1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc sắc bút pháp tự sự trong truyện ngắn của nam cao và lỗ tấn

123 9K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 757,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trở lại vấn đề so sánh giữa Nam Cao và Lỗ Tấn, người viết nhận thấy: chúng ta đã quan tâm khá nhiều tới sự “gặp gỡ” của hai nhà văn trong tư tưởng, quan điểm nghệ thuật mà chưa thực sự q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mộng Thùy

ĐẶC SẮC BÚT PHÁP TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ LỖ TẤN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mộng Thùy

ĐẶC SẮC BÚT PHÁP TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ LỖ TẤN

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Bằng tất cả sự chân thành của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:

1 Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh và Trưởng khoa Ngữ văn: PGS.TS Lê Thu Yến đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu đề tài của luận văn

2 TS Hoàng Trọng Quyền (Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương) đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn

3 Các thầy cô trong khoa Ngữ văn của trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh đã dạy dỗ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

4 Gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2011

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Toàn bộ hoạt động của một quá trình sáng tác văn chương được tạo thành bởi bốn yếu tố: thời đại - nhà văn - tác phẩm - bạn đọc Trong số những yếu tố đó, tác phẩm văn học thường được xem là chỉnh thể trung tâm, là bộ mặt của đời sống văn học Lịch sử văn chương của nhân loại có nhiều hiện tượng gặp gỡ giữa các tác phẩm thuộc những quốc gia khác nhau Những sự gặp gỡ này có thể do quá trình giao lưu văn hóa, văn học diễn

ra trên toàn thế giới dẫn đến sự tiếp thu những tinh hoa trong nghệ thuật văn chương lẫn nhau Nhưng trên thực tế, một số tác phẩm văn học dù có điểm tương đồng ở một số phương diện nào đó nhưng hoàn toàn không chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau Chính vì nhiều vấn đề như thế mà bộ môn văn học so sánh ra đời Mặc dù ra đời khá muộn nhưng giới nghiên cứu văn học đã thật sự thừa nhận giá trị to lớn và tất yếu của bộ môn văn học so sánh Vấn đề tiếp cận các tác phẩm văn học trên cơ sở lí luận của bộ môn văn học so sánh đã, đang và sẽ còn đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong nghiên cứu văn chương Nhằm thể hiện sự hứng thú của bản thân và muốn góp thêm một công trình ứng dụng vào bộ môn “sinh sau đẻ muộn” này, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực của bộ môn văn học so sánh

Một trong những yếu tố quan trọng của bản chất tác phẩm văn học là cái đẹp Mỗi một tác phẩm văn học có giá trị như một bông hoa đẹp Thế nhưng, trong vô vàn những bông hoa đầy hương sắc của nghệ thuật văn chương, có những bông hoa mà hương sắc chỉ tỏa ngát trong một thời đại rồi sớm lụi tàn theo thời gian, nhưng cũng có những bông hoa mà hương sắc lan tỏa, bao trùm lên mọi thời đại cho đến mãi ngàn sau Nếu độ lùi thời gian từ hiện tại về quá khứ càng lớn thì những tác phẩm văn chương có giá trị đích thực mới thực

sự khẳng định được sức sống mạnh mẽ của nó

Trong lịch sử của nền văn học Trung Quốc vốn có nhiều thành tựu rực rỡ trong khu

vực và trên thế giới, Lỗ Tấn (3T1881 - 1936) 3Tlà một cây đại thụ trong rừng đại ngàn những cây bút tên tuổi Ông là nhà tư tưởng lớn, nhà cách mạng lớn, nhà văn lớn Ông đã có công lớn trong việc xây dựng nên nền văn học mới và góp phần đặt nền móng cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc Cho đến nay, những bông hoa tác phẩm đầu tiên của Lỗ Tấn xuất hiện trong lịch sử văn học Trung Quốc hiện đại vẫn tỏa ngát

Trang 7

hương sắc A.Phadiep xem: “Lỗ Tấn là niềm vinh dự của nền văn học Trung Quốc và

đồng thời cũng là nhân vật nổi tiếng của nền văn học thế giới”

Ở Việt Nam, trong dòng chảy không ngừng của lịch sử văn học nước nhà, nhà văn Nam Cao (1917-1951) dù không có được vị trí sáng giá như Lỗ Tấn nhưng ông cũng là một nhà văn có tên tuổi Nhắc đến dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945, ta không thể không nhắc đến Nam Cao Các sáng tác của Nam Cao được nhiều nhà nghiên cứu xưa nay không ngừng quan tâm tìm hiểu Và những bông hoa hương sắc ấy ngày càng khẳng định được sức sống vững bền của nó trong lòng người yêu văn chương Việt

Phong Lê đã nhận xét: “Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa

lớn”

Có một điều thú vị là giữa hai nhà văn lớn ở hai quốc gia “núi liền núi, sông liền sông” vốn có nhiều mối quan hệ về lịch sử, văn hóa này lại có những điểm “gặp gỡ” nhau trong sáng tác nghệ thuật văn chương Trước nay, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng Nam Cao và Lỗ Tấn là hai hiện tượng văn chương song hành dù họ thuộc hai thế hệ, hai quốc gia khác nhau Nhiều người đã cố gắng tìm hiểu và lí giải nguyên nhân của sự “gặp gỡ” này dựa trên việc tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong các sáng tác của hai nhà văn Có nhiều công trình đã đi sâu so sánh giữa Nam Cao và Lỗ Tấn về các phương diện: đề tài, nhân vật…nhằm lí giải cho sự “gặp gỡ” về động cơ sáng tác, về quan điểm, tư tưởng nghệ thuật của hai nhà văn Nhưng những công trình so sánh đó vẫn chưa làm người viết thỏa mãn khi tìm hiểu về hai tác gia này nên người viết đã mạnh dạn tiếp tục đi vào đề tài so sánh

về Nam Cao và Lỗ Tấn

Như chúng ta biết: một tác phẩm văn chương là sự thống nhất biện chứng giữa cái chủ quan và cái khách quan Cái khách quan chính là khách thể - hiện thực cuộc sống được tái hiện thông qua lăng kính chủ quan của chủ thể Cái chủ quan chính là hình ảnh của chủ thể được thể hiện trong hình tượng tác phẩm từ hiện thực khách quan Tác phẩm nghệ thuật là tấm gương độc đáo phản ánh cùng lúc hai đối tượng là: cuộc sống được tái tạo và người sáng tạo ra cuộc sống ấy trong tác phẩm Tác phẩm văn chương vừa đại diện cho cuộc sống nhiều mặt của hiện thực khách quan, vừa là hiện thân cho lí trí, cảm xúc, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của người nghệ sĩ Nói cách khác, tác phẩm

là thế giới nhân loại nhưng cũng là cái tôi cá nhân của nhà văn Một tác phẩm văn học là

Trang 8

sản phẩm của quá trình sáng tạo nghệ thuật: từ hiện thực cuộc sống được từng nhà văn nhìn nhận và bằng cách riêng của mình mà phản ánh vào bên trong tác phẩm

Rõ ràng, những tác phẩm văn học có giá trị thực sự phải là những bông hoa đẹp cả về nội dung lẫn hình thức Và với sức sống mạnh mẽ của mình, những tác phẩm của Nam Cao và Lỗ Tấn đã khẳng định nó là những bông hoa đẹp như thế

Trở lại vấn đề so sánh giữa Nam Cao và Lỗ Tấn, người viết nhận thấy: chúng ta đã quan tâm khá nhiều tới sự “gặp gỡ” của hai nhà văn trong tư tưởng, quan điểm nghệ thuật mà chưa thực sự quan tâm đúng mức tới sự “gặp gỡ” về tài năng nghệ thuật của hai nhà văn được thể hiện trong các sáng tác Người viết thiết nghĩ, thành công của hai nhà văn này, một mặt, dĩ nhiên là do tư tưởng, quan điểm nghệ thuật chân chính của họ; nhưng mặt khác, thành công của họ còn phải kể đến tài năng và sự sáng tạo trong kĩ thuật viết Mà điều thú vị là họ không chỉ gặp nhau ở động cơ sáng tác, ở quan điểm, tư tưởng nghệ thuật mà còn gặp nhau ở lối viết, cách viết Đó chính là sự “gặp gỡ” về tài năng mà có lẽ không ai có thể bị ảnh hưởng hay gây ảnh hưởng cho ai được Chúng ta đã

có nhiều công trình so sánh về đề tài, về nhân vật trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn, nhưng chúng ta vẫn chưa có một công trình nào thực sự đi vào so sánh nghệ thuật viết văn xuôi, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn – thể loại đã kết tinh tài năng của hai nhà văn này trên cơ sở lí luận của bộ môn văn học so sánh

Bản thân là người yêu văn, vẫn đang trăn trở khi tiếp cận các tác phẩm của Nam Cao

và Lỗ Tấn theo khuynh hướng của bộ môn văn học so sánh, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài cho luận văn của mình là: “Đặc sắc bút pháp tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao và

Lỗ Tấn”

2 Mục đích nghiên cứu

Khi đặt ra đề tài này, mục đích của chúng tôi là muốn làm rõ những điểm tương đồng

và dị biệt trong nghệ thuật sáng tác truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn Mặt khác, bên cạnh những công trình so sánh về đề tài, hệ thống nhân vật trong truyện ngắn mà nhiều nhà nghiên cứu trước nay đã làm thì chúng tôi muốn có thêm một công trình so sánh về nghệ thuật tự sự của Nam Cao và Lỗ Tấn để chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về sự

“gặp gỡ” của hai nhà văn lớn này

Trang 9

Lấy tự sự học làm chìa khóa để khám phá vẻ đẹp của những tác phẩm văn chương là hướng nghiên cứu mới mẻ nhưng đầy tiềm năng và triển vọng Chính vì thế, thông qua

sự so sánh của mình về nghệ thuật sáng tác truyện ngắn của hai nhà văn Nam Cao và Lỗ Tấn, người viết cũng mong muốn hiểu sâu hơn về lí luận tự sự học và lí luận của bộ môn văn học so sánh nhằm ứng dụng vào việc nghiên cứu các tác phẩm văn chương Việt Nam

3 Giới hạn của đề tài

3.1 Giới hạn về nội dung

Khi nói đến bút pháp tự sự trong loại hình tự sự nói chung và trong truyện ngắn nói riêng là đang chạm đến rất nhiều vấn đề ở nghệ thuật viết tự sự như: cách tổ chức các sự kiện, cách xây dựng nhân vật, cách sử dụng các yếu tố không gian - thời gian nghệ thuật, cách dùng từ, đặt câu, cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật, cách sử dụng ngôi kể và điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu…Vì thế, trong giới hạn của một luận văn, khó có thể giải quyết thấu đáo hết mọi vấn đề thuộc phạm vi bút pháp tự sự Với đề tài

“Đặc sắc bút pháp tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn”, ngay từ đầu, người viết đã xác định là không đi vào tất cả mọi phương diện trong bút pháp tự sự của Nam

Cao và Lỗ Tấn mà chỉ nghiên cứu các vấn đề: điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn Người viết cũng thật sự mong muốn

sẽ có điều kiện mở rộng việc nghiên cứu để tìm hiểu toàn diện hơn, sâu sắc hơn đề tài này trong một công trình nghiên cứu khác

3.2 Giới hạn về tác phẩm khảo sát

Để lấy dẫn chứng minh họa cho những nhận định được đưa ra trong luận văn, trong quá trình thực hiện đề tài so sánh giữa Nam Cao và Lỗ Tấn về bút pháp tự sự trong truyện ngắn, người viết đã chọn một số truyện ngắn tiêu biểu của hai nhà văn để khảo sát Cụ thể phạm vi truyện ngắn được khảo sát như sau:

Đối với Lỗ Tấn – đại văn hào Trung Quốc, người viết nghiên cứu vấn đề bút pháp tự

sự của nhà văn qua các truyện ngắn được in trong quyển Lỗ Tấn - Truyện ngắn (Trương

Chính dịch, NXB Văn học, 2009), gồm 25 truyện (14 truyện trong tập Gào thét, 11

truyện trong tập Bàng hoàng, 3 truyện trong tập Chuyện cũ viết lại) Người viết chủ yếu

Trang 10

đi vào khảo sát 25 truyện trong hai tập Gào thét và Bàng hoàng Riêng 3 truyện trong tập

Chuyện cũ viết lại được viết với một văn phong khác với các truyện trong hai tập Gào thét và Bàng hoàng, người viết sẽ lưu ý thêm nếu có gì khác biệt với 25 truyện kia về vấn đề bút pháp tự sự mà người viết đang quan tâm Vì sao người viết chỉ chọn các

truyện trong hai tập Gào thét và Bàng hoàng để khảo sát chính? Một mặt, đó là hai tập

truyện tiêu biểu thể hiện rõ ràng tư tưởng của Lỗ Tấn khi bước vào con đường sáng tác

văn chương; mặt khác, hai tập truyện này ra đời sớm hơn tập Chuyện cũ viết lại và chỉ với hai tập truyện Gào thét, Bàng hoàng cũng đã đủ cho ta thấy được vai trò tiên phong

của Lỗ Tấn trong nghệ thuật viết truyện ngắn, mở ra một trang mới cho lịch sử văn học Trung Quốc

Đối với Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc của Việt Nam, ông đã sáng tác rất nhiều truyện ngắn ở hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945 Các truyện ngắn của ông được in đi in lại trong rất nhiều quyển sách khác nhau Khi thực hiện đề tài

của mình, người viết đã chọn quyển Truyện ngắn Nam Cao (NXB Văn học, 2009), gồm

48 truyện để khảo sát về bút pháp tự sự của nhà văn Quyển sách này đã tập hợp được khá nhiều truyện ngắn tiêu biểu đã làm nên tên tuổi của Nam Cao Bên cạnh đó, trong quá trình sưu tầm tư liệu, nếu tìm thấy những truyện ngắn khác của Nam Cao ngoài các truyện được in trong quyển sách này, người viết sẽ khảo sát thêm và sẽ có lưu ý trong luận văn

Người viết cho rằng, hai quyển sách mà người viết tìm được và dùng để khảo sát trong khi thực hiện đề tài này đã tập hợp được phần lớn các truyện ngắn tiêu biểu, có giá trị về nội dung tư tưởng và nghệ thuật của hai nhà văn trong quá trình viết truyện ngắn

Do vậy, hai quyển sách này sẽ là nguồn tài liệu khảo sát chính và đủ cơ sở để người viết thực hiện đề tài của mình

Trang 11

Thế nhưng, trong giới hạn của đề tài mà chúng tôi thực hiện đã được nêu ở trên, trong phần này, người viết không tập trung tìm hiểu tất cả những công trình đã nghiên cứu về Nam Cao và Lỗ Tấn nói chung Người viết chỉ đi sâu tìm hiểu những công trình, những nhận định của những nhà nghiên cứu đi trước có đề cập đến bút pháp tự sự, đặc biệt là ở các phương diện điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn

Đối với Nam Cao, có các công trình nghiên cứu sau:

Dẫn theo lời của Hà Minh Đức, trong Lời giới thiệu tập Đôi lứa xứng đôi (NXB Đời mới, 1941), Lê Văn Trương viết: “Giữa lúc người ta đang đắm mình trong những

chuyện tình thơ mộng và hùa nhau phụng sự cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông Nam Cao đã mạnh dạn đi theo một lối riêng, nghĩa là ông không thèm đếm xỉa đến cái

sở thích của độc giả Những cạnh tài của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài năng mình,

ở thiên chức của mình” [25; 3] Như vậy, mặc dù không trực tiếp nhưng Lê Văn Trương

đã đánh giá được ngôn ngữ và giọng điệu rất riêng trong các sáng tác của Nam Cao

Về ngôn ngữ trong truyện của Nam Cao, trong chuyên luận Nam Cao - nhà văn

hiện thực xuất sắc (NXB Văn học, 1961), tác giả Hà Minh Đức đã đưa ra những đánh

giá sơ bộ ban đầu: “Ngôn ngữ trong tác phẩm của Nam Cao giản dị như nội dung các

truyện mà tác giả miêu tả Nam Cao ưa lối đặt câu ngắn gọn, phô diễn tư tưởng, biểu đạt ý tình một cách chính xác, bình dị” [24; 178]

Trong cuốn Bốn mươi năm nói láo (xuất bản ở Sài Gòn, 1969), Vũ Bằng có kể lại

ấn tượng đầu tiên về phương diện ngôn ngữ khi đọc một số truyện của Nam Cao: “ngay

mấy câu đầu, đã thích thú vì lối hành văn với những câu kệch cỡm, nghịch ngợm, có khi

d ớ dẩn nhưng đậm đà có duyên” [9; 152]

Cảm nhận sâu sắc về giọng văn Nam Cao, trong Khải luận (Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 30A, NXB Khoa học xã hội và NXB Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 1984), Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Văn Nam Cao vừa ngậm ngùi buồn tủi, vừa cay đắng

chua chát lại pha chút tự trào cười ra nước mắt” [56; 41] “Đây là một thứ ngôn ngữ đi sát với đời sống, biến hóa như sự sống, nhiều khi cứ như là buông thả theo lối khẩu ngữ dân gian có vẻ dài dòng luộm thuộm, kì thực vận dụng tiếng nói của đời sống một cách chủ động với một trình độ nghệ thuật cao” [56; 43]

Trang 12

Khi viết lời giới thiệu cho Tuyển tập Nam Cao (NXB Văn hóa, 1987), tác giả Phong Lê có nhận định: “Về mặt ngôn ngữ, Nam Cao đã khai thác tối đa ngôn ngữ nhân

vật Nhân vật nói những điều cần nói và nói chính ngôn ngữ của mình…Nếu có dài dòng lắm lời thì cũng là sự dài dòng lắm lời của nhân vật – do sự qui định của tính cách, hoặc

sự cần thiết của tình huống truyện.” [48; 38] “Ngôn ngữ Nam Cao không còn là sự dài dòng trang trọng kiểu cách sạch sẽ làm dáng làm duyên của loại văn chương phòng khách, càng không còn là sự đối xứng đưa đẩy theo kiểu văn biền ngẫu” [63; 47]

Ở chương Nam Cao, giáo trình Đại học Sư phạm - Lịch sử văn học Việt Nam

1930-1945 (Đại học Sư phạm Hà Nội I, 1991), nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung đã chỉ ra

những đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ và giọng điệu truyện ngắn của Nam Cao: “Đã xa

rồi thứ văn chương sạch sẽ của Tự lực văn đoàn; đây là lời ăn tiếng nói của quần chúng, giản dị mà phong phú, chắc chắn mà uyển chuyển, tinh tế, có khi xù xì dài dòng nhưng vẫn trong sáng đậm đà, thường xen lẫn những thành ngữ, tục ngữ, ca dao và những lối nói đưa đẩy duyên dáng rất độc đáo, đặc biệt Việt Nam Sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách rộng rãi, triệt để, có chắt lọc” và “lối nói đưa đẩy duyên dáng rất hiện đại, đặc biệt Việt Nam…”, “vừa tỉnh táo nghiêm ngặt vừa thắm thiết trữ tình” Và cuối cùng, ông

kết luận: “Nam Cao đã có những đóng góp mới mẻ cho sự phát triển văn xuôi Việt

Nam…đang hiện đại hóa với một tốc độ đặc biệt mau lẹ” [42; 329]

Trong bài Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao (Tạp chí Văn

học số 1, 1992), Phan Diễm Phương cũng đã tiếp cận sáng tác của Nam Cao từ góc độ ngôn ngữ nghệ thuật Trong bài viết này, tác giả đã phân tích, làm sáng tỏ đặc điểm về

ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của nhà văn qua “cách kể, giọng kể”: vừa kể

chuyện vừa kể tâm trạng, vừa kể vừa suy ngẫm, kể chuyện bằng nhiều chất giọng: nghiêm nghị và hài hước, trân trọng, nâng niu và nhạo, đay, mỉa” [66; 79]

Trong bài viết Nam Cao và cuộc canh tân văn học đầu thế kỉ XX (in trong Nghĩ tiếp

về Nam Cao, NXB Hội Nhà văn, 1992), nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho rằng sự

đóng góp mới mẻ của Nam Cao về phương diện ngôn ngữ so với các cây bút văn xuôi của nhóm Tự lực văn đoàn chính là trong truyện của Nam Cao ngoài ngôn ngữ tác giả

còn có ngôn ngữ nhân vật: “ngôn ngữ ít nhiều phức điệu, tổ chức được những mạng lưới

phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn

Trang 13

ngữ nhân vật, thậm chí của những sự đan xen và nhòe lẫn vào nhau của hai ngôn ngữ ấy.” [5; 46]

Về phương diện trần thuật trong văn xuôi của Nam Cao, trong quyển Nam Cao,

một đời người, một đời văn (NXB Giáo dục, 1993), nhà nghiên cứu Nguyễn Văn

Hạnh nhận xét: “Mặc dù rất đậm đà tính chất trữ tình, người ta vẫn nhận ra hiện

tượng đa thanh nhiều tiếng nói: Tiếng nói tác giả, tiếng nói người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và tiếng nói của nhiều nhân vật khác” [31; 41] Theo Nguyễn Văn Hạnh,

đây chính là nét độc đáo của ngôn ngữ Nam Cao ở phương diện trần thuật

Trong chuyên luận Nam Cao - phác thảo sự nghiệp và chân dung (NXB Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1997), tác giả Phong Lê cho rằng đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao mang tính đa thanh, bao gồm: “ngôn ngữ tác giả mang giọng điệu riêng” được xem

là chủ âm, kết hợp với “ngôn ngữ nhân vật, người nào giọng nấy, không ai giống ai”

[50; 83]

Cũng quan tâm đến phương diện ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nam Cao, trong bài báo Phong cách truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng (Tạp chí Văn học số

2/1997), Bùi Công Thuấn chủ yếu đề cập đến phương diện ngôn ngữ: “kiểu câu ngắn và

cộc”, “chất giọng Bắc Bộ” [79; 194] như là những đặc điểm của phong cách Nam Cao

Trong quyển Nam Cao về tác gia và tác phẩm (NXB Giáo dục, 1998), tác giả Bích Thu có đề cập đến vấn đề giọng điệu trong truyện ngắn của Nam Cao: “Nam Cao có “đóng

góp lớn trong việc đa thanh hóa giọng điệu tự sự” và “sự chuyển hóa giọng điệu tạo nên trữ lượng thẩm mĩ không vơi cạn trong sáng tác Nam Cao” [78; 33]

Với luận án tiến sĩ Thi pháp truyện ngắn Nam Cao (2000), Nguyễn Hoa Bằng đã

khảo sát và phát hiện được tính chất đa thanh của ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao thể

hiện ở sự phức hợp các loại giọng, các chất giọng, phức hợp các tiếng nói xã hội: “Ngôn

ngữ truyện ngắn Nam Cao mang tính nhiều giọng điệu, tính đa thanh, đa âm, nhiều tiếng nói Nhưng lại không phải là bản hợp xướng thuận chiều mà là một trường tiếng nói phức tạp nhiều chiều” [8; 159]

Trong chuyên luận Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam Cao (NXB Văn học,

2000), Vũ Khắc Chương đã khảo sát các yếu tố chủ thể kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, cách kể, nhịp điệu kể…Tác phẩm Nam Cao được nhà nghiên cứu tiếp cận bằng các khái niệm thi pháp học – một hướng nghiên cứu mới trong văn học lúc bấy giờ

Trang 14

Ở chương viết về Nam Cao trong cuốn Văn học Việt Nam (1900 - 1945) (NXB

Giáo dục, 2003), nhà nghiên cứu Hà Văn Đức có đề cập đến những sắc thái giọng điệu

trong sáng tác của Nam Cao: “vừa chân thành vừa châm biếm, mỉa mai, vừa xót xa, đau

đớn” hay “châm biếm nhẹ nhàng, tinh tế và cái cười đầy cảm thông chua xót của nhà văn đối với số phận từng con người” [22; 497]

Còn đối với Lỗ Tấn, có các công trình nghiên cứu sau:

Ở Trung Quốc, dẫn theo lời của Lê Huy Tiêu trong Thi pháp truyện ngắn Lỗ Tấn:

chuyên ngành Văn học các nước châu Á (Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, 1988),

trong cuốn Kỹ xảo sáng tác của Lỗ Tấn (NXB Tân Văn nghệ Thượng Hải, 1958), Chu

Đơn bàn sơ lược đến ngôn ngữ trữ tình, ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ châm biếm trong sáng tác của Lỗ Tấn Đúng như tên gọi của quyển sách, tác giả mới tập trung vào nghiên cứu kỹ xảo, tài nghệ trong hình thức chứ chưa phải là nghiên cứu hình thức với tư cách một hệ thống thẩm mĩ

Ngoài ra, theo Vương Phú Nhân trong Lỗ Tấn - lịch sử nghiên cứu và hiện trạng

(NXB Thống kê, 2004), ở Trung Quốc, người đóng góp nhiều trong việc phân tích tính

nghệ thuật trong tác phẩm của Lỗ Tấn có thể kể đến Lý Trường Chi với công trình Phê bình

Lỗ Tấn Lý Trường Chi nhận định: “ngòi bút ung dung, phớt tỉnh, lạnh lùng của Lỗ Tấn, lại truyền đạt, thể hiện những tình cảm trào dâng mãnh liệt nhất, sự phẫn nộ khẳng khái nhất cũng như lòng cảm thông đã đến cực điểm” [61; 71]

Ở Việt Nam, Lương Duy Thứ là người đặc biệt say mê tìm hiểu về Lỗ Tấn Trong

quyển Lỗ Tấn: tác phẩm và tư liệu (NXB Giáo dục, 1998), tác giả Lương Duy Thứ có

dẫn lời của nhà nghiên cứu văn học Mỹ - Robe Diyanni đánh giá về tác phẩm của Lỗ

Tấn: “Tác phẩm của ông có mang tính hiện thực và tính châm biếm một cách tuyệt diệu

ở giọng điệu và phong cách” [81; 333]

Trong quyển Bài giảng văn học Trung Quốc (NXB Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí

Minh, 2000), tác giả Lương Duy Thứ nhận định: “Cũng để phản ánh đặc trưng tinh

thần của nhân vật, Lỗ Tấn rất chú ý khai thác những câu nói ngắn gọn, có thể gợi lên

cả một chân trời suy nghĩ” [82; 351], truyện ngắn của Lỗ Tấn có giọng “hài hước và châm biếm” [82; 357], “qua “tôi” – nhân vật kể chuyện ngôi thứ nhất để phát triển câu chuyện…Bằng cách này, tác giả có điều kiện bộc bạch trực tiếp quan điểm tư

Trang 15

tưởng của mình…hoặc dễ để tư tưởng tình cảm của mình thấm đượm vào nhân vật

“tôi”, gây một cảm xúc mạnh có thể lôi cuốn độc giả” [82; 356]

Trong lời giới thiệu cho quyển sách Lỗ Tấn – Truyện ngắn (NXB Văn học, 2009),

Trương Chính có đưa ra nhận xét về giọng điệu trong truyện ngắn của Lỗ Tấn như sau:

“Đối với những nhân vật phản diện, ông có một giọng mỉa mai, châm biếm chua xót, mà đối với những nhân vật chính diện, ông cũng có một cái nhìn tinh nghịch, đùa cợt Ông không vì có cảm tình với họ mà mất sáng suốt, không nhìn thấy khuyết điểm của họ; ông giễu cợt kẻ thù và cũng giễu cợt cả những người bạn, khi người bạn đó có những tính xấu cần phải bỏ Tả AQ, ông làm cho người đọc vừa buồn cười, vừa thương hại; ông làm ra

vẻ thản nhiên, lạnh lùng, nhưng bên trong thì giấu một mối đồng tình chân thực” [15; 27]

Ngoài những tài liệu đã được in thành sách của các nhà nghiên cứu có uy tín như đã trình bày, còn có một số công trình luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ cũng quan tâm đến một số phương diện trong bút pháp tự sự truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn như:

Trong đề tài Thi pháp truyện ngắn Lỗ Tấn: chuyên ngành Văn học các nước châu Á

(Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, NXB Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1988), Lê

Huy Tiêu nhận định về phương diện ngôn ngữ trong truyện Lỗ Tấn:“Ngôn ngữ truyện

ngắn của Lỗ Tấn đã chuyển trọng tâm từ chức năng giao lưu ngôn ngữ của các nhân vật sang ngôn ngữ bên trong của nhân vật được soi sáng bằng những tâm lí đa dạng và phức tạp.” [86; 105] Về phương diện giọng điệu, Lê Huy Tiêu nhận xét: “Giọng điệu chủ yếu của “Gào thét” và “Bàng hoàng” là giọng điệu châm biếm…Đọc lại hai tập truyện ngắn trên ta còn thấy một giọng điệu khác, tuy không nổi bật nhưng giấu ẩn đằng sau ngôn từ Đó là giọng trầm tư, tự mổ xẻ một cách thẳng thắn, chân tình.” [86; 99]

Với đề tài Bút pháp xây dựng nhân vật trí thức trong truyện ngắn Nam Cao và Lỗ

Tấn (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2000),

Phạm Phương Thảo có đề cập đến vai trò của nhân vật “tôi” ở ngôi kể thứ nhất có tác

dụng tự truyện Và Phạm Phương Thảo cho rằng: “Việc cá thể hóa ngôn ngữ của nhân

vật được xem là nét độc đáo của ngòi bút hiện thực Nam Cao và Lỗ Tấn” [76; 95]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về bút pháp tự sự, đặc biệt là ở các phương diện ngôi kể và điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nam Cao

và Lỗ Tấn chưa nhiều và chưa có hệ thống Các nhà nghiên cứu chưa đi sâu phân tích các chi tiết để làm rõ cho những nhận định được đưa ra Và đặc biệt, cho đến nay,

Trang 16

người viết chưa tìm thấy bất kì một công trình nào so sánh về bút pháp tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn như đề tài mà người viết đặt ra Chính những điều này cũng tạo ra những khó khăn và thuận lợi cho người viết trong quá trình thực hiện đề tài Các ý kiến có giá trị của các nhà nghiên cứu đi trước được người viết tham khảo ở mức độ nhất định khi thực hiện đề tài của mình với những đóng góp mới khi người viết đi sâu khám phá một thế giới nghệ thuật mới trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn theo khuynh hướng văn học so sánh

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sẽ vận dụng một số phương pháp nghiên cứu trong bộ môn như sau:

5.1 Phương pháp so sánh loại hình

Đối tượng nghiên cứu của luận văn thuộc lĩnh vực của bộ môn văn học so sánh cho nên phương pháp so sánh loại hình được xem là phương pháp chính để thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra những nét tương đồng và dị biệt trong bút pháp tự sự, cụ thể là ở phương diện điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn

Trang 17

trình thực hiện đề tài này, người viết không tìm hiểu một cách biệt lập về bút pháp tự sự

mà nghiên cứu bút pháp tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn với tư cách là một hệ thống thẩm mĩ, nghiên cứu nó trong mối quan hệ với nội dung, tư tưởng trong

truyện ngắn của hai nhà văn

5.4 Phương pháp thực chứng

Phương pháp này được sử dụng khi người viết dùng các cứ liệu trong các truyện ngắn của hai nhà văn để làm dẫn chứng cụ thể cho những nhận định mà người viết đưa ra trong bài nghiên cứu của mình Điều này làm cho những nhận định đưa ra có sức thuyết phục hơn

5.5 Phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp

Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sẽ dùng phương pháp này để miêu tả, phân tích nội dung, tư tưởng của tác phẩm thông qua những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, sau đó tổng hợp thành những nhận định của cá nhân người viết

5.6 Phương pháp sưu tầm và thống kê

Phương pháp này giúp người viết sưu tầm, thống kê, phân loại được nhiều tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu văn học ở nhiều thời điểm khác nhau Điều này giúp cho người làm luận văn có thể đối chiếu, so sánh các quan niệm nghiên cứu khác nhau về vấn đề này, để từ đó có thể đưa ra cái nhìn toàn diện nhất về vấn đề Đồng thời, phương pháp thống kê còn được người viết dùng để thống kê tần suất của các kiểu điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn, để từ đó thấy được giữa hai nhà văn này tuy có sự “gặp gỡ” nhưng cũng có những điểm khác biệt rất tinh tế trong bút pháp viết tự sự

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, người viết không sử dụng độc tôn bất

kì một phương pháp nghiên cứu nào vì các phương pháp này có tác dụng bổ sung, hỗ trợ cho nhau Điều đó sẽ giúp người làm luận văn có cách giải quyết thấu đáo hơn và đầy đủ, thuyết phục hơn về vấn đề mà mình đang quan tâm

Trang 18

6 Đóng góp của luận văn

Về mặt lí luận, luận văn góp phần làm rõ thêm lí luận của bộ môn văn học so sánh,

đặc biệt ở trường hợp những tác phẩm có điểm “gặp gỡ” nhau về tài năng mà không hề chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau Mặt khác, thông qua việc tìm hiểu những điểm tương đồng

và dị biệt trong bút pháp tự sự truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn, luận văn còn góp phần làm rõ thêm lí thuyết tự sự học, đặc biệt là ở các yếu tố điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trong nghiên cứu loại hình tự sự nói chung và trong truyện ngắn nói riêng

Về mặt thực tiễn, luận văn góp thêm một công trình ứng dụng lí luận của văn học

so sánh vào nghiên cứu văn chương Đồng thời, đây là công trình đầu tiên khi nghiên cứu về sự “gặp gỡ” giữa hai nhà văn hiện thực lớn là Nam Cao (Việt Nam) và Lỗ Tấn (Trung Quốc) về phương diện bút pháp tự sự trong truyện ngắn Công trình này giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về tài năng nghệ thuật văn chương của hai nhà văn Điều này sẽ góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu, giảng dạy truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn theo khuynh hướng văn học so sánh, thi pháp học, tự sự học - những hướng tiếp cận văn chương mới mẻ và có hiệu quả cao

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn có 3 chương chính như sau:

Chương 1: Vị trí truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn trong dòng văn xuôi Việt Nam

và Trung Quốc

Chương 2: Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn

Trang 19

CHƯƠNG 1:VỊ TRÍ TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ LỖ TẤN TRONG DÒNG VĂN XUÔI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Đã có rất nhiều công trình lí giải nguyên nhân sự “gặp gỡ” giữa Nam Cao và Lỗ Tấn Và

đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở quan điểm cho rằng sự “gặp gỡ” trong sáng tác của hai nhà văn này có nguyên nhân xuất phát từ sự tương đồng về thời đại, hoàn cảnh xã hội mà hai nhà văn đã sinh sống; về nguồn gốc xuất thân; về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực phương Tây, đặc biệt là văn học Nga trong sáng tác của hai nhà văn Những yếu tố khách quan đó đã in dấu ấn đậm nét trong quan niệm, trong tư tưởng sáng tác văn chương của Nam Cao và Lỗ Tấn; chi phối đến việc lựa chọn nội dung và hình thức nghệ thuật trong các sáng tác của hai nhà văn Vì thế, khi tìm hiểu về sự “gặp gỡ” trong bút pháp tự sự của Nam Cao và Lỗ Tấn, cần phải làm rõ sự tương đồng về bức tranh thời đại và con người của hai nhà văn Điều đó được xem như là tiền đề, là cơ sở

để lí giải nguyên nhân sự “gặp gỡ” trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn, không chỉ ở phương diện nội dung, đề tài mà còn ở phương diện kĩ thuật viết tự sự, đặc biệt là tài năng viết tự sự của hai nhà văn đã được kết tinh tuyệt vời ở thể loại truyện ngắn

1.1 Bức tranh thời đại và con người của Nam Cao và Lỗ Tấn

1.1.1 Bức tranh thời đại

Mỗi con người khi được sinh ra đều không có quyền lựa chọn cho mình một thời đại sống hoàn hảo nhất Nhưng lịch sử nhân loại vẫn luôn ghi nhận được những vì sao sáng giữa trời đêm của lịch sử, những con người bất tử dù phải thở trong bầu không khí tang thương của thời đại Lịch sử thời đại không hoàn hảo chính là một phần căn nguyên dẫn đến những sáng tác bất hủ của những nhà văn vừa có tài vừa có tâm trong hoàn cảnh bi thương ấy Nam Cao và Lỗ Tấn là hai ngôi sao văn học đã được lịch sử văn chương Việt Nam và Trung Quốc ghi nhận ngay trong chính giai đoạn tưởng chừng như không thể tối tăm hơn nữa trong lịch sử dân tộc của hai nước

Trang 20

1.1.1.1 Bức tranh xã hội nhiều biến động, rối ren

Mặc dù Nam Cao và Lỗ Tấn sinh sống không cùng một thời đại nhưng thể chế đất nước và tình hình chung của xã hội ở hai thời đại ấy lại có những điểm tương đồng nhau

Lỗ Tấn sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử Trung Quốc có nhiều biến động, rối ren vì bão táp chiến tranh Chế độ phong kiến già nua thống trị đất nước mấy nghìn năm

đã đến hồi suy vong nhưng các thế lực phản động trong xã hội càng làm cho đất nước Trung Quốc trở nên đắm chìm trong bế tắc Đặc biệt, sau cuộc chiến tranh Nha phiến bốn mươi năm, thế lực đế quốc cậy có vũ khí hiện đại đã không ngừng xâm lược Trung Quốc, tập đoàn thống trị nhà Thanh thối nát, sa đọa, bó tay ngồi nhìn, nhượng bộ từng bước; đất nước Trung Quốc lâm vào cảnh nửa phong kiến, nửa thuộc địa Sự phân hóa

xã hội ngày càng trở nên gay gắt Nhân dân Trung Hoa chưa lúc nào phải chịu nhiều ách thống trị làm cho cơ cực đến thế

Trong lúc “dầu sôi lửa bỏng” như thế thì hàng loạt các cuộc khởi nghĩa oanh liệt của nhân dân Trung Hoa diễn ra như: Thái Bình Thiên Quốc, Nghĩa Hòa Đoàn, cuộc chính biến Mậu Tuất 1898 Tuy nhiên, hầu hết các cuộc khởi nghĩa này đều thất bại Chính điều này lại càng làm cho đất nước và con người Trung Hoa trở nên bi thảm hơn trong

bể máu của chiến tranh Cuộc cách mạng Tân Hợi nổ ra với sứ mạng chống đế quốc phong kiến những tưởng có thể đem đến cuộc sống mới cho nhân dân Trung Hoa, thế nhưng, đó chỉ là một giấc mơ ảo tưởng Người Trung Hoa không có được bất kì một lợi ích nào từ cuộc cách mạng Ngược lại, họ lại càng trở nên bế tắc hơn khi rơi vào tình trạng hỗn chiến dai dẳng Cách mạng tháng Mười Nga đã làm thức tỉnh Trung Quốc bằng cuộc vận động Ngũ Tứ - cuộc cách mạng dân chủ kiểu mới Chính cuộc cách mạng này đã thúc đẩy một cuộc cách mạng lớn khác diễn ra ở Trung Quốc Đó là cuộc cách mạng văn hóa Thanh niên Trung Quốc (trong đó có cả Lỗ Tấn) bắt đầu tỉnh ngộ Cuộc

vận động Ngũ Tứ đã đánh thức “những con người đang ngủ mê trong một cái nhà hộp

bằng sắt, không có cửa sổ” (Lỗ Tấn)

Mặc dù không phải sống cùng một thời, cùng một bối cảnh chung của lịch sử thế giới nhưng thời đại mà Nam Cao sinh sống cũng không khác gì thời đại mà Lỗ Tấn sinh sống Nam Cao sinh trưởng trong thời kì mà đất nước Việt Nam đang rên xiết vì chiến tranh, vì nghèo đói Xã hội mà Nam Cao chứng kiến là một xã hội chỉ toàn bất công và

áp bức, tăm tối và ngột ngạt dưới ách thống trị của bọn thực dân phát xít và phong kiến

Trang 21

tay sai với hàng loạt chiêu bài “Âu hóa”, “Chính sách Đại Đông Á” Sức người, sức của

bị chúng vơ vét ném vào chiến tranh đến kiệt quệ Từ thành thị đến nông thôn đều trở nên tiêu điều, xơ xác trong chính sách bóc lột tàn nhẫn của chúng Do phải chịu cảnh một cổ ba tròng: đế quốc Pháp, phát xít Nhật và phong kiến tay sai nên người dân Việt Nam hoàn toàn rơi vào thảm cảnh của đói nghèo, của áp bức và bất công Các tầng lớp nhân dân bị phân hóa sâu sắc

Cũng như ở Trung Quốc, trước tình cảnh đen tối, ngột ngạt của đất nước, một thời đại bão táp cách mạng từ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Việt Nam đã sôi sục diễn ra từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời: phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc vận động dân tộc dân chủ 1936-1939 Các phong trào yêu nước tuy bị dìm trong

bể máu nhưng ngọn lửa đấu tranh vẫn âm ỉ, sục sôi, không bao giờ nguội tắt Nhân dân Việt Nam vẫn kiên cường đứng lên chống kẻ thù và các thế lực bạo tàn Và thành công đỉnh cao chính là cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 Cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một hi vọng mới cho người dân Việt Nam

Như vậy, về thể chế, hai nước đều từng bước trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự xâm lược của các nước tư bản nước ngoài cùng với sự bám rễ của chế độ phong kiến già nua trong nước; về xã hội, tình hình xã hội của Trung Quốc và Việt Nam ở thời

kì đó trở nên vô cùng rối ren và khủng hoảng hơn bao giờ hết bởi những cuộc chiến tranh diễn ra liên miên Xã hội ấy đã đẩy cuộc sống của nhân dân hai nước lâm vào tình cảnh vô cùng khốn khổ, bế tắc nhưng nhân dân hai nước vẫn kiên cường đấu tranh để giải phóng cá nhân, giải phóng dân tộc

1.1.1.2 Bức tranh xã hội nông thôn điển hình

Sinh ra và gắn bó với những làng quê nghèo, Nam Cao và Lỗ Tấn có những điểm

“gặp gỡ” khi viết về nông thôn và người nông dân Những điểm “gặp gỡ” này chính là dấu ấn sâu đậm của bức tranh nông thôn điển hình ở hai nước được thể hiện trong sáng tác của hai nhà văn lớn

Đối với những nhà nước phong kiến tồn tại hàng nghìn năm với nền sản xuất nông nghiệp là chính yếu như Trung Quốc và Việt Nam, ngoài vua quan đứng đầu nhà nước,

ở nông thôn bọn địa chủ cường hào chính là thế lực trực tiếp cai trị giai cấp nông dân Bọn địa chủ, quan lại ở địa phương thao túng quyền hành, bóc lột nhân dân thậm tệ

Trang 22

Ở Trung Quốc, bộ máy cai trị ở nông thôn được khép kín, được hỗ trợ bằng tôn quyền

và thần quyền của chế độ phong kiến bám rễ hàng nghìn năm hết sức chặt chẽ khiến làng

xã nông thôn thường co cụm, tách biệt theo kiểu “phép vua thua lệ làng” Đồng thời, sự xâm nhập của tư bản nước ngoài cùng với sự thối nát của bọn thống trị phong kiến đã đẩy kinh tế nông thôn nhanh chóng suy kiệt, lụi tàn Nông dân bị áp bức, nghèo túng

Ở Việt Nam, thời kì mà Nam Cao sinh sống, thế lực cường hào, địa chủ ở nông thôn miền Bắc trong bốn mươi lăm năm đầu thế kỉ XX vẫn nghiễm nhiên tồn tại Chúng chia

bè kéo cánh, thừa cơ tình hình xã hội rối ren để “đục nước béo cò” Dưới tận cùng của

xã hội chính là những bần cố nông bị dồn đẩy vào bước đường cùng, không còn lối thoát

Thế lực cường hào, địa chủ ở nông thôn của Trung Quốc và Việt Nam đều có sự tương đồng ở bản chất giai cấp Chúng tàn nhẫn bóc lột người nông dân tàn tệ, xô đẩy những người nông dân vào con đường không có lối thoát hay phải biến dạng, biến chất Mặc dù, xã hội có nhiều biến động về chính trị nhưng ở nông thôn Trung Quốc và Việt Nam, thế lực phong kiến địa chủ vẫn là thế lực thống trị tuyệt đối Thế lực này, một mặt, thống trị toàn bộ nền kinh tế nông thôn; mặt khác, ra sức bóc lột, đàn áp nông dân

Tuy nhiên, bối cảnh nông thôn của Trung Quốc và Việt Nam cũng ít nhiều có sự khác biệt Trong bức tranh nông thôn ở Trung Quốc vào những năm đầu thế kỉ, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trì trệ, đình đốn trong một xã hội thuộc địa nửa thực dân, nửa phong kiến Các thế lực phong kiến, với mấy nghìn năm cắm rễ, không thể bị lung lay, sụp đổ nhanh chóng khi giai cấp tư sản chỉ mới được hình thành với bản chất ốm yếu, què quặt Nông thôn Trung Quốc không có nhiều sự thay đổi khi cuộc cách mạng Tân Hợi thất bại, bọn địa chủ phong kiến vẫn còn ở địa vị thống trị

Trái lại, ở Việt Nam, vào những năm bốn mươi của thế kỉ hai mươi, thế lực địa chủ phong kiến đã có dấu hiệu đi đến chỗ thoái trào, lung lay Đây là giai đoạn cuối đánh dấu

sự tồn tại của bọn địa chủ phong kiến Nhà nước phong kiến Việt Nam đi đến chỗ suy tàn, và sụp đổ hoàn toàn từ sau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945

1.1.1.3 Bức tranh văn hóa, văn học đa dạng và hiện đại Thời đại Nam Cao và Lỗ Tấn sinh sống là thời đại du nhập nhiều trào lưu văn hóa, văn học nước ngoài, đặc biệt là từ phương Tây và chủ nghĩa hiện thực Nga vào cuối thế

kỉ XIX

Trang 23

Ở Trung Quốc, thời kì cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các luồng tư tưởng, văn hóa phương Tây đã xuất hiện và ồ ạt xâm nhập vào hệ thống tư tưởng, văn hóa hàng nghìn năm bền vững của người dân Trung Hoa Quá trình xâm nhập của các trào lưu văn hóa nước ngoài vào Trung Quốc đã kéo theo sự biến đổi thần kì của nền văn học Trung Quốc tưởng chừng như đã bị đóng khung mãi mãi dưới chế độ phong kiến Đây là thời kì mà người dân Trung Hoa nói chung và tầng lớp văn sĩ Trung Hoa nói riêng đang mang trong mình nhiều mâu thuẫn, dằn vặt về hiện thực đời sống xã hội, về hiện trạng văn hóa, văn học nước nhà đã quá cũ kĩ, lạc hậu Họ có nhu cầu tìm hướng đi mới cho văn hóa, văn học Trung Quốc Văn học Trung Quốc chỉ thực sự chuyển mình tiếp nhận cái mới, hiện đại kể từ sau cuộc vận động dân chủ kiểu mới – cuộc vận động Ngũ Tứ Phong trào cách mạng văn hóa Ngũ Tứ đã mở ra một trang mới cho lịch sử văn học Trung Quốc Thời kì này, nền văn học Trung Quốc chuyển mình mạnh mẽ dưới sự tác động của các luồng gió văn hóa, văn học đa dạng từ phương Tây và Nga Nhiều thể loại văn học nghệ thuật mới

ra đời: thơ mới, truyện ngắn bạch thoại, kịch nói, tạp văn, thơ văn xuôi…Văn học Trung Quốc chuyển từ văn ngôn sang văn bạch thoại Đây là bước phát triển vượt bậc của nền văn học Trung Quốc, góp phần đưa nền văn học nước này đi vào quá trình hiện đại hóa một cách nhanh chóng Hình thức diễn đạt, nội dung tư tưởng của hầu hết các thể loại văn học Trung Quốc thời kì này thật sự mới mẻ do chịu nhiều ảnh hưởng của văn học phương Tây và văn học Nga: về hình thức, văn học thời Ngũ Tứ vận động dùng bạch thoại, chống văn ngôn, chống mọi ràng buộc cổ hủ như cách luật trong thơ, đối ngẫu trong văn…; về nội dung, tinh thần chủ đạo là chống phong kiến, chống đế quốc, đòi dân chủ và khoa học Những yếu tố ngoại lai đã góp phần làm phong phú thêm văn đàn Trung Quốc với rất nhiều trào lưu và trường phái mới, như trường phái “tiểu thuyết vấn đề” chịu ảnh hưởng từ văn học Nga và kịch Henrik Johan Ibsen, “tiểu thuyết tự ngã” chịu ảnh hưởng từ tiểu thuyết cận đại Nhật Bản, chủ nghĩa biểu hiện cũng như tư tưởng của Sigmund Freud…Nền văn học Trung Quốc thời kì này đã thực sự đi vào quá trình hiện đại hóa Xuất phát từ nhu cầu của xã hội, của hoàn cảnh lịch sử, thời đại, các nhà tư tưởng và văn hóa tiến bộ của Trung Quốc thời kì này đã xem văn học là một vũ khí để đấu tranh; sự đổi mới của văn học sẽ góp phần đổi mới tư tưởng của người dân Trung Hoa, giúp họ thoát khỏi tình trạng lạc hậu Văn học trở thành vũ khí để giải phóng cá nhân, giải phóng đất nước

Trang 24

Ở Việt Nam, mặc dù văn học đã đi vào quỹ đạo hiện đại từ những năm đầu thế kỉ XX, nhưng văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 mới thực sự hiện đại hóa về chất: chữ Quốc ngữ hoàn toàn thay thế cho chữ Nôm và chữ Hán trong hoạt động sáng tác văn chương; những thể loại mới và hiện đại được du nhập từ phương Tây chiếm ưu thế và là một trong những nguyên nhân góp phần mang lại nhiều thành tựu đáng kể như: thơ mới, tiểu thuyết văn xuôi, truyện ngắn, kí, phóng sự Điều kiện vật chất xã hội không bình yên là cơ sở cho sự phát triển của các luồng tư tưởng mới du nhập vào Việt Nam Tư

tưởng tư sản phương Tây, đặc biệt là Pháp, đã xuất hiện từ những năm đầu của thế kỉ

XX tiếp tục ăn sâu vào nhiều bộ phận trong xã hội Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, những bộ phận tích cực đi theo đường lối ấy bị thất bại và tan vỡ về tổ chức làm cho

nhiều người mất phương hướng Trong lúc đó, tư tưởng vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở Nga dần dần chiếm ưu thế Trong hoàn cảnh có những thay đổi như vậy, xã hội thuộc địa đã xuất hiện những xu hướng mới trên các lĩnh vực văn hóa văn nghệ và tư tưởng Văn học lãng mạn (gồm Trào lưu Thơ Mới và văn xuôi lãng mạn của nhóm Tự lực văn đoàn) cùng với văn học hiện thực là hai dòng văn học ra đời và tồn tại song song Đó là những tiếng nói mới của các bộ phận nhân dân trước hiện tình đất nước, là

sự chán ghét chế độ thuộc địa với những cách thức khác nhau của đội ngũ trí thức tiểu tư sản Nhiều cuộc đấu tranh gay gắt giữa trường phái triết học duy tâm và triết học duy vật, giữa khuynh hướng “vị nhân sinh” và khuynh hướng “vị nghệ thuật” trong văn học

đã diễn ra Một bộ phận khá đông những người tư sản, tiểu tư sản trí thức sau đó đã đứng

về phía nhân dân lao động, đấu tranh cho quyền lợi dân tộc Việt Nam Đội ngũ những người yêu nước và cách mạng đứng dưới ngọn cờ cách mạng vô sản ngày một đông đảo Văn học Việt Nam thời kì này ngày càng chứng kiến sự thắng thế của bộ phận văn học hiện thực Văn học trở thành công cụ để phản ánh hiện thực xã hội đen tối, để đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc

Tóm lại, nền văn học đa dạng và được hiện đại hóa do sự ảnh hưởng của phương Tây

và sự biến đổi tự thân trên cơ sở những biến đổi của nền kinh tế, xã hội ở mỗi nước là điểm tương đồng trong bức tranh văn học của hai nước Việt Nam và Trung Quốc ở thời đại mà Nam Cao và Lỗ Tấn sinh sống Và xuất phát từ nhu cầu của bối cảnh xã hội đầy biến động vì chiến tranh, áp bức, bóc lột, văn học ở thời kì mà Nam Cao và Lỗ Tấn sinh sống đã hướng đến mục đích “vị nhân sinh” cao cả

Trang 25

1.1.2 Con người Nam Cao và Lỗ Tấn

1.1.2.1 Con người xã hội trước những biến động lớn lao của đất nước

Lịch sử thời đại, hoàn cảnh xã hội sẽ in dấu ấn rõ nét lên những đặc điểm của con người xã hội Với tiền đề cơ sở xã hội kèm theo hoàn cảnh xuất thân của cá nhân mỗi người có những điểm tương đồng sâu sắc, con người xã hội của Nam Cao và Lỗ Tấn

cũng có sự “gặp gỡ” nhau một cách kì lạ

Nam Cao (tên thật là Trần Hữu Tri, 1917 – 1951) sinh trưởng ở làng Đại Hoàng, phủ

Lí Nhân, tỉnh Hà Nam Làng Đại Hoàng – nơi ông sinh ra vốn là một làng quê nghèo khó, và là hình ảnh thu nhỏ của xã hội lúc bấy giờ Nơi ấy, Nam Cao đã chứng kiến biết bao cảnh hoành hành của bọn cường hào, địa chủ dẫn đến cảnh không ít người nông dân phải bỏ nhà đi tha phương cầu thực Những cảnh áp bức, bất công, những mảnh đời đầy đau xót, tủi cực của nông dân làng Đại Hoàng đã đi vào những trang viết của Nam Cao với dấu ấn nặng nề về một vùng quê nghèo đói, tăm tối Nam Cao xuất thân trong một gia đình trung nông nghèo, đời sống khá chật vật Dù vậy, ông vẫn có cái may mắn hơn những người nông dân nghèo khác Trong tất cả các anh chị em trong gia đình, chỉ có Nam Cao được đi học Ở nơi xa quê, dù phải sống vất vả nhưng con người trí thức trong Nam Cao vẫn sống rất mãnh liệt Nam Cao ngày đêm miệt mài học tập với nhiều ước

mơ và dự định lớn lao Ông mơ có một ngày được sang Pháp để được nhìn rộng, biết nhiều, học cao hơn Nhà văn đã không ngừng học hỏi và tiếp thu những thành tựu văn hóa tiến bộ của phương Tây và Nga trước khi trở thành một nhà văn hiện thực xuất sắc Thế nhưng, từ nhỏ, cuộc sống đói nghèo và bệnh tật đã đeo bám lấy nhà văn Một thời gian dài xa quê, Nam Cao không những không đạt được ước muốn được đi xa, học nhiều

mà ngược lại, ông còn phải làm nhiều nghề nặng nhọc, mà như nhà văn nói: “kể cả

những nghề mà những người tự xưng là trí thức không làm” (Sống mòn) để mưu sinh

như: phu phen, thợ thuyền…với ước mơ được thoát cảnh đói nghèo, tìm được một tương lai mới cho mình Nhưng cuối cùng, số phận lại đưa đẩy Nam Cao trở về với làng quê nghèo đói Nam Cao dường như phải sống trọn vẹn cuộc đời là một người trí thức với sự thiếu thốn, nghèo khổ và bệnh tật như hầu hết những người lao động khác

Lỗ Tấn (1881 – 1936, tên là Chu Thụ Nhân) được sinh ra trong một gia đình quan lại

sa sút ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang Từ trẻ, Lỗ Tấn đã được thụ hưởng bầu

Trang 26

không khí của một gia đình có truyền thống hiếu học Bên cạnh đó, cả cha và mẹ của Lỗ Tấn là những người có tư tưởng rất mới, rất tiến bộ lúc bấy giờ nên ảnh hưởng phần lớn đến tư tưởng tiến bộ của Lỗ Tấn sau này Ông đã mạnh dạn vứt bỏ những điều cũ kĩ, lạc hậu của nền giáo dục phong kiến Trung Quốc để đến với những thành tựu văn minh, văn hóa tiến bộ của phương Tây và Nga Được đi du học, có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền văn hóa phương Tây kết hợp với tư tưởng tiến bộ sẵn có, Lỗ Tấn thực sự đã trở thành một người trí thức có tư tưởng rất tiến bộ lúc bấy giờ Tư tưởng tiến bộ, dứt khoát gạt bỏ những cái lỗi thời, lạc hậu để đến với những chân trời mới đã được Lỗ Tấn thể hiện rất

rõ trong hoạt động sáng tác văn chương Dù vậy, trong cuộc đời mình, Lỗ Tấn cũng không hoàn toàn gặp may mắn Ông nội ông bị nạn nơi quan trường, cha ông ngày càng bệnh nặng, gia đình ông ngày càng sa sút, Lỗ Tấn có điều kiện đi lại, gần gũi với con em nhân dân lao động Có một thời gian dài, Lỗ Tấn phải đi lại những hiệu cầm đồ, hiệu thuốc và hứng chịu những thái độ khinh miệt, rẻ rúng của người đời Nhưng chính thời

kì đầy gian khổ ấy đã giúp Lỗ Tấn hiểu thấu được bản chất của người đời, nhất là những thói hư tật xấu của những tầng lớp trên trong xã hội Thời gian này cũng để lại trong tâm trí ông những hiểu biết sâu sắc và những tình cảm tốt đẹp, giúp ông có thể viết nên những trang sách đầy cảm động về người nông dân, về nông thôn Trung Quốc

Nhìn chung, nguồn gốc xuất thân của Nam Cao và Lỗ Tấn không hoàn toàn tương đồng nhau Lỗ Tấn xuất thân từ một gia đình quan lại tuy có phần sa sút nhưng vẫn là một gia đình trí thức thực thụ Ông lại được nuôi dưỡng trong một môi trường giáo dục thuận lợi:

có cả nền giáo dục truyền thống từ nhỏ và nền giáo dục hiện đại của phương Tây trong thời gian ông trưởng thành và được đi du học Ông được thừa hưởng những tư tưởng tiến

bộ của cha mẹ và được sự ủng hộ của gia đình khi đến với những tư tưởng phương Tây tiên tiến Còn Nam Cao, ông vốn xuất thân từ gia đình lao động nghèo khó Nam Cao không có được một cái nôi gia đình trí thức và một môi trường giáo dục thuận lợi như Lỗ Tấn Ngay cả ước mơ được đi Pháp của Nam Cao cũng không thể thành hiện thực Nhưng với sự nỗ lực của mình, Nam Cao cũng tiếp thu được những thành tựu văn hóa phương Tây tiến bộ trên nền tảng tư tưởng nhân văn Việt Nam để trở thành một người trí thức thực thụ

Tuy nhiên, dù không có nguồn gốc xuất thân tương đồng nhau, nhưng giữa Nam Cao

và Lỗ Tấn lại có sự “gặp gỡ” nhau ở phương diện cái nhìn và độ thấu hiểu đời sống của

Trang 27

người trí thức và người lao động Nam Cao có một thời gian dài sống cuộc sống của một thầy giáo trường tư nghèo khổ, một nhà văn, một gia sư có đời sống chật vật nên hiểu biết sâu sắc về thân phận của người trí thức tiểu tư sản nghèo trong một xã hội ngột ngạt,

bế tắc Lỗ Tấn cũng vậy, là một người trí thức sinh ra trong một gia đình đang sa sút, chính Lỗ Tấn phải thấu hiểu những khó khăn của một người trí thức nghèo hơn ai hết Bên cạnh đó, là những người sống gắn bó và gần gũi với làng quê, với những người nông dân chân chất, thật thà nhưng cũng có phần u mê nơi mình sinh ra và lớn lên, Nam Cao và Lỗ Tấn còn am hiểu và thấm thía cuộc sống nhiều mặt của nông thôn, số phận cực nhọc của những người nông dân nghèo khổ trong hoàn cảnh đất nước đang chịu nhiều đau thương dưới gót giày của bọn xâm lược và bọn phong kiến tay sai

Cả Nam Cao và Lỗ Tấn đều sống trong thời đại đầy rối ren, biến động của bão táp chiến tranh Hai nhà văn không chỉ là một người trí thức – lao động bình thường cam chịu áp bức, bất công, chịu nhẫn nhịn trước cảnh đồng bào bị đàn áp, bị giày xéo mà còn

là những con người có lí tưởng, có hoài bão trước cuộc đời đang chìm trong đen tối, trước vận mệnh của dân tộc Nam Cao và Lỗ Tấn lại có sự “gặp gỡ” nhau ở tinh thần cách mạng, ở lòng yêu nước nồng cháy, sẵn sàng hi sinh bản thân vì sự nghiệp lớn lao của đất nước Cả hai con người ấy đều là những chiến sĩ cách mạng kiên cường, đấu tranh không mệt mỏi, không chùn bước trước kẻ thù cho đến những hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình

Nam Cao từng gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật cùng với nhiều văn sĩ khác như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng…Khi cơ sở Văn hóa cứu quốc và phong trào cách mạng ở Hà Nội bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương Thời kì Cách mạng tháng Tám 1945, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở xã Lí Nhân và được bầu làm Chủ tịch xã Sau đó, ông được điều lên Hà Nội và công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc Đến khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao lại nhiệt tình đứng vào hàng ngũ của đoàn quân Nam tiến chiến đấu Năm 1947, ông lên Việt Bắc – trung tâm đầu não chỉ huy kháng chiến của ta, làm công tác văn hóa để phục vụ cho cuộc kháng chiến: viết tin, viết truyền đơn, viết ca dao tuyên truyền…Năm 1951, Nam Cao hi sinh trên đường đi công tác vào vùng địch khi tuổi đời còn rất trẻ

Trang 28

Trước sự xâm lược của đế quốc và sự bạc nhược của triều đình Mãn Thanh, Lỗ Tấn từ giã gia đình và quê hương, đem theo hoài bão của mình đi tìm một chân trời mới để phục

vụ cho cách mạng, cho nhân dân Ông không ngừng đấu tranh với kẻ thù, trước tiên là ở phương diện tư tưởng văn hóa Thời gian đầu, Lỗ Tấn chịu ảnh hưởng của quan điểm tiến hóa, ông kêu gọi phản kháng, căm ghét truyền thống trì trệ, ca ngợi sự đổi mới, chủ trương cải cách…Khi sang Nhật du học, Lỗ Tấn tham gia Hội Quang Phục, với quyết tâm hi sinh để cứu nước Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của người trí thức yêu nước Lỗ Tấn Ông đã tham gia chỉ đạo thực tế phong trào yêu nước của thanh niên Khoảng 1920 – 1925, ông đã lãnh đạo sinh viên các trường Đại học ở Bắc Kinh lập các nhóm văn học xuất bản báo và tạp chí cổ động cách mạng Khi chính phủ quân phiệt Đoàn Kỳ Thụy bắn giết học sinh biểu tình chống chính sách đầu hàng bán nước, ông đã phản đối mạnh mẽ và biện hộ cho những học sinh yêu nước ấy Khi bị buộc phải rời Bắc Kinh đến Hạ Môn, Lỗ Tấn đã tìm cách đến Quảng Châu – căn

cứ địa cách mạng lúc bấy giờ của Trung Quốc để liên hệ với tổ chức Đảng Cộng sản và tham gia các tổ chức cách mạng do đảng Cộng sản lãnh đạo Năm 1927, Tưởng Giới Thạch khủng bố Đảng Cộng sản, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị giết hại,

Lỗ Tấn đứng ra bảo trợ cho họ nhưng thất bại nên từ chức và rời Quảng Châu đến Thượng Hải Tại đây, ông tập trung tổ chức và lãnh đạo phong trào văn học vô sản Đồng thời, ông còn trực tiếp tham gia các hoạt động chính trị do đảng Cộng sản lãnh đạo như: tham gia Hội Hỗ trợ cách mạng, Hội Đồng minh tự do, Hội Bảo vệ dân quyền…cho đến lúc từ trần

Như vậy, cả hai nhà văn có sự gặp nhau ở tinh thần sẵn sàng hi sinh vì tương lai của đất nước, của dân tộc, và hơn hết, họ không ngừng đấu tranh và luôn nhiệt tình đấu tranh trên mọi mặt trận: chính trị, quân sự và văn hóa, văn nghệ Họ là những người cách mạng thực sự

1.1.2.2 Con người văn chương trong bối cảnh xã hội, văn hóa có nhiều biến đổi

Mỗi nhà văn đều có một quan niệm, một cách nhìn về cuộc sống Quan niệm và cách nhìn cuộc sống của nhà văn sẽ chi phối nội dung, tư tưởng chủ đề cũng như hình thức nghệ thuật của tác phẩm Quan niệm và cách nhìn của nhà văn chính là con người văn

chương của nhà văn được thể hiện trong tác phẩm Do vậy, khi nghiên cứu về hiện tượng

Trang 29

“gặp gỡ” giữa Nam Cao và Lỗ Tấn trong sáng tác văn học nghệ thuật, không thể không

lưu tâm đến sự “gặp gỡ” của con người văn chương giữa hai nhà văn

Các nhà nghiên cứu văn học đều nhận thấy rằng con người văn chương của Nam Cao

và Lỗ Tấn cũng có sự “gặp gỡ” với nhau Sự “gặp gỡ” này được thể hiện khá rõ nét qua

tư tưởng, quan niệm sáng tác văn chương của hai nhà văn Tuy nhiên, để hình thành được động cơ, quan điểm sáng tác chân chính tạo nên tên tuổi của Nam Cao và Lỗ Tấn, hai nhà văn đã phải trải qua một quá trình “tìm đường” và “nhận đường” khá lâu dài Quá trình này diễn ra song song với quá trình hai nhà văn ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về phong trào cách mạng của đất nước mình để thực sự đứng vào hàng ngũ của những người yêu nước chân chính Đây là một trong những lí do để biết bao thế hệ người đọc vẫn luôn yêu mến các sáng tác của hai ông Bởi lẽ, đó không chỉ là những tác phẩm có văn phong độc đáo mà còn vì thái độ tích cực của hai nhà văn đối với cuộc

sống, đối với đất nước và nhân loại

Đối với Nam Cao, tư tưởng sáng tác nghệ thuật của ông có sự chuyển hướng rõ rệt trước khi định hình hoàn chỉnh phong cách văn chương Từ khi còn rất trẻ, Nam Cao chịu ảnh hưởng rất rõ của nhà trường chế độ cũ trong lối viết văn Thơ văn lãng mạn Pháp và thơ văn lãng mạn Việt Nam trong buổi giao thời làm cho cây bút của cậu học trò mới bắt đầu chập chững viết văn nghiêng về cảm hứng lãng mạn, phiêu lưu Tâm hồn mơ mộng cùng với sự tác động của văn học lãng mạn đương thời đã khiến cho Nam Cao nghiêng về

xu hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, thoát li thực tế Hầu hết, những sáng tác của Nam

Cao trong thời kì này đều xoay quanh chủ đề tình yêu lãng mạn như: Cảnh cuối cùng,

Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp, Hai khối óc…Hà Minh Đức đã từng nhận xét rất

đúng rằng: “Trong những ngày sôi nổi của tuổi trẻ lớn lên, cũng như buổi đầu đến với văn

học, Nam Cao làm một số thơ lãng mạn và viết những truyện tình thơ mộng Ở thời kì này, ngòi bút của Nam cao đang dò dẫm để tìm một lối đi, tâm hồn Nam Cao đang dần đổi thay để có được một cách nhìn đúng đắn cuộc sống” [26; 194]

Thật may mắn, Nam Cao đã không “chết mòn” trong lối văn chương hoa mộng ấy quá lâu khi ông sớm nhận ra thứ văn chương ấy không dành cho mình Nhà văn đã phải chứng kiến biết bao đau thương, mất mát của những người dân xung quanh mình; chính bản thân nhà văn cũng đã phải vất vả để kiếm sống, phải vật lộn với nghèo đói, bệnh tật

để mưu sinh trong một thời đại đầy bão tố nên những hình ảnh thi vị của cuộc sống đã

Trang 30

không còn là hiện thực với nhà văn nữa Cuối cùng, Nam Cao đã định hình cho mình một quan điểm nghệ thuật đúng đắn, có ý nghĩa dẫn lối cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật của ông để chúng ta có được Nam Cao – một nhà văn hiện thực lớn của văn học hiện đại Việt Nam, mặc dù quãng đời sáng tác của ông khá ngắn ngủi

Thông qua con đường sáng tác, thông qua ngôn ngữ, hệ thống nhân vật, Nam Cao đã bộc bạch, gửi gắm quan niệm nghệ thuật của mình Có hai tác phẩm bộc lộ khá đầy đủ

quan niệm thuật của Nam Cao là: Đời thừa và Giăng sáng Nam Cao phê phán thứ văn

chương như là những ánh trăng lừa dối, thứ văn chương thi vị hóa những cảnh bất công đen tối, phủ ánh trăng lên những kiếp lầm than Nhà văn yêu cầu một thứ nghệ thuật phát

ngôn cho sự thật và lòng nhân đạo: “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng

lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than ”

(Giăng sáng) Ông viết ngay giữa hiện thực của đời sống nghèo khổ, của người lao động

và đã khẳng định sức mạnh của văn học nghệ thuật chính là bắt nguồn từ đời sống và phục vụ đời sống Nam Cao quan niệm văn học phải phản ánh hiện thực, phải khám phá

vào bản chất, vào chiều sâu của nó: “Văn chương chỉ dung nạp được những người biết

đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”

(Đời thừa) Từ quan niệm đó, Nam Cao chủ trương đi vào phát hiện bản chất của các sự

vật hiện tượng; tìm ra những qui luật của cuộc đời, của cuộc sống, của số phận từ những nghịch lí số phận con người cụ thể, cá biệt Nam Cao đã nhìn thấy và chỉ cho người đọc thấy cái xã hội nô lệ và lạc hậu xứ mình, cái xã hội đẳng cấp, bất công và phi nhân ấy đã làm tha hoá, biến dạng biến chất con người ta như thế nào Tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao thấm đượm tinh thần nhân đạo cao cả Nó cho thấy rõ trách nhiệm của người cầm bút chân chính trước vận mệnh của con người, xã hội; của dân tộc, đất nước đang oằn mình trong đau thương Tuyên ngôn ấy đã chứng tỏ Nam Cao là một nhà văn hiện thực chân chính

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nam Cao hoạt động với tư cách của một cán bộ cách mạng làm báo, làm văn Quần chúng cách mạng và cuộc kháng chiến gian khổ của cả dân

tộc đã trở thành trung tâm phản ánh trong tác phẩm văn chương của Nam Cao Truyện Đôi

mắt thể hiện khá rõ cách nhìn của Nam Cao về quần chúng cách mạng và cuộc kháng

chiến gian khổ Với Đôi mắt, ngòi bút hiện thực của Nam Cao đã phê phán triệt để những

biểu hiện bảo thủ lỗi thời, vừa đề cập đến vấn đề có tính bản chất cho một nền văn học

Trang 31

mới "sống đã rồi hãy viết" và "góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là

để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn" (Nhật kí ở rừng) Những tác phẩm sau cách

mạng tháng Tám 1945 của Nam Cao rất giàu tính chiến đấu, có tác dụng vận động quần chúng sâu sắc Sự chuyển biến của Nam Cao từ xu hướng nghệ thuật lãng mạn đến quan điểm hiện thực và cuối cùng là quan điểm cách mạng là một quá trình phấn đấu gian khổ nhưng dứt khoát

Với Lỗ Tấn, thời kì đầu ông chịu ảnh hưởng của thuyết “Tiến hóa luận” khi giải thích

sự phát triển của xã hội: “Sinh mệnh lớp sau bao giờ cũng có ý nghĩa hơn, hoàn toàn

hơn lớp trước, tương lai sẽ sáng sủa hơn hiện tại, lực lượng mới sẽ thay thế lực lượng cũ” [82; 319] Những thời kì sau, nhà văn đã từ bỏ quan điểm “tiến hóa luận” để đến với

quan điểm Mácxít thể hiện bằng nhiều truyện ngắn có tính chiến đấu cao Đây là một quá trình phát triển tư tưởng khá lâu dài nhưng dứt khoát để từng bước một Lỗ Tấn còn đang băn khoăn, “gào thét”, “bàng hoàng” trở thành một Lỗ Tấn – nhà văn cách mạng

Lỗ Tấn luôn đứng về phía nhân dân bị áp bức để quan sát, phân tích hiện tượng nhằm thể hiện những vấn đề bức xúc của thời đại, thực hiện được ước mơ, khát vọng của quần chúng lao động Nhà văn quan niệm văn học phải phục vụ nhân sinh đồng thời phải cải tạo nhân sinh Và muốn cải tạo nhân sinh thì trước hết phải quét sạch những cản trở trên con đường giải phóng dân tộc Đồng thời, Lỗ Tấn đã xác định văn chương dùng để chữa bệnh tinh thần – căn bệnh tinh thần của người Trung Quốc lúc bấy giờ mà Lỗ Tấn gọi là

“liệt căn tính” Theo ông thì “liệt căn tính” chính là cản trở lớn nhất trên con đường giải phóng của người Trung Hoa vào thời điểm ấy Nó khiến cho con người dễ thỏa mãn, đớn hèn, mất hết mọi khả năng nhận xét cũng như nhận thức, thủ tiêu con đường tiến lên Vì vậy, Lỗ Tấn cho rằng phê phán căn bệnh quốc dân là nhiệm vụ hàng đầu của nhà văn trong giai đoạn chuyển mình của đất nước Sứ mệnh của nhà văn là phải lôi hết căn bệnh tinh thần của con người ra để cho mọi người cùng thấy và cùng đề ra phương hướng, cách chạy chữa Rõ ràng, Lỗ Tấn đã nhận thức được rằng bản thân sự nghèo đói không dẫn đến cách mạng mà phải có ý thức về sự nghèo đói thì mới dẫn đến cách mạng Hay nói cách khác, nhà văn phải là người cảnh tỉnh, báo động và thức tỉnh cho mọi người thấy căn bệnh đó để họ thay đổi Rõ ràng phải làm cho nhân dân biết sợ bản thân mình thì mới giúp họ mạnh dạn lên Chủ trương của Lỗ Tấn phù hợp với chức năng của văn học là gõ cửa tâm hồn, đánh thức tư tưởng Và trên thực tế, văn chương của Lỗ Tấn nói

Trang 32

nhiều về cái xấu để tìm cách chạy chữa, để bồi dưỡng lòng tự tin, tự lập, tự cường của dân tộc, để góp phần quét sạch những cản trở trên con đường giải phóng dân tộc Quan điểm, thái độ của Lỗ Tấn khi đề cập đến những tính xấu của người dân Trung Hoa là phê phán để cải tạo, phá để xây chứ không phải để giễu cợt Khi đề cập đến vấn đề phê phán căn bệnh tinh thần quốc dân, Lỗ Tấn quan tâm đến bệnh trạng tinh thần của những người bất hạnh trong xã hội Theo ông, họ bị mắc bệnh tinh thần là do hai nguyên nhân: do cuộc sống bị áp bức, bóc lột lâu đời nên họ trở nên cam chịu; do họ bị ảnh hưởng từ giai

cấp thống trị Trong bài Vì sao tôi viết tiểu thuyết, Lỗ Tấn đã bộc bạch: “Mỗi khi chọn đề

tài tôi đều chọn những người bất hạnh trong xã hội bệnh tật với mục đích là lôi hết bệnh tật của họ ra làm cho mọi người chú ý và tìm cách chạy chữa” Như vậy, văn chương

đối với Lỗ Tấn là một vũ khí để chiến đấu Những sáng tác của Lỗ Tấn vạch trần tội ác của chế độ phong kiến, phản ánh bộ mặt xã hội chân thực, cuộc sống bế tắc của người lao động, số phận người trí thức đang quằn quại trong mâu thuẫn xã hội gay gắt Như vậy, chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của Lỗ Tấn cũng phát triển theo tiến trình nhận thức tư tưởng của ông, từ tiến hóa luận đến giai cấp luận, từ hiện thực phê phán đến hiện thực cách mạng

Như vậy, điểm tương đồng dễ nhận thấy trong con người văn chương của Nam Cao

và Lỗ Tấn là hai nhà văn đều trải qua một quá trình tìm tòi lâu dài để định hình hoàn chỉnh quan niệm, tư tưởng sáng tác nghệ thuật của mình Cả hai nhà văn đều từ những bước đi còn chập chững trong những ngày đầu đến với văn chương để sau đó ngày càng chín chắn, trưởng thành hơn trên con đường đi của mình Từ những ngã đường khác nhau nhưng cuối cùng hai nhà văn lại gặp nhau ở quan niệm nghệ thuật đúng đắn: văn chương phải phản ánh hiện thực, văn chương là vũ khí chiến đấu, văn chương phải phục

vụ nhân dân, phục vụ cho cuộc đấu tranh của dân tộc

1.2 Vị trí truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn trong dòng văn xuôi Việt Nam

Trang 33

Nam Cao và Lỗ Tấn có được một phần là vì tư tưởng tiến bộ, động cơ sáng tác chân chính của hai nhà văn; mặt khác, sức sống ấy chính là minh chứng hùng hồn cho tài năng nghệ thuật của hai nhà văn lớn

1.2.1 Vị trí truyện ngắn của Nam Cao trong dòng văn xuôi Việt Nam

Ở Việt Nam, văn xuôi ra đời khá muộn Mười thế kỉ văn học trung đại chỉ để lại một

ít thành tựu văn xuôi với một hệ thống thi pháp nặng nề ảnh hưởng Nho gia Trong tiến trình văn xuôi Việt Nam, chỉ từ khi các nhà văn hiện thực xuất hiện thì văn xuôi Việt Nam mới thực sự có một cuộc cách tân mới mẻ từ phương diện nội dung, đề tài đến phương diện hình thức thể hiện cả về lượng và chất Nói thế, không phải đã phủ nhận vai trò tiên phong của các nhà văn lãng mạn trong những bước đi khó khăn đầu tiên của những năm đầu thế kỉ XX để hiện đại hóa văn học Việt Nam, đưa văn học Việt Nam từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại Thế nhưng, văn xuôi lãng mạn cũng chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận rất nhỏ những người thuộc tầng lớp tư sản vả tiểu tư sản thành thị Cuộc sống mà những nhà văn lãng mạn xây dựng trong các tác phẩm nhìn chung rất thơ mộng, đẹp đẽ Nhưng nó lại là một cuộc sống khá

xa lạ, dường như không có thực đối với những con người cần lao, chịu nhiều đau thương, mất mát dưới gót giày của bọn tay sai và bọn xâm lược Ngôn ngữ văn xuôi lãng mạn là một lối văn trau chuốt, gọn gàng, khác xa với ngôn ngữ của phần đông người bình dân – tầng lớp chiếm đại đa số trong xã hội lúc bấy giờ

Những gì mà các nhà văn lãng mạn còn khiếm khuyết trong quan niệm sáng tác, trong nội dung và hình thức thể hiện thì chính các nhà văn hiện thực là người lấp khoảng trống tối ưu nhất Từ khi dòng văn học hiện thực ra đời, người đọc mới cảm nhận cuộc sống trong tác phẩm như chính cuộc đời mà họ đang sống Lúc đó, xã hội Việt Nam được thể hiện trong văn chương mới thực sự là nó Với các nhà văn hiện thực, cuộc sống không

có những cảnh êm đềm, thi vị, mà nó là nơi diễn ra biết bao thảm cảnh, biết bao bất công, áp bức đã đẩy con người đến những bước đường cùng Và thực sự đến lúc đó, các tác phẩm văn xuôi mới đến gần với công chúng nhiều hơn và các tác phẩm mới phát huy hết mọi chức năng nghệ thuật của nó

Trước 1930, văn xuôi hiện thực chưa xuất hiện một tác phẩm nào là tác phẩm hiện thực đúng nghĩa với thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực Nhiều nhà văn chưa thoát khỏi quan

Trang 34

niệm “văn dĩ tải đạo” Nhân vật của họ thường là cái loa phát ngôn của tác giả về số kiếp, quả báo, triết lí nhân quả của đạo Phật, hay nói đúng hơn, tác phẩm của họ thuộc khuynh hướng hiện thực nửa vời gắn với đạo lí Nhân vật chưa có tính cách phức tạp, kết thúc vẫn mang màu sắc cổ tích (kết thúc có hậu), ngôn ngữ còn nặng ước lệ, khuôn sáo, nặng tính chất biền ngẫu Tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng hiện thực như thế là Hồ Biểu Chánh

Trong sự tồn tại của dòng văn học hiện thực Việt Nam từ những ngày đầu xuất hiện cho đến hôm nay, biết bao thế hệ người đọc vẫn không quên và luôn khẳng định những giá trị tốt đẹp về sự tồn tại của một giai đoạn văn học hiện thực: văn học hiện thực phê phán thời kì 1930-1945 Thời kì này, văn học hiện thực đã có một bước phát triển mới về lượng và đặc biệt là về chất, nó bao quát và phát hiện được hiện thực ở tầm rộng và sâu hơn Tư tưởng, chủ đề của văn học hiện thực thời kì này đã có những chiều sâu mới: từ những chuyện tưởng như vụn vặt, đời thường, các nhà văn đã khám phá những tư tưởng sâu sắc về thân phận con người, về vấn đề cải tạo xã hội Văn xuôi giai đoạn này ghi nhận được những cây bút tiêu biểu như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng…

Cuộc sống xã hội giai đoạn 1930-1945 bộn bề, rối ren, phức tạp, còn biết bao điều bí

ẩn, tiềm tàng như là một mảnh đất hoang cần phải có nhiều người khai phá Trong dòng người đi “khai phá hiện thực” thời kì này, Nam Cao là người xuất hiện khá muộn màng như một bông hoa nở muộn nhưng ngát hương và bất tử Khi Nam Cao đang chật vật tìm con đường đi đúng đắn cho mình trong địa hạt văn chương thì các nhà văn hiện thực khác đã định vị rõ rệt vị thế và giá trị của mình trên bầu trời văn chương hiện đại lúc bấy giờ Khi cái tên Nam Cao bắt đầu chính thức bước vào văn đàn với những tác phẩm hiện thực đầu tay tạo được tiếng vang thì những “cây cao bóng cả” đi trước như bậc thầy

truyện ngắn Nguyễn Công Hoan với Bước đường cùng, Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Vũ Trọng Phụng sắc sảo, tài hoa với Số đỏ, Vỡ đê…đã là những cái tên quen thuộc và danh

tiếng trong làng văn hiện thực phê phán Việt Nam Cùng thời với Nam Cao còn có Bùi Hiển, Kim Lân…với nhiều tác phẩm nổi bật cũng tạo được tiếng vang

Xét riêng về thể loại truyện ngắn, Nam Cao cũng là người đến sau Do vậy, sự xuất hiện của Nam Cao chính là một sự thách thức lớn đối với chính bản thân ông Nhà văn phải làm sao để khẳng định được vị trí của mình, phải làm sao để “hình” của mình

Trang 35

không trở thành “bóng” của những người đi trước, đồng thời ông còn phải làm sao để không bị hòa lẫn vào số đông các nhà văn viết truyện ngắn cùng thời Đó không phải là một điều dễ dàng với bất kì một nhà văn nào Thế nhưng, bằng tất cả tâm huyết và tài năng của mình, Nam Cao đã làm được điều không dễ dàng ấy Bằng cái sắc sảo của một nhà văn có bản lĩnh, cái yêu thương tột cùng của con tim và cái tỉnh táo, sắc lạnh của người nghệ sĩ hiện thực chân chính, Nam Cao đã tìm cho mình một hướng đi riêng, để cho đến hôm nay, cái tên Nam Cao vẫn không thể lẩn vào đâu trong hàng loạt tên tuổi các nhà văn nổi tiếng của địa hạt văn học hiện thực phê phán 1930-1945 Mảnh đất văn chương mà Nam Cao đã khai phá là những miền, những vùng đất mới, những tầng vỉa mới mà biết bao thế hệ người đọc và nghiên cứu văn chương vẫn chưa khám phá hết mọi giá trị của nó

Nam Cao đã có nhiều đóng góp vào dòng văn xuôi hiện đại Việt Nam, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn Khối lượng tác phẩm truyện ngắn của Nam Cao để lại không thực

sự đồ sộ nhưng những giá trị mà tác phẩm của ông để lại thì vô cùng to lớn Dù “sinh sau đẻ muộn” nhưng Nam Cao không hề đi vào lối mòn mà các nhà văn đi trước đã làm

Nhà văn luôn biết tìm tòi, sáng tạo ra những điều mới mẻ: “khơi những nguồn chưa ai

khơi và sáng tạo ra những gì chưa có” (Đời thừa) Những đóng góp quan trọng của

Nam Cao về thể loại truyện ngắn chính là việc cách tân, hiện đại hóa thi pháp truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở các phương diện sau:

Về phương diện đề tài, Nam Cao chủ yếu đi vào hai mảng đề tài chính: đời sống nông dân và trí thức tiểu tư sản Trước Nam Cao, trong văn xuôi Việt Nam, đề tài người nông

dân chủ yếu dừng lại ở cấp độ khái niệm “dân đen, con đỏ” trong Bình Ngô đại cáo của

Nguyễn Trãi Đây là một mảng đề tài không được quan tâm, không quen thuộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam Đến cuối thế kỉ XIX, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một

tượng đài người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhưng cũng chỉ nhìn ở một

góc độ người nông dân từ bình thường trở thành một người anh hùng Sang đầu thế kỉ

XX, người nông dân không phải là đối tượng chủ yếu trong văn học Mãi đến những năm 1932-1945, hình ảnh người nông dân mới xuất hiện đáng kể trong văn xuôi hiện đại

Việt Nam như trong các tác phẩm: Con đường sáng, Bùn lầy nước đọng của Hoàng Đạo,

Tắt đèn và phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công

Hoan…Nam Cao là người có ý thức về sáng tác rất rõ ràng: “phải khơi những nguồn

Trang 36

chưa ai khơi” (Đời thừa), trong khi hầu hết các nhà văn đương thời đều miêu tả người

nông dân với cuộc sống khốn khổ, mù mịt nhưng vẫn giữ tròn phẩm hạnh thì dù Nam Cao là người viết sau và đi tiếp dòng văn tả thực xã hội của những Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…nhưng chủ nghĩa hiện thực ở Nam Cao đã tỉnh táo đến mức không còn ảo tưởng, không còn sự ve vuốt nào hết Viết về người nông dân, Nam Cao cũng viết về cái nghèo, cái khổ và phẩm chất đáng trân trọng của họ nhưng ông còn nhìn họ ở góc độ người nông dân bị “lưu manh hóa”, “tha hóa” do cái đói, miếng ăn và đằng sau nó là những khát khao được vươn lên, được làm người lương thiện Chị Dậu (Tắt đèn - Ngô Tất Tố), hay Tám Bính (Bỉ vỏ - Nguyên Hồng) trước sau vẫn giữ được

tâm hồn của những người phụ nữ thuần hậu, giàu đức hi dinh, muốn sống bằng bàn tay

lao động của mình Anh Pha (Bước đường cùng - Nguyễn Công Hoan) bị dồn nén đến

chỗ tận cùng, từ chỗ có gia đình, nhà cửa nhưng mắc mưu đám nghị Lại mà tan nát cửa nhà, phải cầm cố ruộng vườn, phải vào tù nhưng vẫn chưa rơi vào tình trạng biến chất

như Binh Chức, Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) Binh Chức, Chí Phèo dần dần bị biến

chất vì hoàn cảnh sống Đây là góc nhìn mới của Nam Cao Do vậy, đề tài viết về người nông dân của Nam Cao là đề tài gắn bó chặt chẽ với đời sống của người nông dân Việt Nam, là đề tài tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc

Về đề tài người trí thức, trước Nam Cao, trong văn xuôi trung đại Việt Nam, người trí thức chỉ được nhìn dưới góc nhìn của văn học Nho: tài – tâm, tài – mệnh Đến đầu thế kỉ

XX, đề tài về người trí thức có được đề cập đến trong văn học nhưng chưa thật sự nổi bật Các tác phẩm viết về người trí thức ở giai đoạn này đều tập trung vào vấn đề chống

lễ giáo phong kiến, giải phóng cá nhân và tự do hôn nhân như Đoạn tuyệt, Lạnh lùng (Nhất Linh), Thoát li, Nửa chừng xuân (Khái Hưng); nhưng hầu như các nhân vật chính

đều thỏa hiệp và đầu hàng với cái cũ hay đi vào một mối tình tuyệt vọng Nam Cao thì viết về người trí thức với một góc nhìn mới mẻ: người trí thức đang “sống mòn” Phần lớn nhân vật trí thức trong sáng tác của ông đều đang bị giằng xé giữa sự mưu cầu miếng cơm manh áo và sự bảo vệ phẩm giá con người mình, đều đang day dứt vì thấy đời mình

“sẽ mốc lên, sẽ rỉ đi, sẽ mòn ra” và mình “sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống” (Sống mòn) Nam Cao đã phản ánh hiện thực về người trí thức từ góc nhìn nghịch

lí giữa mơ và thực của họ Họ càng khao khát được sống đẹp, sống tốt thì số phận đôi

Trang 37

khi lại làm họ trở nên xấu xa, họ càng khao khát được sống có ích thì số phận lại đẩy họ vào chỗ rất tầm thường

Dù viết về người nông dân hay người trí thức thì Nam Cao đều đi đến một nét thống nhất đã trở thành quan niệm nghệ thuật của nhà văn: con người với những day dứt, trăn trở; con người tồn tại trong những nghịch lí của số phận, của cuộc đời Trong tác phẩm của mình, Nam Cao đã miêu tả sự vật lộn của con người trong việc mất còn nhân cách, nhân tính, nhân tình giữa một cuộc sống nghèo túng, đói khổ Ông không chỉ nói chuyện lầm than mà còn nói về những kiếp lầm than đang bị hay tự nhấn chìm vào cuộc đời xám xịt, tăm tối Do vậy, đề tài trong sáng tác của ông không còn là đề tài của một thời mà là

đề tài của nhiều thời, là đề tài mang tính chất dự báo Có thể nói thành công của Nam Cao chính là tìm ra được cách viết mới cho hai đề tài đã quen thuộc

Trước Nam Cao, trong văn xuôi Việt Nam, nhân vật chủ yếu được khai thác từ hành động và lời nói Truyện ngắn của Nam Cao lại chủ yếu khai thác sâu tâm lí nhân vật Đây là đặc điểm rất gần với truyện ngắn phương Tây hiện đại Ngôn ngữ truyện ngắn của Nam Cao có sự kết hợp giữa ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại nội tâm Đây

là cách lựa chọn tối ưu của Nam Cao khi ông muốn khám phá chiều sâu tâm lí của nhân vật

Nam Cao đã xây dựng một thế giới nhân vật đa dạng và vô cùng sinh động đủ sức phản ánh cả một xã hội rộng lớn với biết bao điều đắng cay Ông đã xóa bỏ ranh giới giữa nhân vật chính diện và phản diện Nhân vật của Nam Cao vừa có tốt vừa có xấu, xấu nhưng biết hướng thiện, tốt nhưng vẫn vi phạm nguyên tắc sống đạo đức của mình Dường như, trong truyện ngắn của Nam Cao, nhân vật nào cũng không chỉ đau khổ về vật chất mà còn bị lăng nhục một cách tàn nhẫn về tinh thần, thậm chí bị tước đoạt quyền được làm người lương thiện Những nhân vật được Nam Cao miêu tả đều là những hiện tượng đơn lẻ, cá biệt nhưng có ý nghĩa khái quát, như là một qui luật trong

xã hội cũ Nhân vật của ông suốt đời bị dằn vặt, bị khổ sở, đày đọa

Ngoài ra, khi xây dựng nhân vật, Nam Cao khai thác con người từ góc nhìn: con người tự ý thức và con người tự thú Do đó, nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao có chiều sâu nội tâm Tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong văn chương Nam Cao không thuộc kiểu một tình thương mênh mông vỗ về, an ủi, mà là một sự đòi hỏi nghiêm khắc: đòi hỏi con người hiểu biết chính mình và hoàn cảnh sống quanh mình, nhận cho ra tình

Trang 38

trạng bị tha hóa, biến dạng, biến chất Sự tự ý thức là cơ sở cho hành động cải tạo hoàn cảnh sống ở mức cao hơn, tạo điều kiện để phát triển hết mức những năng lực vốn có ở mỗi con người, là tiền đề của sự hoàn thiện nhân cách Đây là quan niệm nghệ thuật mới

mẻ về con người xuất hiện từ khi Nam Cao bắt đầu khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn Quan niệm nghệ thuật về con người tự ý thức và con người tự thú của Nam Cao được các nhà văn sau 1975 sử dụng khá nhiều trong hoạt động sáng tác văn chương như: Nguyễn Minh Châu, Tạ Duy Anh…Tuy nhiên, trước Nam Cao và cùng thời với Nam Cao, quan niệm nghệ thuật về con người của ông là một quan niệm nghệ thuật hoàn toàn mới mẻ Do đó, Nam Cao có thể được xem như là người đi tiên phong, là người mở đường cho quan niệm nghệ thuật về con người “tự thú”, “tự ý thức” Và chính ông là người đã bù đắp và hoàn thiện thêm cho dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 Nam Cao là người có công rất lớn trong việc đưa ngôn ngữ đời sống trở thành ngôn ngữ nghệ thuật vào trong tác phẩm văn học Trong truyện ngắn của Nam Cao, những cái hằng ngày tủn mủn, vặt vãnh cũng đi vào tác phẩm một cách rất tự nhiên như lẽ thường

mà nó tồn tại Và những cái vặt vãnh, nhỏ bé tưởng chừng không có gì đáng nói ấy lại mang những ý nghĩa khái quát lớn lao Bởi thế, tác phẩm của ông rất gần với đời sống hiện thực nhưng vẫn chứa đựng những tầng lớp ý nghĩa sâu sắc Mặt khác, nói như Lại Nguyên Ân: “do quan tâm truyền đạt những dao động, biến thiên của tâm lý, tâm trạng nên Nam Cao tạo được một ngôn ngữ ít nhiều mang tính phức điệu Tổ chức được những phức hệ gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, thậm chí cả những sự đan xen và nhòe lẫn vào nhau của hai thành phần ngôn ngữ ấy” [5; 46] Nam Cao là một trong số không nhiều tác giả cùng thời có những

tác phẩm mà ngôn ngữ dường như không cũ đi so với thời gian Nói cách khác, Nam Cao có những tác phẩm đạt đến độ cổ điển của văn xuôi tiếng Việt Đây cũng chính là tính hiện đại được thể hiện rõ rệt trong các tác phẩm truyện ngắn của Nam Cao

Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn của Nam Cao cũng mới lạ Trong văn xuôi truyền thống, điểm nhìn trần thuật thường là ở người kể chuyện hàm ẩn Cái mới của Nam Cao là đã di chuyển điểm nhìn trần thuật và trao điểm nhìn trần thuật ấy cho nhân vật Đôi khi, nhà văn còn đan xen nhiều điểm nhìn trần thuật trong cùng một tác phẩm Chính vì điều này mà tác phẩm của Nam Cao mang tính chất đa thanh, có nhiều giọng điệu Trong đó, nổi bật nhất ở cách viết, cách thể hiện giọng điệu của Nam Cao chính là

Trang 39

giọng điệu trầm tĩnh, sắc lạnh tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng nhưng đằng sau

nó lại là một tấm lòng yêu thương con người tha thiết Giọng điệu lạnh lùng trong các tác phẩm của Nam Cao đã tạo nên một phong cách riêng trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 (Vấn đề này sẽ được làm rõ hơn ở các chương sau)

Nam Cao là đại diện cuối cùng, là người đặt những viên gạch kết thúc vẻ vang cho dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 Trong tiến trình phát triển không hề dễ dàng của văn xuôi hiện đại Việt Nam, Nam Cao chính là người góp phần hoàn chỉnh và khép lại một giai đoạn quan trọng nhất trong việc xây dựng một nền văn xuôi tự sự mới của người Việt, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn, trong những điều kiện và tiền đề văn hóa, xã hội mới Khi Nam Cao bắt đầu viết truyện ngắn thì truyện ngắn đã có rất nhiều thành tựu nhưng với những đóng góp mới mẻ của Nam Cao ở thể loại này, chính ông là người đã đưa truyện ngắn lên đỉnh cao hiện thực trong thể loại truyện ngắn Việt Nam Trần Đăng Suyền đã nhận xét về vị trí quan trọng của Nam Cao trong nền văn học hiện

đại Việt Nam như sau: “Nam Cao (1917-1951) là một trong số những nhà văn lớn nhất

của nền văn học hiện đại Việt Nam Sáng tác của ông đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách lại càng ngời sáng Thời gian càng lùi xa nhưng tác phẩm của ông lại càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện độc đáo.” [12; 155]

Nói tóm lại, Nam Cao đã tiếp nhận và được thừa hưởng không ít thành quả của những chặng đầu trong tiến trình cách tân, hiện đại hóa văn học, như những thành tựu của các tác giả văn xuôi Tự lực văn đoàn và thành tựu của các nhà “tả chân” đi trước Nhưng đồng thời, bằng chính hoạt động sáng tạo của mình, ông cũng mở ra một con đường mới đầy triển vọng cho văn xuôi hiện đại Việt Nam Ông đã mang lại nhiều cái độc đáo, sâu sắc cho dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 Nghệ thuật văn xuôi nói chung

và nghệ thuật truyện ngắn nói riêng của Nam Cao vẫn còn rất mới mẻ ngay trong thời đại hôm nay Đây chính là vị trí đặc biệt quan trọng của truyện ngắn Nam Cao trong dòng văn xuôi Việt Nam mà không có bất kì một nhà văn hiện thực phê phán nào có thể thay thế được

Trang 40

1.2.2 Vị trí truyện ngắn của Lỗ Tấn trong dòng văn xuôi Trung Quốc

Diện mạo văn xuôi Trung Quốc khác hẳn với diện mạo văn xuôi của Việt Nam Ở Trung Quốc, văn xuôi xuất hiện rất sớm với sự ra đời của thể loại tiểu thuyết Nếu như trong suốt thời kì trung đại, văn xuôi Việt Nam chỉ đạt được một số thành tựu nhất định, thì ngược lại, văn xuôi Trung Quốc đã đạt được những thành tựu thật to lớn trong thời kì phong kiến Vào thời kỳ Ngụy-Tấn (thế kỷ III - IV) tiểu thuyết đã manh nha dưới dạng những tác phẩm chí quái, chí nhân Sang đời nhà Đường xuất hiện thể loại truyền kì, đời Tống lại có thêm dạng thoại bản Tất cả đều có thể coi là tiền thân của tiểu thuyết văn xuôi theo nghĩa hiện đại Từ đời Minh, văn học Trung Quốc nói chung và văn xuôi Trung Quốc nói riêng phát triển rực rỡ với những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng

như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Kim Bình Mai của Tiếu Tiếu Sinh Đời 1TThanh1T, bước phát triển của tiểu

thuyết chương hồi đã tới thời điểm hoàng kim qua hàng loạt danh tác như Chuyện làng

Nho (Nho lâm ngoại sử) của Ngô Kính Tử, Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần…

Sau nhiều thế kỉ phong kiến, văn xuôi Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu rực

rỡ Cách viết văn xuôi tưởng chừng như đã bị đóng khung bởi những tác phẩm văn xuôi bất hủ trong thời kì phong kiến của Trung Quốc Nhưng phong trào Ngũ Tứ đã mở ra một thời kì mới cho văn hóa Trung Quốc nói chung và cho văn học nước này nói riêng

Do vậy, văn học Trung Quốc bắt đầu chuyển mình và đi vào con đường hiện đại hóa một cách nhanh chóng Đến lúc này, văn xuôi Trung Quốc mới thực sự vượt thoát những thể loại truyền thống, ảnh hưởng lớn từ các trào lưu văn học phương Tây đương thời, mở ra một thời kì mới – thời kì hiện đại của văn xuôi Trung Quốc với sáng tác của các tác gia

có vai trò mở đường như Lỗ Tấn, Mạc Ngôn…

Trong nền văn xuôi hiện đại của Trung Quốc, Lỗ Tấn xuất hiện với vai trò là người

mở đường, là người đi tiên phong trong quá trình cách tân, hiện đại hóa Lỗ Tấn thành công ở nhiều thể loại, nhưng thành công nổi trội của nhà văn này là ở địa hạt thể loại truyện ngắn Xét về thể loại truyện ngắn, trong nền văn học hiện đại của Trung Quốc, Lỗ Tấn là một cây đại thụ, là một bậc thầy về truyện ngắn Năm 1918, trên Tạp chí Tân

Thanh niên, Lỗ Tấn cho đăng truyện ngắn Nhật kí người điên như là phát súng lệnh mở

đầu trận công kích vào lễ giáo, đạo đức phong kiến hàng ngàn năm trên mặt trận sáng tác văn nghệ Truyện ngắn của Lỗ Tấn là những vũ khí lợi hại đã tấn công vào những dinh

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu, Vũ Văn Sỹ (2000), N am Cao, con người và tác phẩm , NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao, con người và tác phẩm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu, Vũ Văn Sỹ
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2000
2. Thái Phan Vàng Anh (2008), Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, Tạp chí Sông Hương số 237/11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2008
3. Thái Phan Vàng Anh (2008), Trần thuật từ điểm nhìn bên trong của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí Sông Hương số 237/11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần thuật từ điểm nhìn bên trong của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2008
4. Thái Phan Vàng Anh (2010), Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 2/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
5. Lại Nguyên Ân (1992), Nghĩ tiếp về Nam Cao, NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ tiếp về Nam Cao
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1992
6. Trần Lê Bảo (2002), Lỗ Tấn: Thân thế - Sự nghiệp - Những sáng tác tiêu biểu , NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn: Thân thế - Sự nghiệp - Những sáng tác tiêu biểu
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
7. Lê Huy Bắc (1998), Giọng điệu và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học, số 9/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
8. Nguyễn Hoa Bằng (2000), Thi pháp truyện ngắn Nam Cao, luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp truyện ngắn Nam Cao
Tác giả: Nguyễn Hoa Bằng
Năm: 2000
10. Chim Văn Bé (1998), Thi pháp nhân vật trong truyện ngắn trước 1945 của Nam Cao : Luận án Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, GS. Nguyễn Văn Hạnh (hướng dẫn), Trường ĐHSP Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp nhân vật trong truyện ngắn trước 1945 của Nam Cao
Tác giả: Chim Văn Bé
Năm: 1998
11. Lưu Văn Bổng (2001), Văn học so sánh: lí luận và ứng dụng, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh: lí luận và ứng dụng
Tác giả: Lưu Văn Bổng
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2001
12. Nam Cao (1998) , Tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Trần Thị Kim Chi (2003), Cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong tr uyện ngắn Nam Cao: Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Dư Ngọc Ngân (hướng dẫn), Trường ĐHSP Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong truyện ngắn Nam Cao
Tác giả: Trần Thị Kim Chi
Năm: 2003
15. Trương Chính (2009), Lỗ Tấn – Truyện ngắn, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn – Truyện ngắn
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
16. Vũ Khắc Chương (2000), Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam C ao, NXB Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam C
Tác giả: Vũ Khắc Chương
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 2000
17. Vương Dao (1958), Về vấn đề văn học cổ điển Trung Quốc, NXB Văn học cổ điển Thượng Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề văn học cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Vương Dao
Nhà XB: NXB Văn học cổ điển Thượng Hải
Năm: 1958
18. Nguyễn Văn Dân (1998), Lý luận văn học so sánh, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1998
19. Nguyễn Văn Dân (2000), Lí luận văn học so sánh: Chuyên đề lí luận sau đại học , Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học so sánh: Chuyên đề lí luận sau đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2000
20. Trần Ngọc Dung (2004), Ba phong cách truyện ngắn trong VHVN 1930-1945: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao: Chuyên luận khoa học, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba phong cách truyện ngắn trong VHVN 1930-1945: "Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2004
21. Lê Tiến Dũng (2001), Nam Cao một đời văn, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao một đời văn
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
22. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2003), Văn học Việt Nam (1900 – 1945), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 – 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình sau: - đặc sắc bút pháp tự sự trong truyện ngắn của nam cao và lỗ tấn
Hình sau (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w