1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC

26 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 259,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2014 là năm kỷ niệm 35 năm ngày tái thiết quan hệ Trung Quốc & Mỹ, sau đâychúng ta sẽ cùng điểm qua những cột mốc nổi bật trong quan hệ kinh tế giữa 2 nước:Vào năm 1979, lãnh đạo

Trang 1

PHẦN I: QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ

TRUNG QUỐC.

1.1 Tổng quan về quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc

Ngày 1/1/1979 Trung Quốc và Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, từ đó quan

hệ giao thương giữa hai nước thực sự bắt đầu Hai nước Mỹ - Trung đã triển khai giao lưu

và hợp tác trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, khoa học công nghệ vàquân sự Mặc dù giữa hai nước vẫn có những bất đồng, thậm chí căng thẳng, nhưng sựhợp tác vẫn hết sức chặt chẽ, trong đó hợp tác về kinh tế - thương mại là hòn đá tảng củamối quan hệ này

Năm 2014 là năm kỷ niệm 35 năm ngày tái thiết quan hệ Trung Quốc & Mỹ, sau đâychúng ta sẽ cùng điểm qua những cột mốc nổi bật trong quan hệ kinh tế giữa 2 nước:Vào năm 1979, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình1 đã có cuộc gặp với Tổng thống

Mỹ Jimmy Carter tại Nhà Trắng và cho ra "Thông cáo thiết lập quan hệ ngoại giao" giữa

2 nước Theo đó, Mỹ đã chấp thuận 3 nguyên tắc "cắt đứt quan hệ ngoại giao, rút quân vàphế bỏ mọi thoả thuận" với Đài Loan, công nhận chỉ có một Trung Quốc, Đài Loan là một

bộ phận của Trung Quốc, hai nước Mỹ - Trung chính thức thiết lập quan hệ ngoại giaocấp đại sứ

Nhưng vào những năm cuối của thập niên 80, sau sự kiện Thiên An Môn, Mỹ đóngbăng quan hệ thương mại và đầu tư với Trung Quốc, thực hiện các biện pháp trừng phạtkinh tế Kết quả là sự quan tâm đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc sụt giảm

10 năm sau đó, tổng thống Mỹ Bill Clinton dỡ bỏ những trừng phạt và ký kết Đạo luậtQuan hệ Mỹ - Trung năm 2000, cho phép Bắc Kinh bình thường hóa quan hệ với Mỹ

Từ 1980 đến 2004, giao thương giữa hai nước đã tăng từ 5 tỷ lên 231 tỷ USD

Vào tháng 12/2001, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên của WTO Đây làmột bước tiến quan trọng trên con đường toàn cầu hóa nền kinh tế trong tương lai củaTrung Quốc

Sau đó vào 2005, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Robert Zoellick khởi xướng mộtchương trình gọi là Đối thoại chiến lược với Trung Quốc

1 Đặng Tiểu Bình được biết đến với tư cách nhà thiết kế của cuộc cải tổ kinh tế vĩ đại của Trung Quốc, mở cửa hoạt động kinh tế với Mỹ và tăng cường đầu tư song phương giữa hai nước.

Trang 2

Bốn năm sau, vào năm 2009, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Hồ CẩmĐào công bố cuộc đối thoại kinh tế và chiến lược, bao gồm cả quân sự để khuyến khíchđối thoại đa chiều giữa 2 quốc gia.

Cả 2 nước đã hợp tác chặt chẽ qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khi mà Mỹ lànước dẫn đầu trong cuộc suy thoái năm 2008 Và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc bắtđầu chậm lại vào tháng 11/2011 cùng với Thâm hụt thương mại liên tục tăng cao của Mỹ

Mỹ công bố chính sách đối ngoại chuyển hướng sang khu vực châu Á Thái Bình Dương

và Tổng thống Mỹ tiết lộ một vòng đàm phán thương mại mới

Ba tháng sau đó, Phó chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm Mỹ, nêu ra quan điểm củaTrung Quốc về mối quan hệ kinh tế Mỹ - Trung

Mặc dù trải qua một quãng thời gian dài với nhiều thăng trầm trong mối quan hệ kinh

tế Mỹ - Trung, song nền kinh tế của cả hai nước ngày càng gần gũi hơn bao giờ hết Sau

35 năm quan hệ kinh tế, hai nước đã thực sự trở thành đối tác chiến lược quan trọng củanhau về quan hệ thương mại và đầu tư

1.1.1 Quan hệ thương mại

Theo thông tin thu thập được từ Cục Thống Kê Hoa Kỳ thì tình hình quan hệ thươngmại giữa hai nước như sau:

Bảng 1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Mỹ - Trung giai đoạn 2000 - 2013

Năm Mỹ xuất khẩu sang

Trung Quốc (Tr.USD)

Tăng (giảm) % so với năm trước

Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ (Tr.USD)

Tăng (giảm) %

so với năm trước

Trang 3

(Nguồn: The U.S Census Bureau)

Hình 1.1: Quan hệ xuất khẩu giữa Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn 2000 – 2013

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 0.00

(Nguồn: The U.S Census Bureau)

Xem xét về số liệu thống kê của Cục Thống Kê Hoa Kỳ nêu trên, ta nhận thấy trong

14 năm qua (2000-2013), tương quan thương mại giữa hai nước như sau: tốc độ tăng xuấtkhẩu của 2 nước vào thị trường của nhau hàng năm hầu hết đều dương cho thấy mức độ

“phụ thuộc” thương mại giữa 2 nước ngày càng cao Một điểm đáng chú ý nữa là đườngđồ thị xuất khẩu của 2 nước giai đoạn 2000-2013 hầu như biến động tăng giảm cùngchiều với nhau và tốc độ tăng xuất khẩu của Mỹ hàng năm vào thị trường Trung Quốcthường thường cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường Mỹ

Trang 4

Tuy vậy xét về con số tuyệt đối, mức tăng xuất khẩu hàng năm của Trung Quốc sang

Mỹ thường cao hơn rất nhiều so với mức tăng tuyệt đối xuất khẩu của Mỹ sang TrungQuốc Đến thời điểm hiện nay, Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu tăng trưởngnhanh nhất của Mỹ, và cũng là thị trường quan trọng trong chương trình “tăng gấp đôixuất khẩu” của Mỹ Năm 2013 vừa qua, kim ngạch thương mại hai chiều giữa TrungQuốc và Mỹ đạt 562,18 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ, đạt thêm mức kỷ lục mới Con

số này vượt xa so với 5 tỷ USD trong thời kỳ đầu thiết lập quan hệ ngoại giao

Trong khi đó, từ nửa đầu năm 2012, Mỹ đã vượt Liên minh châu Âu, trở thành thịtrường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc, hai nước Trung-Mỹ là đối tác thương mại lớnthứ hai của nhau

Đến năm 2013, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 3 của nước Mỹ,còn xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc tăng tới 10% so với năm 2012 Mỹ cũng đã trởthành nước có nguồn du khách lớn thứ tư của Trung Quốc, và cũng là điểm đến du lịchlớn thứ tư của du khách Trung Quốc

1.1.2 Quan hệ đầu tư:

Về mặt đầu tư, Mỹ là một trong những nguồn đầu tư nước ngoài quan trọng củaTrung Quốc, và cũng là một trong những điểm đến đầu tư được lựa chọn trước tiên củacác doanh nghiệp Trung Quốc Tính đến hết năm 2012 đầu tư trực tiếp (FDI) từ Mỹ vàoTrung Quốc 51,4 tỷ USD, giảm 7,1% so với năm 2011 Trong khi đó năm 2012 đầu tưtrực tiếp (FDI) từ Trung Quốc vào Mỹ là 6,45 tỷ USD, tăng 37,2 % so với năm 2011

(Rhodium Group, 2012)

Hình 1.2 Đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc vào Mỹ giai đoạn 2000 - 2012

Trang 5

(Nguồn: Rhodium Group/The Washington Post)

Qua biểu đồ số liệu cho thấy năm 2000 đầu từ trực tiếp từ Trung Quốc vào Mỹ là 14triệu USD, giá trị đầu tư trực tiếp này tăng qua các năm từ năm 2000 đến năm 2005, dokhủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 giá trị đầu tư có giảm so với năm các năm trước,chỉ còn chưa đầy 1 tỷ USD/năm Sau đó đầu tư từ Trung Quốc lấy lại đà tăng rất mạnh

mẽ, đạt hơn 5 tỷ USD vào năm 2010 Trong năm 2012 giá trị đầu tư trực tiếp từ TrungQuốc vào Mỹ tăng trở lại (sau khi sụt giảm chỉ còn khoảng 4,7 tỷ USD vào năm 2011) lênđến 6,45 tỷ USD cho thấy dòng vốn FDI từ Trung Quốc vào Mỹ trong giai đoạn hiện nayđặc biệt giai đoạn 2010 - 2012 là rất lớn, cao hơn nhiều so với giai đoạn năm 2000 - 2009

Hình 1.3: Đầu tư trực tiếp từ Mỹ vào Trung Quốc giai đoạn 2000 - 2012

Trang 6

Nguồn: BEA; US Department of Commerce

Qua biểu đồ trên ta nhận thấy dòng tiền đầu tư trực tiếp từ Mỹ vào Trung Quốc có xuhướng tăng dần qua các năm từ năm 2000 đến năm 2007 từ 11,14 tỷ USD lên 29,71 tỷUSD Từ năm 2008 đến năm 2012 dòng vốn FDI từ Mỹ đổ vào Trung Quốc tăng vọt sovới các năm trước đó Trong năm 2010 vốn FDI từ Mỹ vào Trung Quốc cao nhất với 59

tỷ USD nhưng có xu hướng giảm dần qua các năm sau đó với năm 2011 là 55,30 tỷ USD

và năm 2012 là 51,35 tỷ USD

Như vậy quan hệ đầu tư giữa hai nước Mỹ và Trung Quốc hiện nay là rất chặt chẽ vớilượng vốn đầu tư là rất lớn trong đó vốn đầu tư trực tiếp (FDI) từ Mỹ vào Trung Quốc lớnhơn rất nhiều so với vốn đầu tư trực tiếp (FDI) từ Trung Quốc vào Mỹ, cụ thể trong năm

2012 FDI từ Mỹ vào Trung Quốc là 51,35 tỷ USD gấp 8 lần FDI từ Trung Quốc vào Mỹ.Tóm lại có thể thấy nếu như trong quan hệ thương mại, Trung Quốc là nước chiếm ưuthế với kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ gấp gần 4 lần xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc(2010-2013) thì trong quan hệ đầu tư, Mỹ lại là nhà đầu tư lớn và vô cùng quan trọng của

Mỹ Cả hai thực sự “cần có nhau” trong mối quan hệ kinh tế gắn bó, khăng khít và khó cóthể tách rời này

Trang 7

1.2 Sự lớn mạnh và “trỗi dậy” của nền kinh tế Trung Quốc:

Trung Quốc là quốc gia có diện tích lớn, đông dân, tài nguyên thiên nhiên phong phú.Cũng như Việt Nam, Trung Quốc sau khi giành chủ quyền, đã bỏ qua chế độ Tư bản chủnghĩa, quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, với mô hình được lựa chọn là mô hình kinh tế kếhoạch hóa tập trung (mô hình kinh tế kế hoạch hóa Xô Viết) Khi mô hình này lâm vàokhủng hoảng nghiêm trọng, khiến Liên Xô và các nước Đông Âu từ bỏ, đồng thời là sựphát triển thần kỳ của các nền kinh tế mới như nền kinh tế Nhật Bản, nền kinh tế côngnghiệp mới NIEs…, buộc lãnh đạo Trung Quốc cần xác định lại hướng đi phù hợp, lựachọn nền kinh tế thị trường, hàng hóa nhiều thành phần

Trước khi bắt đầu cải cách kinh tế và tự do hóa thương mại cách đây 35 năm, TrungQuốc đã duy trì chính sách làm cho nền kinh tế rất nghèo, trì trệ, điều khiển trung tâm,bao cấp không hiệu quả và tương đối cô lập từ nền kinh tế toàn cầu Kể từ khi mở cửa chothương mại và đầu tư nước ngoài và thực hiện các cải cách thị trường tự do vào năm

1979, Trung Quốc đã nằm trong các nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới, vớitổng sản phẩm trong nước hàng năm (GDP) tăng trưởng trung bình gần 10% đến 2013.Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã nổi lên như một cường quốc kinh tế và thươngmại toàn cầu lớn Và hiện tại, đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, nền kinh tếthương mại lớn nhất, điểm đến lớn thứ hai của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhà sảnxuất lớn nhất, và nắm giữ lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất

1.2.1 Tình hình kinh tế Trung Quốc trước khi cải cách

Trước năm 1979, Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Mao Trạch Đông, duytrì một kế hoạch tập trung Một phần lớn trong sản lượng kinh tế của đất nước đã đượcđạo diễn và kiểm soát bởi nhà nước, chủ thể mà đặt ra mục tiêu sản xuất, kiểm soát giá, vàcác nguồn lực được phân bổ trong suốt nhất của nền kinh tế

Chính sách này của Chính phủ giữ nền kinh tế Trung Quốc tương đối trì trệ và khônghiệu quả, chủ yếu là bởi vì hầu hết các khía cạnh của nền kinh tế được quản lý và điềuhành bởi chính quyền trung ương (và do đó có rất ít động cơ lợi nhuận cho các công ty,công nhân, và nông dân), cạnh tranh hầu như không tồn tại, thương mại nước ngoài vàdòng vốn đầu tư chủ yếu là giới hạn cho các nước Liên Xô cũ

Trang 8

Theo chính phủ Trung Quốc, giai đoạn 1953-1978, tăng trưởng GDP thực tế hàngnăm ước đạt 6,7%, mặc dù nhiều nhà phân tích cho rằng số liệu kinh tế Trung Quốc tronggiai đoạn này là rất có vấn đề vì các quan chức chính phủ thường phóng đại mức độ sảnxuất cho một loạt các lý do chính trị Theo nhà Kinh tế học Agnus Maddison ước tính thìtrung bình GDP thực tế hàng năm của Trung Quốc trong giai đoạn này chỉ khoảng 4.4%.1.2.2 Tình hình kinh tế sau cải cách

Chính phủ Trung Quốc trong năm 1978 (ngay sau cái chết của Chủ tịch Mao vào năm1976) đã quyết định phá vỡ các chính sách kinh tế theo phong cách điều hành của Liên

Xô cũ bằng cách từng bước cải cách nền kinh tế theo nguyên tắc tự do hóa thị trường và

mở cửa thương mại, đầu tư với phương Tây, với hy vọng rằng điều này sẽ làm tăng đángkể tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống Như lãnh đạo Trung Quốc Đặng

Tiểu Bình, kiến trúc sư của cải cách kinh tế của Trung Quốc, đã nói: " Không cần biết mèo vàng hay mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt" Bắt đầu từ năm 1979, Trung

Quốc đưa ra một số cải cách kinh tế

Chính quyền trung ương bắt đầu ưu đãi giá và quyền sở hữu cho nông dân, chophép họ bán một phần cây trồng của họ trên thị trường tự do Ngoài ra, người dân đượckhuyến khích để bắt đầu kinh doanh riêng của họ

Chính phủ thành lập bốn đặc khu kinh tế dọc theo bờ biển với mục đích thu hút đầu

tư nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao sang TrungQuốc

Kiểm soát kinh tế của các doanh nghiệp khác nhau đã được trao cho chính quyềncấp tỉnh và địa phương, thường được phép hoạt động và cạnh tranh trên các nguyên tắc thịtrường tự do, chứ không phải dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của kế hoạch nhà nước

Kiểm soát giá cả của Nhà nước về một loạt các sản phẩm đã dần dần được loại bỏ

Loại bỏ các rào cản thương mại khuyến khích cạnh tranh lớn hơn và thu hút đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI)

Thành tựu thu được sau cải cách kinh tế: Sau 20 năm cải cách, thành tựu mà Trung

Quốc đạt được rất đáng để các nước đang phát triển học tập

Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của Trung Quốc trong giai đoạn 1979 – 2001đạt khoảng gần 10%, tăng gấp đôi so với giai đoạn trước khi cải cách Tổng sản phẩmtrong nước (GDP) của Trung Quốc năm 1999 đạt 8.205,4 tỷ NDT, tính theo tỷ giá hối

Trang 9

đoái bình quân (được duy trì trong 5 năm liền) là 8,28 NDT/USD thì GDP của TrungQuốc đạt xấp xỉ 1.000 USD, gấp hơn 35 lần của Việt Nam (28,54 tỷ USD).

Theo số liệu của hải quan Trung Quốc, ngoại thương của Trung Quốc đã vươn lên

từ vị trí thứ 32 lên vị trí thứ 7 trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu tăng 10 lần Riêng trongnăm 2000, kim ngạch xuất khẩu ngoại thương của Trung Quốc đạt 474 tỷ USD với mứcxuất siêu 24 tỷ USD

Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất Châu Á, quốc gia cóthị trường nội địa lớn nhất thế giới Trung Quốc là nơi thu hút được nhiều vốn đầu tưnước ngoài, bình quân thời kỳ 1995-2000 lên đến 41 tỷ USD/năm, chiếm 70% tổng vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài từ Châu Âu, Bắc Mỹ vào Đông Á Cộng kim ngạch xuất khẩuvới đầu tư nước ngoài, Trung Quốc trở thành nước đứng thứ hai thế giới về dự trữ ngoại

tệ (sau Nhật Bản) với hơn 165 tỷ USD

1.2.3 Tình hình kinh tế Trung Quốc hậu WTO:

Trung Quốc chính thức gia nhập WTO tháng 11.2001, tại Hội nghị bộ trưởng củaWTO tại Doha (Qatar) Tuy vậy, lúc bấy giờ, các thành viên WTO vẫn quan ngại, và cốgắng tạo sức ép buộc Trung Quốc thay đổi, cụ thể là ở những điểm nổi bật sau: Một là cơ

sở pháp lý và bộ máy hành chính; Hai là sở hữu tri thức; Ba là vấn đề tỷ giá đồng nhândân tệ; Bốn là quyền áp đặt với thị trường may dệt bởi hàng nhập từ Trung Quốc

Đề cập những bước tiến dài của Trung Quốc, phải nhắc đến hai lĩnh vực: công nghệ ô

tô và nông nghiệp Sự bức phá trong hai lĩnh vực này khiến cho nhiều chuyên gia kinh tếtiên đoán rằng Trung Quốc sẽ không chỉ là "phân xưởng của thế giới" (world's workshop)với những mặt hàng công nghiệp mà còn có tham vọng trở thành "nông trại của thế giới"trong tương lai không xa lắm

Những kết quả đạt được:

Có thể thấy thành tựu nổi bật nhất của nền kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn hậuWTO là Trung Quốc đã chính thức thay thế Nhật ở vị trí đầu tàu kinh tế lớn thứ hai thếgiới vào năm 2010 Năm 2010 có thể được xem là năm mà kinh tế Trung Quốc có sựphục hồi về kinh tế sau dư âm tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm

2008, điều này có thể thấy rõ thông qua tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc tronggiai đoạn 2007 – 2013 (năm 2007 tốc độ này là 14,2%, sau đó tụt xuống 9,6% vào năm

2008, 9,2% vào năm 2009 và bất ngờ tăng lên 10,4% vào năm 2010 với số tuyệt đối GDP

Trang 10

vượt luôn Nhật Bản, sau đó giảm và duy trì ở mức 7,7% trong năm 2012 và 2013) Điểmlại một số nét nổi bật mà kinh tế Trung Quốc đạt được trong năm 2010:

Hình 1.4: Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc từ năm 1979 - 2013

(Nguồn: China’s Economic Rise)

Trở thành nước xuất khẩu lớn nhất và nhập khẩu thứ nhì thế giới: Bất chấp khủnghoảng tài chính, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc năm 2009 vẫn tăng đềuđều, giúp nước này trở thành nước xuất khẩu lớn nhất và nhập khẩu nhiều thứ nhì thế giới(theo số liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố ngày 10/1/2010) Năm 2010,giao thương hàng hóa của Trung Quốc tăng vọt lên đến gần 3.000 tỷ USD năm 2010 sovới chỉ 509,6 tỷ USD năm 2001 Trong đó, xuất khẩu tăng gấp gần 5 lần và nhập khẩutăng gấp 4,7 lần

Trở thành thành viên nòng cốt trong hệ thống thương mại đa phương thế giới

Gỡ bỏ hạn chế về ngoại thương và thực hiện đúng cam kết về các khu vực thuếquan và phi thuế quan

Vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới: Quý II/2010, Trung

Quốc đã chính thức vượt qua Nhật Bản để chiếm ngôi vị nền kinh tế lớn thứ hai thế giới

GDP của Nhật Bản trong quý II/2010 là 1.288 tỷ USD, trong khi đó con số này của TrungQuốc là 1.337 tỷ USD

Hình 1.5: Thứ bậc của kinh tế Trung Quốc từ 2000 - 2010

Trang 11

(Nguồn: IMF, VnExpress.net tổng hợp)

 Thống nhất thuế thu nhập doanh nghiệp cho các công ty trong nước và nướcngoài: Quốc hội Trung Quốc đã thông qua luật thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngày16/3/2007, quy định mức thuế ngang nhau cho cả doanh nghiệp trong nước và nướcngoài Luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2008, không chỉ làm lợi cho các công ty trong nước,

mà còn góp phần cái thiện chất lượng và cấu trúc đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệpTrung Quốc ngày càng nổi bật với 54 công ty lọt vào danh sách 500 công ty lớn nhất thếgiới của tạp chí Fortune, năm 2001 chỉ có 12 công ty

Các ngành công nghiệp truyền thống đạt bước tiến lớn: Theo số liệu thống kê mớinhất của WTO ngày 21/10/2011, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Trung Quốc đạt 77 tỷUSD năm 2010, chiếm 30,7% tổng kim ngạch trên toàn thế giới Xuất khẩu hàng maymặc cũng đạt 130 tỉ USD, chiếm 39,9% kim ngạch thế giới Các ngành công nghiệptruyền thống khác như đồ điện gia dụng và công nghệ thông tin cũng có tiềm năng pháttriển rất lớn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Sản xuất và tiêu thụ ô tô nhiều nhất thế giới: Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thànhquốc gia sản xuất và tiêu thụ ô tô nhiều nhất thế giới lần đầu tiên vào năm 2009 Năm

2010, cả hai số liệu này đều vượt quá 18 triệu chiếc và lập kỉ lục thế giới về số lượng.Ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc đã có những bước phát triển đáng kể để mở rộngquy mô, gây dựng thương hiệu và tăng cường ngoại thương Nếu như năm 2001, sản

Trang 12

lượng ô tô của họ chỉ là 2,47 triệu chiếc, thì đến năm 2010, con số này đã là 18,26 triệuchiếc.

Tóm lại chúng ta có thể nhận thấy nền kinh tế Trung Quốc thật sự trỗi dậy từ sau quyết định cải cách kinh tế dưới thời lãnh đạo đất nước của ông Đặng Tiểu Bình ở cuối năm 1978, đầu năm 1979 và lớn mạnh nhanh chóng từ sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO vào tháng 11/2001 Sau khi vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nền kinh tế Trung Quốc dần phục hồi và đến quý II/2010 đã chính thức vượt qua Nhật Bản để chiếm ngôi vị nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Trang 13

PHẦN II: THÂM HỤT THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ TỶ GIÁ TRONG QUAN HỆ

KINH TẾ MỸ - TRUNG.

2.1 Thâm hụt thương mại Mỹ -Trung:

2.1.1 Tình trạng thâm hụt trong quan hệ thương mại của Mỹ - Trung Quốc:

Cán cân thương mại là sự chênh lệch giữa giá trị bằng tiền của xuất khẩu so với nhậpkhẩu của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Đó là mối quan hệ giữa nhập khẩu

và xuất khẩu của một quốc gia Cán cân thương mại rơi vào tình trạng bị thâm hụt hayđược gọi đơn giản là thâm hụt thương mại khi một nước nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu.Trong quan hệ xuất nhập khẩu giữa 2 nước, tình trạng thâm hụt thương mại xảy ra khimột quốc gia nhập khẩu (từ quốc gia kia) nhiều hơn xuất khẩu (vào quốc gia đó) Haiquốc gia đang được đề cập trong phạm vi bài thuyết trình của nhóm là Mỹ và TrungQuốc

Vậy Mỹ hay Trung Quốc là quốc gia bị thâm hụt thương mại ?

Tham khảo nguồn số liệu thống kê được cung cấp bởi The United States CensusBureau (Cục Thống Kê Hoa Kỳ) về tình hình xuất nhập khẩu & cán cân thương mại của

Mỹ với Trung Quốc qua các năm (từ 1985 đến 2013, ĐVT: triệu USD) như sau:

Hình 2.1: Cán cân thương mại Mỹ - Trung giai đoạn 1985 - 2013

Ngày đăng: 18/06/2015, 02:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Mỹ - Trung giai đoạn 2000 - 2013 - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
Bảng 1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Mỹ - Trung giai đoạn 2000 - 2013 (Trang 2)
Hình 1.1: Quan hệ xuất khẩu giữa Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn 2000 – 2013 - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
Hình 1.1 Quan hệ xuất khẩu giữa Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn 2000 – 2013 (Trang 3)
Hình 1.3: Đầu tư trực tiếp từ Mỹ vào Trung Quốc giai đoạn 2000 - 2012 - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
Hình 1.3 Đầu tư trực tiếp từ Mỹ vào Trung Quốc giai đoạn 2000 - 2012 (Trang 5)
Hình 1.4: Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc từ năm 1979 - 2013 - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
Hình 1.4 Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc từ năm 1979 - 2013 (Trang 10)
Hình 2.1: Cán cân thương mại Mỹ - Trung giai đoạn 1985 - 2013 - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
Hình 2.1 Cán cân thương mại Mỹ - Trung giai đoạn 1985 - 2013 (Trang 13)
Bảng 2.1: Tình hình xuất nhập khẩu & cán cân thương mại của Mỹ với Trung - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
Bảng 2.1 Tình hình xuất nhập khẩu & cán cân thương mại của Mỹ với Trung (Trang 14)
Hình 2.2: Cán cân thương mại dịch vụ Mỹ - Trung giai đoạn 2000 - 2013 - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
Hình 2.2 Cán cân thương mại dịch vụ Mỹ - Trung giai đoạn 2000 - 2013 (Trang 22)
Hình 2.4 Tỷ giá USD/RMB giai đoạn 1993 - 2013 - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ QUAN HỆ KINH TẾ MỸ - TRUNG VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
Hình 2.4 Tỷ giá USD/RMB giai đoạn 1993 - 2013 (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w