Và đến lúc nào đó, người sử dụng quên mất gốc gác của nó, đó là các trường hợp sau: chìm xuồng, trùm mền, rút ruột, quyết liệt, nở nồi, chiên, xào, .v.v… Nói rộng ra, lớp từ ngữ trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_
Trương Thu Sương
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ
CỦA NHẬT BÁO CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_
Trương Thu Sương
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ
CỦA NHẬT BÁO CẦN THƠ
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 66 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRỊNH SÂM
Thành Phố Hồ Chí Minh- 2012
Trang 3Lời cảm ơn
Khi quyết định học sau đại học, em chọn ngành ngôn ngữ học xuất phát
từ sở thích của bản thân Trong quá trình học tại Trường Đại học Sư phạm TP
Hồ Chí Minh, em được mở mang kiến thức rất nhiều và em nhận ra rằng làm nghiên cứu khoa học không phải là điều dễ, và luận văn này chỉ là bước đầu tập tễnh đi vào con đường nghiên cứu Em chân thành cảm ơn tất cả Thầy Cô
đã dạy em
Khi viết những dòng này, học trò khắc ghi sâu sắc lòng biết ơn đối với Thầy Trịnh Sâm là người đã hướng dẫn học trò hoàn thành luận văn Thầy Trịnh Sâm đã tận tình chỉ dạy cách thức làm việc cho học trò, uốn nắn từng câu từng chữ để luận văn nên vóc nên hình Qua thời gian làm việc với Thầy, học trò học được ở Thầy nhiều bài học quý báu về phương pháp làm việc khoa học, nghiêm túc và say mê với công việc Bên cạnh việc hoàn thành luận văn thì thành công của bản thân chính là sự trưởng thành trong nhận thức của học trò đối với cuộc sống và công việc Sau này, dù đi đến đâu hay làm việc
gì thì kỷ niệm đẹp nhất trong quãng thời gian học sau đại học tại Trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh chính là tình cảm thầy trò mà Thầy Trịnh Sâm
đã dành cho em
Con cảm ơn mẹ, mẹ đã yêu thương con, hy sinh cả cuộc đời vì con, dõi theo từng bước con đi, dù giờ đây con đã trở thành bà mẹ của hai đứa con nhỏ Em cảm ơn anh Triều và các con đã tạo điều kiện thuận lợi cho em, động viên em vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình học Sau khi bảo vệ luận văn, em tự nhủ, bên cạnh vận dụng những kiến thức học được vào công việc,
em sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu nhất của em, bù đắp lại thời gian qua
Em kính chúc quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè luôn hạnh phúc trong cuộc sống Thêm một lần nữa em xin tri ân đến tất cả mọi người bằng niềm vui và lòng biết ơn chân thành nhất!
Trương Thu Sương
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 12
1.1 Cần Thơ 12
1.1.1 Vùng đất, con người 12
1.1.2 Báo Cần Thơ 13
1.2 Phong cách ngôn ngữ báo chí 14
1.2.1 Các quan điểm khác nhau về phong cách ngôn ngữ báo chí 14
1.2.2 Chuẩn ngôn ngữ và chuẩn phong cách ngôn ngữ báo chí 16
1.3 Lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobson và việc nhận diện phong cách và thể loại 20
1.4 Chức năng của phong cách ngôn ngữ báo chí 24
1.5 Đặc điểm ngôn ngữ báo chí 28
1.5.1 Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện 28
1.5.2 Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự tương tác 28
1.5.3 Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự hấp dẫn 29
1.6 Một số thể loại báo chí tiêu biểu 30
1.7 Màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ 33
1.7.1 Màu sắc địa phương 33
1.7.2 Màu sắc địa phương Nam Bộ 36
1.8 Tiểu kết 38
Chương 2 : NGÔN NGỮ NHẬT BÁO CẦN THƠ 40
2.1 Tiêu đề 40
2.1.1 Cấu tạo của tiêu đề 41
Trang 52.1.2 Sự phân bố 5W + 1H ở đơn đề 49
2.1.3 Mối quan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề 53
2.1.4 Một số thủ pháp nghệ thuật sử dụng ở tiêu đề 55
2.2 Dẫn đề 56
2.2.1 Mô hình dẫn đề theo lý thuyết của F Danes 57
2.2.2 Mô hình dẫn đề theo T- R- I 65
2.2.3 Mô hình dẫn đề theo cấu trúc 5W + 1H 72
2.3 Đoạn văn 78
2.3.1 Mô hình đoạn văn theo cấu trúc diễn dịch 79
2.3.2 Mô hình đoạn văn theo cấu trúc quy nạp 83
2.4 Văn bản 84
2.4.1 Mô hình 1 85
2.4.2 Mô hình 2 87
2.5 Màu sắc địa phương Nam Bộ 93
2.5.1 Từ biến thể ngữ âm 94
2.5.2 Từ ngữ địa phương 95
2.5.3 Từ ngữ xưng hô 98
2.5.4 Địa danh 101
2.5.5 Sản vật địa phương 103
2.5.6 Thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ 106
2.5.7 Một só biểu thức diễn đạt 107
2.6 Tiểu kết 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước, trong những năm qua, các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm các loại như báo nói, báo hình, báo ảnh, báo chữ đều có bước phát triển nhảy vọt Hầu như ở thành phố nào, tỉnh nào cũng có các đài truyền hình, đài phát thanh, báo đảng Và các cơ quan thông tấn địa phương bên cạnh những cái chung, xét riêng về mặt ngôn ngữ nó cũng
có những yêu cầu riêng ví dụ như đáp ứng cho một bộ phận công chúng trên một địa bàn cụ thể Và như vậy, liệu các phương ngữ địa lý, các phương ngữ
xã hội có vai trò gì trong việc chuyển tải thông tin, chuyển tải các đường lối chính sách của nhà nước đến với người dân
Khác với tiếng Hán hiện đại, phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội khác biệt nhau rất lớn thậm chí phải dùng bút đàm, tiếng Việt đang tồn tại dưới dạng các phương ngữ và ít nhất theo một quan niệm phổ biến, tiếng Việt
có 3 phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Giữa chúng ít nhiều có sự khác biệt, rõ nhất là về mặt ngữ âm và một ít là từ vựng Tuy nhiên, cư dân của 3 phương ngữ này có thể giao tiếp với nhau một cách dễ dàng Điều đó cho thấy rằng, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên thế đa dạng Sự đa dạng gắn liền với các phương ngữ, liên quan đến vấn
đề ở đây là gắn liền với các cơ quan truyền thông ở địa phương Và giữ gìn, phát triển sự đa dạng của phương ngữ cũng như giữ gìn sự đa dạng sinh học, sinh thái thiên nhiên
Vậy liên quan đến chuẩn mực ngôn ngữ, việc xử lý các yếu tố phương ngữ đối với một tờ báo, đối với các cơ quan thông tấn ở địa phương như thế nào?
- Phương ngữ Nam Bộ là một phương ngữ khá thống nhất, có thể dễ dàng nhận thấy là từ Ninh Thuận trở vào Cà Mau hầu như là không có sự khác biệt nhiều Trong hệ thống phương ngữ đó, thành phố Cần Thơ với tư
Trang 7cách là một cơ quan địa hành chính mà mọi người gọi là thủ phủ của Tây Đô, xét trên nhiều phương diện là có sức lan tỏa Do vậy, có thể nói, nghiên cứu ngôn ngữ trên báo Cần Thơ là một nghiên cứu có tính chất điển hình và chắc chắn rằng, kết quả thu gặt được từ các ngữ liệu sẽ là những gợi ý lý thú và bổ ích cho cả phương ngữ Nam Bộ
- Là một người công tác tại báo đảng Cần Thơ, chúng tôi muốn có một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về việc sử dụng ngôn ngữ Từ những khái quát đúc kết sẽ đề xuất một số gợi ý trong việc phát huy thế mạnh cũng như hạn chế những nhược điểm xét thuần túy về mặt ngôn ngữ của tờ báo mình hiện đang công tác
Từ tất cả những điều nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Trước hết, cần minh định rõ cái đối tượng mà luận văn trực tiếp khảo sát Khi xác định đề tài luận văn, đặc trưng ngôn ngữ của báo Cần Thơ, trong nhận thức của chúng tôi, là ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ, là các ngữ liệu khảo sát được sưu tập trên tờ báo này Đương nhiên, là một tờ báo tại địa phương, với yêu cầu phục vụ một công chúng cụ thể, về mặt ngôn ngữ, hiển nhiên ít nhiều có sự khác biệt so với các địa phương khác cũng như ở các báo trung ương Mặt khác, trong quá trình tiếp cận để làm rõ một số đặc trưng nào
đó, luận văn sẽ tiến hành so sánh đối chiếu với một số ngữ liệu ở một số báo khác Cũng cần lưu ý là, không phải tất cả các văn bản xuất hiện ở trên mặt báo nói chung, báo Cần Thơ nói riêng đều thuộc phong cách báo chí Vì vậy
cần phải xác định rõ hơn đối tượng mà luận văn khảo sát
2.2 Đặc trưng ngôn ngữ của một tờ báo nhìn khái quát có thể được thể hiện ở mọi cấp độ ngôn ngữ dù tiếp cận từ trên xuống hay từ dưới lên Tuy nhiên, theo chúng tôi, các đơn vị sau đây: i) tiêu đề, đề dẫn, đoạn văn và văn
Trang 8bản; ii) màu sắc địa phương là những thành tố có khả năng thể hiện rõ nhất Ở i), là những thực thể thuộc cấp độ ngôn ngữ, còn ở ii), là các biểu thức ngôn
từ thuộc về lời nói theo lý thuyết của Saussure
2.3 Về mặt thể loại báo chí, xét từ góc độ ngôn ngữ học cũng như truyền thông học, hiện nay có nhiều nghiên cứu rất khác nhau Hệ thống thể loại này nhiều hay ít là tùy thuộc vào quan niệm và các tiêu chí phân loại Đó
là chưa kể có một khoảng cách rất lớn từ lý thuyết và việc vận dụng ngay ở cách định danh ở các tòa soạn báo Đây là một vấn đề hết sức lý thú nhưng không phải là trọng tâm của luận văn Để tiện làm việc, xuất phát từ cách định danh của tòa soạn, ngữ liệu mà chúng tôi sưu tập gồm các thể loại sau đây:
Chúng tôi cũng xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ xuất bản từ đầu năm 2010 đến 9 – 2012
3 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của báo Cần Thơ, bao gồm những đặc trưng có tính chất phổ biến cũng như những đặc trưng riêng là mục tiêu mà luận văn hướng đến Về phương diện thứ nhất, như đã nói, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất, các đặc trưng ngôn ngữ thuộc kiểu này có thể thể hiện
Trang 9trên nhiều cấp độ ngôn ngữ Kết quả của luận văn này góp phần làm rõ thêm một số đặc trưng chung của báo chí hiện đại Về phương diện thứ 2, ở đây, chúng tôi không hoàn toàn dùng thủ pháp đối lập có không mà đặc biệt chú ý đến độ đậm nhạt của các phương tiện ngôn ngữ
Xin lưu ý, một số từ ngữ của từ ngữ địa phương Nam Bộ lúc đầu chỉ xuất hiện ở trong vùng sau đó được một số báo chí địa phương sử dụng và lâu dần, nó hoàn toàn nhập vào hệ thống tiếng Việt toàn dân Và đến lúc nào đó,
người sử dụng quên mất gốc gác của nó, đó là các trường hợp sau: chìm
xuồng, trùm mền, rút ruột, quyết liệt, nở nồi, chiên, xào, v.v…
Nói rộng ra, lớp từ ngữ trong phong cách báo chí nói chung, báo Cần Thơ nói riêng chúng thể hiện bộ mặt ngôn từ mà ở đó người ta có thể nhận ra
xu hướng phát triển từ vựng Đương nhiên, báo Cần Thơ không tránh khỏi tình trạng du nhập khá nhiều từ vựng hoặc mô phỏng hoặc dịch nghĩa hoặc dùng nguyên dạng
Bên cạnh đó, do nhiều lý do khác nhau, các từ ngữ địa phương cũng tràn vào trang báo
Luận văn bên cạnh hướng tới các ngữ liệu trung tâm, cũng không bỏ sót các ngữ liệu thuộc ngoại vi, mặc dầu về mặt sử dụng tính tích cực và tiêu cực không như nhau
3.2 P hương pháp nghiên cứu
Ngoài các thủ pháp nghiên cứu mà bất kỳ một khảo sát nào cũng vận dụng như nhận diện, sưu tập, phân loại, miêu tả, luận văn này chủ yếu sử
dụng các phương pháp sau:
ngữ, câu, văn bản các thể loại, v.v ) và phân loại theo chủ điểm nghiên cứu,
từ đó tìm ra các quy luật, các mối liên hệ giữa các đối tượng
Trang 10- Phương pháp đối chiếu, so sánh: so sánh, đối chiếu các đơn vị cùng
loại; so sánh, đối chiếu cứ liệu ngôn ngữ trên báo Cần Thơ với một số báo khác để tìm ra những tương đồng và khác biệt; từ đó các kết luận có được vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát
trưng để nghiên cứu ngữ nghĩa, cấu trúc của các đối tượng đã thống kê ( các yếu tố được đặt trong hệ thống và xem xét trên nhiều bình diện)
hình các thể loại văn bản, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu tả quan hệ của các đối tượng khảo sát ( qua các sơ đồ, bảng biểu)
Trong quá trình nghiên cứu, các thủ pháp, phương pháp được vận dụng, kết hợp; tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể mà sử dụng chủ yếu một phương pháp thích hợp
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử nghiên cứu phong cách học diễn ra trong một thời gian khá lâu
dài Trong “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” của
Hữu Đạt (2000), tác giả chia ra hai giai đoạn trong lịch sử nghiên cứu phong cách học: giai đoạn trước Ch.Bally và giai đoạn sau Ch.Bally Giai đoạn truớc Ch.Bally: trước khi các lý thuyết về ngôn ngữ học đại cương của F.de.Saussuse ra đời, việc nghiên cứu phong cách học chưa có tính hệ thống, chưa phải là một bộ môn khoa học thực sự vì nó chưa có được những phương pháp nghiên cứu cụ thể Thậm chí, ngay cả những đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của nó vẫn còn là một vấn đề rất mơ hồ
Có thể nói rằng, trong nhiều thế kỷ hình thành và phát triển của ngôn ngữ học thế giới, phong cách học chưa hề xác lập được cho mình một chỗ đứng với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập Phải đợi đến thế kỷ thứ XX sau khi F.de.Saussuse tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại trong ngôn ngữ học
Trang 11với công trình lý thuyết về ngôn ngữ học đại cương, phong cách học mới có những điều kiện để trở thành một bộ môn khoa học độc lập thật sự với đầy đủ
ý nghĩa của nó
Tiếp đến là giai đoạn sau Ch.Bally Chính nhờ một hệ thống các khái niệm được từng bước hoàn chỉnh và một hệ thống các phương pháp nghiên cứu được định hình, phong cách học bắt đầu có cơ sở để xây dựng cho mình những cách thức làm việc, phương pháp luận và nội dung nghiên cứu Từ đây, phong cách học trở thành ngành học mới đáp ứng những tiêu chuẩn cần có của một môn khoa học thật sự Người ta gọi phong cách học từ giai đoạn này trở về sau là giai đoạn phát triển của phong cách học hiện đại Người đặt nền móng đầu tiên cho phong cách học hiện đại chính là một trong các học trò xuất sắc nhất của Saussuse: Ch.Bally, đánh dấu một chặng đường mới của lịch sử nghiên cứu phong cách học
Phương pháp nghiên cứu của ông là đẳng nhất hóa các sự kiện ngôn
ngữ Ông chú ý nhiều tới “tính biểu cảm, gợi cảm” ở các yếu tố của hệ thống
ngôn ngữ và đặc biệt quan tâm tới sự phối hợp các sự kiện lời nói để tạo nên
hệ thống các phương tiện này
Có thể nói Ch.Bally trở thành người mở đầu của nền phong cách học hiện đại chính là do cách tiếp cận rất mới của ông về các đối tượng nghiên cứu cũng như xây dựng phong cách nghiên cứu để thực hiện các nhiệm vụ đặt
ra Sau Ch.Bally, việc nghiên cứu phong cách học vẫn được tiếp tục ở Pháp
và phát triển ở nhiều nước như Liên Xô (cũ), Tiệp Khắc
Trên đây là nội dung về lịch sử nghiên cứu phong cách học trên thế giới
mà Hữu Đạt đã trình bày trong công trình nghiên cứu của mình Còn truyền thống phong cách học ở Việt Nam cũng có một tiến trình phát triển riêng Trước những năm 60, bộ môn phong cách học ở Việt Nam chưa xuất hiện Trong khi đó trên bình diện thực tế, ta gặp không ít những lời hay ý đẹp nói
Trang 12đến ý thức rèn luyện phong cách nói năng, giao tiếp, biểu hiện nét đẹp của truyền thống văn hóa Việt Nam rất cần được nghiên cứu từ góc độ phong cách học
Từ sau năm 1960, môn phong cách học tiếng Việt được hình thành ở Việt Nam (1964) Lúc đầu nó được gọi với cái tên “tu từ học” Có thể xem đây là bộ môn kế thừa những kết quả ban đầu của việc vận dụng các lý thuyết
về phong cách học của thế giới (chủ yếu của Liên Xô cũ) vào nghiên cứu thực tiễn Việt Nam
Trong công trình của mình, Hữu Đạt nêu ra những khái niệm cơ bản trong nghiên cứu phong cách học, bao gồm: khái niệm phong cách và phong cách học, phân biệt các hiện tượng đúng và hiện tượng chuẩn trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt (chuẩn ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp,…) Đặc biệt tác giả đề cập đến cơ sở phân chia các phong cách chức năng Theo tác giả, tiếng Việt được chia làm 6 loại phong cách chức năng, mỗi loại lại chia ra ở hai hình thức nói và viết Cụ thể: phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật
Ở “Phong cách học tiếng Việt” của tác giả Đinh Trọng Lạc (1997) và
“Phon g cách học tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc (chủ biên, 1997) và Nguyễn
Thái Hòa thì phân chia ra: i) các phong cách chức năng gồm: các phong cách chức năng của hoạt động lời nói và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và ii) trên cơ sở đối lập với ngôn ngữ phi nghệ thuật Các phong cách chức năng của hoạt động lời nói trong tiếng Việt bao gồm: phong cách hành chính, phong cách khoa học, phong cách báo, phong cách chính luận và phong cách sinh hoạt
“Phong cách học tiếng Việt” của nhóm tác giả Cù Đình Tú – Lê Anh
Hiền – Nguyễn Thái Hòa – Võ Bình (1982) thì chia ra các phong cách chức
Trang 13năng tiếng Việt làm hai loại đó là i) phong cách khẩu ngữ và ii) phong cách văn hóa Trong phong cách văn hóa lại chia ra: phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí – tin tức, phong cách hành chính công
vụ, phong cách cổ động, phong cách nghệ thuật
Phong cách học văn bản của Đinh Trọng Lạc (1994) cũng là một công
trình có giá trị trong việc luận bàn về vấn đề phong cách học xét từ góc độ văn bản
Mục đích của giáo trình này là nêu lên sự cần thiết phải mở rộng phạm
vi nghiên cứu phong cách học, đồng thời đi sâu vào những vấn đề mà sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản đã đặt ra cho bộ phận này Khi vượt qua giới hạn của câu – mà ngữ pháp truyền thống cho là loại đơn vị ngữ pháp thuộc bậc cao nhất – để đi đến những đơn vị quy mô và kích thước lớn hơn những văn bản, thì ngôn ngữ học văn bản đã thật sự làm một cuộc cách mạng, vì nó
đã được ngôn ngữ học nâng lên một tầm khoa học bao quát hết đối tượng của mình
Trong lĩnh vực phương ngữ học, “Phương ngữ học tiếng Việt” của
Hoàng Thị Châu ( 2004 ) được xem là một công cụ thiết thực cho người nghiên cứu ngôn ngữ học Giáo trình thật sự là một cẩm nang bổ ích giúp người nghiên cứu bổ sung nền tảng kiến thức ngôn ngữ học nói chung, phương ngữ học nói riêng Những vấn đề trong giáo trình được trình bày một cách mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu xoay quanh khái niệm phương ngữ học, đặc trưng phương ngữ cũng như bước đường diễn tiến của các phương ngữ, được xem xét trong thế đối lập giữa các phương ngữ với nhau cũng như giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân Đặc biệt hơn cả, qua công trình nghiên cứu này, người nghiên cứu luận văn hiểu thêm cái hay cái đẹp của tâm hồn quê hương mỗi vùng miền chất chứa đằng sau ngôn từ mỗi phương ngữ, bởi
lẽ “phương ngữ là biểu hiện vật chất cụ thể” cho vốn văn hóa của người dân
Trang 14bản xứ Trên cơ sở lý luận mà giáo trình cung cấp, người viết ứng dụng vào việc xem xét lý giải các văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ để thấy được bản sắc địa phương miền Tây thông qua các tác phẩm báo chí
Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí, các sách tham khảo nghiệp vụ, chuyên ngành báo chí, từ lý luận chung đến từng thể loại riêng thuộc phong cách báo chí Từ nền kiến thức này, người nghiên cứu có một cái nhìn vừa bao quát vừa cụ thể, vừa khách quan vừa chủ quan về vấn đề mình quyết định nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu dạng này như:
“Đi tìm bản sắc tiếng Việt” của Trịnh Sâm (2011), Nhà xuất bản Tuổi trẻ
“Ngôn ngữ báo chí”, Vũ Quang Hào ( 2007 ), Nhà xuất bản Thông tấn
“ Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản”, Nguyễn Đức Dân (2007),
Nhà xuất bản Giáo dục
“Tác phẩm báo chí ” của Trần Thế Thiệt ( 1995), Khoa báo chí – Học viện
chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
“Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí” của Nguyễn Trọng Báu (2002), Học
viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện báo chí và tuyên truyền, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
“Công việc của người viết báo” của Hữu Thọ (1997), Nhà xuất bản Giáo
Bên cạnh những công trình về phong cách, về ngôn ngữ báo chí và một
số nghiên cứu về phương ngữ trong đó có phương ngữ Nam bộ nói trên,
Trang 15khoảng 20 năm gần đây, trên cơ sở tiếng Việt, trào lưu phân tích diễn ngôn nói chung, phân tích diễn ngôn báo chí nói riêng cũng đạt được một số kết quả khả quan Đặc điểm chung của trào lưu này là bên cạnh cách hình dung mỗi diễn ngôn là một chỉnh thể, việc phân tích cấu trúc của nó, bao gồm cả cấu trúc nội dung và cấu trúc hình thức, việc gắn diễn ngôn với quá trình hành chức với ngữ cảnh (ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp) Nói một cách khái quát, những yếu tố như quan hệ giữa diễn ngôn với hiện thực, diễn ngôn với người
sử dụng, đã đặt ra nhiều vấn đề lý thú và bổ ích
Luận văn này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình đi
trước, bao gồm một số lĩnh vực vừa nêu trên, mạnh dạn triển khai việc tìm hiểu đặc trưng trên nhật báo Cần Thơ một cách toàn diện và có hệ thống
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Luận văn không có tham vọng giải quyết những vấn đề lý thuyết phức tạp của truyền thông học và ngôn ngữ báo chí Bởi đây là những vấn đề
mà thành tựu nghiên cứu trên cứ liệu tiếng Việt là rất lớn Vả lại là một công việc quá sức đối với người nghiên cứu Tại đây, thông qua những nhận xét, đúc kết cụ thể, luận văn muốn làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về vai trò và chức năng của phương ngữ ( nhất là phương ngữ Nam bộ từ Ninh Thuận trở vào), một phương ngữ tương đối thuần nhất về mặt ngôn ngữ lại được số người sử dụng nhiều nhất đối với những phạm vi giao tiếp trên địa bàn, trong
đó có giao tiếp bằng báo chí
5.2 Là một người công tác trong ngành báo chí, khi tiến hành đề tài này, người viết trước hết xem đây là cơ hội để học tập, nâng cao trình độ về mặt lý thuyết cũng như khả năng xử lý thực tiễn và thông qua những đúc kết, những nhận xét cụ thể, hy vọng góp sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao những công việc báo chí có tính chất bếp núc và gợi ra một số gợi ý tương đối với những ai quan tâm đến đề tài
Trang 166 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn chia làm 2 chương chính:
Chương 1: Giới thiệu về cơ sở lý thuyết chung, mang tính khái quát,
bao gồm: vùng đất và con người Cần Thơ, lịch sử báo Cần Thơ, đặc điểm chung của ngôn ngữ báo chí, cách phân chia và nhận diện các thể loại thuộc phong cách báo chí, đặc biệt là vai trò của phương ngữ trong giao tiếp xã hội cũng như trong việc tạo bản sắc văn hóa vùng, miền cho từng địa phương Đây có thể coi là phần lý thuyết, tiền đề làm xuất phát điểm mà luận văn dựa vào để tiếp tục khảo sát những vấn đề cụ thể ở chương tiếp theo
Chương 2: Ngôn ngữ nhật báo Cần Thơ
Trình bày những kết quả nghiên cứu cụ thể trên cả hai bình diện ngôn ngữ và lời nói trong đó đặc biệt chú ý là các nhân tố làm nét riêng về mặt ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ
Trang 17- Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Chức năng ngôn ngữ báo chí
- Đặc điểm ngôn ngữ báo chí
- Lý thuyết về giao tiếp của Roman Jakobson và việc nhận diện các phong cách và thể loại
- Nhận diện một số thể loại trong báo chí, màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ
1.1 Cần Thơ
1.1.1 Vùng đất, con người
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về”
Đó là câu ca dao quen thuộc ngợi ca xứ sở Tây Đô tươi đẹp Với diện tích 1.389,59 km2 nằm bên bờ phải sông Hậu, Cần Thơ hiền hòa với những luồng gió mát thổi vào từ hai con sông là sông Hậu và sông Cần Thơ Mỗi năm hai mùa mưa nắng cho Cần Thơ nhiều cây xanh trái ngọt, tạo nên đặc trưng của một xứ sở miệt vườn Thiên nhiên ưu đãi, Cần Thơ trù phú nhiều sản vật Đất đai màu mỡ, người dân nơi đây yên tâm chăm lo sản xuất, xây dựng cuộc sống ấm no giàu đẹp Sự ưu đãi của thiên nhiên ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách của con người Cần Thơ
Người Cần Thơ chân chất thật thà, hiền hòa, chí tình chí nghĩa Trong đối nhân xử thế, tình người luôn được xem làm trọng Vì lẽ đó, ai một lần đến Cần Thơ đều lưu luyến trước tình đất tình người của đất Tây Đô
Trang 181.1.2 Báo Cần Thơ
Phát huy truyền thống, thành tích báo chí Cách mạng trong các thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ ngày tái lập tỉnh Cần Thơ (1992), báo Cần Thơ được tách ra từ báo Hậu Giang cũ, trong hoàn cảnh mới vẫn tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng lực lượng, từng bước trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng tờ báo, tạo bước đi lên vững chắc
Sau 7 năm (1992- 1999), phấn đấu xây dựng và phát triển, báo Cần Thơ luôn giữ vững tôn chỉ mục đích tờ báo của cơ quan ngôn luận của đảng bộ và diễn đàn của nhân dân địa phương Báo Cần Thơ bám sát sự chỉ đạo và định hướng tuyên truyền của Đảng, các quy định của nhà nước, không ngừng cải tiến nội dung, cách tân hình thức, thông tin kịp thời các sự kiện chính trị quan trọng, phản ánh trung thực, sinh động mọi lĩnh vực đời sống xã hội, những tiềm lực của quê hương đất nước trong những năm đổi mới
Từ chỗ kế thừa báo Hậu Giang (cũ) định kỳ xuất bản 2 số/ tuần, 8 trang/ khổ
30 x40 cm, đến tháng 4 năm 1996, báo Cần Thơ tăng lên 3 số/ tuần, tháng 8 năm 1997 cả 3 kỳ báo trong tuần tăng từ 8 trang lên 12 trang và từ tháng 1 năm 1999 tăng thêm kỳ chủ nhật, 16 trang in 4 màu Số lượng ấn bản phát hành ngày càng tăng lên Hiện nay báo Cần Thơ là món ăn tinh thần không chỉ của cán bộ, công nhân viên chức mà còn của nhân dân địa phương
Cùng với việc chăm lo xây dựng phát triển đội ngũ, báo Cần Thơ từng bước đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật nhằm đáp ứng tốt nhất việc chuyển tải thông tin, đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước đến với đông đảo bạn đọc
Đi đôi với việc tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng các kỳ báo Cần Thơ, kể từ ngày 01-01-2001, báo Cần Thơ trở thành nhật báo
Trang 191.2 Phong cách ngôn ngữ báo chí
1.2.1 Các quan điểm khác nhau về phong cách ngôn ngữ báo chí
Như chúng ta đã biết, phong cách học trên thế giới đã có lịch sử từ rất lâu đời, nhưng ở Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu này còn khá mới mẻ, bắt đầu
từ những thập niên 60 của thế kỷ trước Chưa có một công trình nghiên cứu phong cách học thật sự xét một cách toàn diện các cấp độ ngôn ngữ Các nhà nghiên cứu còn tranh luận với nhau nhiều vấn đề thuộc phong cách học Thậm chí, riêng bản thân một nhà ngôn ngữ học cũng có sự thay đổi quan điểm theo thời gian Do đó việc phân chia các phong cách chức năng của tiếng Việt còn
tiếng Việt Như vậy, đến thập niên 80 của thế kỉ XX, phong cách chức năng
báo chí tiếng Việt mới được nhìn nhận như một phong cách độc lập, mặc dù báo chí tiếng Việt đã có từ năm 1865, năm Gia Định Báo ra đời
Nhóm tác giả Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Nguyễn Thái Hòa – Vũ Bình (1982) chia tiếng Việt toàn dân ra hai thế đối lập là phong cách khẩu ngữ và phong cách văn hóa (văn học) Trong phong cách văn hóa lại bao gồm các phong cách chức năng: phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí - tin tức, phong cách hành chính - công vụ, phong cách cổ động và phong cách nghệ thuật
Trong cả hai công trình nghiên cứu của mình năm 1991 và năm 1997, tác giả Đinh Trọng Lạc đều quan niệm các phong cách chức năng tiếng Việt
Trang 20bao gồm hai loại là phong cách chức năng của hoạt động lời nói và phong cách hoạt động nghệ thuật đối lập với phong cách ngôn ngữ phi nghệ thuật Các phong cách chức năng của hoạt động lời nói trong tiếng Việt bao gồm: phong cách hành chính, phong cách khoa học, phong cách báo, phong cách chính luận và phong cách sinh hoạt
Xét từ phương diện truyền thông tác giả Vũ Quang Hào cho rằng không
có sự phân biệt một phong cách báo chí riêng biệt, trong thế đối lập với các phong cách chức năng khác của hệ thống tiếng Việt Theo ông, báo chí thường sử dụng ba phong cách chủ yếu là: phong cách chính luận, phong cách khoa học và phong cách hành chính
Quan niệm của tác giả Hữu Đạt (2000) trong công trình nghiên cứu
“Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” thì đứng từ một
góc độ khác để phân chia các phong cách chức năng tiếng Việt Hữu Đạt chia tiếng Việt ra làm sáu phong cách chức năng theo cách nhìn từ trong ra ngoài, bao gồm: phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học - nghệ thuật Trong đó, mỗi phong cách lại có hai dạng nói và viết Song song đó, cũng từ công trình nghiên cứu này, theo cách nhìn từ ngoài vào Hữu Đạt lại phân chia tiếng Việt thành hai thế đối lập, bao gồm: phong cách khẩu ngữ toàn dân và phong cách văn chương (còn gọi là phong cách gọt giũa) Trong phong cách văn chương lại phân ra các phong cách: phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật
Có sự khác biệt đáng chú ý trong hai cách phân chia vừa nêu trên Ở cách phân chia thứ nhất, nói và viết chỉ coi là các dạng biểu hiện của phong cách chức năng Tuy nhiên, ở cách phân chia thứ hai, nói và viết được quan niệm là chính phong cách chức năng Tuy khác nhau, nhưng mỗi quan niệm
Trang 21đều có những hạt nhân hợp lý của mình Vấn đề quan trọng ở đây là sự phân biệt giữa một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là hình thức thể hiện của ngôn ngữ và một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là chức năng
Nhìn chung, từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở về sau, ở hầu hết các công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đều có sự phân biệt phong cách chức năng ngôn ngữ báo chí xét trong thế đối lập với các phong cách chức năng ngôn ngữ khác Phong cách ngôn ngữ báo bao gồm các kiểu
và thể loại văn bản phục vụ cho mục đích trao đổi thông tin giữa cơ quan báo chí với bạn đọc, nhằm thực hiện chức năng tác động, chức năng giáo dục và thẩm mỹ, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà chức năng này hay chức năng kia nổi trội
1.2.2 Chuẩn ngôn ngữ và chuẩn phong cách ngôn ngữ báo chí
[94, tr.21] Hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa cũng đồng ý với quan niệm trên về chuẩn ngôn ngữ Riêng tác giả Hữu Đạt quan niệm chuẩn ngôn ngữ trước hết phải là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ
Tác giả Cù Đình Tú ( 1982) thì quan niệm chuẩn mực ngôn ngữ là hệ thống các phương tiện liên kết biểu hiện tốt nhất, hợp lý nhất, được mọi người
Trang 22thừa nhận, sử dụng để phục vụ cho sự giao tiếp xã hội trong thời kỳ nhất định
Cù Đình Tú còn nhấn mạnh, hệ thống các phương tiện ngôn ngữ bao giờ cũng tồn tại dưới dạng các biến thể Mỗi biến thể tương ứng với một chức năng giao tiếp nhất định, đúng trong phạm vi giao tiếp này nhưng có thể sai trong
phạm vi giao tiếp khác Cái được công nhận là chuẩn mực trong phong cách chức năng ngôn ngữ này chưa hẳn đã được chấp nhận ở phong cách chức năng ngôn ngữ kia [93, tr.62] Tác giả Cù Đình Tú này cũng đề cập, đối với các biến thể ngôn ngữ, chuẩn mực ngôn ngữ chỉ thừa nhận hoặc phủ định chứ không giải quyết vấn đề lựa chọn biến thể để sử dụng trong các phong cách chức năng ngôn ngữ
Song song với khái niệm chuẩn mực trong ngôn ngữ, người ta thường nhắc đến hiện tượng lệch chuẩn Đó là những hiện tượng ngôn ngữ không phù hợp với thói quen sử dụng ngôn ngữ và đi khỏi cảm thức ngôn ngữ của cộng đồng [93, tr.21] Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, một số hiện tượng ngôn ngữ mới nảy sinh, ban đầu, chúng được coi là lệch chuẩn, nhưng được cộng đồng
sử dụng thường xuyên và chấp nhận, dần dần những hiện tượng đó sẽ tham gia vào chuẩn Ta thường bắt gặp hiện tượng lệch chuẩn trong các sáng tác văn chương, trong tác phẩm báo Đặc biệt, báo chí là lĩnh vực tiên phong trong việc sử dụng các hiện tượng lệch chuẩn trong ngôn ngữ
Có thể phân chia các cấp độ của chuẩn ngôn ngữ gồm:
i) chuẩn ngữ âm,
ii) chuẩn từ vựng,
iii) chuẩn chính tả
iiii) chuẩn ngữ pháp
Chúng tôi lần lượt xem xét từng cấp độ của chuẩn ngôn ngữ như sau:
i) Chuẩn ngữ âm: Chuẩn ngữ âm được đặt ra khi có hai hay nhiều biến
thể phát âm cho cùng một từ Hiện tượng được coi là chuẩn là hiện tượng
Trang 23được dùng chung cho toàn quốc gia, cho mọi lĩnh vực giao tiếp, mọi phong cách chức năng Hiện tượng chuẩn bao giờ cũng mang tính hợp lý, được cộng đồng chấp nhận và được sử dụng chính thức trong ngôn ngữ hành chính, pháp luật, mang tính nhà nước
Mặc dù vậy, chuẩn không phải là quy ước mang tính hành chính thuần túy Tính quy ước này là kết quả cuối cùng của quy ước mang tính xã hội Nó liên quan đến tính hệ thống, áp lực của cấu trúc tiếng Việt và chịu thử thách qua thời gian
Nói một cách khái quát, tiếng Việt không có chuẩn ngữ âm, ( tức không
có giọng của vùng nào có đầy đủ các thế đối lập được thể hiện trong hệ thống ngữ âm), chuẩn mà chúng ta nhắc ở đây là chuẩn trên chữ viết
ii) Chuẩn chính tả: Nếu chuẩn ngữ âm được xây dựng trên việc lựa
chọn các biến thể ngữ âm, chuẩn từ vựng đươc xây dựng dựa trên sự lựa chọn một đơn vị từ vựng trong loạt từ có nghĩa khác nhau mà người sử dụng dễ nhầm lẫn là một thì chuẩn chính tả là những quy định cụ thể về cách viết, cách phiên âm cho từng âm cụ thể
iii) C huẩn từ vựng: Cần thiết để xác lập các chuẩn từ vựng, tránh nhầm
lẫn các biến thể ngữ âm của cùng một từ hay các từ hoàn toàn khác nghĩa nhau, đảm bảo cho việc sử dụng từ đạt được sự chính xác và đúng đắn
So với chuẩn ngữ âm và chuẩn từ vựng, chuẩn chính tả ngoài tính dân tộc còn có tính quốc tế Chuẩn chính tả và chuẩn ngữ âm có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một
Chuẩn chính tả là một hiện tượng phức tạp Một mặt là do hệ thống chữ cái tiếng Việt vốn được mượn từ hệ thống chữ cái tiếng Latin dùng để ghi âm, mặt khác, mối quan hệ giữa âm và chữ vốn là mối quan hệ không ổn định trong lịch sử Sự thay đổi tương đối nhanh cách phát âm một số phụ âm đã tạo nên những khó khăn nhất định trong việc phân biệt chính tả Do đó, xây dựng
Trang 24chuẩn chính tả đã và đang là vấn đề đặt ra [21, tr.26]
iiii) Chuẩn ngữ pháp: Là toàn bộ những quy tắc quy định cho việc tổ
chức câu trong quá trình giao tiếp Bộ quy tắc này ở mỗi ngôn ngữ đều có những nét riêng ngoài những nét chung mang tính phổ quát
Bên cạnh khái niệm chuẩn ngôn ngữ, chuẩn phong cách cũng là vấn đề thời sự được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu
Trong nhiệm vụ của mình, phong cách học một mặt phải chỉ ra khả năng và hiệu lực biểu đạt của từng loại phương tiện ngôn ngữ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, mặt khác phải chỉ ra ở một phong cách chức năng nhất định thì sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như thế nào là hợp lý, là có hiệu lực Do đó phong cách học có mối quan hệ mật thiết với vấn đề xây dựng chuẩn mực ngôn ngữ trong đó có chuẩn mực phong cách
Theo tác giả Cù Đình Tú ( 1994), chuẩn mực phong cách là toàn bộ những quy ước, chỉ dẫn về tính hợp lý, tính đúng chỗ của việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ phù hợp với yêu cầu của mỗi phong cách chức năng ngôn ngữ
Nhắc đến chuẩn mực phong cách là nói đến màu sắc phong cách Màu sắc phong cách là khái niệm gắn với phong cách chức năng ngôn ngữ, được thể hiện qua những đặc trưng chung về việc dùng từ, đặt câu ở từng phong cách chức năng cụ thể Màu sắc phong cách là cái có tính chất ổn định tương đối và có tính chất thông dụng, là tập hợp những đặc điểm mang tính khác
biệt của phong cách chức năng này với phong cách chức năng kia nên nó mang tính khách quan và có tính quy luật trong quá trình sử dụng, không phụ
thuộc vào ý đồ chủ quan của người nói
Muốn phân tích đặc điểm ngôn ngữ của mỗi lời nói ra xem nó thuộc về phong cách chức năng nào, ta cần phải đặt nó trong quan hệ và hoàn cảnh
Trang 25Người nói ( viết) và người nghe ( đọc) nằm trong mối quan hệ truyền tin và tác động Trong đó người viết là người cung cấp thông tin, là người tác động và thuyết phục Người đọc, nghe, là người nhận tin và chịu sự tác động, thuyết phục Đây là cơ sở làm xuất hiện phong cách báo chí- chính luận
Liên quan đến vấn đề đang bàn, mô hình 6 yếu tố và tương ứng với nó
là 6 chức năng của Roman Jakobson (1960) không chỉ có ý nghĩa trong việc nhận thức bản chất của ngôn ngữ thơ ca mà còn có thể xem xét để nhận diện các phong cách chức năng và thể loại
Theo Roman Jakobson, mọi giao tiếp đều có 6 yếu tố sau:
Quy chiếu Người gửi Thông điệp Người nhận
Tiếp xúc
Mã
Và tương ứng với 6 yếu tố này, chúng ta có 6 chức năng ngôn ngữ khác nhau: chức năng biểu hiện (gắn với người gửi), chức năng thi ca (gắn với thông điệp), chức năng tác động (gắn với người nhận), chức năng nhận thức (gắn với quy chiếu), chức năng siêu ngôn ngữ (gắn với mã) và chức năng đưa đẩy (gắn với yếu tố tiếp xúc) Xem hình sau:
Trang 26Nhận thức Biểu hiện Thi ca Tác động Đưa đẩy
Siêu ngôn ngữ Theo tác giả, có thể lưỡng phân thành hai nhóm giao tiếp lớn Đó là giao tiếp nghệ thuật và giao tiếp phi nghệ thuật Trong giao tiếp nghệ thuật, ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là mục đích Nó là một tấm kiếng mờ đục bởi vì cùng một lúc, nó phóng chiếu trục kết hợp lên trục đồng thời Còn ngôn ngữ phi nghệ thuật là một tấm kiếng trong suốt, ngôn ngữ thuần tuý chỉ là phương tiện
Và cũng trên sự suy tưởng này, Roman Jakobson cho rằng mọi loại hình giao tiếp đều có 6 yếu tố và 6 chức năng như vừa đề cập ở trên Vấn đề
là ở chỗ, khi chúng ta nhận diện và phân loại một loại hình giao tiếp nào, một phong cách nào là dựa vào chức năng chủ đạo, chi phối các chức năng khác Chẳng hạn, đối với phong cách nghệ thuật, chức năng thi ca nổi trội, chi phối
và biến cải tất cả các chức năng khác Phong cách khoa học và hành chính, chức năng nhận thức là chức năng nổi trội, chi phối và biến cải tất cả các chức năng khác Cách kiến giải của tác giả có thể coi như là một phát kiến độc đáo, rất phù hợp với ngôn ngữ học hiện đại
Việc vận dụng mô hình của Roman Jakobson vào giao tiếp báo chí có phức tạp hơn Nếu tính đến đặc điểm của thời đại và quan điểm maxit thì chức năng tác động mang tính định hướng của phong cách báo chí là chức năng nổi trội, chi phối và biến cải tất cả các chức năng khác Còn nếu nhấn mạnh đến chức năng cung cấp thông tin thì chức năng nhận thức sẽ được thay thế
Chức năng biểu hiện, gắn liền với người gửi Ở đây có thể gắn với ban biên tập, chính kiến của một tờ báo Nó là chức năng bộc lộ tính tình thái Đối với những nhà báo có tài, thông qua các sự kiện mà họ trình bày, miêu tả, nó
Trang 27có thể mang dấu ấn cá nhân Đối với phương Tây, chức năng biểu hiện còn được bộc lộ qua việc nhìn nhận, đánh giá sự kiện, thậm chí còn thể hiện trong cách thức đưa tin
Chức năng thi ca, hay còn gọi là chất nghệ thuật của báo chí: gắn liền với văn bản Mặc dù đây không phải là chức năng chính, tuy nhiên tính hấp dẫn, gợi mở như đã đề cập ở trên, không thể thiếu trong ngôn ngữ báo chí Có thể ngôn ngữ báo chí không cho phép xuất hiện các hình tượng nghệ thuật nhưng thông qua so sánh, đối chiếu, sử dụng các ẩn dụ, một văn bản báo chí hay, đặc sắc thường vươn tới một mức độ nghệ thuật nhất định
Chức năng tác động, gắn liền với người đọc Như đã sơ lược phân tích
ở trên, đây có thể là chức năng quan yếu Giao tiếp báo chí không chỉ cung cấp thuần tuý thông tin mà thông qua thông tin để nhằm tác động đến người nghe/người đọc, kêu gọi ở họ một sự cộng hưởng Đây là cái mà báo chí maxit gọi là định hướng dư luận, giúp cho người đọc từ suy nghĩ đúng dẫn đến hành động đúng
Ngày nay, tính tác động của báo chí còn được thể hiện qua sự tương tác giữa công chúng với nhà báo, giữa công chúng với toà soạn báo Nói cách khác, trang báo ngày nay không còn là độc quyền của các kí giả
Chức năng nhận thức, gắn liền với quy chiếu, tức là hiện thực được các văn bản báo chí đề cập đến Chức năng này có liên quan đến một vấn đề khá
tế nhị, đó là tính khách quan hay chủ quan trong việc chọn lựa các sự kiện Báo chí phương Tây chủ trương trình bày sự kiện một cách lạnh lùng, để tự
sự kiện nói lên, người viết không bình luận Nói cách khác, ở đây, phần bình luận, đánh giá không xuất hiện trên bề mặt văn bản một cách tường minh mà dành do độc giả Quan niệm này ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức ngôn ngữ của văn bản báo chí Chẳng hạn trước một sự kiện, có nên sử dụng thủ pháp dẫn hay không dẫn và nếu có dẫn thì dẫn trực tiếp hay gián tiếp đều ít nhiều
Trang 28có liên quan đến tính khách quan/chủ quan của sự kiện được đề cập
Còn theo quan điểm maxit thì không có chủ nghĩa khách quan tuyệt đối Trong hàng loạt sự kiện xảy ra trong ngày, chọn yếu tố nào, không chọn yếu tố nào, chúng xuất hiện ở đâu, ở trang nào, mục nào, thể loại nào, và cách thức tổ chức văn bản, tất cả đều không tránh khỏi chủ quan
Cho dù lí giải nó theo hướng nào thì chức năng nhận thức cũng là chức năng quan trọng Nó gắn kết rất mật thiết với các chức năng khác, mà trước hết là với chức năng tác động
Chức năng siêu ngôn ngữ, theo lí thuyết, gắn liền với mã ngôn ngữ, với tri thức nền, tức sự kiện Để thực hiện một giao tiếp tốt, nhất là giao tiếp báo chí, giữa người viết báo với bạn đọc phải có cùng một mã chung, một tri thức nền chung Đây là một yêu cầu có tính chất lí tưởng Nhiều khi trong thực tiễn giao tiếp, ở một số thể loại nhất định, phải sử dụng ngôn ngữ để giải thích, thuyết minh về một sự kiện hay thuật ngữ nào đó Đối với phong cách báo chí, có thể coi đây là chức năng thứ yếu nhưng rõ ràng không thể thiếu được
Chức năng đưa đẩy, gắn liền với yếu tố tiếp xúc Cụ thể ở đây có sự cộng hưởng, sự phản hồi, sự tiếp xúc giữa nhà báo với công chúng Đây là cuộc tiếp xúc có tính cách gián tiếp, không phải là giao tiếp mặt đối mặt nhưng nếu ai đó xem thường nó thì khó lòng nói được rằng cuộc giao tiếp đó
là thành công Tuy người đọc không xuất hiện trực tiếp nhưng khi cầm bút, nhà báo bao giờ cũng phải trả lời cho được đối tượng người đọc mà văn bản nhắm tới là ai, thành phần xã hội của họ thế nào, nhu cầu thẩm mĩ của họ ra sao
Liên quan đến vấn đề đang bàn, nếu chúng ta chú ý quan sát, mỗi một
tờ báo, mỗi một cơ quan thông tấn thường có một số lượng độc giả rất đặc thù
Trang 29Như vậy, giao tiếp báo chí một mặt cũng có những đặc điểm chung của mọi loại hình giao tiếp, mặt khác lại bao chứa những đặc điểm riêng Các đặc điểm riêng này, nói như Roman Jakobson, là tính chất nổi trội và chi phối của chức năng tác động, một chức năng rất quan trọng trong việc nhìn nhận sự kiện, tính khách quan và chủ quan, cũng như vai trò định hướng báo chí theo quan điểm maxit
1.4 Chức năng của phong cách ngôn ngữ báo chí
Theo Đinh Trọng Lạc ( 1994), phong cách báo là khuôn mẫu thích hợp
để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo Nói cụ thể hơn đó là vai của nhà báo, người đưa tin, người
cổ động, bạn đọc,… tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự
Chức năng của ngôn ngữ được hiện thực hóa trong phong cách báo chí gồm các chức năng giao tiếp lý trí và chức năng tác động Chức năng giao tiếp lý trí được hiểu cụ thể là thông báo, chức năng tác động là gây ra những biến đổi có ảnh hưởng tới nguyện vọng, nhu cầu của người nghe, người đọc
Theo quan điểm của Hữu Đạt, phong cách ngôn ngữ báo chí có nhiều chức năng gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ báo như: chức năng thông báo, chức năng hướng dẫn dư luận, chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng, v.v… Sau đây, chúng ta lần lượt xem xét các chức năng đó:
tin Xã hội càng phát triển, nhu cầu thông tin của con người càng lớn, báo chí trở thành một công cụ đắc lực khắc phục tình trạng đói thông tin của con người
Như vậy, nói tới đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí trước hết phải đề cập đến chức năng thông báo Đó là chức năng đầu tiên của ngôn ngữ báo chí Ngôn ngữ phải đảm bảo tính khách quan, trung thực trong việc phản
Trang 30ánh thông tin nhằm đưa đến những thông tin lành mạnh, có ích giúp cho con người mở rộng sự hiểu biết và phát triển theo khuynh hướng toàn diện Khi thực hiện chức năng thông báo, ngôn ngữ tham gia giao tiếp phải mang tính lý trí, gạt ra ngoài những cảm xúc cá nhân
luôn luôn đi kèm với chức năng thông báo Ngôn ngữ báo chí luôn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ to lớn là hướng dẫn dư luận và tác động đến dư luận làm cho người đọc hiểu được bản chất của sự thật, để phân biệt rõ đâu là chân lý, đâu là ngụy biện Từ đó, giúp bạn đọc định hướng rõ ràng, ủng hộ hay phản đối vấn đề mà báo chí đặt ra
ngữ báo chí tạo ra khả năng tập hợp và tổ chức quần chúng rất lớn Có thể nói, trong những điều kiện lịch sử nhất định, báo chí đã góp phần tạo ra những sức mạnh tinh thần to lớn đến mức chuyển hóa thành sức mạnh vật chất Khi thực hiện chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng, ngôn ngữ báo thiên về cách dùng các câu mệnh lệnh, kêu gọi
thường là đại diện cho tiếng nói của các nhóm người hay các tập đoàn người Trên thực tế, không phải lúc nào quyền lợi của các tập đoàn người trong xã hội cũng thống nhất với nhau Khi đó báo chí hoạt động với tư cách là công
cụ đắc lực, trực tiếp nhất phục vụ cho cuộc đấu tranh tư tưởng, chính trị của giai cấp mình
Tính chiến đấu của báo chí được hình thành từ những cách lập luận đanh thép, từ các phương pháp sử dụng từ ngữ nhằm châm biếm, công kích, tiến tới phủ định đối phương
Nhiều người cho rằng, chỉ trong xã hội có giai cấp ngôn ngữ báo chí mới có tính chiến đấu Không phải như vậy, tính chiến đấu của ngôn ngữ báo
Trang 31chí vẫn luôn là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình tạo nên sự ổn định và phát triển của xã hội trên mặt trận chính trị tư tưởng Đây chính là cuộc đấu tranh trong nội bộ nhân dân giữa các luồng tư tưởng đối lập nhau: đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và lạc hậu, giữa tích cực và tiêu cực Tính chiến đấu của ngôn ngữ báo chí thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau
thực sự của đông đảo bạn đọc thì ngôn ngữ của nó phải được chọn lọc, mang
vẻ đẹp của ngôn từ, đảm bảo nguyên tắc về thẩm mỹ Người viết phải biết lựa chọn từ ngữ và tìm tòi những kiểu kết hợp từ làm sao cho sáng tạo, vừa đạt được mục đích của mình vừa giữ được tính thẩm mỹ
Thực hiện được tính thẩm mỹ trong ngôn ngữ báo chí đồng nghĩa với việc đã thực hiện được tính giáo dục của báo chí Tuy nhiên, tính giáo dục của ngôn ngữ báo chí thường không hiện lên bề mặt của văn bản mà ẩn chìm sau những lớp ngôn ngữ, thực chất là ý nghĩa loại suy từ nghĩa thông báo và nghĩa tác động
định sự sinh tồn của báo chí Về nội dung, ngôn ngữ báo chí phải luôn luôn mới, đa dạng và phong phú Trong đó, yêu cầu đưa tin nhanh, xác thực, cập nhật và phản ánh được nhiều hướng dư luận khác nhau Về mặt hình thức, ngôn ngữ được sử dụng phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc Do đó, sự hấp dẫn về mặt hình thức của bài báo phải bao gồm một tổng thể hình thức: từ cách trình bày đến các hình ảnh phụ họa, các biện pháp sử dụng ngôn ngữ, trong đó có việc lựa chọn từ ngữ Chẳng hạn là việc sử dụng từ độc đáo; kiến tạo những kết hợp từ độc đáo, bất ngờ; sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách sáng tạo và có hiệu quả; sử dụng tốt các biện pháp chơi chữ dựa trên đặc điểm ngôn ngữ dân tộc
Trang 32Theo Hoàng Trọng Phiến (1998), những hiện tượng bất thường trong
sử dụng ngôn ngữ có thể được xem như biện pháp hấp dẫn của ngôn ngữ báo chí, tuy nhiên, đó là những hiện tượng mang tính sáng tạo và có mục đích, đồng thời phải tính đến những thói quen và cách tri giác của người bản ngữ
điểm phong cách mang tính ngắn gọn; tuy nhiên, ít nhiều gắn với cảm xúc chủ quan Ta thấy, ở loại văn bản tin được xem là ít có yếu tố biểu cảm nhất của phong cách báo chí thì mỗi bản tin đều bao gồm 2 nét nghĩa là: phần tin lý trí, là phần tin chính mang nội dung phản ánh hiện thực; phần tin bổ sung là phần tin biểu cảm thái độ, quan điểm của người viết Tính ngắn gọn của báo
là yêu cầu mang tính tất yếu xuất phát từ chức năng cơ bản của báo chí là thông tin nhanh Đặc điểm này thể hiện ở việc sử dụng các cấu trúc cú pháp ít thành phần, ở việc ít mở rộng các thành phần định ngữ trong câu, rất ít khi gặp các loại câu trùng điệp, nhiều tầng lớp
Đồng thời, ngôn ngữ trong phong cách báo chí phải có tính biểu cảm Đặc trưng này xuất hiện đáp ứng các chức năng của báo chí là chức năng tác động, tổ chức và tập hợp quần chúng Bởi vì báo chí cuối cùng vẫn phải tác động vào lòng người, tạo nên niềm tin và hy vọng ở người đọc
Tùy theo quan điểm của các tác giả mà chức năng này hay chức năng kia của phong cách ngôn ngữ báo chí được xem là đặc trưng nổi trội Nhưng
có thể nói rằng, xuất phát từ những đặc trưng nêu trên mà ngôn ngữ báo chí
có những đặc điểm khác biệt so với các phong cách chức năng ngôn ngữ khác
Trang 331 5 Đặc điểm ngôn ngữ báo chí
1.5.1 Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện
Ngôn ngữ của báo chí là ngôn ngữ mang tính sự kiện Đặc điểm này gắn liền với tính thời sự của báo chí Trong một trang báo bất kì, có thể dễ dàng nhặt ra được hàng loạt các sự kiện đi liền với nhau Thông tin mà độc giả muốn tìm hiểu là sự kiện chứ không phải là cái gì khác Ngôn ngữ báo chí không mang tính định tính mà mang tính định lượng Thông tin nén chặt trong một khối lượng chữ được quy định nghiêm ngặt Do đó, mô hình 5W+H được
sử dụng rất nhiều và nói đến sự kiện là nói đến mô hình này
Nói rộng hơn, đối với việc biểu đạt, ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ bằng một hình thức tối thiểu phải chuyển tải một thông tin tối đa Trong đó, ngay
cả mặt hình thức cũng phục vụ cho việc chỉ báo thông tin, tìm kiếm thông tin thông qua các phân đoạn, thông qua việc khai thác các hình thức chữ viết, đặc biệt là các tiêu điểm thông báo
1.5.2 Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự tương tác
Đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ báo chí là sự tương tác: tương tác giữa
sự kiện xảy ra và quan điểm của người viết, toà soạn; tương tác giữa bài báo
và bạn đọc, và xa hơn nữa là kết quả thu được từ bài báo: tương tác giữa công luận với sự kiện được nêu ra Đặc trưng của báo chí là tính cộng đồng Mỗi một sự kiện được lên khuôn đều có hàng vạn người đọc, thuộc mọi thành phần và tầng lớp xã hội Do đó, người viết phải viết với tư tưởng là viết cho đông đảo độc giả chứ không phải chỉ phục vụ một nhóm nhỏ cục bộ nào đó
Vì vậy, trong nhiều bài báo, người viết không sử dụng đại từ nhân xưng “tôi”
mà dùng “chúng tôi”, hoặc có thể mời gọi bạn đọc tham gia vào vấn đề một cách tường minh như “quý độc giả”, “bạn đọc”; hoặc kín đáo hơn là “chúng ta”
Trang 34Do vậy, ngôn ngữ được sử dụng phải là ngôn ngữ của cộng đồng, nhất
là trên bình diện từ vựng Tất nhiên, phải có cân nhắc, lựa chọn cẩn thận Có như vậy, ngôn ngữ báo chí mới thực sự là tiếng nói của cả cộng đồng Chẳng hạn, về mặt từ ngữ, bên cạnh các từ vốn có như “lâm tặc”, “không tặc”, “hải tặc”, “đạo tặc” dựa trên ngôn ngữ của cộng đồng, trên báo chí gần đây xuất hiện rất nhiều từ ngữ dựa vào mô hình kết hợp này như “sa tặc”, “cát tặc”,
“tin tặc”, “đất tặc”, “đinh tặc”, “nhớt tặc”, “tình tặc”, “mông tặc”, “tôm tặc”, thậm chí là “cà phê tặc” Đưa vào tác phẩm lời ăn tiếng nói của quần chúng là một cách làm hay, vừa tăng tính cộng đồng, vừa làm giảm vẻ xơ cứng, chính trị hoá mà một thời báo chí tiếng Việt đã mắc phải
1.5.3 Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự hấp dẫn
Ngôn ngữ báo chí về cơ bản không phải là ngôn ngữ nghệ thuật, nhưng điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ báo chí lúc nào cũng phải khoác cái áo nghiêm nghị, không có nghĩa là ngôn ngữ báo chí không được phép hấp dẫn Công chúng chỉ tiếp nhận thông tin mà người viết truyền đạt nếu thông tin đó được thể hiện bằng một ngôn ngữ dễ đọc, hấp dẫn Đặc điểm này thể hiện rõ nét nhất là ở tiêu đề, rồi đến dẫn đề
Người viết phải biết kết hợp giữa tính khách quan của sự kiện và tính hấp dẫn của ngôn ngữ miêu tả sự kiện đó để lôi cuốn, hấp dẫn độc giả Cần tránh cả hai thaí cực: chỉ đặt trọng tâm vào việc lôi kéo độc giả mà quên đi nội dung của thông tin, dẫn đến việc ngôn ngữ rất hấp dẫn, gợi cảm nhưng nội dung chỉ là con số không; hoặc chỉ chú ý đến nội dung thông tin, không dụng công trong lựa chọn câu chữ dẫn đến việc thông tin thì ngồn ngộn nhưng chẳng mấy ai đọc vì hàn lâm quá, khô cứng quá trong diễn đạt Trong thông tin trên báo chí, ai cũng biết rằng tin tiêu cực thường thu hút độc giả nhiều hơn
Trang 35So với các đặc điểm ngôn ngữ sự kiện, ngôn ngữ tương tác thì ngôn ngữ hấp dẫn bị chi phối bởi tâm lí công nghiệp nhiều nhất Việc đưa thông tin chính xác, khách quan, bằng hình thức ngắn gọn cô đúc đã phần nào thể hiện được sự lôi cuốn, hấp dẫn Tuy nhiên, tính hấp dẫn trước hết là về mặt ngôn
từ, tùy theo thể loại mà sử dụng từ vựng, kết cấu câu thích hợp Tính hấp dẫn còn thể hiện ở mặt hình thức, các yếu tố bên ngoài ngôn ngữ như màu sắc, hình ảnh minh hoạ, các box tóm tắt Nhìn một cách khái quát, tính hấp dẫn của ngôn ngữ báo chí có thể xuất phát từ các hình thức ngôn từ biểu đạt mà cũng có thể từ ngay chính nội dung vấn đề được trình bày trong văn bản
Như vậy, ngôn ngữ báo chí là một biến thể chức năng, nói như ngữ pháp chức năng hệ thống, nó là một kiểu ngữ vực mà trường diễn ngôn là những chủ đề trong đời sống trong và ngoài nước Mục đích diễn ngôn là định hướng dư luận, còn phương thức diễn ngôn được thể hiện trên ba kênh: kênh viết, kênh nói và kênh hình
1.6 Một số thể loại báo chí tiêu biểu
Thể loại báo chí hình thành là do nhu cầu khách quan của cuộc sống, của con người và của chính thực tế báo chí Các nhà kinh điển về báo chí như Lê-nin, Hồ Chí Minh cũng cho rằng một tờ báo hay một nhà báo sử dụng được nhiều thể loại báo chí thì tờ báo đó sẽ càng có tác dụng, sẽ phong phú, hấp dẫn và lôi cuốn bạn đọc nhiều hơn
Trong quá trình phát triển lâu dài của báo chí, các thể loại đã được hình thành phù hợp với nội dung, mục đích và tôn chỉ của nó Các hình thức tổ chức tư liệu, phương thức phản ánh các sự kiện, hiện tượng, quá trình của đời sống xã hội đã đáp ứng hoạt động, nhiệm vụ của nhà báo và các cơ quan báo chí Các hình thức, phương thức này đều có tính chất, đặc điểm nhất định mà mọi người quen gọi là thể loại
Trang 36Tác giả Đinh Hường nêu định nghĩa về thể loại báo chí như sau: “ Thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định của các bài báo, được phân chia theo hình thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác nhau để chuyển tải nội dung mang tính chính trị, tư tưởng nhất định”
Ở luận văn này, chúng tôi tán thành quan điểm của Đức Dũng ( 1996) phân chia hệ thống thể loại báo chí ở nước ta thành 3 loại thể: nhóm thông tấn báo chí, nhóm chính luận báo chí và ký báo chí Đức Dũng lý giải, hệ
thống thể loại báo chí được hình thành bởi 3 loại thể nêu trên có đặc điểm bao trùm là thông tin thời sự, với tư cách là hạt nhân của thông tin báo chí
việc thông tin sự kiện là mục đích tối thượng trong quá trình phản ánh hiện thực Sự kiện được thông tin trong các thể loại này có nhiều cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào tầm quan trọng của chúng nhưng dù ở cấp độ nào cũng phải đáp ứng yêu cầu thời sự và tính xác thực, cặn kẽ, tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhất Tất cả các chi tiết, dữ kiện được đưa ra trong những thể loại này đều phải chịu áp lực rất lớn của tính thời sự và tính chính xác với mục đích rõ ràng là nhằm cung cấp các sự kiện cho công chúng
Trong thể loại thông tấn báo chí, tin được coi là thể loại hạt nhân vì nó
có khả năng thông tin một cách nhanh nhất, sớm nhất, dưới một hình thức chặt chẽ nhất về những sự việc, sự kiện vừa mới xảy ra, đang xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra
Với những khả năng đó, tin không chỉ được coi là thể loại hạt nhân của loại thể thông tấn báo chí mà còn là hạt nhân của toàn bộ hệ thống thể loại báo chí
Trang 37- Loại thể chính luận báo chí gồm xã luận, bình luận, chuyên luận
Đặc điểm nổi bật của nhóm loại thể này là khả năng bàn luận, giải thích, bình giá các sự kiện Có thể nói, mô hình luận cứ- luận chứng- luận điểm là mô hình chung cho cả 3 thể loại thuộc loại thể chính luận báo chí
trước không chỉ bởi ở hình thức kết cấu mà ngay cả trong phạm vi nội dung được phản ánh Trong số các thể loại của ký báo chí, phóng sự được xếp ở vị trí đầu tiên và được coi như thể loại đóng vai trò hạt nhân của toàn bộ loại thể Việc phân chia các thể loại báo chí thành 3 nhóm trên chỉ có tính tương đối Trong mỗi loại thể đều thể hiện những đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống, đều là sự kết hợp ít nhiều giữa các khả năng thông tin sự kiện, thông tin lý lẽ
và thông tin thẩm mỹ dưới đặc điểm bao trùm là thông tin xác thực, thông tin thời sự
Ở đây ta bàn đến một số thể loại tiêu biểu thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí:
trong nước, tin thế giới, tin có tiêu đề, tin không có tiêu đề Trong thể loại này, luận văn tập trung chú ý nhiều nhất là tin địa phương bởi vì nó có nhiều khả năng thể hiện được đặc trưng ngôn ngữ ít nhất là lời ăn tiếng nói của Nam
Bộ Đương nhiên, thể loại tin tức khó xuất hiện các yếu tố ngôn ngữ địa phương, tuy nhiên không phải là không có
huống có vấn đề Đối với một tờ báo địa phương, phóng sự thường gắn liền với những vấn đề nóng hổi của cuộc sống trên một địa bàn địa phương cụ thể
phỏng vấn thường rơi vào hai trường hợp: i) các chính khách, chính trị gia và ii) một số nhân vật nổi tiếng về các lĩnh vực nào đó ( văn hóa, văn nghệ, thể
Trang 38thao) Thuộc nhóm trước, chủ đề thường liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách, định hướng xã hội của lãnh đạo và nhóm thứ 2 trao đổi về lĩnh vực chuyên môn nào đó ví dụ như phỏng vấn huấn luyện viên, vận động viên, bác sĩ, v.v về một số vấn đề chuyên môn mà xã hội quan tâm, thì ở các báo địa phương, phỏng vấn thuộc loại i) Cần nói ngay, phỏng vấn báo in thường
có một khâu chuẩn bị trước mặc dầu có thể được biên tập, tỉa tót cẩn thận nhưng do đề cập đến những vấn đề địa phương nên cũng có khả năng thể hiện đặc trưng ngôn ngữ riêng của một vùng đất
sưu tập ngữ liệu trên mặt báo Cần Thơ, chúng tôi còn chú ý đến các thể loại
sau đây: về phản ánh: thực ra cách gọi tên này không thật nghiêm ngặt, nó
thể hiện cách thức cung cấp thông tin, so với phóng sự thì phản ánh đáp ứng được yêu cầu kịp thời, sốt dẻo nhưng về mặt quy mô, không thể nào bằng được phóng sự Do vậy, có thể nói được cái phản ánh là dạng thô của phóng
sự, là các sự kiện ban đầu làm xuất phát điểm của phóng sự Giữa phản ánh và phóng sự có đặc điểm chung là đều xuất phát từ những tình huống có vấn đề
Còn ghi nhanh, như tên gọi, đó là một nhát cắt của sự kiện, một khoảnh khắc của sự kiện, mà người phóng viên nắm bắt được Và do vậy, nó không đòi hỏi phải nêu nguyên nhân, đó cũng là một dạng thông tin ở dạng thô
- Cuối cùng, còn có một thể loại cũng khá quan trọng, đó là ký nhân vật
và ký sự kiện mà các tòa soạn thường tập trung ở mục là gương điển hình
Có thể nói, đây là thể loại tập trung nhiều đặc điểm ngôn ngữ nhất
1.7 Màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ
1.7.1 Màu sắc địa phương
Tiếng Việt có nhiều phương ngữ Cũng như một con người có nhiều dáng vẻ khác nhau, tùy nơi, tùy lúc, tiếng Việt là một ngôn ngữ vừa thống nhất, vừa đa dạng Tính thống nhất nằm trong bản chất của ngôn ngữ, cái làm
Trang 39nên đặc điểm của tiếng Việt với một lịch sử lâu dài, còn mặt biểu hiện khi thì
nó là ngôn ngữ văn học trau chuốt và tế nhị, khi thì nó là tiếng địa phương đậm đà màu sắc quê hương của từng vùng Các tiếng địa phương không hề cản trở quá trình giao tiếp Phương ngữ học khi nghiên cứu một phương ngữ thì chỉ chú trọng đến những điểm khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân
Nó nghiên cứu sự khác nhau để tìm cho ra qui luật đi đến sự thống nhất, đây
là một yêu cầu có thực trong xã hội hiện tại
Ngôn ngữ toàn dân là một hiện tượng lịch sử, văn hóa, đó là các hình thức trau chuốt có ý thức của cách nói năng mà ta phải học tập mới có được chứ không phải có tự nhiên, cho nên miêu tả tiếng nói tự nhiên thì dứt khoát
là miêu tả một phương ngữ cụ thể
Khi việc miêu tả chỉ thu hẹp vào ngữ pháp mà thôi thì sự khác nhau giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân thường không có gì quan trọng, trừ một vài từ chỉ trỏ, một vài hư từ có nghĩa là không liên quan đến cấu trúc Và chính sự thống nhất của mọi phương ngữ về mặt ngữ pháp là đảm bảo cơ bản tính thống nhất của tiếng Việt Sang đến mặt từ vựng cũng thế Giữa các phương ngữ không hề có sự khác nhau về cốt lõi của hệ thống từ vựng tức là
về cấu tạo từ, vị trí của các yếu tố, các kiểu láy âm, sự khác nhau chỉ thu gọn
ở các từ, các biểu hiện bên ngoài của từ vựng học Có thể nói, then chốt quy định sự phân chia các phương ngữ là ngữ âm chứ không phải là từ vựng
Đặc điểm đối lập ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ đó là ta có thể nghiên cứu ngôn ngữ toàn dân như một tồn tại khách quan, cụ thể là như một vật mà không cần phải đặt trong một trạng thái đối lập với các đối tượng khác Trái lại ta nghiên cứu một phương ngữ như một ngôn ngữ, tức không đặt nó đối lập với các phương ngữ khác, không xem nó là một biến thể của ngôn ngữ toàn dân, thì công trình đó dù là miêu tả hay lịch sử cũng không phải là công trình phương ngữ học Như vậy sự khác nhau giữa định nghĩa
Trang 40của một phương ngữ với định nghĩa của một ngôn ngữ không phải ở chỗ ngôn ngữ có nhiều người nói hơn phương ngữ mà là ở chỗ ngôn ngữ là một khái niệm độc lập không tồn tại trên sự đối lập, so sánh, còn phương ngữ là một khái niệm xây dựng trên sự đối lập Chính đặc điểm này quy định phương thức làm việc của nhà phương ngữ học Tuy nhiên, ngay cả những công trình phương ngữ học nổi tiếng cũng ít khi chú ý đến phương ngữ là một khái niệm xây dựng trên sự đối lập
Bên cạnh ngôn ngữ được xét đến, có ngôn ngữ toàn dân Do đó, trong việc nghiên cứu một phương ngữ của tiếng Việt, cách tiếp cận chỉ có thể là cách tiếp cận so sánh đối lập Ngay dù ta có miêu tả đơn thuần, không nói gì đến lịch sử cả ta cũng phải làm thao tác so sách đối lập, vì phương ngữ học không nghiên cứu phương ngữ như một vật cho nó và tự nó mà như một biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình phát triển
Phương ngữ là kết quả của một sự biến đổi trong đó bắt đầu có sự chuyển mã ở một khía cạnh nào đấy trong khi hệ thống các mã vẫn gần như nguyên vẹn Sự ra đời của các phương ngữ trong lòng ngôn ngữ toàn dân là kết quả của những sự tác động:
đổi ở trong hoạt động giao tiếp với tính cách một tập hợp những tập quán nói năng Đây là mặt ngôn ngữ học của vấn đề
phân bố tách biệt khác nhau về địa lý
trong thế so sánh đối lập với các phương ngữ khác cũng như ngôn ngữ toàn dân, cái khó không phải là tìm ra cho được sự khác nhau Điều đó thuộc về mặt hiện tượng nên rất dễ thấy Cái khó là tìm cho được bản chất của sự khác nhau này Nói khác đi, ta phải giải thích được sự khác nhau này do đâu mà có,