Những bài nghiên cứu đánh giá về tiểu thuyết này nói riêng và cả ba cuốn tiểu thuyết của ông nói chung đều đề cập và phân tích nhiều góc cạnh khác nhau của tác phẩm nhưng với đề tài “Ngh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HÀ THỊ SÁNG
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU
THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HÀ THỊ SÁNG
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU
THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số:60220121
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Hà Văn Đức
Hà Nội, 2014
Trang 3Xin được cảm ơn sự quan tâm, động viên chia sẻ khó khăn của những người thân trong gia đình
Cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của một số anh chị em đồng nghiệp và anh chị em học viên cùng lớp
Hi vọng rằng với công trình nghiên cứu này, tôi đã không phụ tấm lòng mong mỏi của thầy
cô, người thân và bạn bè, đồng nghiệp
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do chính bản thân tôi thực hiện trong thời gian qua Những kết quả và số liệu nghiên cứu đều được tiến hành một cách khoa học và trung thực
Học viên:
Hà Thị Sáng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 3
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: 4
3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 10
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 10
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN: 11
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 12
1.1 Một số vấn đề lí thuyết 12
1.2 Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 15
1.2.1 Ngôi kể thứ ba 15
1.2.2 Ngôi kể thứ nhất 20
1.3 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 21
1.3.1 Điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn nhân vật 21
1.3.2 Điểm nhìn tác giả 25
CHƯƠNG 2: KẾT CẤU TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 31
2.1 Một số vấn đề lí thuyết 31
2.2 Cách tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 33
2.2.1 Kết cấu đa tuyến sự kiện 33
2.1.3 Kết cấu mở 44
2.3 Cách tổ chức thời gian trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 50
2.2.2 Kết cấu đảo lộn trình tự thời gian sự kiện 51
2.2.3 Kết cấu theo mạch thời gian tuyến tính 55
CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 60
3.1 Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 60
3.1.1 Một số vấn đề lí thuyết 60
Trang 73.1.2 Sử dụng vốn từ ngữ đa dạng, phong phú: 61
3.1.3 Sử dụng đắc địa các kiểu cấu trúc cú pháp 67
3.1.4 Sự pha trộn ngôn ngữ 70
3.1.5 Ngôn ngữ giàu hình ảnh 73
3.2 Đặc trưng giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn 76
3.2.1 Một số vấn đề lí thuyết 76
3.2.2 Giọng điệu giàu lí lẽ, lập luận 77
3.2.3 Giọng điệu bỗ bã, hài hước, trào phúng, giễu nhại 81
3.2.4 Giọng nhẹ nhàng, tinh tế, trữ tình, sâu lắng 86
PHẦN KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Mặc dù về già mới bén duyên với văn chương nhưng với năm tập truyện ngắn, bảy tập ký - tùy bút và đặc biệt là ba cuốn tiểu thuyết, Nguyễn Bắc Sơn đã ghi dấu ấn trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay Với những
sáng tác đầy tâm huyết, “nhà văn trẻ tóc bạc” này đã liên tục giành được
nhiều giải thưởng văn học nghệ thuật Ngoài hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về
đề tài chính trị là Luật đời & cha con, Lửa đắng, mới đây người đọc lại đón
nhận trong sự kính nể cuốn tiểu thuyết thứ ba – cuốn tiểu thuyết tâm lí xã hội
Gã tép riu cũng đặc sắc không kém
Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn khai phá một mảng đề tài mới Những gì ông viết dù quen thuộc trong đời sống nhưng lại lạ lẫm trong văn chương: tình hình chính trị - xã hội hiện nay với những mặt phải - trái, tiêu cực - tích cực của nó Hơn nữa, những vấn đề nóng, những vấn đề gai góc ấy của cuộc sống xã hội đương đại lại được nhà văn khai phá bằng ngòi bút hết sức sắc sảo, tinh vi Ông viết về những vấn đề nhạy cảm nhất của xã hội với tâm
nguyện: “Với tôi, viết văn là sự giải tỏa những bức xúc cuộc đời, là góp một
tiếng đời cho đời”; “Tôi viết với tất cả đau đớn, vật vã, khổ sở và với ý thức xây dựng, tháo gỡ”, “là người trong cuộc tôi mổ xẻ chứ không đứng ngoài dẩu mỏ chửi vào, cũng không chửi đổng” (Lời nhà văn trả lời phỏng vấn báo
chí) Chính tâm huyết đó đã làm nên giá trị độc đáo của tiểu thuyết Nguyễn
Bắc Sơn Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã nhận xét: “Nguyễn Bắc Sơn là một
trong những nhà văn sung sức nhất hiện nay Hầu như năm nào cũng có sách mới Mà toàn là tiểu thuyết Có tiểu thuyết trường thiên dài đến mấy tập Muốn thưởng thức những áng văn hay, những con chữ óng nuột, hay tài thao tác cấu trúc tác phẩm với những tình tiết bất ngờ, éo le sẽ khó tìm thấy ở
Trang 9Nguyễn Bắc Sơn Sức mạnh của ông là ở khả năng tinh nhạy, nắm bắt những vấn đề thời sự nóng hổi, đang diễn ra trong đời sống hàng ngày Người đọc
có thể dễ dàng nhận ra trong đội ngũ nhân vật của ông bóng dáng, số phận của những con người có thật ở ngoài đời Cuộc sống và trang sách nhiều khi không còn là khoảng cách Bởi thế, tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn thường rất hấp dẫn Hấp dẫn cũng bởi vì nó rất thật Mê hoặc được người đọc mà không dùng đến phấn son đâu có dễ Đấy là cái tài của Nguyễn Bắc Sơn, cũng là sự đóng góp rất cần được ghi nhận của ông trong văn học đương đại” [32, tr.bìa 4]
Tuy khai thác đề tài chính trị - xã hội, viết về những vấn đề mang tính
tư tưởng và trí tuệ nhưng với sự khéo léo của mình, Nguyễn Bắc Sơn đã chuyển tải những thông điệp khó nói thành hình tượng nghệ thuật đầy sinh động trên trang sách Sức hấp dẫn của ba cuốn tiểu thuyết không chỉ nằm ở đề tài khai thác mà còn nằm ở nghệ thuật kể chuyện đầy sắc sảo, tỉnh táo, hóm hỉnh của nhà giáo, nhà báo, nhà văn này Chất chính luận hòa cùng tính hài hước tạo nên những trang viết không hề khô khan mà ngược lại rất sống động, rất nghệ thuật, dễ dàng thuyết phục ngay cả những người đọc khó tính
Sau khi đọc ba cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn cùng với một thời gian tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn, bản thân tôi thấy có
nhiều vấn đề cần đi sâu nghiên cứu Với việc chọn đề tài “Nghệ thuật trần
thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn” để viết luận văn thạc sĩ, tôi mong
muốn góp một phần nhỏ vào việc khẳng định giá trị tiểu thuyết cũng như vai trò của ông trong đời sống văn học Việt Nam đương đại
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Theo tìm hiểu của bản thân tôi, cho đến nay, có không ít bài phê bình xung quanh ba cuốn tiểu thuyết đã xuất bản của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn
Trang 10Đặc biệt là khi tiểu thuyết Luật đời &cha con ra đời rồi được hai đạo diễn Mai Hồng Phong và Hoàng Nhung chuyển thể thành phim truyền hình “Luật đời”
và đạt giải nhất thể loại phim truyền hình nhiều tập năm 2006, do khán giả bình chọn Những bài nghiên cứu đánh giá về tiểu thuyết này nói riêng và cả
ba cuốn tiểu thuyết của ông nói chung đều đề cập và phân tích nhiều góc cạnh
khác nhau của tác phẩm nhưng với đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong tiểu
thuyết Nguyễn bắc Sơn” nên người viết xin lược trích lịch sử nghiên cứu vấn
đề trên cơ sở chú trọng những bài viết và những ý kiến liên quan đến đề tài nghiên cứu
Khi tiểu thuyết Luật đời & cha con của Nguyễn Bắc Sơn ra đời đến nay
có rất nhiều ý kiến khen ngợi Đạo diễn điện ảnh Đỗ Minh Tuấn đánh giá cao
Luật đời & cha con vì đó là một tác phẩm “ngồn ngộn vốn sống chính trị”,
“là cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên mổ xẻ sự vận động của toàn xã hội trong quá trình đổi thay cơ chế” (Văn nghệ trẻ số 40, ngày 02.10.2005) Còn
PGS TS Nguyễn Bích Thu cho rằng ưu thế và sức hấp dẫn của tác phẩm
chính là ở “Sự kết hợp nhiều thể loại trong cuốn tiểu thuyết cùng với giọng
điệu trần thuật giàu sắc thái biểu cảm” Bà cũng đánh giá cao nghệ thuật trần
thuật trong tác phẩm Luật đời & cha con Đặc biệt, cách tổ chức kết cấu và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết đã được bà phân tích khá kỹ lưỡng Trên báo văn nghệ ra ngày 1/4/2006 với bài viết “Đi qua ranh giới để tồn tại”
nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp cũng đã đánh giá cao nghệ thuật kể
chuyện của tác giả Nguyễn Bắc Sơn Ông nhận xét: “ Luật đời & cha con là
một tiểu thuyết luận đề nhưng nó có khả năng cuốn hút người đọc bởi chất hiện thực nóng hổi và cách kể chuyện tự nhiên, linh hoat của người viết”,
“Luật đời & cha con chưa phải là một tiểu thuyết có nhiều cách tân về phương thức tổ chức tự sự… Nhưng chính việc tạo nên nhiều sắc thái giọng điệu khác nhau đã khiến cho tác phẩm không rơi vào đơn điệu Ngôn ngữ
Trang 11Nguyễn Bắc Sơn là thứ ngôn ngữ gần gũi với ngôn ngữ cuộc sống Ông sử dụng khá nhiều khẩu ngữ, xây dựng nhiều tình tiết mang tính kịch và biết gia tăng chất giọng hài hước, để kích thích hứng thú của người đọc” Còn nhà
phê bình Nguyễn Chí Hoan trong bài viết “Một cuốn tiểu thuyết về đổi mới”
in trên báo Người Hà Nội ngày 31/03/2006 đã nhận định rằng: “Luật đời &
cha con được triển khai theo hình mẫu ngôn ngữ tiểu thuyết hiện thực truyền thống”, “sự vận động triển khai các tuyến truyện đã đạt được nhịp điệu khá
tự nhiên, với nhịp độ nhanh ở các chương cuối khi tấn bi kịch hấp dẫn về hối
lộ tham nhũng có vẻ sắp hé mở…”
Còn trong cuộc họp báo ngày 26.12.2005 do báo Văn nghệ tổ chức,
cũng có nhiều ý kiến phát biểu đánh giá cao những thành công của tiểu thuyết
Luật đời & cha con Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận định “Nguyễn Bắc Sơn đã thành công về mặt thể loại” Còn nhà phê bình Lê Quang Trang cũng đã kết
luận “Thành công đáng chú ý nhất của cuốn tiểu thuyết là tác giả dũng cảm
và sắc sảo trong việc phô bày những vấn đề của xã hội với giọng văn sôi nổi, nhiệt tình, lôi cuốn, nhịp điệu nhanh, hóm hỉnh pha chút dân gian”
Trên các báo cũng có nhiều bài giới thiệu về tiểu thuyết đầu tay này của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn Nhìn chung, các bài viết cũng như các ý kiến đều đánh giá cao những thành công của tác phẩm trên phương diện: đề tài, nghệ thuật tổ chức kết cấu, giọng điệu tác phẩm cũng như điểm nhìn trần thuật
Bên cạnh những lời khen đó cũng có những ý kiến chỉ ra một số hạn
chế, nhược điểm của tiểu thuyết Đỗ Minh Tuấn tiếc vì “một số chương đoạn
còn lan man xô bồ dễ giãi chạy theo sự vụ, mượn mồm nhân vật kể chuyện đời… làm mờ đi dòng chảy chính là số phận éo le của những nạn nhân kiêm thủ phạm .” Hoàng Minh Tường lại đồng tình với việc “Nhiều người cho rằng ngòi bút của ông trong tiểu thuyết này nặng về chất báo chí, trọng văn
Trang 12mà nhẹ về khắc họa tâm lí, nội tâm các nhân vật” PGS.TS Bích Thu lại cũng
nhận thấy “có những trang tác giả nói hộ nhân vật, văn viết có lúc thô chưa
thật sự uyển chuyển” Tuy nhiên, về cơ bản những ý kiến khen chê vẫn còn
mang tính chất khái quát, chung chung chưa có điều kiện đi sâu phân tích làm
rõ
Về cuốn tiểu thuyết Lửa đắng, đã có buổi tọa đàm văn học của Hội nhà
văn Việt Nam với sự tham gia ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà văn Đặng Văn Sinh, Nhà văn Lê Lựu, GS Hà Minh Đức, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp…Nếu như Hữu Thỉnh đánh giá cao đề tài độc đáo mới lạ và giá trị hiện
thực của tác phẩm: “Mảng văn học tham gia trực tiếp vào tiến trình công
nghiệp hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập… Tác giả lấy bối cảnh trực tiếp về cuộc sống thủ đô trong đổi mới… Đây là tiểu thuyết về văn hóa quản lí, một vấn đề mới mẻ và cấp bách đối với chúng ta hiện nay” thì Lê
Lựu còn nâng cao giá trị tác phẩm bởi những ý kiến sắc sảo xung quanh ngôn
ngữ tác phẩm: “Câu chữ cho thấy nhà văn có tìm tòi chứ không đều đều, trơn
truội Văn Nguyễn Bắc Sơn có đặc điểm riêng, như cây sậy, cây tre, có dóng,
có mấu, có đốt…” Cùng nhận xét về nghệ thuật tác phẩm, PGS.TS nhà văn
Nguyễn Đăng Điệp cũng cho rằng: “Tiểu thuyết luận đề thường khô khan
nhưng Nguyễn Bắc Sơn đã mềm mại hóa nó, làm cho nó có sức chinh phục người đọc Do khéo léo biết tổ chức các tuyến sự kiện, các tuyến nhân vật cũng như vốn ngôn ngữ gần gũi với đời sống, nhờ thế tiểu thuyết của anh có cái tươi mới.” Đặng Văn Sinh trong tham luận “Lửa đắng, sự lệch pha trong thế cờ cải cách hành chính…” cũng phân tích khá kĩ giá trị hiện thực nóng
hổi của tác phẩm Trên các báo có không ít bài giới thiệu, bài viết về tác
phẩm, có thể kể đến bài viết “Từ Lửa đắng ngẫm về bệnh ăn bẩn của công
chức có quyền” của Thu Thanh trên báo Vietnamnet.vn với những kết luận
sắc sảo: “Gai góc nhưng không sắc lẻm làm người ta sợ hãi, luận đề nhưng
Trang 13không nặng nề lí luận làm người ta mệt chán vì tác giả biết cách khéo léo đứng sang bên làm người kể chuyện, không bình luận, không tự lí luận khô khan mà biết lồng các vấn đề khó nói nhất, nhức nhối nhất vào lời các nhân vật, thông qua những cuộc chuyện trò tranh luận, những cuộc họp… Đôi lúc
đã biết làm mềm đi các vấn đề tư tưởng chính trị, thế sự bằng cách nói dân gian khẩu ngữ, những câu thành ngữ mới xuất hiện để diễn đạt sinh động những tệ nạn của xã hội mới Đôi lúc lại xen vào những đoạn trữ tình ngoại
đề, những khắc họa nhân vật có phần lãng mạn và lí tưởng Đến độ làm cho người ta đau nhưng không bi lụy Người ta buồn nhưng vẫn nhận thấy môt thái độ sống tích cực Thái độ sống tích cực vì cái người ta tin là đẹp, là đúng, là lí tưởng” Tác giả Ma Văn Kháng với bài “Lửa đắng, bức tranh toàn cảnh hôm nay” trên trang web http://vanvn.net - cơ quan ngôn luận của Hội nhà văn Việt nam đã chia sẻ “Đọc Lửa đắng có cái thú vị là gặp gỡ ở đây một cuộc sống thật phong phú trên nhiều bình diện”, tác giả cũng đã đánh giá về
nghệ thuật tổ chức tự sự của Nguyễn Bắc Sơn: “cây bút tiểu thuyết này còn tỏ
ra khá dày dặn và khéo léo trong cách dẫn dụ, triển khai các tuyến truyện, mở rộng biên độ tình tiết, thâm nhập vào gần như hầu hết các lĩnh vực của đời sống, khêu gợi trí tò mò, thu hút sự say mê của độc giả bằng các kiến thức, các chi tiết kì lạ lấy ra từ cái vốn hiểu biết rất đầy đặn của mình.”
Còn cuốn tiểu thuyết Gã tép riu dù mới xuất bản cuối năm 2013 nhưng
cũng đã có không ít bài giới thiệu trên các báo, một số bài nghiên cứu, phê bình của các nhà chuyên môn Trên trang http://vanvn.net có bài phê bình của nhà văn Tô Đức Chiêu Tác giả bài viết đã đánh giá cao tác phẩm này bởi:
“Nguyễn Bắc Sơn vẫn bộc lộ những mặt mạnh vốn có mà ít người ở tuổi đầu bạc răng long, trong đó có cái thằng nhà văn quèn tôi đây, khó có thể bắt nhịp được: Đó là phản ánh những gì đang xảy ra hôm nay, đang nhảy múa trước mặt ta kia” Cùng bàn về tác phẩm này, Đặng Văn Sinh (Trên trang
Trang 14tapchinhavan.vn) lại chú ý nhiều vào vấn đề “Văn hóa tình dục và tình yêu” trong tiểu thuyết Ông cho rằng: “Vấn đề Gã tép riu đặt ra nằm trong lĩnh vực
tinh thần, phi vật thể nhưng lại được các nhà quản lí coi là nhạy cảm, thậm chí cấm kị” Đồng thời ông cũng có những nhận xét xác đáng về nghệ thuật
tác phẩm: “Gã tép riu là một cuốn tiểu thuyết hiện đại có tính hệ thống cao,
trong đó hệ thống tổng quát chi phối chặt chẽ hệ thống chi tiết được tác giả vận dụng khá chuyên nghiệp để gài những thông điệp nghệ thuật dưới hình thức phản biện xã hội”, “phần truyện là một đại tự sự bao quát các mối quan
hệ đa chiều của hệ thống nhân vật” Đặng Văn Sinh cũng cho rằng nghệ thuật
tác phẩm còn cũ, chưa có nhiều đổi mới: “Nguyễn Bắc Sơn luôn có lối viết
dựa trên những nguyên tắc truyền thống của tiểu thuyết cổ điển”, “Toàn bộ tác phẩm được phát triển theo trình tự thời gian tuyến tính qua 51 mục…”
Trên báo văn nghệ quân đội số 775 (cuối tháng 6 năm 2013), Bùi Việt Thắng cũng cho rằng đây là một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn, trong đó nhà nghiên cứu
này phân tích : “không khí truyện chính là yếu tố hàng đầu” và“nhân vật sắc
nét là một yếu tố quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của Gã tép riu”
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao đóng góp của Nguyễn Bắc Sơn trên lĩnh vực tiểu thuyết ở các phương diện cơ bản như: đề tài, nhân vật, và ngôn ngữ đồng thời cũng đã chỉ ra một số hạn chế nhỏ của nhà văn ở một vài phương diện Song do dung lượng của bài báo và mục đích nghiên cứu nên chỉ mới dừng lại ở mức khái quát chung chung chứ chưa thật
sự tỉ mỉ, chi tiết
Bên cạnh đó, tôi cũng đã tìm thấy ở thư viện Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội và trên mạng intenet, có 2 luận văn
thạc sĩ và một vài tiểu luận nghiên cứu về Nguyễn Bắc Sơn như: Tiểu thuyết
Nguyễn Bắc Sơn dưới góc nhìn thể loại của Lương Dương Ly trường
Trang 15ĐHKHXH&NV Hà Nội Luận văn này đã nghiên cứu khá kĩ cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ giọng điệu trong hai tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Bắc
Sơn Còn luận văn của Lục Thị Thảo – Đại học Vinh với đề tài Thế giới nhân
vật trong tiểu thuyết Luật đời & cha con của Nguyễn Bắc Sơn lại chỉ tập trung
vào các kiểu nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn trong tiểu thuyết này Còn có một số bài nghiên cứu của một vài sinh viên đại học về tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn nhưng còn mang tính khái quát và sơ lược
Những bài báo, bài phê bình và công trình nghiên cứu đó đã gợi mở cho tôi nhiều vấn đề xung quanh nội dung và những giá trị nghệ thuật đặc sắc của tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn Tuy nhiên, tôi nhận thấy chưa có công trình khoa học nào đi sâu vào việc nghiên cứu cụ thể nghệ thuật trần thuật trong ba tiểu thuyết của nhà văn này Bản thân tôi muốn đi sâu tìm hiểu và có một công trình nghiên cứu sâu hơn về những thành công và một số mặt còn hạn chế trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Bắc Sơn qua ba tiểu thuyết ông đã xuất bản Hi vọng, hướng đi này của tôi ít nhiều sẽ có những đóng vào việc khẳng định giá trị sáng tác của nhà văn nói riêng và tiểu thuyết đương đại nói chung
3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Mục đích của luận văn này nhằm phân tích làm rõ những thành công và một số mặt còn hạn chế trong nghệ thuật trần thuật ở tiểu thuyết của Nguyễn
Bắc Sơn Lấy cả ba tiểu thuyết ông đã xuất bản Luật đời & cha con, Lửa
đắng, Gã tép riu để khảo sát, nghiên cứu Trong đó, tập trung nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn trên các
phương diện: Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật, cách tổ chức kết cấu tác phẩm, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trang 16- Phương pháp tiếp cận loại hình học
- Phương pháp tiếp cận tự sự học
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm ba chươg như sau:
Chương 1: Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn
Bắc Sơn
Chương 2: Kết cấu trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN
1.1 Một số vấn đề lí thuyết
Người kể chuyện là một phạm trù quan trọng của trần thuật học, và cũng là một thuật ngữ công cụ của tự sự học Trong tác phẩm trữ tình hoặc kịch không có phạm trù người kể chuyện, nhưng trong tác phẩm tự sự đây lại là một phạm trù tất yếu và đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức tác phẩm
Người kể chuyện chính là người dẫn dắt, tổ chức mạch truyện Theo Từ điển
thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên),
“người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật” Còn khái niệm người trần thuật lại được định nghĩa là“một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà
văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành Trong các tác phẩm trần thuật mang tính chất văn học thì người trần thuật…bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn, hoặc hiện trong tác phẩm tự sự” [35, tr.221-222]
Trước đây nhiều người thường đồng nhất người kể chuyện và tác giả, tuy nhiên đây là một quan niệm không hoàn toàn chính xác Trong tác phẩm trần thuật mang tính chất văn học, người kể chuyện có thể là hiện thân của tác giả nhưng đa phần không đồng nhất với tác giả ngay cả khi người kể chuyện xưng tôi Nhà văn có thể nhập vai người kể chuyện để biểu hiện những tư tưởng cảm xúc của mình nhưng người kể chuyện ấy không hoàn toàn là chính tác giả nữa Có thể nói, về bản chất thì người kể chuyện chính là một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra, có nhiệm vụ trần thuật lại câu chuyện một cách trung thực
Trang 18Nếu căn cứ vào vị trí của người kể chuyện trong tác phẩm, chúng ta có người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và người kể chuyện ở ngôi thứ ba
Nếu là ngôi thứ nhất – người kể lộ diện là người kể chuyện đang kể lại câu chuyện mà mình chứng kiến, tham gia hay câu chuyện về chính bản thân anh
ta Nếu là nhân vật chính thì người kể chuyện là cái “tôi” – vai chính, còn nếu
là nhân vật phụ thì anh ta sẽ là cái tôi – chứng nhân, khi đó khoảng cách giữ câu chuyện và người kể chuyện bị triệt tiêu Người kể chuyện tham gia vào câu chuyện và đứng ở vị trí bên trong câu chuyện nên có điều kiện nhìn sâu,
đi sát vấn đề mà mình đang kể Tất nhiên, lời kể trong trường hợp này sẽ thể hiện tính chất chủ quan cao độ, thể hiện sắc thái cảm xúc của chính nhân vật
kể - người kể Nó có thể mang tư tưởng quan điểm của tác giả nhưng không phải lúc nào cũng trùng khít với tác giả
Còn khi câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba – người kể chuyện hàm ẩn, là hình thức kể mà ở đó người kể hoặc chưa được ý thức hoặc đã được ý thức nhưng cố giấu mình đi Trong trường hợp này, ngôn ngữ kể thường mang tính khách quan và dường như người kể chuyện có cái nhìn “toàn tri” thông tỏ hết mọi nhẽ Không xuất hiện trực tiếp nhưng người kể chuyện có thể xâm nhập vào tâm lí, ngôn ngữ nhân vật Do đó, trong một số trường hợp đôi khi rất khó phân biệt giọng của người kể chuyện với nhân vật Kiểu trần thuật ngôi thứ ba này gồm có trần thuật theo tác giả và trần thuật theo tâm lí nhân vật Trần thuật theo tác giả là câu chuyện được kể theo điểm nhìn của người kể chuyện
- tác giả, không phải là nhân vật trong câu chuyện mà là người ngoài cuộc với khả năng nhìn nhận “thấu triệt” mọi vấn đề Đây là kiểu trần thuật truyền thống thường thấy trong truyện cổ tích, truyền thuyết Ngược lại có khi người
kể chuyện vẫn là tác giả nhưng câu chuyện, sự kiện được kể lại đặt vào điểm nhìn của nhân vật, hay nói chính xác hơn là tác giả đặt cái nhìn của mình vào
Trang 19tâm trạng của nhân vật để trần thuật lại Kiểu trần thuật này được các nhà văn hiện đại thường sử dụng
Vậy là gắn với phạm trù người kể chuyện chúng ta có phạm trù điểm nhìn trần thuật Điểm nhìn trần thuật là chỗ đứng, là vị trí quan sát mà người
kể chuyện dùng để tái hiện lại câu chuyện của mình Theo lí thuyết tự sự học,
có ba kiểu nhìn (gắn với ba kiểu điểm nhìn) phổ biến ở người kể chuyện:
Nhìn “từ đằng sau” (gắn với điểm nhìn toàn tri) khi người kể chuyện có vai
trò toàn năng với cái nhìn thông suốt tất cả mọi vấn đề trong câu chuyện anh
ta kể Nhìn “từ bên trong” (gắn với điểm nhìn bên trong) khi người kể chuyện
là nhân vật tham dự vào câu chuyện đó có thể với tư cách là nhân chứng, cũng
có thể với tư cách là nhân vật chính trong truyện Nhìn “từ bên ngoài” (gắn
với điểm nhìn bên ngoài): Đây là điểm nhìn của người kể chuyện khi anh
ta đứng ngoài, chỉ kể “chuyện” chứ không hiểu rõ tâm lí nhân vật
Còn theo giáo trình Dẫn luận thi pháp học của GS.Trần Đình Sử, điểm
nhìn trần thuật còn được xét ở phạm vi rộng hơn Điểm nhìn trần thuật còn bao gồm cả vốn tri thức, vốn văn hóa, không gian, thời gian, địa vị, giai cấp, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính… của người kể chuyện (người kể chuyện ở đây lại được xem như là tác giả) Ví dụ cùng nhìn về cuộc chiến tranh bảo vệ
tổ quốc nhưng cái nhìn của các nhà văn thời chiến có những nét khác biệt cơ bản đối với nhà văn thời hậu chiến Cùng đánh giá về nhân vật Trương Chi (Trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp) nhưng mỗi người một ý kiến… Bên cạnh đó, khi xét điểm nhìn trần thuật, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến điểm nhìn trực tiếp hay gián tiếp, điểm nhìn cá nhân hay cộng đồng…
Trong nghệ thuật kể chuyện có những tác phẩm chỉ có một kiểu điểm nhìn
từ đầu đến cuối, có những tác phẩm phối ghép nhiều kiểu điểm nhìn hoặc luân
Trang 20phiên trượt điểm nhìn Những tác phẩm tự sự đương đại có nhiều sáng tạo và đổi mới trong việc sử dụng điểm nhìn trần thuật Điều này đem lại những cách cảm nhận mới đầy thú vị đa chiều về cuộc sống và con người Có nhiều tác phẩm phối kết hợp nhiều điểm nhìn khác nhau làm cho câu chuyện được kể hiện lên chân thực và sinh động vô cùng, đem đến cho con người những cảm nhận toàn diện về đối tượng
Điểm nhìn trần thuật biểu hiện qua các phương tiện nghệ thuật, ngôi kể, lời văn, giọng điệu, cách gọi tên sự vật… Nó cung cấp một phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật của tác phẩm, nhận ra phong cách đặc trưng của nhà văn Trong tác phẩm, việc tổ chức điểm nhìn trần thuật bao giờ cũng mang tính sáng tạo cao độ của nhà văn Thông qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có dịp đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và nhận ra đặc điểm phong cách của nhà văn
Việc nghiên cứu điểm nhìn trần thuật phải linh hoạt và nhạy bén trong từng tác phẩm và ở mỗi tác giả Không đơn giản chỉ xét điểm nhìn với mối quan hệ người kể chuyện đứng bên trong hay bên ngoài câu chuyện mà còn phải xem xét, người kể chuyện trong mối quan hệ về không gian, thời gian, văn hóa, giai cấp, học vấn, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, thái độ chính trị, địa vị xã hội, điểm nhìn cá nhân hay điểm nhìn theo chuẩn văn hóa tập thể… Với cái nhìn khách quan toàn diện và sâu sắc như thế khi nghiên cứu nghệ thuật trần thuật chắc chắn chúng ta sẽ có những phát hiện sâu sắc về phong cách tác giả, những đặc sắc và hạn chế của tác phẩm
1.2 Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
1.2.1 Ngôi kể thứ ba
Nếu như nhìn trên tầm khái quát toàn bộ tác phẩm thì cả ba tiểu thuyết của
Trang 21Nguyễn Bắc Sơn, từ Luật đời & cha con, Lửa đắng cho tới Gã tép riu, đều
được trần thuật ở ngôi thứ ba – người kể ẩn dấu Người kể chuyện ở đây, không xuất hiện, không tham dự trực tiếp mà “ẩn nấp” đằng sau câu chuyện
và những sự kiện được kể lại Đây là ngôi kể quen thuộc trong văn học dân gian cũng như văn xuôi trung đại Với ngôi thứ ba truyền thống này, thường thì người kể chuyện là toàn tri, biết tuốt, có cái nhìn thấu suốt, thông tỏ mọi chuyện, mọi sự kiện, vấn đề cũng như thế giới nội tâm suy nghĩ các nhân vật Theo lí thuyết tự sự học, ngôi kể thứ ba này sẽ gắn với điểm nhìn đằng sau, người kể chuyện có vai trò toàn năng với cái nhìn thấu tỏ tất cả mọi vấn đề trong câu chuyện anh ta kể, thấu tỏ tất cả những gì mà người kể chuyện tái hiện
Có thể khẳng định rằng: ngôi kể thứ ba với cái nhìn khách quan toàn cảnh, đầy khái quát và tinh tường là một lựa chọn phù hợp với đề tài mà ba cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn phản ánh Chuyện chính trị, xã hội, chuyện
cơ chế, tổ chức là những vấn đề chung của cuộc sống xã hội Nếu chọn ngôi
kể thứ nhất có lẽ sẽ không phù hợp Ngôi kể thứ ba chính là phương án tối ưu
Đọc cả ba tiểu thuyết Luật đời & cha con, Lửa đắng, Gã tép riu chúng ta đều
không thấy sự hiện diện của người kể chuyện Người kể chuyện không xưng danh, không xuất hiện trong tác phẩm Chúng ta chỉ “nghe thấy” câu chuyện,
“nhìn thấy” sự kiện xuất hiện thông qua lời kể của một người dấu mặt, ẩn danh, không biết tên tuổi, giới tính, nghề nghiệp…
Người kể chuyện trong hai tiểu thuyết đầu của Nguyễn Bắc Sơn như là một nhân chứng đứng trên mọi câu chuyện, mọi sự kiện diễn ra xung quanh gia đình ông Lê Hòe và thành phố Thanh Hoa, nơi họ sống Đó cũng có thể xem là bức tranh xã hội Việt Nam trong khoảng thời gian gần 100 năm trở lại đây Người kể chuyện nhìn thấy thấu đáo những biến động lớn nhỏ, những ưu
Trang 22nhược điểm những mặt phải - trái tiêu cực và cả tích cực của cá nhân, của xã hội như nó vốn có
Nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết Luật đời & cha con là Lê Hòe được
tái hiện một cách khách quan, toàn diện Từ những nét đẹp phẩm chất tính cách của một cán bộ cấp cao đến những suy nghĩ tính toán rất “con người” trong thời buổi khó khăn, đói kém Có những buổi giảng nghị quyết đầy niềm tin và hứng khởi nhưng cũng có những phút giây tính toán cân đong từng chai
mỡ, những ham muốn xác thịt nhất thời không thể chế ngự bằng lí trí Việc ông lấy bà Phụng – người vợ chui làm ở của hàng mậu dịch, việc ông nhờ cô gái nhà quê tên Dự tẩm quất hay việc ông qua đêm cùng một cô gái bán hoa ở khách sạn… là những ví dụ về phần người trong nhân vật cán bộ cấp cao này Còn nhân vật Lê Đại con trai ông thức thời và “kinh tế” hơn nhiều Cũng vì quá thức thời và “kinh tế” mà Đại dù thắng lợi trong chuyện làm ăn nhưng lại gặp những bi kịch trong cuộc sống gia đình Người vợ tưởng như hết mực thủy chung cuối cùng lại chết trong chuyến đi chơi cùng tình nhân Người con trai của họ cũng sa đà hư hỏng đến mức khó cứu vãn Và bi kịch nhất chính là việc Đại lại lấy Kiều Linh – người tình cũ của chính con trai mình làm vợ… Đại được biết đến như một doanh nhân thành đạt, có nhiều đóng góp cho xã hội, và Đại cũng được tái hiện ở cả góc độ cuộc sống đời thường như sự kém cỏi trên “mặt trận hàng chiếu”
Những chuyện lớn, chuyện nhỏ, chuyện hay chuyện dở của đời sống xã hội cũng được tác giả tái hiện không ngần ngại Nỗi đau của một số người trong thời kì đấu tố, cải cách đã được nhà văn dựng lại qua một vụ đấu tố địa chủ ở quê ông Hòe Những mậu dịch viên ở cửa hàng thời bao cấp đầy “uy quyền” được điển hình hóa qua nhân vật bà Phụng Đến những buổi họp chi
bộ vô nghĩa, hình thức đều được tái hiện vô cùng chân thật sinh động qua lời
Trang 23người kể chuyện không lộ diện Với việc chọn người kể chuyện ẩn dấu này, nhà văn đã đem lại cho người đọc một cái nhìn khách quan, trung thực và táo
bạo về bức “tranh toàn cảnh” của đời sống xã hội chúng ta
Đến cuốn tiểu thuyết thứ hai, Lửa đắng, người kể chuyện vẫn giấu mặt và
câu chuyện về cuộc sống và con người nơi thành phố có tên là Thanh Hoa vẫn được kể lại qua cái nhìn thông tỏ mọi nhẽ Từ những câu chuyện về buổi sinh hoạt chi bộ đầy kịch biến đến những buổi làm việc, buổi họp đầy căng thẳng của lãnh đạo thành phố, buổi làm việc của Tổng bí thư và lãnh đạo nơi đây đều được soi chiếu từ cái nhìn thấu suốt của người kể Cuộc sống gia đình từng nhân vật, tính cách phẩm chất từng con người, việc làm, suy nghĩ của từng cá nhân đều nằm dưới tầm kiểm soát của người kể chuyện Người kể chuyện như “đức chúa trời” nhìn thấy tất cả những gì đang diễn ra và tái hiện
nó lại trên từng trang viết Chúng ta không chỉ thấy nhân vật Tổng bí thư với
tư cách là một người lãnh đạo qua những buổi họp, những cuộc gặp mặt vì mục đích chính trị - xã hội mà còn được thấy ông trong cuộc sống sinh hoạt đời thường Việc đưa nhân vật Tổng bí thư – một nhân vật chính trị cấp cao vào tiểu thuyết đã là một điểm mới, chưa từng có trong văn học Việt Nam Hơn nữa, nhân vật này lại còn được tái hiện ở phương diện một người chồng, một người ông, một người bạn thì thật toàn diện
Cũng như tiểu thuyết đầu tay, ở Lửa đắng nhà văn vẫn không ngần ngại
đụng chạm vào nhiều vấn đề lớn nhỏ của đời sống xã hội đương đại Từ chuyện trên trung ương đến chuyện dưới địa phương, từ chuyện chính trị xã hội đến chuyện gia đình cá nhân Từ chuyện công khai hàng ngày đến chuyện tắc trách “ngầm ẩn” của cơ chế xã hội hiện nay Những con người nhân cách bản lĩnh như Kiên, Diệu, Triển đến cả những con người vụ lợi, vô sỉ như Sán, Đương, Bắc đều được nhà văn điển hình hóa từ đời sống xã hội chúng ta Mỗi
Trang 24con người, mỗi nhân vật đều được người kể tái hiện lại với những phẩm chất, tính cách như đời sống vốn có Ví dụ nhân vật Thanh Diệu được nhìn từ cả góc độ xã hội đến đời sống tình cảm riêng tư Trong quan hệ xã hội, chị là được biết đến như một người lãnh đạo đầy tài năng trách nhiệm Còn trong quan hệ gia đình, chị cũng là người phụ nữ đầy bất hạnh vì phải sống với một người chồng không cùng chí hướng, không có lí tưởng Người kể chuyện cho
ta thấy vẻ bên ngoài đầy quyền uy, đĩnh đạc của chị nhưng cũng cho ta thấy
cả đời sống nội tâm, đời sống tình cảm đầy bi lụy, khúc mắc của người phụ
nữ này Ngược lại, những việc làm vô liêm sỉ của Vũ Sán – chồng chị là điển hình cho những mặt đen tối trong bức tranh cuộc sống nơi thành phố Thanh Hoa Đời sống chính trị - xã hội, đời sống con người cá nhân, mặt phải, mặt trái, mặt tốt, mặt xấu hòa quyện, đan cài trong nhau tạo nên một bức tranh cuộc sống hiện thực sinh động, đa chiều trong từng chương của tiểu thuyết
Tiểu thuyết Gã tép riu lại xoay quanh cuộc sống, công việc của nhà báo
Bùi Xuân Tùng Từ mối quan hệ riêng tư giữa vợ chồng Tùng và Thủy đến những công việc nơi cơ quan họ, từ chuyện giữa ánh sáng ban ngày đến những chuyện “trong bóng tối” như việc Thủy dùng sắc đẹp, “vốn tự có” để thi đại học, cao học, làm luận văn, quan hệ với bộ trưởng để được thăng chức… đều được người kể chuyện nhìn thấy tất Từ chuyện quản lí chuyên môn trên lĩnh vực báo chí đến từng cuộc làm tình lấy tiền của những cô gái điếm đều hiện lên trên từng trang sách một cách sinh động như chính cuộc sống đang tự phô bày Mặt tốt của những con người tưởng như là xấu xa, nhơ nhớp của cô gái điếm tên Dự đến sự bẩn thỉu, dơ dáy của những con người có
vỏ bọc cao siêu, sang trọng như bà thứ trưởng Nguyễn Diệu Thủy đều không qua mắt được người kể chuyện Và quan trọng hơn, “anh ta” – người kể chuyện kể lại cho chúng ta một cách chân thực như thực
Trang 25kể với Kiên về những việc diễn ra ở trường chị dạy học (trong Lửa đắng), đoạn ông Sùng kể về trận đánh đầy gay go quyết liệt và sự hi sinh anh dũng của bố Kiều Linh (trong Lửa đắng) cho gia đình cô nghe Đặc biệt, nhiều
chương đoạn trong tiểu thuyết Gã tép riu được kể bởi nhân vật Dự - cô gái
từng một thời rơi vào cảnh bán hoa nuôi thân Lúc này, quan điểm, suy nghĩ, nỗi lòng của nhân vật được thể hiện một cách trực tiếp Những vấn đề của cuộc sống con người được tái hiện thông qua lăng kính chủ quan của từng nhân vật Cái tôi chứng nhân giúp cho sự kiện hiện lên chân thật và đáng tin cậy hơn Cũng thông qua việc để cho nhân vật tự kể mà cuộc sống và nhiều vấn đề phức, tạp nhạy cảm của cuộc sống được thể hiện sâu sắc, sinh động
Với cách để cho nhân vật Dự tự kể, tự bộc bạch, tiểu thuyết Gã tép riu
giúp chúng ta hiểu rõ hơn cuộc sống của một cô gái bán dâm thời nay Quá trình sa vào con đường nhục nhã này như một quy luật tâm lí không thể khác của một cô bé nhà quê lên phố khi tuổi đời còn đang quá trẻ Sự đấu tranh nội tâm quyết liệt giữa tiền bạc và nhân cách của một cô gái nghèo hiện lên qua chính lời người kể của nhân vật thật cảm động Rồi đến cả những nỗi đau sâu kín không ai hiểu, những khát vọng mãnh liệt trong cô gái quê nhỏ bé không
ai sẻ chia, cảm xúc hạnh phúc rồi sự hụt hẫng ê chề… đều được nhân vật tự bộc lộ hết sức chân thành và chân thật Nhà văn đã khéo léo tạo kết cấu truyện
lồng truyện để nhân vật tự kể Từ chương 14 của tiểu thuyết Gã tép riu có sự
xuất dày đặc và xen kẽ ngôi kể thứ nhất này Không có cách gì hay hơn để
Trang 26cho Dự tự kể lại cuộc đời mình Đây chắc chắn cũng là một dụng ý nghệ thuật của tác giả Bởi vì như thế, Tùng mới hiểu rõ hơn về cô, và cũng nhờ thế mà khoảng cách giữ họ ngày càng gần nhau để rồi đi đến quan hệ giữa họ vừa như vợ chồng vừa như ân nhân
So với hai tiểu thuyết đầu, cuốn tiểu thuyết thứ ba này của Nguyễ Bắc Sơn sâu sắc và tinh tế hơn trong việc miêu tả đời sống tâm lí con người Có được điều này một phần cũng là nhờ ở việc xen kẽ ngôi kể thứ nhất vào trong ngôi
kể thứ ba Nếu như ngôi kể thứ ba giúp ta có cái nhìn khái quát về cuộc sống thì ngôi kể thứ nhất xen kẽ vào lại giúp cho chúng ta thấu hiểu sâu sắc hơn về con người Cái nhìn hiện thực kết hợp với cái nhìn nhân đạo, cái nhìn lí trí kết hợp với lối tư duy tình cảm, sự tinh vi sắc sảo ấy đã tạo nên giá trị đặc sắc,
độc đáo cho cuốn tiểu thuyết mang tên Gã tép riu này
1.3 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
1.3.1 Điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn nhân vật
Nếu khảo sát tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn theo phương pháp tiếp cận tự sự học, chúng ta thấy điểm nhìn trong tác phẩm được vận dụng khá linh hoạt Nhà văn có sự phối kết hợp luân phiên điểm nhìn người kể chuyện với điểm nhìn nhân vật Có khi trần thuật ngôi thứ ba với điểm nhìn người trần thuật nhưng có khi cũng trần thuật ngôi thứ ba nhưng lại lấy điểm nhìn từ chính nhân vật trong truyện
Trần thuật theo điểm nhìn người kể chuyện là hình thức tự sự truyền thống quen thuộc Người kể đứng ngoài câu chuyện và kể lại những gì mình thấy Còn trần thuật ngôi thứ ba theo điểm nhìn bên trong là hình thức tự sự mới, người kể chuyện lấy thế giới nội tâm của nhân vật làm chỗ đứng để kể chuyện Đó là cách người kể chuyện nhìn các sự vật, hiện tượng bằng con mắt
Trang 27của nhân vật, bằng suy nghĩ, thái độ và cách đánh giá của nhân vật Dòng suy nghĩ, ý thức của nhân vật trở thành điểm tựa để dẫn dắt câu chuyện, sự kiện
Do có sự tham gia của người kể chuyện trong một phạm vi ý thức chủ quan nào đó nên người đọc sẽ cảm nhận khá rõ sự can thiệp của chủ thể trần thuật Các tác phẩm của Nguyễn Bắc Sơn cũng thường xuyên xuất hiện hiện tượng lời người kể, xen lẫn lời nội tâm của nhân vật, hay ta còn gọi là độc thoại nội tâm Câu chuyện có thể được kể từ điểm nhìn của nhân vật, cũng có thể được kể bằng sự kết hợp giữa hai điểm nhìn của nhân vật và người kể chuyện Người kể chuyện với nhân vật mang điểm nhìn không phải là một, nhưng khoảng cách giữa chúng lại rất gần, dường như có những lúc lại trở thành thể thống nhất Hai điểm nhìn đó bổ sung cho nhau, phối hợp lẫn nhau
để làm nổi bật ý tình của truyện Vai trò của dạng thức trần thuật này là làm nổi bật những cái nhìn bên trong tâm hồn con người với hiện thực, với con người
Việc vận dụng điểm nhìn trần thuật từ nhân vật đã được nhiều tác giả vận dụng một cách hiệu quả Nhà văn Nam Cao là một ví dụ, nhiều truyện ngắn
và tiểu thuyết của ông (Chí Phèo, Trăng Sáng, Đời thừa…) luôn vận dụng
linh hoạt điểm nhìn trần thuật từ nhân vật Nó như là một biện pháp nghệ thuật hiệu quả để miêu tả suy nghĩ, tâm trạng và qua đó thể hiện phẩm chất,
tính cách nhân vật Ví dụ trong truyện ngắn Chí Phèo, có khi ngôn ngữ trần
thuật đặt vào điểm nhìn nhân vật chính Chí phèo, có khi đặt vào các nhân vật như Bá Kiến, Thị Nở hay người dân trong làng Những trường hợp này tạo nên tính chất đa thanh, khó phân định rạch ròi đó là ngôn ngữ người kể chuyện hay ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật Nguyễn Bắc Sơn cũng
đã tiếp thu và học hỏi cách trần thuật này của các nhà văn tiền bối Ông sử dụng khá thành công và hiệu quả tạo nên những trang văn đầy tâm trạng, suy
Trang 28tư, đầy cảm xúc của nhân vật Qua đó, nhà văn đã khéo léo để nhân vật như tự bộc lộ mình mà không cần phải miêu tả hay tường minh hóa ra bằng ngôn ngữ người kể chuyện
Mở đầu tất cả các tác phẩm, tác giả đều trần thuật từ ngôi kể thứ ba với điểm nhìn người kể chuyện Câu chuyện được gợi mở, dẫn dắt đầy tự nhiên mang đến cho người đọc sự cảm nhận đầy khách quan về những gì mà người
kể chuyện sắp kể Đây là đoạn mở đầu cuốn tiểu thuyết Luật đời & cha con: “Ngôi nhà hai tầng giữa một con phố cũ, nằm ở khu trong tâm thành phố,
vốn của một quan chức thời thuộc Pháp Hàng rào sắt lửng, nửa dưới là tường gạch phủ đầy hoa ti gôn… Hôm nay ông Hòe lại bị bà vợ làm cho một trận kịch liệt:
- Quái lạ, tôi nhờ ông có mỗi việc hỏi hộ các bác ấy một câu mà ông cứ lần khân là nghĩa làm sao?
Ông gắt: Đã biết thế nào mà hỏi cơ chứ.…” [30, tr.5]
Câu chuyện rõ ràng được kể từ ngôi thứ ba, người kể chuyện ẩn dấu đứng đằng sau kể lại câu chuyện một cách khách quan, không bày tỏ thái độ cảm xúc gì, chỉ kể lại, trần thuật lại mà thôi Nhưng chỉ ngay sau đó, điểm nhìn trần thuật dần dần chuyển đổi một cách linh hoạt từ người kể chuyện sang
nhân vật ông Hòe: “Ông bị chạm nọc Gớm chưa? Nó dám mang nghị quyết
ra giễu ông thì hết chỗ nói.” [30, tr.6] Vẫn trần thuật ngôi thứ ba vì ngôn
ngữ trần thuật vẫn gọi bà Phụng là “nó”, vẫn gọi ông Hòe là “ông” nhưng dường như điểm nhìn không còn khách quan, lạnh lùng bên ngoài câu chuyện nữa mà đã tựa hẳn vào tâm trạng cảm xúc của nhân vật Hòe để trần thuật Câu
hỏi “Gớm chưa?” cũng có thể là nhận xét của người kể chuyện ẩn dấu về bà
Phụng nhưng rõ ràng đó cũng là cảm giác tức thời của nhân vật ông Hòe về
Trang 29mụ vợ “đanh đá cá cầy” của mình Cứ thế, ngôn ngữ trần thuật có lúc tưởng
như không mang cảm xúc, đầy vẻ khách quan, lạnh lùng bên ngoài tác phẩm nhưng có khi như nhảy bổ vào tâm trạng suy nghĩ của nhân vật để nói, để bộc
lộ cảm xúc, thái độ của chính nhân vật Rõ ràng Nguyễn Bắc Sơn đã vận dụng kết hợp điểm nhìn trần thuật bên ngoài và điểm nhìn trần thuật từ nhân vật Nói chính xác hơn, là dù vẫn trần thuật ngôi thứ ba nhưng lại đặt con mắt quan sát vào nhân vật để thông qua đó thể hiện tâm lí và tính cách của nhân vật một cách khéo léo
Đây là những day dứt dằn vặt của ông Hòe khi không vượt qua được ham muốn nhục cảm, trót tìm sự thỏa mãn với cô gái điếm bằng tuổi cháu mình:
“Ông thấy mình chả ra sao Mà ông sang chấn thần kinh thật
Cũng cậy có tiền dày vò cơ thể người ta Nó chỉ đáng tuổi cháu mình Không biết rồi nó có lấy chồng? Có sinh con không? Đời nó sẽ ra sao? Chỉ mươi năm nữa là cùng Khi cơ thể nó nhàu nát đi, mặt mũi nhăn nheo đi, da thịt sẽ nhẽo nhèo đi, còn ai thiết nữa Mình nhẫn tâm quá! Nỗi dày vò cứ ám ảnh làm ông bần thần, bứt rứt, khó chịu, không yên Mấy ngụm cà phê càng làm ông tỉnh táo” [30, tr.302]
Ở đây cũng thế, người kể chuyện như nhập vào tâm trạng, suy nghĩ, xúc cảm dằn vặt cùng nhân vật Hòe Dù vẫn trần thuật ở ngôi thứ ba, vẫn gọi nhân vật
là “ông”, “ông Hòe” nhưng đồng thời kết hợp điểm nhìn cá nhân khi đại từ nhân xưng “mình” xuất hiện như lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật
Trong chương 31 của tiểu thuyết “Gã tép riu”, phần kể về cuộc đời bán
hoa đầy rẫy những phức tạp của cô Dự Nhiều chương đoạn, ngôn ngữ kể chuyện đặt vào điểm nhìn nhân vật Dự Nó như lời tự thuật của nhân vật nhưng không hẳn là lời kể của nhân vật bởi vì vẫn mang giọng của người kể
Trang 30chuyện Câu chuyện của cô gái này vẫn được tái hiện nửa trực tiếp nó như là
sự pha trộn, khó phân biệt rạch ròi lời người kể hay lời nhân vật Đặc biệt những câu hỏi và những câu cảm thán được sử dụng nhiều khiến lời độc thoại nội tâm của nhân vật vật hòa vào lời kể của người kể chuyện Việc lấy điểm tựa tâm trạng nhân vật để kể chuyện vừa tạo nên cái nhìn đa chiều về vấn đề đang trần thuật, vừa góp phần diễn tả tâm lí nhân vật một cách tinh tế và tự nhiên nhất Đây là một đặc điểm thường thấy trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Bắc Sơn ở cả ba tiểu thuyết mà ông đã viết
Hơn nữa, điểm nhìn trần thuật không chỉ tựa vào nhân vật chính mà khi thì nhân vật này, khi thì nhân vật khác không cố định Cũng có thể nói là điểm nhìn luôn luôn di động (đối tượng nhìn cũng di động theo chứ không phải tất
cả các nhân vật cùng nhìn về một hiện tượng một vấn đề) Tiểu thuyết nào của ông cũng có rất nhiều nhân vật, và điểm nhìn trần thuật khi đặt vào nhân vật chính diện, khi đặt vào nhân vật phản diện, khi đặt vào cá nhân khi đặt vào quần chúng Ngay cả trong một cuộc đối thoại giữa hai nhân vật, ngôn ngữ trần thuật khi thì đặt vào suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật này, khi lại đặt vào suy nghĩ tâm trạng nhân vật kia Điều này, giúp chúng ta vừa hiểu rõ tâm trạng suy nghĩ, cách nhìn của các nhân vật về cùng một sự kiện vừa cho cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề đang bàn Với cách trần thuật này, chúng ta thấy cách nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề vừa sâu sắc vừa đa chiều của tác giả
1.3.2 Điểm nhìn tác giả
Như trên đã nói, điểm nhìn trần thuật còn xét ở những phương diện: không gian thời gian, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, văn hóa, hệ tư tưởng…của nhà văn Đây cũng là một điều cần bàn ở các sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn nói chung và tiểu thuyết của ông nói riêng Như chính nhà văn đã từng tâm sự với
báo chí “Tôi là người trong cuộc mổ xẻ chứ không đứng ngoài dẩu mỏ chửi
Trang 31vào, cũng không chửi đổng Tôi viết với tất cả đau đớn, vật vã và khổ sở, với ý thức xây dựng tháo gỡ” (Trả lời phỏng vấn của nhà thơ Vũ Duy Thông) Như
các nhà nghiên cứu đều đã khẳng định, cái mới nhất của tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn chính là ở đề tài chính trị xã hội đương đại với trọng tâm là chuyện
cơ chế Cái mà theo như ông nói “người ta biết cả đấy nhưng người ta ngại
viết” Đúng như thế, một vấn đề nhạy cảm dễ đụng chạm trong xã hội, lại là
vấn đề khó viết nên người ta ít nhiều còn né tránh, hoặc chọn cách viết không
đi trực tiếp như tác giả Và với điểm nhìn của một người trong cuộc, một người đầy trách nhiệm với đời, với xã hội, với cuộc sống, những trang viết của Nguyễn Bắc Sơn vì thế chứa đựng tâm huyết của chính tác giả Người kể chuyện không kể chuyện của người ta, chuyện họ mà như đang kể chuyện chúng ta, chuyện tốt xấu của chính xã hội mình nên đầy thẳng thắn, bộc trực, nhưng cũng vô vàn trăn trở, suy tư Những gì được viết ra xuất phát từ cái nhìn, từ tấm lòng của một con người luôn đặt lên vai mình trách nhiệm, luôn ý thức về trách nhiệm cá nhân đối với xã hội Dường như khát vọng cháy bỏng
về những cải cách xã hội là nguồn mạch cảm hứng chính trong dòng mạch cảm xúc của nhà văn Có lẽ nhà văn đã tự tin không sai, chính tinh thần, thái
độ và điểm nhìn có trách nhiệm của người trong cuộc đó mà tiểu thuyết của ông được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt Tấm lòng tình cảm và tâm huyết của tác giả được người đọc trân trọng, sẻ chia
Nếu xét cụ thể về phương diện nghề nghiệp, chúng ta thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa nghề nghiệp của chính tác giả với những vấn đề mà ông khai thác trong tác phẩm Nhà văn Hoàng Minh Tường, phó trưởng ban sáng tác hội
nhà văn Việt Nam đã nhận xét rất xác đáng: “… ẩn nấp sau những con chữ
của hơn 500 trang sách là những thân phận, những mảnh đời mà chỉ dưới góc nhìn của một nhà giáo, nhà báo, nhà quản lí văn học, nhà Hà Nội học Nguyễn Bắc Sơn mới khiến người đọc bị cuốn hút và thuyết phục”[30,
Trang 32tr.546] Trần Dũng, tổng biên tập Nhà xuất bản lao động cho rằng: Lửa đắng của Nguyễn Bắc Sơn được viết bằng trái tim của một nhà văn Đảng viên, một người trong cuộc với tâm thế xây dựng rất có ích cho đất nước cho Đảng, không phải chỉ ngày hôm nay (Dẫn theo trang web của Bộ văn hóa thể thao
và du lịch, http://cinet.gov.vn/] Nguyễn Bắc Sơn sau khi tốt nghiệp trường
Đại học sư phạm Hà Nội năm 1962 Mười năm sau đó ông là một giáo viên dạy văn, luôn bám sát bục giảng Năm 1972, ông gia nhập quân ngũ, sống cuộc đời một người lính ngay từ những năm chiến tranh ác liệt Ra khỏi chiến tranh lại trở về với vai trò người giáo viên trên bục giảng Từ năm 1982 đến năm 1992, ông giữ chức hiệu phó trường Chu Văn An Sau đó, ông nhận làm trưởng phòng quản lí báo chí – xuất bản, sở Văn hóa thông tin Hà Nội bởi đó
là nơi ông được thỏa mãn sở thích viết lách Những năm công tác ở đây giúp ông hòa nhập thật sự vào thực tế cuộc sống, được va đập, được cọ xát, tích lũy một vốn sống khổng lồ để tạo tiền đề cho những cuốn tiểu thuyết Như Ma
Văn Kháng trên trang web http://vanvn.net của Hội nhà văn V iệt Nam nhận xét: “Nguyễn Bắc Sơn am hiểu nhiều mặt, kể cả mặt trái, mặt tối tăm của
cuộc sống hôm nay Anh thông thạo đến chi li ngóc ngách mọi mặt đời sống,
từ cao sang đến thấp hèn, kể cả những chuyện vặt vãnh trong thường nhật, thậm chí nhiều khoản mục đạt đến mức quái kiệt”
Với vốn kinh nghiệm dạy học hơn 20 năm, với thời gian dài làm việc ở trường học nên khi kể chuyện trường lớp, thầy trò, đồng nghiệp chúng ta thấy tác giả có một cái nhìn thật sâu sắc, thấu tỏ Quan hệ đồng nghiệp, quan hệ thầy trò được nhà văn khai thác tinh tế và triệt để Đặc biệt nỗi lòng tâm sự của người làm nghề giáo đầy trách nhiệm như Thảo Tần và một số giáo viên trẻ được nhà văn nâng niu trân trọng, cùng những tâm sự nỗi lòng trăn trở vì học trò vì chất lượng đào tạo Bên cạnh đó, nhà văn cũng không ngần ngại phanh phui một số ung nhọt, những tồn tại đáng tiếc trong ngành giáo dục
Trang 33chúng ta Ví dụ chuyện “trên đe dưới búa” của những người làm lãnh đạo ở
các trường dạy học, chuyện chạy theo thành tích, mục tiêu thiếu thực tế hay chuyện những nhà giáo trình độ còn non kém lại có tính ích kỉ, nhỏ nhen,
ghen tuông, đố kị đồng nghiệp như cô Tâm trong tiểu thuyết Lửa đắng… Tâm
lí tuổi học trò dù được miêu tả, tái hiện không nhiều nhưng cũng đầy tự nhiên, hài hước và tinh tế
Công tác trong ngành báo chí với khoảng thời gian 10 năm cũng quá đủ để cho tác giả có những cái nhìn đầy sâu sắc về nghề này Đó là khoảng thời gian quý báu trong đời, ông đi nhiều, được tiếp xúc nhiều, cọ xát và va đập nhiều hơn với cuộc sống hàng ngày Báo chí chính là niềm đam mê của ông và cũng
là cầu nối ông với những vấn đề nhạy cảm của cuộc đời Hình tượng những
nhà báo như Triển, Phong, Nhâm trong 2 tiểu thuyết Luật đời & cha con, Lửa
đắng hay nhà báo Trần Xuân Tùng trong Gã tép riu là những chiến sĩ xung
kích táo bạo trên mặt trận báo chí, không có cái gì có thể khiến họ quên đi trách nhiệm cao cả của một nhà báo chân chính đối với xã hội Họ chính là những con người góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh cái xấu cái ác, đưa đất nước, xã hội ta tiến lên Những việc làm của họ, những suy nghĩ tâm
tư của Triển, của Tùng chỉ có thể tái hiện sinh động, tỉ mỉ như thế dưới điểm nhìn của chính người trong cuộc – những người từng sinh nghề tử nghiệp với báo chí như chính nhà văn Nguyễn Bắc Sơn Vốn sống phong phú sâu sắc của ông chính là chiếc chìa khóa quan trọng để ông mở cánh cửa dẫn dắt người đọc vào bức tranh cuộc sống xã hội đương đại muôn màu, muôn vẻ Nhà văn quả có cái nhìn đa chiều và sâu sắc về cuộc sống và con người hôm nay Cái tốt, cái xấu, cái hay cái dở trong mỗi lĩnh vực đều được nhà văn quan sát ghi nhận và đưa vào tác phẩm chân thật, khéo léo vô cùng
Vốn là người có nhãn quan chính trị sáng suốt, một người Đảng viên đích
Trang 34thực, nhà văn viết về cuộc sống xã hội đương đại còn với cả cái nhìn mang tính dự báo Đây là một đặc điểm mà nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến khi nghiên cứu bình luận về tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn Sống trong cuộc sống xã hội hiện đại hiện nay, Nguyễn Bắc Sơn không chỉ tái hiện lại những gì đã và đang xảy ra mà ông còn có cái nhìn hướng tới cái sẽ xảy ra Chính vì thế, dù hư cấu song những gì ông viết mang hơi hướng dự báo cho tương lai sắp tới Ông đã sớm phát hiện ra những thế lực đen tối từ ngoại bang đang có biểu hiện và tham vọng thao túng kinh tế rồi đến cả chính trị nước ta Hình ảnh “người lơ lớ” đầy mập mờ ẩn hiện trong tác phẩm nhưng là một mối nguy hiểm đang rình rập nền kinh tế, chính trị, xã hội Nhà văn cũng đã dám vượt lên để nhìn về những bất cập trong chế độ quản lí báo chí của chúng ta
để từ đó mượn lời một số nhân vật tiêu biểu như Triển trong Lửa đắng, Tùng trong Gã tép riu đưa ra những đề xuất kiến nghị cải cách táo bạo Và đặc biệt
táo bạo nhất là những vấn đề trong tổ chức Đảng và Nhà nước, mối quan hệ khó rạch ròi về vai trò trách nhiệm giữa Đảng và Chính quyền, sự thao túng của một bộ phận lãnh đạo, thái độ trì trệ, bảo thủ cổ hủ lạc hậu của thế hệ trước là lực cản mạnh đối với con đường cải cách đổi mới đất nước Mượn hình ảnh nhân vật Kiên, ông Bân - bí thư Thành ủy mới và Tổng bí thư làm đại diện để dự báo và thực nghiệm đường hướng cải cách Cái nhìn chính trị
xã hội đầy sáng suốt, táo bạo đó đã không chỉ nhìn thấy những gì cần làm mà còn nhìn thấy cả những lực cản khó cưỡng đối với sự nghiệp cải cách đất nước
Tiểu kết: Tóm lại, qua ba cuốn tiểu thuyết đã xuất bản, chúng ta thấy Nguyễn Bắc Sơn là nhà văn đã có sự dụng công trong việc lựa chọn điểm nhìn trần thuật Mặc dù chọn cách trần thuật từ ngôi thứ ba ẩn dấu nhưng điểm nhìn trần thuật không chỉ một phía từ đằng sau Ông đã khéo léo kết hợp điểm nhìn bên ngoài với điểm nhìn bên trong - điểm nhìn nhân vật Hơn thế
Trang 35luôn luôn có sự luân phiên biến đổi linh hoạt từ điểm nhìn nhân vật này sang điểm nhìn nhân vật khác Điều đó không chỉ có tác dụng tạo nên cái nhìn đa chiều, toàn diện hơn về con người và cuộc sống mà nó còn có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng nhân vật Khi tựa vào tâm trạng suy nghĩ của nhân vật để trần thuật cũng đồng thời là khi tác giả để cho nhân vật tự thể hiện mình một cách tự nhiên, chân thật và sinh động nhất Thế giới bên trong đầy bí ẩn của hàng loạt nhân vật, hàng loạt kiểu người vì thế được bộc lộ một cách tự nhiên nhất
Bên cạnh đó, chúng ta thấy các sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn luôn đi thẳng vào những vấn đề nhạy cảm nhất của cuộc sống xã hội đương đại Chuyện cơ chế, chuyện tổ chức, chuyện lãnh đạo quản lí đất nước… được ông viết với trách nhiệm tinh thần của một người Đảng viên chân chính, người trong cuộc, với ý thức tháo gỡ và xây dựng Chính vì thế mà các vấn đề nhạy cảm của cuộc sống được nhà văn thẳng thắn vạch ra không ngại ngần, do dự Hơn nữa, ông viết ra với nhãn quan chính trị sáng suốt, thấu tỏ những vấn đề
mà mình đang thao thức, trăn trở Điểm nhìn bên trong gắn với cuộc đời đầy trải nghiệm của một nhà giáo, một nhà báo, một nhà quản lí, một người đảng viên nên đầy toàn diện và sâu sắc Nghề giáo hay nghề báo, chuyện tổ chức hay quản lí, những vấn đề chính trị của đất nước được nhìn dưới con mắt của một nhà báo trở nên sắc sảo, thấu đáo vô cùng Nắm rõ tình hình thực trạng nên dù là hư cấu nhưng nhà văn cũng đã từ hiện tại hướng đến tương lai gần một cái nhìn có tính dự báo đáng tin cậy
Trang 36CHƯƠNG 2: KẾT CẤU TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 2.1 Một số vấn đề lí thuyết
Kết cấu là một phạm trù quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, dường như tất cả các giáo trình lí luận văn học khi đề cập đến bản chất nội tại của tác phẩm văn học đều đề cập đến phạm trù kết cấu Nó có thể xem là một phạm trù mang tính chất trung tâm giữa thi pháp học, kí hiệu học và tự sự học Vậy các nhà nghiên cứu, đã định nghĩa như thế nào về kết cấu?
Giáo trình lí luận văn học do GS Hà Minh Đức chủ biên định nghĩa:
“…các tác phẩm văn học không chỉ khác nhau về chất liệu hiện thực mà còn khác nhau về cách bố trí, sắp xếp, tổ chức sự xuất hiện của các chất liệu hiện thực đó trong tác phẩm; khác nhau về cách bố cục tác phẩm … Tóm lại kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự
tổ chức sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung tác phẩm trên cơ
sở đời sống khách quan theo chiều hướng tư tưởng nhất 179] Còn Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thật ngữ văn học lại viết kết cấu
định”[13.tr,178-chính là “Sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật; tức là sự
cấu tạo tác phẩm tùy theo nội dung và thể tài Kết cấu gắn kết các yêu tố của hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng Các quy luật của kết cấu là kết quả của nhận thức thẩm mĩ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại Kết cấu có tính nội dung độc lập; các phương thức và thủ pháp kết cấu sẽ cải biến
và đào sâu hàm nghĩa của cái đươc mô tả” [1.tr169] Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng
chủ biên lại kết luận “Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của
tác phẩm… Thuật ngữ kết cấu thể hiện một nội dung rộng rãi, phức tạp hơn (bố cục) Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm” [34,tr.156-
Trang 37157] Còn chưa thật đồng nhất và trùng khít ở các định nghĩa nhưng nhìn
chung các khái niệm đều thống nhất quan niệm coi kết cấu của tác phẩm văn
học là “sự tổ chức” và “sự tạo thành và liên kết các bộ phận” nghĩa là những
nguyên tắc, những cách thức liên kết các thành tố cấu thành một chỉnh thể nghệ thuật Nếu xem mỗi tác phẩm nghệ thuật như là một sinh mệnh, một cơ thể sống thì kết cấu tác phẩm chính là hệ thống các mạch máu, dây thần kinh,
cơ bắp, cấu trúc xương… để góp phần tạo nên chỉnh thể sống ấy
Từ đó có thể thấy việc tổ chức kết cấu một tác phẩm nghệ thuật là vô cùng quan trọng Bởi vì kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình Nó không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm, nó góp phần quyết định trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm, thực hiện việc thống nhất chặt chẽ chủ đề tư tưởng với hệ thống tính cách, tổ chức bố cục cốt truyện thành các phần, chương đoạn, lớp, cảnh một cách hợp lí; đồng thời nó bố trí sắp xếp các chi tiết, các sự kiện thành những
bộ phận hữu cơ của một quá trình phát triển biện chứng và cái đích cuối cùng của quá trình đó vẫn là bộc lộ đặc điểm tính cách và khẳng định chủ đề tư tưởng tác phẩm Trong mối quan hệ với chủ đề tư tưởng, kết cấu có nhiệm
vụ tổ chức tác phẩm sao cho chủ đề tập trung, tư tưởng thống nhất, sao cho chủ đề tư tưởng thấm sâu vào từng bộ phận của tác phẩm, kể cả những chi tiết nhỏ nhất Kết cấu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề tư tưởng với hệ thống tính cách Nhờ kết cấu mà tác
phẩm văn học mới trở nên mạch lạc, có “vẻ duyên dáng của sự trật tự”
[1.169], có hồn và có sức sống trong lòng người đọc Có thể nói, kết cấu góp
phần đặc biệt quan trọng tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như là một hiện tượng thẩm mĩ
Trang 38Phạm trù kết cấu khá rộng và được thể hiện vô cùng đa dạng Từ điển
thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên
đã chỉ ra: “Ngoài bố cục, kết cấu còn bao gồm bố cục tổ chức tính cách, tổ
chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện, nghệ thuật trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện… sao cho toàn bộ tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật” [34,tr.157] Việc nghiên cứu cách tổ chức cốt truyện,
cách kiến tạo không gian và thời gian trong tác phẩm, cách tổ chức các tuyến nhân vật, các tính cách… đều là nghiên cứu kết cấu của tác phẩm Với những tác phẩm văn học khác nhau việc nghiên cứu cách tổ chức kết cấu cũng khác nhau Đồng thời, khi nghiên cứu và đánh giá kết cấu một tác phẩm văn học nào đấy, chúng ta cần phải xét nó trong mối quan hệ với việc nó thể hiện như thế nào chủ đề tư tưởng của tác phẩm, xét hiệu quả mà tác phẩm đó để lại trong lòng người đọc Khảo sát kết cấu tác phẩm chính là khảo sát cấu trúc của nó Thông qua việc nghiên cứu cách tổ chức kết cấu của tác phẩm, chúng
ta cũng đánh giá được quá trình làm việc nghiêm túc và quá trình tư duy của nhà văn cũng như quá trình vận động tư duy ấy Tư tưởng sống động của nhà văn bao giờ cũng thể hiện trong kết cấu và qua kết cấu
Với luận văn thạc sĩ này, người viết chỉ xin nghiêm cứu kết cấu tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn chủ yếu từ phương diện tổ chức cốt truyện và trật sắp xếp thời gian các sự kiện
2.2 Cách tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
2.2.1 Kết cấu đa tuyến sự kiện
Theo Giáo trình Lí luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, đối với tác
phẩm văn học có cốt truyện, bên cạnh kiểu kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lí còn có kiểu kết cấu sự kiện Trong đó, giáo trình này phân làm ba loại: kết
Trang 39cấu đơn tuyến, kết cấu song tuyến và kết cấu đa tuyến “Kết cấu đơn tuyến
hay được dùng trong những tác phẩm có tính chất hồi kí, tự thuật Gọi là đơn tuyến vì trong tác phẩm này thường chỉ có một nhân vật chính đóng vai trò trung tâm của cốt truyện” [13, tr.182] “Kiểu kết cấu song tuyến, chủ đề tư tưởng tác phẩm được bộc lộ rõ rệt qua sự so sánh đối chiếu giữa hai tuyến nhân vật phát triển song song với tính chất hoặc đối lập nhau hoặc hỗ trợ cho nhau” [13,tr.182] “Còn kiểu kết cấu đa tuyến thường thấy trong những tác phẩm lớn, mang âm hưởng sử thi…Những tác phẩm này dựng lên một bức tranh xã hội rộng lớn với nhiều tuyến sự kiện, nhiều tuyến nhân vật, nhiều môi trường và địa điểm hoạt động khác nhau của nhân vật” [13,tr.182]
Đến với ba tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn, chúng ta đến với một bức tranh rộng lớn về cuộc sống xã hội đương đại với biết bao nhiêu cuộc đời số phận và con người Với lối viết súc tích và cô đọng, khéo lựa chọn và chắt lọc sự kiện, tác phẩm dù không quá đồ sộ về dung lượng nhưng lại ngồn ngộn sự kiện với biết bao biến cố không chỉ của cuộc đời của nhân vật mà còn
là những bước ngoặt lớn của sự cải cách cơ chế và sự tiến bộ xã hội Các sự kiện ấy lại được nhà văn khéo léo tổ chức, sắp xếp trong mối quan hệ chặt chẽ, lô gic tạo nên một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, hấp dẫn
Tiểu thuyết Luật đời & cha con không chỉ có chuyện ông Hòe và gia
đình ông mà còn là chuyện về thời đại mà ông sống, chuyện về công việc và các mối quan hệ của con trai, con gái, con dâu con rể, những đứa cháu nội ngoại của ông Thậm chí, ngoài chuyện gia đình thì chuyện chính trị chuyện
cơ chế cũng là một dòng sự kiện quan trọng Như Nhà thơ, đạo diễn điện ảnh
Đỗ Minh Tuấn nhận xét: “Quả thật, cuốn tiểu thuyết đầu tay ngồn ngộn vốn
sống chính trị này của Nguyễn Bắc Sơn đã mô tả một guồng quay khá nghiệt ngã như vòng quay của bánh xe luân hồi lăn qua ba thế hệ cha con một cán
Trang 40bộ tuyên huấn cấp cao, chỉ khác là cái bánh xe ấy chính là sự vận hành của
cơ chế tổ chức trong xã hội Việt Nam mấy thập kỉ qua đươc tác giả Nguyễn Bắc Sơn mô tả trong nhằng nhịt trong những quan hệ gia đình xã hội đan xen lẫn lộn giữa chân thành và thủ đoạn, âm mưu và ái tình, trong sáng và đểu giả, sang trọng và nhếch nhác… trong bao nhiêu biến tướng giữa cuộc đời” [30, tr.537],“Luật đời & cha con là cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên mổ xẻ
sự vận động của toàn xã hội trong quá trình đổi thay cơ chế, một sự vận động đụng chạm đến từng gia đình, từng số phận” [30, tr.541]
PGS.TS Nguyễn Bích Thu đã xếp các tuyến sự kiện trong Luật đời & cha con thành hai mảng chính là mảng gia đình và mảng xã hội Bà đánh giá
cao cách tổ chức kết cấu tác phẩm của nhà văn: “Kết cấu tiểu thuyết Luật đời
& cha con đã thể hiện rõ cái nhìn mới của Nguyễn Bắc Sơn về cuộc đời và con người Dường như trong tiểu thuyết hai mảng này không tách rời mà đan xem hòa quyện” [30, tr.556] Chúng ta thấy, trong cả hai cuốn tiểu thuyết đầu
tay, mảng gia đình được tái hiện với ba thế hệ cùng chung sống Trong đó, nhà văn đã chỉ ra những nét đặc trưng riêng của từng thế hệ trong mối liên hệ với đặc trưng của từng giai đoạn lịch sử xã hội Việt Nam Gắn với thế hệ cha ông ta những năm chiến tranh và những năm đầu xây dựng chế độ là lớp người cần mẫn, giác ngộ chính trị cao như Lê Hòe Tuy nhiên, hạn chế của họ
là suy nghĩ và làm việc một cách máy móc theo lí tưởng Xã hội chủ nghĩa, đến mức có những việc làm chỉ dựa vào lòng tin nên có phần xa rời thực tiễn cuộc sống Sự kiện đi giảng nghị quyết ở Hải An của Lê Hòe là một dấu mốc quan trọng để chính bản thân ông cũng nghi ngờ về ý nghĩa thực tiễn của những bản nghị quyết Sự kiện phản đối quyết liệt việc Lê Đại xin ra khỏi Đảng rồi việc cùng Đại làm kinh tế tư nhân… là quá trình thay đổi nhận thức, suy nghĩ và việc làm của ông