1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

106 616 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 920,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn, chúng tôi muốn nhận diện một hiện tượng đáng chú ý trong đời sống văn chương nước ta mấy năm gần đây, qua đó tìm hiểu con

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VƯƠNG THÚY HÒA

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Tôn Thảo Miên

THÁI NGUYÊN, 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013

Học viên

Vương Thúy Hòa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn, phòng Quản lý và Đào tạo Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Tôn Thảo Miên, người cô đã luôn tận tình giúp đỡ và động viên rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn trong suốt thời gian qua

Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013

Học viên

Vương Thúy Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 11

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN BẮC SƠN 11

1.1 Khái quát về nghệ thuật tự sự 11

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu 11

1.1.2 Khái niệm nghệ thuật tự sự 14

1.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn 18

1.2.1 Vài nét về tiểu sử Nguyễn Bắc Sơn 18

1.2.2 Sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn 19

1.2.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Bắc Sơn 20

Chương 2: NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN VÀ XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 27

2.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 27

2.1.1.Khái niệm cốt truyện 27

2.1.2 Vai trò của cốt truyện trong tiểu thuyết 28

2.1.3 Cốt truyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 28

2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 33

2.2.1 Khái niệm nhân vật văn học và nhân vật trong tiểu thuyết 33

2.2.2 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 35

2.2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 47

Chương 3: NGƯỜI KỂ CHUYỆN, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 63

3.1 Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 63

Trang 6

3.1.1 Khái niệm người kể chuyện 63

3.1.2 Điểm nhìn trần thuật 63

3.2 Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 73

3.2.1 Ngôn ngữ chính trị - xã hội 73

3.2.2 Ngôn ngữ bình dân đậm chất khẩu ngữ 79

3.2.3 Ngôn ngữ hài hước, dí dỏm 83

3.3 Giọng điệu trần thuật 86

3.3.1 Giọng điệu triết lí 86

3.3.2 Giọng điệu hài hước mỉa mai 90

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tự sự học là ngành nghiên cứu còn non trẻ Nó được định hình từ những năm 1960 - 1970 ở Pháp nhưng đã nhanh chóng vượt biên giới, trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được quan tâm trên thế giới Ở Việt Nam, các công trình về

tự sự học xuất hiện khá muộn và không đồng đều Tuy nhiên, bước đầu đã có thể cung cấp một số công cụ hữu hiệu cho người nghiên cứu Một trong những hướng nghiên cứu thi pháp học hiệu quả vào việc tiếp nhận tác phẩm văn học Việt Nam chính là vận dụng các khái niệm tự sự học

Ngày nay, cùng với sự vận động của đời sống xã hội Việt Nam là sự vận động của tư duy văn học với những biên độ thẩm mĩ mới Tiểu thuyết là nơi hội tụ nhiều khát vọng cách tân và cho thấy khá rõ những mới mẻ trong nghệ thuật tự sự Đặc biệt trong những năm gần đây, xuất hiện một số tiểu thuyết gây được tiếng vang lớn và để lại những ấn tượng sâu sắc cho người đọc bởi sự mới mẻ ở đề tài, cách đặt vấn đề của nhà văn Do vậy, tiểu thuyết được coi là mảnh đất hấp dẫn mời gọi người nghiên cứu vận dụng lí thuyết về tự sự học giải mã tác phẩm

1.2 Nguyễn Bắc Sơn là một nhà văn nổi tiếng và được đánh giá cao trong dòng văn học Việt Nam đương đại Nguyễn Bắc Sơn từng là nhà giáo, nhà quản lý giáo dục, quản lý báo chí Ông có sự từng trải và quan trọng hơn là tha thiết với cuộc đời, bởi thế những trang viết của ông ấm nóng hơi thở của cuộc sống đương đại Ông viết nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, bút ký, tiểu luận và cả báo chí Nhưng có lẽ bạn đọc biết đến nhà văn Nguyễn Bắc Sơn nhiều hơn ở thể loại tiểu thuyết, khi đã chín về tuổi đời tuy vẫn trẻ về tuổi nghề

Dấn mình vào thể loại tiểu thuyết, ông đã đến với thực tế đời sống, cọ xát và

va đập đến tận cùng với cuộc đời, chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong tiến trình đổi mới của đất nước Cơ chế thị trường đang xuất hiện, nhiều giá trị bị đảo lộn, đời sống con người, tư duy và bản lĩnh cũng phải đổi thay để thích ứng với thời cuộc Cũng chính ở thể loại này, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã gặt hái được những thành

công ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tay Luật đời và cha con ra mắt bạn đọc cả nước vào năm 2005 Tiểu thuyết Luật đời và cha con gây được tiếng vang trong dư luận vì

sự mới mẻ ở đề tài, ở cách đặt vấn đề của nhà văn Đó là các vấn đề xã hội với những

Trang 8

bất cập của cơ chế, độ vênh giữa lý luận và thực tiễn đời sống Hay nhiều vấn đề nóng trong cuộc sống hiện đại cũng được thể hiện trong tác phẩm như: chuyện gia đình, chuyện hôn nhân, chuyện tình dục trong cuộc sống hiện đại…Đặc biệt tác phẩm

có tính thời sự cao ở chỗ đặt ra vấn đề: Cần phải thay đổi phương thức Đảng lãnh đạo

sao cho có hiệu quả cao Chính vì điểm mới lạ đó, tiểu thuyết Luật đời và cha con đã

được tổ chức tọa đàm tại báo Văn nghệ, được báo chí viết bài bình luận, phỏng vấn rất nhiều, chủ yếu là khen ngợi (khoảng 20 bài) Tiểu thuyết còn được tái bản tới 3 lần trong sáu tháng (NXB Hội nhà văn 8/2005, NXB Văn học tái bản 10/2005, 3/2006), được giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các hội văn hóa nghệ thuật Việt Nam Liền sau đó, hãng phim truyện truyền hình Việt Nam dựng thành phim

“Luật đời” (26 tập) được khán giả nhiệt tình đón nhận và bình chọn là phim truyền

hình hay nhất năm 2007

Sau thành công đầu tay đến năm 2008, Nguyễn Bắc Sơn lại tiếp tục cho ra

mắt tiểu thuyết Lửa đắng Lần này, hiệu ứng của nó lại còn cao hơn cả Luật đời và

cha con Bởi vì Lửa đắng vẫn tiếp tục dòng cảm hứng tiểu thuyết luận đề, mổ xẻ trực

diện những vấn đề liên quan đến quá trình đổi mới toàn diện trong xã hội, sự đấu tranh

quyết liệt giữa cái cũ và cái mới Những vấn đề Lửa đắng đặt ra gai góc mà hấp dẫn

Hai cuốn tiểu thuyết trên có nội dung chính trị sâu sắc, cho thấy nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã có sự tiếp nối nguồn mạch tiểu thuyết luận đề của Nguyễn Mạnh Tuấn Nhiều nhà phê bình văn học đã so sánh lối viết của Nguyễn Bắc Sơn với

Nguyễn Mạnh Tuấn - tác giả của những Đứng trước biển, Cù lao Tràm… làm sôi nổi văn đàn thời “tiền đổi mới” Lựa chọn khuynh hướng này, Nguyễn Bắc Sơn chứng tỏ ông là một công dân có ‎ý thức cao vì đề cập đến những vấn đề chính trị “nóng” mà

dường như mọi người biết nhưng ngại đụng chạm vì nhiều lí do khác nhau

1.3 Đến nay tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn đã được tiếp cận trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng chưa có công trình chuyên sâu về nghệ thuật tự sự Vì vậy mục đích của đề tài là từ những tri thức lí luận về tự sự, tìm hiểu nghệ thuật tự sự của

tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn Chọn đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn

Bắc Sơn, chúng tôi muốn nhận diện một hiện tượng đáng chú ý trong đời sống văn

chương nước ta mấy năm gần đây, qua đó tìm hiểu con đường vận động cùng những thể nghiệm cách tân của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những ý kiến bàn chung về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Trong văn học Việt Nam đương đ ại, tiểu thuyết chiếm một v ị trí quan trọng

Thể tài này được coi là “cỗ trọng pháo” trong nền văn học Chính vì thế từ giữa thập

kỷ 90, trong bối cảnh hội nhập, tiểu thuyết đã có s ự tìm tòi theo một hư ớng mới, ở đó

“hình thức của tiểu thuyết đã trở thành chủ đề quan trọng”

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã có cách tân cả về nội dung lẫn nghệ thuật, nhất là giai đoạn từ sau đổi mới đến nay Đây là giai đoạn mà văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng có những bước tiến đáng ghi nhận, đội ngũ sáng tác ngày càng đông đúc, số lượng tác phẩm dồi dào, trong đó có những tác phẩm thực sự có giá trị Thực tế đó đòi hỏi giới nghiên cứu phải có sự quan tâm thích đáng đối với thể loại văn học chủ soái này

Trong công trình Văn học Việt Nam sau năm 1975 - những vấn đề nghiên

cứu và giảng dạy do Nguyễn Văn Long và Lã Nhâm Thìn chủ biên, tập hợp khá

nhiều ý kiến khác nhau về tiểu thuyết Xin được điểm qua một số bài viết sau:

Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - nhìn từ góc độ thể loại của Bùi Việt Thắng; Một cách lý giải về thực trạng tiểu thuyết Việt Nam đương đại của Nguyễn Hòa; Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Bích Thu; Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 đến nay của

Nguyễn Thị Bình…

Những công trình, bài viết trên đây đề cập khái quát về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Qua các công trình, bài viết đó, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết Việt Nam đang nỗ lực làm mới thể loại cho thích hợp với hiện thực mới phức tạp, đa chiều Dư luận bạn đọc có chỗ thống nhất, cũng có chỗ xung đột, có cả cái nhìn hoài nghi bi quan nhưng không thể phủ nhận được một thực tế là các nhà văn nước ta đang rất giàu khát vọng cách tân tiểu thuyết Trên cơ sở đó, chúng tôi nhận

diện đóng góp của tác giả Nguyễn Bắc Sơn với hai cuốn tiểu thuyết Luật đời và cha

con và Lửa đắng được đông đảo bạn đọc yêu thích

2.2 Những ý kiến bàn về tiểu thuyết Luật đời và cha con và Lửa đắng

Sau khi xuất hiện trên văn đàn văn học đương đại, hai tiểu thuyết Luật đời và

cha con và Lửa đắng đã được bạn đọc và khán giả đón nhận như một “hiện tượng

Trang 10

mới” Các nhà nghiên cứu phê bình văn học, đạo diễn điện ảnh và cả những bạn đọc

yêu thích văn chương đều có những bài nhận xét, đánh giá Đặc biệt đã có rất nhiều

tờ báo có bài phỏng vấn trực tiếp nhà văn Nguyễn Bắc Sơn như : báo Văn nghệ, An

ninh thủ đô, Nhà báo và công luận, Người lao động Mỗi tác giả quan tâm đến

những khía cạnh khác nhau của tác phẩm

Là một nhà văn được yêu mến, một “hiện tượng” đang diễn ra, nên những bài

viết tìm hiểu về sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn được đăng tải nhiều trên các phương

tiện truyền thông Số lượng bài viết dồi dào, sắc thái, “cấp độ” tình cảm khác nhau,

người viết có thể là nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học chuyên nghiệp hay đơn thuần chỉ là một độc giả yêu thích văn chương

2.2.1 Về tiểu thuyết Luật đời và cha con

Các nhà nghiên cứu phê bình văn học đánh giá tác phẩm ở nhiều khía cạnh nhưng đều thống nhất đánh giá cao thành công nổi bật của tác giả trong việc lựa chọn

đề tài sáng tác mới, xông thẳng vào những vấn đề nóng bỏng, thậm chí có thể là mạo hiểm của cuộc sống hiện đại Chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt một số bài viết đó:

Nhà thơ, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn trên báo Văn nghệ Trẻ số 40 (462)

ngày 2/10/2005 đã khẳng định: “Luật đời và cha con là cuốn tiểu thuyết Việt Nam

đầu tiên mổ xẻ sự vận động của toàn xã hội trong quá trình đổi thay cơ chế , một sự vận động đụng chạm đến từng gia đình, từng số phận” [47, tr.541] Trong bài viết tác

giả cũng thẳng thắn chỉ ra một vài nhược điểm của tác phẩm là một số chương đoạn còn lan man, xô bồ, dễ dãi, chạy theo sự vụ, mượn mồm nhân vật để kể chuyện đời

Nhưng kết luận cuối cùng của bài viết là một lời khen ngợi: “Luật đời và cha con là

một cuốn tiểu thuyết thuyết tình ái - chính trị gai góc và sinh động, một bước cố gắng thể hiện những vấn đề của cuộc sống và con người hiện đại ở góc nhìn mới mang tính luận đề, một cái nhìn trực diện về những diễn biến theo hướng suy đồi của xã hội hôm nay và chia sẻ những khó khăn của những người lãnh đạo có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và năng lực mới” [47, tr.543 - 544 ]

Bài viết Luật đời và cha con của nhà văn Hoàng Minh Tường (Báo Văn nghệ

số 49 ngày 3/12/2005) cho rằng câu chuyện của tiểu thuyết Luật đời và cha con xoay

quanh chuyện của một gia đình song cũng là chuyện của xã hội Những tha hóa của các thành viên trong một gia đình nhìn bề ngoài mẫu mực, những mối quan hệ nhằng

Trang 11

nhịt trong hôn nhân, những vấn đề tham nhũng, tệ nạn xã hội tất cả đều được phản

ánh trong tác phẩm Từ đó Hoàng Minh Tường khẳng định: “Ở lĩnh vực nào, ngòi bút

của Nguyễn Bắc Sơn cũng tỏ ra hoạt náo và giàu chi tiết đời sống” [47, tr.549]

Trong bài Cái nhìn hiện thực và con người trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

in trên Tạp chí Nhà văn số 3/2006, nhà nghiên cứu Bích Thu đã nhận định về thành

công của tác phẩm: Đề tài mới mẻ mang tính thời sự “Luật đời và cha con là cuốn

tiểu thuyết mang tính thời sự cập nhật đầy ắp chất liệu của đời sống và con người đương đại” [47, tr.551]; biết cách xây dựng nhân vật “trong sự soi chiếu từ nhiều điểm nhìn, tạo góc cạnh và chiều sâu cho nhân vật” [47, tr.553]; về kết cấu “thể hiện

rõ cái nhìn mới của Nguyễn Bắc Sơn về cuộc đời và con người” [47, tr.556] thông

qua hai mảng chính : chuyện gia đình với bao phức tạp do sự tác động của xã hội, chuyện xã hội với bao đề tài nhức nhối về tham nhũng, cơ chế ; Cách xây dựng các

tình tiết “bất ngờ, mang đậm yếu tố bi hài làm nổi bật sự đa chiều, đa diện của hiện

thực và con người” [47, tr.557] Bên cạnh những thành công tác giả cũng chỉ ra một

số hạn chế của nhà văn như: có những trang tác giả còn nói hộ nhân vật, văn viết có lúc thô, chưa thật uyển chuyển

Trong chương trình Tác giả và tác phẩm do Đài phát thanh và truyền hình Hà

Nội 1 giới thiệu nhà văn Bắc Sơn, phát sóng 8/8/2009, nhà nghiên cứu Bích Thu cũng

phát biểu về tiểu thuyết Luật đời và cha con như sau: “Với cuốn tiểu thuyết này nhà

văn Nguyễn Bắc Sơn đã đem lại cho người đọc sự hấp dẫn và mang được những vấn

đề mà tiểu thuyết đương đại mặc dù không có những cách tân lớn lao, tác phẩm được viết theo lối tiểu thuyết truyền thống nhưng tính hấp dẫn, hiện đại của đề tài, những thủ pháp nghệ thuật rất chừng mực của anh làm cho tiểu thuyết đến được bạn đọc”

Bài Đi qua ranh giới để tồn tại của Nguyễn Đăng Điệp in trên báo Văn nghệ

ngày 1/4/2006 nhấn mạnh đến đề tài mới mẻ, đến tổ chức và sự lựa chọn cách kể hợp

lí của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn Bài viết cũng khẳng định ý nghĩa thực tiễn và những

thành công ban đầu của Nguyễn Bắc Sơn: “Vấn đề anh đặt ra trong tác phẩm này

gai góc hơn nhiều: Cần có sự chuyển đổi phương thức lãnh đạo đất nước trong đội ngũ Đảng viên sao cho phù hợp với những thay đổi của đời sống, phải nhanh chóng xem lại văn hóa Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường Đây là vấn đề nóng Nóng đến mức nhiều người chỉ bàn mà ngại đụng bút Đọc Luật đời và cha con, vì thế ta

Trang 12

như được tiếp xúc trực tiếp với những luồng điện nằm sẵn trong đời, được thấy phù

sa đời sống chạm vào xúc giác của mình, được hít thở vị mặn của cuộc sống đang diễn ra trước mắt ta từng phút giây” [47, tr.563 - 567]

Tác giả cũng có ý kiến phát biểu trực tiếp, đánh giá thỏa đáng những thành công của nhà văn: về mặt tư duy tiểu thuyết, tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn là tiểu thuyết mang tính luận đề, thông thường những tiểu thuyết luận đề thì khô khan nhưng Nguyễn Bắc Sơn đã biết mềm mại hóa, biết làm cho nó có khả năng chinh phục người đọc Bởi lẽ cách tổ chức các tuyến sự kiện, tuyến nhân vật, ngôn ngữ rất gần gũi với đời sống Chính điều này mang lại sự tươi mới cho tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn

Nhà phê bình văn học Nguyễn Chí Hoan có bài Một cuốn tiểu thuyết về đổi

mới in trên báo Người Hà Nội ngày 31/3/2006 nói về những điểm đổi mới của Luật đời và cha con gồm: Vấn đề xã hội mới được nói đến, tác phẩm được triển khai theo

hình mẫu ngôn ngữ tiểu thuyết hiện thực “truyền thống” - “Cuốn tiểu thuyết này đặt

trọng tâm và dựa cả vào nhân vật và cốt truyện, trong đó phần của các nhân vật có vai trò lấn át” [47, tr.573], điểm nhìn mới của cuốn tiểu thuyết “chính là nhìn vào một khía cạnh hiển nhiên nhưng không phải lúc nào cũng được chú ý”

Trong buổi thảo luận về tiểu thuyết Luật đời và cha con do báo Văn nghệ tổ

chức ngày 26/12/2006 có rất nhiều ý kiến phát biểu trực tiếp, khen ngợi thành công của cuốn tiểu thuyết Nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam phát biểu:

“Tác phẩm của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã thành công về mặt thể loại” [47, tr.580]

Nhà phê bình Lê Quang Trang cho rằng: “Thành công đáng chú ý nhất của cuốn tiểu

thuyết là tác giả dũng cảm và sắc sảo trong việc phô bày những vấn đề của xã hội Tác giả đã thông qua hình tượng nghệ thuật để nêu những bất cập của cơ chế, nêu độ vênh giữa lý luận và thực tiễn đời sống” [47, tr.581] Nhà văn Phạm Ngọc Tiến đánh

giá cao ý nghĩa thời sự của tác phẩm, theo ông: “Văn đàn năm nay có một số sự kiện,

trong đó có cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn Lâu lắm mới có một cuốn tiểu thuyết thế sự, xông thẳng vào đời sống chính trị như thế này” [47, tr.582] Nhà thơ,

nhà phê bình Nguyễn Hoàng Sơn đánh giá: “ Luật đời và cha con dễ đọc, đọc được

một mạch Tác giả hiểu biết nhiều, không lên gân Viết thành thực” [47, tr.583]

Cùng với quan điểm trên là quan điểm của nhà văn Dạ Ngân: “… cũng như Luật đời

Trang 13

và cha con của Nguyễn Bắc Sơn được đọc hiện nay là nhờ vấn đề gai cạnh, nóng sốt”

[47, tr.584]

2.2.2 Về tiểu thuyết Lửa đắng

Lửa đắng chỉ được giải ba trong cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba (2006-2010),

nhưng nó là một trong những tác phẩm được dư luận quan tâm nhiều nhất Các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đều đánh giá cao thành công của tác phẩm, và cho rằng nét nổi bật là sự mới mẻ về đề tài Nhà văn đã đề cập đến những vấn đề bất cập trong

cơ chế hành chính và những vấn đề xã hội ở nước ta, vấn đề này đã được triển khai ở

Luật đời và cha con , nhưng được khai thác sâu hơn trong Lửa đắng

Nhà văn Vũ Duy Thông, khi viết thay lời giới thiệu cho cuốn sách Lửa đắng

đã viết: “Những nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn đều đại diện cho một

loại cán bộ, đảng viên, công chức nào đó Nhưng vượt lên những ước lệ mòn sáo, những nhân vật này không chỉ gánh vác trách nhiệm đại diện của mình mà còn tồn tại như một con người cụ thể, có vui buồn, yêu, ghét; khát vọng cao cả và dục vọng thấp hèn; tự tin và tự ti; thành công và thất bại… Các nhân vật của ông tồn tại như người đang sống quanh ta, bởi thế, có lẽ là lần đầu tiên một cách có hệ thống, trong tiểu thuyết đương đại, người đọc được hé mở tấm màn của chủ nghĩa sơ lược để tiếp cận với lớp người vẫn thường được gọi là “quan” trong xã hội với tấm chân dung chân thực của nó” [51, tr.8 - 9]

Phạm Xuân Nguyên khi giới thiệu Sách hay - lan toả tri trức đã có bài

“Lửa đắng và tiểu thuyết chính trị” Bài viết khẳng định Lửa đắng là một tiểu thuyết

chính trị Tiểu thuyết đã “đưa người cán bộ đảng viên làm nhân vật trung tâm, và có

thể nói ông là người đầu tiên dựng nên hình tượng người Tổng bí thư Đảng trong tác

phẩm văn học”

Bích Thu cũng có lời nhận xét khích lệ, biểu dương: “Nguyễn Khoa Điềm có

tập thơ tên “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm” nhưng đây lại là Lửa đắng Nó đặt ra trước mắt chúng ta rất nhiều vấn đề nóng, nhiều vấn đề bức xúc về cơ chế, về đổi mới tư duy, về cải cách hành chính mà anh Nguyễn Bắc Sơn đã đưa tất cả vào trong tác phẩm của mình Nói là tiểu thuyết chính trị, có thể nói là tiểu thuyết luận đề, ngay tên Lửa đắng đã là tiểu thuyết luận đề, hoặc những vấn đề đặt ra đã mang tính luận đề Cái điều đáng nói ở đây là những nhân vật trong Lửa đắng không phải là cái loa

Trang 14

phát ngôn của tác giả Những nhân vật hiện lên rất sống động, là những hình tượng nghệ thuật đều nói lên điều mà nhà văn tâm huyết”

Bài Cuộc trở dạ đau đớn của Đào Thị Mĩ Dung in trên báo Văn nghệ số 39 ra

ngày 26/9/2009 đã đề cập tới một số khía cạnh chính của tác phẩm: Đó là vị đắng của

cuộc sống được phản ánh qua Lửa đắng Vị đắng của cơ chế mua bán càng ngày

càng ngấm sâu vào lòng độc giả, chà sát bao nhiêu tấc lòng còn nặng trĩu ưu tư về tương lai đất nước Đó là trận chiến cải cách xã hội được thể hiện qua hình tượng

nhân vật Trần Kiên - người đã thực hiện: “ nhất thể hoá hai vai trò trong một cương

vị trở thành một giải pháp tránh những bất cập trong công tác quản lí, lãnh đạo; đồng thời bắt buộc người lãnh đạo phải luôn ý thức vai trò của mình trước Đảng và chính quyền” [7]

Trong cuộc tọa đàm về cuốn tiểu thuyết Lửa đắng của nhà văn Nguyễn Bắc

Sơn (ngày 5/9/2011) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, có rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình từ các nơi đến dự như: Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Quang Thiều, Phong Lê, Trần Đình Sử, Lê Thành Nghị, Bích Thu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Hoàng Sơn, Phạm Xuân Nguyên… nhiều bản tham luận đã được

trình bày, nhiều ý kiến trao đổi về đề tài, về nội dung của Lửa đắng đã diễn ra Cụ

thể: Tham luận của nhà phê bình Lê Thành Nghị cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết viết

về đời sống hiện đại với nỗi đau trước cái ác và sự lộng hành của đồng tiền đang làm biến dạng một bộ phận xã hội, nhưng không làm độc giả mất niềm tin vào cuộc đời Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận định, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã dám dũng cảm “xông vào” thể nghiệm một đề tài mang tính thời sự nóng bỏng hiện nay: cơ chế thị trường

đã xâm nhập một cách mạnh mẽ vào các phương diện: quản lí - tri thức và giáo dục

Lửa đắng là một tác phẩm tiên phong đưa ra cái nhìn mới về những giá trị cũ, hệ tư

duy cũ, cơ chế cũ… như một điều đáng báo động vẫn còn đang tiếp diễn trong cuộc sống hiện nay Có tham luận lại nói về cách dàn dựng các tuyến nhân vật đối lập nhau của cuốn tiểu thuyết trong thế cờ cải cách hành chính

Nhà văn Ma Văn Kháng có bài Lửa đắng bức toàn cảnh hôm nay in trên báo Văn nghệ số 19(12/5/2012) Bài viết nhận định Lửa đắng viết về rất nhiều vấn đề của cuộc sống hôm nay, về chuyện của một gia đình, chuyện của toàn xã hội: “Đọc Lửa

đắng có cái thú vị là gặp gỡ ở đây một cuộc sống thật phong phú trên rất nhiều bình

Trang 15

diện…Nói thế là để đi đến một nhận xét căn bản nữa: Lửa đắng qua miêu tả hiện thực một đơn vị thành phố mang tên Thanh Hoa có cái vóc dáng và tham vọng trở nên một bức họa toàn cuộc ngày hôm nay” [19] Nhà văn cũng ghi nhận, với Lửa đắng, Nguyễn Bắc Sơn đã “đẩy cuốn sách vào giữa dòng đời sôi sục đổi mới của ngày hôm nay”

Bên cạnh đó còn có một số bài phỏng vấn trực tiếp nhà văn Nguyễn Bắc Sơn

về Lửa đắng như : Sức khoẻ và đời sống có bài Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn: ngọn lửa

văn chương là thuốc đắng, Việt Báo.vn có bài Lửa đắng sẽ bùng cháy,

Tuanvietnam.net có bài Tiểu thuyết Lửa đắng - bức tranh tha hoá quyền lực, An ninh thủ đô với bài Sau Luật đời và cha con là Lửa đắng,…Các bài phỏng vấn đó đều có

sự động viên, khích lệ nhà văn Đồng thời thông qua những tâm sự của chính tác giả

để làm rõ nội dung tác phẩm về đề tài, cách xây dựng nhân vật, ý đồ sáng tác…

Điểm lại những bài nghiên cứu, phê bình, những ý kiến phát biểu, thảo luận về hai tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn, chúng tôi nhận thấy:

Hầu hết các bài viết đều khẳng định tài năng và giá trị tác phẩm của Nguyễn Bắc Sơn, tuy còn đôi chỗ khác biệt nhưng về cơ bản là thống nhất Hầu như các khía cạnh thành công của tác giả về cả nội dung và nghệ thuật đều được đề cập Song vì mới chỉ dừng lại ở phạm vi các bài nghiên cứu, bài báo, ý kiến phát biểu, phỏng vấn… nên các tác giả chưa có điều kiện để đi sâu lí giải toàn diện, cụ thể về đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn và những đóng góp của ông cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Chúng tôi xin tiếp thu tất cả ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà văn, nhà báo, bạn đọc về tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn Đó là những gợi mở quý báu để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu trong luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn về các mặt nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật tổ chức trần thuật Qua đó góp phần làm sáng rõ những đặc điểm cơ bản, những nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật

tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Xác định những khái niệm liên quan đến nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết

Trang 16

- Tìm hiểu về nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

- Tìm hiểu về người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn qua nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật tổ chức trần thuật

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát chủ yếu hai cuốn tiểu thuyết gây

tiếng vang của Nguyễn Bắc Sơn, đó là Luật đời và cha con (Nhà xuất bản Văn học, 2008) và Lửa đắng (Nhà xuất bản Lao động, 2011), đồng thời có so sánh với một số

tiểu thuyết cùng thời của một số tác giả khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương pháp sau: 5.1 Phương pháp thống kê - phân loại

5.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu

5.3 Phương pháp hệ thống - loại hình

5.4 Phương pháp phân tích- tổng hợp

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nội dung được chia làm ba chương:

Chương 1: Khái quát về nghệ thuật tự sự và sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn Chương 2: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

Chương 3: Người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn tìm hiểu Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn nhằm

chỉ ra những đặc điểm cơ bản, những nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

Trang 17

NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SÁNG TÁC

CỦA NGUYỄN BẮC SƠN 1.1 Khái quát về nghệ thuật tự sự

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu

Hội thảo tự sự học đầu tiên ở nước ta (2001- khoa văn, ĐHSPHN) và sau đó là

việc xuất bản công trình Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb ĐHSP,

2003) dường như đã góp phần chính danh trong tiếng Việt tên gọi một chuyên ngành nghiên cứu văn học quan trọng ở Âu - Mĩ, chuyên ngành Tự sự học - Narratology

Tự sự học là một lĩnh vực tri thức rộng lớn, có lịch sử lâu đời Tuy chủ nghĩa cấu trúc và tiền thân của nó là trường phái hình thức Nga đã làm cho lý thuyết tự sự trở thành một học vấn có hệ thống chặt chẽ, nhưng kiến thức về tự sự đã không ngừng được khám phá từ xưa đến nay

Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan, hay nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc Tên gọi Tự sự học -Narratology, Narratologie, là do nhà nghiên cứu Pháp gốc Bungari Tezvetan Todorov

đề xuất năm 1969, trong sách Ngữ pháp “Chuyện mười ngày” Cái mà Todorov gọi

là ngữ pháp ở đây chính là kết cấu tự sự của tác phẩm Thực ra nghiên cứu cấu trúc tự

sự là một truyền thống lâu đời trong văn học phương Tây Hoàn toàn có thể xem Thi pháp học của Aristotle là một trong những khởi đầu của truyền thống đó Trong quá trình phát triển, nó đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong ngành tự sự học, trong khoa văn học và trong các khoa học nhân văn; là một bộ môn nghiên cứu liên ngành, có tính quốc tế

Bản chất của tự sự ngày nay được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát ra đơn phương trong quá trình giao tiếp, văn bản tự sự là cụm thông tin được phát ra, và tự sự có thể thực hiện bằng nhiều phương thức, con đường Song trong các hình thức tự sự, có thể nói tự sự trong văn học là phức tạp nhất và là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của tự sự học Nó không chỉ có trong truyện ngắn, tiểu thuyết mà còn có trong thơ, kịch

Trang 18

Lý thuyết tự sự ngày càng được quan tâm hơn trên phạm vi thế giới bởi nó là công cụ cơ bản nhất, sắc bén nhất để giúp ta có thể đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa Lý thuyết tự

sự có thể coi như một bộ phận không thể thiếu trong hành trang nghiên cứu văn học ngày nay Nó là một bộ phận cấu thành của hệ hình lí luận hiện đại

Tự sự học hiện đại cho thấy rõ vai trò của chủ thể trong trần thuật khi phân biệt kể cái gì và kể như thế nào Lần đầu tiên nó làm cho người trần thuật vô hình vốn

ít được người ta chú ý phân tích, được hiện ra như là một hệ thống biểu đạt Lý thuyết

tự sự cũng chỉ ra kết cấu của các tầng bậc trần thuật và theo đó xuất hiện các kiểu người trần thuật khác nhau Lý thuyết tự sự hiện đại đã nêu ra các khái niệm về góc nhìn, điểm nhìn…điều đó giúp phân tích, nhận dạng hình thức tự sự Tự sự học hiện đại có thể được chia làm ba thời kì: tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa

Trước cấu trúc chủ nghĩa, tự sự học nghiên cứu các thành phần và chức năng của tự sự B.Tomasepxi, năm 1925, đã nghiên cứu các yếu tố và đơn vị của tự sự V.Shklovski chia truyện thành hai lớp: chất liệu và hình thức V.Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng tự sự trong truyện cổ tích (1928) Từ những năm 20 của thế kỉ trước, Bakhtin đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn từ trần thuật

và tính đối thoại của nó Họ trở thành những người mở đường cho tự sự học hiện đại

Ở phương Tây, với sáng tác của Flaubert ở thế kỉ XIX, cũng như sáng tác của Henry James (Mĩ) và M.Proust (Pháp) ở đầu thế kỉ XX, người ta đã biết rằng trong tiểu thuyết sự kiện không phải là cái quan trọng nhất, mà quan trọng nhất là ý thức, là

phản ánh tâm lí của nhân vật đối với sự kiện, từ đó người ta quan tâm tới “trung tâm

ý thức”, chi tiết trong tiểu thuyết phải lọc qua trung tâm ý thức của nhân vật mới bộc

lộ ý nghĩa Từ đó, các vấn đề điểm nhìn, dòng ý thức được đặc biệt quan tâm với Percy Lubock (1921), K.Friedemann (1910) Về sau các vấn đề này còn được phát triển bởi một loạt tác giả Âu, Mĩ khác như J.Pouillon, A.Tate, CI.Brooks, T.Todorov, G.Gennette… Những tìm tòi này gắn với ý thức về kĩ thuật của tiểu thuyết

Giai đoạn thứ hai của lí thuyết tự sự là chủ nghĩa cấu trúc, đi tìm mô hình cho

hình thức tự sự, mở đầu với công trình Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R.Barthes năm 1968 và “S/Z” năm 1970 (tác phẩm này đã bắt đầu chuyển sang hậu

Trang 19

cấu trúc chủ nghĩa); T.Todorov có tác phẩm Ngữ pháp “Chuyện mười ngày”… Sơ khởi của quan niệm này là hình thái học truyện cổ tích của Propp, tiếp theo là nghiên

cứu cấu trúc thần thoại của Claude Levi-Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ của Roman Jakobson Đặc điểm của lí thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ Todorov xem nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ, trong chủ nghĩa hiện thực thì tình tiết thuộc thức chủ động, còn trong thần thoại là thuộc thức bị động… A.J.Greimas vận dụng sự đối lập trục liên kết và trục lựa chọn để nghiên cứu cấu trúc tự sự G.Genette tuyên bố mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu - chủ yếu là vị ngữ động từ vì ông sử dụng tràn lan các thuật ngữ ngôn ngữ học R.Barthes cũng tán thành quan điểm đó Mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự nhằm tìm một cách đọc tự sự mà không cần đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan Mặc dù không phủ nhận được mối quan hệ văn học với đời sống, nhưng họ đã góp phần làm sáng tỏ bản chất biểu đạt và giao tiếp của tự sự Song sự lạm dụng mô hình ngôn ngữ học đã làm cho

tự sự học gặp khó khăn, và chính Todorov cũng vấp phải thất bại, bởi ông chỉ quan tâm ngữ pháp tự sự hơn là văn bản tự sự

Giai đoạn thứ ba của tự sự học là gắn liền với kí hiệu học, một bộ môn quan tâm tới các phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ sở (Jean - Claude Coquet) Ở đây, hình thức tự sự là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm

Tư tưởng này gắn với việc phân tích ý thức hệ của M.Bakhtin Các tác giả như Iu.Lotman, B.Uspenski, cũng theo hướng này, nhìn thấy đằng sau điểm nhìn một lập trường quan điểm xã hội thẩm mĩ nhất định Đặc điểm của lý thuyết tự sự hiện nay, tuy cũng coi trọng phân tích hình thức nhưng không tán thành việc sao phỏng giản đơn các mô hình ngôn ngữ học mà đi theo kí hiệu học và siêu kí hiệu học Pierre Macherey, nhà mácxít Pháp cho rằng bất cứ sự đồng nhất nào giữa phê bình văn học với ngôn ngữ học đều sẽ thất bại, bởi nó bỏ qua vai trò tác động của hình thái ý thức, còn Iu.Lotman cho rằng thông tin ngôn ngữ là thông tin phi văn bản, mà điểm xuất phát của văn bản lại chính là chỗ bất cập của ngôn ngữ khiến nó trở thành văn bản Nếu văn bản trở về với ý nghĩa của ngôn ngữ học thì có nghĩa là sự sụp đổ của văn hóa Như thế lý thuyết tự sự phải gắn với chức năng nhận thức và giao tiếp

Trang 20

Tổng quan quá trình phát triển của lý thuyết tự sự, nhà lí luận tự sự Mĩ Gerald Prince chia làm ba nhóm theo ba loại hình Nhóm một là những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V.Propp, trong số này có Greimas, ông đã giản lược số chức năng của Propp xuống tới con số 20 và làm nổi bật lôgic tự sự Các tác giả như Todovov, Barthes, Remak, Norman Friedman, Northrop Frye, Etienne Souriau…, mỗi người một cách, chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, đi tìm mẫu cổ của tự sự, chức năng của biến cố và quy luật của tổ hợp, lôgic phát triển và loại hình cốt truyện… Khi cực đoan nhất họ cho rằng tác phẩm tự sự không chi phối bởi chất liệu Một câu chuyện có thể kể bằng văn học, điện ảnh, ba lê, hội họa…đều được, do đó bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trưng biểu đạt của chất liệu Nhóm thứ hai lấy G.Genette làm tiêu biểu đã xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt, cho nên vai trò của người trần thuật được coi là quan trọng nhất Họ chú ý lớp ngôn từ của người trần thuật với các yếu tố cơ bản như điểm nhìn, giọng điệu… Đây là nhóm đông nhất thu hút nhiều nhà nghiên cứu như Dolezel, Micke Bal Nhóm thứ ba đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman, họ coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể, hay dung hợp J.Culler cũng thuộc phái này, ông coi trọng cả cấu trúc sự kiện lẫn cấu trúc lời văn Nghiên cứu tự sự đang là một xu thế có nhiều triển vọng trong lý luận văn học và có

ý nghĩa văn hóa rộng lớn

1.1.2 Khái niệm nghệ thuật tự sự

Trong Từ điển tự sự học (University of Nebraska Press xuất bản 1987), mục từ Narratology của Gerand Prince có hai định nghĩa:

Định nghĩa 1: Lí thuyết về tác phẩm tự sự ra đời dưới ảnh hưởng của Chủ nghĩa cấu trúc Narratology nghiên cứu hình thức, quy luật vận động, tính chất của các tác phẩm tự sự với các chất liệu khác nhau, nghiên cứu năng lực tự sự của chủ thể sản sinh và đối tượng tiếp nhận tác phẩm tự sự Các bình diện mà nó tìm hiểu bao gồm

“nội dung câu chuyện” và “hình thức trần thuật” cùng mối quan hệ giữa hai cái đó

Định nghĩa 2: Nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt văn

tự đối với sự kiện câu chuyện (tiêu biểu là G.Genette) Trong nghĩa hạn định này, narratology không quan tâm bản thân câu chuyện, mà tập trung sự chú ý vào thoại ngữ tự sự

Trang 21

Như vậy có thể thấy, Narratology trong định nghĩa thứ nhất chính là một lí luận tổng quát liên quan đến mọi tác phẩm tự sự trong một trọn vẹn chỉnh thể và quá trình Chúng ta có thể hiểu bao quát rằng, mọi tác phẩm tự sự ở đây là chỉ tất cả các loại hình và dạng thức tự sự, cho dù là tự sự trên/bằng/với chất liệu/phương tiện nào chứ không chỉ là ngôn từ lời nói Nó cũng nghiên cứu hai đầu của cái quá trình giao tiếp tự sự đó - chủ thể sản sinh tự sự và kẻ tiếp nhận tự sự Đó không chỉ là hình ảnh một người nói/viết và bên kia, hình ảnh người đọc/người nghe Tất cả các tác phẩm tự

sự đều vật chất hoá thành một dạng “văn bản” bởi những chủ thể tác giả tồn tại/hiển hiện trên những cấp độ bao hàm nhau “kể” cho những đối tượng thụ nhận cũng tồn tại /hiển hiện trên những cấp độ bao hàm tương ứng một “câu chuyện”

Narratology trong định nghĩa thứ hai có một sở chỉ hạn định hơn Nó nghiên cứu văn học tự sự ( tiểu thuyết, truyện kể là thực liệu điển hình) Thậm chí nó còn tiếp tục giới hạn sự quan tâm trong phạm vi hình thức biểu đạt câu chuyện bằng lời văn tự Ở đây nhắc đến G Genette như là đại diện tiêu biểu của khuynh hướng tự sự

học này Ta đều biết tác phẩm đại biểu của Gérard Genette là Thoại ngữ tự sự (Discours du recit Seuil, 1972 J.E.Lewin dịch ra tiếng Anh Narrative Discourse

Ithaca: Cornell Univ Press, 1980) Trong đó Genette đề xuất khái niệm ngữ thái, phân xuất thoại ngữ trần thuật và hành động trần thuật từ cái thực thể mà chẳng hạn Mieke Bal (Hà Lan) cũng gọi bằng tiếng Pháp là văn bản tự sự (texte narratif) Những tác phẩm tự sự bằng/trên chất liệu khác dĩ nhiên không liên quan đến khái niệm ngữ thái của Genette

Tự sự học hiện đại cố gắng khu biệt narrative và naration như là khu biệt giữa

“chuyện kể ra” và “hoạt động kể chuyện” Người ta giả định rằng mọi chuyện trên

đời cho tới trước lúc được kể nên lời là cứ tồn tại trong trạng thái “vốn thế” Và những sự - việc tồn tại “vốn thế” đó không phải là narrative (tạm gọi là truyện kể, hoặc chuyện kể - trong cách nói “chuyện kể rằng ”) mà là story (tạm gọi là chuyện, câu chuyện, trong cách nói “có một câu chuyện ”) Các học giả Trung Quốc gọi cái này là “cố sự” (với nghĩa “chuyện đã xảy ra” - nhấn mạnh yếu tố “cố” (tạm lấy đầu

đề Cố sự tân biên dịch theo cách của Trương Chính - Chuyện cũ viết lại để minh hoạ cho ý này) Sau khi ta thuật ra/kể nên “chuyện đã xảy ra” đó thì mới có kết quả

hiện trình narrative, tức là một câu chuyện do hình tượng một người trần thuật

Trang 22

hướng về độc - thính giả từ một góc độ nào đó, tồn tại trong một kết cấu ngôn từ nhất định Công việc đó trở nên có khả năng chính là nhờ hoạt động naration Chung quy, naration dịch thành “thuật kể/trần thuật/kể chuyện” chỉ hoạt động, còn narrative dịch

thành “tự sự/ truyện kể”, chỉ kết quả của hoạt động narration, cái kết quả “chuyện

kể ra” hoặc nói chính xác hơn “chuyện có được nhờ kể, chuyện nhờ kể mà nên” Vì

nói “câu chuyện” sợ người ta vẫn nghĩ đến “chuyện đã xảy ra” chưa từng kể đến chứ không phải là những “chuyện xưa kể rằng” - sản phẩm thường thấy trong nền văn

hoá đọc Thế nhưng, những rào đón như thế này thường cũng khó mà tự mình kín kẽ

Ta hoàn toàn có thể cật vấn rằng, vậy làm thế nào để biết đến những “cố sự ” đó? Huống hồ có cho đó là “sự cố” hay không lại còn là một chuyện khác Làm thế nào

để biết đó là những sự - việc tồn tại “vốn thế” (sự - việc dưới “dạng bản lai chân

diện mục”) trong “thực tế hiện thực” Cái “câu chuyện/story/histoire/cố sự” theo

nghĩa này phải được hiểu là những kết cấu sự kiện có tính cách “khách quan” chưa

từng kinh qua bất cứ biểu thuật nào và vì thế không chịu bất cứ ảnh hưởng của một

lập trường quan điểm hay sự “nhào nặn” của hình thức biểu thuật Trên thực tế những câu chuyện ta đọc được, nghe được không thể còn có “tính khách quan” giả

tưởng đó được nữa Tự sự học giải cấu trúc dường như muốn đi đến cùng trong vấn

đề này Các nhà tự sự học giải cấu trúc cho rằng chúng ta (cả độc giả lẫn nhà viết truyện) chỉ có thể tiếp xúc với câu chuyện thông qua thoại ngữ tự sự đã sản sinh nên

nó Họ cho rằng tự sự học giả định sự kiện tồn tại trước thoại ngữ nói về hoặc biểu đạt chúng Vì vậy đã kiến lập nên một trật tự tầng bậc Thế nhưng tác phẩm tự sự trong quá trình vận tác thường lật nhào trật tự đó Các tác phẩm tự sự không phải là biểu đạt sự kiện như là biểu đạt sự thực đã biết, mà là biểu đạt chúng như là sản vật của sức mạnh hay yêu cầu của thoại ngữ

Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự Nó quan tâm đến nhiều vấn đề khác nhau của tác phẩm

Tác giả không bao giờ hiện diện trong tác phẩm như là một người kể, người

phát ngôn, mà chỉ xuất hiện như là một tác giả hàm ẩn, một cái “Tôi” thứ hai của nhà

văn, với tư cách là người mang hệ thống quan niệm và giá trị trong tác phẩm Tác giả thực sự xuất hiện chỉ như người ghi, người sao lục lời kể hoặc là người nghe trộm người kể Người trần thuật là kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể Và hành vi trần

Trang 23

thuật là hành vi của người trần thuật đó mà sản phẩm là văn bản tự sự Người trần thuật trong văn bản văn học là một hiện tượng nghệ thuật phức tạp nhất mà ngôi kể chỉ là hình thức biểu hiện ước lệ Người trần thuật vốn không có gì là ngôi kể, mà chỉ

là chủ thể kể Sự khác biệt của “ngôi thứ nhất”, “ngôi thứ ba” chỉ là khác nhau về

mức độ bộc lộ và ẩn dấu của người trần thuật mà thôi Sự ẩn dấu của ngôi kể thứ ba làm cho nó gần như là vô nhân xưng Ngôi kể là yếu tố tạo thành tiếng nói, giọng điệu Điều quan trọng nữa là kể theo điểm nhìn nào Đây là vấn đề tiêu cự trần thuật làm phân biệt các hình thức tự sự khác nhau

Ý thức chủ thể tự sự cũng là một hiện tượng phức tạp, nhiều tầng, bao gồm tác giả hàm ẩn, người trần thuật (có thể nhiều vai) và nhân vật (có thể nhiều người) Từ

đó, cấu trúc tự sự có nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu, có tính đối thoại, một vấn đề

đã được M.Bakhtin nêu lên

Lí thuyết tự sự hiện đại lần đầu tiên làm cho người trần thuật vô hình vốn ít được người ta chú ý phân tích, được hiện ra như một hệ thống biểu đạt Nó cho người

ta thấy người trần thuật đã can dự vào tiến trình tự sự như thế nào, từ hình thức đến bình luận

Lí thuyết tự sự đã chỉ ra kết cấu và tầng bậc trần thuật, mà người trần thuật ở bậc càng cao thì càng xuất hiện sau Nhiệm vụ của nó là cung cấp, giới thiệu người trần thuật ở bậc thấp, phân biệt trần thuật chính, trần thuật phụ, siêu tự sự (super narative) là biện pháp che giấu tính hư cấu và do đó, gia tăng khả năng hư cấu cho tiểu thuyết Tự sự càng phát triển thì siêu tự sự cũng phát triển theo, xuất hiện các kiểu người trần thuật khác nhau

Lí thuyết tự sự cho thấy rõ sự biến dạng thời gian bằng các biện pháp rút gọn, tỉnh lược, kéo dài, dừng lại, lặp lại và các hình thức đổi thay tính liên tục của sự kiện

Từ đó nó giúp quan sát cụ thể cơ chế của nghệ thuật tự sự

Lí thuyết tự sự học hiện đại đã nêu ra vấn đề phương vị hay nói cách khác là góc nhìn (narrative perspective) với điểm nhìn, tiêu cự trần thuật với mô hình trần thuật Nó cũng nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ tự sự và các hình thức của nó Bao gồm việc phân loại các cách chuyển thuật ngôn ngữ người khác, như trực tiếp, gián tiếp tự do, các hình thức độc thoại nội tâm, dòng ý thức Tự sự học gắn chặt với phong cách học tiểu thuyết Ngày nay người ta không thể nghiên cứu phong cách học

Trang 24

tiểu thuyết mà bỏ qua các vấn đề của tự sự học Tự sự học hiện đại đang tiếp tục nghiên cứu cấu trúc tình tiết, đơn vị cơ bản của tự sự, các kiểu tổ hợp tình tiết, loại hình hóa cốt truyện

Như vậy nghiên cứu tự sự học có ý nghĩa văn hóa rộng lớn Nó mở ra khả năng nghiên cứu truyền thống tự sự trong mỗi nền văn học Nó cho ta thấy không chỉ

là kĩ thuật trần thuật của các thể loại, các nhà văn, mà còn cho ta thấy cả truyền thống văn hóa ở đằng sau nó Nó cho ta thấy cả ưu điểm và chỗ yếu của các truyền thống văn học, từ đó có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về truyền thống văn học ấy

1.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn

1.2.1 Vài nét về tiểu sử Nguyễn Bắc Sơn

Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn có tên khai sinh Nguyễn Công Bác Sinh năm 1941 Quê quán : Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Nội Sinh ra ở Nam Định, kháng chiến chống Pháp, gia đình ông tản cư lên Phú Thọ, ở xã Tân Phong, huyện Hạ Hòa Ở đây ngay

từ tuổi thiếu niên, ông đã tham gia đoàn thiếu nhi nghệ thuật Lưu Hữu Phước, trong trại Thiếu nhi Bác Hồ, biểu diễn múa hát phục vụ kháng chiến Năm 1955, ông trở về

Hà Nội, tốt nghiệp đại học Sư phạm năm 1962 trở thành thầy giáo dạy Văn trường THPT Hoàn Kiếm trong 10 năm Ông kể, hồi còn học phổ thông, cũng đã từng ấp ủ mộng văn chương vì cũng có chút năng khiếu, nhưng rồi theo thời gian, cái mộng văn chương ấy cũng tắt ngấm Năm 1972 ông vào bộ đội, tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ năm 1981 đến 1992 ông là phó hiệu trưởng trường Chu văn An danh tiếng, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng nhưng ông từ chối sau đó vui vẻ về làm trưởng

phòng quản lý báo chí, xuất bản của sở Văn hoá thông tin Hà Nội, bởi vì: “Nghề báo

chí xuất bản, gắn với sách vở chữ nghĩa” là niềm đam mê từ lâu của ông Chính

trong quãng thời gian 10 năm ở Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, ông đã đến với thực tế đời sống, cọ sát và va đập đến tận cùng với cuộc đời của một anh công chức ngành văn hoá, chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong tiến trình đổi mới của đất nước

Cơ chế thị trường đang xuất hiện, nhiều giá trị bị đảo lộn, đời sống con người, tư duy

và bản lĩnh cũng phải đổi thay chóng mặt để thích ứng với thời cuộc, vì thế có biết bao bi kịch đau đớn trong cái đời sống phức tạp ấy Nguyễn Bắc Sơn đã sống đến tận cùng cuộc sống đang sở hữu, làm việc hết mình và tích lũy vốn sống hết mình

Trang 25

1.2.2 Sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn

Nguyễn Bắc Sơn là một nhà văn đa tài Ông đã thử bút với nhiều thể loại văn học, từ bút ký, đến truyện ngắn, truyện vừa rồi tiểu thuyết,… Ở thể loại nào ông cũng gặt hái được những thành công nhất định

Với những thành công trong sáng tạo nghệ thuật của mình, Nguyễn Bắc Sơn

đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng văn học lớn: Giải Ba viết về giao thông vận tải của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Giao thông Vận tải; Giải Nhì và hai giải Nhất (2001, 2002, 2003) cuộc thi Cả nước viết về Thăng Long - Hà Nội của báo Hà Nội

mới; Tặng thưởng của NXB Thanh niên viết về tập truyện vừa và ngắn Luật đời

(2004); Giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật

Việt Nam tiểu thuyết Luật đời và cha con ( 2005); Giải Ba cuộc thi tiểu thuyết lần thứ

ba (2006 - 2010) của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết Lửa đắng; Phim Luật đời

26 tập, chuyển thể từ tiểu thuyết Luật đời và cha con đoạt giải nhất phim truyền hình

nhiều tập năm 2007 do khán giả bình chọn

Đánh dấu thành công lớn nhất cho sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn chính là tiểu thuyết Các tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn đều là tiểu thuyết luận đề, trong đó đề cập đến nhiều vấn đề như chuyện gia đình, chuyện thế hệ, chuyện tình yêu và đáng kể nhất là chuyện thay đổi cơ chế Có thể nói ông là một nhà văn dũng cảm, dám đối diện với những vấn đề thời sự chính trị đang diễn ra ở Việt Nam

Cái tên Nguyễn Bắc Sơn cùng lối viết thẳng thắn, sâu sắc và gần cuộc sống, con người hiện tại, thể hiện sinh động những vấn đề chính trị nhạy cảm làm giới mê

đọc nhớ mỗi khi nhắc đến tiểu thuyết Luật đời và cha con và Lửa đắng Càng ngạc

nhiên hơn khi biết rằng đó là những tác phẩm đầu tay được ví như những bông hoa

nở muộn

Nghỉ hưu, rời bỏ đời sống công chức mà thời gian cứ bị xé vụn ra bởi những công việc hành chính sự vụ, ông chợt nhận ra mình đang sở hữu một nguồn tư liệu vô cùng phong phú đã tích lũy được, lại được sống theo sở thích, sống cho mình Lúc ấy cái thú văn chương mới được thoả chí tang bồng Thế là lao vào viết, viết như chưa bao giờ được viết Những bức xúc về cơ chế, những nỗi đau nhân tình thế thái trong

cơ chế còn nhiều bất cập đã được ông mổ xẻ một cách kỹ lưỡng, không né tránh nhưng cũng đầy trách nhiệm dựng xây Ở gần cái tuổi xưa nay hiếm, con người ta

Trang 26

mới càng có được cái nhìn chín chắn và bản lĩnh, đặc biệt là đối với chuyện chính trị

xã hội

Lần đầu tiên trong các tác phẩm văn học Việt Nam có sự xuất hiện của những nhân vật như Tổng Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy… được xây dựng một cách có chiều sâu, cá tính, có trăn trở và suy tư Những cuộc tranh luận giữa cái mới và cái cũ, cái cứng nhắc bảo thủ, mà đại diện là nhân vật “Cụ”, cũng chính là sự phản biện xã hội, để cuối cùng là đề xuất những gì cần phải thay đổi mang tính thực tiễn cao hơn ở tầm vĩ mô như đổi mới cơ chế, cải cách hành chính, nhẹ hơn thì cũng

là những vấn đề về hôn nhân gia đình xã hội, chứ không chỉ đơn giản giải quyết một vấn đề nhỏ trong phạm vi hẹp Đó cũng chính là sự dũng cảm, thể hiện một nhãn

quan chính trị sâu sắc của nhà văn Có thể nói sự ra đời liên tục của 2 tác phẩm Luật

đời và cha con và Lửa đắng thực chất đã là một quá trình thai nghén từ những trải

nghiệm cuộc sống của ông đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt với gần chục lần tái bản, thực sự gây tiếng vang trên văn đàn và đoạt giải thưởng của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2005 Cũng do tính thời sự của tác phẩm nên bộ phim

Luật đời được chuyển thể từ Luật đời và cha con đã được khán giả bình chọn là Phim truyền hình nhiều tập hay nhất năm 2007 Đó là sự ghi nhận xứng đáng dành

cho lao động không mệt mỏi của “lão nhà văn trẻ” Nguyễn Bắc Sơn

Ông nói rằng, có sức khỏe để được viết là hạnh phúc lớn nhất của ông Cũng

vì lẽ đến với văn chương muộn nên ông thực sự tiếc thời gian Vẫn còn rất nhiều điều trăn trở mà nhà văn Nguyễn Bắc Sơn muốn viết ra nên người đọc vẫn đang chờ đợi trong thời gian tới sẽ được gặp lại phong cách viết thẳng thắn và cái nhìn sắc sảo của ông

1.2.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Bắc Sơn

Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì “Quan niệm nghệ thuật là nguyên

tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [14, tr.273] Thực chất, đây là

quan niệm của một nhà văn về thế giới và con người qua lăng kính riêng của chủ thể sáng tạo Quan niệm nghệ thuật có mở rộng và không ngừng vươn tới giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con người Có như vậy, nhà văn mới có thể hiểu và phản ánh sâu sắc bộ mặt đa sắc diện của đời sống và âm thanh muôn điệu của tâm hồn con người Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của một nhà văn chính là tìm hiểu sự thâm

Trang 27

nhập của họ đối với hiện thực đời sống và nội tâm con người, sự lý giải thấu tình đạt

lý bằng các phương tiện nghệ thuật phù hợp cho các hiện tượng đó Như vậy: “Quan

niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu

ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật” [14, tr.275]

Là một người viết không chỉ dựa vào bản năng thiên bẩm mà còn luôn quan sát và suy nghĩ về chính công việc của mình và đồng nghiệp, Nguyễn Bắc Sơn đã hình thành ý thức nghệ thuật khá nhất quán trong hành trình sáng tạo của mình Do vậy, muốn tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn, theo chúng tôi, trước hết cần phải tìm hiểu quan niệm của chính tác giả về cuộc đời và nghệ thuật Nhà văn không thể miêu tả, phản ánh, lý giải sâu sắc hiện thực nếu thiếu một tư tưởng riêng xác định về hiện thực ấy bởi những quan niệm ấy sẽ chi phối sáng tác của nhà văn

Tốt nghiệp khoa Văn, trường ĐHSP Hà Nội năm 1962, ông trở thành thầy giáo dạy văn Ông kể, hồi còn học phổ thông, cũng đã từng ấp ủ mộng văn chương vì cũng

có chút năng khiếu, nhưng rồi theo thời gian, cái mộng văn chương ấy cũng tắt ngấm Thời gian làm quản lý giáo dục, ông bắt đầu say mê nghiên cứu, viết báo Là một người ham tìm tòi và chịu khó tư duy, có óc quan sát tinh tế nên những chuyện đời, chuyện người, chuyện quê hương đất nước đã dồn nén buộc ông phải viết Lúc đầu là bút ký và các bài báo, rồi những công trình nghiên cứu về nhiều vấn đề khoa học như

tay phải, tay trái, sự ra đời của bàn tính gẩy Trung Quốc Ông “giật” một giải nhì,

hai giải nhất trong cuộc thi cả nước viết về Thăng Long - Hà Nội Ông cũng từng có kiến giải hay về cách thi công trận địa cọc Bạch Đằng, điều đó chứng tỏ ông vô cùng chịu khó tìm tòi Thành quả cho những nỗ lực không mệt mỏi đó của nhà văn chính là

5 tập bút ký, 2 cuốn sách viết về ngôn ngữ, giáo dục, văn hóa Luật đời và cha con là

cuốn tiểu thuyết đầu tay nhưng là mốc son thành công cho sự nghiệp tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn Ông cho rằng, con đường sáng tác như thế là phù hợp với quy luật

Từ bút ký, đến truyện ngắn, truyện vừa rồi tiểu thuyết Ông bảo văn chương thì cần phải có thời gian suy ngẫm, đó là cả một quá trình tìm tòi, mày mò, thể nghiệm và rèn luyện Thời gian công tác trong ngành giáo dục giúp ông tích lũy vốn sống Hơn 10 năm cuối cùng làm việc bên ngành văn hoá với chức trưởng phòng Quản lý báo chí

Trang 28

xuất bản, ông tiếp xúc nhiều hơn, đi nhiều hơn, cọ xát, va đập với đời sống hằng ngày

mà báo chí vừa là nguồn tư liệu, vừa là cầu nối

Hành trình sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn chính là cả một quá trình dài tích lũy kiến thức và kinh nghiệm sống, kinh nghiệm viết Quá trình tích lũy ấy đã được nhà văn tâm sự rất nhiều qua các bài phỏng vấn trên các báo Cụ thể:

Trong bài trả lời phỏng vấn của nhà thơ Vũ Duy Thông trên Báo Văn nghệ khi được hỏi ông mê văn từ bao giờ và viết như thế nào? Nguyễn Bắc Sơn đã tâm sự: cái mộng văn chương bắt đầu từ hồi học phổ thông nhưng dần tắt ngấm bởi học xong đi dạy học, đi bộ đội rồi lại về dạy học, làm cán bộ quản lý ở một trường cấp 3, hơn

chục năm cuối cùng mới sang ngành Văn hóa - Thông tin Nhưng cuối cùng “rồi thấy

nhiều chuyện quá Không viết không được Lúc đầu, ký là hấp dẫn tôi nhất Bao nhiêu chuyện người, chuyện đời, chuyện quê hương đất nước dồn cho ký Đi máy bay viết về người lái máy bay, người dẫn đường máy bay, xuống nước gặp anh thợ lặn, viết gian nan nghề thợ lặn Mấy bước ra Bờ Hồ, gặp cây lộc vừng liền viết về cây lộc vừng chín gốc bên Hồ Gươm Thế rồi sang truyện ngắn, tiểu thuyết lúc nào không hay Năm 1999, tôi ra cùng lúc 4 cuốn sách với gần 1.700 trang Báo Văn nghệ Trẻ khen và đặt câu hỏi: “Phải chăng đây là hiện tượng xuất bản của năm nay?” Tôi thành “nhà văn trẻ tóc bạc” từ đấy” [57] Đến với văn chương khá muộn nên

Nguyễn Bắc Sơn chỉ thực sự thành danh khi mái đầu đã pha sương, ông cũng lí giải

điều này: “Đến khi nghỉ hưu, thời gian là của mình, được sống theo sở thích, sống

cho mình, lúc ấy cái chí viết văn mới thực sự trỗi dậy Thế là lao vào viết Càng viết càng ham Viết chí chết Mình là một người của cơ chế, cơ chế ấy do mình góp phần

đẻ ra Là người của cơ chế nhưng lại thấy cơ chế nhiều bất cập quá Nó buộc mình phải viết, phải mổ xẻ” [57] Ông cũng khẳng định mục đích viết văn và khuynh

hướng viết tiểu thuyết của mình: “Với tôi, viết văn là sự giải tỏa những bức xúc cuộc

đời, là góp một tiếng đời cho đời Tôi, anh, hay nhiều người khác, thất bại trong việc này, không thành công trong việc kia, kém cỏi so với thiên hạ ở nhiều việc khác, là bởi mình làm không đúng luật, chơi không đúng luật, ứng xử không đúng luật Thế nên trời còn cho viết được, thì những cuốn khác của tôi dù đặt tên là gì, vẫn nằm trong bộ Luật đời” [57] Và “Có viết tiểu thuyết mới có cơ hội lôi được vốn sống trực

Trang 29

tiếp, gián tiếp, vốn hiểu biết của mình vào trang viết Cũng là nhờ tính tò mò, hay quan sát, năng nhặt chặt bị” [57]

Trong bài phỏng vấn Có thứ luật bất thành văn in trên báo VNEXPRESS Tin

nhanh Việt Nam, khi được phóng viên hỏi về những kinh nghiệm sống đóng góp bao

nhiêu phần trăm cho sự thành công của Luật đời và cha con ? Nhà văn đã không ngần ngại trả lời: “Gọi là vốn sống thì đúng hơn Bởi nói chung, tôi không trải nghiệm qua

số phận các nhân vật Nhưng vốn sống trực tiếp thời cải cách ruộng đất, thời quan liêu bao cấp, thời trong quân ngũ và một đời làm công chức đã được huy động vào đây, cộng với vốn sống trực tiếp làm nên máu thịt tác phẩm Nhiều bạn bè trong giới cũng bất ngờ trước điều này Không có nó thì không có cuốn tiểu thuyết này Nó đóng góp khoảng 70 - 80% sự thành công của tác phẩm”

Hay trong bài Lửa đắng sẽ bùng cháy in trên Báo Người lao động chủ nhật, khi được hỏi ông đã chuẩn bị những gì cho sự ra đời của Lửa đắng ? Nguyễn Bắc Sơn

đã tâm sự: “Thực ra thì không có sự chuẩn bị gì cả, đơn giản đó là vốn sống, là trải

nghiệm mà tôi tích lũy rồi sau đó trải nó lên trang viết Đây cũng có thể xem là phần 2 của Luật đời và cha con Phần 1 kết thúc mở, còn dang dở nên bây giờ tiếp tục Khác với phần 1, sang Lửa đắng các nhân vật đi đến tận cùng với số phận của mình” [36]

Làm nên thành công trong bộ tiểu thuyết liên hoàn của mình, không chỉ là vốn sống ngồn ngộn, vốn văn chương phong phú của nhà văn mà còn là việc nhà văn đã lựa chọn được đề tài phù hợp được nhiều người quan tâm hiện nay - đề tài về cơ chế Đây là một vấn đề nóng bỏng trong xã hội đương đại Trong một bài phỏng vấn chính

nhà văn cũng đã khẳng định: “Về thành công của Luật đời và cha con, tôi thấy trước

hết nhờ việc chọn lựa đề tài “Đề tài cơ chế” - tạm gọi như thế, ai chả biết Ai chả bàn thảo Đi đâu, ngồi đâu cũng bàn thảo Nhưng sao không ai viết Một đàn anh bảo tôi: “Họ biết cả đấy nhưng ngại viết” Vì sao họ ngại là chuyện phải nghĩ Có lý do

cả đấy Tôi liều Có điều, tôi là người trong cuộc, tôi mổ xẻ, chứ không đứng ngoài dẩu mỏ chửi vào, cũng không chửi đổng Tôi viết với tất cả đau đớn, vật vã khổ sở và với ý thức xây dựng, tháo gỡ Có lẽ vì thế mà về chủ đề đặt ra trong tác phẩm, tôi được dư luận trong ngoài, trên dưới đồng tình” [57] Vậy bộ tiểu thuyết liên hoàn ấy

được viết ra với động cơ nào? Đây là bức xúc của cá nhân tác giả mà cũng là của

Trang 30

chung mọi người về các vấn đề xã hội, về số phận của đất nước Cho nên Nguyễn

Bắc Sơn không ngại, không sợ không có ai hiểu cho mình là vì thế: “Mỗi người có

một vùng mỏ sáng tác hay quê hương sáng tác Tôi không có vùng quê sáng tác nào

đó vì tôi sống ở đô thị mà cụ thể đây là thủ đô Thủ đô vừa là tinh hoa nhưng đồng thời tập trung tất cả những phức tạp của cả nước dồn về Thế cho nên đấy chính là thế mạnh của tôi và tôi nghĩ là mình nên phát huy thế mạnh ấy Thêm vào đó, đề tài này có một ưu thế là chưa ai động bút Tôi viết về đề tài này vì tôi hiểu rõ nó Tôi nghĩ, thành công trước hết ở đề tài chứ không phải ở văn phong đổi mới hay cách tân

gì khác” [36]

Đề tài ông chọn phản ánh trực tiếp là chính trị, là thể chế, thiết chế, cơ chế Đấy là chuyện liên quan đến mọi người dân cộng đồng, nên ai cũng biết Chỉ có quan tâm nhiều hay ít thôi Dễ là thế, mà khó cũng là thế Dễ bởi ai cũng biết, cũng bàn luận, cũng có chính kiến cả đấy Khó là bởi không mấy ai viết ra điều mình nghĩ Cái khó nữa là phải tiểu thuyết hoá những nghĩ suy của mình bằng cốt truyện tiểu thuyết, nhân vật tiểu thuyết, ngôn ngữ tiểu thuyết, nghệ thuật tiểu thuyết Vẫn những ý tứ ấy, nếu viết dưới dạng những bài báo thì nhàn hơn đấy, nhưng có thể khó được chấp nhận, nhất là khó có sức thuyết phục Vì phải nói thẳng, mà nói thẳng thì dễ mếch lòng Ông chọn tiểu thuyết để gửi gắm, nhắn nhe đến bạn đọc, như thế tự nhiên hơn, vào tình cảm người đọc hơn, từ đó mới tác động đến lí trí họ Như vậy, việc lựa chọn thể loại thích hợp để truyền tải thành công đề tài cũng chính là một thành công đáng ghi nhận của Nguyễn Bắc Sơn

Trong bài trả lời phỏng vấn của nhà báo Thiên Kim trên báo CAND.com.vn,

Nguyễn Bắc Sơn đã tâm sự chân thành: “Nói như cách nói thông thường, người ta

vẫn cho rằng, tôi là người may mắn và có duyên với giải thưởng, nhưng không hẳn như thế Để viết được hai cuốn tiểu thuyết này, tôi đã tích lũy gần hết cả một đời công chức, tóc thì rõ ràng, không còn một sợi nào đen Và đó là những vốn liếng cả đời học, đọc sách cần mẫn mới có được” Hay còn có những dòng lý giải rất hay của nhà

văn về vốn tư liệu để viết sách: “Tôi là một công chức cần mẫn, chăm chỉ, sáng ý

trong công việc, nhưng điều quan trọng nhất là cái thói quen quan sát, nhận xét, cái lối suy nghĩ đến cùng tận một sự việc, một hiện tượng, hoài nghi, phản biện nó, cái

Trang 31

lối tò mò theo dõi đường đời của những người xung quanh (và không ngừng ngẫm nghĩ về họ), cái lối vơ vào mình những chuyện đẩu đâu… và cộng với một chút vốn văn chương được trang bị suốt cả quãng đường đã đi qua, những điều học hỏi được ở

bè bạn và thời gian vô biên của một người hưu trí đã thôi thúc tôi phải viết” Và còn

là những lời bộc bạch chân thành với một chút hài hước về tâm huyết nghề nghiệp

của mình: “Tôi nghi ngờ điều ai đó nói rằng, viết văn như là một cuộc chơi Tôi khổ

sở với từng con chữ, nghĩ ngợt một chi tiết, một lời thoại thật sự khó nhọc, nhất là với hơn 70 nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Lửa đắng, tôi gần như kiệt lực sau khi hoàn thiện nó”

Ngoài những lời tâm sự chân thành, Nguyễn Bắc Sơn còn mạnh dạn chỉ rõ cái nhìn chưa trực diện của các nhà văn, cũng như rào cản lớn nhất đối với các nhà văn

và sự phản chiếu hiện thực của tiểu thuyết hiện nay Ông nói: “Gần đây ông trưởng

ban tuyên giáo trung ương cũng nói “Các nhà văn phải tự cởi trói cho mình” Không biết có phải tôi đã dám cởi trói cho mình không Nhưng ngay cả với tôi, cái dây trói

vô hình vẫn lởn vởn trong đầu…Nhiều người khen dũng cảm đấy, bởi chưa ai dám

mổ xẻ cơ chế như thế Nhưng không ít người lại muốn nhà văn phải nói thẳng, nói thật, nói hết suy nghĩ, đi đến tận cùng suy nghĩ trong ý đồ sáng tác, trong tư tưởng chính trị của mình Ai cũng có bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp của mình Giá

mà hai tư tưởng ấy gặp nhau” [13] Và phải là một nhà văn giàu tâm huyết với ý

thức và trách nhiệm công dân cao mới nêu vấn đề thẳng thắn không né tránh: “Nhưng

điều dễ thấy, như nhiều người đã thấy là, chiếm một phần không nhỏ tác phẩm, nhất

là của các cây viết trẻ ít chịu đi vào hiện thực trung tâm, chính yếu của cuộc sống

Họ thích thể hiện cái tôi của mình hơn… Nhưng có lẽ bạn đọc còn cần thiết hơn những tác phẩm phản ánh đời sống xã hội hôm nay Đòi hỏi ấy là chính đáng, bởi nó cũng là sứ mệnh phải gánh của văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng” [13]

Những ý kiến của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn trên các báo đã cho chúng ta thấy

rõ quan niệm nghệ thuật của ông Đối với ông viết văn là một sự giải tỏa để bộc lộ những điều mắt thấy tai nghe, để mổ xẻ sự bất cập của cơ chế nhằm mục đích tháo

gỡ, gây dựng theo chiều hướng tích cực hơn Theo ông văn chương chính là ngọn lửa

đắng - ngọn lửa ấy “là thuốc đắng, là liều kháng sinh đặc trị những căn bệnh xã hội

Trang 32

trầm kha, tưởng như không thuốc nào chữa khỏi” [51, tr.597] Hơn nữa, nhà văn lại

viết tác phẩm bằng “trái tim của một nhà văn đảng viên, một người trong cuộc với

tâm thế xây dựng rất có ích cho đất nước, cho Đảng không chỉ ngày hôm nay” [60]

Tất cả cho thấy quan niệm nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn rất mới mẻ, táo bạo Nó có ý nghĩa khích lệ, động viên tinh thần người cầm bút dũng cảm dấn thân vào những vấn đề gai góc, nhức nhối trong xã hội Đó là những vấn đề chính trị nóng bỏng của xã hội đương đại Việt Nam - vấn đề cơ chế Nhà phê bình Lê Quang Trang

nhận định: “Thành công đáng chú ý nhất của cuốn tiểu thuyết là tác giả dũng cảm và

sắc sảo trong việc phô bày những vấn đề của xã hội” [47, tr.581] Song do quá chú

tâm vào nội dung, nhà văn chưa thực sự trăn trở với việc đổi mới cách viết Nhà thơ

Hữu Thỉnh nhận xét: “Anh Nguyễn Bắc Sơn có nhiều cố gắng Tuy nhiên về nghệ

thuật thể loại, Luật đời và cha con vẫn còn hiền lành, vẫn nặng về truyền thống Thể loại tiểu thuyết cho phép nhà văn cách tân táo bạo” [47, tr.580]

Qua những lời phát biểu trực tiếp của nhà văn, cũng như qua những nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình, cho thấy những quan niệm trên đã chi phối và dường như có ý nghĩa quyết định đến quá trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn, từ cách tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, đến ngôn ngữ, giọng điệu, người kể chuyện trong tác phẩm

Trang 33

Chương 2 NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN VÀ XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN

2.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện

2.1.1.Khái niệm cốt truyện

Cốt truyện (plot) là “Hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư

tưởng và nghệ thuật nhất định tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của các tác phẩm tự sự” [14,] Có thể hiểu đơn giản cốt truyện là truyện

được cô đúc lại, là cái cốt lõi liên quan đến nhân vật chính Cốt truyện là yếu tố quan trọng bậc nhất, không thể thiếu trong bất kì hình thức tự sự nào Nó là cái khung để

đỡ cho toàn bộ tòa nhà nghệ thuật của tác phẩm tự sự đứng vững

Cốt truyện có hai tính chất cơ bản Một là tính liên tục hữu hạn trong trật tự thời gian, sự kiện này đặt sau sự kiện trước và cứ thế cho đến kết thúc Hai là các sự

kiện trong chuỗi có mối quan hệ nhân quả hoặc quan hệ bộc lộ ý nghĩa Các sự kiện trong đời sống có vô vàn mối quan hệ và không biết đâu là mở đầu, đâu là kết thúc Hai tính chất nêu trên là thuộc tính nghệ thuật làm cho cốt truyện văn học tách ra khỏi mối quan hệ chằng chịt trong cuộc đời để tập trung thể hiện ý nghĩa nào đó mà nhà văn muốn thể hiện [53, tr.56]

Cần phân biệt hai khái niệm truyện (story) và cốt truyện (plot) “Truyện là

chuỗi những sự kiện về một vấn đề (hoặc nhiều vấn đề) nào đó diễn ra theo trật tự tự nhiên, tuân thủ thời gian tuyến tính, nương theo sự chảy trôi của cuộc sống theo quan hệ nhân quả mà không có sự đảo lộn sắp đặt của người kể Cốt truyện là sự sắp xếp thẩm mĩ, không tuân theo trật tự biên niên của sự kiện và quan hệ nhân quả nghiêm nhặt, thống nhất theo ý đồ chủ quan của người kể về những sự kiện của một câu chuyện nào đó, nhằm mục đích nêu bật được tư tưởng chủ đề và tạo sức hấp dẫn tối đa tới người đọc” [14]

Nói chung, cốt truyện là hệ thống sự kiện (biến cố) xảy ra trong đời sống của nhân vật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận nhân vật Cái phần lõi của truyện đó

có thể tóm tắt, thuật lại hay vay mượn để sáng tạo ra tác phẩm khác Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, cốt truyện có những biến đổi không ngừng Bởi văn

Trang 34

học là cuộc vận động không ngừng nên nhà văn muốn tồn tại cũng phải không ngừng sáng tạo Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã vận dụng những yếu tố mới vào cốt truyện song về cơ bản là những cốt truyện truyền thống

2.1.2 Vai trò của cốt truyện trong tiểu thuyết

Từ xưa, cốt truyện vẫn bị coi là thành phần “bảo thủ” Song trên con đường

phát triển của thể loại, nó đã vận động khá mạnh mẽ, thậm chí bỏ qua lý thuyết cốt truyện truyền thống, dù chưa thật đồng bộ Cốt truyện được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng, là nơi xuất phát và quyết định của sự sáng tạo nghệ thuật Nhà văn sáng tác là sáng tác cốt truyện và người thưởng thức chủ yếu là thưởng thức cốt truyện

Do vậy, cốt truyện thực hiện các chức năng rất quan trọng trong tác phẩm: một

là nó gắn kết các sự kiện thành một chuỗi và tạo thành lịch sử của một nhân vật; hai

là bộc lộ các xung đột, mâu thuẫn của con người (xã hội, tâm lý, đạo đức,…), ba là

tạo ra một ý nghĩa về nhân sinh Nắm bắt đúng chuỗi các sự kiện là bước khởi đầu để hiểu nhân vật, hiểu bức tranh đời sống và hiểu ý nghĩa của tác phẩm

Cốt truyện có chức năng thứ tư, rất quan trọng là gây hấp dẫn Nhiều tác phẩm

thuộc loại phiêu lưu, võ hiệp, tình ái, truyện cười…nhờ cốt truyện có nhiều biến cố ngẫu nhiên, bất ngờ mà có sức hấp dẫn mạnh đối với người đọc [53, tr.57]

2.1.3 Cốt truyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn

Cốt truyện trong bộ tiểu thuyết liên hoàn của Nguyễn Bắc Sơn phần lớn là cốt truyện liền mạch, tuyến tính Ở đó thời gian cốt truyện trùng với thời gian trần thuật, các sự kiện được triển khai liên tục theo mạch thời gian từ trước đến sau, quan hệ nhân quả được duy trì, kịch tính được chú trọng Cuốn hút bằng những chi tiết đắt giá, những yếu tố ngoài cốt truyện được xây đắp công phu, được đan cài một cách khéo léo mà tự nhiên Đây là kiểu cốt truyện truyền thống, ra đời từ thời cổ đại còn tồn tại đến ngày nay, dễ đọc, dễ nắm bắt Bằng cách ấy, Nguyễn Bắc Sơn, dù đi trên lối cũ, vẫn để lại dấu ấn của riêng mình

Kiểu trần thuật phổ biến trong tiểu thuyết được viết theo lối truyền thống là thường mở đầu bằng cách giới thiệu về một địa điểm, địa danh nào đó, nói chính xác thì đó chính là bối cảnh không gian của truyện, hoặc mở đầu bằng bối cảnh xảy ra câu chuyện Trước khi tham gia vào các sự kiện, tình huống truyện, nhân vật thường được

giới thiệu khái quát về lai lịch, diện mạo, tính tình Mở đầu Luật đời và cha con là bối

Trang 35

cảnh xảy ra câu chuyện: “Ngôi nhà hai tầng giữa một con phố cũ, nằm ở khu trung

tâm thành phố, vốn của một quan chức thời thuộc Pháp Hàng rào sắt lửng, nửa dưới

là tường gạch phủ đầy hoa tigôn… Ngôi nhà vuông vắn lành lặn, không phình trước

đẻ sau, không cơi nới Cổng sắt gần như còn nguyên vẹn Chỉ tấm sắt bưng phía dưới

bị nước mưa ăn mòn, chứng tỏ chủ nhân ngôi nhà sống nguyên tắc đến mức nào”

[47, tr.1] Vậy là ngay từ đầu tác giả đã đi theo kiểu trần thuật phổ biến truyền thống Ngôi nhà được giới thiệu ở đây chính là của gia đình ông Hòe - những nhân vật liên

quan đến câu chuyện “Luật đời” trong tác phẩm

Ngay sau khi giới thiệu bối cảnh câu chuyện, trước khi để cho các nhân vật tham gia vào hệ thống các sự kiện, nhà văn đã phác họa khái quát về từng nhân vật Chẳng

hạn như, ngay ở chương 1 cuốn Luật đời và cha con nhà văn đã miêu tả khái quát về

nhân vật ông Hòe Ông Hòe là một người lính thời chống Pháp, rất phục tùng mệnh lệnh cấp trên Bây giờ ông là cán bộ cao cấp trung ương, làm công tác tuyên giáo, phổ

biến đường lối chính sách của Đảng Ngoại hình của ông được giới thiệu qua “bộ mặt

chữ điền” [47, tr.11], “gương mặt to, quắc thước” [47, tr.7], đặc biệt là “cặp lông mày lưỡi mác” [47,tr.10] Tính tình của ông “hiền lành, cả ngày chả nói một câu”

[47, tr.7 - 8] Bà vợ giễu ông là “ông nghị quyết” bởi theo bà suốt ngày ông chỉ biết

giảng về nghị quyết Hay nhân vật Kim Phụng - vợ của ông Hòe cũng được miêu tả

khái quát ở chương 3 của tiểu thuyết này Bà “là một phụ nữ mặt hơi sát xương, tóc

phi dê, áo sơ mi dài tay cổ bẻ có in ba chữ MDV (mậu dịch viên)” [47, tr.65] Tính

tình đanh đá, chua ngoa, thực dụng Tuy nhiên, bà Phụng “là người biết cách tổ chức

gia đình” [47, tr.73] Bà quán xuyến tất tần tật mọi chuyện trong nhà, ngoài nhà Đặc

biệt, bà là người biết sử dụng triệt để những mối quan hệ của mình để đạt được mục đích Cứ như vậy, tác giả bao giờ cũng để ra một vài trang sách để giới thiệu khái quát về nhân vật của mình trước khi cho nhân vật tham gia vào quá trình diễn biến của câu chuyện Điều đó khiến cho người đọc có những hình dung khái quát nhưng

cụ thể, chân thực về chân dung, tính cách của nhân vật Từ đó góp phần nhận diện về nhân vật cũng như có thể có những dự kiến, kiến giải xác đáng cho cách hành xử trước mọi biến cố, sự kiện xảy ra đối với nhân vật

Cốt truyện truyền thống luôn tuân theo trật tự thời gian, vì thế thường bắt đầu bằng một thời điểm trong quá khứ với cái nhìn hồi cố của người kể chuyện rồi kể

Trang 36

ngược trở lại về phía hiện tại theo dòng tuyến tính Không khó để gặp trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn những kết cấu như thế Lối kể chuyện trùng khít thời gian cốt truyện và thời gian trần thuật ấy làm cho câu chuyện trở nên dễ hiểu, dễ nắm bắt, phù

hợp với khả năng tiếp nhận của số đông người đọc Ở chương 2 của Luật đời và cha

con sau cuộc “ghé về thăm bố mẹ vợ” [47, tr.29] của anh con rể Trần Kiên, ông Hòe

đã “nhớ tới thằng con trai đầu của người vợ trước ở quê Giá mà Lê Hồi còn…” Sau

đó, nhà văn đã dành khoảng 27 trang sách còn lại của chương 2 [47, tr.34 - 61] để hồi tưởng lại chuyện về mẹ con thằng Hồi Câu chuyện ấy đã là chuyện của quá khứ nhưng nhờ có nó mà ta biết rõ hơn về gia cảnh của ông Hòe cũng như những day dứt,

ân hận của ông vì theo ông: “Tôi đã giết hai mẹ con nó” [47, tr.61] Đến chương 4,

mở đầu cũng là những trang sách hồi cố lại sự việc xảy ra trong quá khứ Đó là

chuyện ông Hòe được mời về phổ biến nghị quyết ở quận Hoàng Long và được “xin

ý kiến về một vấn đề do thực tiễn công tác đặt ra mà họ còn lúng túng không biết làm thế nào để gỡ” [47, tr.81] Vấn đề đó là việc xem xét để kết nạp Đảng cho Trần Kiên

- phân xưởng trưởng phân xưởng Cơ khí Động lực Trần Kiên là một kĩ sư trẻ mới ra trường mấy năm, có trách nhiệm trong công việc, thẳng thắn, dám nghĩ dám làm Anh

đã kiên quyết không để ba công nhân “một người đã có tuổi, hai người trung niên” đi

họp chi bộ khi đang trong giờ làm việc Việc làm này đã khiến anh bị gọi lên văn phòng Đảng ủy để khiển trách, rồi cả việc xem xét kết nạp Đảng của anh cũng bị ảnh hưởng Song cuối cùng, lẽ công bằng đã thuộc về anh, anh được kết nạp Đảng Chỉ khoảng 8 trang sách, tác giả đã giúp ta hình dung khái quát về một trong những nhân vật trung tâm của bộ tiểu thuyết liên hoàn với những phẩm chất rất đáng quý trọng

Khảo sát số chương sách có hồi cố trong Luật đời và cha con , chúng ta có được tỉ lệ

50%, chiếm 10/20 chương Như vậy, có thể nhận thấy, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn khá dụng công trong việc sử dụng cái nhìn hồi cố Cách viết này khiến câu chuyện được

kể diễn ra tự nhiên, theo trình tự thời gian Đồng thời nhờ nó bạn đọc có thể nắm bắt, theo kịp với diễn tiến của câu chuyện

Hầu hết những câu chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn là câu chuyện về

cơ chế, về xã hội, về cuộc sống với những con người rất người và rất đời Cốt truyện mang tính truyền thống của Nguyễn Bắc Sơn cuốn hút người ta bởi cái duyên ngầm Nét duyên ấy ẩn hiện trong mỗi tiểu thuyết của ông, do vậy, tuy nói về những vấn đề

Trang 37

chính trị nhưng không khô khan, nhàm chán mà còn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Trong bộ tiểu thuyết liên hoàn của mình, Nguyễn Bắc Sơn đã vẽ lên được gần như toàn cảnh cuộc sống hôm nay với những chuyện về gia đình, về xã hội và cơ chế hiện tại

Luật đời và cha con chủ yếu xoay quanh câu chuyện về một gia đình - những

con người thật bằng xương bằng thịt trong xã hội mới Đại gia đình ông Hòe có tới 3 thế hệ: thế hệ thứ nhất: Ông Hòe, bà Kim Phụng; thế hệ thứ hai: Lê Đại, Thụy Miên,Trần Kiên, Thảo Tần (những đứa con); thế hệ thứ ba: Lê Cường, Thùy Dương,

cu Thành (những đứa cháu) Ba thế hệ ấy với tuổi tác, công việc, cách nhìn đời, nhìn người khác nhau nên đã có những hành xử khác nhau trước sóng gió cuộc đời Không thể nói rằng ông Hòe là trụ cột của gia đình vì ông có một bà vợ tháo vát, biết quán xuyến mọi công việc của gia đình Nhưng có thể khẳng định chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất, nơi để các con tìm thấy bình yên sau những xô đẩy của dòng đời chính là ông bố Lê Hòe Lê Hòe vốn từng là lính trong kháng chiến chống Pháp, sau này ông

là cán bộ Tuyên giáo Do vậy, ông bố này là người sống có nguyên tắc và có vốn hiểu biết, tầm nhìn khá sâu rộng Điều này đã khiến các con luôn tìm đến ông để hỏi ý kiến, bàn luận về những vấn đề quan trọng và họ cũng luôn nhận được những câu trả lời thỏa đáng từ phía ông Tuy nhiên, là lớp người của thế hệ trước, ông không tránh khỏi có những hạn chế trong tư tưởng, suy nghĩ Chẳng hạn như trước việc con trai

Lê Đại xin ra khỏi Đảng, ông Hòe đã có những phản ứng rất mạnh: “Con tôi xin ra

khỏi Đảng? Anh có còn để cho tôi nhìn mặt mọi người không? Có để cho tôi sống nữa không đây?” [47, tr.166] Anh con trai Lê Đại là một trong những người cấp tiến

trước thời cuộc, thích ứng nhanh với guồng máy cơ chế thị trường Lê Đại vốn là lính, sau đó anh xin ra quân về một cơ quan kinh tế thành phố Thanh Hoa, rồi xin ra khỏi Đảng Trước việc xin ra khỏi Đảng của mình, suy nghĩ của anh rất giản đơn: mình xin ra khỏi Đảng không phải vì mình không tán thành cương lĩnh, lí tưởng hằng theo đuổi mà chỉ vì một hình thức như nó đang có anh không theo được Sau này, tích lũy đủ kinh nghiệm làm ăn, vốn liếng, anh thành lập Công ty cổ phần Sao Việt Anh

đã rủ những người bạn trong quân ngũ ngày xưa cùng tham gia, góp vốn làm ăn Chẳng mấy chốc công ty làm ăn phát đạt, ngày càng mở rộng phạm vi kinh doanh Anh đã cưới Kiều Linh - người tình cũ của con trai về làm vợ Cuộc sống của hai vợ chồng thuận bồm xuôi gió, công việc ngày càng phát triển Lê Đại đã có cuộc sống

Trang 38

sung túc, hạnh phúc - là niềm ao ước của rất nhiều người trong xã hội Lê Đại chính

là đại diện tiêu biểu cho những con người tích cực trong xã hội mới với cơ chế mới

Lửa đắng không còn là câu chuyện về một gia đình mà ở đây là chuyện của toàn

xã hội, chuyện cơ chế Hay nói khác đi, vấn đề được nói đến trong Lửa đắng rộng hơn, bao quát hơn ở Luật đời và cha con Qua hơn 600 trang sách, ta thấy các nhân

vật đổi vị trí liên tục Trần Kiên được xóa án kỉ luật, khôi phục chức bí thư Quận ủy đồng thời kiêm chức chủ tịch quận, được bầu vào Trung ương, được đề bạt phó chủ tịch thành phố Đoàn Hùng từ thư kí trở thành Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Thảo Tần xin từ chức Phó hiệu trưởng trở về với nghề dạy học quen thuộc Thanh Diệu từ chức Phó Chủ tịch Ủy ban để về công tác tại Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Sán leo lên đến chức phó giám đốc Sở thì bị vạch rõ chân tướng,…qua những nhân vật này, nhà văn khiến người đọc hình dung được sự sắp xếp nhân sự đang diễn ra khẩn trương, nhanh chóng ở cấp thành phố và trên thành phố Sự sắp xếp nhân sự này

là sự chuyển đổi, xáo trộn tất nhiên của những cá nhân trong cơ chế mới của thời kì

đổi mới Nói như Vũ Duy Thông: “Không thể có một dàn nhân sự hoàn hảo trong

một hệ thống tổ chức không có chút bất hợp lý nào, nhưng qui luật của cuộc sống đòi hỏi phải tiến tới sự hợp lý và nhất định sẽ tiến tới sự hợp lý, cho dù sự hợp lý luôn chỉ

là một cái đích, không bao giờ hoàn toàn đạt được, đó là điều tác giả muốn nhắn gửi tới bạn đọc và đó cũng là tính luận đề ẩn sâu trong Lửa đắng” [51, tr.7] Tiểu thuyết

nói về những bảo thủ, hạn chế trong bộ máy hành chính thời hiện đại - tất cả qui cho trách nhiệm tập thể, cho cơ chế, cho người tiền nhiệm Vậy là, tất cả đều có liên quan nhưng bản thân mình chỉ là một mắt xích nhỏ trong hệ thống gây ra những sai lầm, khuyết điểm ấy Chính vì vậy, cơ chế xã hội rơi vào tình trạng trì trệ, bảo thủ Đó còn

là tình trạng dối trên chèn dưới, yếu kém, vô trách nhiệm của nhiều cấp cơ quan bảo

vệ pháp luật,…Tuy có những con sâu tạo nên trì trệ, yếu kém trong xã hội, song người đọc không hề thất vọng mà còn bị lôi cuốn vào những câu chuyện chính trị ấy Đây chính là duyên ngầm trong cách kể chuyện của nhà văn Bởi lẽ nhà văn đã biết đưa vào trong câu chuyện của mình những âm hưởng lạc quan, những phẩm chất cao đẹp đó là Tổng Bí thư, là Kiên, là Đại, là Đoàn Hùng, Thanh Diệu, Thảo Tần và một

số nhân vật khác Họ chính là những con người tích cực của thời đại mới

Trang 39

Có thể nói rằng, Nguyễn Bắc Sơn luôn trung thành với lối viết truyền thống, cốt truyện cổ điển với mạch tuyến tính, trật tự nhân quả Cốt truyện ấy khiến câu chuyện rất dài mà vẫn logic, liền mạnh Đồng thời giúp người đọc có thể nắm bắt, theo kịp với nội dung, diễn biến của câu chuyện

2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

2.2.1 Khái niệm nhân vật văn học và nhân vật trong tiểu thuyết

2.2.1.1 Nhân vật trong tác phẩm văn học

Trong tác phẩm văn học, nhân vật chiếm vị trí rất quan trọng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định Do

đó, mỗi sáng tác văn học không thể thiếu nhân vật Nhân vật văn học có thể là những con người giống như thật hoặc có nguyên mẫu ở ngoài đời Nhưng có khi nhân vật văn học chỉ là những sự vật, hiện tượng

Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân vật văn học là

con người cụ thể được miêu tả trong các tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể

có tên riêng (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như

“thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều” [14, tr.162]

Còn theo cuốn Giáo trình Lý luận văn học thì nhân vật văn học được quan niệm rộng hơn: Đó không chỉ là con người có tên hoặc không có tên, mà có thể là

những sự vật, loài vật khác nhau, ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Đó là nhân vật dế mèn, võ sĩ bọ ngựa, con mèo lười trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài; là vầng trăng, bông hoa hồng trong thơ Bác v.v… Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm [23, tr.126]

Nhân vật văn học là sản phẩm tinh thần của nhà văn, là nơi thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tính cách, được bộc lộ dần trong không gian, thời gian và mang tính quá trình Muốn xây dựng nhân vật thành công, nhà văn phải có một quá

Trang 40

trình thai nghén, có một khả năng đồng cảm, có quá trình thâm nhập thực tế Nghĩa là quá trình sáng tạo ra một nhân vật đòi hỏi nhà văn phải huy động toàn bộ tư cách nghệ sĩ và năng lực tinh thần của cá nhân

Nhân vật văn học thường được xây dựng từ những nguyên mẫu ngoài đời, có khi là từ những điển hình xã hội, nhưng nó được xây dựng qua trí tưởng tượng, sự sáng tạo và tài năng của người nghệ sĩ, phục vụ cho dụng ý nghệ thuật của mình, mang phong cách riêng của mình Vì vậy, khi tìm hiểu nhân vật văn học, cần lưu ý: Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống

Như vậy, nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên Nhân vật văn học rất phong phú, nó có thể là loài vật, đồ vật…nhưng chủ yếu là con người Sự thể hiện nhân vật cũng ở những hình thức rất đa dạng Dù nhân vật là thế giới loài người hay loài vật nó đều có vai trò rất quan trọng trong sáng tác của nhà văn, nó làm nên linh hồn của tác phẩm Nhân vật văn học thể hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định, là nơi để nhà văn gửi gắm, kí thác những tâm tư, ước vọng, cùng những vấn đề triết lí nhân sinh Qua hệ thống nhân vật, người đọc thấy được tư tưởng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn Nhân vật văn học không chỉ là hình thức đơn thuần mà là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ, tư tưởng của nhà văn về con người, về thế giới

2.2.1.2 Nhân vật trong tiểu thuyết

Nhân vật là yếu tố nghệ thuật quan trọng bậc nhất của thể loại tự sự (trong đó

có tiểu thuyết) Không có nhân vật sẽ không có tiểu thuyết Tiểu thuyết hay phải có nhân vật hay và độc đáo Những cách tân đổi mới về nghệ thuật tiểu thuyết hầu như đều gắn với vấn đề thể hiện nhân vật Nhân vật chính là quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thể hiện trong tác phẩm, là nơi tập trung thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn

Nhân vật tiểu thuyết thuộc loại hình nhân vật tự sự Đó là những nhân vật được khắc hoạ đầy đặn, rõ nét, nhiều mặt, rất sinh động và đa dạng

Nhân vật tiểu thuyết là kết quả năng động của quá trình sáng tạo mang tính cá nhân của nhà văn Nhân vật tiểu thuyết có thể được hư cấu hoàn toàn, có thể bắt

Ngày đăng: 20/11/2014, 19:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2008), “Sẽ có phim nhựa Lửa đắng ?”, Điện ảnh kịch trường (số 392), tr.18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sẽ có phim nhựa Lửa đắng ?”, "Điện ảnh kịch trường
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2008
2. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NHX Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1999
4. Nguyễn Lê Bách (tháng 10/2008), “Đọc Lửa đắng nghĩ về luật đời”, Báo Văn hoá văn nghệ, tr.16 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Lửa đắng nghĩ về luật đời”, "Báo Văn hoá văn nghệ
6. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 - Những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 - Những đổi mới "cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Đào Thị Mỹ Dung (2009), “Cuộc trở dạ đau đớn”, Báo Văn nghệ (26/9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Thị Mỹ Dung (2009), “Cuộc trở dạ đau đớn”
Tác giả: Đào Thị Mỹ Dung
Năm: 2009
8. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
9. Phan Cự Đệ (1997), Văn học đổi mới và giao lưu văn hoá, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học đổi mới và giao lưu văn hoá
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 1997
10. Nguyễn Đăng Điệp (2006), “Đi qua ranh giới để tồn tại”, Báo Văn nghệ (01/4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Điệp (2006), “Đi qua ranh giới để tồn tại”
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2006
11. Hà Minh Đức (chủ biên) (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1998
12. Hà Minh Đức (chủ biên) (2002), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
13. Thiên Hà (07/12/2008), “Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn: Cơ chế là đề tài tôi quan tâm nhất khi sáng tạo tác phẩm”, Báo Pháp luật Việt Nam (số 293), tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn: Cơ chế là đề tài tôi quan tâm nhất khi sáng tạo tác phẩm”, "Báo Pháp luật Việt Nam
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2000
15. Nguyễn Chí Hoan (2006), “Một cuốn tiểu thuyết về đổi mới”, Báo Người Hà Nội (31/3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cuốn tiểu thuyết về đổi mới”
Tác giả: Nguyễn Chí Hoan
Năm: 2006
16. Lê Hùng (2005), “Cuốn tiểu thuyết dự báo”, Báo Hà Nội mới (09/12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuốn tiểu thuyết dự báo”
Tác giả: Lê Hùng
Năm: 2005
17. Trần Hoàng Thiên Kim, (11/7/2008), “Nhà văn Bắc Sơn: Tiếp tục với Luật đời”, Báo Thể thao và văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Bắc Sơn: Tiếp tục với Luật đời”
18. Ma Văn Kháng (2003), Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy "giá thú
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
19. Ma Văn Kháng (2012), “Lửa đắng bức toàn cảnh hôm nay”, Báo Văn nghệ (12/5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma Văn Kháng (2012), “Lửa đắng bức toàn cảnh hôm nay”, "Báo Văn nghệ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Năm: 2012
20. Chu Lai (2009), Ăn mày dĩ vãng, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ăn mày dĩ vãng
Tác giả: Chu Lai
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2009
5. Lê Huy Bắc (25/11/2012), Cốt truyện trong tự sự, http://violet.vn/vubichquyen1980/entry/showprint/entry_id/8482661 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w