1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc thơ haiku của m basho

62 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 579,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có tính chuyên sâu về thơ Haiku phải kể đến hai công trình nghiên cứu là: tác phẩm “Ba nghìn thế giới thơm” của Nhật Chiêu nxb Văn nghệ, 2007 đã tập hợp gần như đầy đủ các bài báo, tạp

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ BÍCH DUNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn!

Vĩnh Phúc, tháng 01, năm 2014

Sinh viên:

Trần Thị Kim Chi

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận được hoàn thành là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự giúp đỡ của TS Nguyễn Thị Bích Dung

Khóa luận chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác

Vĩnh Phúc, tháng 01, năm 2014

Sinh viên:

Trần Thị Kim Chi

Trang 5

Chương 1: Haiku với M.Basho 5

8 Vị trí của thơ Haiku trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của

Chương 2: Đặc sắc thơ Haiku của M.Basho 17

Trang 6

2.1.2 Gió mùa thu với nỗi buồn huy hoàng và tấm lòng thương cảm

2.1.3 Chiều thu, đêm thu, trăng thu cùng nỗi buồn, sự cô đơn và cái

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhật Bản là “đất nước mặt trời mọc”, đất nước của hoa anh đào, trà đạo, Thiền tông và của cả thi đạo Với người Nhật Bản thơ ca không chỉ đơn thuần là một thể loại văn học mà nó còn là tôn giáo Trong đó thơ Haiku là một thể thơ độc đáo, đặc sắc, một nét đẹp tâm hồn riêng mà người Nhật đóng góp vào nền thơ ca nhân loại

Một bài thơ Haiku thường chỉ “gợi” chứ không “tả”, kết thúc thường không có gì rõ ràng vậy nên hình ảnh và cảm nhận sau khi đọc phụ thuộc hoàn toàn vào người đọc Bài thơ Haiku thường không có tiêu đề nên phải

có “quý ngữ” - hình ảnh thiên nhiên trở thành biểu tượng mùa trong năm, biểu hiện thời gian trong thơ Haiku

Thơ Haiku, đặc biệt là những bài thơ của M.Basho được đưa vào chương trình Ngữ văn THPT lớp 10 phân ban (cả chương trình cơ bản lẫn chương trình

nâng cao) vậy nên việc tìm hiểu thơ Haiku nói chung và “Đặc sắc thơ Haiku

của M.Basho” nói riêng không chỉ giúp ta hiểu thêm về thơ mà còn giúp cho

công việc giảng dạy và truyền đạt kiến thức khi đứng lớp đạt hiệu quả

Tuy nhiên trên thực tế, cho đến nay việc người dạy và người học tiếp cận

và tìm hiểu về thơ Haiku gặp không ít khó khăn thậm chí còn lúng túng bởi

lẽ thơ Haiku chưa được phổ biến và tìm hiểu sâu rộng ở Việt Nam

Xét trên phương diện cá nhân lý do tôi chọn đề tài “Đặc sắc thơ Haiku

của M.Basho” còn vì tình yêu, sự say mê văn học Nhật Bản và đặc biệt là

với thơ Haiku của M.Basho Hi vọng sẽ giúp cho bản thân cũng như bạn đọc hiểu thêm phần nào về thơ Haiku

Trang 8

2 Lịch sử vấn đề

Lịch sử nghiên cứu về thơ Haiku ở Việt Nam dừng lại ở số lượng không nhiều một số gương mặt các nhà nghiên cứu và dịch giả tiêu biểu như: Phan Nhật Chiêu, Vĩnh Sính, Thái Bá Tân, Thanh Châu, Đoàn Lê Giang, Hữu Ngọc… Nhưng những công trình nghiên cứu đã giúp ta có một cái nhìn tương đối toàn diện về thơ Haiku trên cả mặt nội dung và nghệ thuật

Có tính chuyên sâu về thơ Haiku phải kể đến hai công trình nghiên cứu

là: tác phẩm “Ba nghìn thế giới thơm” của Nhật Chiêu (nxb Văn nghệ,

2007) đã tập hợp gần như đầy đủ các bài báo, tạp chí mà ông đã từng công

bố liên quan đến thơ Haiku và thơ Nhật Bản Tiếp theo là cuốn Haiku, Hoa

thời gian của Lê Từ Hiển và Lưu Đức Trung (nxb Giáo dục, 2007) cuốn

sách được chia làm ba phần với ba nội dung chính: Tiếp cận thơ Haiku

trong chương trình THPT, Hương sắc Haiku- những nẻo đường góp nhặt và Dạo bước vườn thơ, đây là tài liệu quý báu dành cho giáo viên, học sinh

cùng những ai yêu thích thể thơ độc đáo này

Ngoài hai công trình kể trên, nội dung nghiên cứu thơ haiku còn được đề cập đến trong những giáo trình về văn học Nhật Bản, các cuốn sách giới

thiệu văn hóa, văn học Nhật như: Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nhật Chiêu, NXB Giáo dục, 2003, Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nhật Chiêu, NXB Giáo dục HCM năm 1997, Câu chuyện văn chương phương

Đông, Nhật Chiêu, NXB Giáo dục, 2002, Xuôi dòng văn học Nhật Bản,

Nguyễn Thị Mai Liên, NXB Đại học Sư phạm, 2003; Phác thảo những nét

tương đồng và dị biệt của ba thể thơ: tuyệt cú, haiku và lục bát của Nguyễn

Thị Bích Hải trong cuốn Văn học so sánh, Nghiên cứu và triển vọng, NXB SPHN năm 2005; Dạo chơi vườn văn Nhật Bản , Hữu Ngọc, NXB Giáo dục năm 1992; Hoa anh đào và điện tử, Hữu Ngọc, NXB Văn hóa năm 1998…

Trang 9

Thêm vào đó có khoảng hơn 20 bài viết đăng trên báo, tạp chí tuy không chuyên sâu nhưng cũng cung cấp cho người đọc một số hiểu biết cơ

bản về haiku Tiêu biểu là các bài viết: Cảm nhận về thơ Haiku (Ngô Văn Phú, Tác phẩm mới, số 4 năm 1992), Một số đặc điểm của thơ haiku Nhật

bản (Hà Văn Lưỡng - Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 4

năm 2011), Thế giới trong thơ haiku (Hà Văn Minh, Báo Xuân Điện Bàn,

2000), ngoài ra trên mạng internet ta cũng thấy đăng tải nhiều bài viết về thơ haiku

Các công trình nghiên cứu của thơ Haiku của M.Basho tại Việt Nam đi theo ba hướng chính là:

Hướng một là dịch thơ, dịch thơ Basho kèm theo lời giới thiệu khái quát con người, cuộc đời, sự nghiệp Basho để lại Hướng đi này được tác giả Vĩnh Sính, Hàn Thủy Giang, Thái Bá Tân tiếp cận Tuy một vài bản dịch thơ còn có chỗ đáng bàn nhưng ta không thể phủ nhận đó là những công trình hiếm hoi mang tính toàn vẹn đem đến cho người đọc cái nhìn khá đầy

Basho của Bùi Thị Mai Anh Trường ĐH SPHN 1 năm 2005 Đó là những

công trình nghiên cứu giá trị về thơ haiku của Basho giúp ích rất nhiều cho người viết trong quá trình triển khai đề tài

Hướng ba phổ biến nhất là những bài báo ngắn gọn được đăng tải trên

các báo, trang internet Tiểu biểu như: Matsuo Basho nhà thơ lớn của thể

thơ haiku (Nguyễn Tuấn Khanh, tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 3

năm 1995), Dấu ấn Thiền tông trong thơ Matsuo Basho (Đỗ Thái Thuận,

Trang 10

Tạp chí Văn hóa năm 1997), Basho và hài cú đạo (Nhật Chiêu, Kiến thức ngày nay, số tháng 10 năm 1999), Basho và Huyền Quang sự gặp gỡ với

mùa thu hay sự tương giao về cảm thức thẩm mỹ (Lê Từ Hiển, Tạp chí

nghiên cứu Văn học, số tháng 7 năm 2005)…

Tất cả góp phần không nhỏ giúp ta hiểu “Đặc sắc thơ Haiku của M.Basho”

ở nhiều góc độ khác nhau

Với đề tài này tôi hi vọng đem đến một cái nhìn bao quát và đầy đủ hơn

về “ Đặc sắc thơ Haiku của M.Basho”

3 Mục đích nghiên cứu

- Bổ sung thêm kiến thức cho việc dạy học tại THPT Đồng thời trau rồi

và nâng cao nhận thức của bản thân về “Đặc sắc thơ haiku của

M.Basho” nói riêng và thơ ca Nhật Bản nói chung

- Làm tư tiệu tham khảo cho bạn đọc và người nghiên cứu

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Đặc sắc thơ Haiku của

Basho”

5 Phương pháp nghiên cứu

• Phương pháp thống kê, phân loại

• Phương pháp đối chiếu so sánh

• Phương pháp tổng hợp đánh giá

6 Bố cục

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được chia làm hai chương: Chương 1: Haiku với M.Basho và Chương 2: Đặc sắc thơ Haiku của M.Basho

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1: Haiku với M.Basho

1.1 Vài nét về thơ Haiku

Nhật bản không chỉ được thế giới biết đến với cái tên “Xứ sở hoa anh đào” mà còn được ca tụng là “Thi quốc” Trong các thể thơ truyền thống của Nhật Bản thì tanka và haiku là tiêu biểu hơn cả Đặc biệt thơ haiku là thể thơ rất Nhật Bản là linh hồn văn hóa xứ Phù Tang

1.1.1 Nguồn gốc hình thành thơ haiku

Haiku là thể thơ nổi tiếng của Nhật Bản và ngắn nhất thế giới, toàn bài chỉ có 17 âm tiết và có thể xếp thành ba câu 5-7-5 Trong tiếng Nhật thơ haiku không có vần và thường không có nhan đề Các bài thơ haiku thường chỉ là những nét chấm phá, gợi mở để độc giả vận dụng trí tưởng tượng nhằm liên tưởng đến các sự vật, hiện tượng khác Tức một bài thơ haiku thường chỉ gợi chứ không tả kết thúc thường không có gì rõ ràng vậy nên hình ảnh và cảm nhận sau khi đọc phụ thuộc hoàn toàn vào người đọc

Haiku có nguồn gốc từ tanka, tanka là thể thơ của dân tộc Nhật Bản, nó

là một nhánh của Waka Bài thơ theo thể tanka có 31 âm tiết chia thành 5 dòng: dòng một 5 âm tiết, dòng hai 7 âm tiết, dòng ba 5 âm tiết, hai dòng cuối mỗi dòng 7 âm tiết (5-7-5-7-7)

Bài thơ tanka sau đây được xem là bài thơ mở đầu cho thơ ca Nhật Bản:

“Tám tầng mây dựng

Ở xứ Izumo

Ta làm tám tầng mây xa Tám tầng mây ấy

Che chở người vợ ta”

Trang 12

Đây là bài thơ mà thần Susanoo làm tặng cho người vợ của mình Một bài tanka tựa như “Hoa anh đào ẩm trong sương mờ mùa xuân”

Từ thế kỷ XIV-XV, khi thơ tanka có dấu hiệu đi xuống, trên thi đàn Nhật Bản xuất hiện thể thơ renga (liên ca) Renga cũng có nhịp 5-7-5-7-7 như tanka nhưng tách thành hai phần 5-7-5 và 7-7 rõ ràng hơn tanka và số câu không hạn chế Thơ renga được giải thích như sau: Thơ renga là thơ xướng họa có từ rất lâu đời trong văn hóa Nhật Bản Từ một bài tanka có 31 âm tiết chia ra làm 5 dòng được tách ra làm 2 phần cho mọi người nối thơ với nhau (ba câu đầu gọi

là thượng cú, hai câu sau gọi là hạ cú)

Ví dụ như một bài thơ trong Shui shu (Thập di tập 997) :

“Qua rồi nửa đêm chờ nhau chi nữa cho thêm ưu phiền”

Một tiểu thư đã gửi cho người yêu cuả mình phần đầu của bài tanka, sau

đó người ấy nhận được và làm tiếp thành một bài tanka trọn vẹn như sau”

“Muốn gặp em trong mộng Nhưng rồi anh ngủ quên”

Thực chất renga là trò chơi nối thơ của các nhà thơ tanka Giới quý tộc thời Heian rất thích lối sáng tác như thế Sau này trong bài renga liên hoàn đoạn thơ khởi xướng phần thượng cú được gọi là hokku (thượng cú) và được viết với hình thức 17 âm tiết (5-7-5) Đến thế kỷ XVI, công chúng yêu thơ Nhật Bản rất thích trò chơi nối thơ nên renga trở nên phổ biến và bình dân hơn, thậm chí có nhiều bài renga được làm với mục đích hài hước, châm chọc được gọi là haikai no renga, gọi tắt là haikai Thể haikai do tầng lớp thị dân sáng tác với mục đích đùa cợt, phóng túng, chấp nối, gượng ép

Trang 13

Sau này Basho đã đưa haikai thoát khỏi sự tầm thường bằng việc dung hợp cả cái vô tâm lẫn cái hữu tâm, sự trào lộng đời thường của haikai hiện đại với sự tao nhã, tâm linh của renga cổ điển vào trong 17 âm tiết của bài hokku

Từ đấy hokku không phụ thuộc vào renga nữa nó trở thành thể thơ độc lập và

có tên là haiku hay hài cú (lúc đầu có tên là haikai đến thế kỷ XIX mới có tên

là haiku) Phần đầu hokku của renga là tiền thân của bài haiku, như vậy thơ haiku có nguồn gốc từ tanka và renga Thơ haiku phát triển mạnh trong thời Edo (1603-1867) Vào thời kì này thơ haiku đã mất đi sắc thái hóm hỉnh, trào lộng nguyên thủy mà thay vào đó là âm hưởng bàng bạc, sâu thẳm của Thiền Tông Nghĩa là không còn sự phân biệt giữa người làm thơ và cuộc sống đang vận hành, giữa bài thơ và cái nằm sau ngôn từ Đó chính là sự độc đáo, vi diệu của thơ haiku

1.1.2 Đặc điểm thơ haiku

Haiku là thể thơ ngắn nhất thế giới, thông thường mỗi bài có 17 âm tiết trong ba câu 5-7-5 Haiku cổ điển có niêm luật chặt chẽ

Về nội dung có luật cơ bản sau: không mô tả cảm xúc chủ yếu ghi lại các

sự việc xảy ra trước mắt, vì số chữ bị giới hạn trong 17 âm tiết nên thơ haiku thường diễn tả một sự kiện xảy ra ngay lúc đó, ở thì hiện tại Sự kiện này có thể liên kết hai ý nghĩa hay hai ý tưởng khác nhau mà ít khi người ta nghĩ đến cùng một lúc

“Ôi những hạt sương ( sự vật hiện tại) trân châu từng hạt ( ý nghĩa thứ nhất) hiện hình cố hương.” (ý nghĩa thứ hai) (Issa)

Trang 14

Một bài thơ haiku phải thể hiện được cảm thức về thời gian qua quý ngữ (kigo) Quý ngữ có thể là từ miêu tả các mùa xuân, hạ, thu, đông hoặc các hình ảnh, hoạt động đặc trưng của mùa

“Người ta buồn vì vượn khóc trẻ khóc thì sao

gió thu?”

(Basho)

hay bài thơ:

“Con bạch tuộc lười

mơ màng trong lưới trăng mùa hè.”

(Basho)

Hoặc nêu các đặc trưng của mùa thay vì gọi mùa một cách trực tiếp như:

“Nara hoa cúc thơm tượng Phật cổ.”

(Basho)

Hoa cúc gợi cho ta đến mùa thu, cũng chính là quý ngữ của bài thơ

“Lang thang cũng chẳng sao chừng nào

hoa anh đào đang nở”

(Basho)

Hoa anh đào là tượng trưng cho mùa xuân ở Nhật Bản

Việc dùng quý ngữ chỉ mùa thể hiện sự gắn bó sâu sắc của người dân Nhật Bản với thiên nhiên Người Phù Tang rất nhạy cảm với bốn mùa, có cảm

Trang 15

quan tinh tế về thời tiết nhất là sự thay đổi của thiên nhiên Tuy vậy thiên nhiên trong thơ haiku thường là những cảnh vật bình dị, dân dã, đời thường, những hình ảnh nhỏ bé không hoa lệ, mỹ miều và dễ bị lãng quên như: chú ếch, con quạ, chú khỉ bé nhỏ, tiếng ve, hoa dại, hòn đá…

“ Ao cũ con ếch nhảy vào vang tiếng nước xao”

(Basho)

Tiếng động của con ếch khuấy lên đã vang vọng qua bao thời đại, bao sứ

xở cho đến cả bây giờ

“Trong chuồng bò muỗi kêu o o làm đen thêm cái nóng”

(Basho)

Đó hoàn toàn là những hình ảnh hết sức bình thường của cuộc sống hàng ngày nhưng lại được đưa vào thơ ca một cách tự nhiên không bó buộc mà vẫn khơi gợi cảm xúc riêng trong từng độc giả

Hai đề tài nổi bật của haiku là thiên nhiên và đời sống con người Kết cấu bỏ lửng của thơ haiku chính là cái hư không bảng lảng khó nắm bắt của tinh thần Thiền Tông

1.1.3 Vai trò của thơ haiku trong nền Văn hóa-Văn học Nhật Bản và thế giới

Trong tranh thủy mặc người họa sĩ chỉ với một nét bút cũng làm bật lên cái thần của một bức tranh và thơ haiku cũng thế Ngôn từ chỉ cần một nét mong manh hữu hạn để chuyển tại sự vô tận của thế giới tinh thần Cả bài thơ như một khoảng không gian vô định mà trong đó chỉ có ba nét chấm phá cũng

Trang 16

nhuộm màu huyễn hoặc khó nắm bắt mông lung vô tận trong cái hữu hình của lòng người

Haiku không chỉ là một thể thơ truyền thống của người Nhật mà nó còn

là tâm hồn, tinh thần con người Nhật Bản

Rất nhiều trường phái thơ haiku được phát triển ở Nhật và luôn theo quy ước truyền thống tính ước lệ và chiều sâu thăm thẳm tư duy Thơ haiku được chứng kiến những giai đoạn chuyển đổi và tái tạo nhưng sức lôi cuốn của nó vẫn không hề bị mất đi Ngày nay ở Nhật Bản người ta ước tính có hơn 800 nhóm viết và truyền bá thơ haiku

Sự xuất hiện của thơ haiku vào thế kỷ 17 ở phương Tây đã ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ, những người luôn say mê các tác phẩm dịch từ tiếng Trung, tiếng Nhật của R.H.Blyth, một số độc giả và nhà viết văn bắt đầu tìm kiếm sự tương đồng về hình thức, ý tưởng chủ đề ở những bài thơ haiku dịch sang tiếng Anh Tới tận đầu những năm 90 thì việc sáng tác thơ haiku ở các nước phương Tây chỉ là công việc của số ít các nhà thơ Họ lập nên hiệp hội đam mê và truyền bá thơ haiku ở nhiều nước trên thế giới, nhiều nhà phê bình đã đưa thơ haiku vào các bài tiểu luận, khảo luận

Thơ haiku đã vượt ra ngoài biên giới Nhật Bản đến với các nước ở Châu Âu, Nam Mỹ, Châu Phi, Trung Quốc, đặc biệt phong trào làm thơ haiku rất thịnh hành ở Mỹ Tại Việt Nam chắc hẳn những ai yêu thích thơ cũng đã có lần được nghe đến thơ haiku và phong trào sáng tác thơ haiku cũng nở rộ trong giới yêu thơ Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật –Việt lần thứ 4 được tổ chức tại Việt Nam, giải nhất thuộc về tác giả Trần Đức Việt với bài:

“ Trên lá môn non Giọt sương đọng Vầng trăng tí hon”

(Trần Đức Việt)

Trang 17

Haiku không chỉ là cái thần của con người, đất nước Nhật Bản mà nó còn là nét đẹp văn hóa, văn học mà toàn nhân loại đang hướng tới đầy nâng niu

Năm mới được 9 tuổi ông vào lâu đài Ueno làm tùy tùng cho lãnh chúa,

và trở thành bạn thân thiết với con trai vị lãnh chúa, một người chỉ hơn Basho vài tuổi tên là Yoshitada Hai người cùng nhau vui chơi, học tập và làm thơ Cũng trong những năm đó sự phát lộ năng khiếu của ông đã được nhà thơ, nhà phê bình xuất sắc đương thời tên Kitamura Kigin phát hiện Ông bắt đầu được Kitamura Kigin rèn luyện và có bài thơ đầu tay năm ông 18 tuổi và được nhiều người biết đến Trong tập thơ xuất bản ở Kyoto năm 1644, có hai bài của Basho

và một bài của Yoshisada Nếu dòng đời cứ bình yên trôi đi thì chắc hẳn Basho

đã suốt đời an phận một người võ sĩ cấp dưới, thi thoảng cùng chủ quân nâng chén thưởng nguyệt trong những ngày nhàn hạ Ngờ đâu vận đời trớ trêu, Yoshisada chẳng may lâm bạo bệnh và mất sớm khi vừa mới hai lăm tuổi Basho lên núi Koya đặt một nạm tóc của bạn vào chùa và quyết định rời bỏ lâu đài Ueno mặc dù chưa được sự đồng ý của lãnh chúa Ông đến Kyoto vừa để tiêu dao những ngày tháng kinh kì nhằm khuây khỏa vừa để theo đuổi nghiệp thơ ông

Trang 18

tiếp tục đọc Văn học Nhật Bản cổ đại, nghiên cứu văn học Trung Quốc và cả thư pháp Ông thường sống trong nhà Kigin hoặc tá túc trong một đền chùa

Tiếp đó ông dời kinh đô đến Edo, thủ phủ của của chế độ mạc phủ Tokugawa Ở Edo, Basho đã làm nhiều nghề khác nhau nhưng nhận thấy mình chỉ hợp với văn đạo, ông đã đi theo nghiệp thơ văn lấy bút hiệu là Tousei (Đào Thanh) và luôn tìm cách trau dồi thêm về thi ca, ông bắt đầu mở lớp dạy thơ haikai, thu nhận môn đệ và người ái mộ thơ Basho ngày một nhiều Năm 1680, Basho xuất

bản tập thơ “Hai mươi bài thơ do môn đệ của Tousei sáng tác độc lập”

Năm ba mươi bảy tuổi giữa lúc danh tiếng của Basho lan rộng, ông được

phong là “bậc thầy dạy thơ haikai” thì nhà thơ đột nhiên quyết định thôi dạy,

dọn về sống trong một túp lều tranh ở Fukugawa (Thẩm Xuyên) cạnh bờ sông Sumida Một môn đệ là Sampu (Sam Phong) xây cho Thầy mình túp lều để làm bạn với thiên nhiên Có đệ tử mang tặng cây ba tiêu (cây chuối) một giống cây đương thời chỉ có ở Trung Hoa Được Basho trồng cạnh túp lều, khách đến chơi gọi là “Ba Tiêu Am” và chủ nhân là “ Ba Tiêu Tiên Sinh” Trong khoảng thời gian này Basho tu tập Thiền dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Boccho

Năm 1682, Edo xảy ra trận hỏa hoạn lớn, túp lều tranh của Basho cũng chìm trong biển lửa, trắng tay Basho trở thành người không nhà cửa Ý tưởng phiêu bạt chợt bùng trong tâm trí ông

Mùa thu năm 1684, Basho bắt đầu cuộc hành trình “gió biển mây ngàn”

của mình Theo con đường ven biển về phía Tây, ông lang thang thăm lại cố hương Ueno rồi đi Nagoya Ở đó ông cầm đầu một nhóm thi sĩ soạn nên năm

tập renga xuất sắc mang tên Đông nhật Đến mùa hạ năm sau Basho mới trở

về Edo sau khi thăm viếng nhiều nơi chuyến đi lớn đầu tiên này được ông ghi

lại trong kỉ hành mang tên Nhật ký phơi thân đồng nội

Hai năm sau Basho tạo nên chấn động văn chương bằng bài thơ về bước nhảy bất ngờ của con ếch mà tiếng động của nó khi chạm mặt nước ao cũ vang

Trang 19

trong thinh lặng của đêm đen như khoảnh khắc đạt đến Đốn ngộ của thiền sư

Đăng trong hợp tuyển của ông và đồ đệ mang tên Xuân nhật

Chuyến đi kế tiếp của Basho là hướng về Kashima được ông mô tả trong

kỉ hành Kashima (1687) Đây là chuyến đi mà đích đến của Basho là đền Kashima, thăm sư phụ Boccho và ngắm hoa anh đào ở Yoshino mà nhớ về người bạn cũ yểu mệnh tại Ueno năm xưa

Ngay sau chyến đi ngắn ngày ấy, Basho lại bỏ ra một năm trời đi lang thang cùng thiên nhiên, sông núi Từ Edo đến bờ biển Suma Ông đến Sarashina để chứng kiến mùa trăng ở đỉnh Obasute Năm 1689 Basho cùng đệ

tử Sora thực hiện chuyến đi nổi tiếng là hành trình lên miền Oku ở Đông Bắc của đảo Honshu – một vùng thủa ấy còn hoang sơ, chưa có người khai phá Basho phiêu bạt gần ba năm trời, quãng đường ông đi qua hơn 2500km

Sau chuyến hành trình Basho về Kyoto sống hai năm Năm 1691, Basho trở lại Edo với danh tiếng đạt mức tột đỉnh Tâm hồn lãng tử của Basho lúc nào cũng thôi thúc ông dấn bước vào cuộc hành trình gian nan như người đi tìm Đạo

Năm 1694 Basho thực hiện chuyến lữ hành cuối cùng đến Otsu, rồi ghé qua Kyoto ở lại Rakushisha sau đó ông đến Osaka Vốn đã tiều tụy, khi ở Oshaka ông lại mắc chứng tiêu chảy không cách nào chữa khỏi Trong những ngày cuối đời ông viết :

“Dang dở cuộc hành trình chỉ còn mộng tôi phiêu lãng trên những cánh đồng hoang”

Trang 20

Những bước đường phiêu lãng, du hành khắp nơi trên đất nước là cảm hứng sáng tác gắn liền với khối tác phẩm đồ sộ của Basho Những trang bút ký

và bài thơ huyền bí để lại cho hậu thế là tài sản vô giá Sau khi nhà thơ mất,

một số đệ tử đã tập hợp những bài thơ của ông thành Ba tiêu thất bộ tập Những tác phẩm Basho để lại cho đời là: Ngày Đông (1684), năm tập, viết

chung với bạn thơ Du kí lang thang đồng nội (1685)

Ngày Xuân (1686) viết chung với đồ đệ Nhật kí hành trình Kashima (1687), Ghi chép trên chiếc túi hành hương (1688), Lối lên miền Oku (1689), Áo tơi cho khỉ (1691)

1.2.2 Đặc điểm nghệ thuật thơ Haiku của M.Basho

Giữa hai chiều không gian và thời gian, con người từ khi đến với cõi thế này đã phải chấp nhận sự hữu hạn của năm tháng, do vậy mà luôn ao ước tìm đến cõi vĩnh hằng Những chuyến du hành của Matsuo Basho như muốn bộc lộ khát khao như muốn phá vỡ đi sự câu thúc của chiều còn lại trong vũ trụ (thời gian) để tìm ra cho được sự rộng mở khai phóng không gian tồn tại của bản thể

và cái đẹp Đời ông như một lữ khách trong thời gian, là những chuyến du hành không dứt, phản ánh qua các tập kỉ hành hay xoay quanh các thi tập phân theo bốn mùa

Ông yêu thích các thi nhân đời Đường và nhắc đến tứ thơ của họ trong tác phẩm của mình Ông chuộng Trang Tử và dựa trên nền triết học này mà đề

ra thuyết “Bất dịch và Lưu hành” trong thi ca của mình: thi nhân đi tìm những

giá trị vĩnh hằng trong dòng biến động của vạn vật Ông quan niệm tuân theo

tạo hóa và quay trở về với tạo hóa “tả thông thì học thông, tả trúc thì học trúc”

và cho rằng trong đời chỉ có hai loại thơ: thơ tự nhiên dung hợp giữa thiên nhiên và nhân sinh còn thơ nhân tạo chỉ có kỹ thuật mà thiếu tấm lòng Basho

từng bảo: "học thi pháp để rồi quên nó đi” đối với ông cái tình cần hơn sự

chuốt vẽ chữ nghĩa

Trang 21

Tin vào sự mẫn cảm của người nghệ sĩ, Basho khuyên nên nắm bắt ngay ánh chớp lóe ra từ sự vật trước khi nó tan biến đi trong tâm trí Thơ cần nhẹ

nhàng, đơn giản, trong sáng, gần với đời sống và thi nhân cần “nâng tâm hồn

lên thành thơ để rồi quay trở về vời đời thường” Chính điều đó đã trở thành

một trong những đặc trưng của thơ haiku do ông sáng tạo, một thể thơ mà tất

cả những điều nhỏ nhoi, bình thường trong cuộc sống như bụi cám, tiếng dế mèn, tiếng ve, ngôi nhà dột, cây cột xiêu đổ, con sâu đang gặm hạt dẻ, chiếc

mũ chiến lăn lóc trên cỏ, cây chuối trong giông bão… Đều có thể trở thành những đề tài hồn nhiên, dịu dàng và đầy sức sống của thơ

Có hai điều mang tính cách tân trong quan niệm thi ca của ông: không

lặp lại chính mình và không theo khuôn mẫu người Ông tự bảo mình “phải

biết chán cái tôi của ngày hôm qua” và tự chế diễu thơ mình tựa như “ lò sưởi trong mùa hạ và quạt trong mùa đông” Ông kêu gọi đừng bắt chước theo

những thành tựu của văn hào xưa mà chỉ nên truy tìm điều họ đã muốn đi tìm

Với tinh thần đó dù đã có rất nhiều những trường phái haikai nổi tiếng trong thế kỉ 17 như Trinh Môn, Đàm Lâm, Basho vẫn tự lập nên một phong cách thơ mới gọi là Shofu (Tiêu Phong) trong đó chứa đựng những quan niệm nghệ thuật của riêng ông Linh hồn thơ Shofu chính là linh hồn của sabi (cái tịch liêu, tĩnh lặng) và karumi (nhẹ nhàng), mang âm điệu sâu thẳm của Thiền đạo và sắc màu tươi thẳm của thiên nhiên

1.2.3 Vị trí và ảnh hưởng của thơ haiku M.Basho

Matsuo Basho là cha đẻ của thơ haikai (haiku) Nhật Bản Cuộc đời ông gắn với những cuộc hành trình, ngao du khắp niềm trên đất nước và haiku như một người thư kí trung thành ghi lại những khoảnh khắc chớp lóe của sự vật trong cái nhìn của thi nhân

Haiku có một vị trí vô cùng quan trọng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Basho, với các sáng tác trong sự nghiệp ông đã để lại cho thế hệ sau

Trang 22

một không gian đa chiều của nghệ thuật thơ haiku Chiều sâu về nhận thức, tư duy nghệ thuật, sự liên tưởng không ngờ tới giữa hai sự vật trong một bài thơ hai ku

Thiên tài Basho ôm choàng những hiện tượng khác nhau của đời sống,

do đó đã gây nên những ảnh hưởng sâu rộng về sau Tương truyền ông có đến

2000 đệ tử, nổi danh nhất là 10 nhà thơ được gọi là Ba tiêu thập triết đó là:

Etsujin, Hokushi, Joso, Kikaku, Kyorai, Kyoroku, Ransetsu, Shiko, Sanpu và Yaha Các nhà thơ theo khuynh hướng lãng mạn hay hiện thực hậu sinh như Kobayashi Issa, Masaoka Shiki đều có thể xem Basho là bậc thầy của mình, nhiều người đã hành hương theo bước đường phiêu lãng của thầy ngày xưa

Sang thế kỉ XX, Basho càng trở thành một hình ảnh vĩ đại được tôn vinh ở nền văn hóa Nhật Bản Một số nhà nghiên cứu xem ông là nhà thơ huyền bí tương tự Blake và WordsWorth, số khác thấy ông đi trước chủ nghĩa tượng trưng của Pháp Thể thơ haiku do ông hoàn thiện bằng thiên tài của mình đã trở thành thể thơ quốc tế, được nghiên cứu rộng rãi trong và ngoài Nhật Bản Nhiều nhà thơ lớn của thế giới còn sáng tác thể thơ này bằng tiếng mẹ đẻ của mình

Thơ haiku không chỉ có vị trí tối thượng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Basho mà nó còn gây ảnh hưởng sâu rộng đến thế hệ sau Chứng tỏ sức hút của thể thơ ngắn nhất thế giới đã vượt ra khởi biên giới nước Nhật đến đông đảo bạn yêu thơ trên toàn thế giới Ở Việt Nam cuộc thi sáng tác thơ haiku được tổ chức để phục vụ niềm đam mê và tình yêu thơ ca Nhật Bản nói chung và Haiku nói riêng

Trang 23

Chương 2: Đặc sắc thơ haiku của Matsuo Basho

2.1 Basho thi sĩ của mùa thu

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu từng nói: “Có một thể thơ mà khi để nó lướt qua tâm hồn ta, ta có cảm giác như đang chạm vào thiên nhiên, chạm vào từng mùa…Haiku? Đọc haiku là chạm vào hơi thở của mùa Là chạm vào hoa đào, đom đóm, lá phong, tuyết trắng…”

Trong tiếng Nhật thơ haiku không có vần và thường không có nhan đề

Đề tài của haiku là thiên nhiên bốn mùa và những khoảnh khắc độc sáng trong đời Sức mạnh của thể thơ nhỏ nhắn, mong manh này là cách nó khơi gợi, đánh thức và gây liên tưởng hồn ta Cái đẹp của thể thơ nhẹ nhàng đơn sơ này là cách nó nắm bắt tố chất của sự vật trong một vài từ do đó nó không có chỗ cho những tính từ hoa mĩ, phù phiếm

Nếu nó muốn thể hiện nỗi buồn, nó sẽ không nhắc đến chữ buồn hay sầu

mà chỉ dùng những từ ngữ, sắp đặt hình ảnh lên nỗi buồn ấy :

“Trong âm u hiên nhà thấm ướt mưa thu”

(Taigi) Cho chữ buồn vào bài thơ của Taigi sẽ là thừa Hình ảnh hiên nhà ướt mưa

ấy đã là nỗi buồn rồi, một nỗi buồn sờ được, nếm được và có thể nhìn thấy

“Mặt trăng đến rồi đi

để lại chiếc bàn bốn góc”

(Basho)

Trang 24

Khi nói về sự ra đi của người bạn, Basho không cần dùng từ diễn tả một cách trực tiếp là mất hay chết mà chỉ cần mô tả sự hoang vắng, quạnh hiu nơi người bạn hay ngồi bên chiếc bàn làm việc giờ đây chỉ còn chiếc bàn với bốn góc trống không, vắng lặng Tác giả đã sử dụng ngôn từ mô tả sự vật để liên tưởng đến quá khứ khi mà người bạn còn sống Đó chính là sự tinh tế của bài thơ

Phần lớn thơ haiku của các thi sĩ Nhật Bản nói về bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, tuy không nêu hẳn tên mùa trong năm Họ thường dùng những chữ liên quan đến mùa xuân như: “tan tuyết”, lúc “hoa mận nở, hoa đào nở”, hoặc đến lúc “ngỗng trời quay về” với oanh, én, bướm, ếch, đào, mơ, liễu… Về mùa thu

họ hay tả “đêm thanh, trời vằng vặc đầy sao”, lúc “bóng nai thoáng qua rừng”

“chuồn chuồn bay chập chờn”, khi người ta gặt lúa cùng với ngân hà, trăng, nhạn, quạ, lá phong, cúc… Hạ với chim cu, đom đóm, ve sầu, chuồn chuồn, hoa bìm bìm, sen, tiếng muỗi vo ve, tiếng quạt hay tiếng suối chảy róc rách… Mùa đông không tránh được cảnh tuyết rơi, sương mù, cánh đồng héo úa, năm tàn, trong hay ven “rừng thông”, “gấu” hay là tiếng củi hoặc than nổ tí tách trong lò sưởi … và hầu như các tác giả haiku người Nhật không bao giờ nói đến lũ lụt, động đất, bệnh tật, sóng thần…những cái không tốt của thiên nhiên

Có mấy lí do khiến thơ haiku dùng từ mùa là:

Một là từ mùa chính là thi pháp của thơ haiku, giúp nó có sức khơi gợi rất cao, vì mùa có không gian và thời gian rất lớn

Hai là bản thân người Nhật rất yêu thiên nhiên, quá yêu sắc màu của những mùa luân chuyển

Sở dĩ nói Basho là thi sĩ của mùa thu bởi lẽ mùa thu đi vào thơ ông như một người bạn trong chuyến hành trình nghệ thuật của đời ông Theo số liệu thống kê cho thấy trong tuyển tập thơ haiku của Basho do Thái Bá Tân dịch từ tiếng Nga và tiếng Anh, có khoảng 409 bài thơ viết về các mùa gồm: 188 bài thơ về mùa thu, 96 bài về mùa xuân, 74 bài về mùa hạ và 51 bài về mùa đông

Trang 25

Số lượng những bài thơ viết về mùa thu chiếm gần một nửa, gấp 2 lần mùa xuân, 2,5 lần mà hạ và 3,7 lần mùa đông Dường như thi sĩ đã có một cái nhìn trìu mến, đầy tình yêu dành cho mùa thu, mùa của lá phong, của trăng với nhiều sắc thái thẩm mĩ khác nhau, giao thoa hòa quyện lẫn nhau để làm nên hương sắc và phong vị khó miêu tả, khó phân tích, chỉ có thể cảm nhận bằng sự

vi diệu của tâm linh, sự tinh tế của tâm hồn, sự mẫn cảm của trực giác mà thôi Trong đó bi cảm (tiếng Nhật là aware) là cảm thức bao trùm, là cái chất thu đẹp, buồn và quyến rũ, ngàn năm lay động hồn người dù chỉ bằng một chút men thu

Với mọi vẻ đẹp vốn có của mình, thiên nhiên mùa thu trong thơ haiku Basho nói riêng và các mùa nói chung vừa là những hình ảnh bình dị, nguyên

sơ, đời thường vừa hùng vĩ ngút ngàn

Trong thơ mọi hình ảnh thiên nhiên thường có như tuyết, trăng, hoa, núi, sông….đến các loại hoa dại, dưa, bùn, cỏ…Bên cạnh các loài chim đỗ quyên, chim sẻ…còn có cả chấy, ruồi, muỗi, rận, nước đái ngựa… Basho đưa chúng vào rất tự nhiên y như những gì mắt ông trông thấy Ông không hề có sự chọn lựa cảnh kiêu sa, lộng lẫy Vì vậy thiên nhiên hiện lên thật hồn nhiên trong cái trong trẻo và nguyên sơ của nó:

“ Dòng thác trong giữa làn sóng bạc trăng mùa hạ lên”

(Basho)

Đây là hỉnh ảnh tuyệt đẹp của dòng thác hay dòng Sông Trong (Kyiotaki) trong sạch không chút bám bụi, và khi trăng mùa hạ chiếu vào thì lấp lánh ngọn sóng bạc Một vẻ đẹp nguyên sơ, thanh sạch

Hay hình ảnh dải Ngân Hà gợi bao cảm xúc trong lòng thi sĩ :

Trang 26

“ Ôi biển hoang vu ngân Hà vươn trải trên đảo Sado”

(Basho)

Điểm nhìn từ đảo Sado, Basho nhìn dải Ngân Hà vườn trải như một cầu vồng chói sáng, thanh khiết ôm trọn lấy vùng biển hoang vu Hình ảnh thuần khiết và gần gũi của một niềm khoái cảm dữ dội

Thiên nhiên của ông không chỉ hùng vĩ mà còn đơn sơ, mộc mạc như các loài hoa dại:

“ Bên đường hoa dâm bụt đưa mình cho ngựa ăn”

(Basho)

Những hình ảnh bình thường ta gặp trong cuộc sống :

“ Chấy bọ rầy rà nơi tôi nằm ngủ ngựa đứng đái không xa”

(Basho)

2.1.1 M a thu g n với hoa c c s c tri u nhan

Nhật Bản là đất nước của ngàn thơ, vì trước hết nó là đất nước của ngàn hoa Hoa lá một trong những hiện thân trọn vẹn và rực rỡ nhất của cái đẹp trên đời Hình như tạo hóa có phần thiên vị Phù Tang quần đảo và hình như người Nhật cũng đã cảm nhận được cái ân tình của tạo hóa nên thầm lặng nói lời tạ

ơn bằng cách sống đẹp như hoa, trồng hoa trên khắp mọi miền đất nước, thưởng hoa suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đem hoa vào tất cả loại hình nghệ thuật tinh túy như vườn cảnh, cây cảnh, hội họa, trà đạo, ẩm thực, trang phục…

Trang 27

Nếu hoa anh đào tinh khiết, mong manh như người võ sĩ samurai trung thành ra đi dứt khoát, biểu tượng cho mùa xuân mơn mởn sức sống thì hoa cúc tinh khôi là hiện thân cho mùa thu trong thơ Basho:

“ Mong manh mong manh một nhành hoa cúc

nở ngay dưới mắt trần”

(Basho)

Đọc bài thơ ta có cảm giác đang lạc vào tiên cảnh mà hoa cúc là sắc tiên Màu trắng thanh tao, trong trẻo không mảy may hạt bụi, dường như những thứ tầm thường của cõi đời cũng không dám làm phiền đến sắc đẹp thánh thiện ấy

Trang 28

Và con người thu nhỏ mình trước sắc trời khi được nhìn hoa cúc nở dưới mắt trần, con mắt thế tục

Ngay cả khi dập nát vì mưa gió, thời tiết khắc nhiệt thì ta vẫn tìm ra nét đẹp khó nói trong từng khóm cúc Nó đẹp đầy bí ẩn thu hút trí tò mò của thi sĩ:

“ Có cái đẹp khó nói trong những bông cúc vàng dập nát vì mưa”

(Basho)

Cái đẹp của hoa cúc còn được Shiki thâu tóm vào trong bài thơ:

“ Cúc vàng cúc trắng đóa cúc hồng

tôi khát khao”

(Shiki)

Thiên nhiên hình như cũng biết tình tứ, hẹn hò Nhớ lời hẹn ước sang thu, hoa cúc rủ nhau về nở rộ Hoa cúc đan xen nhau đa sắc, đa hương như hợp nhất tạo nên tiết trời thu rực rỡ, nồng nàn

Hoa cúc Nhật Bản cũng giống đóa Sen trong ca dao Việt Nam Cả hai đều đẹp lạ lùng, dù trong hòan cảnh nào thì bản chất của nó vẫn không hề thay đổi cũng giống như con người của hai đất nước nhỏ bé này

Cái đẹp trong quan niệm thẩm mỹ của người Nhật thường hài hòa với cái nghèo nàn, đơn sơ, mộc mạc, xù xì, bé nhỏ quanh chúng ta:

“Quanh chiếc cối xay trên mình cúc trắng chút bụi bám bay”

(Basho)

Chiếc cối xay hay chính cái lam lũ, tội nghiệp, nghèo nàn của những người nông dân vất vả “một nắng hai sương”, bàn tay lao động chai sạn vì nhọc nhằn Bụi bám trên mình cúc trắng phải chăng là lo toan thường nhật, khó khăn của

Trang 29

ngoại cảnh tác động nhưng hoa cúc ấy vẫn trắng tinh khôi chút bụi ấy chỉ tạo nên một tương giao của vạn vật hiền hòa, cái lẽ tự nhiên vốn có trong đất trời

Hoa cúc còn gắn với sự thanh thản, thanh tao khác xa với đời sống thế tục, gắn với Tượng Phật cổ uy nghi tại xứ Nara Hương thơm hoa cúc toát ra như một thứ khí giới thanh cao cõi Phật :

“Nara hoa cúc thơm tượng Phật cổ”

(Basho)

Hay :

“ Uống trà sáng nhà sư

im lặng như hoa cúc”

(Basho)

Trà đạo vào buổi sáng là một nét đẹp truyền thống của người Nhật như tục ăn trầu của người Việt, cho ta sự thanh thản về cõi thiền Hoa cúc không cần biểu lộ, gợi mở chỉ cần im lặng thoảng hương sắc, nó như một người bạn song hành cùng nhà sư đi về miền cực lạc, nơi chỉ có hoa, trà và sự tĩnh lặng lòng thiền:

“ Bên chén trà buổi sáng

sự thanh thản lòng thiền hoa cúc nở”

(Basho)

Và như một vòng tròn của tạo hóa sinh ra rồi từ biệt Hoa cúc hưởng kiếp luân hồi khi những đóa cúc vàng cuối mùa ra đi, vạn vật chỉ còn là hư không trống vắng như một cái gì đó vừa trôi qua trong tầm tay:

Trang 30

“ Hoa cúc hết mùa ngoài cây củ cải còn lại gì đâu.”

(Basho)

Một lần đi qua xứ lạnh mùa thu, nhà thơ Tế Hanh hạ bút:

“ Lá phong đỏ như mối tình rực lửa Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa.”

(Tế Hanh)

Mùa thu không chỉ có hoa cúc vàng, lá phong đỏ mà còn quyến rũ lòng người bởi sắc triêu nhan (asagao) xanh tím Triêu nhan – gương mặt buổi sáng còn được mang một cái tên dân dã là hoa bìm bìm, loài hoa leo đồng nội thân quen, quấn quýt khắp nơi, giăng mắc mọi lối Triêu nhan vốn không phải hoa mùa thu nhưng chính vì cái sắc tím đẹp, gợi cảm nên thường được người Nhật nhắc đến trong những bài thơ về mùa thu như một quý ngữ, một hình ảnh trung tâm của thế giới thu

Bài thơ của Thiền Ni Chiyo có sức lay động lòng người từ bao thế kỷ nay bởi vẻ đẹp, sự tinh khôi của sắc triêu nhan:

“A ! Asagao dây gầu vương hoa bên giếng đành xin nước nhà bên”

(Thiền Ni Chiyo)

Một sớm tinh mơ nhà thơ đi lấy nước thì nhìn thấy những bông hoa triêu nhan biêng biếc bên thành giếng và vương trên cả dây gầu Chính vẻ đẹp đó đã khiến cho thi nhân không nỡ lòng buông gầu lấy nước Bài thơ sâu sắc ở chỗ đã gửi gắm kín đáo dưới chữ nghĩa ít ỏi kia một nét đẹp lấp lánh của tâm hồn Nhật

Trang 31

Bản Đó là sự tinh tế và nhạy cảm trước cái đẹp của cuộc sống và hơn thế nữa

là thái độ và nghĩa của biết nâng niu, trân trọng, giữ gìn cái đẹp trong đời Đóa triêu nhan trong bài thơ của Basho lại có một nét cuốn hút riêng biệt:

“ Triêu nhan một đóa suốt ngày chốt cửa cài vào cổng tôi”

(Basho)

Triêu nhan bé nhỏ, dây leo quấn quanh như một người gác cổng đang làm nhiệm vụ tối cao của mình Lặng lẽ, âm thầm trong thế giới của tĩnh lặng và tách biệt bụi trần bên lối nhỏ vào đường thiền vạn nẻo, vào tâm thiền thênh thang Hoa cúc hiện lên tinh khôi, đẹp trắng ngần trong con mắt của Basho dù cho sự

tác động của ngoại cảnh cũng không làm cho nó mất đi vẻ tự nhiên thánh thiện vốn có Hoa cúc gắn với người dân Nhật Bản từ cuộc sống bình dị đời thường đến chốn tao nhã, thiền tĩnh

2.1.2 ió m a thu với nỗi buồn huy hoàng và tấm lòng thương cảm vô hạn của thi sĩ

Gió thu và sương thu là những quý ngữ quen thuộc trong những khúc ca thu Gió cũng là ngôn ngữ riêng của thu; lời của thu cũng là lời của gió Đi qua những ngày hạ nóng nực, những làn thu phong đã đem lại cho vạn vật một cảm giác mát mẻ dễ chịu những ngày đầu thu:

“ Đỏ bừng mặt trời nhưng rồi phong thu”

(Basho)

Ngày đăng: 16/07/2015, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w