ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN CUỐI HỌC KÌ Đề tài MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ LỜI MỞ ĐẦU NỘI DUNG 1 Giới thiệu khái quát và Luật sở hữu trí tuệ v[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI HỌC KÌ
Đề tài:
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT SỞ
HỮU TRÍ TUỆ
1
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1 Giới thiệu khái quát và Luật sở hữu trí tuệ và mối quan hệ giữa Luật sở
hữu trí tuệ với Luật cạnh tranh……….
1.1 Khái niệm pháp luật sở hữu trí tuệ………4
1.2 Quyền sở hữu trí tuệ……… 4
1.3 Vai trò và ý nghĩa của sở hữu trí tuệ……… 5
1.4 Mối quan hệ giữa pháp luật Sở hữu trí tuệ và pháp luật Cạnh tranh……….6
2 Vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh trong SHTT………6
TẠM KẾT.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Xuất phát từ mục đích và đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) thì một số quan điểm cho rằng, giữa Luật Cạnh tranh và Luật SHTT có sự mâu thuẫn với nhau Bởi nếu Luật Cạnh tranh đang hướng đến loại bỏ sự độc quyền trên thị trường thì Luật SHTT lại trao cho chủ sở hữu quyền độc quyền đối với tài sản SHTT để nhằm mục đích ghi nhận, khuyến khích và thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo
Qua thực tế thi hành thì quan điểm của các nhà nghiên cứu hiện nay đã thừa nhận rằng, giữa Luật Cạnh tranh và Luật SHTT đều có một điểm chung, giao thoa đó chính là cả hai hệ thống pháp luật này đều có chung một mục đích là thúc đẩy sáng tạo và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng
Cạnh tranh và sở hữu trí tuệ, pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ là hai lĩnh vực giao thoa với nhau, xung đột nhưng đồng thời lại bổ sung cho nhau Tương tự như tài sản hữu hình, quyền ngăn cấm chủ thể khác tự
do sử dụng tài sản trí tuệ không tạo ra quyền lực thị trường Tức là, bản thân
sự tồn tại của quyền sở hữu trí tuệ không làm phát sinh các vấn đề độc quyền Quyền sở hữu trí tuệ có thể tạo ra quyền lực thị trường đáng kể trong những trường hợp cụ thể và thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có thể gây tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng Ngược lại, chức năng của pháp luật cạnh tranh là duy trì cạnh tranh hiệu quả và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng bằng cách
dỡ bỏ những rào cản đối với cạnh tranh
3
Trang 4NỘI DUNG
1 Giới thiệu khái quát và Luật sở hữu trí tuệ và mối quan hệ giữa Luật sở hữu trí tuệ với Luật cạnh tranh.
1.1 Khái niệm pháp luật sở hữu trí tuệ
Pháp luật sở hữu trí tuệ là một ngành luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó
- Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
+ Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
+ Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
+ Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch
4
Trang 51.2 Quyền sở hữu trí tuệ
Theo khoản 1 Điều 4 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 quy định
“Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”
- Quyền tác giả là của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo
ra hoặc sở hữu Quyền tác giả có thể hiểu là quyền cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp Đặc điểm quyền tác giả: (1) Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo không bảo hộ nội dung sáng tạo (2) Tác phẩm bảo hộ phải
có tính nguyên gốc.1
- Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra
- Quyền đối với giống cây trồng: quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được
về người đầu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây
1 Lê Nết (2016), Giáo trình Sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh.
2 Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019
3 Khoản 5 Điều 4 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
5
Trang 6trồng hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng thì không có quy định Đây có thể là một thiếu sót của định nghĩa này
1.3 Vai trò và ý nghĩa của sở hữu trí tuệ
Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ xuất phát từ hai vai trò lớn:
(1) Nâng cao trình độ khoa học – kỹ thuật trên thế giới
(2) Định hướng phát triển khoa học công nghệ của các quốc gia.4
Ngày nay, Sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong xu thế hội nhập sâu và toàn diện như hiện nay Tạo dựng được một hệ thống bảo hộ quyền SHTT mạnh và hoàn thiện đó là một nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn, đồng thời cũng là đòi hỏi bắt buộc trong quá trình hội nhập kinh tế
Việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng mang lại ý nghĩa rất lớn trong giai đoạn hiện nay:
- Thu hút sự đầu tư của các công ty đa quốc gia Một công ty có thể bảo mật tốt về công nghệ và nhãn hiệu hàng hoá sẽ tạo sự tin tưởng của các nhà đầu
tư lớn Hệ thống bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng góp một phần không nhỏ trong quá trình chuyển giao công nghệ, bảo hộ độc quyền có thời hạn Kích thích sự đầu tư của các công ty đa quốc gia mong muốn khai thác các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
- Hệ thống sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế Tạo dựng được một hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh và hoàn
4 Lê Nết (2016), Giáo trình Sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh.
6
Trang 7thiện đó là một nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn của bất kỳ quốc gia nào Sở hữu trí tuệ phát triển tạo môi trường cũng như hành lang pháp lý cho các cá nhân, tổ chức yên tâm phát triển ý tưởng sáng tạo, đưa ra thị trường những sản phẩm chất lượng, tính ứng dụng cao Nếu chúng ta biết khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ như một thứ tài sản đặc biệt thì khả năng kiến tạo những sản phẩm trí tuệ cao hơn sẽ là nguồn động lực phát triển cho quốc gia đó
1.4 Mối quan hệ giữa pháp luật Sở hữu trí tuệ và pháp luật Cạnh tranh
Có nhiều quan điểm cho rằng, giữa pháp luật Cạnh tranh và pháp Luật
Sở hữu trí tuệ luôn có sự mâu thuẫn với nhau Bởi lẽ, nếu pháp luật Cạnh tranh hướng đến mục đích loại bỏ sự độc quyền trên thị trường thì pháp luật
Sở hữu trí tuệ lại trao cho chủ sở hữu quyền độc quyền khai thác các tài sản
sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, qua thực tế thi hành Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ thì quan điểm hiện nay được các nhà nghiên cứu thừa nhận là giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ luôn tồn tại mối tương quan khi cùng hướng đến một mục đích đó là thúc đẩy sự sáng tạo và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng
Điều này cũng đã được hệ thống Tòa án của Hoa Kỳ thừa nhận: “Mặc dù ngay từ khi mới tiếp cận, luật cạnh tranh và luật SHTT có vẻ như hoàn toàn trái ngược nhau nhưng thực chất bản chất và mục đích của nó lại tương đồng nhau bởi cả hai đều hướng tới mục tiêu khuyến khích sự sáng tạo, phát triển công nghiệp và cạnh tranh”
7
Trang 8Vì vậy, trong hai hệ thống pháp luật cạnh tranh và pháp luật SHTT sẽ có những quy định mang tính tương quan, kết nối với nhau nhằm hạn chế yếu tố độc quyền có được từ quyền SHTT cũng như các quy định ngoại lệ đảm bảo yếu tố độc quyền đó Những quy định đó nhằm hướng đến sự cân bằng về mặt lợi ích của chủ sở hữu quyền SHTT với quyền tiếp cận các phát minh, sáng chế, các quyền SHTT khác của các cá nhân, tổ chức cũng như của cộng đồng
2 Vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh trong SHTT
Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ có mối tương quan khá rõ rang với nhau Đào sâu vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh trong SHTT sẽ thấy quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là một trong những quyền thuộc quyền sở hữu công nghiệp và pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng có những quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, không phải mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều thuộc sự điều chỉnh của luật sở hữu trí tuệ
Ở cả Luật Cạnh tranh ( Khoản 6 Điều 3; Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018) và Luật Sở hữu trí tuệ ( Khoản 4 Điều 4; Điều 130; Khoản 3 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005) đều có quy định về cạnh tranh không lành mạnh Khái niệm
về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được
mở rộng và làm rõ hơn so với khái niệm “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” (một trong các dạng biểu hiện cụ thể của hành vi cạnh tranh không lành liên quan đến sở hữu trí tuệ) mà Luật Cạnh tranh đã đưa ra trước đây Đồng thời, để bảo vệ
8
Trang 9chủ thể bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định để cho các chủ thể này có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự cũng như biện pháp hành chính theo pháp luật về cạnh tranh
Với mục đích bảo hộ hiệu quả thành quả sáng tạo, trí tuệ của các chủ thể kinh doanh, Nhà nước Việt Nam cho phép các chủ thể này được lựa chọn sử dụng các biện pháp thực thi bảo hộ theo cả Luật Sở hữu trí tuệ và pháp luật
về cạnh tranh khi họ gặp phải hành vi cạnh tranh không lành mạnh Ví dụ, khi quyền Sở hữu trí tuệ không tồn tại như một nhãn hiệu mà không đăng ký thì đương nhiên không thể áp dụng các quy định về hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ khi nhãn hiệu này bị xâm phạm Trong trường hợp này, pháp luật
về cạnh tranh mà cụ thể là Luật cạnh tranh và quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong Luật sở hữu trí tuệ sẽ được sử dụng để bảo vệ doanh nghiệp cũng như thành quả trí tuệ của họ chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh với lỗi cố ý từ phía đối thủ cạnh tranh liên quan đến việc chỉ dẫn gây nhầm lẫn Còn trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ đã được xác lập và bị xâm phạm, sở hữu của các quyền này có thể lựa chọn áp dụng các biện pháp liên quan đến vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh nếu hành vi vi phạm này rơi vào hai trường hợp đó Thậm chí, chủ thể bị xâm phạm có thể lựa chọn cả hai loại phương thức giải quyết nếu các yếu tố vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh không lành mạnh đối với cùng một đối tượng là độc lập với nhau Và nếu như chỉ có chủ sở hữu của các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ mới được khiếu kiện để áp dụng các biện pháp liên quan đến vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; thì chủ thể
9
Trang 10được quyền khiếu kiện đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh lại rất rộng nên những chủ thể có liên quan đến đối tượng khiếu kiện như bên nhận đại lý, bên nhân li xăng… cũng có thể khiếu kiện về các hành vi xâm phạm này để bảo vệ tốt hơn tài sản trí tuệ của các chủ thể kinh doanh
Như vậy, điều đó đã chứng minh mối quan hệ giữa chống cạnh tranh không lành mạnh và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một mối quan hệ độc lập nhưng lại khăng khít, không thể tách rời; nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà xu thế kinh tế thế giới tập trung vào các giá trị trí tuệ và tài sản vô hình Bảo hộ tốt quyền sở hữu trí tuệ để tránh cạnh tranh không lành mạnh; kiên quyết chống cạnh tranh không lành mạnh để tạo điều kiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và kích thích sáng tạo
10
Trang 11TẠM KẾT
Có thể thấy, trong hai hệ thống pháp luật cạnh tranh và pháp luật SHTT sẽ
có những quy định mang tính tương quan, kết nối với nhau nhằm hạn chế yếu
tố độc quyền có được từ quyền SHTT cũng như các quy định ngoại lệ đảm bảo yếu tố độc quyền đó Những quy định đó nhằm hướng đến sự cân bằng
về mặt lợi ích của chủ sở hữu quyền SHTT với quyền tiếp cận các phát minh, sáng chế, các quyền SHTT khác của các cá nhân, tổ chức cũng như của cộng đồng
Để đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật tại Việt Nam trong thời gian tới, nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư, sáng tạo, khả năng tiếp cận khoa học công nghệ của cộng đồng cũng như đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp phần phát triển nền kinh tế quốc gia Điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh phải đảm bảo mục đích đổi mới, nghiên cứu sáng tạo của các doanh nghiệp nhưng phải phù hợp với các cam kết quốc
tế mà Việt Nam là thành viên Giới hạn điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải được xây dựng trong mối tương quan giữa phát triển khoa học công nghệ và đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng dựa trên các tiêu chí: chủ thể thực hiện, phạm vi áp dụng căn
cứ xác định sự vi phạm Đồng thời, nguyên tắc để xác định tính vi phạm của các hành vi cụ thể của chủ thể là nguyên tắc lập luận hợp lý thay vì vi phạm mặc nhiên
SHTT là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng như nền kinh
tế quốc gia trong hội nhập Hiện nay, với mỗi quốc gia, doanh nghiệp, năng
11
Trang 12lực SHTT là một trong những năng lực nội sinh quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững Quốc gia, doanh nghiệp nào có được càng nhiều quyền SHTT thì năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp đó càng cao
Với các nước đang phát triển, năng lực cạnh tranh thường thấp, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, cho nên để có thể phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánh giá đúng vị trí quan trọng của SHTT Cách tốt nhất là phải tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về SHTT nhằm xây dựng hệ thống SHTT có hiệu quả Điều đó làm cho hoạt động SHTT xét trên phạm vi quốc gia ngày càng có khuynh hướng tiến gần hơn tới chuẩn mực chung của thế giới
12
Trang 13DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Bùi Thị Hằng Nga, Mối tương quan giữa Luật Canh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ trong quá trình thực thi quyền sở hữu trí tuệ, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23 (251) tháng 12/2017
(2) Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019
(3) Luật Cạnh tranh 2018
13