phân tích hoạt động và tìm ra giải pháp giúp công ty chứng khoán Thăng Long phát triển các hoạt động của mình trên thị trường trái phiếu
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang 3Danh sách các từ viết tắt sử dụng
Lời nói đầu
Trong thời gian qua chúng ta đã chứng kiến chuỗi biến động “kinh hoàng” của thị trường cổ phiếu, vnindex tăng từ hơn 400 điểm vào thời kỳ đầu năm 2006 rồi lên đến đỉnh điểm hơn 1100 điểm vào năm 2007 sau đó là 1 chuỗi ngày đen tối để rồi hiện nay đang “vất vả” ở quãng 500 điểm! Kèm theo
NHNTVN Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà Nước
OTC Thị trường giao dịch qua quầy
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTGDCK Tp HCM Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
MinhTTGDCKHN Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà Nước
Trang 4những biến động đó hàng chục công ty chứng khoán mới ra đời… Dường như mọi sự chú ý đều hướng tới thị trường cổ phiếu niêm yết, dường như người ta
đã quên mất 1 thị trường khác không kém phần quan trọng, thị trường trái phiếu!
Hàng chục công ty chứng khoán đang nỗ lực hoạt động, thế nhưng số lượng công ty tiến vào thị trường trái phiếu còn rất khiêm tốn!
Không khó khăn lắm để nhận ra rằng thị trường trái phiếu đã đang và luôn là 1 bộ phận không thể tách rời của thị trường chứng khoán cũng như thị trường tiền tệ Đây là 1 kênh huy động vốn ưu việt, đồng thời cũng là 1 kênh đầu tư đáng tin cây, chính vì thế đó cũng là 1 mảnh đất màu mỡ để các công ty chứng khoán khai thác.
Công ty chứng khoán Thăng Long là một trong những công ty chứng khoán ra đời đầu tiên của Việt Nam, với nhiều năm kinh nghiệm và các mối quan hệ tốt đẹp, công ty đang hướng mục tiêu phát triển về hướng thị trường trái phiếu.
Chuyên đề sau đây tập trung đi sau phân tích hoạt động và tìm ra giải pháp giúp công ty chứng khoán Thăng Long phát triển các hoạt động của mình trên thị trường trái phiếu
Đề tài được trình bày theo 3 phần
Chương1: Khái quát các hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường trái phiếu Phần này tập trung các vấn đề mang tính học thuật và là cơ
sở lý luận cho chuyên đề.
Chương2: Thực trạng các hoạt động trên thị trường trái phiếu của công
ty chứng khoán Thăng Long Phần này tập trung giới thiệu về công ty chứng khoán Thăng Long, thực trạng hoạt động của thị trường trái phiếu Việt Nam, thực trạng hoạt động của công ty chứng khoán Thăng Long, đánh giá về các hoạt động này, và nêu ra nhận xét cá nhân
Trang 5Chương3 : Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động của công
ty chứng khoán Thăng Long trên thị trường trái phiếu Phần này đề cập đến định hướng phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam, định hướng phát triển mảng nghiệp vụ liên quan đến trái phiếu tại công ty chứng khoán Thăng Long,
từ đó nêu ra giải pháp và các kiến nghị nhắm tăng cường và phát triển các hoạt động này.
Do giới hạn về mặt kiến thức, tài liệu và tầm nhìn còn hạn hẹp, có lẽ chuyên đề còn nhiều thiếu sót, rất hy vọng được sự đóng góp và chỉ dẫn của các thầy cô
Em xin chân thành cám ơn!
Chương 1 KHÁI QUÁT CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
1.1 Khái quát về công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm chung
Trang 6Theo giáo trình Thị trường chứng khoán, Đại học Kinh tế Quốc dân
2005 thì: “ Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiệncác nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”
Chức năng kinh doanh của các công ty chứng khoán được điều chỉnh bởiluật Chứng Khoán 2007 và nghị định 14 của Bộ Tài chính ban hành thi hànhchi tiết một số điều của luật CK.Cụ thể:
Điều 59 Thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán, công ty quản
lý quỹ đầu tư chứng khoán
1 Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (sauđây gọi là công ty quản lý quỹ) được tổ chức dưới hình thức công ty tráchnhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp
2 Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt độngcho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ Giấy phép này đồng thời làGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Điều 60 Nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán
1 Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp
vụ kinh doanh sau đây:
a) Môi giới chứng khoán;
b) Tự doanh chứng khoán;
c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
d) Tư vấn đầu tư chứng khoán
2 Công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
3 Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này, công
ty chứng khoán được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác
Trang 7Điều 18 Quy định về vốn đối với công ty chứng khoán, công ty quản lýquỹ
1 Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứngkhoán, công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công tychứng khoán nước ngoài tại Việt Nam là:
a) Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
b) Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
d) Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
2 Trường hợp tổ chức đề nghị cấp giấy phép cho nhiều nghiệp vụ kinhdoanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương ứng với từng nghiệp vụxin cấp phép
Trên thực tế, một công ty chứng khoán không nhất thiết phải thực hiệntất cả các nghiệp vụ vừa nêu nhưng một nghiệp vụ tiêu biểu thể hiện rõ bảnchất của công ty chứng khoán đó là nghiệp vụ môi giới và nó trở thàh nghiệp
vụ cơ bản mà hấu hết các công ty chứng khoán đều tham gia
1.1.2 Phân loại Công Ty chứng khoán.
Theo hình thức tổ chức hoạt động của công ty chứng khoán
Hiện nay trên thế giới tồn tại 3 loại hình tổ chức cơ bản của công tychứng khoán đó là: Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh
- Công ty hợp danh: là loại hình công ty có ít nhất 02 chủ sở hữu Thànhviên của công ty hợp danh bao gồm:
Thành viên chỉ góp vốn chứ không tham gia quản lý: Thành viêngóp vốn
Thành viên tham gia quản lý, điều hành công ty: Thành viên hợpdanh
Trang 8• Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn
bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của Công ty Các thành viên góp vốn khôngtham gia điều hành công ty, chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần gópvốn của mình đối với những khoản nợ của công ty Công ty hợp danh khôngđược phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào
- Công ty cổ phần: Công ty cổ phần có tư cách là một pháp nhân độc lậpvới các chủ sở hữu công ty là các cổ đông Cổ đông chỉ chịu trách nhiệmtrong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Công ty cổ phần có quyềnphát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Thành viên của công ty chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong số vốn
đã cam kết góp vốn vào doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn khôngđược phép phát hành cổ phiếu
1.1.3 Các hoạt động chính của công ty chứng khoán.
Sơ đồ 1.1: Các văn phòng chính của công ty chứng khoán
1.1.3.1 Hoạt động môi giới chứng khoán Là hoạt động trung gian hoặc
đại diện mua và bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng phí môi giới, hoahồng Công ty chứng khoán là người đại diện cho khách hàng tiến hành giaodịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở GDCK hoặc TT GDCK mà chínhkhách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình
Nhân viên môi giới cần có những kỹ năng sau:
Trang 9- Kỹ năng tuyền đạt thông tin: Tiếp cận với khách hàng nhân viên môigiới cần phải truyền đạt rõ các thông tin mà khách hàng cần với thái độ chuẩnmực của một nhân viên môi giới Biết cách đặt khách hàng lên trên hết thìmới có thể thành công trong công viêc, còn doanh thu của mình chỉ là thứyếu.
- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: Tùy thuộc vào đối tượng khách hàng cóthể có những phương pháp như
• Chiến dịch viết thư quảng bá, thư thoại, hội thảo quảng
• Xây dựng tìm kiếm khách hàng từ các mối quan hệ trước đó
• Qua những lời giới thiệu của khách hàng quen thuôc, các đối tác
- Kỹ năng khai thác thông tin: Một trong những nguyên tắc hành nghềmôi giới là phải hiểu khách hàng, biết được khả năng tài chính, mức độ chấpnhận rủi ro của khách hàng Ngoài ra nó còn giúp cho những nhà môi giớităng được khối lượng tài sản quản lý, có chiến lược khách hàng thích hợp
1.1.3.2 Hoạt động Tự doanh:
Tự doanh là việc giao dịch mua và bán chứng khoán cho chính mình củacông ty chứng khoán Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán đượcthực hiện mua bán chứng khoán tại Sở Giao dịch vàTrung tâm Giao dịchChứng khoán hoặc thị trường OTC Với mục đích nhằm thu lợi nhuận chochính công ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng Khácvới nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chi làm trung gian thực hiệnlệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh công tychứng khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty Vì vậy công tycần phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn
và khả năng phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý
Một số yêu cầu đối với công ty chứng khoán:
Trang 10- Tách biệt quản lý: Để đảm bảo tình minh bạch, rõ ràng trong nghề môigiới các công ty chứng khoán cần có sự phải tách biệt giữa nghiệp vụ tựdoanh và nghiệp vụ môi giới.
- Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh có thể là giao dichgián tiếp, trực tiếp tuỳ vào loại chứng khoán giao dịch và cách thức giao dịch.Hoạt động tự doanh cũng góp phần bình ổn giá cả thị trường và tham gia tạolập thị trường
1.1.3.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành Là việc công ty chứng khoán
chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khichào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổngiá chứng khoán trong giai đoan đầu sau khi phát hành
Tổ chức phát hành nhờ nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của công ty chứngkhoán sẽ thu được vốn từ đợt phát hành Kế hoạch sử dụng vốn sau phát hànhthông qua sự tư vấn của công ty chứng khoán từ trước, công ty chứng khoán
sẽ thu được phí từ tổ chức phát hành
Các hình thức phân phối chứng khoán chủ yếu là:
• Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể, cá quỹ đầu tư, quỹ bảohiểm, quỹ hưu chí
• Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay nhà đầu tư có quan hệvới tổ chức phát hành
• Bán rộng rãi ra công chúng
1.1.3.4 Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán:
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việccông ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên,phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khácliên quan phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng
Trang 11Hoạt động tư vấn chứng khoán được phân loại theo cac tiêu chí cơ bảnnhư :
- Theo hình thức: gián tiếp và trực tiếp
- Theo mức độ ủy quyến: Tư vấn gợi ý và tư vấn ủy quyền
- Theo đối tượng: Tổ chức phát hành và nhà đầu tư
Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn:
- Không đảm bảo chắc chắn về lợi nhuận của khách hàng khi đầu tưchứng khoán, yếu tố này thay đổi từng ngày phụ thuộc vào diễn biến thịtrường các yếu tố kinh tế v.v
- Hoạt động tư vấn là dựa trên những dữ liệu, thông tin từ quá khứ đểphân tích để đưa ra những nhận định cho tương lai Vì vậy không thể hoàntoàn chính xác, việc đưa ra những nhận đinh nhằm cung cấp thông tin, xuhướng thị trường cho khách hàng tham khảo và nhà tư vấn sẽ không chịutrách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do những lời khuyên đưa ra Điều nàyphải luôn nhắc nhở khách hàng
- Không dược dụ dỗ, mời chào khách hàng mua bán một loại chứngkhoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ cơ sở khách quan làquá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn đề nghiên cứu
1.1.3.5 Các hoạt động khác
Sơ đồ 1.2: Các văn phòng phụ trợ của công ty chứng khoán.
Trang 12
- Lưu ký chứng khoán: Là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng
Trang 13khoán Là việc bảo quản lưu giữ chứng khoán của khách hàng thông qua tàikhoản lưu ký chứng khoán của họ Do hình thức giao dịch trên thị trường trênthị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ khách hàn cần có tài khoảnlưu ký chứng khoán tại công ty chứng khoán Công ty sẽ nhận được cáckhoản phí từ khách hàng khi thực hiện dịch vụ lưu ký
- Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Công ty chứng
khoán sẽ theo dõi tình hình lưu ký, các chứng khoán ghi sổ.Từ đó sẽ thu nhậnviệc chi trả cổ tức cho khách hàng từ các tổ chức phát hành thông qua tàikhoản chứng khoán của khách hàng
- Nghiệp vụ quản lý quỹ: ở một số thị trường chứng khoán, pháp luật về
thị trường chứng khoán còn cho phép công ty chứng khoán được thực hiệnnghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư Theo đó, công ty chứng khoán cử đại diện củamình để quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ để đầu tư vào chứngkhoán Công ty chứng khoán được thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư
- Nghiệp vụ tín dụng: Ở nhứng thị trường chứng khoán bên cạnh
nghiệp vụ môi giới còn triển khai thêm dịch vụ cho vay chứng khoán đểkhách hàng có thể thực hiện bán khống chứng khoán hoặc cho khách hàngvay tiền để thực hiện nghiệp vụ mua ký quỹ Là hình thức cho khách hàngvay tiền của công ty mua chứng khoán và sử dụng chính chứng khoán đó làmvật thế chấp đối với khoản vay đó Khách hàn có thể chọn hình thức ký quỹmột phần hoặc ký quỹ toàn phần Khi đến hạn thỏa thuận trong hợp đồngkhách hàng phải hoàn trả lãi và gốc vay cho công ty chứng khoán nếu kháchhàng không trả nợ thì công ty sẽ bán chính chứng khoán đó để thu hồi mónnợ
Trang 141.2 Hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường trái phiếu
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm thị trường trái phiếu
1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm trái phiếu
Trái phiếu là giấy tờ có giá, thể hiện sự cam kết của nhà phát hành vềviệc thanh toán một số tiền xác định tại những thời điểm xác định cho ngườichủ sở hữu trái phiếu Theo cách hiểu đó, Trái phiếu là một loại chứng khoánđược phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận cácquyền và lợi ích hợp pháp của người chủ sở hữu trái phiếu đối với tài sảnhoặc vốn của tổ chức phát hành
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau người ta có thể phân loại trái phiếu thànhnhiều loại khác nhau Nếu căn cứ theo hình thức trái phiếu, trái phiếu có thể baogồm trái phiếu dưới dạng chứng chỉ, file dữ liệu hoặc bút toán ghi sổ Các tráiphiếu này có thể vô danh, ghi danh và đích danh Trái phiếu vô danh có tínhthanh khoản cao nhất và thường được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán;Trái phiếu ghi danh có ghi tên chủ sở hữu, do vậy khả năng chuyển nhượng bịhạn chế hơn do hình thức ký hậu; Trái phiếu đích danh phát hành trong trườnghợp đặc biệt, thường được phát hành cho nhóm nhà đầu tư đặc quyền và hạn chếkhả năng chuyển nhượng Nếu căn cứ theo chủ thể phát hành, trái phiếu đượcphân thành ba loại là trái phiếu Chính Phủ; Trái phiếu chính quyền địa phương
và trái phiếu Công ty Với các phương thức trả gốc và lãi khác nhau, nhà pháthành có thể tạo nên nhiều loại trái phiếu như Coupon; Consol; Zero-coupon hayDiscount Bond; Annuity; Thanh toán gốc và lãi khi đáo hạn
Cho dù trái phiếu được phân thành nhiều loại khác nhau nhưng chúng đều
có đặc điểm chung là: Thứ nhất, trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việcphát hành các công cụ này là nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức cóhoàn trả cả gốc lẫn lãi Người cho vay sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về
Trang 15kết quả hoạt động sử dụng vốn của người vay và trong mọi trường hợp, nhà pháthành phải có trách nhiệm hoàn trả cho trái chủ theo các cam kết đã được xácđịnh trong hợp đồng vay Trái phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là trunghạn hay dài hạn.
Thứ hai, trường hợp chủ thể phát hành trái phiếu bị phá sản hoặc giải thểthì chủ sở hữu trái phiếu được ưu tiên trong quá trình thanh lý tài sản so vớicác cổ đông của công ty Do chủ thể phát hành bị ràng buộc bởi nghĩa vụthanh toán nên trái phiếu có độ an toàn cao, tính thanh khoản lớn và thường
do các trung gian tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại nắm giữ.Thứ ba, trái phiếu là công cụ đầu tư, nhà đầu tư được hưởng lợi tức từ tiền lãi
mà trái chủ phải thanh toán trong suốt kỳ hạn của trái phiếu và các quyền lợi khácnếu có Lợi tức của trái phiếu được xem là chi phí đối với chủ thể phát hành, dovậy, doanh nghiệp phát hành trái phiếu được hưởng lợi do tiết kiệm thuế
1.2.1.2 Khái niệm thị trường trái phiếu
Để có được khái niệm thị trường trái phiếu, trước hết cần hiểu về thịtrường tài chính Thị trường tài chính có chức năng cơ bản là chuyển tiền từnhững người có tiền sang những người cần tiền Những người có tiền, bao gồmChính Phủ, doanh nghiệp, các hộ gia đình, các tổ chức hành chính cũng nhưChính Phủ, các tổ chức và cá nhân nước ngoài, do thu nhập lớn hơn chi tiêucủa họ nên có nhu cầu chuyển tiền để kiếm được một chút lợi nhuận Trong khi
đó, do chi tiêu lớn hơn thu nhập, Chính Phủ, các tổ chức và cá nhân trong vàngoài nước lại cần tiền Sự chuyển dịch tiền này được thực hiện theo sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.3 cho thấy, sự chuyển dịch tiền được thực hiện qua hai conđường: tài trợ trực tiếp và tài trợ gián tiếp Trong tài trợ trực tiếp, nhữngngười cần tiền huy động trực tiếp từ những người có tiền bằng cách bán cácchứng khoán cho họ Các chứng khoán này là các công cụ tài chính, nó cungcấp quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản cho chủ sở hữu đối với người phát
Trang 16hành Các chứng khoán này được mua bán rộng rãi trên thị trường cấp một vàthị trường cấp hai Cách thức thứ hai để chuyển tiền là tài trợ gián tiếp, thôngqua các trung gian tài chính Các trung gian tài chính như các ngân hàng, các
tổ chức tín dụng, các tổ chức bảo hiểm và các trung gian khác có vai trò cực
kỳ quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế,đồng thời các tổ chức này cũng có vai trò quan trọng trong việc cấp vốn và hỗtrợ cho dòng tài trợ trực tiếp như hoạt động đại lý, bảo lãnh, thanh toán, v.v
Sơ đồ 1.3 Thị trường tài chính
Tài trợ gián tiếp
Nếu căn cứ theo các loại hàng hoá được mua bán trên đó, có thể phânloại thị trường tài chính thành thị trường nợ, thị trường vốn cổ phần và thị
Trang 17trường các công cụ dẫn suất Thị trường nợ là thị trường mà hàng hoá đượcmua bán tại đó là các công cụ nợ Thực chất của việc phát hành các công cụ
nợ này là nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả gốclẫn lãi Người cho vay không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạtđộng sử dụng vốn của người vay và trong mọi trường hợp, nhà phát hành phải
có trách nhiệm hoàn trả theo các cam kết đã được xác định trong hợp đồngvay Các công cụ nợ có thời hạn xác định, có thể là ngắn hạn, trung hạn haydài hạn Tín phiếu và trái phiếu là hai ví dụ điển hình của các công cụ nợ.Khác với thị trường nợ, thị trường vốn cổ phần là nơi mua bán các cổphiếu, giấy xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông Cổ đông là chủ sở hữu củacông ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình Cổ phiếu sẽcho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng nhưđối với tài sản của công ty Cổ phiếu là vô thời hạn vì chúng không xác định cụthể ngày mãn hạn Thị trường các công cụ dẫn suất là nơi các chứng khoánphái sinh được mua và bán Tiêu biểu cho các công cụ này là hợp đồng kỳhạn, hợp đồng quyền chọn Thị trường này ngày càng trở nên quan trọng đốivới các nhà quản trị tài chính
Căn cứ vào thời hạn của vốn, người ta có thể phân thị trường tài chínhthành hai loại, thị trường tiền tệ và thị trường vốn Thị trường tiền tệ là thịtrường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn (có kỳ hạn dưới một năm)được mua bán, còn thị trường vốn là thị trường cung cấp vốn trung hạn và dàihạn cho nền kinh tế Vốn ngắn hạn chủ yếu do các ngân hàng cung cấp, cònthị trường chứng khoán là đặc trưng cơ bản của thị trường vốn
Với các khái niệm khá cơ bản về trái phiếu và thị trường tài chính ở trên,
có thể thấy, thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường tài chính, ở đó,các loại trái phiếu được mua bán, trao đổi, giao dịch Khái niệm thị trường tráiphiếu sẽ được làm rõ hơn qua nghiên cứu các đặc điểm của thị trường
Trang 181.2.3 Đặc điểm thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu thường có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, thị trường trái phiếu là nơi mua bán các công cụ nợ dài hạn,
bao gồm trái phiếu Chính Phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và tráiphiếu doanh nghiệp Các công cụ này được đảm bảo thanh toán trước, do vậy
có độ an toàn khá cao, đặc biệt là Trái phiếu Chính Phủ
Thứ hai, quy mô của thị trường trái phiếu rất lớn Thị trường trái phiếu
thường có quy mô lớn gấp nhiều lần thị trường cổ phiếu ở Mỹ, thị trường tráiphiếu doanh nghiệp có quy mô lớn gấp đôi so với thị trường cổ phiếu, còn thịtrường trái phiếu Chính Phủ và trái phiếu chính quyền địa phương có quy mô lớngấp hơn chục lần so với thị trường cổ phiếu Để tiết kiệm chi phí phát hành, cácđợt phát hành trái phiếu thường có quy mô rất lớn với các phương thức pháthành khá đa dạng
Thứ ba, đối tượng tham gia thị trường trái phiếu rất đa dạng, bao gồm
Chính Phủ, các công ty, cho đến các cá nhân Họ có thể đóng vai trò là nhàphát hành, nhà đầu tư, cơ quan quản lý Nhà Nước, cơ quan quản lý thị trườnghay các tổ chức dịch vụ Tuy nhiên, có thể thấy, do đặc điểm hoạt động củacác ngân hàng thương mại và do đặc điểm của trái phiếu có độ rủi ro thấp, độ
an toàn cao nên thường được các ngân hàng thương mại nắm giữ ở Mỹ, phầnlớn trái phiếu do các ngân hàng thương mại nắm giữ, thậm chí tới 95% lượngtrái phiếu mới phát hành của các doanh nghiệp
Thứ tư, do đặc điểm thành viên tham gia thị trường chủ yếu là các ngân
hàng thương mại nên thị trường trái phiếu thường được tổ chức theo mô hìnhthị trường OTC với phương thức giao dịch trên thị trường trái phiếu chủ yếu làthoả thuận, với cách thức và thời gian thanh toán hết sức linh hoạt Các ngânhàng thương mại thường đảm nhiệm vai trò tạo lập thị trường cho các tráiphiếu
Trang 191.2.1.4 Các thành viên tham gia thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu là một thực thể phức tạp mà ở đó có sự tham giacủa rất nhiều chủ thể khác nhau Các chủ thể này có thể tham gia với mụcđích huy động vốn, đầu tư vốn, cung cấp dịch vụ hỗ trợ hay quản lý NhàNước Các chủ thể trên có thể được phân thành:
1.2.1.4.1 Chính Phủ
Chính Phủ tham gia vào thị trường trái phiếu với hai tư cách Thứ nhất,
Chính Phủ với tư cách là người tổ chức và quản lý thị trường mà đại diện ởđây là Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước, cơ quan quản lý Nhà Nước về chứngkhoán và thị trường chứng khoán Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước tổ chức,hướng dẫn và quản lý các thị trường chứng khoán, trong đó có thị trường tráiphiếu, đồng thời soạn thảo văn bản pháp luật liên quan đến trái phiếu và thịtrường trái phiếu để trình các cấp có thẩm quyền xem xét quyết định, cũngnhư tổ chức và hướng dẫn thực hiện các văn bản đó Ngoài Uỷ ban chứngkhoán Nhà Nước, các cơ quan quản lý Nhà Nước khác như Ngân hàng NhàNước, Bộ Tài chính, các Bộ chủ quản cũng có cũng có vai trò quan trọngtrong hoạt động quản lý đối với các thành viên tham gia thị trường
Chẳng hạn Ngân hàng Nhà Nước, cơ quan quản lý Nhà Nước trong lĩnhvực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng có nhiệm vụ quản lý, hướng dẫn hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả các hoạtđộng của các tổ chức này trên thị trường trái phiếu Đồng thời, Ngân hàngNhà Nước có thể làm đại lý phát hành trái phiếu Chính Phủ Sự phối kết hợpgiữa các cơ quan quản lý Nhà Nước trong hoạt động quản lý thị trường, quản
lý các thành viên có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và đảmbảo an toàn cho hoạt động của thị trường
Thứ hai, Chính Phủ tham gia thị trường như là một nhà phát hành trái
phiếu Để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng, Chính Phủ có thể
Trang 20phát hành trái phiếu để huy động vốn Trái phiếu Chính Phủ là loại hàng hóachủ đạo của thị trường trái phiếu.
Vai trò của Chính Phủ đối với sự hình thành và phát triển thị trường tráiphiếu là rất quan trọng, đặc biệt là đối với thị trường trái phiếu Việt Nam
1.2.1.4.2 Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp là chủ thể quan trọng, cung cấp các loại hàng hoá chothị trường trái phiếu Trái phiếu doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn Tráiphiếu Chính Phủ và là một công cụ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
Pháp luật từng nước quy định cụ thể loại hình doanh nghiệp nào đượcphép phát hành trái phiếu Về cơ bản, các doanh nghiệp có thể phát hành tráiphiếu để thu hút vốn trên thị trường Doanh nghiệp có thể tự mình phát hànhtrái phiếu, thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành
Phát triển hoạt động phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp sẽ đadạng hoá các công cụ đầu tư, đồng thời tạo điều kiện phát triển các dịch vụcho các trung gian tài chính như nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, nghiệp
vụ ngân hàng tín thác, nghiệp vụ tư vấn phát hành…
Để thực hiện nghiệp vụ đầu tư và nghiệp vụ ngân quỹ, các doanh nghiệp
có thể tham gia mua bán trái phiếu trên thị trường Khi thực hiện nghiệp vụngân quỹ, doanh nghiệp chủ yếu mua bán trái phiếu có độ thanh khoản cao.Ngược lại, khi thực hiện nghiệp vụ đầu tư trái phiếu, doanh nghiệp thườnglựa chọn một danh mục đầu tư đa dạng, bao gồm các loại trái phiếu khácnhau, với các mức độ rủi ro khác nhau
1.2.1.4.3 Các nhà đầu tư cá nhân
Các nhà đầu tư cá nhân bao gồm các cá nhân và các hộ gia đình Họ muabán trái phiếu nhằm mục đích kiếm lời và qua đó, một lượng tiết kiệm khổng
lồ được huy động cho phát triển kinh tế Các nhà đầu có thể tham gia mộtcách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các nhà đầu tư có tổ chức, các trung
Trang 21gian tài chính Hoạt động kinh doanh trái phiếu của các nhà đầu tư cá thểtạo ra tính sôi động của thị trường, đồng thời tạo điều kiện để các trunggian tài chính phát triển các dịch vụ hỗ trợ thị trường.
1.2.1.4.4 Các tổ chức tài chính trung gian
Các trung gian tài chính là một chủ thể quan trọng của thị trường trái phiếu,với tư cách là nhà phát hành trái phiếu, nhà kinh doanh trái phiếu và là thànhviên hỗ trợ cho hoạt động của thị trường qua các nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh pháthành, tư vấn và môi giới đầu tư, thanh toán và quản lý trái phiếu, quản lý danhmục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư Các trung gian tài chính quan trọng trên thịtrường trái phiếu bao gồm các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, cáccông ty chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán Sự tham gia của các trunggian tài chính thực sự thúc đẩy thị trường tài chính nói chung và thị trường tráiphiếu nói riêng, đặc biệt, trong vai trò nhà tạo lập thị trường trái phiếu
1.2.2 Hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường trái phiếu
Tương tụ như trên thị trường cổ phiếu, trên thị trường trái phiếu công tychứng khoán có 3 nhóm hoạt động lớn
+ Hoạt động huy động vốn
+ Hoạt động đầu tư trái phiếu
+ Hoạt động cung cấp các dịch vụ về trái phiếu
1.2.2.1 Hoạt động huy động vốn
Tương tự như các công ty khác công ty chứng khoán được phép huyđộng vốn, thực hiện nghĩa vụ trả lãi và gốc theo quy định của chính phủ (quyđịnh tại nghị định 52/2006/NĐ-CP)
Đối với công ty chứng khoán, việc phát hành trái phiếu có nhiều ưu điểm
so với phát hành cổ phiếu Phát hành trái phiếu được nhiều công ty lớn lựachọn bởi nó giảm áp lực cho ban điều hành
Trang 22Trái phiếu được coi là khoản đầu tư của bên mua, trái tức được coi là chiphí của công ty phát hành trái phiếu,chính vì thế công ty được hưởng lợi doviệc tiết kiệm thuế
Bên cạnh đó, nó cũng giúp các công ty giảm chi phí lãi so với việc đi vay
và phát hành cổ phiếu Nếu huy động vốn thông qua chào bàn cổ phiếu, doanhnghiệp thông thường phải hứa hẹn trả tỉ lệ cổ tức khoảng 15%/năm, thậm chí20%/năm Muốn đảm bảo mức cổ tức này thì lợi nhuận sau thuế của doanhnghiệp tối thiểu phải chiếm 20-25% vốn điều lệ
Nếu chọn phương pháp vay ngân hàng, công ty sẽ phải chịu mức lãi suấtbình quân 18-22%/1năm đối với khoản vay có kỳ hạn trên 1 năm Trong khinếu sử dụng kênh huy động vốn bằng phát hành trái phiếu, lãi phải trả cho tráichủ lớn nhất chỉ khoảng 12,5%/năm đối với trái phiếu coupon có kỳ hạn 5năm Hơn nữa, lãi suất trả cho trái chủ hàng năm được tính như một khoản chiphí của doanh nghiệp ( trong chi phí thuế), nên doanh nghiệp sẽ giảm được áplực về chi phí vốn trong quá trình điều hành Đặc biệt từ sau chỉ thị 03 năm
2007 và gần đây là quyết định 03 hạn mức cho vay của các ngân hàng đối vớicông ty chứng khoán bị bóp chặt, các nguồn huy động bị thu hẹp, nguồn huyđộng vốn từ trái phiếu đang trở thành 1 nguồn huy động vốn ưa thích của cáccông ty chứng khoán
Mặt khác, phát hành cổ phiếu thường gây hiệu ứng pha loãng làm giảmthị giá cổ phiếu, vì vậy huy động vốn thông qua phát hành Trái phiếu sẽ đượcnhiều Công ty lựa chọn như một biện pháp vẹn cả đôi đường Không chỉ làkênh huy động vốn có chi phí trả lãi thấp, phát hành Trái phiếu còn đòi hỏithời gian ít hơn so với thời gian đi vay hoặc phát hành cổ phiếu
Hiện nay do được Nhà nước ưu ái trong việc phát hành Trái phiếu doanhnghiệp nên chỉ mất khoảng 6 đến 8 tuần, Công ty có thể hoàn tất hồ sơ pháthành Tuy nhiên, nếu đi vay ngân hàng hay phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp
Trang 23sẽ mất nhiều thời gian hơn cho khâu chuẩn bị và xét duyệt hồ sơ Phát hànhtrái phiếu cho phép doanh nghiệp huy động được lượng vốn lớn Nếu công ty
có nhu cầu trên 1.000 tỉ đồng thì họ có thể tiếp cận nguồn vốn từ phát hànhtrái phiếu dễ dàng hơn so với việc đi vay hay phát hành cổ phiếu
1.2.2.2 Hoạt động đầu tư trái phiếu
Công ty chứng khoán được phép mua bán các loại trái phiếu trên thị
trường chứng khoán(theo luật chứng khoán 2007 và nghị định
52/2006/NĐ-CP) Do đặc thù rủi ro thấp vì vậy việc đầu tư trái phiếu góp phần tăng lợinhuận của công ty chứng khoán mặc dù không làm tăng mức rủi ro của tổngthể danh mục đầu tư của công ty nhất là việc đầu tư vào trái phiếu chính phủ Tính thanh khoản của trái phiếu nhìn chung là cao vì thế ngoài chứcnăng là 1 khoản đầi tư trái phiếu còn được coi là tài sản của công ty, có thểdùng để thế chấp cầm cố, sử dụng trong các nghiệp vụ huy động vốn khác
1.2.2.3 Hoạt động cung cấp dịch vụ
Nhìn chung thị trường trái phiếu việt nam chưa phát triển, do đó các dịch
vụ trên thị trường cũng chưa có bước phát triển tương ứng như mảng dịch vụtrên thị trường cổ phiếu Nhưng tiềm năng của thị trường trái phiếu là rất lớn
mở cơ hội để các công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ trên thị trường này
Dịch vụ môi giới trái phiếu
Dịch vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu
Dịch vụ tín dụng (còn gọi là các dịch vụ tài chính)
Ở Việt Nam hiện nay các công ty chứng khoán không được phép trựctiếp cho vay cũng như cầm cố chứng khoán nói chung và trái phiếu nói riêng,dịch vụ tín dụng được áp dụng dưới dạng các hợp đồng repo (mua bán lại), ủythác đầu tư hay hỗ trợ mua Đặc biệt dịch vụ repo trái phiếu, khách hàngthông qua các hợp đồng repo có thể huy động được 1 lượng vốn để đầu tư,còn công ty chứng khoán thu lời qua việc bán lại trái phiếu theo giá dựa trên
Trang 24lãi suất repo.
Dịch vụ tư vấn
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư trái phiếu là việccông ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên,phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khácliên quan phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường trái phiếu
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Quy mô và khả năng tài chính của công ty chứng khoán
Quy mô và khả năng tài chính của công ty chứng khoán Quy mô củacông ty chứng khoán cũng như khả năng tài chính giúp cho khoản vay (thôngqua phát hành trái phiếu) được đảm bảo, mức rủi ro của trái phiếu theo đó tỷ
lệ nghịch với quy mô và khả năng tài chính của công ty Khả năng tài chínhvững vàng còn giúp công ty chứng khoán thực hiện tốt việc đa dạng hóa cáckhoản đầu tư, đồng thời do trái tức của trái phiếu có khả năng sinh lời thấphơn cổ phiếu nên việc đầu tư vào trái phiếu đòi hỏi nguồn vốn lớn với chi phíhuy động thấp Khả năng tài chính còn giúp các công ty chứng khoán mởrộng phạm vi cũng như quy mô của các dịch vụ công ty cung cấp trên thịtrường trái phiếu, đặc biệt là các hoạt động về tín dụng và bảo lãnh phát hành
Mạng lưới thông tin và phân tích thông tin
Mạng lưới thông tin và khả năng phân tích Hệ thống thông tin công tychứng khoán tham ra vào thị trường trái phiếu là hệ thống chỉ tiêu, tư liệu liênquan đến trái phiếu và thị trường trái phiếu, là những chỉ tiêu phản ánh bứctranh của thị trường trái phiếu và tình hình kinh tế, chính trị tại những thờiđiểm hoặc thời kỳ khác nhau của từng quốc gia, từng ngành, nhóm ngành…theo phạm vi bao quát của mỗi loại thông tin