Việc thiết lập mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức là tất yếu khách quan……… Thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa pháp luật và đạo đức là yêu cầu, điều kiện của việc xây dựng đội ngũ cán
Trang 1MỤC LỤC
1.1
1.1.1
1.1.2
1.1.3
1.2
1.2.1
1.2.2
1.2.3
1.3
1.3.1
1.3.2
1.4
1.4.1
1.4.2
1.4.3
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY………
Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong lĩnh vực y tế và đạo đức ngành y,mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế………
Khái niệm và các thuộc tính của pháp luật trong lĩnh vực y tế………
Khái niệm và đặc điểm của đạo đức và đạo đức y tế………
Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế…………
Những vấn đề lý luận cơ bản về cán bộ, công chức, viên chức y tế……
Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức………
Những đặc điểm đặc thù của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế Tiêu chí cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế………
Vai trò của pháp luật và đạo đức đối với việc điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế………
Vai trò của pháp luật đối với việc điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế………
Vai trò của đạo đức đối với việc điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế………
Ý nghĩa của việc thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế………
Việc thiết lập mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức là tất yếu khách quan………
Thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa pháp luật và đạo đức là yêu cầu, điều kiện của việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế………
Việc thiết lập mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức hài hòa trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, lĩnh vực y tế………
1
7
7
7
11
14
20
20
23
27
28
29
30
33
33
34
37
Trang 21.5
2.1
2.1.1
2.1.2
2.2
2.3
2.4
2.4.1
2.4.2
3.1
3.2
3.2.1
3.2.2
3.2.3
3.2.4
Đặc trưng của mối quan hệ pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức lĩnh vực y tế………
Kết luận chương 1………
Chương 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VIÊN CHỨC ÁP DỤNG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY………
Thực trạng pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức áp dụng lĩnh vực y tế ở Việt Nam hiện nay………
Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tế………
Thực trạng áp dụng pháp luật trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức y tế………
Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức y tế ở Việt Nam hiện nay………
Thực trạng y đức ở Việt Nam trong mối tương quan với việc xây dựng và thực hiện pháp luật trong xây dựng đội ngũ CBCCVC lĩnh vực y tế
Những thành tựu và hạn chế của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế ở VN hiện nay và những nguyên nhân chủ yếu……
Những thành tựu và hạn chế của quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội ngũ CBCCVC lĩnh vực y tế………
Nguyên nhân của hạn chế trong những hoạt động kết hợp giữa pháp luật và đạo đức………
Kết luận chương 2………
Chương 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CBCCVC ÁP DỤNG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY………
Một số quan điểm, nguyên tắc chung………
Kiến nghị những giải pháp chung………
Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật
Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa trên cơ sở mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
Nâng cao chất lượng công tác tổ chức và thực hiện pháp luật Đổi mới, đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật, coi trọng giáo
37
39
42
42
42
46
53
56
58
58
68
70
72
72
76
76
77
80
Trang 33.2.5
3.2.6
3.3
3.3.1
3.3.2
3.3.3
3.3.4
3.2.5
dục đạo đức
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật
Giải pháp ghi nhận đạo đức nhiều hơn vào các văn bản pháp luật
Kiến nghị những giải pháp cụ thể
Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế
Xây dựng đội ngũ nhân lực CBCCVC lĩnh vực y tế đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, vừa có đức vừa có tài
Có chế tài nghiêm khác đối với vi phạm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
Các giải pháp về thực hiện kiểm tra việc thực hiện pháp luật và đạo đức nghề y của CBCCVC lĩnh vực y tế
Nâng cao y đức gắn liền nâng cao y thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế
Kiến nghị
Kết luận chương 3
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
82
82
83
83
84
85
87
87
88
91
94
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
7 ĐHQGHN Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i
8 HTGDQD Hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 649
2 Bảng 2.2 Báo cáo số liệu xử lý kỷ luật phân chia theo đối
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, trong thư gửi Hội nghị cán bộ ngành y vào năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lương y phải như từ mẫu” Đó không chỉ là lời căn dặn của vị Cha già dân tộc, mà còn là sự trông đợi, gửi gắm, những đòi hỏi của nhân dân về phẩm chất, đạo đức đối với một công việc hết sức đặc thù, cao quý, nhưng đầy gian lao, thử thách - nghề chăm sóc, cứu chữa người bệnh hay còn được gọi là nghề y
Y tế được gọi là nghề đặc thù vì không chỉ có những đòi hỏi cao về chuyên môn, nghiệp vụ, mà trên hết là những yêu cầu về y đức của cán bộ, công chức, viên chức ngành y, bởi công việc của họ gắn chặt với tính mạng, sức khỏe của con người, cũng như của cả cộng đồng
Tuy vậy, trong những năm gần đây, dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, sự yếu kém trong quản lý, thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật, cũng như những tác động tiêu cực khác đến từ xu thế thời đại và nhu cầu thực tiễn cuộc sống, y đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức ngành y đã xuống đến mức báo động, gây bức xúc trong dư luận Ngày càng nhiều những biểu hiện vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật của CBCCVC ngành y Sự vô cảm với người bệnh, nhũng nhiễu hạch sách, vòi vĩnh bệnh nhân, có lối sống hưởng thụ, thực dụng, chạy theo đồng tiền,… được xem là căn bệnh nguy hiểm trong ngành y bởi thực trạng này đã kéo dài
và ngày càng trở nên trầm trọng, gây bức xúc trong nhân dân
Y đức là cái gốc của văn hóa ngành y, vấn đề y đức liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của ngành y tế Sự xuống cấp về y đức cũng giống như một căn bệnh của ngành y, muốn chữa được nó thì cần phải chữa từ tận gốc rễ, từ căn nguyên của căn bệnh và phải bằng biện pháp cụ thể Vậy đâu là những phương tiện chủ yếu điều chỉnh hành vi cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức trong lãnh vực y tế
Pháp luật và đạo đức đều là hai phương tiện quan trọng bậc nhất để điều chỉnh hành vi của con người Dù cho cả pháp luật và đạo đức đều có những hạn chế
Trang 82
nhất định, song giữa chúng luôn có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Giữa pháp luật và đạo đức có một số điểm khác biệt nhưng nó không hề đối lập, mâu thuẫn xung đột với nhau mà sự khác biệt thể hiện điểm mạnh, điểm yếu khác nhau giữa pháp luật và đạo đức Thế mạnh của pháp luật là khả năng điều chỉnh rõ ràng, dứt khoát và đảm bảo thực hiện pháp luật bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước với
hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật Trong khi đó thế mạnh của đạo đức lại là khả năng điều chỉnh tất cả mọi quan hệ xã hội, mọi góc độ tình cảm trong đời sống cá nhân và nhà nước, cá nhân với cá nhân và cá nhân với bản thân chính mình
Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong đào tạo, xây dựng đội ngũ CBCCVC y tế hiện nay vẫn chưa được chú trọng tìm hiểu một cách thảo đáng Sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức như là công cụ điều chỉnh đặc thù trong ngành y còn chưa được đề cao, thiếu hiệu quả dẫn đến tình trạng giảm sút về y đức
Trong xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y
tế, phương pháp hiệu quả nhất là biết kết hợp các phương thức quản lý khác nhau trên cùng một đối tượng nhằm bổ sung, lấp đầy khoảng trống trong nhau Tuy pháp luật và đạo đức không phải là hai công cụ duy nhất được dùng trong quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Việt Nam nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế nói riêng, song đây là hai công cụ cơ bản đem lại hiệu quả tối ưu và lâu bền Vận dụng tốt mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất về đạo đức và ý thức pháp luật
Thực tế, những hạn chế tiêu cực trong lãnh vực y tế cùng với y đức của người thầy thuốc đang là vấn đề thời sự nóng bỏng mà cả xã hội quan tâm và cần
được khắc phục Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức áp dụng trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật nhận được sự quan tâm rất lớn của cộng đồng khoa học, trong đó trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu sau
Trang 93
Trên các tạp chí chuyên ngành như Nhà nước và pháp luật, Nghiên cứu lập pháp, Luật học, Triết học có khá nhiều công trình của các tác giả đề cập tới vấn đề này Tác giả Hoàng Thị Kim Quế có hàng loạt bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức: Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức với việc điều chỉnh hành vi con người trong quản lý xã hội (Tạp chí Đại học Quốc gia, chuyên đề khoa học xã hội, số 4/1997); Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/1999); Một
số suy nghĩ về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2000); Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp pháp luật và đạo đức (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2002); Vấn đề kết hợp quản lý xã hội bằng pháp luật với giáo dục nâng cao đạo đức ở nước ta hiện nay (Tạp chí Triết học, số 12/2002); Những vấn đề hôm nay của pháp luật và đạo đức (Tạp chí Luật học số 7/2006) Tác giả Trần Hậu Thành có bài viết Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật (Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị, số 5/1998)
Mặc dù đều là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, tuy nhiên, với dung lượng hạn chế của một bài tạp chí, nên nhìn chung các tác giả đều dừng lại ở việc phân tích một vài khía cạnh của vấn đề, không có điều kiện để giải quyết toàn diện các khía cạnh của nó
Công trình nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia của tiến sĩ Hoàng Thị Kim Quế: "Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay" (Năm 2002) Công trình nghiên cứu khá toàn diện các vấn đề như vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong quản lý xã hội; tính cấp thiết khách quan của việc kết hợp pháp luật, đạo đức trong quản lý xã hội; việc kết hợp giữa pháp luật với đạo đức trên thực tế trong một số lĩnh vực pháp luật cụ thể; trên
cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Nam năm 2005, Đại học Luật Hà Nội: “ Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay” đã đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật ở nước ta
Trang 104
hiện nay, phân tích thành tựu và hạn chế của mối quan hệ này và đưa ra những giải pháp để hoàn thiện mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thuý Hoa với đề tài “kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý nhà nuớc ở Việt Nam hiện nay” năm 2006 tại Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh; luận văn luận giải tính tất yếu của việc kết hợp pháp luật
và đạo đức trong quản lý nhà nuớc; thực trạng kết hợp và một số giải pháp cơ bản
Luận văn thạc sĩ của Trần Gia Ninh, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội: Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, liên hệ vào lĩnh vực đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm Luận văn này đã góp phần làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong nhà nước pháp quyền, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật, thực trạng mối liên hệ giữa đạo đức và pháp luật trong điều kiện nền kinh tế thị trường Luận văn cũng đưa ra một số giải pháp tăng cường quản lý xã hội và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm bằng pháp luật kết hợp với đạo đức trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập
Trong lĩnh vực y tế, mối quan hệ này chưa được quan tâm đúng mực, nhất là nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực cho ngành y – chìa khóa để nâng cao y đức ,chưa
hề có một nghiên cứu sâu sắc nào về “Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức áp dụng trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay” Vì vậy việc nghiên cứu, điều tra, phân tích để thấy
được mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung và trong lĩnh vực y tế nói riêng ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải đi sâu đi sát, thu thập thông tin thực tế, tìm ra quy luật, tìm ra những hạn chế thực tiễn để bàn bạc tìm giải pháp khắc phục
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
áp dụng trong lĩnh vực y tế Phân tích thực trạng y đức của đội ngũ cán bộ y tế trong
Trang 115
thời gian qua cũng như tìm những nguyên nhân của nó, nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật về ngành y, nghiên cứu thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực y tế, nhất là trong xây dựng đội ngũ Từ đó xây dựng phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lãnh vực y tế
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được được mục đích đó, tác giả luận văn xác định những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về đạo đức ngành y, pháp luật lĩnh vực y tế và mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực y tế
- Làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng
đô ̣i ngũ cán bộ, công chức viên chức y tế ở Việt Nam hiện nay
- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu: Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức và mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến pháp luật trong lĩnh vực y tế, đạo đức ngành y và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức viên chức trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, điều tra xã hội học… nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra
6 Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức áp dụng trong lĩnh vực y tế
Trang 126
Nêu lên được những thực trạng những vấn đề về đạo đức và pháp luật ngành
y tế, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đưa ra được những ví dụ sinh động nhằm minh họa thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, lĩnh vực y tế
Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng mối quan hệ trong xây dựng đội ngũ công chức ngành y có đủ đức tài, vừa hồng vừa chuyên
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, đạo đức trong lĩnh vực
y tế, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức áp dụng trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức áp dụng trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị, hoàn thiện mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức y tế áp dụng trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam hiện nay
Trang 137
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, đạo đức trong lĩnh vực y tế, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay
1.1.1 Khái niệm và các thuộc tính của pháp luật trong lĩnh vực y tế
1.1.1.1 Khái niệm pháp luật
Pháp luật y tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật của quốc gia,
vì vậy trước khi đi vào xác định khái niệm pháp luật y tế, tác giả xin trình bày một
số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật nói chung và lấy đó làm nền tảng, cơ sở để xác định nội hàm của khái niệm pháp luật y tế
Để tổ chức và quản lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực y tế, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý phải thường xuyên sử dụng các công cụ quản lý tác động lên đối tượng quản lý Pháp luật là một công cụ quan trọng giúp Nhà nuớc quản lý các quan hệ xã hội đúng mục đích
Trong quá trình nghiên cứu, có rất nhiều tài liệu với các cách giải thích khác nhau về khái niệm pháp luật, có thể kể đến một số khái niệm pháp luật như sau:
Theo quan điểm giáo trình lý luận nhà nuớc và pháp luật của Đại học Luật
Hà Nội năm 2003: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban hành
và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội” [52, tr102]
Theo quan điểm giáo trình lý luận nhà nuớc và pháp luật của Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2005: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội” [26, tr 288]
Trang 148
Theo quan điểm giáo trình lý luận nhà nuớc và pháp luật của Đại học Luật năm 2010: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử xự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể” [53, tr98]
Trên cơ sở những quan điểm nêu trên, có thể thấy pháp luật có những đặc điểm sau: Pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, pháp luật do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, pháp luật là phương tiện để xác định, thiết lập trật tự xã hội
có hiệu lực bắt buộc và được kiểm soát, đảm bảo, bảo vệ của Nhà nước Tuy nhiên, khác với hệ thống pháp luật quốc gia, pháp luật y tế chỉ điều chỉnh mảng quan hệ xã hội gắn liền với lĩnh vực y tế
Kế thừa có chọn lọc các khái niệm trên tác giả luận văn đồng ý với quan điểm pháp luật là hệ thống các quan điểm pháp luật là “hệ thống các quy tắc xử sự
có tính bắt buộc chung do Nhà nuớc đặt ra hoặc thừa nhận” nhưng không đồng ý với quan điểm “thể hiện ý chí của giai cấp thống trị”, bởi ngoài ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội hiện nay pháp luật còn phải thể hiện ý chí chung của toàn xã hội Do đó, tác giả luận văn mạnh dạn đề xuất khái niệm pháp luật lĩnh vực y tế như sau: Pháp luật y tế là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh mối quan hệ trong lĩnh vực y tế theo mục tiêu, định hướng cụ thể và được Nhà nước đảm bảo thực hiện
1.1.1.2 Thuộc tính cơ bản của pháp luật trong lĩnh vực y tế
Các sự vật, hiện tượng xã hội được phân biệt với nhau nhờ vào các thuộc tính của chúng Thuộc tính là những dấu hiệu đặc trưng riêng có của sự vật, hiện tượng Thuộc tính của pháp luật là những dấu hiệu riêng có của pháp luật, là tiêu chí
để phân biệt pháp luật với các hiện tượng xã hội khác, các quy phạm pháp luật khác Các thuộc tính cơ bản của pháp luật biểu hiện sức mạnh, ưu thế của pháp luật trong
hệ thống các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội Pháp luật trong lĩnh vực y tế là một phần của hệ thống pháp luật Việt Nam do đó, nó cũng có các thuộc tính cơ bản sau: Tính quy phạm phổ biến, bắt buộc chung, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, tính được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước
Trang 15- Pháp luật trong lĩnh vực y tế thể hiện sự tương quan giữa pháp luật về y tế với sự phát triển của ngành y tế với sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước, kể cả trình độ, năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế Do vậy, pháp luật trong lĩnh vực y tế còn thể hiện mối quan hệ với pháp luật về y tế với các yếu tố kinh tế, chính trị, đạo đức, truyền thống và các quy phạm xã hội khác Pháp luật y tế không chỉ điều phối các quan hệ xã hội đã định hình mà còn phải có khả năng dự báo, tức là điều chỉnh những quan hệ mới sẽ nảy sinh trong lĩnh vực y tế
- Đặc thù về đối tượng điều chỉnh của pháp luật lĩnh vực y tế:
Các quan hệ phát sinh giữa cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở y tế trong toàn quốc Các quan hệ phát sinh giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến các dịch vụ y tế, các chính sách về y tế…
Các quan hệ phát sinh trong việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy y tế, cải tiến chế độ làm việc, hoàn chỉnh các quan hệ công tác của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý y tế, hoạt động kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện pháp luật của các cơ quan, đơn vị trực thuộc, các tổ chức và cá nhân thuộc lĩnh vực y tế, xử lí các cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật y tế
Các quan hệ phát sinh trong hoạt động y tế: Giữa bộ y tế với cơ sở trực thuộc; giữa cá nhân hoạt động trong lĩnh vực y tế với những người được hưởng, sử dụng dịch vụ, chế độ y tế, chăm sóc, khám, chữa bệnh; hoạt động giữa các cơ sở y
tế, tổ chức đối với những người có liên quan đến dịch vụ y tế, những người được hưởng, sử dụng dịch vụ y tế, chăm sóc, khám, chữa, bệnh…
Trang 1610
- Đặc thù về phương thức điều chỉnh của pháp luật lĩnh vực y tế
Phương thức điều chỉnh của pháp luật y tế là cách thức nhà nước áp dụng trong việc điều chỉnh bằng pháp luật để tác động đến các quan hệ y tế Phương thức điều chỉnh pháp luật y tế là phương thức điều chỉnh mệnh lệnh được điều chỉnh theo quan hệ
“ quyền lực – phục tùng” giữa một bên có quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc với một bên là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có ý nghĩa phục tùng
Ngoài phương thức điều chỉnh mệnh lệnh, phương pháp điều chỉnh của pháp luật lĩnh vực y tế còn là đảm bảo sự bình đẳng giữa những người bệnh với cơ sở y
tế, những người được hưởng, sử dụng dịch vụ y tế, chế độ y tế, chăm sóc khám chữa bệnh Những chủ thể đó có quyền lựa chọn dịch vụ y tế, lựa chọn chế độ y tế, chế độ chăm sóc, khám, chữa, bệnh
- Đặc thù pháp luật lĩnh vực y tế là lĩnh vực chịu sự tác động mạnh mẽ, sự tham gia tích cực của các quy tắc đạo đức
Ngành y tế là ngành đặc thù vì liên quan đến tính mạng, sức khỏe của người bệnh, của nhân dân Người bệnh đến với người thầy thuốc trong tâm trạng buồn vui, tính tình, cảm xúc vừa do bệnh và nhiều yếu tố khác của cả cuộc đời chi phối Họ
hy vọng nhiều vào sự giúp đỡ của thầy thuốc Họ tin tưởng rằng, trí tuệ, lòng nhân đạo cao cả của người thầy thuốc sẽ cứu họ thoát khỏi sự đau đớn về thể xác, tinh thần để trở về với gia đình, đơn vị công tác và xã hội Ngược lại, người thầy thuốc
do chức năng, nhiệm vụ của nghề nghiệp mà đi sâu vào đời sống người bệnh từ thể chất - tâm sinh lý một cách nhân đạo, sâu sắc Do tính đặc thù của đối tượng nghề y, nên một thiếu sót dù nhỏ cũng có thể gây ra hậu quả lớn Xuất phát từ đặc điểm ấy,
xã hội luôn yêu cầu cao đối với người thầy thuốc: Phải có lòng nhân đạo, lương tâm
và trách nhiệm với người bệnh, phải có trình độ trong các vấn đề khác nhau của y học, phải tận tụy với công việc, phải có các đức tính cao hơn các nghề khác là yêu nghề, yêu con người Vì vậy, pháp luật y tế phải có quy định về y đức Nếu pháp luật y tế không có quy định về y đức thì rất nguy hiểm, thậm chí bác sĩ có thể sẽ đem cơ thể bệnh nhân ra làm thí nghiệm
Trang 1711
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của đạo đức và đạo đức y tế
1.1.2.1 Khái niệm đạo đức
Ở phương Đông, Trung Quốc là nơi mà các nhà tư tưởng nói đến đạo đức nhiều nhất, điển hình là Nho giáo Trong tiếng Trung Quốc đạo đức có nghĩa là Đạo lý và Đức hạnh là con đường đúng đắn (phép tắc) mà hành vi con người phải nghe theo
Ở Phương Tây, đạo đức là vấn đề được thu hút bởi nhiều nhà tư tưởng Cho đến nay người ta vẫn coi Xôcrat [469- 399 tr.CN] là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức Còn Arixtốt [384- 322 tr.CN] đã viết 10 bộ sách đạo đức học, trong đó ông quan tâm đến phẩm hạnh đạo đức con người Nội dung phẩm hạnh chính là biết định hướng, biết làm việc thiện
Đạo đức là một khái niệm hết sức phức tạp, khái niệm này vừa hết sức phổ biến trong dân gian, vừa đậm chất học thuật, bới vậy nó được hiểu theo nhiều cách khác nhau trong những thời gian, không gian, đối tượng khác nhau
Trong đời sống hàng ngày đạo đức được quan niệm là đức hạnh, phẩm hạnh của con người, là những nét đẹp, nét tốt, “những phẩm chất tốt đẹp, của con người
do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức đã có” [49, tr280] Như vậy, trong đời sống thường ngày, đạo đức được đồng nhất với ý thức, phẩm chất đạo đức cá nhân
Trong khoa học, đạo đức được hiểu theo nhiều nghĩa với phạm vi rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa hẹp, đạo đức là: “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận thừa nhận, qui định hành vi, quan hệ của con người với nhau và đối với xã hội [27, tr280]
Trong pháp luật Việt Nam hiện hành đạo đức cũng được đề cập đến tại điều
128 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”
Đạo đức trong lĩnh vực y tế còn được hiểu là y đức
Ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, các thầy thuốc phải đọc Lời thề Hippocrates khi chuẩn bị ra trường để hành nghề Lời thề này được các sinh viên Y khoa đọc và nguyện làm theo trong lễ tốt nghiệp Trong lịch sử y học Việt Nam, các bậc danh y đều cho rằng, y đức quan trọng không kém gì y thuật Trong số đó, chúng
ta phải kể đến Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-
Trang 18y, Hải Thượng Lãn Ông cho rằng, một người thầy thuốc chân chính không những phải có kiến thức vững vàng về chuyên môn, mà còn phải tự xác định cho mình những quy chuẩn đạo đức đúng đắn, đó là ý nghĩa đích thực của đạo làm thuốc và cũng là bí quyết để xây dựng và phát triển nghề y Ông viết: “Suy nghĩ thật sâu xa tôi hiểu rằng thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình nắm, hoạ phúc một tay mình giữ Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh học đòi cái nghề cao quý đó chăng” [51, tr21] Theo đó, có thể thấy rằng, Hải Thượng Lãn Ông quan niệm bổn phận của người thầy thuốc không dừng lại ở một đạo đức thông thường Mà hơn thế, bổn phận của người thầy thuốc còn thể hiện ra trong toàn bộ cac quan hệ đối với nghề nghiệp, từ khả năng nhận thức chuyên môn tới quan niệm về mục đích nghề nghiệp và thái độ đối với người bệnh, với đồng nghiệp, đặc biệt là bổn phận của người thầy thuốc trước sự cơ cực của người bệnh nghèo, những người thiếu may mắn trong xã hội đương thời Ông gọi đó là y đạo
Kế thừa truyền thống y đức của ông cha ta, tiếp thu tinh hoa y đức nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc trau dồi và rèn luyện y đức Người đã nhiều lần gửi thư và trực tiếp gặp, thăm các cơ sở y tế, bày tỏ quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về phẩm chất của người thầy thuốc Người đã tặng cán bộ, nhân viên ngành y danh hiệu: “Thầy thuốc như mẹ hiền” Danh hiệu đó vừa là sự đánh giá cao của Người đối với những đóng góp của ngành y, vừa là một yêu cầu của Người đối với mỗi cán bộ y tế về y đức [29, tr32]
Trang 1913
Nói đến ngành y là nói đến y đức, y đạo, y thuật Y đức là những phẩm chất tốt đẹp, cao quý của những người làm nghề y, được thể hiện qua thái độ, tinh thần, trách nhiệm, hết lòng thương yêu, chăm sóc người bệnh, coi sự đau đớn của người bệnh như chính sự đau đớn của mình Y đức không ở đâu xa, nó là thái độ, văn hóa giao tiếp, ứng xử phục vụ người bệnh, cung cách phục vụ -cái mà người bệnh đang rất cần Do đó, ngành y tế, nhân dân và người bệnh rất cần đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế có đạo đức nghề nghiệp, nắm vững các quy định về chuyên môn y tế, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ
Tóm lại, theo quan điểm cá nhân: Y đức là tiêu chuẩn, là quy tắc đạo dức đặt
ra nhằm điều chỉnh hành vi xử xự và quan hệ của người thầy thuốc có liên quan đến nghề nghiệp của mình
1.1.2.2 Đặc điểm của đạo đức nghề y
Đạo đức trước hết là hệ thống những quan niệm, quan điểm, tư tưởng của một cộng đồng ( dân tộc, giai cấp, tôn giáo) về thiện – ác, tốt – xấu, chân - giả, vinh – nhục, về sự công bằng, nghĩa vụ, danh dự và về những phạm trù khác thuộc đời sống tinh thần xã hội, trong đó cơ bản và cốt lõi là quan điểm về điều thiện trong xã hội Trên cơ sở các quan niệm, quan điểm đó, là một hệ thống các qui tắc ứng xử của con người được hình thành Những quan điểm, quan niệm, qui tắc đạo đức như vậy đã đi vào đời sống, được thực hiện hóa thành hành vi đạo đức một cách sống động, trở thành đạo đức trong cuộc sống Sau cùng đến lượt mình, hành vi của các chủ thể lại trở thành đối tượng đánh giá của cộng đồng cũng như của chính bản thân chủ thể Sự đánh giá này là một mắt khâu của việc điều chỉnh bằng đạo đức đối với hành vi của con người Sự đồng tình hay phản đối của cộng đồng đối với hành vi của một chủ thể không chỉ có vai trò củng cố đạo đức, hoàn thiện nhân cách, định hướng cho hành vi chủ thể đó mà nó còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành
và hoàn thiện các quan niệm, quan điểm, qui tắc đạo đức xã hội Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khảng định, hoặc phủ định một lợi ích chính đáng hoặc không chính đáng nào đó Nghĩa là nó thể hiện sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng xã hội nhất định Vì vậy, đạo đức là nội dung hợp thành giá trị xã hội Nội dung của đạo
Trang 2014
đức là do hoạt động thực tiễn và tồn tại xã hội quyết định Nhận thức xã hội đem lại các hình thức cụ thể của phản ánh đạo đức, làm cho đạo đức tồn tại như một lĩnh vực độc lập về sản xuất tinh thần trong xã hội
Sự hình thành phát triển, hoàn thành bản chất xã hội của đạo đức được quy định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của nhận thức xã hội con người Nói cách khác, nội dung khách quan của các quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, Các chuẩn mực đạo đức chính là biểu hiện của trạng thái, một trình độ phát triển nhất định của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế Với tính cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức mang những đặc điểm sau:
Nguyên lý của y đức bao gồm tôn trọng quyền tự quyết của người bệnh, có tình thương, không làm điều tổn hại và đối xử công bằng với người bệnh/gia đình người bệnh
Tôn trọng quyền tự quyết của người bệnh là tôn trọng nhân phẩm, giữ gìn bí mật của người bệnh và tôn trọng quyền lựa chọn các biện pháp chăm sóc của người bệnh/gia đình người bệnh sau khi người bệnh đã được cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến bệnh tật của họ
Tình thương được định nghĩa như sự hiểu biết và quan tâm tới nỗi đau của một người, nó cần thiết cho thực hành y học Tình thương là luôn làm điều tốt cho người bệnh Người bệnh đáp ứng tốt hơn với điều trị nếu họ nhận được cảm thông với sự quan tâm và đối xử hợp lý hơn là chỉ quan tâm đến tình trạng ốm đau của họ
Không làm điều tổn hại: Trong nghề y, hầu như việc áp dụng bất cứ một biện pháp chăm sóc nào cũng có thể xuất hiện nguy cơ gây hại cho người bệnh Do vậy, trách nhiệm của cán bô ̣ , công chức, viên chức ngành y tế là phải cân nhắc để đảm bảo ít gây tổn hại nhất cho người bệnh
Cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế không phân biệt đẳng cấp, tôn giáo, dân tộc, … khi chăm sóc người bệnh
1.1.3 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế
Triết học Mac- Lênin khẳng định rằng trong thế giới vật chất, các sự vật hiện tượng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ, liên hệ với nhau Khái niệm quan
Trang 211.1.3.1 Sự thống nhất giữa pháp luật và đạo đức nghề y
Pháp luật và đạo đức nghề y đều là những công cụ điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế
Pháp luật và y đức đều có chức năng chung là điều chỉnh hành vi của con người và các mối quan hệ xã hội Giữa pháp luật về y tế và đạo đức nghề y, xét về nguyên tắc, không có một sự đối lập nào, cả hai đều hướng tới công bằng, vì con người, bảo vệ con người, vì sự thiết lập những quan hệ tốt đẹp trong xã hội
Điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế, pháp luật
và y đức đều mang tính quy phạm phổ biến, chúng đều là những mô hình, những khuôn mẫu xử sự cho hành vi cụ thể Trong lĩnh vực y tế, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành, nó có tác động đến tất cả các cá nhân, các tổ chức, các cơ quan y tế trên mọi vùng lãnh thổ của đất nước Trong khi đó, đạo đức nghề y là những chuẩn mực về hành vi con người liên quan đến những gì được xem
là tốt và đúng soi với những cái gì được xem là xấu và sai
1.1.3.2 Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức ngành y tế
Pháp luật và đạo đức không tồn tại biệt lập, tách rời mà giữa chúng luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Mặt dù đều là công cụ điều chỉnh hành vi con người, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quản lý xã hội, tuy nhiên giữa pháp luật và đạo đức ngành y tế vẫn có sự khác biệt nhau
- Về biện pháp đảm bảo thực hiện
Pháp luật do nhà nước ban hành nên nó được nhà nước đảm bảo thực hiện Tùy theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, nhà nước có thể sử dụng một hay kết hợp nhiều biện pháp như tuyên truyền giáo dục, tổ chức thực hiện, các biện pháp hành chính và cuối cùng là sự cưỡng chế nhà nước Thông qua bộ máy tuyên truyền
Trang 2216
phổ biến giáo dục pháp luật của nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y
tế nắm bắt được những qui định của pháp luật, từ đó họ có thể điều chỉnh hành vi đi theo một “hành lang pháp lý” mà nhà nước định hướng sẵn
Khác với pháp luật, “đạo đức được đảm bảo trước hết nhờ yếu tố kích thích nội tâm của con người - sức mạnh từ bên trong, từ lương tâm, từ thói quen xử sự và
từ sức mạnh bên ngoài - dư luận xã hội” [32, tr13] Một trong các biện pháp đảm bảo cho đạo đức được thực hiện, trước hết phải kể đến biện pháp tuyên truyền giáo dục - biện pháp đầu tư tác động vào tư duy, tình cảm nhận thức của con người
Chính thông qua giáo dục, nhân cách con người được hình thành và xây đắp
bổ sung Môi trường xã hội chính là nơi để các chủ thể tự học hỏi và xây dựng lương tâm cho mình Lương tâm của con người không phải là phạm trù thiên bẩm sẵn có mà “phần nhiều do giáo dục mà nên” Có lương tâm chủ thể nhận thức được
ý nghĩa tích cực, tác dụng to lớn trong xử sự mà từ đó tự giác thực hiện việc nào đó, hoặc kiềm chế không thực hiện Khác với các biện pháp cưỡng chế nhà nước, sự phán xét “toàn án lương tâm” diễn ra “triền miên, day dứt, thậm chí trong suốt cả cuộc đời người vi phạm” [32, tr17] Khi người thầy thuốc không tận tình cứu chữa bệnh nhân dẫn đến tình trạng đáng tiếc xảy ra thì chính bản thân người thầy thuốc
đó sẽ bị cắn dứt, dày vò lương tâm
Dư luận xã hội là biện pháp đảm bảo rất quan trọng của đạo đức ngành y tế Sống trong cộng đồng, không ai có thể xa lánh hoặc chạy trốn dư luận mãi mãi Trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức, dư luận đánh giá hành vi đó thiện hay ác, thật hay giả, tốt hay xấu…qua đó thể hiện thái độ đồng tình hay phản đối một hành vi nào đó Nếu thầy thuốc tỏ ra ít tế nhị, ít mật thiết, lạnh lùng, thậm chí ráo hoảnh với bệnh nhân thì không một tòa án nào xét xử nhưng dư luận sẽ có những đánh giá, sẽ
có những thái độ đồng tình hay phản đối
Trang 2317
đạo đức dù chúng được tồn tại trong trạng thái xã hội sơ khai nhất hay trong một xã hội văn minh phát triển vượt bậc Đạo đức là một yếu tố tinh thần không thể tách rời hành vi của con người, bởi vì mỗi cá nhân đều có một vị trí nhất định trong xã hội,
và bao giờ ở đâu họ cũng luôn phải chú ý xử sự thế nào cho phù hợp hài hòa với môi trường xã hội xung quanh Như vậy, ngay cả các quan hệ do pháp luật tạo ra thì sau khi nó tồn tại trong đời sống, đạo đức cũng tham gia điều chỉnh, tuy nhiên với những trường hợp này, đạo đức chỉ điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể với tư cách
là những cá nhân con người với nhau "Trên thực tế, không một lĩnh vực quan hệ xã hội nào từ lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế-kinh doanh, quân sự, hành chính, pháp lý mà lại không có quan hệ ít nhiều với đạo đức, từ các phạm trù của đạo đức: thiện-ác, tốt-xấu, vinh nhục, nhân đạo, công bằng, lương tâm" [32, tr15] Có thể thấy, đạo đức không chỉ là quy tắc hành vi của con người trong quan hệ với nhau
mà nó còn là quy tắc để chủ thể tự điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ với chính mình
Nếu như pháp luật là những "đòi hỏi tối thiểu" phải có trong xử sự với mọi người thì đạo đức là những "đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa" Chẳng hạn trong luật khám chữa bệnh năm 2009 tại điều 6 quy định về các hành vi cấm: “Từ chối hoặc
cố ý chậm cứu chữa người bệnh”, trong trường hợp khẩn cấp bệnh nhân là người nghèo vẫn được khám chữa bệnh, nhưng chỉ được miễn phần tiền viện phí theo điểm khoản 2 điều 3 Nghị định số: 95/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 27/8/1994 những đối tượng được giảm một phần viện phí: “người bệnh quá nghèo” Còn đạo đức thì đòi hỏi cao hơn, không chỉ là cứu chữa họ ra khỏi tình trạng nguy hiểm mà còn sẵn sàng cưu mang, giúp đỡ họ Pháp luật cũng chỉ điều chỉnh những hành vi mà tính chất, mức độ nguy hiểm đáng kể, xâm hại đến những quan hệ đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ; còn "tòa án lương tâm” có thể phán xét kể cả những hành
vi nhỏ nhất mà nhiều khi lỗi không thuộc về họ, ví dụ như nhiều y bác sĩ day dứt lương tâm khi chứng kiến những cái chết của bệnh nhân Ngoài ra, pháp luật chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội khi nó đã ổn định ở một mức độ nhất định, còn đạo đức do tính chất mềm dẻo, linh hoạt, nó có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội ngay từ khi nó
Trang 241.1.3.3 Sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức ngành y tế
- Sự tác động của đạo đức tới pháp luật
Thứ nhất, đạo đức là cơ sở của pháp luật: Về mặt nguyên lý, mỗi hệ thống pháp luật bao giờ cũng được xây dựng trên nền tảng đạo đức tương ứng và phù hợp với nền đạo đức đó Bởi đạo đức là “gốc của pháp lý” [25, tr25] Trên cơ sở một nền đạo đức nhất định, một hệ thống pháp luật được hình thành và phát triển, khi đạo đức xã hội thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi tương ứng của pháp luật Đạo đức là môi trường cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của pháp luật, là một trong những chất liệu làm nên những quy định trong hệ thống pháp luật Những quan điểm, quan niệm, chuẩn mực y đức đóng vai trò là tiền đề tư tưởng, chỉ đạo việc xây dựng pháp luật ngành y tế “Đạo đức là cơ sở, là môi trường thuận lợi để tiếp thu, cảm nhận và thực hiện pháp luật Đạo đức là yếu tố không thể thiếu được trong mỗi con người Thiếu đạo đức con người sẽ mất đi nhân tính, trong lĩnh vực pháp luật, thiếu đạo đức sẽ làm cho con người ta xử phạt người ngay, tha bổng kẻ phạm tội ” [25, tr26] Pháp luật y tế về cơ bản phải phù hợp với y đức, đạo đức là nguồn gốc của pháp luật, nhiều quy phạm pháp luật trong lĩnh vực y tế chính là sự luật hóa của các quy tắc y đức Ví dụ Quyết định số: 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11 nǎm 1996 của
Bộ trưởng Bộ Y tế về quy định y đức, Thông tư số 07/TT- BYT quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế ngày 25 tháng 02 năm
2014 là sự luật hóa của đạo đức ngành y Một nền pháp quyền tiến bộ, một hệ thống pháp luật y tế hoàn thiện phải được xây dựng trên nền tảng của đạo đức Đạo đức làm tăng tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật Thứ hai, Pháp luật bao hàm yếu tố đạo đức sẽ giúp tăng cường hiệu quả của pháp luật Đạo đức cũng giúp việc thực hiện pháp luật triệt để và hiệu quả hơn Thứ ba, Đạo đức có thể bổ xung cho pháp luật, có thể điều chỉnh những phạm vi mà pháp luật chưa vươn tới Thứ tư, Đạo đức
Trang 2519
lạc hậu có thể tác động một cách tiêu cực tới việc thực thi pháp luật tiến bộ của con người Thứ năm, đạo đức tác động đến việc hình thành các quy định của pháp luật
- Sự tác động của pháp luật tới đạo đức:
Pháp luật là chuẩn của đạo đức Trong xã hội có nhà nước, đạo đức và các thể chế khác phải lấy pháp luật làm chuẩn Thông qua những quy định cụ thể, pháp luật không cho phép hoặc cấm những hành vi thực hiện theo những quan điểm, quan niệm đạo đức xưa cũ, lạc hậu, không phù hợp với cuộc sống hiện đại Thêm vào
đó, xã hội ngày nay, khi những cánh cửa hội nhập đang mở rộng mang theo những ảnh hưởng của kinh tế, chính trị, văn hóa …hoặc khi những giá trị y đức không được các cán bộ công chức, viên chức lĩnh vực y tế nhận thức đúng đắn, việc giáo dục đạo đức trong gia đình và trong nhà trường bị coi nhẹ Trong những trường hợp đó, pháp luật là công cụ, là phương tiện hữu hiệu để diệt trừ cái ác, ngăn chặn
sự băng hoại y đức trong xã hội
- Đạo đức và pháp luật có quan hệ chặt chẽ, gắn bó bổ sung cho nhau
Pháp luật và đạo đức không tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà giữa chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mặc dù đều là sản phẩm của tư duy con người, do con người sáng tạo ra, được sử dụng làm công cụ điều chỉnh hành vi con người, điều chỉnh các quan hệ xã hội, quản lý xã hội tuy nhiên giữa đạo đức và pháp luật đều có những điểm khác nhau, hạn chế nhất định Thông qua sự tác động của nhà nước và của xã hội đối với pháp luật và đạo đức được thể hiện Sự tác động của nhà nước và xã hội đối với đạo đức và pháp luật xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi khách quan của cuộc sống Hay nói cách khác chính đời sống xã hội làm cho pháp luật và đạo đức có mối quan hệ với nhau Chính đời sống xã hội qui định mối quan hệ giữa chúng Tất nhiên quan hệ giữa pháp luật và đạo đúc còn bị chi phối bởi mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, quan hệ giữa hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động quản lý xã hội cũng như nhiều yếu tố khác của đời sống xã hội
Pháp luật và y đức là công cụ điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức ngành y Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ “hữu cơ, bổ sung, hỗ
Trang 2620
trợ nhau” Giữa pháp luật và y đức đức luôn có sự rằng buộc, phụ thuộc lẫn nhau,
sự tồn tại và phát triển của pháp luật phụ thuộc khá lớn vào đạo đức và ngược lại
Pháp luật là chỗ dựa của y đức và y đức là cơ sở hình thành của pháp luật: Bản chất của pháp luật là tôn vinh đạo đức không cảm tính Hay nói đúng hơn pháp luật là những quy định về chuẩn mực đạo đức Nếu vì lý do nào đó chúng ta cảm thông với những hành vi phạm pháp thì bản chất tôn vinh đạo đức của pháp luật không được đảm bảo
Đạo đức hành nghề y hay còn gọi là y đức - giá trị căn bản của nghề y luôn luôn được đề cập trong quá trình phát triển của ngành y tế Giữa pháp luật về y tế và
y đức không có sự đối lập về quan niệm công bằng, thiện - ác, chủ nghĩa nhân đạo, lòng tin và lương tâm của con người…cho nên cả hai khái niệm này đều có sự gắn
bó, quan hệ mật thiết với nhau và hỗ trợ cho nhau Các nguyên tắc cơ bản của y đức được cụ thể hóa bằng các quy phạm pháp luật nên pháp luật bảo vệ và không thể dung thứ đối với các hành vi vi phạm y đức
1.2 Những vấn đề lý luận chung về cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế
1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ở nước
ta, khái niệm “cán bộ”, “công chức” có từ lâu Nhưng chỉ đến năm 1950, sau 05 năm đất nước ta giành độc lập thì khái niệm đó mới xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Văn bản đầu tiên là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định quy chế công chức Việt Nam Điều 1 của Sắc lệnh ghi: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay
ở nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”
Trải qua diễn biến phát triển của đất nước, các khái niệm trên cũng có nhiều cách gọi, được thể hiện dưới nhiều thể loại văn bản khác nhau Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khái niệm “cán bộ, công chức” được gọi chung là “cán bộ, công
Trang 2721
nhân viên chức nhà nước” Khái niệm này được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng Đội ngũ này được hình thành từ nhiều con đường, có thể do bầu cử, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, có thể do tuyển dụng, bổ nhiệm…
Đến thời kỳ đổi mới (sau năm 1986), trước yêu cầu khách quan cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Chính phủ Nghị định nêu rõ: “Công dân Việt nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”
Các khái niệm trên lần lượt được Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật
Viên chức năm 2012 phân biệt rõ ràng
1.2.1.1 Khái niệm cán bộ
Theo Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì Cán bộ được hiểu là:
Công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [48, Điều 4]
Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ
1.2.1.2 Khái niệm công chức
Theo Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì Công chức được hiểu là: “Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
Trang 2822
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung
là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [48, Điều 4]
Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức
1.2.1.3 Khái niệm viên chức
Theo Điều 2 của Luật viên chức năm 2010 thì Viên chức được hiểu là: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [50, Điều 3]
Như vậy viên chức được tuyển dụng theo hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý (trừ các chức vụ quy định là công chức) Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học
Theo quy định của pháp luật đa số những người làm việctrong lĩnh vực y tế chủ yếu là viên chức Số lượng viên chức trong lĩnh vực y tế hiện nay là khoảng 369.780 người [6]
Trang 2923
1.2.2 Những đặc điểm đặc thù của cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế
Nghị quyết 46/ NQ -TW, ngày 23/02/1005 của Bộ chính trị chỉ rõ nguyên tắc chỉ đạo nguồn nhân lực y tế, cụ thể là “nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” Để đổi mới quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế cần có nhận thức đúng đắn về tính chất đặc thù của nhân lực ngành y tế
Giáo dục, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế cần sự đầu tư lớn và lâu dài
Đặc thù cán bộ công chức, viên chức của ngành y tế liên quan đến tính mạng, sức khoẻ con người là ngành nhân đạo (thầy thuốc) vì vậy đòi hỏi người cán bộ y tế phải tinh thông nghề nghiệp, phải có lương tâm nghề nghiệp Phải được đào tạo nghiêm túc với thời gian dài hơn các ngành khác (6 năm học đại học sau đó phải học 1 năm chuyên khoa định hướng, 2 năm chuyên khoa cấp I rồi 2 năm chuyên khoa cấp II thành 11 năm hoặc 1 năm chuyên khoa định hướng, 2 năm thạc sỹ mới hành nghề giỏi được)
Việc tiếp nhận bác sỹ vào làm việc ở cơ sở y tế, bệnh viện căn cứ vào nhu cầu, yêu cầu của cơ sở sử dụng bác sỹ, vào năng lực và trình độ chuyên môn của người xin tuyển dụng Ngành y là một ngành rất đặc thù, việc đào tạo không chỉ ở lý thuyết mà còn đặc biệt nhấn mạnh đòi hỏi cao về năng lực thực hành Luật khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực từ 01/01/2011 đã quy định: người có văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế được cấp hoặc công nhận tại Việt Nam, trước khi được cấp chứng chỉ hành nghề, phải qua thời gian thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (18 tháng đối với bác sĩ, 12 tháng đối với y sĩ, 9 tháng đối với hộ sinh viên, điều dưỡng viên và kỹ thuật viên y học) Như vậy, sinh viên tốt nghiệp từ bất cứ trường nào để được hành nghề khám bệnh chữa bệnh cũng đều phải trải qua giai đoạn thực hành trước khi hành nghề mới được cấp chứng chỉ hành nghề
Hoạt động của ngành y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe nhân dân, tính mạng, sức khỏe của người bệnh
Trang 3024
Lao động ngành y là loại lao động đặc thù, gắn với trách nhiệm cao trước sức khoẻ của con người và tính mạng của người bệnh Là lao động hết sức khẩn trương giành giật từng giây từng phút trước tử thần để cứu tính mạng người bệnh Là lao động liên tục cả ngày đêm, diễn ra trong điều điện không phù hợp của quy luật sinh
lý con người làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ nhân viên y tế, trực đêm, ngủ ngày và ngược lại Lao động trong môi trường không thuận lợi, không phù hợp với tâm lý con người Tiếp xúc với người bệnh đau đớn, bệnh tật, độc hại, lây nhiễm, hoá chất, chất thải môi trường bệnh viện Là lao động cực nhọc căng thẳng (đứng
mổ hàng chục tiếng đồng hồ, tiếp xúc với tác nhân gây bệnh lây, lao, phong, HIV, AIDS.) Chịu sức ép nặng nề của dư luận xã hội, thái độ hành vi không đúng của người bệnh và người nhà bệnh nhân khi không thoả mãn nhu cầu của họ trong khi điều kiện đáp ứng không có, người thầy thuốc không thể thực hiện được
Nghề y là một nghề vất vả với những nguy cơ tiềm ẩn về bệnh nghề nghiệp cao Hàng ngày, hằng giờ, các y bác sỹ phải đối mặt với các loại bệnh tật, với ranh giới giữa sự sống và cái chết, với những người bệnh đau đớn và mệt mỏi Sự hi sinh trong ngành y là sự hi sinh thầm lặng, những người thầy thuốc âm thầm với những
ca trực, căng thẳng trong các phòng mổ nhưng đôi khi bất khả kháng khỏi tử thần,
để rồi, đôi khi nhận lại nhiều phản ứng nhạy cảm từ người nhà bệnh nhân và cộng đồng sau bao nhiêu thành công và cố gắng của họ
Là loại lao động luôn tiếp xúc với những người có sức khỏe về thể chất và tinh thần không bình thường Người bệnh là người có tổn thương về thể chất và tinh thần, họ luôn lo lắng bức xúc với tình trạng bệnh tật của mình Vì vậy họ buồn phiền, cáu gắt dễ có phản ứng phức tạp, nếu như trình độ nhận thức hiểu biết chưa tốt, thiếu giáo dục, thiếu bản lĩnh thì họ sẽ có những hành vi không đúng mức với thầy thuốc - những người đang tìm cách cứu sống họ Khi trong gia đình có người
bị bệnh cả nhà lo lắng đưa người bệnh đến cơ sở y tế, họ yêu cầu người thầy thuốc
và bệnh viện quá mức trong lúc đáp ứng của bệnh viện không có thể, họ coi trách nhiệm của bệnh viện là phải đáp ứng nhu cầu của họ mà không thấy trách nhiệm
Trang 3125
của mình là phải hợp tác với bệnh viện để tìm mọi cách tốt nhất điều trị người bệnh
Do đó dễ gây thắc mắc, căng thẳng giữa thầy thuốc và người bệnh
Lĩnh vực y tế nước ta là hệ thống công tư kết hợp trong đó y tế công giữ vai trò chủ đạo bao gồm 4 lĩnh vực: khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, dự phòng dân số
và kế hoạch hóa gia đình
Công việc của nghề y luôn chứa đựng rủi ro và không chắc chắn
Tình hình sức khỏe và can thiệp y tế luôn chứa đựng nhiều rủi ro và sự không chắc chắn Bệnh nhân không thể biết gặp ai để khám chữa bệnh tốt nhất, hoặc không biết đâu là phương pháp khám chữa bệnh tốt nhất Những người khám bệnh cũng không thể chuẩn đoán bệnh chính sác mọi lúc, mọi nơi hoặc biết chính xác mỗi bệnh nhân sẽ phản ứng như thế nào với phương pháp điều trị Mặc dù không chắc chắn được các thầy thuốc hay làm lờ đi tàm quan trọng của nó Cách mà thầy thuốc phản ứng lại với sự không chắc chắn trong chuẩn đoán bệnh và điều trị và những chất vấn của người bệnh và thân nhân về cách hành nghề có thể tác động xấu tới những quá trình ra quyết định phức tạp này, dẫn đến chỉ định quá nhiều dịch vụ chuẩn đoán nhằm giảm mức tối thiểu mọi sự không chắc chắn
Nhân lực y tế đòi hỏi cao về đạo đức nghề nghiệp
Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến ngành y và y đức của người thầy thuốc Người đã nhiều lần gửi thư, trực tiếp gặp, thǎm các cơ sở y tế bày tỏ quan điểm của Đảng và Chính phủ ta về phẩm chất người thầy thuốc Người cán bộ y tế là người chiến sĩ Xét trên góc độ y học, mỗi cán bộ y tế là một chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng Đó là việc phổ biến các kiến thức y học, chống lại các tập quán mê tín dị đoan, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người Người cán bộ y tế phải vượt trǎm ngàn gian khổ hy sinh, “chịu khổ, chịu khó” thực sự làm công tác dân vận của Đảng, giành giật người bệnh từ tay tầng lớp thầy mo thầy cúng ở đây, người cán bộ y tế thực sự
là người chiến sĩ trên mặt trận vǎn hoá tư tưởng, đấu tranh chống những tư tưởng lạc hậu, đem ánh sáng khoa học tới với đồng bào Chiến đấu chống bệnh tật đã khó, chiến đấu chống những tư tưởng lạc hậu đã ǎn sâu vào tập quán bao đời của đồng
Trang 3226
bào còn khó hơn nhiều Nó đòi hỏi người cán bộ y tế phải hết sức cố gắng về chuyên môn chữa trị bệnh có hiệu quả tốt, kiên trì làm công tác chính trị mới có tính thuyết phục Như vậy vai trò người cán bộ y tế là người chiến sĩ là quan điểm rất đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có cơ sở khoa học và thực tiễn Người cán bộ
y tế phải như người mẹ hiền Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức Theo Người đạo đức là gốc Đạo đức của người làm công tác y tế theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là người biết “thương yêu người bệnh” “sǎn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”, “phải giàu lòng bác ái
hy sinh”, “thầy thuốc phải như mẹ hiền” Không phải ngẫu nhiên, Người lại dùng hình ảnh so sánh thầy thuốc như mẹ hiền bởi tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng Mặt khác cha ông ta có câu: “có bệnh vái tứ phương” Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cǎn dặn thầy thuốc và nhân viên phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần Có thuốc hay thức ǎn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt Người viết trong thư gửi Hội nghị quân y (3-1948):
“Người làm thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng
đỡ tinh thần những người ốm yếu” [29, tr13]
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý đến mối quan hệ giữa thể xác và tinh thần người bệnh, lấy sự an ủi động viên tinh thần làm giảm đi nỗi đau về thể xác, hướng cho người bệnh có suy nghĩ và hành động đúng
Nghề y là một nghề cao quý, được xã hội tôn trọng trước hết bởi vì có nhiệm
vụ chữa bệnh cứu người, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe cho nhân dân Đó là nghề đòi hỏi phải có lòng nhân ái, dám chịu đựng vất vả, sự từng trải và kinh nghiệm, tôn trọng nhân phẩm và quyền lợi bệnh nhân, thực hiện các qui tắc ứng xử
và không phân biệt đối xử… Tuy nhiên, kỳ vọng cao của xã hội đối với thầy thuốc
cả về chất lượng và đạo đức lại bị đe dọa bởi áp lực rất lớn từ bất cập thị trường và các qui định chế tài chưa đầy đủ để đảm bảo chuẩn mực cao về y đức và chất lượng chăm sóc y tế tốt cho tất cả mọi người, không phụ thuộc vào khả năng chi trả
Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế làm công việc liên quan đến sức khỏe và tính mạng của nhân dân Vì vậy, đòi hỏi cán bộ, công chức, viên
Trang 3327
chức ngành y tế phải có trình độ chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp Cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế phải được đào tạo lâu dài và có sự đầu tư lớn Theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2010, đa phần những người làm việc trong lĩnh vực y tế là viên chức, do đó những y sĩ,bác sĩ, y ta, dược sĩ… bên cạnh làm việc ở cơ sở y tế công lập họ được phép hành nghề tại những cơ
sở y tế ngoài công lập Điều đó góp phần tạo thêm thu nhập cho viên chức lĩnh vực
y tế nhưng cũng khiến một số bộ phận viên chức ngành y tế lợi dụng điều đó để gợi
ý người bệnh ra phòng khám tư
Trong ngành y tế, cán bộ, công chức, viên chức trong 3 lĩnh vực sau có thể coi là có nguy cơ tham nhũng cao Thứ nhất, quản lý y tế trong ngành y tế, từ việc cấp phép, mua sắm, tuyển dụng và thăng chức tới quản lý hành chính Thứ hai, lĩnh vực cung cấp dịch vụ tại các cơ sở y tế và mối quan hệ với các cán bộ, công chức, viên chức trong ngành y tế Có nhiều khả năng xảy ra nhiều tiêu cực trong lĩnh vực này như khoản chi không chính thức, lạm dụng kiến thức nghề nghiệp, đối xử cực đoan và kê đơn quá nhiều loại thuốc vì ăn dơ giữa cán bộ, công chức, viên chức y tế với công y dược Thứ ba, lĩnh vực bảo hiểm y tế Việc lạm quyền thông qua bảo hiểm y tế có thể thấy rõ trong quan hệ giữa nhà bảo hiểm với các bác sĩ cũng như nhà bảo hiểm với các bệnh nhân
Hiện nay, số lượng cán bộ y tế, công chức, viên chức trên 10.000 dân tăng từ 29.7 (năm 2000) lên 40.5 (năm 2010) Hiện số bác sĩ/ 10 000 dân là 7.2, số dược sĩ/
10 000 dân là 1.74 [4]
Hiện nay cả nước có khoảng 50 400 bác sĩ, 52.525 y sĩ, 74.376 y tá, 26 610
nữ hộ sinh, 3752 dược sĩ cao cấp, 19.257 dược sĩ trung cấp, 4725 y tá [4]
1.2.3 Tiêu chí cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế
Tiêu chí là các tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng,
mà bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuân thủ các
qui tắc và qui định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó
Trong tiến trình phát triển, hiện đại hóa đất nước, đội ngũ cán bộ, công chức ngành y tế đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ cán bộ, công
Trang 3428
chức hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, tồn tại, trở thành một lực cản không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội Sự yếu kém trong chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được thể hiện không chỉ từ cách quản lý, làm việc quan liêu, thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ mà đáng lo ngại hơn là sự suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, làm giảm sút niềm tin của người dân Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức có tác động, ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động, vận hành của ngành
y tế Xác định hệ thống tiêu chí cơ bản sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC lĩnh vực y tế Hệ thống tiêu chí bao gồm những tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: CBCCVC y tế phải yêu nghề, gắn bó với nghề, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của thầy thuốc, phải
có thái độ hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ người bệnh, sống trung thực, có ý thức tổ chức và tinh thần trách nhiệm cao
Tiêu chí 2: Về quy tắc ứng xử: Lịch sự, tận tình khi tiếp xúc, phục vụ nhân dân, người bệnh Tôn trọng, lắng nghe ý kiến góp ý của nhân dân, người bệnh, đồng nghiệp Đảm bảo thông tin trao đổi đúng với nội dung, công việc Không được cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, trì hoãn, thờ ơ, gây khó khăn đối với người bệnh, đối với nhân dân
Tiêu chí 3: Về năng lực chuyên môn: Không ngừng học tập, nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện đúng quy trình khám, chữa bệnh, thực hiện đúng phác đồ điều trị
Tiêu chí 4: Nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật y tế: Chấp hành nghiêm chỉnh các văn bản Luật, điều lệ, quy chế, quy định của ngành, thực hiện nghiêm chỉnh nội quy của cơ sở y tế
Việc xây dựng các tiêu chí sẽ nâng cao hiệu quả quản lý, phân loại CBCCVC
y tế Xác định được các tiêu chí cơ bản sẽ góp phần xây dựng đội ngũ CBCCVC lĩnh vực y tế chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển ngành y tế
1.3 Vai trò của pháp luật và đạo đức đối với việc điều chỉnh hành vi của cán
bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế
Điều chỉnh hành vi của con người có rất nhiều công cụ khác nhau như pháp luật, đạo đức, tôn giáo, luật tục, hương ước… Tuy nhiên pháp luật và đạo đức là hai
Trang 35mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức
1.3.1 Vai trò của pháp luật đối với điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế
Với tư cách là các quy tắc điều chỉnh hành vi, pháp luật có vai trò định hướng, đánh giá, kiểm tra, kiểm nghiệm, uốn nắn các hành vi Đồng thời pháp luật còn định hướng các hành vi theo những tiêu chí, mục đích nhất định Giáo sư Đào Trí Úc quan niệm cuộc sống như dòng chảy tự nhiên, còn pháp luật như hai bờ của dòng chảy đó, không có bờ, nước vẫn chảy nhưng không theo dòng “Bờ pháp luật”
có vai trò định hướng dòng chảy, làm cho sự chảy đó không tràn lan, tùy tiện mà phải theo một dòng nhất định [55, tr 46]
Pháp luật được xem như phương thức hữu hiệu nhất để điều tiết và định hướng các quan hệ xã hội, ngăn ngừa, loại bỏ những xu hướng phát triển tiêu cực, đảm bảo sự phát triển của xã hội phù hợp với nhu cầu khách quan, đảm bảo trật tự, ổn định đời sống
xã hội Pháp luật khi chính thức ban hành có giá trị và đăng tải thông tin, định hướng hành vi xã hội, tác động mạnh mẽ vào ý thức, tâm lý xã hội Pháp luật là phương tiện để thông báo chính thức quan điểm của nhà nước, của xã hội về khuân mẫu hành vi, về mô hình giải quyết các vấn đề và phương thức giải quyết các vấn đề để các chủ thể có thể
Trang 36họ Qua đó pháp luật thể hiện vai trò quan trọng trong việc giáo dục ý thức trách nhiệm, tinh thần, thái độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Pháp luật là cơ sở để mỗi cán bộ, công chức,viên chức lĩnh vực y tế rèn luyện ý thức pháp luật, xây dựng lối sống theo pháp luật, ý thức trượng tôn pháp luật, tinh thần “phụng công thủ pháp” Mặt khác pháp luật là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán
bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế nỗ lực học tập, hoàn thiện nâng cao tri thức pháp luật, tri thức chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công việc Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy đủ, càng nghiêm minh đồng thời khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi
Con người, trong đời sống xã hội luôn có những nhu cầu, lợi ích, mục đích nhất định Để thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của mình, mỗi chủ thể có phương thức, cách thức riêng Trong cùng điều kiện hoàn cảnh, cách xử xự của mỗi chủ thể không giống nhau, trong đó có những xử xự phù hợp với yêu cầu của xã hội, nhưng cũng có xử xự làm tổn hại tới lợi ích của chủ thể khác, đi ngược lại mong muốn chung của cộng đồng Có nhiều loại chuẩn mực cho hành vi con người, trong đó pháp luật là loại chuẩn mực quan trọng Nhờ có pháp luật, các cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế nắm bắt được hành vi nào là hợp pháp, được khuyến khích, hành vi nào là bắt buộc, hành vi nào bị ngăn cấm để từ đó có cách ứng xử phù hợp khi bắt gặp một tình huống cụ thể nào đó
1.3.2 Vai trò của đạo đức đối với điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế
Đạo đức là hệ thống chuẩn mực để mỗi người tự tu thân, dưỡng tâm, rèn luyện nhân cách lương tâm nghề nghiệp
Trang 37Nhân cách của mỗi người, phẩm chất đạo đức cá nhân không phải tự nhiên mà
có, không phải bản tính hay bẩm sinh Sự hình thành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có hệ thống thể chế xã hội, mà nhất là đạo đức giữ vai trò quan trọng Trên cơ sở hệ thống các quan niệm, chuẩn mực đạo đức xã hội, các cá nhân lấy đó làm tiêu chuẩn để tu thân, dưỡng tâm, rèn luyện nhân cách, lối sống của mình Nói một cách khác đạo đức xác định được những hành vi chuẩn mực trong giao tiếp, trong ứng xử mà các chủ thể cần hướng tới, nó xác định được hành vi nên làm, cần phải làm, không được làm Nó hình thành ở mỗi con người thói quen suy nghĩ và chuẩn mực xã hội Đạo đức góp phần quan trọng tạo nên tính kiềm chế, hình thành phong cách điềm tĩnh, chủ động trong mọi tình huống Đó là những đức tính cần thiết trong lĩnh vực y tế Đạo đức còn khơi dậy tình cảm yêu thương, quí trọng con người, nó hướng con người xử sự phù hợp với điều thiện Đạo đức góp phần tạo ra bản lĩnh cá nhân, tạo ra cơ chế phòng ngừa, miễn dịch trước những cám dỗ trong cuộc sống nó có vai trò quan trọng trong việc xây dựng
và rèn luyện tinh thần làm việc tận tụy, ý thức trách nhiệm của cá nhân trước người bệnh của cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế
Cùng với pháp luật, đạo đức là công cụ quan trọng trong điều chỉnh hành vi thông qua dư luận xã hội, lương tâm nghề nghiệp của người cán bộ, công chức, viên chức y tế Đạo đức mang tính chung, bao quát nhằm định hướng cho con người Vì vậy đòi hỏi con người tự tìm tòi, tự khám phá và qua dư luận mà tự điều chỉnh hành
vi của mình Quá trình điều chỉnh hành vi bằng đạo đức đối với cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế là quá trình lâu dài Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế biểu hiện thành những khái niệm vinh,
Trang 3832
nhục, thiện, ác Những khuôn phép và quy tắc đạo đức là yêu cầu của cả xã hội đề ra cho mỗi hành vi cá nhân của người cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế Nó bao gồm hành vi cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức y tế đối với xã hội và đối với người khác Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác là tiền đề của hành vi đạo đức cá nhân cán bộ, công chức, viên chức y tế Đã là thành viên trong xã hội, con người phải chịu một sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong những hoàn cảnh nào đó còn chịu sự điều khiển của trách nhiệm lương tâm Cá nhân cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế phải có trách nhiệm chuyển những đòi hỏi của xã hội và những thể hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực cho phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Đạo đức có vai trò quan trọng trong việc hướng hành vi của người cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế đến nhân văn, nhân đạo
Bản thân nghề y tế là một nghề mang tính nhân văn, nhân đạo “ Thiện” là sự tốt lành, là tất cả những cách ứng xử “ có vai trò tích cực, có tác động thuận lợi trong đời sống”, mang lại “ lợi ích cho con người và cho xã hội” [10, tr210]
“Thiện” tức là làm điều có ích, có lợi cho người khác và cho xã hội, là đấu tranh chống lại cái ác, cái bất công Điều thiện luôn phù hợp với lẽ công bằng, nhân đạo bởi đó chính là sự biểu hiện của yêu thương, thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ, quí trọng sâu sắc con người, tôn trọng và bảo vệ các giá trị con người, đem lại sức khỏe, cứu sống con người Nhìn chung ai cũng luôn mong muốn vươn tới điều thiện bởi điều
đó đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho người khác Trong xã hội, khi cái ác còn tồn tại thì “chiến đấu cho cái thiện, đẩy lùi cái ác đã trở thành ước mơ, khát vọng, đã trở thành chất men, thành động lực, kích thích, cổ vũ nhân loại, vươn lên, xốc tới” [20, tr47] Đạo đức làm nảy nở những giá trị nơi con người, phát triển những gì cao quý, tốt đẹp trong bản thân mỗi người Chỉ bằng tình thương và tinh thần nhân đạo cao cả của đạo đức… mới khiến cho người ta thực hiện hành vi cứu chữa người bệnh một cách tận tâm, tuyệt đối, đến cùng Đạo đức là khuôn vàng,
Trang 3933
thước ngọc cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức y tế trong tác phong và trong hành động Chính vì vậy, trên thực tế, bất cứ hệ thống đạo đức nào cũng bao hàm các qui tắc, các chuẩn mực để mỗi người rèn luyện và tu dưỡng nhân cách
Đạo đức là một phương tiện xuất hiện sớm nhất để điều chỉnh hành vi của lĩnh vực y tế, đồng thời nó cũng là yếu tố điều chỉnh gần gũi nhất với hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế Chính vì thế, những qui định về y đức
đã bám rễ ăn sâu một cách chắc chắn trong mỗi một người, nó chi phối hoạt động hàng ngày, hàng giờ của những người làm nghề y
1.4 Ý nghĩa của việc thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế
Việc thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế là đòi hỏi tất yếu Bởi đạo đức và pháp luật đều phản ánh bản chất và nhu cầu xã hội; đạo đức là gốc, pháp luật là chuẩn; đạo đức và pháp luật có quan hệ thống nhất, bổ sung cho nhau
và hỗ trợ nhau trong việc điều chỉnh hành vi, nhân cách của con người nói chung và của cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế nói riêng Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức có sự thống nhất với nhau Cả pháp luật và đạo đức đều là sản phẩm của đời sống, phản ánh đời sống, chịu sự quy định của đời sống và có tác động mạnh mẽ đến đời sống Kết hợp mối quan hệ hài hòa giữa pháp luật và đạo đức sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế vừa có tâm lại vừa có tài
1.4.1 Việc thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa pháp luật và đạo đức là tất yếu khách quan
Đạo đức cần đến pháp luật
Bản thân các qui tắc đạo đức có cơ chế đảm bảo thực hiện dựa trên sự day dứt lương tâm, ý thức về danh dự, bổn phận và áp lực của dư luận xã hội Nhưng trong thực tế, có vô vàn tình huống mà con người phải lựa chọn: đạo đức hay lợi ích? Khi con người không tự chiến thắng được bản thân thì cơ chế đảm bảo vào lương tâm hay dư luận xã hội… như trên đã phơi bày sự bất lực của nó Lúc này pháp luật với
Trang 40Nếu đặt ra câu hỏi: vì sao không dùng đạo đức để hóa giải những hành vi xấu trong xã hội? thì câu trả lời là: đúng là nhiều trường hợp đạo đức phát huy được nhiều tác dụng nhưng nó không đảm bảo cho người bị hại một sự bù đắp chính đáng
và thiết thực, mà nó còn làm cho những kẻ không biết xấu hổ lợi dụng
Pháp luật cần đến đạo đức
Đạo đức tạo nên dư luận xã hội đúng đắn có tác dụng lên án những hành vi vi phạm pháp luật, cổ vũ những hành vi hợp pháp Với những cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế khi họ đã có nền tảng đạo đức thì họ sẽ ý thức tuân thủ pháp luật Đạo đức thấm sâu vào ý thức và hóa thành xử sự của cá nhân, tạo ra những con người có khả năng miễn dịch cao đối với sự vi phạm pháp luật Đạo đức bổ khuyết cho pháp luật trong những trường hợp pháp luật bất lực
1.4.2 Thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa pháp luật và đạo đức là yêu cầu, là điều kiện của việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế
Cả pháp luật và đạo đức đều là phương tiện quan trọng để điều chỉnh hành vi của con người Tuy nhiên cả pháp luật lẫn đạo đức đều có những hạn chế Với tính cách là công cụ điều chỉnh quan trọng bậc nhất đối với các quan hệ xã hội, bên cạnh những ưu thế vốn có, pháp luật cũng có những hạn chế nhất định Pháp luật chỉ được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp tác động bên ngoài, vì thế nó không thể điều chỉnh được tất cả các quan hệ xã hội, đặc biệt là những hành vi của các chủ thể chỉ bị chi phối bởi lương tâm, tình cảm của họ Nó chỉ bị chi phối bởi ý chí, lý trí Pháp luật chưa điều chỉnh nhưng đạo đức lại điều chỉnh bằng dư luận, bằng lương tâm
Trong khi đó phạm vi điều chỉnh của đạo đức rất rộng Cứ ở đâu có con người, ở đó có đạo đức Đạo đức là yếu tố tinh thần không thể tách rời hành vi của con người, không thể thiếu được trong đời sống Đạo đức không chỉ là qui tắc của