1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - NAY

34 557 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 490,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường Để nhận biết được tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động của nền kinh tế nói chung, hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, người ta th

Trang 1

1 Tỷ giá hối đoái

1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái

Khái niệm của tỷ giá hối đoái rất phức tạp có thể tiếp cận nó từ những góc độ khácnhau

Xét trong phạm vi thị trường của một nước, các phương tiện thanh toán quốc tếđược mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một tỷgiá nhất định Do đó có thể hiểu tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ được biểu hiệnbằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác hay là bằng số lượng ngoại tệ nhận được khiđổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ.Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp hơn giá trị ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai.Chẳng hạn ở Việt Nam người ta thường nói đến số lượng đồng Việt Nam nhận được khiđổi một đồng USD, EUR hay GBP …Trong thực tế, cách sử dụng tỷ giá như vậy thuậnlợi hơn Tuy nhiên trong nghiên cứu lý thuyết thì cách định nghĩa thứ nhất thuận lợi hơn

Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác, đó là quan hệ so sánh giữahai đồng tiền của hai nước với nhau Một đồng tiền hay một lượng đồng tiền nào đó đổiđược bao nhiêu đồng tiền khác được gọi là tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các đồng tiền vớinhau hay gọi tắt là tỷ giá hối đoái hay ngắn gọn là tỷ giá Như vậy, trên bình diện quốc tế,

có thể hiểu một cách tổng quát: tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền sovới nhau

Như vậy, tỷ giá hối đoái (thường gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả giữahai đồng tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồngtiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác Trong trường hợp cụ thể của Việt Nam,theo khoản 9, điều 4 Pháp lệnh về ngoại hối: Tỷ giá của đồng Việt Nam là giá của mộtđơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam Theo giáo trình Tàichính quốc tế của GS TS Nguyễn Văn Tiến định nghĩa: Tỷ giá là giá cả của một đồngtiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá giữa VND và USD ở mức 20.245 VND/USDđược hiểu là 1 đô la Mỹ đổi được 20.245 đồng Việt Nam Đây cũng là ví dụ cho phươngpháp yết giá trực tiếp với tỷ giá là giá của một đơn vị ngoại tệ tính bằng số đơn vị nội tệ

và được sử dụng bởi hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Theo phương

Trang 2

pháp yết giá trực tiếp thì ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yêt giá và nội tệ đóng vai trò làđồng tiền định giá Ngược lại, phương pháp yết giá gián tiếp với tỷ giá là giá của một đơn

vị nội tệ tính bằng số đơn vị ngoại tệ, chỉ được dùng cho 5 loại đồng tiền là EUR, GBP,AUD, NZD và SDR

1.2 Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường

Để nhận biết được tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động của nền kinh

tế nói chung, hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, người ta thường phân loại tỷ giá theocác tiêu thức sau đây:

Căn cứ vào đối tượng xác định tỷ giá

+ Tỷ giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng Trung ương công bố, nó phản ánh

chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ Trên cơ sở của tỷ giá này các ngân hàngthương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳhạn, hoán đổi

+ Tỷ giá thị trường là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng trên cơ

sở quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định

Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán

+ Tỷ giá giao ngay là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay nhưng việc thanh toán xảy

ra trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo

+ Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay nhưng việc thanh toán xảy

ra sau đó từ 3 ngày làm việc trở lên

Căn cứ vào giá trị của tỷ giá

+ Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá giữa giá trị của các đồng tiền so với nhau, không tính

đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát

+ Tỷ giá thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua trong một cặp

tiền tệ phản ảnh giá cả hàng hóa tương quan có thể bán ra nước ngoài và hàng tiêu thụtrong nước Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nước đó

Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối

+ Tỷ giá điện hối là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ

sở để xác định các loại tỷ giá khác

Trang 3

+ Tỷ giá thư hối là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư Tỷ giá điện hối thường cao

hơn tỷ giá thư hối

Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hối

+ Tỷ giá mua vào là tỷ giá mà tại đó ngân hàng sẵn sàng mua ngoại hối vào + Tỷ giá bán ra là tỷ giá mà tại đó ngân hàng sẵn sàng bán ngoại hối ra Tỷ giá

mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi nhuận kinh doanhngoại hối của ngân hàng

1.3 Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở

Đối với từng quốc gia hay nhóm quốc gia (nếu có sự liên kết và có đồng tiềnchung) thì tỷ giá hối đoái mà họ quan tâm hàng đầu chính là tỷ giá giữa đồng tiền củachính quốc gia đó hay nhóm các quốc gia đó (đồng nội tệ) với các đồng tiền của các quốcgia khác (các đồng ngoại tệ) Tỷ giá giữ vai trò quan trọng đối với mọi nền kinh tế Sựvận động của nó có tác động sâu sắc mạnh mẽ tới mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô củamỗi quốc gia thể hiện trên hai điểm cơ bản sau :

Thứ nhất, TGHĐ và ngoại thương: Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan

trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá xuấtnhập khẩu của chính quốc gia đó Khi đồng tiền của một quốc gia tăng giá (Tăng trị giá

so với đồng tiền khác) thì hàng hoá nước đó ở nước ngoài trở thành đắt hơn và hàng hoánước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn Ngược lại khi đồng tiền một nước giảm giá, hànghoá của nước đó tại nước ngoài trở nên rẻ hơn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đótrở nên đắt hơn (các yếu tố khác không đổi) Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhậpkhẩu vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế, gây ra thâm hụt hoặc thặng dưcán cân

Thứ hai, TGHĐ và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát Tỷ giá hối đoái không

chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương, mà thông qua đó tỷ giá sẽ có tác độngđến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát khảnăng sản xuất, công ăn việc làm hay thất nghiệp…

Nếu tỷ giá hối đoái tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm (đồng nội tệ ViệtNam liên tục mất giá) có nghĩa lạm phát đã tăng Nhưng bên cạnh đó, đối với lĩnh vựcsản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ

Trang 4

giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này, giúp phát triển sản xuất và từ đó cóthể tạo thêm công ăn việc làm giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên.Ngược lại, nếu các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ giảm, khả năng cạnh tranh củacác lĩnh vực trong nước cũng có xu hướng giảm, sản lượng quốc gia có thể giảm, thấtnghiệp của nền kinh tế có thể tăng lên … nếu tỷ giá hối đoái giảm xuống (USD giảm giáhay VND tăng giá).

1.1 1.4 Những nhân tố tác động tới tỷ giá

Về dài hạn có 4 nhân tố tác động tới tỷ giá: Năng suất lao động, mức giá cả tươngđối ở thị trường trong nước, thuế quan và hạn mức nhập khẩu, ưa thích hàng nội so vớihàng ngoại

- Năng suất lao động (NSLĐ) trong nước đóng một vai trò quan trọng trong việcảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ NSLĐ trong nước tăng lên tương đối sovới nước ngoài, đồng nghĩa với việc các nhà kinh doanh có thể hạ giá thành sản phẩm,dịch vụ của mình tương đối so với hàng ngoại nhập, dẫn đến sự gia tăng mức cầu củahàng nội dịa so với hàng ngoại nhập, làm cho hàng nội địa vẫn bán tốt khi giá đồng nội tệtăng lên (TGHĐ) giảm xuống và ngược lại Thực tế trên thị trường thế giới TGHĐ củađồng tiền phụ thuộc rất nhiều vào NSLĐ tương đối của nước đó.Một nền kinh tế pháttriển có NSLĐ cao trong thời kì nào đó thường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng giá củađồng tiền nước đó

- Mức giá tương đối ở thị trường trong nước là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trựctiếp đếnTGHĐ Theo thuyết mức giá cả tương đối, khi mức giá cả hàng nội địa tăngtương đối so với hàng ngoại nhập thì cầu của hàng nội địa sẽ giảm xuống và đồng nội địa

có xu hướng giảm giá để cho hàng nội bán được tốt hơn và ngược lại nó sẽ làm đồng nội

tệ có xu hướng tăng giá, bởi vì hàng nội địa vẫn bán tốt ngay cả với giá trị cao hơn củađồng nội tệ

- Thuế quan và hạn mức nhập khẩu là những công cụ kinh tế mà chính phủ dùng

để điều tiết và hạn chế nhập khẩu Chính công cụ này nhiều hay ít đã tác động và làmtăng giả cảcủa hàng ngoại nhập, làm giảm tương đối nhu cầu với hàng nhập khẩu, gópphần bảo hộ và khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất trong nước Những công cụ mà nhànước dùng để hạn chế nhập khẩu sẽ ảnh hưởng và làm cho tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ

có xu hướng giảm về lâu dài

Trang 5

- Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại Nếu sự ham thích của người nước ngoài vềmặt hàng trong nước tăng lên thì cầu về hàng nội sẽ tăng lên làm đồng nội tệ tăng giá, bởihàng nội địa vẫn bán được nhiều ngay cả với giá cao hơn của đồng nội tệ Cầu đối vớihàng xuất của một nước tăng lên làm cho đồng tiền nước đó giảm giá.

2 2 Chính sách tỷ giá hối đoái

2.1 2.1 Khái niệm:

Chính sách TGHĐ là một hệ thống các công cụ dùng để tác động tới cung cầungoại tệ trên thị trường từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêucủa chính sách tiền tệ quốc gia

Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái tập trung chú trọng vào hai vấn đề lớnlà: vấn đề lựa chọn chế độ (hệ thống) tỷ giá hối đoái (cơ chế vận động của tỷ giá hối đoái)

và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái

2.2 2.2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái

Trong nền kinh tế mở, động cơ hoạch định chính sách là những mục tiêu cânđối bên trong và bên ngoài Trong khi đó tỷ giá hối đoái lại là một yếu tố có khả năng ảnhhưởng trực tiếp đến những cân đối này nên việc hoạch định những chính sách tỷ giá phảitrực tiếp nhắm đến hai mục tiêu này

Trên đây là hai nhóm mục tiêu cơ bản mà chính sách tỷ giá cuối cùng phảihướng đến.Tuy nhiên trong giai đoạn nhất định nào đó, chính sách tỷ giá cũng có thêmnhững mục tiêu cụ thể như: thường xuyên xác lập và duy trì mức tỷ giá cân bằng, duy trì

và bảo vệ giá trị đồng nội tệ, tiến tới thực hiện đầy đủ chức năng của đồng tiền (bao gồmviệc thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng tiền), gia tăng dự trữ ngoại tệ

Bây giờ sẽ lần lượt xem xét hai mục tiêu: cân bằng nội và cân bằng ngoại

* Mục tiêu cân bằng nội: Là trạng thái mà ở đó các nguồn lực của một quốc

gia được sử dụng đầy đủ, thể hiện ở sự toàn dụng nhân công và mức giá cả ổn định Mứcgiá biến động bất ngờ có tác động xấu đến các khoản tín dụng và đầu tư Chính phủ cầnngăn chặn các đợt lên hay xuống phát triển đột ngột của tổng cầu để duy trì một mức giá

cả ổn định, có thể dự kiến trước được Vì vậy, tỷ giá hối đoái được xem như là một công

cụ đắc lực, hỗ trợ hiệu quả cho Chính phủ trong việc điều chỉnh giá cả, đặc biệt là trong

Trang 6

* Mục tiêu cân bằng ngoại: Khái niệm "cân bằng ngoại" khó xác định hơn nhiều

so với "cân bằng nội", nó chủ yếu là sự cân đối trong "tài khoản vãng lai" Trên thực tếngười ta không thể xác định được "tài khoản vãng lai" nên cân bằng, thâm hụt hay thặng

dư bao nhiêu chỉ có thể thống nhất rằng: không nên có một sự thâm hụt hay thặng dư quálớn mà thôi Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị xã hội của một quốc gia mà Chínhphủ phải có cách để điều chỉnh tỷ giá hối đoái của họ cho phù hợp, hiệu quả, chủ yếu tácđộng vào các hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư xuyên quốc gia

2.3 Các công cụ của chính sách tỷ giá hối đoái.

2.3.1 2.3.1 Công cụ lãi suất chiết khấu

Đây là công cụ gián tiếp thường sử dụng để điều chỉnh TGHĐ trên thị trường Lãisuất chiết khấu được đánh giá là công cụ hiệu quả nhất trong chính sách điều chỉnhTGHĐ Cơ chế tác động đến TGHĐ của lãi suất chiết khấu: khi TGHĐ đạt đến mức báođộng cần phải can thiệp thì NHTW tiến hành điều chỉnh lãi suất chiết khấu Khi lãi suấtchiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường Từ đólàm dịch chuyển các dòng vốn quốc tế làm thay đổi cán cân thanh toán quốc tế (tài khoảnvốn, tài khoản vãng lai …) hoặc ít nhất làm cho người sở hữu vốn trong nước chuyển đổiđồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi TGHĐ

Cụ thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thếgiới sẽ đổ vào trong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướngchuyển đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do tác động đó ảnhhưởng đến cung cầu nội – ngoại tệ làm cho tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngược lại muốntăng tỷ giá, giảm giá trị đồng nội tệ sẽ tiến hành giảm lãi suất tái chiết khấu

Tuy nhiên, lãi suất do cung cầu của vốn vay quyết định Còn tỷ giá thì do quan hệcung cầu về ngoại tệ quyết định Điều này có nghĩa là những yếu tố để hình thành tỷ giá

và lãi suất là không giống nhau, do vậy biến động của lãi suất không nhất thiết kéo theobiến động của tỷ giá Công cụ lãi suất chiết khấu được sử dụng để điều chỉnh TGHĐtrong ngắn hạn

2.3.2 Công cụ ngoại hối

Đây là chính sách mà NHTW can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách muabán ngoại hối trên thị trường mở, đây là một công cụ có tác động mạnh và trực tiếp đếnTGHĐ nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể đã đề ra Cụ thể:

Trang 7

- Khi tỷ giá lên cao, NHTW tăng cường bán ngoại hối ra thị trường làm cungngoại hối trên thị trường tăng lên do đó làm giảm bớt căng thẳng về cung cầu ngoại hốitrên thị trường và kéo tỷ giá giảm xuống

- Khi tỷ giá giảm xuống , NHTW sẽ mua vào ngoại hối, tăng nhu cầu ngoại hốitrên thị trường và làm giảm bớt căng thẳng trong quan hệ cung cầu ngoại hối trên thịtrường dẫn tới TGHĐ sẽ tăng lên

Can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua bán trên thị trường ngoại hốicòn có tác động trực tiếp tới các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác (lãi suất, giá cả, lạm phát…).Công cụ này được dùng để phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW để giảm thiểu sự tácđộng không tốt của công cụ này tác động tới nền kinh tế Một hình thức khác của chínhsách công cụ ngoại hối đó là việc thành lập quỹ bình ổn hối đoái Nhà nước sẽ thành lậpquỹ này dưới hình thức bằng ngoại tệ, vàng hoặc phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn,chủ động mua vào bán ra ngoại tệ để kịp thời can thiệp làm thay đổi quan hệ cung cầu vềngoại hối trên thị trường, nhằm mục đích điều chỉnh tỷ giá

Khi ngoại tệ vào nhiều, thì sử dụng quỹ này để mua ngoại tệ nhằm hạn chế mức

độ mất giá của đồng ngoại tệ Ngược lại, trong trường hợp ngoại tệ đi ra nước ngoài, quỹbình ổn tỷ giá tung ngoại tệ ra bán để ngăn chặn giá ngoại tệ tăng Tuy nhiên để thực hiệntốt công cụ này thì vấn đề quan trọng ở đây là NHTW phải có dự trữ ngoại hối lớn, nếucán cân thanh toán của một nước bị thiếu hụt thường xuyên thì khó có đủ số ngoại hối đểthực hiện phương pháp này

S 1

i

1

D 1

Đồ thị 2.4.5.1: Ảnh hưởng ngoại hối đến

TGHĐ

Trang 8

7,89%, tức là giá của 1 GBP tăng từ 2,40 USD( trước khi phá giá ) lên 2,605 USD, haysức mua của một USD giảm từ 0,416 GBP xuống 0,383 GBP.

Phá giá tiền tệ có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và hạn chế nhập khẩuhàng hoá, do vậy nó đã góp phần cải thiện cán cân thương mại, làm cho TGHĐ bớt căngthẳng Tuy nhiên, phá giá tiên tệ thường gây tác động tiêu cực đối với thị trường ngoạihối Kinh nghiệm của các nước cho thấy, biện pháp này chỉ thành công khi mà nền kinh

tế có tiềm năng kinh tế vững chắc

2.3.4 Nâng giá tiền tệ

Nâng giá tiền tệ là một công cụ ngược lại so với công cụ phá giá tiền tệ Đây làviệc NHTW chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, làm choTGHĐ giảm xuống Nâng giá tiền tệ chỉ thực hiện khi giá hàng hóa và dịch vụ xuất khẩuđược đánh giá là có giá thấp hơn giá của thị trường thế giới; hạn chế xuất khẩu nhằm cânbằng cán cân thương mại quốc tế tránh được sức ép của các nước khác trong thương mạimậu dịch quốc tế hoặc tăng khả năng nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, kiềm chế lạm phát.Những quốc gia có nền kinh tế phát triển quá “nóng” muốn làm giảm bớt sự phát triển

“nóng” của nền kinh tế thì thường dùng biện pháp nâng giá tiền tệ để giảm đầu tư trongnước và tăng cường chuyển nguồn vốn ra nước ngoài

+ Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các NHTM: Khi ngoại tệ

khan hiếm trên thị trường ngoại hối, NHTW có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với vốnhuy động bằng ngoại tệ của các NHTM, làm cho chi phí sử dụng vốn ngoại tệ tăng Đểkinh doanh có lãi buộc các NHTM phải hạ lãi suất huy động ngoại tệ, kết quả là việc nắmgiữ ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với nắm giữ nội tệ khiến cho những người sởhữu ngoại tệ muốn bán ngoại tệ để nắm giữ nội tệ, làm tăng cung ngoại tệ trên thị trườngngoại hối

+ Thuế quan: thuế quan cao có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu, nhập khẩu giảm

làm cho cầu ngoại tệ giảm kết quả là làm nội tệ lên giá Khi thuế quan thấp sẽ có tác dụngngược lại

+ Giá cả: Thông qua hệ thống giá cả, Chính phủ có thể trợ giá cho những mặt

hàng xuất khẩu Trợ giá xuất khẩu làm cho khối lượng xuất khẩu tăng, làm tăng cungngoại tệ khiến cho nội tệ lên giá Mặt khác, Chính phủ cũng có thể bù giá cho một số mặthàng nhập khẩu thiết yếu; bù giá làm tăng nhập khẩu, kết quả làm cho nội tệ lên giá

Trang 9

2.4 2.4 Các chế độ tỷ giá hối đoái

Dựa vào mức độ can thiệp của Chính phủ, người ta phân ra 3 loại chế độ tỷ giá cơbản đó là chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn và chế độ tỷ giá thả nổi cóđiều tiết

2.4.1 Chế độ tỷ giá hối đoái cố định

Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW tuyên bố sẽduy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc một số đồng tiền nào đó ởmột mức độ nhất định Ở đây NHTW đóng vai trò điều tiết lượng dư cầu hoặc dư cung vềngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán ra hoặc mua vào số dư đó

- Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:

+ Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lại một môi trường ổn định,thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh

+ Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi các chính sách vĩ mô

+ Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột về mục tiêuchính sách và những biến động về tỷ giá

+ Làm tăng niềm tin vào chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát ở mức thấp.Làm giảm nhập khẩu ở các nước có nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi Lạm phát

có thể được kiềm chế trong điều kiện quản lý kinh tế yếu kém

+ Làm giảm các chi phí giao dịch, tăng mậu dịch, làm giảm lãi suất và rủi ro

về lãi suất, đồng thời tăng đầu tư và phát triển

- Hạn chế của chế độ tỷ giá cố định:

+ Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốc từ bên ngoài hoặc từ thitrường hàng hoá trong nước, bởi khi đó mức chênh lệch thực tế quá lớn về giá trị giữa nội

tệ và ngoại tệ sẽ dẫn đến phá vỡ mức cân bằng tỷ giá

+ Chế độ tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính sách tiền tệ, khiến choNHTW gặp khó khăn trong việc thay đổi lượng tiền cung ứng

Trang 10

+ Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng "nhập khẩu lạm phát"không mong muốn

+ Làm tăng tính bất ổn của các cú sốc và tỷ giá cố định danh nghĩa

+ Làm tăng rủi ro về các cuộc đầu cơ tấn công vào tiền tệ, đặc biệt khi có biểuhiện các dòng vốn không ổn định Làm tăng nguy cơ khủng hoảng trong bộ phậnngân hàng

2.4.2 Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn

Sau thất bại của hệ thống tỷ giá hối đoái Bretton Woods, vào tháng 7/1976,tại hội nghị Jamaica, các thành viên của IMF đã thống nhất đưa ra những quy định mớicho hệ thống tiền tệ quốc tế Đó là "tỷ giá linh hoạt" hay "tỷ giá thả nổi" được các thànhviên IMF chấp nhận Theo chế độ mới, tỷ giá được xác định và vận động một cách tự dotheo quy luật thị trường mà cụ thể là quy luật cung - cầu ngoại tệ NHTW các nướckhông có bất kỳ một tuyên bố hay cam kết nào về chỉ đạo, điều hành tỷ giá

- Ưu điểm của chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn:

+ Giúp cán cân thanh toán cân bằng: Giả sử một nước nào đó có cán cân vãng laithâm hụt khiến nội tệ giảm giá Điều đó thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu cho đếnkhi cán cân thanh toán trở nên cân bằng

+ Đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ

+ Góp phần ổn định kinh tế, tránh được những cú sốc bất lợi từ bên ngoài, vì khigiá cả nước ngoài tăng sẽ làm cho tỷ giá tự điều chỉnh theo cơ chế PPP để ngăn ngừa cáctác động ngoại lai

+ Làm giảm nhập khẩu, làm tăng sự trưởng thành của bộ phận tài chính và thểchế

+ Làm tăng tốc độ phát triển do hấp thụ được các cú sốc và ít bị chệch hướngbởi các cú sốc

+ Làm giảm rủi ro về tiền tệ và ngân hàng

- Hạn chế của chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn:

+ Là nguyên nhân gây nên sự bất ổn do các hoạt động đầu cơ làm méo mó, sailệch thị trường, có khả năng gây nên lạm phát cao và tăng nợ nước ngoài

Trang 11

+ Hạn chế các hoạt động đầu tư và tín dụng do tâm lý lo sợ sự biến động theohướng bất lợi của tỷ giá.

+ Làm tăng tính bất ổn của tỷ giá hối đoái thực

2.4.3 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết (bán thả nổi):

Đây là chế độ tỷ giá hối đoái có sự can thiệp của hai chế độ cố định và thả nổihoàn toàn Ở đó, tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị trường, chính phủchỉ can thiệp khi có những biến động mạnh vượt quá mức độ cho phép

Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ:

- Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu và sẽ

can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó

- Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá chính thức

có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ dao động cho phù hợp với từng thờikỳ

- Kiểu tỷ giá đeo bám: Chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước làm tỷ giá

mở cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp

* Ưu điểm

- Tỷ giá thả nổi có quản lý phần nào khắc phục được những nhược điểm của chế

độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn vì nhờ có sự can thiệp đúng mức và kịp thời của NHNN sẽgiúp cho thị trường ngoại hối trong nước bị ảnh hưởng và biến động ít hơn trước những

cú sốc về kinh tế trên thế giới

- Cơ chế can thiệp vào tỷ giá thả nổi này sẽ phát huy được vai trò của công cụ giátrong nền kinh tế, không thể để tỷ giá bị trôi nổi trước những hoạt động đầu cơ ngoại tệ,

mà thực sự biến nó thành công cụ khuyến khích các hoạt động xuất khẩu, ngăn cấm nhậpkhẩu… cải thiện cán cân thương mại

- Ngày nay với nền kinh tế thị trường, đa số các nước đều áp dụng chế độ tỷ giáthả nổi có quản lý Do đó, tỷ giá hối đoái đã trở thành công cụ tài chính vô cùng quantrọng trong quá trình quản lý kinh tế vĩ mô Chính phủ không còn sử dụng công cụ tỷ giátheo kiểu ấn định nó một cách chủ quan như trong chế độ tỷ giá cố định nữa, mà chỉ tác

Trang 12

động đến nó bằng cách can thiệp vào thị trường hối đoái thông qua việc mua bán ngoại tệ

và các phương pháp điều tiết khác

* Nhược điểm

- Các nước đang phát triển còn thiếu kinh nghiệm điều tiết thị trường, nền kinh tếcòn chưa đủ mạnh để có thể đứng vững trước các biến động lớn trên thị trường thế giớithì phải thường xuyên theo dõi và chủ động can thiệp vào thị trường ngoại hối

Hiện nay, chế độ tỷ giá "bán thả nổi" hay "cố định bò trườn" có nhiều tính ưu việthơn và được nhiều nước sử dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển Tuy nhiên, câu hỏiđặt ra là "thả nổi" hay "bò trườn" ở mức độ bao nhiêu nên gần với thả nổi hay gần với cốđịnh hơn? biên độ dao động là bao nhiêu? Rất khó để đưa ra một câu trả lời chung chomọi quốc gia mà phải tuỳ thuộc vào điều kiện thực tiễn và mục tiêu của từng quốc giatheo đuổi Nhìn chung, đối với các nước kinh tế đang phát triển trong đó có Việt Nam,với một hệ thống công cụ tài chính còn nhiều yếu kém, sự phối hợp giữa các chính sáchcòn thiếu đồng bộ, đồng tiền yếu và dự trữ ngoại tệ còn hạn hẹp thì tỷ giá hối đoái thả nổi

có quản lý tỏ ra là một chính sách hợp lý nhất

2.4.4 Cơ sở lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái

Việc lựa chọn chế độ tỷ giá xoay quanh 2 vấn đề chính: Mối quan hệ giữa các nềnkinh tế quốc gia với cả hệ thống toàn cầu và mức độ linh hoạt của các chính sách kinh tếtrong nước

Thứ nhất, lựa chọn chế độ tỷ giá là lựa chọn hệ thống mở của hay đóng cửa.Các

phương án lựa chọn hệ thống tỷ giá thiên về hoặc tỷ giá cố định hoặc tỷ giá linh hoạt.Một quốc gia lựa chọn tỷ giá cố định tức là chấp nhận sự ràng buộc đối với các chínhsách kinh tế quốc gia Các chính sách kinh tế của quốc gia phải phù hợp với duy trì tỷ giáhối đoái cố định, vì vậy việc hoạch định chính sách đối nội trở thành ngoại sinh và tuânthủ theo thoả ước tỷ giá Từ đó có thể thấy rằng sự lựa chọn này ngang với việc áp đặtcác ràng buộc quốc tế vào các chính sách kinh tế quốc gia Nói rộng hơn, lựa chọn cơ chế

tỷ giá cố định tương đương với lựa chọn một hệ thống mở cửa, trong đó luôn có sự tươngtác giữa các nhân tố quốc gia và cả hệ thống thế giới Ngược lại, phương án tỷ giá linhhoạt, về nguyên tắc không chấp nhận một sự ràng buộc nào vào các chính sách kinh tếđối nội Các chính sách có tác động gì đi nữa thì sự giao động tỷ giá sẽ giữ chúng chỉ gâyảnh hưởng trong phạm vi quốc gia Và tương ứng với điều đó, kết quả của các chính sách

Trang 13

kinh tế nước ngoài dù thế nào đi chăng nữa thì điều chỉnh tỷ giá sẽ giữ chúng ngoài phạm

vi quốc gia Thực tế, lựa chọn này giữ cho chính sách quốc gia không bị ràng buộc quốc

tế Nói rộng hơn, lựa chọn cơ chế hối đoái linh hoạt sẽ tach rời nền kinh tế quốc gia khỏimôi trường quốc tế

Thứ hai, chúng ta cần quan tâm đến mức độ linh hoạt của các chính sách kinh tế

đối nội Mức độ này khác nhau rõ ràng giữa việc lựa chọn nột trong hai loại chế độ tỷgiá.Vì tỷ giá cố định thể hiện sự cam kết áp đặt các ràng buộc đối với các chính sách kinh

tế quốc gia, có nghĩa rằng không thể theo đuổi các chính sách kinh tế đối nội một cáchđộc lập Ngược lại,tỷ giá linh hoạt là một công cụ có thể sử dụng để giữ cho các hoạtđộng kinh tế của hệ thống quốc tế không ảnh hưởng tới các chính sách quốc gia.Vì vậy

có thể theo đuổi các chính sách quốc gia mà không cần quan tâm đến thế giới bên ngoài

và như vậy đặc thù của chúng là hệ thống đóng

B ng 1: Di n bi n t giá bình quân liên ngân hàng qua các th i k ễn biến tỷ giá bình quân liên ngân hàng qua các thời kỳ ến tỷ giá bình quân liên ngân hàng qua các thời kỳ ỷ giá bình quân liên ngân hàng qua các thời kỳ ời kỳ ỳ

t 2007 - ừ 2007 - đến nay đến tỷ giá bình quân liên ngân hàng qua các thời kỳ n nay

Năm Tỷ giá chính thức

(USD/VND)

Tăng giảm tỷgiá so với nămtrước (%)

3 Diễn biến tỷ giá giai đoạn 2007 – 2014

Biểu đồ 3: Diễn biến tỷ giá liên ngân hàng 2007 - nay

Trang 14

3.1 Giai đoạn 2007 - 2008

3.1.1 Diễn biến năm 2007

Nguồn: NHNN, VCB và số liệu người viết tự tính.

- Từ ba năm trở lại đây, tỷ giá VND/USD của các ngân hàng thương mại luônbằng tỷ giá công bố hằng ngày của Ngân hàng Nhà nước vơí biên đô tỷ giá +/-0,25%.Tuy nhiên, từ giữa tháng 12/2006 đến 1/2007, tỷ giá ngoại tệ của các ngân hàng thương

Trang 15

mại luôn bằng hoặc thấp hơn tỷ giá công bố hằng ngày của Ngân hàng Nhà nước Đứngtrước tình hình trên, Ngân hàng Nhà nước quyết định, điều chỉnh biên độ tỷ giáVND/USD được mở rộng là +/- 0,5%.

Diễn biến tỷ giá VND/USD trên thị trường trước các động thái trên có một sốđiểm đáng lưu ý sau:

- Trong năm tháng đầu năm, NHNN mua vào 7 tỷ USD Con số này gần bằng cảlượng kiều hối chuyển về theo kênh chính thức trong hai năm trước đó và vượt cả lượngvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài qua mỗi năm của giai đoạn trước 2006

- Lượng ngoại tệ chuyển về Việt Nam trong 6 tháng đầu năm nay đã tăng khoảng12% so với cùng kỳ năm 2006

- Ngoại tệ vào nhiều đã tạo nên một diễn biến chưa từng có trong hàng chục nămqua: Tỷ giá của các ngân hàng thương mại (có thời điểm cả trên thị trường tự do) thấphơn tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng, do Ngân hàng Nhà nước công bố tỷgiá VND/USD bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp dụng cho ngày giaodịch (nếu ngày 26.1.2006 là 16.090 thì ngày 2.1.2007 là 16.101, ngày 3.1 là 16.096, ngày4.1 là 16.100);

- Tỷ giá VND/USD do ngân hàng thương mại (Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam) bán ra vẫn cơ bản ổn định ở mức trên dưới 16.055 một chút và thấp hơn tỷ giá doNgân hàng Nhà nước công bố hằng ngày (tương ứng ngày 26.12.2006 là 16.050, ngày2.1.2007 là 16.051, ngày 3.1 là 16.055, ngày 4.1 là 16.055)

- Tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do cũng cơ bản ổn định và chỉ cao hơnkhông đáng kể so với tỷ giá do các ngân hàng thương mại bán ra và cũng thấp hơn tỷ giá

do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày (ngày 2.1.2007 là 16.070, ngày 3.1 là16.070, ngày 4.1 là 16.070)

- Trong điều kiện bình thường, việc điều chỉnh biên độ tỷ giá theo hướng tăngthường được hiểu và sẽ dẫn đến là mở rộng tốc độ giảm giá của VND so với USD Đây làlần đầu tiên diễn biến tỷ giá đã không tăng lên, thậm chí còn tiếp tục giảm thêm sau khiNgân hàng Nhà nước công bố tăng biên độ tỷ giá

Trang 16

Tỷ giá VND/USD 6 tháng cuối năm 2007 đã diễn biến như sau: tháng 7 tăng0,056%, tháng 8 tăng 0,11%, tháng 9 tăng 0,018%, tháng 10 giảm 0,012%, tháng 11 giảm0,22%, tháng 12 giảm 0,069%.

3.1.2 Nguyên nhân

- Thứ nhất, kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục với tốc độ cao hơn là tiền đề

quan trọng để đồng tiền lên giá so với các đồng tiền khác (bình quân năm thời kỳ

1996-2000 tăng 7%, thời kỳ 2001- 2006 tăng trên 7,6%, trong đó 2 năm nay tăng trên 8%) Khi

có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn thì đồng tiền lên giá là tất yếu

- Thứ hai, cùng với tăng trưởng kinh tế cao và liên tục, với chủ trương chủ động

mở cửa, hội nhập, hiện có một lượng ngoại tệ lớn chảy vào nước ta từ nhiều nguồn:

 Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so vớinăm 2006

 Vốn đầu tư gián tiếp (FII) đổ vào thị trường chứng khoán tăng mạnh, lên đến7,414 tỷ USD Lượng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán hiệncũng đạt khoảng 4 tỷ USD, chiếm khoảng 28,6% tổng giá trị vốn hoá thị trường chứngkhoán của Việt Nam

 Năm 2007, nước ta nhập siêu khoảng 12 tỷ USD, nhưng kim ngạch xuất khẩuhàng hóa, dịch vụ lại đạt 45 tỷ USD, tăng hơn năm trước, nhiều mặt hàng xuất khẩu vượtkim ngạch

 Năm 2007 sau khi Việt Nam gia nhập WTO, chúng ta tự do hoá nguồn vốnvãng lai, gồm: nguồn vốn USD từ nước ngoài chuyển vào nước ta và từ nước ta chuyển

ra nước ngoài

 Năm 2007 đạt 4,445 tỷ USD, vượt 700 triệu USD so với năm 2006 Trong đó,các nhà tài trợ song phương cam kết viện trợ cho Việt Nam 2,164 tỷ USD, đa phương2,101 tỷ USD và từ các tổ chức phi chính phủ 180 triệu USD

 Nguồn kiều hối (bao gồm của Việt kiều và số tiền do lao động xuất khẩu) gửi

về nước đạt gần tỷ USD

 Chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam năm nay cũng đạt trên 2,8 tỷ USD

Trang 17

- Thứ ba, đồng USD giảm giá so với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới, như 1

USD hiện chỉ đổi được dưới 0,76 Eur, 0,51 Bảng Anh; giảm giá so với một số đồng bản

tệ của các nước, như 1 USD hiện chỉ đổi được 7,72 CNY (Nhân dân tệ), 9,35 Won HànQuốc, 35,6 Baht Thái Lan,

- Thứ tư, có một nguyên nhân quan trọng nhưng khá trừu tượng mà không phải

ai cũng để ý đến, đó là “cánh kéo tỷ giá” giữa tỷ giá hối đoái và tỷ giá sức mua tươngđương 1 USD tại Việt Nam có sức mua vào khoảng 4,3 USD tại Mỹ

3.1.3 Biện pháp của NHNN tác động vào tỷ giá

- Năm 2007 được xem là năm thành công của nền kinh tế Việt Nam với nhữngmốc sự kiện lớn như Việt Nam gia nhập WTO, GDP tăng trưởng ở mức cao, thị trườngchứng khoán sôi động, giúp Việt Nam trở thành thị trường hấp dẫn thu hút nhà đầu tưnước ngoài Khi các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam với quy mô lớn, dẫn đếnthừa cung ngoại tệ gây sức ép tăng giá VND, ảnh hưởng xuất khẩu Vì vậy, để duy trìkhả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu và ổn định tương đối tỷ giá, hạn chế gia tăngnghĩa vụ nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp, NHNN đã mua một lượng ngoại

tệ lớn bổ sung dự trữ ngoại hối để có đủ ngoại tệ can thiệp khi luồng vốn đảo chiều, lạmphát đã tăng cao, vượt quá mức được Quốc hội thông qua

- Nhận thức được những thách thức và khó khăn trong điều hành chính sách tiền

tệ, đặc biệt là trong điều hành tỷ giá trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, từ bước nớilỏng giao dịch vốn, thời gian qua, NHNN đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, dưới

sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, đã có những thành công nhất định trong việc điều hành

tỷ giá, góp phần bình ổn thị trường ngoại hối là nhân tố quan trọng trong việc bình ổnkinh tế vĩ mô Cụ thể:

- Vừa tranh thủ mua ngoại tệ vào để tăng dự trữ ngoại hối vừa chủ động hút USDkhỏi lưu thông qua kênh thị trường mở và bán tín phiếu của NHNN cho các NHTM.Quyết định mua ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối là hoàn toàn hợp lý vì thị trường dưcung ngoại tệ giai đoạn này chỉ là ngắn hạn và không bền vững do ngoại tệ dư thừa là từnguồn ngoại tệ các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam làluồng tiền nóng có thể chảy ra bất cứ lúc nào Đồng thời, để giảm áp lực tăng lạm phát,khi đã mua được một lượng ngoại tệ tương đối, NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá

Ngày đăng: 18/06/2015, 02:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Phạm Thị Hoàng Anh.2010. Một vài nhận định về điều hành chính sách tỷ giá của NHNN trong năm 2009. Tạp chí Khoa học và Đào tạo ngân hàng, số 2+3, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Hoàng Anh.2010. "Một vài nhận định về điều hành chính sách tỷ giácủa NHNN trong năm 2009
5. Phạm Thị Hoàng Anh.2011. Một vài nhận định về điều hành chính sách tỷ giá của NHNN trong năm 2010. Tạp chí Khoa học và Đào tạo ngân hàng, số 2+3, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Hoàng Anh.2011. "Một vài nhận định về điều hành chính sách tỷ giácủa NHNN trong năm 2010
6. Phạm Thị Hoàng Anh.2012. Một vài nhận định về điều hành chính sách tỷ giá của NHNN trong năm 2011. Tạp chí Khoa học và Đào tạo ngân hàng, số 2+3, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Hoàng Anh.2012. "Một vài nhận định về điều hành chính sách tỷ giácủa NHNN trong năm 2011
7. Nguyễn Thị Mùi. 2010. Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay – những vấn đề đạt ra Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Mùi. 2010
8. Châu Đình Phương.2007 - Bàn về chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong thời gian tới. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 15/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu Đình Phương.2007 - "Bàn về chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Namtrong thời gian tới
9. Công trình nghiên cứu khoa học ĐH Ngoại Thương.2013 – Điều hành chính sách tỷ giá nhằm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu khoa học ĐH Ngoại Thương.2013 –
10. Công trình nghiên cứu khoa học.2011 – TS.Lê Phan Thị Diệu Thảo – Giải pháp điều hành chính sách tỷ giá tại Việt Nam hiện nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu khoa học.2011" – "TS.Lê Phan Thị Diệu Thảo
11. www.sbv.gov.vn; www.gso.gov.vn; www.imf.org; www.vangsaigon.com 12. http://vneconomy.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhịp sống kinh tế Việt Nam & Thế giới
Tác giả: Tô Lâm
Nhà XB: VnEconomy
Năm: 2025
1. PGS. TS. Nguyễn Văn Tiến (2012), Giáo trình tài chính quốc tế, Nhà xuất bản thông kê, Hà Nội Khác
2. GS. TS. Trần Ngọc Thơ (2009), Giáo trình tài chính quốc tế, Nhà xuất bản thông kê, TP. HCM Khác
3. Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối số 06/2013/PL-UBTVQH13 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2.4.5.1: Ảnh hưởng ngoại hối đến - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - NAY
th ị 2.4.5.1: Ảnh hưởng ngoại hối đến (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w