nhân; sự đổ vỡ trong tình yêu đôi lứa do sự “lệch pha”, “vênh nhau” về cách sống; sự sục sạo của cuộc sống áo cơm Trong xu thế hội nhập toàn cầu, các nhà văn Việt Nam có cơ hội tiếp thu, học hỏi những khuynh hướng sáng tác văn chương đương đại, đón nhận những sản phẩm tinh thần mới cả về nội dung và hình thức biểu hiện so với gia tài văn học truyền thống, ví như “văn học phản tỉnh, sám hối”, “hậu hiện đại”, “sex”, “Freud và thuyết phân tâm” Theo đó, văn học Việt Nam nói chung, tiểu thuyết Việt Nam nói riêng có những cuộc thể nghiệm táo bạo, những tìm tòi mới lạ Các nhà văn nhìn thấy

bi kịch lúc này là sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, của các phát ngôn lớn, hoang mang trước sự đảo lộn của các thang bậc giá trị đời sống hiện đại Họ tìm đến “cảm quan hậu hiện đại” và nhiều thứ khác, theo những khuynh hướng khác

1.2 Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

1.2.1 Tiểu thuyết trong văn nghiệp của Nguyễn Bắc Sơn

Nguyễn Bắc Sơn đến với tiểu thuyết khá muộn màng nhưng ông lại được công chúng và giới nghiên cứu đánh giá là nhà văn “trẻ” Ông bước vào

Trang 25

lãnh địa của tiểu thuyết khi mái đầu đã bạc trắng nhưng cái già cả về hình thức không che lấp đi được cái tài năng được hun đúc, trau dồi, ấp ủ suốt cuộc đời của một nhà báo tài năng Vì vậy khi đã cầm bút viết thì tiểu thuyết của ông ngay lập tức được giới công chúng đón nhận nồng nhiệt, nó như một làn gió mát thổi vào tâm hồn con người đang bị bủa vây bởi không khí nóng nực quen thuộc bấy lâu.

Hai cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Bắc Sơn đã bắt kịp vào dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Lý do quan trọng là bởi vì nó viết

về những câu chuyện của ngày hôm nay với sự chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc

đời này Nếu như Luật đời và cha con quan tâm nhiều tới xung đột tất yếu

giữa ba thế hệ trong một gia đình điển hình ở Thanh Hoa bắt đầu từ thời kỳ

cải cách ruộng đất thì Lửa đắng là cuốn tiểu thuyết viết về ngày hôm nay, ở

ngay dòng chảy chính của hiện thực, trực tiếp có mặt ở những va đập kiến tạo

ra nó, cả những đổ vỡ hào sảng, cả những kết tụ phũ phàng Ở Lửa đắng, chủ

đề gia đình - xã hội ít được đề cập hơn mà nhà văn tiếp tục hoàn thiện nhiều vấn đề về giáo dục, gia đình, hôn nhân chuyện vợ chồng, con cái…, tập trung chủ yếu vào vấn đề cơ chế, cải cách hành chính Có những vấn đề hoàn toàn mang tính chất “dự báo”, chưa từng có trong hiện thực, lại có những vấn đề hết sức nhạy cảm trong cuộc sống như vấn đề dân chủ Hai cuốn tiểu thuyết khác tên gọi song được xem như hai phần kế tiếp, liên tục Sự khác biệt tên gọi theo tác giả là nhằm tạo nên sự phong phú đa dạng cho bộ tiểu thuyết Sau đổi mới tiểu thuyết đang dần có những bước đột phá mới thể hiện trên mọi phương diện, từ cách nhìn nhận, cách viết, cách thể hiện và phản ánh xã hội… của mỗi nhà văn Bắt kịp với dòng chảy đó tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn đã

mở ra trước mắt người đọc những nhận thức mới về xã hội; những tồn tại, hạn chế; những mâu thuẫn, xung đột, những cái xấu mới phát sinh và cần được loại bỏ… Phản ánh mối xung đột giữa ba thế hệ trong gia đình, nhất là những xung đột phát sinh trong thời buổi giao thời giữa cái cũ và cái mới, giữa cơ chế này với cơ chế kia, dẫn tới hàng loạt các bi kịch thời hiện đại, Nguyễn Bắc Sơn đang cùng mối quan tâm với nhiều tác giả hiện nay Tuy nhiên mỗi

Trang 26

nhà văn có một cách nhìn nhận, triển khai vấn đề khác nhau, thể hiện một cảm quan nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân và thời đại anh ta.

Sự đa dạng, phong phú ấy gắn bó chặt chẽ với bản chất hỗn tạp của đời sống hiện thực A.Solzhenitsyn, nhà văn Nga đoạt giải Nobel văn chương đã từng nói “Nếu văn chương không phải là hơi thở mới của xã hội đương thời, không dám nói lên nỗi đau và sự sợ hãi của xã hội đó, không cảnh báo kịp thời những mối nguy hại đe dọa đạo đức và xã hội thì thứ văn chương đó không phải là văn chương đích thực Nhân dân không tin nó, không đọc nó, cũng không ai dùng làm giấy lộn” Với tinh thần đó, với cái nhìn xã hội đầy hiện thực như vậy Nguyễn Bắc Sơn tiếp tục đưa đến cho độc giả một cái nhìn sâu sắc, đa dạng về hiện thực, về thực trạng xã hội bằng một cuốn tiểu thuyết

mới mang tên Gã tép riu Đọc Gã tép riu người đọc có thể dễ dàng nhận ra

trong đội ngũ nhân vật của ông bóng dáng số phận của những con người có thật ngoài đời Cuộc sống và trang sách nhiều khi không còn khoảng cách - Bởi thế tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn thường rất hấp dẫn Hấp dẫn cũng bởi nó rất thật Mê hoặc người đọc mà không cần dùng đến son phấn đâu có dễ Đấy

là cái tài của Nguyễn Bắc Sơn, cũng là sự đóng góp rất cần được ghi nhận của ông trong văn học đương đại Điều đó cho thấy một cây bút Nguyễn Bắc Sơn chín muộn nhưng ào ạt, dồn dập, tràn đầy sinh lực, cách viết già dặn

Cuối thập niên 90 đến nay, ngòi bút sáng tạo của Nguyễn Bắc Sơn đã thực sự đổi mới mạnh mẽ và toàn diện Cùng với sự bức xúc xoay quanh vấn

đề nổi cộm trong cuộc sống hiện đại, có thể thấy tiểu thuyết của ông có những bứt phá thể hiện những quan niệm mới về hiện thực và con người nhằm phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ mới của công chúng hiện đại Trong tư duy sáng tạo của mình nhà văn đi sâu vào khám phá những vấn đề mang tính thời sự Tính chuyên nghiệp và sự nghiêm túc bền bỉ trong sáng tạo nghệ thuật đã đưa lại cho ông những thành công trong sáng tác Tiểu thuyết của ông thể hiện cái nhìn đa chiều sự khám phá mới mẻ về con người trong cuộc sống đương đại, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo không mệt mỏi về phương diện nghệ thuật Quan niệm của mỗi nhà văn về văn chương về nghề nghiệp như là kim chỉ nam

Trang 27

định hướng cho sáng tác của họ Những thành công hôm nay của Nguyễn Bắc Sơn có thể lý giải ngay từ trong suy nghĩ nghiêm túc và tinh thần nỗ lực sáng tạo không ngừng của nhà văn.

1.2.2 Dấu ấn tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong bức tranh chung

của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Từ sau đổi mới 1986 với chính sách văn nghệ của thời kỳ đổi mới, một bầu không khí dân chủ thực sự được khơi dậy, điều đó kích thích khả năng sáng tạo của văn nghệ sỹ nói chung và của các nhà tiểu thuyết nói riêng Thay cho xu hướng quan tâm tới những biến cố lớn lao của cộng đồng dân tộc như tiểu thuyết sử thi 1945 - 1975, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới lấy xuất phát điểm cũng như đích đến cuối cùng là những vấn đề đời tư, thế sự, gắn bó với số phận cá nhân con người Cùng với sự đổi mới quan niệm về hiện thực,

về con người là những cách tân hình thức đưa tiểu thuyết Việt Nam đương đại xích lại gần hơn với xu hướng vận động của thể loại này trên phạm vi khu vực

và thế giới

Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn nhập vào dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại xoay quanh hàng loạt những vấn đề nhức nhối đang diễn ra trong nhịp sống hiện đại Tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu nhưng dẫu sao vẫn còn để lại những khoảng trống vắng chưa cất mình lên được một đẳng cấp mới Trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn đã kịp hòa mình vào dòng chảy hối hả, tất bật của thì hiện tại, của cuộc sống mới đầy rẫy những cám dỗ của thời buổi kinh tế mới Nguyễn Bắc Sơn dành hết tâm huyết của mình vào mảng đề tài phản ánh vấn đề cơ chế, cải cách hành chính Đây là một phạm vi hiện thực khá nhạy cảm, xoay quanh những vấn đề chính trị xã hội mới mẻ, nổi bật của quá trình cải cách bộ máy hành chính Nhà nước từ nền kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường Ở giai đoạn đầu, nhiều vấn đề xuất hiện song vẫn còn ở dạng tiềm ẩn Càng về sau khi cơ chế thị trường ngày càng thông thoáng thì những vấn đề ấy thực sự trở thành điểm nóng, cản trở công cuộc cải cách mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiến

Trang 28

hành Đi sâu vào khai thác phạm vi đề tài này, Nguyễn Bắc Sơn đang bước trên một chặng đường đầy khó khăn mà rất ít nhà văn viết tiểu thuyết hiện nay lựa chọn

Đặt trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, sự lựa chọn của Nguyễn Bắc Sơn làm thành một cái “tạng” riêng thể hiện tinh thần, ý thức công dân của nhà văn Nhiều ý kiến cho rằng tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

là dạng “tiểu thuyết luận đề xã hội” Tuy nhiên, nhà văn không như một nhà chính trị thuyết giáo về các vấn đề một cách khô khan, cứng nhắc mà trái lại, tư tưởng nghệ thuật được toát lên thông qua một thế giói hình tượng sống động và

đa dạng Theo nhà văn, thành công trước hết cúa các cuốn tiểu thuyết của ông

là ở đề tài, chứ không phải ở văn phong và lối viết mới, bởi cái ưu thế của đề tài này là chưa ai “động bút” mổ xẻ một cách kỹ lưỡng về cơ chế quản lý hành chính đất nước giai đoạn đổi mới

Nói như vậy không có nghĩa ngoài Nguyễn Bắc Sơn ra chưa có một nhà văn nào động chạm đến đề tài này Tiểu thuyết thời kỳ sau đổi mới đã có những bước tiến vượt bậc, thoát ra khỏi lối mòn cũ rích của giai đoạn trước với những bứt phá mới về phong cách, thể loại, đề tài… Mỗi nhà văn lựa chọn cho mình những cách viết, những con đường đi riêng Cùng nhịp đập và suy nghĩ với Nguyễn Bắc Sơn cũng có không ít nhà văn Những năm tám mươi của thế kỷ XX, văn đàn Việt Nam đã xuất hiện trào lưu “tiểu thuyết phóng sự” viết về các hiện tượng tiêu cực trong xã hội Nguyễn Mạnh Tuấn là một trong những cây bút ít ỏi vượt qua được sự lúng túng bước đầu trong yêu cầu đổi mới tư duy văn học mà chính sách văn nghệ của Đảng khích lệ Với

Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển, Cù lao Tràm hay Khát vọng cuộc đời…Nhà văn đã mạnh dạn nắm bắt những mảng hiện thực tươi mới ở

miền Nam sau ngày giải phóng, từ đó nhìn thẳng vào thực trạng đất nước thời

kỳ bắt đầu đổi mới cơ chế quản lý nhằm thể hiện mong muốn đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ, bế tắc Tuy vậy chưa có nhà văn nào dám đi sâu mổ xẻ những sai lầm, tồn tại của chế độ cũ, phơi bày và phản ánh những thiếu sót, sai trái, những tiêu cực nảy sinh trong xã hội mới, xây dựng những hình tượng

Trang 29

nhân vật có quyền cao, chức trọng trong xã hội như Tổng bí thư, nhân vật Cụ; xây dựng những nhân vật dám thẳng thắn đấu tranh với những mặt xấu,

những cái ác đang hoành hành trong xã hội Đó là nhân vật Triển trong Lửa đắng, là nhân vật Tùng trong Gã tép riu Những nhân vật dám đương đầu trực

tiếp với cái ác, cái xấu để rồi phải gánh chịu một hậu quả vô cùng nặng nề cho

cả bản thân và hơn thế nữa là hạnh phúc cuộc đời, là tính mạng của những người thân trong gia đình

Đến với tiểu thuyết trong giai đoạn mới Nguyễn Bắc Sơn đã chuẩn bị cho mình một tinh thần đầy đủ, một lối viết mới mẻ táo bạo Chọn một đề tài

ít người viết đến, đây là một khó khăn không nhỏ, đồng thời cũng là một lợi thế lớn cho Nguyễn Bắc Sơn, bởi lẽ gắn với mảng đề tài này thường dễ gây sự chú ý đối với độc giả, trước hết bởi nó mới lạ, lạ ở nội dung, ở cách trình bày

và đặc biệt ở tài năng xây dựng nhân vật của nhà văn Trong văn học đương đại Việt Nam tiểu thuyết đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nhắc tới thành tựu của nền văn học thì không thể không nói đến vai trò của tiểu thuyết Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn lần đầu tiên đưa đến cho độc giả một hướng nhìn nhận mới về xã hội, những bước đi lên đầy khởi sắc của công cuộc đổi mới và công cuộc xây dựng chế độ mới ngày hôm nay, nhưng chứa đựng bên trong

nó biết bao mối quan hệ phức tạp, đan chéo lẫn nhau: Quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội… Thêm vào đó là những toan tính đoạt lấy quyền lực bất chấp mọi thủ đoạn Mỗi nhân vật một tính cách, đa dạng, đa chiều xoay quanh cuộc sống trong thời đại mới đầy rẫy những mưu mô Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn đặt ra hàng loạt những vấn đề cần được giải quyết, những dự báo về tương lai khiến người đọc phải đau đầu suy nghĩ

Trang 30

Chương 2 CẢM HỨNG SÁNG TẠO VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT

CỦA TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 2.1 Cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Bắc Sơn trong tiểu thuyết

2.1.1 Khái niệm cảm hứng sáng tạo và vai trò của nó trong sáng tác

văn học

Theo Pospelop trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, “Cảm hứng là “sự

lý giải, đánh giá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng

tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [49] Cảm hứng

là một phương diện chủ quan thuộc về nội dung tư tưởng tác phẩm Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động Điều quan trọng là “cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học” (Trần Đình Sử) [52] Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lý, lý tưởng, phủ định sự giả dối mà mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực là thái độ ngợi ca, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường [268] Theo F G.Lorca, cảm hứng thực ra là một trạng thái trầm

tư mặc tưởng, một sự nghiền ngẫm, một sự chờ đợi dài lâu Ẩn đằng sau cảm

Trang 31

hứng sáng tác là cả hệ tư tưởng và phong cách viết của nhà văn Xuất phát từ đặc điểm này, nghiên cứu văn học đã hình thành khái niệm cảm hứng chủ đạo với tư cách là nhân tố tư tưởng trong sáng tạo nghệ thuật Cảm hứng thường được hiểu là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả Cảm hứng là hứng thú sáng tạo nói chung và sáng tạo văn học nói riêng Hê Ghen và Bêlinxki đều dùng từ “cảm hứng” “để chỉ trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” Pôxpêlốp khẳng định: Tư tưởng của tác phẩm văn học là sự thống nhất tất cả các mặt nội dung của nó như

hệ đề tài, hệ vấn đề và sự đánh giá tư tưởng - cảm xúc đối với cuộc sống, đó là tư tưởng khái quát, tư tưởng bằng hình tượng, bằng cảm xúc của nhà văn Tư tưởng

đó thể hiện cả ở sự lựa chọn, lý giải và cả ở sự đánh giá các tính cách [49, 124]

Nội dung tư tưởng tác phẩm văn học luôn gắn liền với cảm xúc mãnh liệt Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lý,

lý tưởng, phủ định sự giả dối mà mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực là thái độ ngợi ca, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường Với tính chất là một trong những yếu tố hợp thành tư tưởng tác phẩm, Hêghen xem cảm hứng chủ đạo như là “trung tâm điểm ”, “vương quốc sự thật” của nghệ thuật Ông cho rằng: Cảm hứng chủ đạo là biểu hiện của tâm hồn người nghệ sĩ say mê thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần như là xuyên suốt vào nó Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần được xem như là một sản phẩm của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất cả những lực lượng bản thể phổ quát đều được thực hiện” Bêlinxki đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng tác của nhà văn ấy: “Công việc đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê bình là giải đoán cảm hứng chủ đạo của tác phẩm” Theo Huỳnh Như Phương: “Cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác

Trang 32

phẩm, vào thế giới hình tượng, bao gồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật, vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn từ và giọng điệu của một bài thơ, một truyện ngắn, một thiên tuỳ bút hay một cuốn tiểu thuyết” Từ quan điểm này, tác giả khẳng định: “Việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo không phải chỉ căn

cứ trên một bộ phận, một thành tố nào, mà phải căn cứ trên toàn bộ lô gích nghệ thuật của tác phẩm” [48, 210] Như vậy, cảm hứng là một trong những yếu tố chính hợp thành tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo được xem

là “trung tâm điểm”, là “vương quốc sự thật” của nghệ thuật Cảm hứng chủ đạo không chỉ toát ra từ tác phẩm mà còn xuyên suốt toàn bộ sáng tác của một tác giả

2.1.2 Cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Bắc Sơn trong tiểu thuyết

Trước hết cần nói đến cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Bắc Sơn trong

tiểu thuyết Luật đời và cha con

Tiểu thuyết Luật đời và cha con của Nguyễn Bắc Sơn ngay từ khi mới

xuất hiện đã tạo nên một tiếng vang lớn, tạo nên một không khí sôi động, thu hút được sự quan tâm rộng rãi của giới nghiên cứu và bạn đọc Đây là cuốn tiểu thuyết đề cập tới sự chuyển biến của xã hội sau những năm đổi mới, cả nước đang chuyển mình “thay da đổi thịt” để phát triển đi lên, trong đó là những vấn đề mang tính thời sự, cập nhật, đầy ắp chất liệu của đời sống và của con người hiện đại Sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết đã được giới làm phim chú ý và xây dựng thành phim “Luật đời” và được bình chọn là bộ phim truyền hình dài tập hay nhất năm 2007 Khi các hình tượng bước từ trong sách lên màn ảnh, người xem sẽ có cái nhìn cụ thể hơn về các nhân vật trong tiểu thuyết, các nhà làm phim đã bám sát cốt truyện, nhân vật trung thành, đồng hành cộng hưởng, nhân lên ý tưởng, tư tưởng chủ đề của cuốn tiểu thuyết

Giữa những cuốn sách trong và ngoài nước đang được bày bán, Luật đời và cha con với cách viết dung dị nhưng vẫn được nhiều người quan tâm tìm đọc.

Có thể nói viết tiểu thuyết Luật đời và cha con là một cách thức làm

mới mình của Nguyễn Bắc Sơn Năm 1988 ông mới có tập truyện ngắn đầu tiên Đến nay không kể năm tập bút ký, hai cuốn viết về ngôn ngữ giáo dục

Trang 33

văn hóa, mới có thím ba tập truyện ngắn đến truyện vừa, đến truyện dăi Đó

lă quâ trình tự măy mò rỉn luyện, thử nghiệm vă thử sức, cuốn tiểu thuyết đầu tay năy được xem như lă một sự kiện trín văn đăn văn học Lđu lắm mới có một cuốn tiểu thuyết thế sự xông thẳng văo đời sống chính trị như thế năy Trong bối cảnh trăn lan sâch chạy theo thị hiếu tầm thường, nhiều cuốn chẳng

có ý nghĩa xê hội gì thì Luật đời vă cha con lă một tâc phẩm văn học nghiím

túc mang tính thời sự cập nhật, đầy ắp chất lượng của đời sống vă con người hiện đại Để viết được thănh công cuốn tiểu thuyết năy tâc giả phải có đến một vốn sống vô cùng phong phú, một cảm hứng dạt dăo để viết Mấy mươi năm trong nghề lăm bâo Nguyễn Bắc Sơn tích lũy được một vốn sống, vốn hiểu biết khâ phong phú Nhă văn không ngừng tự rỉn luyện để hoăn thiện bản thđn, không ngừng học tập để lăm giău thím vốn hiểu biết của mình Lă một nhă bâo Nguyễn Bắc Sơn được đi nhiều nơi, được tiếp xúc với nhiều hạng người, gặp phải nhiều tình huống vă vấn đề khâc nhau trong xê hội Có

cả niềm vui, nỗi buồn, có những vấn đề khiến nhă bâo vô cùng bức xúc Nhưng nếu dùng bâo để nói thì quâ thẳng, nó đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm trong xê hội, va chạm với nhiều người khi phải nói thẳng nói thật Nhưng ngược lại nếu dùng ngòi bút văn học mă cụ thể lă qua một tâc phẩm văn học mă có thể diễn đạt được điều mình muốn nói mă trânh được những đụng chạm nhiều khi không cần thiết thì nó sẽ hay hơn nhiều Chính vì vậy bằng tiểu thuyết, thông qua tiểu thuyết nhă văn đê thực hiện thănh công dự định của mình Đó lă một quâ trình từ những ấp ủ nung nấu tâc giả cho ra đời đứa con tinh thần của mình Một đứa con được sinh ra từ những va chạm, những sự việc mă người cha được trải nghiệm qua mấy chục năm cầm bút

Thứ hai, ở tiểu thuyết Lửa đắng Đọc Lửa đắng có câi thú vị lă gặp gỡ

ở đđy một cuộc sống thật phong phú trín rất nhiều bình diện Có cảm tưởng nhă văn lă một tâc giả bâch khoa Anh có tầm hiểu biết rộng, vă động vằ lĩnh vực năo cũng có thể băn bạc giải trình một câch thật tỉ mỉ thấu đâo Mô tả hiện thực, vạch ra hướng phât triển câc công tâc Đảng, công tâc chính quyền, công tâc tư tưởng văn hóa, bâo chí, kinh tế, xê hội, giâo dục,y tế, tòa ân, công

Trang 34

an… là một thế mạnh của nhà văn có khuynh hướng hiện thực xã hội này Không những thế, cây bút tiểu thuyết này còn tỏ ra khá già dặn và khéo léo trong cách dẫn dụ, triển khai các tuyến truyện, mở rộng biên độ tình tiết, thâm nhập vào gần như hầu hết các lĩnh vực của đời sống, khêu gợi trí tò mò, thu hút sự say mê của độc giả bằng các kiến thức, các chi tiết kỳ lạ lấy ra từ cái vốn hiểu biết rất đầy đặn của mình Trả lời phỏng vấn báo chí, tác giả bộ tiểu

thuyết 2 tập Luật đời & cha con và Lửa đắng cho biết, ông chỉ là loại công

chức đầu binh cuối cán (phó hiệu trưởng trường cấp 3, trưởng phòng sở) Nhưng số phận lại đặt ông vào vị trí có quan hệ với rất nhiều cơ quan Đảng và chính quyền, đoàn thể, phải đọc các loại báo chí xuất bản trên địa bàn Thủ đô nên có may mắn được đọc nhiều loại báo chí, từ đó lẩy ra những tư liệu cần thiết làm nên chất liệu cho tiểu thuyết sau này

Thật ra khi đọc, ông không có ý thức làm việc ấy (không ghi chép, không lưu trữ) Một cách tự nhiên nó nhập vào bộ nhớ Đến lúc viết, cần huy động loại tư liệu nào thì tư liệu ấy hiện ra cho mình sai khiến thôi Đề tài ông chọn phản ánh trực tiếp là chính trị, là thể chế, thiết chế, cơ chế Đấy là chuyện liên quan đến mọi người dân cộng đồng, nên ai cũng biết Chỉ có quan tâm nhiều hay ít thôi Dễ là thế, mà khó cũng là thế Dễ, bởi ai cũng biết, cũng bàn luận, cũng có chính kiến cả đấy Khó là bởi không mấy ai viết ra điều mình nghĩ Cái khó nữa là phải tiểu thuyết hoá những nghĩ suy của mình bằng cốt truyện tiểu thuyết, nhân vật tiểu thuyết, ngôn ngữ tiểu thuyết, nghệ thuật tiểu thuyết Vẫn những ý tứ ấy, nếu viết dưới dạng những bài báo thì nhàn hơn đấy, nhưng có thể khó được chấp nhận, nhất là khó có sức thuyết phục Vì phải nói thẳng, mà nói thẳng thì dễ mất lòng Ông chọn tiểu thuyết để gửi gắm, nhắn nhe đến bạn đọc, như thế tự nhiên hơn, vào tình cảm người đọc hơn, từ đó mới tác động đến lí trí họ

Thứ ba, ở tiểu thuyết Gã tép riu Trong hàng loạt các tiểu thuyết gia

hiện đại, Nguyễn Bắc Sơn là người đầu tiên đưa nhân vật Tổng Bí thư cùng với những luận đàm, luận điểm ở tầm vĩ mô vào tiểu thuyết Điều này được

dư luận và giới phê bình đánh giá cao tính chính luận và thế sự nhưng ông đã

Trang 35

không tiếp tục thế mạnh ấy Nói về điều này nhà văn Nguyễn Bắc Sơn lý giải:

“Trong tiểu thuyết Lửa đắng, gần như những vấn đề xung quanh cơ chế, thể

chế đang được thảo luận, góp ý kiến cho việc sửa đổi Hiến pháp hiện nay, đều được đề cập trực tiếp hay gián tiếp Chỉ có điều nó được thể hiện có chừng mực Bây giờ, nếu tiếp tục cái mạch ấy thì phải đi đến cùng, mà xã hội lại chưa có tâm thế để giải bài toán tổng hợp này nên phải giải dần từng con tính

Vì vậy phải tạm dừng lại Tôi mới sưu tầm được tư liệu về gái mãi dâm và đang nghĩ cách sử dụng thì nhà văn Ma Văn Kháng khuyên tôi đổi mới đề tài cũng là đổi mới mình Vậy nên tôi đang nghiền ngẫm cho một cốt truyện”

Nhân vật Tùng trong Gã Tép Riu hình như “đảm nhận công việc của

Nguyễn Bắc Sơn” một thời ở cương vị quản lý báo chí xuất bản Theo nhà

văn Nguyễn Bắc Sơn các vụ việc trong Gã Tép Riu khi vào sách là đều có

thực, diễn ra trong vòng hai mươi năm trở lại, giờ vẫn còn nhân chứng Trong tay tác giả còn giữ nhiều vật chứng Chỉ có quan hệ giữa Tùng và hai người đàn bà trong sách là không có thật, hư cấu hoàn toàn “Nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan bảo, sao những truyện hay như thế mà anh không viết ra? Vấn đề là phải làm sao biến những chuyện có thật ấy thành những chất liệu tiểu thuyết Thế là tôi bắt tay vào viết rất nhanh” Cuốn thứ nhất không nhờ ai Đến cuốn thứ hai, Nguyễn Bắc Sơn nhờ một hai người bạn Đến cuốn này thì nhờ nhiều người Bao nhiêu bạn tốt, nhiều người kinh nghiệm đầy mình sẵn sàng hỗ trợ Văn mình vợ người, phải để người ngoài phân tích mới khách quan Nhưng phải có bản lĩnh mới không “đẽo cày giữa đường” Nhà văn Ma Văn Kháng từng khen: “Chương 1 Lửa đắng là những trang văn đạt đến độ chuẩn Nó gieo điệu nhạc cho cả cuốn Nó chuẩn bị hành trình dằng dặc cho các nhân vật, sự kiện” Lần này anh chê: “Ai lại mở thế Dở quá!” Thế là nhà văn lại mất mấy ngày mới viết được cái mở phù hợp Nhà văn Nguyễn Khắc Trường chê cái tên ban đầu Tùng tép riu cứ như chuyện thiếu nhi ấy Thế nên tôi mới đặt là Gã Tép Riu Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều bảo phải làm cho sự đối nghịch giữa hai người đàn bà tăng lên, để Tùng như đứng trước một sự lựa chọn Ý này rất phù hợp với ý của nhà phê bình Chu Thị Thơm là phải làm

Trang 36

cho Diệu Thủy “xấu” hơn nữa, bây giờ loại đàn bà dùng “vốn tự có” để ngoi lên nhiều lắm Thế là nhà văn “bôi” cho Diệu Thủy đen thêm, “tô” cho Dự trắng thêm Sách ra, nhà văn Tô Đức Chiêu chê Nguyễn Bắc Sơn chưa đẩy Thủy đến tận cùng của cái ác, cái xấu Nhưng theo nhà văn loại người ấy chỉ

ác đến thế là thuận với logic cuộc sống Thậm chí ở chị ta vẫn còn chút tự trọng nên đã thừa nhận trước tòa về mấy chi tiết mà kẻ tha hóa đến tột cùng

có thể chối phắt đi Mà cũng phải thừa nhận rằng nhà văn Nguyễn Bắc Sơn biết khá nhiều về gái mãi dâm Lý giải cho những thắc mắc này nhà văn cho rằng: “Xem con người, phải nhìn vào bản chất tâm hồn, thân xác chỉ là cái vỏ

bề ngoài thôi Bẩn thân xác có thể gột rửa sạch được chứ bẩn tâm hồn thì khó lắm”

2.1.3 Cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Bắc Sơn trong tiểu thuyết

Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm Bê-lin-xki coi cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” (Theo Pospelop) [49]

Thuật ngữ cảm hứng chủ đạo lúc đầu chỉ yếu tố nhiệt tình say sưa diễn thuyết, sau chỉ trạng thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ Về sau lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng cảm xúc ở nghệ sĩ đối với thế giới được miêu tả Theo nghĩa này, cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo đem lại cho tác phẩm một cảm xúc tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm Đây là cái mức căng thẳng cảm xúc mà nhờ đó nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm

Từ một nhà báo kỳ cựu trong nghề Nguyễn Bắc Sơn đến với lĩnh vực sáng tác văn chương, đây là một lợi thế lớn đối với ông Những vốn kinh

Trang 37

nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử được tác giả tận dụng triệt để Là nhà văn trẻ tóc bạc, Nguyễn Bắc Sơn đã để lại trong làng tiểu thuyết Việt Nam những tác phẩm mang dấu ấn khó phai mờ Nguyễn Bắc Sơn chọn một đề tài mà ít người lựa chọn, đủ cho thấy vốn sống, vốn hiểu biết của nhà văn là rất rộng Cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Bắc Sơn trong tiểu thuyết chính là những vấn

đề chính trị nóng bỏng Luật đời và cha con xoay quanh câu chuyện của một

gia đình với sự tan rã dần, mai một dần những giá trị truyền thống qua nhiều thế hệ cũng đã thấp thoáng bóng dáng của những vấn đề chính trị - xã hội

nhạy cảm Đến Lửa đắng thì hầu như xuyên suốt tác phẩm tác giả đi sâu vào

khai thác các vấn đề chính trị nóng hổi, bức xúc trong xã hội thời nay: Tình trạng chạy chức, chạy quyền, tham nhũng kèm theo đó là những hệ lụy của

nó, để lại trong lòng người đọc những tâm trạng nhức nhối, xót xa Rất nhiều vấn đề được Nguyễn Bắc Sơn đặt ra trong tác phẩm, những vấn đề nổi cộm, bức xúc trong một xã hội mà nhân cách và đạo đức con người ngay càng suy thoái Thông qua nhân vật chính diện tác giả rung lên một hồi chuông cảnh tỉnh đối với xã hội, với riêng những con người đang dần dần đi vào sự suy thoái đạo đức, làm băng hoại những giá trị tốt đẹp và đang có nguy cơ trở thành những ung nhọt của xã hội Đồng thời tác giả chỉ ra những con sâu đang đục rũa hệ thống chính trị nước nhà, cần được loại bỏ để mang lại sự trong

sạch cho hệ thống chính trị Cũng trong mạch cảm hứng đó nhưng Gã tép riu

lại mang đến cho người đọc một hình dung mới Chỉ là một “gã tép riu” nhưng dám đương đầu với bao nhiêu con người có địa vị và học hàm cao hơn hẳn mình, một con người dám thẳng thắn đấu tranh với cái xấu, cái ác trong

xã hội Trong cuốn tiểu thuyết này tác giả xây dựng một nhân vật đại diện cho những con người dám lên tiếng, dám đấu tranh để chống lại những cái xấu cái

ác trong xã hội này Ở cả ba cuốn tiểu thuyết, Nguyễn Bắc Sơn đều lên tiếng phê phán, tố cáo, vạch mặt những kẻ gây ra những tiêu cực trong xã hội thời nay Ông đã góp thêm một tiếng nói mạnh mẽ, quan trọng trong việc hạn chế những tiêu cực trong xã hội, làm trong sạch hơn hệ thống chính trị nước nhà

2.1.4 Quá trình từ cảm hứng sáng tạo đến ý đồ tạo dựng nhân vật

Trang 38

của Nguyễn Bắc Sơn

Để xây dựng được nhân vật của mình trong tác phẩm nhà văn không phải muốn là làm được ngay mà phải trải qua một quá trình nung nấu, ấp ủ, điều hết sức quan trọng là nhà văn phải có cảm hứng sáng tạo Đó chính là gốc rễ sâu xa, là căn nguyên, là cơ sở để nhà văn xây dựng thành công thế giới nhân vật của mình Là một nhà báo có kinh nghiệm, một vốn sống được tích lũy trải qua hơn nửa đời người cộng với niềm thôi thúc cháy bỏng cả một đời làm báo đã thôi thúc ông viết nên những điều, những sự việc nóng bỏng, gai góc của xã hội trong cơ chế thị trường bị đồng tiền làm khuynh đảo, những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp một thời bị băng hoại Từ cảm hứng sáng tạo đến việc tạo dựng nhân vật là một quá trình cố gắng không ngừng nghỉ của nhà văn

Luật đời và cha con là cuốn tiểu thuyết đầu tay Con đường sáng tác ấy

là phù hợp với quy luật Từ truyện ngắn đến truyện vừa, truyện dài Đó là một quá trình tự mày mò, rèn luyện, thể nghiệm và thử sức Văn hào H Balzac quan niệm đời là một tấn trò Theo Nguyễn Bắc Sơn điều đó là quá đúng Ông nói “Trong tiểu thuyết của tôi, một nhân vật nói thiên hạ ai chả diễn, chỉ có diễn viên là không diễn thôi, chính là anh ta nói theo quan điểm ấy”

Trong Tổng tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, khi nói về truyện ngắn Luật đời, Nguyễn Bắc Sơn có viết: "Tôi cũng như anh, chị, như mọi

người, thất bại ở việc này, không thành công ở việc khác, chính là do anh ta làm không đúng luật, chơi không đúng luật, ứng xử không đúng luật Cho nên trời cho còn viết được, mỗi cuốn sách của tôi sẽ có một tên riêng, nhưng cùng nằm trong bộ luật đời" Sai lầm lớn nhất của chúng ta là bệnh duy ý chí, tức là bất chấp quy luật khách quan Khi lách bút vào phản ánh những mặt trái của

xã hội, bức tranh thu nhỏ của giới quan chức, Nguyễn Bắc Sơn gặp không ít trở ngại, khó khăn “Bởi dù không phiếm chỉ, không ám chỉ nhưng mình cũng thấy động chạm Nhiều người, nhiều chức danh, nhiều tổ chức, nhiều ngành

bị chạm nọc Họ cảm thấy như nói họ Biết thế nào khi sự thật là như thế? Mà như thế nó mới chỉ là hình bóng mờ nhạt của những bóng đen trong cuộc sống

Trang 39

hàng ngày Một vị lão thành cách mạng từng bị tù Sơn La, Hỏa Lò rồi vượt ngục thành công trở thành một cán bộ cao cấp, huân chương độc lập hạng nhì,

đọc xong Luật đời và cha con bảo tôi: "Chưa ăn thua gì, thực tế còn thối nát

hơn thế nhiều" Ông còn viết thư gửi Bộ Chính trị đề xuất nhiều ý kiến Thế

mà tôi vẫn áy náy mới khổ Nhưng nếu không nói thì ai nói? Mình chỉ nói hộ mọi người bằng hình tượng văn học thôi Do đó, nói thật là trở ngại lớn nhất phải vượt qua là chính bản thân mình Chắc sẽ còn những trở ngại từ nhiều phía”

Có một thứ luật bất thành văn đã ăn sâu vào tâm thức con người ở mọi chế độ xã hội, mọi dân tộc, mọi tôn giáo như luật nhân quả, đời cha ăn mặn, đời con khát nước, ông Lê Hoè phải lĩnh đủ đấy Nên về cuối đời, ông vị tha, nhân ái trong việc xử lý vụ Kiều Linh Ở cả hai sự việc, với thằng cháu Lê Cường và sau đó với con trai Lê Đại Việc giáo dục trông nom con cái của vợ chồng Lê Đại, Thụy Miên, cuộc tình vụng trộm của Thụy Miên, tuy có nguyên nhân nội tại của hoàn cảnh sống vợ chồng cũng là nguyên nhân dẫn đến hậu quả thằng con trai Lê Cường sống buông thả Luật đời cả đấy Mối quan hệ ông cháu, cha con, vợ chồng của các nhân vật ấy chịu sự chi phối đồng thời và của những khác biệt về lối sống của mỗi người do đặc điểm xã hội mang lại Cùng sống trong một nhà nhưng ông Lê Hoè mang nặng lối suy nghĩ máy móc, phục tùng của người duy ý chí Anh con trai Lê Đại có lối sống của con người năng động, thực tiến, cố gắng bắt kịp xu thế phát triển của

xã hội Chính anh đã góp phần quyết định tạo nên sự đổi thay trong nhận thức

và hành động của bố mình, để ông sống thật với mình, với mọi người hơn Lê Cường là biểu hiện lối sống hưởng thụ của một bộ phận thanh niên thời @, luôn miệng: Nghĩ làm gì cho già người đi Vì sao trong nhà lại có những lối sống khác nhau đến thế? Mỗi người lại nhận thức cuộc sống theo những thang giá trị nhau Bởi vì chúng ta đang sống trong một thời kỳ đầy biến động Nhưng, gì thì gì ngày mai sẽ hơn ngày hôm nay Bởi đó chính là quy luật muôn đời, chứ không phải là luật của một thời như những thứ luật đen Cuốn tiểu thuyết gắn những vấn đề của số phận cá nhân với câu chuyện của cả tập

Trang 40

thể, chế độ (từ câu chuyện của nhân vật Trần Kiên) Để có được sự thành công này vốn sống là một yếu tố vô cùng quan trọng Mặc dù Nguyễn Bắc Sơn không trải nghiệm qua số phận các nhân vật, nhưng vốn sống trực tiếp thời cải cách ruộng đất, thời quan liêu bao cấp, thời trong quân ngũ và một đời làm công chức đã được huy động vào đây, cộng với vốn sống trực tiếp làm nên máu thịt tác phẩm Nhiều bạn bè trong giới cũng bất ngờ trước điều này Không có nó thì không có cuốn tiểu thuyết này Nó đóng góp khoảng 70 - 80% sự thành công của tác phẩm (Theo tác giả).

Từ một lát cắt ngang với dăm ba nhân vật trong mấy tập truyện ngắn đến một nhát bổ dọc với gần 80 nhân vật trong tiểu thuyết hơn 500 trang, Nguyễn Bắc Sơn vấp phải bao nhiêu vấn đề kỹ thuật Lại viết trong một thời gian tương đối ngắn (hơn 8 tháng) nên bản thảo lần thứ nhất có nhiều chỗ chưa ổn, chủ yếu là các vấn đề kỹ thuật và một số ít vấn đề nội dung Được bạn bè góp ý kiến, ông sửa chữa lại, song vẫn còn nhiều cái đáng tiếc Lẽ ra nhà văn có thể làm tốt hơn

Gấp sách lại, mọi chuyện còn ngổn ngang Ta biết con tạo xoay vần thế nào đâu Những nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn vẫn còn lởn vởn trong đầu óc của mỗi độc giả

2.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

2.1.1 Khái niệm thế giới nhân vật

Khái niệm thế giới nhân vật chỉ tập hợp những con người, những nhân vật trong tác phẩm (cũng có thể là trong chùm tác phẩm, và trong toàn bộ sáng tác của một nhà văn, ) Để tạo thành một thế giới như vậy - nghĩa là một tổ chức mang tính quy mô, chỉnh thể, nhà văn phải thực hiện rất nhiều công việc, thao tác

Nhân vật tiểu thuyết thuộc loại hình nhân vật tự sự Đó là những nhân vật được khắc họa đầy đặn, rõ nét, nhiều mặt, rất sinh động và đa dạng Nhân vật tiểu thuyết là kết quả năng động của qúa trình sáng tạo mang tính cá nhân của nhà văn, nhân vật tiểu thuyết có thể được hư cấu hoàn toàn, có thể bắt nguồn từ một nguyên mẫu ngoài đời, nhưng nó đều là những "nhân vật sống"

Ngày đăng: 20/07/2015, 11:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
[2]. M.Bakhtin (Phạm Vĩnh Cư dịch) (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin (Phạm Vĩnh Cư dịch)
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 2003
[3]. M.Bakhtin (Trần Đình Sử – Lại Nguyên Ân – Vương Trí Nhàn dịch), (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôievxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôievxki
Tác giả: M.Bakhtin (Trần Đình Sử – Lại Nguyên Ân – Vương Trí Nhàn dịch)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
[4]. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại” , Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
[5]. Lê Huy Bắc (2008), “Cốt truyện trong tự sự”, Nghiên cứu văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong tự sự”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2008
[6]. Vũ Bằng (1955), Khảo về tiểu thuyết, Nxb Phạm Văn Tươi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo về tiểu thuyết
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Phạm Văn Tươi
Năm: 1955
[8]. Nguyễn Minh Châu (Tôn Phương Lan sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu), (2002), Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu (Tôn Phương Lan sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
[9]. Phạm Vĩnh Cư (2007), “Văn học và hội họa ở Việt Nam”, Nghiên cứu văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và hội họa ở Việt Nam”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Năm: 2007
[10]. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học – Lí luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học – Lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[11]. Nguyễn Văn Dân (2000), Lí luận văn học so sánh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
[12]. Trần Ngọc Dung (2006), “Đời sống thể loại văn học sau 1975”, Nghiên cứu văn học, số 2, (91) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống thể loại văn học sau 1975”", Nghiên cứu văn học
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Năm: 2006
[13]. Đào Thị Mỹ Dung (2009), “Nội dung phản ánh và tính dự báo trong tiểu thuyết Lửa đắng của Nguyễn Bắc Sơn”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Vinh, số 3B, trang (23 – 31) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung phản ánh và tính dự báo trong tiểu thuyết "Lửa đắng" của Nguyễn Bắc Sơn”, Tạp chí "Khoa học
Tác giả: Đào Thị Mỹ Dung
Năm: 2009
[14]. Đặng Anh Đào (1992), “Nguồn gốc và tiền đề của tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và tiền đề của tiểu thuyết”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1992
[15]. Đặng Anh Đào (1993), “Sự tự do của tiểu thuyết, một khía cạnh của thi pháp”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tự do của tiểu thuyết, một khía cạnh của thi pháp”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1993
[16]. Đặng Anh Đào (1994), “Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1994
[17]. Đặng Anh Đào (1991), “Một hiện tượng mới trong hình thức kể chuyện hiện nay”, Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hiện tượng mới trong hình thức kể chuyện hiện nay”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1991
[18]. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
[19]. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 6, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 6
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
[20]. Phan Cự Đệ (chủ biên), (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[21]. Biện Minh Điền (2008), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w