Các nước có luật chung thì quyền của cổ đông ở mức độ cao tương ứng với sự phát triển thị trường vốn ở mức độ cao hơn Claessens, và cộng sự, 2002 và Caprio, và cộng sự, 2003, và qu
Trang 1KIỂM SOÁT VỐN, THỂ CHẾ VÀ
NHỮNG MỐI TƯƠNG TÁC
GVHD : TS ĐINH THỊ THU HỒNG THỰC HIỆN : NHÓM 4- CH NGÂN HÀNG ĐÊM 4 - K22
NHỮNG VẤN ĐỀ CHO PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
Trang 2I, Mục tiêu nghiên cứu
Trang 3II, Các nghiên cứu trước
đây
Nghiên cứu sự cân bằng giữa chi phí và
lợi ích của tự do hóa tài chính (Kaminsky
và Schmukler, 2001a, b, 2002;
Schmukler, 2003)
McKinnon, 1973; Shaw, 1973: Tự do hóa
tài chính có thể giảm chi phí vốn và gia
tăng khả năng tiếp cận vốn cho người đi
vay.
Stulz (1999) cho thấy toàn cầu hóa tài
chính làm giảm chi phí vốn cổ phần.
Quá trình tự do hóa làm tăng hiệu quả
của hệ thống tài chính (Claesens và cộng
sự, 2001; Stulz năm 1999; Stiglitz 2000)
Các nghiên cứu của chuyên gia kinh
tế Levine, Loayza, và Beck (2000) về tác động của các yếu tố pháp lý và phát triển tài chính đến sự phát triển của các trung gian tài chính
La Porta, Lopez-de-Silanes, Shleifer
và Vishny (LLSV, 1997, 1998) cho rằng nguồn gốc pháp lý có ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường pháp lý trong các giao dịch tài chính
và giải thích sự khác biệt giữa các quốc gia trong phát triển tài chính
Trang 4II, Các nghiên cứu trước
đây
LLSV (1997, 1998) và Levine (1998,
2003) cho thấy quyền của cổ đông ở mức
độ thấp bị ảnh hưởng bởi thị trường vốn
kém phát triển (đặc biệt là luật dân sự
Pháp)
Các nước có luật chung thì quyền của cổ
đông ở mức độ cao tương ứng với sự
phát triển thị trường vốn ở mức độ cao
hơn (Claessens, và cộng sự, 2002 và
Caprio, và cộng sự, 2003), và quyền chủ
nợ lớn có tác động tích cực đến sự phát
triển của các trung gian tài chính.
Những nghiên cứu trước của Chinn
và Ito năm 2002 về tự do hóa tài khoản vốn, thể chế và phát triển tài chính: thông qua các quốc gia.
Các nước cần phải tự do hóa thị trường hàng hóa của mình trước khi
tự do hóa lĩnh vực tài chính (McKinnon, 1991).
Ngoài ra, để cho các hệ thống tài chính đạt được những lợi ích của tự
do hóa tài chính thì bản thân hệ thống tài chính đó cần phải được phát triển đến một mức độ nhất định (Martell và Stulz, 2003).
Trang 5III, Dữ liệu nghiên cứu
Các dữ liệu được rút ra từ một số nguồn , chủ yếu là WB, IMF, và các cơ sở dữ liệu của Beck, Demirgüc-Kunt, và Levine (2000)
Phân tích bảng dữ liệu bao gồm 108 quốc gia (trong đó có 21 nước công nghiệp và 31 quốc gia thị trường mới nổi) và hai mươi năm từ
1980-2000
Trang 6IV Nội dung nghiên cứu
Trang 71 Mối quan hệ giữa hội nhập tài chính,
phát triển tài chính và môi trường pháp lý/ thể chế
Mô hình nghiên cứu
Trong đó :
FD là một thước đo của sự phát triển tài chính
KAOPEN là một công cụ đo lường hội nhập tài chính;
X là một vector của các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô
L i là đo lường của sự phát triển pháp lý và thể chế
Trang 8Đo lường phát triển tài chính
Ba biến để đo lường:
• SMKC :vốn hóa thị trường chứng khoán
• SMTV : tổng giá trị giá trị thị trường chứng khoán
• SMTO :tỷ lệ doanh thu thị trường chứng khoán
Trang 9Lưu ý
Thứ nhất, tập trung vào sự phát triển của thị trường vốn trong nước
Thứ hai, không xem xét tác động của tự
do hóa tài khoản vốn đến sự niêm yết
trên thị trường nước ngoài của các công
ty quốc tế
Trang 10Đo lường chỉ số độ mở tài khoản vốn
Chỉ số KAOPEN là để đo lường mức độ của kiểm soát vốn, cũng như các hạn chế khác liên quan
trong giao dịch quốc tế
Trang 11Đo lường phát triển pháp lý / thể chế
Phân thành hai nhóm:
Nhóm 1: liên quan tới sự phát triển chung của hệ thống pháp lý và các thể chế, cụ thể là LEGAL1, Corrupt, LAO và BQ
Nhóm 2 : liên quan đến các giao dịch tài chính, cụ thể là CREDITOR, ENFORCE, SHRIGHTS và ACCOUNT
Trang 12Kết quả thực nghiệm Bảng 5.1
Trang 13Bảng 6
Trang 14Bảng 5.2
Trang 15Kiểm tra chuyên sâu
Kiểm tra liệu kết quả ban đầu có nhạy cảm với giá trị ngoại lai hay không.
Trang 16Thử nghiệm 1
Sử dụng dữ liệu gốc hàng năm, loại trừ các quan
sát của các biến phát triển tài chính nếu tỷ lệ tăng
trưởng hàng năm của chúng là 2 lần độ lệch chuẩn cách xa giá trị trung bình về cả 2 phía.
Loại trừ giá trị ngoại lai, giảm các kích thước quan sát khoảng 0-11%
Trang 17Kết quả thử nghiệm 1
Tầm quan trọng của các hệ số được ước lượng và các sai số chuẩn trở nên thấp hơn
Đặc biệt là trong các mô hình thị trường chứng
khoán có liên quan đến các nước kém phát triển và thị trường mới nổi
Trang 18Thử nghiệm 2
Giảm các quan sát nếu tỷ lệ tăng trưởng hàng năm
của chúng là lớn hơn 1,5 lần độ lệch lệch chuẩn cách xa giá trị trung bình về cả 2 phía.
Giảm đáng kể kích thước mẫu (đôi khi đến 40%)
Trang 20Mối quan hệ nhân quả ngược
Phát triển tài chính dẫn các nước thực hiện chính sách tự do hóa tài chính hay ngược lại ?
Tác giả thay đổi thay đổi các vị trí KAOPENt-5 và các biến đo lường phát triển tài chính (PCGDP, SMKC, SMTV, và SMTO)
Trang 21Tác giả thay đổi thay đổi các vị trí KAOPENt-5 và các biến đo lường phát triển tài chính (PCGDP, SMKC, SMTV, và SMTO)
Trang 22Kết quả hồi quy
Thông qua các hồi quy với các đo lường phát triển tài chính khác nhau cũng như các biến pháp lý / thể chế, các hệ số của , hầu hết là những phủ định , bác bỏ giả thuyết rằng sự phát triển tài chính dẫn đến hội nhập tài chính
1
Trang 232 Mối quan hệ giữa hội nhập thương mại
và hội nhập tài chính
Mô hình nghiên cứu
Trong đó :
KAOPENt: là chỉ số đo lường hội nhập tài chính năm t
KAOPENt-5 : là chỉ số đo lường hội nhập tài chính năm t-5
TradeOpent-5: là chỉ số đo lường hội nhập thương mại năm t-5,
là một vector của các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô, cụ thể
là thặng dư ngân sách nhà nước, dự trữ quốc tế, và GDP bình quân đầu người.
Trang 242 Mối quan hệ giữa hội nhập thương mại
và hội nhập tài chính
Mô hình nghiên cứu
- Trong phân tích thực nghiệm, tác giả tập trung vào các hệ số
để xem nếu sự hội nhập trong giao dịch hàng hóa có thể là điều kiện tiên quyết cho hội nhập tài chính.
- Đối với các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô thì:
Thặng dư ngân sách nhà nước, Dự trữ quốc tế là những yếu tố quyết định của kiểm soát vốn Kiểm soát vốn càng cao sẽ dẫn đến mức
độ hội nhập tài chính thấp và ngược lại.
GDP bình quân đầu người kiểm soát mức độ phát triển của hệ
thống kinh tế, tỷ lệ thuận với hội nhập tài chính.
2
Trang 25Kết quả nghiên cứu
Bảng 7: Những yếu tố quyết định của độ mở tài khoản vốn và tự do thương mại
Full, LDC, và EMG: Bảng dữ liệu 5 năm từ 1980-2000
Trang 26Nhận xét:
Qua kết quả hồi quy tại bảng 7, ta thấy thặng dư ngân sách trung bình và GDP đầu người góp phần đáng kể, nhưng dự trữ quốc tế thì không, biến hội nhập thương mại dường như góp phần vào mức độ hội nhập tài chính trong mẫu đầy đủ và mẫu con của các nước kém phát triển , chỉ ra rằng hội nhập trong giao dịch hàng hóa là điều kiện tiên quyết cho hội nhập tài chính.
Khi tác giả hoán đổi vị trí của KAOPEN và TRADEOPEN trong hồi quy,
có thể thấy rằng trong cả mẫu đầy đủ và mẫu con, biến hội nhập tài chính không góp phần đáng kể Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng càng hội nhập trong giao dịch hàng hóa có thể dẫn đến càng hội nhập trong tài khoản vốn , nhưng ngược lại quan hệ nhân quả không xuất hiện.
Kết quả nghiên cứu
Trang 27Trình tự tự do hóa
Tác giả thực hiện phương pháp bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn (2SLS) ước tính đo lường biến KAOPEN t-5 trong phương trình (1) với các điều kiện ban đầu của hội nhập tài chính và hội nhập thương mại trong thời kỳ năm năm tính tới biến (tức
là trễ 10 năm), cũng như thặng dư ngân sách nhà nước và GDP bình quân đầu người trong kỳ trung bình năm năm đến t-5 và các biến giả khu vực
Trang 28Bảng 8: Phân tích bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn bằng sản lượng bình quân đầu người, số dư ngân sách, và tự do thương mại
LEGAL1 (Sự phát triển pháp luật/thể chế chung)
Full, LDC, và EMG: Bảng dữ liệu 5 năm từ 1980-2000
Trang 29Nhận xét:
Đối với nhóm các nước kém phát triển, có thể nhìn thấy rằng cả hai tầm quan trọng và ý nghĩa thống kê của các hệ số ước tính cho mô hình với vốn hóa thị trường chứng khoán (SMKC) và
tổng giá trị thị trường chứng khoán ( SMTV) gia tăng Đối với SMKC, mức độ của cả phát triển pháp lý và hội nhập tài chính dường như có đóng góp đáng kể cho sự phát triển thị trường vốn
Với kết quả này, có thể kết luận rằng hội nhập tài chính tiếp theo
là hội nhập thương mại dẫn đến phát triển thị trường vốn đặc
biệt là khi nó diễn ra trong một nền kinh tế với một hệ thống
pháp lý phát triển hợp lý.
Kết quả nghiên cứu
Trang 303 Mối tương quan giữa ngân hàng và hội nhập tài chính
Giải quyết 2 vấn đề
Trang 31Sự phát triển của lĩnh vực ngân hàng là tiền đề cho sự phát triển của thị trường vốn ?
Mô hình nghiên cứu
Trong đó:
OtherFin đề cập đến PCGDP đối với hồi quy về sự phát triển thị trường vốn và đề cập đến SMKC cho hồi quy với PCGDP
1
Trang 32Bảng 9: Trình tự của tự do hóa tài chính
Trang 33Nhận xét:
Trong khi SMKCt-5 không bao giờ tham gia một cách đáng kể trong mô hình phát triển ngân hàng trong cả mẫu đầy đủ và mẫu con, hệ số của PCGDP t-5 là luôn luôn tham gia một cách đáng kể trong mô hình với SMKC và SMTV cho mẫu con LDC với tất cả các biến pháp lý / thể chế
Kết quả này cho thấy rằng sự phát triển ngân hàng là một điều kiện tiên quyết quan trọng cho sự phát triển trong thị trường vốn của các nước kém phát triển, trong khi sự phát triển trong thị trường vốn dường như không phải là một điều kiện tiên quyết cho các ngân hàng phát triển trong bất kỳ quốc gia nào.
Kết quả nghiên cứu
Trang 34Mô hình nghiên cứu
Tác giả đưa vào một biến mới (OtherFD i
t - OtherFD i
t-5 ) đó là tăng trưởng bình quân năm năm của phát triển tài chính trong
khu vực khác.
Sự phát triển của một ngành này thay thế hoặc
bổ sung cho sự phát triển ngành khác?
2
Trang 35Bảng 10: Mối quan hệ giữa các loại hình khác nhau của phát triển tài chính
Trang 36Nhận xét:
Nhóm LCD với tất cả các biến pháp lý / thể chế, cả hai (PCGDPit
- PCGDPit-5 ) trong mô hình SMKC và (SMKCit - SMKCit-5 ) trong mô hình PCGDP là tham gia đáng kể Điều này có nghĩa rằng đối với nhóm các nước kém phát triển, sự phát triển trong lĩnh vực ngân hàng và trong thị trường vốn là bổ sung cho nhau
Với các kết quả trong các phần trước, trong khi các nước phát triển cũng có thể phát triển tốt thị trường tài chính của mình bằng cách mở tài khoản vốn nếu nó được trang bị với một mức độ phát triển pháp lý / thể chế hợp lý, phát triển ngân hàng và phát triển thị trường vốn dường như có tác động tương hỗ.
Kết quả nghiên cứu
Trang 37V Kết luận
Hội nhập tài chính góp phần phát triển thị trường vốn chỉ khi đạt đến một ngưỡng phát triển chung của hệ
thống pháp lý.
Việc mở cửa thị trường hàng hóa là điều kiện tiên
quyết cho việc mở cửa tài chính.
Sự phát triển của ngành ngân hàng là điều kiện tiên
quyết để phát triển thị trường vốn.
Sự phát triển của ngân hàng và thị trường vốn ở những quốc gia kém phát triển cũng có những tác động tương tác hai chiều.
Trang 38THE END!