TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN --- NGUYỄN THU PHƯỢNG THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CÁI TRỐNG THIẾC CỦA GUNTER GRASS VÀ TRONG THIÊN SỨ CỦA PHẠM THỊ HOÀI KHÓA L
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN THU PHƯỢNG
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT CÁI TRỐNG THIẾC
CỦA GUNTER GRASS VÀ TRONG
THIÊN SỨ CỦA PHẠM THỊ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN THU PHƯỢNG
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT CÁI TRỐNG THIẾC
CỦA GUNTER GRASS VÀ TRONG
THIÊN SỨ CỦA PHẠM THỊ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
TS PHÙNG GIA THẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, Tiến sĩ Phùng Gia Thế - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lí luận văn học đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận
Khóa luận hoàn thành nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được những đóng góp, ý kiến từ phía thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu của tôi tiếp tục được hoàn thiện
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thu Phượng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ Phùng Gia Thế Tôi xin cam đoan rằng:
- Khóa luận này là kết quả tìm tòi, nghiên cứu của riêng tôi
- Những tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực
- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu được công bố nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thu Phượng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục của khóa luận 3
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HỌC SO SÁNH VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC SO SÁNH Ở VIỆT NAM 5
1.1 Khái lược về văn học so sánh 5
1.1.1 Khái niệm văn học so sánh 5
1.1.2 Điều kiện hình thành văn học so sánh 6
1.1.3 Lược sử về văn học so sánh 7
1.2 Tình hình nghiên cứu văn học so sánh ở Việt Nam 10
1.3 Cái trống thiếc của G.Grass và Thiên sứ của Phạm Thị Hoài: một số vấn đề về tác giả, tác phẩm 11
1.3.1 Gunter Grass và tiểu thuyết Cái trống thiếc 11
1.3.2 Phạm Thị Hoài và tiểu thuyết Thiên sứ 16
1.3.3 Phạm Thị Hoài - sự kế thừa và ảnh hưởng từ Gunter Grass 18
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG TRONG THẾ GIỚI NHÂN VẬT CỦA CÁI TRỐNG THIẾC VÀ THIÊN SỨ 20
2.1 Nhân vật người lùn, dị dạng - nhân vật gắn với yếu tố phi lí 20
2.1.1 Ngoại hình 20
2.1.2 Lứa tuổi chỉ là vỏ bọc 22
Trang 62.1.3 Hiện thân của xã hội và văn hóa 24
2.1.4 Sự hóa thân 29
2.2 Nhân vật sa đọa - những thiên sứ bị bỏ rơi 30
2.3 Nhân vật nắm giữ lòng tin 34
2.4 Nhân vật đám đông 38
2.5 Nghệ thuật huyền thoại 42
CHƯƠNG 3 SỰ KHÁC BIỆT TRONG THẾ GIỚI NHÂN VẬT CỦA CÁI TRỐNG THIẾC VÀ THIÊN SỨ 46
3.1 Đặc tính nhân vật 46
3.1.1 Oskar trong Cái trống thiếc, nhân vật phản nhân vật- một á hung thần46 3.1.2 Hoài trong Thiên sứ - một thiên sứ trinh khiết 51
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 54
3.2.1 Oskar trong Cái trống thiếc – kiểu nhân vật đƣợc xây dựng theo quan điểm truyền thống 54
3.2.2 Hoài trong Thiên sứ và lối thiết tạo nhân vật phản truyền thống 55
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Hiện nay, văn học so sánh là một bộ môn có vị trí quan trọng trong ngành nghiên cứu văn học Trước đây, văn học so sánh còn chưa có một vị thế xứng đáng nhưng trong một vài năm trở lại đây, văn học so sánh đã được đưa vào giảng dạy trong các trường Cao đẳng và Đại học Nó đã mở ra một hướng tìm tòi mới và hấp dẫn hàng ngàn sinh viên Văn học so sánh vì thế đã chính thức đặt chân vào ngành nghiên cứu văn học và đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của các nhà chuyên môn và người yêu thích văn học
Việc giới thiệu văn học so sánh đã được thực hiện bằng một số chuyên
luận và bài viết, tiêu biểu là các bài trên Tạp chí văn học nhưng mới chỉ dừng
lại ở lí thuyết chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn văn học Gần đây, ở Việt Nam có một vài công trình nghiên cứu như: “Nghiên cứu so sánh thơ
hai-cư, thơ lục bát và thơ tứ tuyệt”, “So sánh tình yêu trong tác phẩm Mái Tây của Vương Thực Phủ và Romeo và Giu-li-et của Sechxpia”, “Cốt truyện trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân và Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du”…
1.2 Cái trống thiếc của Gunter Grass là tác phẩm được đánh giá như
“điểm mốc phục sinh nền văn học Đức khỏi cơn mụ mị thời hậu chiến” Bên
cạnh đó tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài ra đời vào cuối những năm
80 của thế kỉ XX cũng được đánh giá là một tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam Hai tác phẩm nổi tiếng này tiêu biểu cho hai nền văn học khác nhau, hai nền văn hóa khác nhau là Phương Đông và Phương Tây Hai tác phẩm này đã được xem xét, nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau như yếu tố huyền thoại hay dấu ấn phi lí… Tuy nhiên, điều làm nên sức sống của một tác phẩm văn học không gì khác đó chính là thế giới nhân vật
Trang 8Vậy thế giới nhân vật của hai tác phẩm này có gì đặc biệt mà làm nên sức hấp dẫn và sức sống kì diệu trong lòng bạn đọc như vậy? Việc tiến hành so sánh thế giới nhân vật trong hai tác phẩm này sẽ trả lời cho câu hỏi đó
2 Lịch sử vấn đề
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về tác phẩm của G Grass và Phạm Thị Hoài mới chỉ mang tính chất giới thiệu, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả, tác phẩm Gần đây đã có một số công trình tập trung tìm hiểu về hai tác phẩm trên, tiêu biểu trong số đó là các khóa luận,
luận văn như: “Dấu ấn phi lí trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài” của Ngô Mai Liên hay “Huyền thoại trong tiểu thuyết Cái trống thiếc của Gunter Grass” của Nguyễn Thị Huyền Trang Trong công trình nghiên cứu
của mình, Ngô Mai Liên đã đi sâu phân tích các yếu tố phi lí được nhà văn sử dụng trong tác phẩm như: dấu ấn phi lí trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, dấu ấn phi lí trong xây dựng cốt truyện… hay trong luận văn “Huyền thoại
trong tiểu thuyết Cái trống thiếc của Gunter Grass”, Nguyễn Thị Huyền
Trang đã giới thiệu chung về huyền thoại và tiểu thuyết huyền thoại thế kỉ
XX, phân tích các yếu tố huyền thoại trong tiểu thuyết Cái trống thiếc của
Gunter Grass trên các phương diện: biểu tượng, mô-tip, huyền thoại trong xây dựng nhân vật Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Huyền Trang cũng nghiên cứu, khai thác một số thi pháp huyền thoại hóa như: sự lặp lại, không gian, độc thoại nội tâm và kỹ thuật dòng ý thức, những ẩn dụ và chất hài hước đen… trong
tác phẩm Cái trống thiếc của Gunter Grass Tuy nhiên, việc phân tích các tác
phẩm bằng phương pháp của văn học so sánh vẫn còn nhiều hạn chế Vì vậy, việc tiến hành so sánh thế giới nhân vật giữa một tác phẩm của nền văn học Đức, một tác phẩm đã làm nên tên tuổi của G.Grass với một tác phẩm của nền văn học Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ và đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của những người yêu thích văn học và nghiên cứu văn học
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Việc tìm hiểu và so sánh hai tác phẩm văn học có thể được tiến hành trên nhiều khía cạnh khác nhau Trong phạm vi khóa luận này chúng tôi tiến hành so sánh trên một khía cạnh cụ thể đó là thế giới nhân vật trong hai tiểu
thuyết Cái trống thiếc (Gunter Grass của nền văn học Đức) và Thiên sứ
(Phạm Thị Hoài của văn học Việt Nam)
4 Mục đích nghiên cứu
Việc áp dụng các phương pháp của văn học so sánh vào nghiên cứu tác phẩm nhằm khẳng định tính đặc thù của các nền văn học dân tộc, tìm ra nét đặc sắc cùng những giá trị của mỗi tác phẩm Hai tác phẩm viết về cuộc sống của con người ở hai đất nước khác nhau, hai nền văn hóa khác nhau, chính vì vậy mà thế giới nhân vật trong mỗi tác phẩm cũng có những nét riêng biệt,
không trộn lẫn Nghiên cứu đề tài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Thiên
sứ của Phạm Thị Hoài và trong Cái trống thiếc của Gunter Grass” trên tinh
thần so sánh sẽ giúp ta hiểu rõ hơn nét đặc sắc trong cách thể hiện nhân vật của mỗi tác phẩm cũng như hiểu rõ hơn về hai nền văn học độc lập, về quan niệm của mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa… Đồng thời, việc so sánh hai tác phẩm cũng giúp ta dần xác định tính khái quát của văn học quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp hệ thống
Trong các phương pháp trên, phương pháp so sánh, đối chiếu là phương pháp chính được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng giữa các nhà văn
và nghiên cứu sự giao lưu tiếp xúc giữa các nền văn học dân tộc
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc, khóa luận có phần nội dung bao gồm các chương sau:
Trang 10Chương 1: Khái lƣợc về văn học so sánh và tình hình nghiên cứu văn
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HỌC SO SÁNH VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC SO SÁNH Ở VIỆT NAM
1.1 Khái lược về văn học so sánh
1.1.1 Khái niệm văn học so sánh
Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ “văn học so sánh” đã trở nên rất quen thuộc trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học Văn học so sánh ban đầu chỉ là một phương pháp so sánh văn học Trong nghiên cứu, nó là một phương pháp dùng để xác định, đánh giá các hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau
Thuật ngữ “văn học so sánh” trong tiếng Việt bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Pháp “litterature comparee” và thuật ngữ tiếng Anh “comparative literature” xuất hiện từ thế kỉ XVIII Thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1816 trong “Giáo trình Văn học so sánh” của Noel và Lapace, nhưng người làm cho nó trở nên thông dụng là Villemain với giáo trình “Đại cương văn học Pháp” (1827) và Ampere với giáo trình “So sánh lịch sử văn học các nước” Ngoài thuật ngữ “văn học so sánh” còn có các thuật ngữ khác như
“Lịch sử các nền văn học được so sánh” (Pháp, Anh), “Lịch sử văn học so sánh” (Đức), “Nghiên cứu văn học so sánh” (Nga) Khi nói đến văn học so sánh, chúng ta không nên hiểu đó là “một nền văn học được so sánh” mà thực chất nó là một bộ môn khoa học có chức năng so sánh một nền văn học này với một hay nhiều nền văn học khác, hoặc so sánh các hiện tượng của các nền văn học khác nhau
Trang 12Xuất phát từ các cách nhìn nhận và ở các thời điểm khác nhau, giới nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn học so sánh Trong giáo trình
“Lý luận văn học so sánh”, Nguyễn Văn Dân đã đưa ra định nghĩa: Về cơ bản có thể hiểu: Văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc ( hay các nền văn học quốc gia) [4, tr.21]
Nội hàm của cụm từ “mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” bao gồm:
- Các mối quan hệ tiếp xúc trực tiếp giữa các nền văn học khác nhau (Guyard, Tieghem cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX)
- Các mối quan hệ đồng đẳng, các hiện tượng văn học tương đồng, đối lập với nhau, không có quan hệ trực tiếp với nhau
- Các mối tương quan độc lập giữa các hiện tượng khác biệt, đặc thù của các nền văn học khi chúng được đem ra so sánh để giải quyết một vấn đề văn học hay của lịch sử xã hội
Nói theo một cách khác, văn học so sánh là bộ môn nghiên cứu mối quan hệ văn học giữa các nước
1.1.2 Điều kiện hình thành văn học so sánh
Để hình thành nên bộ môn văn học so sánh cần rất nhiều điều kiện khác nhau, trong giáo trình “Lý luận văn học so sánh”, Nguyễn Văn Dân nói đến hai điều kiện hình thành văn học so sánh
- Điều kiện văn hóa- xã hội:
Thế kỉ XVIII- XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển rất mạnh ở Phương Tây Sự trao đổi và giao lưu kinh tế, văn hóa (trong đó có văn học) được thực hiện trên phạm vi quốc tế Trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” Marx và Engels đã đề xuất và hình thành một nền văn học thế giới Như vậy, đến giai đoạn này ở phương Tây đã bắt đầu hình thành một nền văn học thế giới mà điều kiện để cho nó phát triển là sự giao lưu văn hóa
Trang 13Cũng không phải ngẫu nhiên mà mà từ năm 1827, đại thi hào Đức J.W Goethe đã chủ trương phát triển văn học thế giới Ngày 31-1-1827, trong một cuộc trò chuyện, Goethe đã nói: “Ở thời đại chúng ta, văn học dân tộc không còn ý nghĩa gì nhiều; bây giờ là thời đại của văn học thế giới và mỗi chúng ta phải góp phần làm cho thời đại đó hình thành càng sớm càng tốt…” Ở đây, theo ý của ông, văn học thế giới là văn học được hình thành dựa trên sự giao lưu văn hóa quốc tế Nó đề cập đến những giá trị tốt đẹp chung của loài người
Ngày 15-7-1827, trong một cuộc nói chuyện khác, Goethe cũng khẳng định: “Ngày nay, với các mối quan hệ chặt chẽ giữa người Pháp, người Anh, người Đức, chúng ta đã có thể chỉnh lý lẫn nhau Đây là lợi ích lớn mà văn học thế giới đem lại, ích lợi này trong tương lai sẽ càng lớn hơn nữa”
Như vậy, khái niệm “văn học thế giới” của Goethe vừa có nghĩa là nền văn học thế giới, vừa có nghĩa là bộ môn nghiên cứu lịch sử văn học thế giới
- Ngoài điều kiện văn hóa- xã hội ta còn phải nói đến một điều kiện thứ
hai không kém phần quan trọng, đó là điều kiện về học thuật:
Từ đầu thế kỉ XIX, các ngành khoa học lịch sử đã phát triển cực thịnh như người ta thường nói thế kỉ XIX là thế kỉ của khoa học lịch sử, tạo điều kiện dẫn đến sự hình thành và nở rộ của bộ môn khoa học sử, đồng thời phương pháp so sánh cũng đã được nhiều ngành khoa học lịch sử áp dụng, đặc biệt là lịch sử ngôn ngữ học so sánh và lịch sử folklore so sánh
1.1.3 Lược sử văn học so sánh
1.1.3.1 Những tiền đề lịch sử
Bộ môn văn học so sánh ra đời muộn nhưng ý thức so sánh trong văn học thì đã có từ lâu trong lịch sử Từ trước Công nguyên, trong “Nghệ thuật thi ca” của Horace đã xem xét các nhà văn La Mã dưới ánh sáng của các mẫu mực Hi Lạp Ta thấy toàn bộ hệ thống thần thoại La Mã là một sự tiếp thu và
Trang 14cải biên hệ thống thần thoại Hi Lạp Nhà lí luận Maropis đối chiếu tác phẩm của Virgile với các sáng tác Hi Lạp cổ đại Từ thời Phục Hưng, các nhà nhân văn chủ nghĩa chú ý đối sánh văn học trung đại với văn học cổ đại Hi- La
Tới thời cổ điển, các nhà phê bình tiếp tục chú ý so sánh văn học chủ yếu giới hạn vào việc chỉ ra sự vay mượn Có thể kể tới một vài ví dụ như Geogres de Scudery chê Pierre Cooc- nay sao chép đề tài từ “Thiếu thời của Xit” của nhà soạn kịch Ghilende Castero (Tây Ban Nha) thành vở kịch Lơ-xit
Sang thế kỉ XVIII, Sechxpia đã được giới thiệu vào Pháp, Đức Vonte lần đầu tiên so sánh loại hình sử thi trong công trình “Bàn về sử thi của ông” Cuối thế kỉ XVIII, mặc dù việc so sánh văn học đã được thực hiện ở nhiều phương diện nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu so sánh tầm cỡ và theo đúng phương pháp so sánh một cách khoa học
Từ đầu thế kỉ XIX, ở Pháp, tư tưởng văn học so sánh xuất hiện trong nhiều tác phẩm của nhiều học giả như Francois Guizot, Augustin Thiery, Villemain… Tuy nhiên, theo Paul Van Tieghem, các học giả này vẫn chưa có quan điểm thực sự của một khoa học về văn học so sánh
Sự so sánh các nền văn học tiếp tục được khai triển trong “Giáo trình văn học so sánh của Noel, Laplace như “Tổng quan văn học Pháp thế kỉ XVIII”, “Bàn về văn học Pháp” của Villemain, “So sánh lịch sử văn học các nước” của Ampere
1.1.3.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển của văn học so sánh
Văn học so sánh đã trải qua quá trình phát triển hơn một trăm năm và
có thể được chia thành các giai đoạn sau:
- Nửa cuối thế kỉ XIX: Đây là giai đoạn hình thành và khẳng định
Công lao xây dựng nền móng bộ môn phải kể đến các nhà nghiên cứu lịch sử văn học các nước Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Mỹ, Italia… Sau này, anh
em nhà Schlegel nghiên cứu những chiều hướng ảnh hưởng và các đề tài quốc
Trang 15tế để chỉ ra điểm khác nhau giữa chúng qua các công trình giới thiệu văn học Anh, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với người Đức Tuy nhiên, xu hướng của hai anh em Schlegel chưa được hưởng ứng kịp thời
Năm 1886, nhà nghiên cứu người Anh Macauly Posnett cho ra đời công trình “Văn học so sánh”, công trình tổng hợp đầu tiên về lịch sử van học thế
giới (nâng thành lí luận vấn đề phương pháp khoa học của văn học so sánh),
chính thức ghi dấu văn học so sánh với tư cách một bộ môn độc lập
Năm 1887, Max Koch (Đức) bắt đầu xuất bản tạp chí “Lịch sử văn học
so sánh”- tờ tạp chí chuyên ngành đầu tiên Năm 1896, Joseph Text thành lập
bộ môn văn học so sánh tại Đại học Lion 1899, thành lập bộ môn văn học so sánh tại Đại học Columbia (New York)
- Nửa đầu thế kỉ XX: Giai đoạn phát triển
Giai đoạn này tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng và vay mượn Giai đoạn này gắn với công lao của các nhà nghiên cứu thực chứng lịch sử người Pháp như Baldenspenger, Tieghem, Guyard… Năm 1903, ở Hoa Kỳ xuất hiện tạp chí Văn học so sánh Năm 1921, ở Pháp xuất hiện tạp chí Văn học so sánh
- Từ nửa sau thế kỉ XX đến nay: Giai đoạn hoàn chỉnh bộ môn văn học
so sánh
Giai đoạn này văn học so sánh vượt qua chủ nghĩa thực chứng, khắc phục lí thuyết vay mượn để nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế Giai đoạn này có sự góp công lớn của nhà nghiiên cứu Mỹ, Pháp như: Rên Wellek, Etiemble (nghiên cứu tương đồng không do ảnh hưởng), nhà nghiên cứu Nga-
Xô như Zinmunsky, Meletinsky (nghiên cứu tương đồng loại hình học)
Đến nay, hầu hết ở các Đại học phương Tây đều có môn Văn học so sánh (có nước gọi là bộ môn “văn học thế giới và so sánh”) Năm 1954, hiệp hội Văn học so sánh quốc tế thành lập, đến nay đã trải qua 15 kỳ Đại hội
Trang 161.2 Tình hình nghiên cứu văn học so sánh ở Việt Nam
Trong giáo trình “Lý luận văn học so sánh”, Nguyễn Văn Dân đã khẳng định nghiên cứu văn học so sánh ở Việt Nam chưa có đủ bề dày lịch sử để có thể được chia thành nhiều giai đoạn, và lại càng không thể phân nó thành các giai đoạn giống như các giai đoạn trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam nói chung
Nền văn học nước nhà, đặc biệt là nền văn học cổ đã phải trải qua một thời gian dài nằm trong mối quan hệ gần gũi với văn học Trung Quốc Đến cuối thế kỉ XIX, văn học nước ta bắt đầu tiếp xúc với văn học Tây Âu, đặc biệt là với văn học Pháp Sau đó, vào đầu thế kỉ XX bắt đầu có sự ảnh hưởng của văn học vô sản cách mạng, rồi từ sau Cách mạng tháng Tám nó lại có quan hệ với văn học Xô viết Hiện nay, sự giao lưu quốc tế rộng lớn đang là một nét đặc trưng của mối quan hệ đa phương giữa văn học nước ta với các nền văn học trên thế giới
Đó là một thực tế xã hội tạo tiền đề cơ sở cho văn học so sánh Cũng như trên bình diện thế giới, giao lưu văn hóa- văn học quốc tế cũng dã diễn ra
ở nước ta Và cũng giống như ở các nơi khác trên thế giới, ý thức so sánh cũng đã trở thành một yêu cầu rất tự nhiên trong nghiên cứu văn hóa- văn học nước ta Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, văn hóa nước ta luôn luôn có nguy cơ bị đồng hóa và nô dịch Đứng trước tình hình đó, ý thức so sánh đã được vận dụng để khẳng định sự độc lập của văn hóa nước nhà, qua đó khẳng định nền độc lập chính trị quốc gia
Cụ thể, các học giả Việt Nam trước đây thường khẳng định giá trị ngang bằng của văn hóa nước ta so với văn hóa Trung Hoa Từ thế kỉ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn đã khẳng định: “Nước Nam ta hai triều nhà Lý, nhà Trần ngang vào khoảng nhà Tống, nhà Nguyên Lúc ấy tinh hoa nhân tài, cốt cách văn chương không khác gì Trung Hoa nhưng sách vở ghi chép sơ lược,
Trang 17thiếu sót, không tường tận Tôi thu nhặt những bài văn còn giữ được ở đồ đồng và bia đá, được mấy chục bài Thấy văn đời Lý lối biền ngẫu bóng bẩy, đẹp đẽ giống thể văn thời Đường, văn đời Trần lưu loát, chỉnh tề giống kiểu văn đời Tống” [4, tr.28]
Ý thức so sánh nói trên đã tồn tại thường xuyên trong suốt quá trình lịch sử văn hóa Việt Nam Như vậy, do điều kiện lịch sử xã hội, cụ thể là do tinh thần độc lập dân tộc, giới học giả Việt Nam đã ý thức được rằng chúng ta
có thể khẳng định chỗ đứng của mình trong quan hệ quốc tế thông qua phương thức so sánh mình với người khác Và cái ý thức so sánh nói trên cũng chính là cái tiền đề tư tưởng rất quan trọng cho văn học so sánh của nước ta sau này
1.3 Cái trống thiếc của Gunter Grass và Thiên sứ của Phạm Thị Hoài:
một số vấn đề về tác giả, tác phẩm
1.3.1 Gunter Grass và tiểu thuyết Cái trống thiếc
1.3.1.1 Tác giả Gunter Grass
Gunter Grass sinh ngày 6 tháng 10 năm 1927 tại Danzing-Langfuhr, nay là Gdansk (Danzing) thuộc Ba Lan Sinh ra trong một gia đình có cha mẹ làm nghề buôn bán nhỏ, thành phố quê hương ông cũng như những ngày thơ
ấu sống ở đây đã là cảm hứng cho nhiều tác phẩm của ông
Ở tuổi vị thành niên, ông từng tham gia phục vụ cho quân đội Hitler Ngày 8 tháng 5 năm 1945 ông bị bắt làm tù binh tại Marienbad và đã ở trong trại giam tù binh cho đến ngày 24 tháng 4 năm 1946
- Thời gian học tập và gia đình
Trong thời gian 1947 - 1948, Gunter Grass thực tập tại xưởng nhà một thợ đá ở Düsseldorf Chính những năm tháng lao động ở đây đã cho ông nhiều kinh nghiệm quý và ảnh hưởng đến những tác phẩm của ông sau này
Trước khi chuyển sang viết văn, ông đã học hội họa và điêu khắc
ở Viện Nghệ thuật Düsseldorf (Kunstakademie Düsseldorf) từ năm 1948 cho
Trang 18đến 1952 và tiếp tục học tại Đại học Mỹ thuật Berlin (Universität der Künste Berlin) từ năm 1953 đến năm 1956, là học trò của nhà điêu khắc Karl
Hartung Sau đó ông sống tại Paris cho đến năm 1959 Năm 1960, ông lại chuyển về Berlin-Friedenau, nơi ông cư ngụ đến năm 1972 Từ 1972 đến 1987, ông sống tại Wewelsfleth ở bang Schleswig-Holstein
Năm 1954, ông kết hôn với bà Anna Schwarz Từ đầu năm 1956 cho đến đầu năm 1960 ông cùng vợ sống tại Paris, nơi bản thảo của
quyển Cái trống thiếc ra đời Hai anh em sinh đôi Franz và Raoul ra đời
tại đấy trong năm 1957 Năm 1961, sau khi trở về Berlin, người con gái Laura chào đời và lần lượt sau đó là con trai Bruno và con gái Helene Cuộc hôn nhân với Anna Schwarz tan vỡ năm 1978 Năm 1979, ông kết hôn với Ute Grunert và sống với bà ở Ấn Độ, phần nhiều là ở Kolkata từ tháng 8 năm 1986 cho đến tháng 1 năm 1987
- Thời gian sáng tạo và hoạt động chính trị
Từ 1956 đến 1959, ông tham gia hoạt động điêu khắc, hội họa và cả viết văn ở Paris, và sau đó là ở Berlin Trong thời gian này, những tác phẩm đầu tiên của ông đã ra đời: bài thơ đầu tiên được xuất bản năm 1956 và vở kịch đầu tiên ông viết năm 1957 Thế nhưng, phải đến 1959, với cuốn tiểu
thuyết đầu tiên – Cái trống thiếc (Die Blechtrommel), ông mới thực sự được
văn đàn thế giới nhìn nhận Với tác phẩm xuất sắc này ông đã được trao Giải Nobel Văn học năm 1999 – tuy hơi muộn nhưng nó mang một ý nghĩa đặc biệt bởi nó rơi vào năm bắc cầu giữa hai thế kỷ XX và XXI
Vào năm 1955, ông tham gia Nhóm 47 (Gruppe 47) do Hans Werner
Richter và Alfred Andersch sáng lập ở München năm 1947 với khuynh hướng dân chủ, đấu tranh khắc phục những hậu quả chiến tranh do phát xít để lại Năm 1960, ông tham gia vào Đảng Dân chủ Xã hội (SPD) ở Đức và trở thành một nhân vật quan trọng của đảng này Ông đã tham gia vào chiến dịch
Trang 19tranh cử của Đảng và là người phát ngôn của Đảng cũng như của Willy Brandt – người lãnh đạo của Đảng Trong thời gian này, ông đã có nhiều bài phát biểu cũng như bài bình luận chính trị để ủng hộ cho một nước Đức thoát khỏi sự cuồng tín, cũng như những tư tưởng chuyên chế Thế nhưng ông cũng thường làm mất lòng trong nội bộ của Đảng SPD vì những quan điểm của mình Năm 1992 Grass rút ra khỏi Đảng SPD nhưng vẫn tiếp tục hoạt động chính trị và ủng hộ cho những tư tưởng của Đảng Dân chủ Xã hội
Từ 1983 đến 1986, ông giữ chức giám đốc Học viện Nghệ thuật Berlin Trong thời gian 1989–1990, ông đã có những quan điểm phản đối sự chia cắt nước Đức thành hai phần
Ông đã được trao nhiều giải thưởng, trong đó có thể kể như Giải
“Nhóm 47” (1950), giải Phê bình Đức (1960), giải “Sách nước ngoài” của Pháp (1962), giải Georg Büchner (1965), giải thưởng Fontane (1968), giải thưởng Premio Internazionale Mondello (1977), huy chương Alexander-Majakowski ở Gdansk (1979), giải thưởng Antonio Feltrinelli (1982), huy chương Hermann Kesten (1995) và đặc biệt nhất là Giải Nobel Văn
học năm 1999 cho tác phẩm Cái trống thiếc của ông
Ông cũng là giáo sư danh dự của Đại học Kenyon và Đại học Harvard Ngày nay ông sống gần thành phố Lübeck, nơi có Nhà Günter Grass với phần lớn các tác phẩm nguyên bản về nghệ thuật và văn học của ông
Trang 20 Die bösen Köche Ein Drama (1956)
Hochwasser Ein Stück in zwei Akten (1957)
Onkel, Onkel Ein Spiel in vier Akten (1958)
Die Plebejer proben den Aufstand (1966)
“Cái trống thiếc” viết năm 1959 Đến năm 1999 thì tác giả của nó,
Gunter Grass được nhận giải Nobel văn học, đánh dấu sự trở lại của người
Trang 21Đức trên thảm đỏ của Viện Hàn Lâm Thụy Điển Cái trống thiếc gây ám ảnh
bởi khả năng tạo nên chuỗi biểu tượng về thời Đức quốc xã mà nhờ nó, ta hình dung rõ ràng cuộc trở về quá khứ như một nhu cầu lương tri thường trực của người Đức hiện tại
Vượt qua những mô tả, ghi chép thông thường về thể chế Đức quốc xã,
Cái trống thiếc tiến hành dò thấu tâm tưởng của con người Đức lúc đó mà
điểm nổi bật là cảm quan thế giới lố bịch, bất an Thư ký Ủy ban Nobel, Horace Engdahl đã xúc động phát biểu trong lễ trao giải: “Việc trao giải Nobel Văn chương cho Gunter Grass tuy hơi muộn nhưng lại mang một ý nghĩa đặc biệt, bởi 1999 là năm bắc cầu giữa hai thế kỷ”
Tác phẩm đã được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau Ở Việt Nam,
Cái trống thiếc được Dương Tường dịch năm 2002
Trong lời tựa tác phẩm Cái trống thiếc, dịch giả Dương Tường đã nói:
“Đến nay, 43 năm trôi qua kể từ khi tiếng trống ngỗ ngược của Oskar Matzerath đánh thức nền văn học Đức khỏi cơn mụ mị thời hậu chiến Nhiều
nhà phê bình đã có lí khi đánh giá sự xuất hiện của Cái trống thiếc như một
lần khai sinh thứ hai cho nền tiểu thuyết Đức thế kỉ XX”
Cái trống thiếc là câu chuyện về những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của gã lùn
dị dạng Oskar Matzerath, ngay từ buổi sinh nhật lần thứ ba đã dứt khoát
khước từ thế giới người lớn bằng cách quyết định thôi không lớn nữa Như
một nhân chứng ngỗ ngược của những sự kiện diễn ra ở Danzing từ 1924 đến
1950, nhìn thế sự từ tầm cao 94cm, nghĩa là từ gần sát mặt đất, lia con mắt dao mổ dọc theo triền lịch sử như một tấm gương làm méo hình, Oskar, dưới
bề ngoài trẻ con, nhưng với sự già dặn trí tuệ của người trưởng thành, đã làm nảy lên từ cái trống đồ chơi con nít một thế giới nhố nhăng, kệch cỡm và bí hiểm vùi lấp dưới những đổ nát của lịch sử
Trang 22
1.3.2 Phạm Thị Hoài và tác phẩm “Thiên sứ”
1.3.2.1 Tác giả Phạm Thị Hoài
Phạm Thị Hoài sinh năm 1960 Bà là một nhà văn hiện đại, nhà biên soạn và dịch giả có tầm ảnh hưởng Hiện tại bà đang sinh sống ở Đức Phạm Thị Hoài sinh ra và lớn lên tại tỉnh Hải Dương Năm 1977, bà đến Đông Berlin và học ở Đại học Humboldt, nơi mà bà đã tốt nghiệp chuyên ngành
về văn khố Năm 1983, bà trở về Việt Nam, sống ở Hà Nội, làm chuyên viên lưu trữ văn thư rồi bắt đầu viết văn một cách nghiêm chỉnh
Phạm Thị Hoài chịu ảnh hưởng khá nhiều từ dấu ấn văn học phi lí Phương Tây Phạm Thị Hoài cùng các nhà văn khác như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương… đã làm thay đổi một cách sâu sắc diện mạo nền văn học Việt Nam đương đại, đem đến cho độc giả những tác phẩm mới mẻ, góp phần làm thay đổi cách đọc và thị hiếu thẩm mĩ của công chúng Năm 1988, cuốn tiểu thuyết đầu tay của bà
được xuất bản tại Hà Nội với tựa đề Thiên sứ Ngoài tác phẩm Thiên sứ được
ca ngợi trên bình diện quốc tế, Phạm Thị Hoài còn xuất bản những tiểu luận,
hai tuyển tập truyện ngắn Đó là Mê Lộ (1989) và Man Nương (1995) Ngoài
ra, bà còn một tác phẩm khác là Marie Sến (1996)
Phạm Thị Hoài là một dịch giả nổi tiếng về văn chương Đức Bà đã dịch những tác phẩm của Franz Kafka, Bertolt Brecht, Thomas Bernhard và Friedriid Dürrenmatt sang tiếng Việt Phạm Thị Hoài còn là
người biên soạn quyển Trần Dần – Ghi: 1954- 1960 (Paris, TD Mémoire,
2001), một tuyển tập các bài báo của Trần Dần Những tiểu luận và truyện ngắn của bà xuất hiện trong những tạp chí văn chương ở Hoa Kỳ, Úc, Thụy
Sĩ và Đức Không những thế, Phạm Thị Hoài còn có nhiều tác phẩm xuất hiện
trong một số tuyển tập về truyện Việt Nam đương đại, gồm có: Night, Again và Vietnam: A Traveler's Literary Companion Riêng quyển Sunday
Trang 23Menu, một tuyển tập truyện ngắn của bà do Tôn Thất Quỳnh Du dịch sang
tiếng Anh, quyển này được xuất bản lần đầu tại Pháp năm 1977 với tựa
đề Menu de dimanche, còn bản tiếng Anh Sunday Menu thì do Pandarus
Books xuất bản tại Úc năm 2006 và được University of Hawaii Press xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 2007
1.3.2.2 Tiểu thuyết “Thiên sứ”
Phạm Thị Hoài mang trong mình sứ mệnh trở thành một nhà văn, một người mang đến những tư tưởng mới cho văn học Ngay từ những sáng tác ban đầu đã thể hiện là một cây bút cá tính mạnh mẽ, luôn có ý thức cách tân văn học một cách triệt để và quyết liệt
“Thiên sứ” là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn, ngay từ buổi đầu mới ra đời đã tạo sóng gió Cũng giống như các tác phẩm nổi tiếng khác như “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Ăn mày dĩ vãng” của Chu Lai, “Bến không chồng” của Dương Hướng, “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp…
“Thiên sứ” đã khuấy động văn đàn Những dư luận trái chiều xuất hiện trong
một khoảng thời gian dài Và càng về sau, các ý kiến, nhận định đều khẳng định đây là một trong những tiểu thuyết có giá trị của văn học hiện đại sau
1975, thể hiện một lối văn mở đường cho một khuynh hướng tiểu thuyết mới trong văn học Việt Nam đương đại
Thiên sứ được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức và Phần Lan Năm 1993, bản dịch Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải “Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất” của tổ chức Frankfurt Literaturpreis trao tặng
hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức Riêng bản dịch tiếng Anh thì đoạt
giải Dinny O'Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000 Cũng trong năm
này, Phạm Thị Hoài rời Việt Nam sang Berlin, nơi bà đang sống và làm việc
hiện nay Trong lời bạt bản dịch Thiên sứ, Tôn Thất Quỳnh Du viết:
“Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến độc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai Nhưng, ngay cả những nhà
Trang 24phê bình mạnh mẽ nhất cũng thừa nhận rằng bà là một nhà văn có con mắt u
ám trong việc mổ xẻ chi tiết, chua cay và hài hước, song lại có thính giác tốt
về nhịp điệu của tiếng Việt”
Thiên sứ là cuốn tiểu thuyết được xây dựng trên hồi ức của một cô bé,
trên dòng suy tưởng chậm chạp và lắng đọng của một tâm hồn kiên định trước những biến động của xã hội và thời gian Qua nhân vật Hoài- cô bé 14 tuổi không chịu lớn thêm một đốt ngón tay nào nữa, tác giả đã phơi bày thực tại xã hội Việt Nam đương thời, từ đó rung lên một hồi chuông đánh thức con người khỏi cuộc sống tẻ nhạt và xơ cứng, đánh thức tâm hồn và tình cảm của con người thoát khỏi quá trình xâm thực từ từ bào mòn các xúc cảm để bảo vệ những gì quý báu nhất của nhân loại: tình yêu, niềm tin vào bản chất tốt đẹp của Con Người
1.3.3 Phạm Thị Hoài - sự kế thừa và ảnh hưởng từ Gunter Grass
Ngày nay, văn học Việt Nam đang chịu nhiều sự ảnh hưởng đa dạng của văn học thế giới Có thể nói rằng chính sách mở cửa đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của văn học nước nhà Nhờ có chính sách này mà văn học Việt Nam trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn và đích thực hơn
Ngày nay, người ta không tìm thấy ở Việt Nam một nền văn học theo tiêu chuẩn mà giờ đây, chúng ta đã có một nền văn học phát triển đa sắc, các tác giả có thể sống và viết tự do theo phong cách của riêng mình, không trộn lẫn Trong thời kì đổi mới, sự tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là một yếu
tố quan trọng để đưa văn học Việt Nam phát triển và hòa nhập cùng văn học thế giới Có thể thấy, nhiều hiện tượng cách tân của văn học phương Tây đã
có cơ hội được thâm nhập vào văn học Việt Nam Ta có thể nhận thấy dấu ấn của Dostoevski, của Kafka, Camus, của kịch phi lí, thậm chí cả tiểu thuyết mới của Pháp trong một số hiện tượng văn học Việt Nam hiện đại: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…
Trang 25Phạm Thị Hoài là nhà văn sống, học tập và làm việc tại Đức - nơi được coi là một trong những trung tâm của những cách tân nghệ thuật đương đại Sống trong một môi trường như vậy, Phạm Thị Hoài tất nhiên đã chịu ảnh hưởng khá nhiều của những đợt sóng đổi mới, cách tân, đặc biệt là những ảnh hưởng của loại hình văn học phi lí độc đáo Nhắc đến Phạm Thị Hoài ta
không thể không nhắc đến Thiên sứ - cuốn tiểu thuyết đầu tay của bà Đọc Thiên sứ làm ta nhớ tới một tác phẩm nổi tiếng của nền văn học Đức cũng như nổi tiếng trên văn đàn thế giới: tiểu thuyết “Cái trống thiếc” của Gunter Grass Tiểu thuyết Cái trống thiếc có chuyện một cậu bé chủ ý ngã vào cái
trống và mang tật để luôn luôn là đứa trẻ lên 3 mà quan sát và phản ứng với
thế giới xung quanh Và trong Thiên sứ cũng có một câu chuyện về cô bé
Hoài không muốn trở thành người lớn, đã “trút kinh nguyệt một lần cho mãi mãi”, giữ nguyên tuổi mười bốn, một mét hai nhăm phân chiều dài sinh học
để quan sát thế giới và con người Vậy Phạm Thị Hoài có học tập, tiếp thu gì
từ Gunter Grass không? Chính Phạm Thị Hoài đã viết: “Cuốn sách bắt đầu từ một điển tích của nhà văn G.G và những chuyện khó tin của nhà thơ F ” −
đấy là lời đề từ mà ta có thể xem như ghi chú của tác giả
Nói Phạm Thị Hoài học tập, tiếp thu cách viết của Gunter Grass không
có nghĩa Phạm Thị Hoài vay mượn hoàn toàn từ Gunter Grass Việc Phạm Thị Hoài học tập ở đây cũng giống như việc Nguyễn Du vay mượn cốt truyện
Truyện Kiều từ Kim – Vân - Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân, điều đó
không có nghĩa là nó sẽ làm giảm đi giá trị của tác phẩm mà ngược lại nó càng làm nổi bật sự sáng tạo từ phía chủ thể vay mượn Việc mượn điển tích
từ Gunter Grass chỉ là sự tiếp thu về mặt nghệ thuật, cho nên nó vẫn đạt được
hiệu quả thẩm mĩ nhất định Các nhân vật trong Thiên sứ thật sự là của Phạm
Thị Hoài chứ không phải của Gunter Grass Chúng là những trạng thái nhận thức của tác giả và mang ý nghĩa giả thiết triết lý
Trang 26CHƯƠNG 2
NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG TRONG THẾ GIỚI
NHÂN VẬT CỦA CÁI TRỐNG THIẾC VÀ THIÊN SỨ
2.1 Nhân vật người lùn, dị dạng – nhân vật gắn với yếu tố phi lí
Ionexco- một nhà viết kịch nổi tiếng, một đại diện tiêu biểu cho văn học phi lí cho rằng “Cái phi lí là sự tồn tại vô nghĩa của con người, là sự suy giảm giá trị của mọi lí tưởng của con người, thường nhận thấy được trong thế giới hiện đại”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân cũng cho rằng:
“Khái niệm phi lí trong văn học được dùng để chỉ loại hình văn học phi
lí có nhiệm vụ nhận thức và mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi lo-gic, phi lí tính, trái với năng lực nhận thức của con người Văn học phi lí là văn học phản ánh những hiện tượng và sự việc trái với sự phát triển của tư duy lo-gic thông thường, hoặc nói đúng hơn là trái với lo-gic nhân văn tiến bộ của loài người”
2.1.1 Ngoại hình
Oskar tên đầy đủ là Oskar Matzerath, là một cậu bé thông minh và có trí tuệ sắc sảo, sinh vào tháng 9 năm 1924 dưới cung Xử Nữ Mẹ Oskar- bà Anges là chủ một cửa hàng tạp hóa và Matzerath- bố của Oskar lúc bấy giờ là một chân đại diện cho một hãng văn phòng phẩm lớn ở Rhine Ngay từ lúc ra đời, không giống với bất cứ một đứa trẻ nào khác, cậu bé Oskar rất thính tai
và dường như đã hoàn chỉnh tâm lí, Oskar nghe thấy những lời nói, những dự định của bố và mẹ cho cậu khi cậu trưởng thành Cậu bé ngay từ đầu đã chối
bỏ ước mơ trở thành một nhà kinh doanh của ông bố mà cảm thấy hào hứng
và chờ đợi một món quà vào sinh nhật lần thứ 3 của cậu: một cái trống thiếc
Trang 27Và thế, Oskar đã quyết định thôi lớn ở tuổi thứ 3 và gắn bó với cái trống thiếc sơn đỏ- trắng Bằng cách khéo léo dựng lên một vụ tai nạn trong căn hầm mà ông bố Matzerath quên không đóng cửa, Oskar đã đủ bằng cớ giải thích cho sự thôi không lớn nữa của mình: cậu bé tự ngã từ bậc thang thứ
9 xuống dưới tầng hầm kéo theo cả một cái giá đầy những chai xiro phúc bồn
tử và ngã sõng xoài trên sàn xi-măng của căn hầm kho “Ngay trước khi bất tỉnh, tôi còn kịp nhận thấy thành công mĩ mãn của cuộc thử nghiệm: những chai xiro phúc bồn tử mà tôi cố tình kéo theo trong cú ngã va nhau loảng xoảng” [10, tr.102]
Vậy là mãi mãi dừng lại ở chiều cao 94cm, Oskar đã lia con mắt nhìn cuộc đời dưới bề ngoài của một đứa trẻ lên 3, nhưng với sự già dặn và trí tuệ của một người trưởng thành, làm nảy ra từ cái trống đồ chơi con nít một thế giới nhố nhăng, kệch cỡm và bí hiểm, một nhân loại bất túc với thân phận ê chề vùi lấp dưới những đổ nát của lịch sử
Cũng như Oskar, cô bé Hoài trong Thiên sứ cũng quyết định thôi không
lớn nữa ở tuổi 14 Trong tâm hồn là cách nghĩ của một người đàn bà hai mươi chín tuổi nhưng Hoài nhất quyết không chịu lớn, ẩn trong hình hài của một cô
bé vẫn cứ mãi như một đứa trẻ Không dựng lên hiện trường của một vụ tai nạn như Oskar, Hoài cứ thế lặng lẽ chối bỏ thế giới người lớn, chối bỏ sự phát triển của bản thân để giữ lại cơ thể còm nhom “một mét hai nhăm phân, đuôi sam” Đó là một biến cố lớn trong đời cô bé Hoài: “Tôi lặng lẽ vào phòng tắm công cộng, đổ đầy nước chiếc chậu đường kính 60 phân, ngồi lọt trong chậu như thưở bé thường thế, và lập tức cảm giác bình yên dâng lên trong bóng tối mờ mờ không cửa sổ; chiếc chậu nhựa vốn ngày càng nhỏ theo mỗi lần sinh nhật tôi bỗng nguyên vẹn là một hồ nước mênh mông trong kí ức 3 tuổi không chút âu lo Tôi thu cằm giữa hai đầu gối, sung sướng thấy mình còn yên ổn trong bụng mẹ, và thiếp vào giấc ngủ đẫm lời vòi nước hát ru
Trang 28Giấc ngủ bào thai Tôi không muốn trở thành người lớn” [13, tr.98] Hoài mãi dừng lại ở một mét hai mươi nhăm chiều dài sinh học Từ đôi mắt của một đứa trẻ 14 tuổi, một thế giới người lớn đầy phức tạp và hỗn độn hiện lên thật sắc nét
Vậy là cả hai nhân vật đều quyết định chối bỏ thế giới người lớn, quyết định chối bỏ tấm đồng phục của loài người để sống theo cách của mình Hoài quyết định: “Tôi từ chối không đứng vào bất kì thế hệ nào Tôi từ chối bất kì
bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào Hãy để tôi trần truồng với cơ thể
còm nhom sớm đình tăng trưởng của tôi” [13, tr.101] Đối với Hoài, những
giá trị tinh thần may sẵn ấy là nguồn gốc nỗi bất hạnh của cả vài thế hệ, với
vô vàn những Paven Kocshaghin, Ruồi Trâu F1, F2, F3 đi đứng, nói năng,
sống, tư duy và yêu đúng theo khuôn mẫu Oskar trong Cái trống thiếc cũng
vậy, cậu bé cũng không chịu “phải thay đổi cỡ giày cũng như cỡ quần từ năm này sang năm khác để chứng tỏ có một cái gì đang lớn” [13, tr.98]
Theo “Triết luận về cái phi lí” của Anbe Camuy thì “Cuộc đời đã phi lí thì con người phải tìm cách chiến thắng nó bằng cách sống hết mình trong sự thụ cảm cái phi lí ấy, bằng cách sống mà không cần hi vọng, hành động mà không cần định rõ động cơ và lường trước hậu quả… cái phi lí diễn ra giữa bao nhiêu sự việc vây bủa con người, cái phi lí lộ nguyên hình qua sự xung đột giữa cái dơ dáy của cuộc sống và sự mong muốn trong sạch bắt nguồn từ thưở ấu thơ” [7, tr.738] Và đúng như vậy, cả Oskar và Hoài đều đáp lại cái phi lí bằng sự nổi loạn của chính mình, bằng tự do và sự say mê của chính mình Sự nổi loạn ấy có ý nghĩa chống lại thế giới phi lí, là sự nổi loạn của cá nhân có tính chất siêu hình và vô nguyên tắc, là sự thách thức cái phi lí của đời người
2.1.2 Lứa tuổi chỉ là vỏ bọc
Oskar mãi dừng lại ở độ tuổi lên ba nhưng trong suy nghĩ của cậu lại là suy nghĩ của một người trưởng thành: “Tôi vẫn mãi là đứa trẻ lên ba, là chú
Trang 29bé Tí Hon, là người xứ Lilliput, là thằng lùn quyết không chịu lớn nữa Tôi làm thế để khỏi phải học vấn đáp đại và tiểu giáo lý và để khi đến tuổi trưởng thành, cao trên một mét bảy khỏi phải đối phó với người đàn ông vẫn tự gọi mình là cha của Oskar mỗi khi soi gương cạo mặt, ông sẽ ép tôi đi vào con đường kinh doanh tạp phẩm, lĩnh vực mà Matzerath hi vọng sẽ trở thành thế giới của tôi khi tôi hai mươi mốt tuổi Để tránh cái máy thu ngân, tôi bám riết lấy cái trống của tôi và từ lần sinh nhật thứ 3 trở đi, không chịu lớn thêm lên một đốt tay nào nữa Tôi giữ nguyên là thằng bé lên ba sớm khôn ngoan lọt thỏm giữa đám người cao vòi vọi, song lại đứng trên mọi người lớn, không chịu so bóng mình với họ, hoàn chỉnh cả bề trong lẫn bề ngoài trong khi bọn
họ, cho đến lúc kề miệng lỗ, vẫn băn khoăn hoài về sự phát triển” [10, tr.98] Oskar dường như đang khẳng định sự đình tăng trưởng về mặt sinh học không
có nghĩa kéo theo sự đình tăng trưởng về mặt tâm lí học Hơn ai hết, Oskar đang tự nhận mình đứng cao hơn mọi người, bao quát được mọi thứ đang diễn
ra, cái đẹp, cái xấu; cái thiện, cái ác; cái bền vững, cái phù phiếm trong xã hội này Trong khi đó, những con người kia, dù có lớn khôn nhưng cuối cùng, cho tới cuối đời vẫn băn khoăn đi tìm lời giải đáp
Hoài cũng vậy, dường như lứa tuổi 14 vĩnh hằng của Hoài chỉ là lớp vỏ
để che chở, bảo vệ cho một cái gì đó sâu thẳm trong tâm hồn Hoài Đó là tầng sâu của những rung động thầm kín, của những khát khao, của những đòi hỏi
bị ghìm nén Một người đàn bà khao khát yêu thương và được yêu thương, khao khát cho và nhận bị ép chặt trong hình hài một cô bé mười bốn tuổi Một khuôn mặt trẻ con che chở cho một tâm hồn mang “cơn sốt núi lửa”, suốt mười lăm năm ròng làm “một nhân chứng câm lặng, thông tỏ quyết liệt, không bao giờ quay lưng lại cuộc đời” Bên trong lớp vỏ “Hoài” là rất nhiều cuộc sống khác nhau Em mang trọn gánh nặng của một “nỗi buồn kinh niên”, nỗi đau của “một con búp bê bé nhỏ, câm lặng”, biết trước tất cả, đoán trước
Trang 30được tất cả mà lại không thể thay đổi được điều gì, em – “đứa con út già trước tuổi gánh chịu tất cả những gì bố mẹ và anh chị nó chưa kịp hiểu”
Từ con mắt của những đứa trẻ, Oskar và Hoài đã làm nảy lên những thứ xấu xa, kệch cỡm từ cuộc sống xã hội đương thời Những con mắt ấy là những con mắt biết nhìn đời, hiểu đời và thấu đời, là con mắt nhìn “đã vươn tới tầm vóc Cứu thế”
2.1.3 Hiện thân của xã hội và văn hóa
Cái trống thiếc đã khắc họa một nước Đức thời kỳ hậu Thế chiến thứ
hai đầy đen tối Người xem cũng cảm nhận rõ mối liên hệ giữa chiếc trống đồ chơi của Oskar và những cuộc diễu hành phô trương của quân Phát xít, qua đó phơi bày tội ác của chiến tranh và những thủ đoạn chính trị vốn không hề mang lại cơm áo và hòa bình như chúng hứa hẹn Vẫn xoay quanh quyết định
“không lớn lên nữa” của cậu bé Oskar, Cái trống thiếc đã chuyển tải một thế
giới đen tối toàn những “người lớn” quá nhiều tham vọng và dục vọng Thật trớ trêu, lý do khiến một bé trai ba tuổi hùng hồn tuyên bố sẽ không lớn thêm nữa là bởi nó “quá kinh tởm thế giới của người lớn” Càng bi kịch hơn, khi Oskar vẫn tiếp tục trưởng thành trong thân xác của một đứa bé và phải chứng kiến sự trỗi dậy cho đến ngày tàn của phát xít Đức
Ngay từ khi đến tuổi đi học, Oskar đã chán ngấy sách vở và sự học Trường học đối với cậu chẳng có gì thú vị Sau đó, cậu được gửi tới học ở nhà người chủ hiệu bánh mì- cô Gretchen Scheffler Ở đây, Oskar đã tìm thấy cả một kho tàng sách “ Sách dù dở cũng vẫn là sách và thiêng liêng Những gì tôi tìm thấy ở đó chỉ có thể gọi là sách linh tinh, chắc hẳn phần lớn đến từ tủ sách của Theo anh trai cô” Và giữa sự lựa chọn không mấy thú vị ấy, Oskar
đã chọn cho mình hai cuốn sách: “Những ái tình chọn lọc” của Goethe và cuốn “Rasputin và đàn bà” của Rasputin Có thể nói, sự hòa hợp đầy mâu
thuẫn giữa hai tác giả, hai phong cách viết ấy đã có những ảnh hưởng quyết
Trang 31định đến cuộc đời Oskar Oskar chao đảo giữa Rasputin và Goethe, giữa con người với tâm địa đen tối chuyên bỏ bùa cho đàn bà và bậc thi bá sáng láng thích để đàn bà bỏ bùa mình Thế nhưng, cuối cùng Oskar đã nghiêng về phía Rasputin Oskar say sưa với cuốn sách Rasputin tới mức cậu một mực không rời Rasputin, cứ khi nào cô Gretchen muốn đưa một cuốn sách khác thì cậu bé lại gào lên: “Rasputin, Rasputin”
Oskar đọc đều đặn và nhanh chóng, đến nỗi “Chỉ một năm sau, tôi có cảm giác như mình đang sống ở St Peterburg, trong những phòng riêng của
Sa hoàng, chúa tể của mọi nước Nga, phòng trẻ của Hoàng tử Nga thường xuyên đau yếu, giữa những giáo hoàng và những kẻ âm mưu, mục thị chứng kiến những cảnh truy hoan của Rasputin Câu chuyện hấp dẫn tôi và tôi sớm nhận ra đây là một gương mặt trung tâm Điều đó thật hiển nhiên bằng vào những tranh khắc đương đại rải rác từ đầu đến cuối sách, minh họa Rasputin râu rậm, mắt đen như than giữa những nàng tươi trẻ không mặc gì ngoài đôi tất đen” [10, tr.151]
Từ những gì Oskar cảm nhận được, thế giới người lớn trong mắt cậu cũng chẳng khác gì thế giới trong tiểu thuyết của Rasputin Đó là thế giới của đàn bà, của phụ nữ, của những cuộc tình chóng vánh, những cuộc truy hoan đầy hổ thẹn, những cuộc ngoại tình vụng trộm… Xã hội đương thời diễn ra trước mắt Oskar rõ mồn một như cậu đang lướt qua từng trang tiểu thuyết vậy
Cũng giống như Oskar, cô bé Hoài trong Thiên sứ sinh ra trong thời kỳ
đặc biệt, đó là xã hội Việt Nam vào những năm cuối của thế kỉ XX, đặc biệt là
từ sau 1986 Đây là thời kỳ đất nước ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn rất nhiều khó khăn và thử thách Chiến tranh đã lùi vào quá khứ, con người bắt tay xây dựng một cuộc sống mới nhưng cũng dần thấy được bao nỗi đau mới trong thời bình Đó là sự cô đơn, tha hóa, cạn kiệt tình yêu thương, cạn kiệt cảm xúc trước cuộc sống thực dụng, chạy theo tiền tài,
Trang 32danh vọng Cô bé Hoài quyết định thôi không lớn nữa ở tuổi mười bốn, sau khi tự nhận thấy mình “vĩnh viễn không trinh trắng nữa” do sục vào “vườn cấm” tủ sách gia đình − tức là tình trạng văn hóa đương thời Có một cái gì tương đồng giữa cơ thể còm nhom chưa phát triển của Hoài khi ấy với trạng thái văn hóa chứa đựng trong tủ sách kia Ta được nghe những nhận xét của
cô bé Hoài về những cuốn sách “quyết định bộ mặt tinh thần của cả một thế hệ”, tạo nên “bộ đồng phục tinh thần may sẵn”, hoặc những nhận xét của cô
về những “phong độ” tiếp nhận văn hóa: kẻ sưu tập hời hợt; kẻ khước từ như
“phản ứng có điều kiện”, do các “tín hiệu báo động thường xuyên” mang lại;
kẻ tiếp nhận theo lối “cái gì cũng say mê một chút”… Và trong số ít những người xem ra tiếp nhận thật sự thì cũng có những cung cách khác nhau
Hành vi dị thường “quyết định đình tăng trưởng” là một phản xạ nổi loạn kiểu cô bé Hoài “Tôi từ chối không đứng vào bất cứ thế hệ nào Tôi từ chối bất kỳ bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào…” Đình tăng trưởng, không vội nhập vào thế giới người lớn, để khỏi bị khoác cho bộ đồng phục tinh thần may sẵn chật chội hay những vốn liếng và khuôn khổ văn hóa được quy định sẵn? Ngừng lớn để quan sát thế giới người lớn, quan sát tình trạng văn hóa, tình trạng nhân cách hay để tự xác định, tự lựa chọn? Cuộc sống của Hoài là cuộc sống ở đô thị Việt Nam những năm cuối bảy mươi đầu tám mươi Đầu những năm 80 của thế kỉ XX nhưng còn gì kinh khủng hơn khi phải chứng kiến cảnh “hàng trăm tín đồ cuồng nhiệt xếp hàng trẩy hội tới chiếc vòi nước duy nhất” hay khi hiện tượng số đề trở thành “một trong ba thông tin xã hội hấp dẫn và phổ biến nhất” Xã hội sẽ đi về đâu nếu như trong hành trang tinh thần của lớp thanh niên là những lời giảng kỳ dị: “Bơ là loại thịt, người ta đóng trong ống bơ” hay “những số báo Thiếu niên Tiền phong hai màu loè loẹt và ngớ ngẩn, một vài đầu truyện Kim Đồng do người lớn hạ
cố viết cho lũ trẻ, của bố thí hèn hạ”, “Những tủ sách khổng lồ, truyền từ đời
Trang 33cha ông, đến con cháu bỗng tan tác, chỉ còn thấy vài mảnh may mắn lạc vào một quán sách cũ nào đó, nếu không tập kết tại các gánh đồng nát hay hẩm hiu hơn, dưới đáy xoong nồi hoặc các nhà vệ sinh công cộng” [13, tr.103] Con người như người anh thứ hai của cô bé Hoài quên dần đi những đam mê, đánh mất dần xúc cảm, trở thành các công chức ngoan ngoãn, “sớm xách cặp lồng đi, tối xách cặp lồng về” những chiếc đinh ốc của một bộ máy già cỗi, hoen rỉ Đó chính là điều đáng sợ nhất Nỗi ám ảnh khôn nguôi của cô bé Hoài là giấc mơ về những kẻ không có mặt, chính xác hơn là những kẻ bị chiếc giẻ lau cuộc sống tước bỏ toàn bộ những gì làm nên bộ mặt đặc trưng của một con người
Hoài đã chọn cho mình một cuốn sách trong khu “vườn cấm” của ba,
đó là cuốn “Nhãn đầu mùa”, quyển sách đã dẫn cuộc đời Hoài sang một lối ngoặt Cuốn sách không quá dày, không quá mỏng, Hoài cũng không nhớ rõ người ta kể chuyện gì trong đó, hình như là chuyện chiến tranh, có súng ống
và người chết Điều duy nhất đọng lại trong tâm trí cô bé Hoài là mối tình của một cô du kích xinh đẹp và một anh bộ đội lực lưỡng Nhưng thử xem, Hoài
đã học được những gì, thấy được điều gì ở đó? Hoài đã một mực phủ định:
“Không, không phải chuyện mối tình Các chuyện cổ tích chẳng đầy rẫy những mối tình đó sao? Chúng chẳng gợi gì hơn một bài học luân lý, giản đơn
và không hiếm khi ngốc nghếch Tôi tiếp xúc với chuyện cổ tích bằng thái độ của người biết rồi phải nghe lại, không chút cảm xúc Mà thực ra tôi đã biết gì? Còn ở đây, tôi đã mê mải, đã nuốt nước bọt, đã hẫng vào một trạng thái chưa từng biết, toàn bộ nửa dưới cơ thể không hoạt động bình thường nữa, chơi vơi không trọng lượng, rồi rơi tõm vào một đáy sâu không sao định nghĩa nổi Một thân thể trắng ngần ngập ngừng hiện ra dưới ánh trăng vằng vặc, bộ quần áo du kích nâu non toạc rách, bàn tay mạnh mẽ của người đàn ông vụng về thèm khát một bầu ngực căng tròn run rẩy” [13, tr.99]