1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM

37 380 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Căn cứ vào công cụ tham gia trên thị trường vốn, thị trường vốn được cấu thành bởi ba bộ phậnThị trường chứng khoán nhà nước: là thị trường mua bán các loại giấy ghi nợ do nhà nước phá

Trang 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN

1 Khái niệm thị trường vốn:

Thị trường vốn là nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạnnhằm giải quyết nhu cầu về vốn trung và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế Thịtrường vốn được xây dựng để cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của cácdoanh nghiệp, chính phủ, hộ gia đình Các công cụ trên thị trường có thời gian đáo hạn

trên một năm (Nguồn: Tiền tệ ngân hàng – TS Lê Thị Tuyết Hoa, PGS TS Nguyễn

Thị Nhung – NXB Phương Đông 2011 – Trang 114).

Những người huy động vốn chủ yếu và quan trọng nhất là các doanh nghiệp.Những người cung cấp vốn là tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹhưu trí…và các công chúng Nếu như trọng tâm của thị trường ngắn hạn là cung cấpphương tiện giúp cá nhân, doanh nghiệp nhanh chóng điều chỉnh tình hình thanh khoảnthực của họ theo số lượng tiền mong muốn Thì ngược lại, thị trường vốn gắn bó gầngũi với tiết kiệm và đầu tư hơn Là nhịp cầu để chuyển tiết kiệm của những đơn vịthặng dư qua những cuộc đầu tư của những đơn vị thiếu hụt Qua đó, thị trường vốnđóng góp vào sự ổn định kinh tế bằng cách cân đối tiết kiệm với đầu tư Do đó, một thịtrường vốn có hiệu quả sẽ đóng góp tích cực vào việc nâng cao mức sống cho dânchúng

2 Phân loại thị trường vốn:

Căn cứ vào cơ cấu tổ chức thị trường vốn

Thị trường sơ cấp: đây là thị trường mua bán các loại chứng khoán mới phát

hành Thị trường sơ cấp tạo điều kiện tăng qui mô vốn đầu tư và là nơi cung ứng chứngkhoán vào lưu thông

Thị trường thứ cấp: là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu các loại chứng

khoán đã phát hành và đang lưu thông trên thị trường Thị trường thứ cấp không làmthay đổi qui mô vốn đầu tư trong nền kinh tế

Trang 2

Căn cứ vào công cụ tham gia trên thị trường vốn, thị trường vốn được cấu thành bởi ba bộ phận

Thị trường chứng khoán nhà nước: là thị trường mua bán các loại giấy ghi nợ do

nhà nước phát hành để huy động vốn trong xã hội như công trái, trái phiếu chính phủ,chứng chỉ đầu tư,…

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp: thị trường này tổ chức mua bán trái phiếu do

các doanh nghiệp phát hành để huy động vốn

Thị trường cổ phiếu: là một bộ phận cơ bản của thị trường chứng khoán Vì cổ

phiếu là loại chứng khoán không có lãi suất thường phục vụ vào hiệu quả hoạt độngcông ty, do đó những nhân tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình hình hoạtđộng của công ty như khủng hoảng giá dầu, giá USD, lạm phát… đều ảnh hưởng đếngiá cả thị trường cổ phiếu

3 Chủ thể tham gia trên thị trường vốn

- Chủ thể phát hành chứng khoán: đây là chủ thể có nhu cầu về vốn đầu tư vàđược nhà nước cho phép phát hành chứng khoán để huy động vốn Họ đại diện chonguồn cung ứng chứng khoán vào lưu thông và đó là các công ty, xí nghiệp, các tổchức tài chính và nhà nước

- Người đầu tư: đó là những người có vốn nhàn rỗi và họ muốn mua chứngkhoán trên thị trường để kiếm lời, Với mục đích đầu tư lâu dài họ thường nắm giữchứng khoán của những công ty có uy tín Những người đầu tư trên thị trường là nhữngpháp nhân kinh tế và các thể nhân

- Người môi giới chứng khoán: Nguyên tắc cơ bản của hoạt động giao dịch trênthị trường chứng khoán là nguồn cung - cầu chứng khoán thường được kết nối thôngqua tầng lớp trung gian đó là người môi giới chứng khoán Người môi giới có thể hoạtđộng với tư cách là thể nhân hay pháp nhân (công ty môi giới)

Trang 3

- Người tổ chức thị trường: là Ban điều hành của các Sở giao dịch giữ nhiệm vụ

tổ chức các khâu hoạt động trên thị trường, là người chuyển tải những luật lệ của Nhànước vào thực tiễn quản lý thi trường

- Người điều hòa thi trường: là cơ quan được Nhà nước thành lập như Ủy banđiều hành thị trường chứng khoán, Hội đồng chứng khoán Quốc gia giữ nhiệm vụban hành các luật lệ, tổ chức giám sát hoạt động giao dịch và mua bán chứng khoántrên thị trường

Ngoài ra, để giúp cho các hệ thống giao dịch trên thị trường chứng khoán đạt hiệuquả cón có các chủ thể phụ trợ rất quan trọng như:

- Công ty máy tính

- Trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

- Các công ty đánh giá mức tín nhiệm

4 Các công cụ trên thị trường vốn

Các công cụ trên thị trường vốn bao gồm hai loại chủ yếu là những công cụ vốn

và công cụ nợ có thời gian đáo hạn trên một năm Công cụ vốn biểu hiện dưới hìnhthức cổ phiếu và các công cụ nợ bao gồm các loại trái phiếu

a) Cổ phiếu công ty:

- Khái niệm: Là một loại chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toánghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Là một chứngkhoán có giá, có quyền nhận lãi và hoa hồng Cổ phiếu có thể dùng mua bán và thếchấp, trở thành một trong những phương tiện tín dụng dài hạn chủ yếu của thị trườngtiền vốn

- Đặc điểm của cổ phiếu:

 Có tính quyết sách: Người có cổ phiếu phổ thông có quyền tham gia đại hội

cổ đông, bầu cử ban quản trị tham gia quyết sách quản lý kinh doanh xí nghiệp, quyềnlợi lớn hay nhỏ tuỳ theo số lượng cổ phiếu

Trang 4

 Có thể đổi tiền mặt: Cổ phiếu có thể chuyển nhượng bất kỳ lúc nào giaodịch ở thị trường, biến thành tiền giấy.

 Giá cả và giá trị mặt phiếu không khớp nhau: Cổ phiếu là đối tượng giaodịch, giống như hàng hoá, có loại giá cả này chịu ảnh hưởng tình hình kinh doanh của

xí nghiệp và chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, luôn luôn thay đổi,tăng giảm lớn, không khớp với giá trị mặt cổ phiếu Sự không khớp ấy tạo điều kiệnhoạt động cho người đầu cơ

 Rủi ro: Cổ phiếu đã mua không thể trả lại vốn cũ Người đầu cơ cổ phiếu cóthể nhận được thù lao dự kiến hay không hoàn toàn phụ thuộc vào doanh lợi của xínghiệp quyết định, lãi nhiều chia nhiều, lãi ít chia ít, không lãi không chia, cùng chịuthiệt hại, bị phá sản khó có thể giữ nguyên vốn Vì vậy, người đầu cơ cổ phiếu thườngchịu rủi ro nhất định

- Phân loại cổ phiếu :

o Xét theo khả năng chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường thứ cấp:

Cổ phiếu kí danh là loại cổ phiếu ghi rõ tên tuổi, địa chỉ Chúng không được

phép tự do chuyển nhượng và mua bán trên thị trường thứ cấp

Cổ phiếu vô danh: là cổ phiếu không ghi rõ tên tuổi, địa chỉ của người nắm

giữ cổ phiếu Nó có khả năng được chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường thứ cấp

o Xét theo địa vị pháp lý của cổ đông trong công ty:

Cổ phiếu ưu đãi là cổ phiếu mà mức lợi tức cổ phần dành cho cổ đông nắm

giữ nó được công bố trước hàng năm hoặc ổn định trong một số năm, lợi nhuận kinhdoanh cuối cùng của công ty không ảnh hưởng đến lợi tức công bố trước

Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu mà người nắm giữ nó được hưởng lợi tức

cổ phần phụ thuộc vào kết quả kinh doanh cuối cùng của công ty cổ phần, là ngườihưởng lợi sau cùng khi công ty trả hết nợ nần, thanh lý tài sản, trả lợi tức cho cổ đông

ưu đãi,

o Xét theo phương thức góp vốn:

Trang 5

Theo cách phân loại này, cổ phiếu có hai loại là cổ phiếu hiện kim và cổ phiếuhiện vật Cổ phiếu hiện kim dành cho những cổ đông góp vốn bằng tiền và cổ phiếuhiện vật dành cho những cổ đông góp vốn bằng tài sản như máy móc, thiết bị, nhàxưởng…

b) Trái phiếu :

- Khái niệm: Là một loại chứng khoán có giá là một giấy chứng nhận nợ củangười vay vốn muốn thu góp vốn và đảm bảo trả lãi với lãi suất, thời hạn nhất định, vàtrả vốn gốc trong thời hạn nhất định Trái phiếu thường chỉ loại trái phiếu có thời hạntrung dài hạn trên một năm

- Đặc điểm trái phiếu :

 Có thể trong cùng một điều kiện, một thời gian thu góp số vốn lớn của nhiềungười đầu tư;

 Sau một thời hạn nhất định trả lại vốn và lãi theo định kỳ;

 Chủ nợ xem xét tình hình thực tế thị trường tự do chuyển nhượng trái phiếucủa họ

- Phân loại :

Trái phiếu chính phủ : là một công cụ vay nợ trung và dài hạn của chính

phủ, người đứng ra vay nợ là chính phủ với một mục đích huy động vốn nhàn rỗi trongnền kinh tế để bù đắp thâm hụt ngân sách triền miên đồng thời giúp chính phủ cónguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng Nhìn chung lãi suất của trái phiếu chính phủ làthấp Với nhiều kỳ hạn khác nhau, trái phiếu chính phủ có thể có kỳ hạn là 3 tháng, 6tháng, 9 tháng, 12 tháng, 1 năm đến 2, 3 năm

+ Trái phiếu công ty : là công cụ vay nợ trung, dài hạn của công ty, huy động

vốn cho sản xuất kinh doanh của công ty Công ty bảo đảm sẽ trả vốn (giá trịtrên mặt phiếu) trái phiếu trong thời hạn nhất định và trả lãi suất trái phiếu theothời hạn ước định (thời hạn trả lãi) và lãi suất quy định Có loại trái phiếu đượcphát hành thấp hơn giá trị mặt phiếu, còn có thể trả vốn gốc trước thời hạn

Trang 6

+ Trái phiếu Coupon : tiền lãi của trái phiếu được trả hàng năm, tiền vốn gốc

được trả vào ngày đáo hạn

Trái phiếu triết khấu : là trái phiếu mà ở đó người mua trái phiếu sẽ trả

cho người bán với giá mua thấp hơn mệnh giá nhưng đến ngày đáo hạn người muađược thanh toán trả lại theo mệnh giá Khoản chênh lệch đó chính là lãi suất Như vậy,đây là hình thức trả lãi trước ngay tại thời điểm mua

Trái phiếu vĩnh cửu : là loại trái phiếu mà ở đó người mua nó không bao

giờ được thanh toán tiền gốc Nó giống trái phiếu cố định ở điểm : người mua nhậnkhoản cố định hàng năm và không nhận được khoản gốc cho đến khi người sở hữu tráiphiếu vĩnh cửu chết đi mà không sang tên hay thừa kế Vì thế nó có tên là trái phiếuvĩnh cửu

5 Vai trò thị trường vốn

Vai trò của thị trường vốn thể hiện ở các yếu tố sau:

Thứ nhất, thị trường vốn là một kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư phát

triển Thông qua việc phát hành và mua bán chứng khoán, dòng vốn di chuyển từ nơithừa sang nơi thiếu, từ nơi sử dụng kém hiệu quả đến nơi sử dụng có hiệu quả hơn Thịtrường vốn giúp các doanh nghiệp (DN), tổ chức kinh tế, cá nhân có cơ hội để trởthành nhà đầu tư thực hiện nghiệp vụ đầu tư, mua bán chứng khoán và các công cụ tàichính trên thị trường để kiếm lời

Chính phủ trung ương và địa phương có thể vay nợ các tổ chức, DN, dân cư thôngqua việc phát hành trái phiếu trung và dài hạn, thực hiện các công trình hạ tầng kinh tế

- xã hội, cũng như đáp ứng các nhu cầu đầu tư phát triển của trung ương/địa phương

Thứ hai, thị trường vốn tạo tính thanh khoản cho chứng khoán và các công cụ tài

chính, khi các nhà đầu tư cần tiền Nhờ đó, họ có thể tối ưu hóa hiệu quả đồng vốn đểhưởng lợi (thường lãi của các chứng khoán và công cụ tài chính cao hơn lãi tiền gửi tiếtkiệm)

Trang 7

Thứ ba, phát triển thị trường vốn để thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài.

Đây là kênh đầu tư hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường Với những thông tin côngkhai, minh bạch, thị trường vốn là nơi mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể phân tích,nhận định, đánh giá “sức khỏe” của DN, ngân hàng để đưa ra các quyết định đầu tưhợp lý

Thứ tư, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán (TTCK) là công cụ

đánh giá hoạt động kinh doanh của DN Thông qua thị trường vốn, những nhà đầu tư

có cơ sở đánh giá thực trạng và dự đoán tương lai của nền kinh tế Cơ quan quản lýthường thông qua thị trường vốn để phân tích, dự báo, ban hành các văn bản pháp lý đểđiều tiết và quản lý thị trường một cách hiệu quả

Trang 8

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM

1 Quy mô, đặc điểm của thị trường vốn Việt Nam:

1.1 Quy mô của thị trường vốn Việt Nam:

Trong thị trường vốn, quy mô của thị trường trái phiếu lớn hơn quy mô của thịtrường cổ phiếu, trong đó thị trường trái phiếu chính phủ lớn hơn thị trường trái phiếudoanh nghiệp và cổ phiếu Cụ thể:

Bảng số liệu 1: Số liệu cụ thể các năm: giá trị vốn hóa thị trường so với GDP

Trang 9

Mối quan hệ trên được đặt trong một bối cảnh đặc biệt, cuộc khủng hoảng tàichính bùng nổ tại Mỹ, kế tiếp là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Thị trường chứngkhoán thế giới sụt giảm mạnh, ảnh hưởng đến thị trường Việt Nam, thể hiện rõ ở tâm lýnhà đầu tư trong nước cũng như phản ứng không mong đợi từ khối đầu tư nước ngoài Một ảnh hưởng cụ thể là năm 2008 đã chứng kiến hoạt động bán ròng chưa từng

có của nhà đầu tư nước ngoài Trong năm này, thị trường chứng kiến đợt rút vốn mạnhcủa khối ngoại trong các tháng 4, 5 và 6, cao điểm rút ra khoảng 300 triệu USD/tháng,nguyên do chủ yếu từ biến động kinh tế trong nước; và đợt bán ròng hiếm thấy trongtháng 10, do tác động của khủng hoảng thế giới

Ở một ảnh hưởng khác, kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng tác động đến nềnkinh tế Việt Nam, đặc biệt là đối với xuất khẩu và đầu tư gián tiếp Điều này cũng đãthể hiện ở thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008, khi thị trường nàythường phản ánh trước những khó khăn của nền kinh tế

 Luật thuế thu nhập cá nhân và làn sóng dư luận:

Luật Thuế thu nhập cá nhân bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 nhưng ảnhhưởng của nó đối với thị trường chứng khoán đã đậm nét trong năm 2008, đặc biệt vàonhững tháng cuối năm Đây là lần đầu tiên thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoánđược đưa vào diện chịu thuế

Hàng nghìn ý kiến bình luận, góp ý, đồng thuận, phản đối liên tục được phản ánhtrong nửa cuối năm 2008 Trong đó, nổi bật là sự lo ngại và phản ứng từ nhiều nhà đầu

tư chứng khoán, khi họ đặt chính sách này trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế nóichung và của thị trường chứng khoán nói riêng

 Năm 2008 là năm lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp niêm yết bị ảnh hưởngnặng nề từ hoạt động đầu tư tài chính và chi phí tài chính tăng cao Nhiều doanh nghiệpbuộc phải tăng cường trích lập rủi ro do giá trị danh mục đầu tư tài chính và đầu tư bấtđộng sản sụt giảm mạnh, dẫn đến thua lỗ hoặc lợi nhuận sụt giảm

Năm 2008 cũng là một năm bất thường về lạm phát, lãi suất và tỷ giá, đẩy chi phítài chính của nhiều doanh nghiệp niêm yết tăng cao So với cùng kỳ quý 2/2007, có tới

Trang 10

163/209 (78%) doanh nghiệp niêm yết có chi phí tài chính tăng; trong đó có 120/209doanh nghiệp chi phí tài chính tăng tới trên 50%, 34/108 (31,5%) trong số các doanhnghiệp sử dụng vốn vay chịu chi phí lãi vay tăng trên 100%.

1.2 Đặc điểm thị trường vốn Việt Nam:

a) Thị trường trái phiếu:

- Cơ cấu sản phẩm chưa đồng đều:

Hiện nay, sản phẩm trên thị trường trái phiếu được chủ yếu được chia thành 2loại là trái phiếu chính phủ (TPCP) và trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Với vai trò làkênh huy động vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, tỷ lệ giữa TPCP và TPDN thườngkhông chênh lệch quá nhiều tại các quốc gia có thị trường tài chính phát triển Nhưngtại Việt Nam thì tỷ lệ này có mức chênh lệch khá rõ ràng, phản ánh sự chi phối thịtrường đến từ phân khúc TPCP

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thị trường TPDN có quy mô nhỏ, chưaphát triển so với TPCP hay rộng hơn là so với thị trường TPDN của các nước khác.Các nguyên nhân này đến từ nhiều phía, có thể chia thành 4 nguyên nhân chính:

Nguồn cung: sản phẩm TPDN trên thị trường chưa nhiều, chủ yếu do cácdoanh nghiệp Nhà nước hay tổ chức tín dụng phát hành, tập trung vào 2 loại hình chính

là trái phiếu thông thường và trái phiếu chuyển đổi (với công ty cổ phần);

Cầu đầu tư: cơ sở nhà đầu tư còn thiếu khi nhà đầu tư chủ yếu trên thị

trường trái phiếu hiện nay là các ngân hàng thương mại (NHTM) Các đợt phát hànhtrái phiếu cũng thường là phát hành riêng lẻ cho một số nhà đầu tư, ít khi đấu thầu rộngrãi

Trung gian tài chính: Việt Nam vẫn chưa có một tổ chức định mức tín

nhiệm (CRA) chuyên nghiệp nhằm tạo niềm tin cho nhà đầu tư khi đánh giá về doanhnghiệp phát hành;

Khuôn khổ pháp lý: Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành TPDN ra đời

năm 2011 thay thế cho Nghị định 52/2006/NĐ-CP trước đó mặc dù đã tạo được hành

Trang 11

lang pháp lý thông thoáng hơn cho việc phát hành nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiệncho phù hợp với tình hình thực tế

+ Chưa phát hành thành công trái phiếu có kỳ hạn dài:

Thị trường vốn là nơi cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.Theo thống

kê trên thị trường quốc tế, kỳ hạn thông thường của trái phiếu là khoảng 3 - 10 năm, cábiệt có những đợt phát hành với kỳ hạn lên tới 10 - 30 năm Tuy nhiên, thực tế hiện nay

ở Việt Nam cho thấy thị trường trái phiếu chưa thực sự là kênh huy động vốn dài hạncho nền kinh tế mà chủ yếu vẫn là các kỳ hạn ngắn Mặc dù TPCP và TPDN thườngđược phát hành với các kỳ hạn từ 2 - 15 năm, song tỷ lệ trúng thầu cao nhất lại là cáctrái phiếu có kỳ hạn dưới 5 năm, chiếm khoảng 90% khối lượng phát hành Điều nàycho thấy các nhà đầu tư trên thị trường hiện nay đa số tập trung vào phân khúc tráiphiếu kỳ hạn ngắn, có thể do lo ngại về bất ổn kinh tế vĩ mô khi vấn đề lạm phát luônđược đặt lên hàng đầu những năm qua, hoặc do nhà đầu tư chưa coi thị trường tráiphiếu là kênh đầu tư chính

+ Cơ cấu nhà đầu tư chưa đa dạng:

Khác với cổ phiếu, nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu đa phần là các nhà đầu tư

tổ chức vì khối lượng trái phiếu đấu thầu và giao dịch có giá trị lớn nên nhà đầu tư cánhân, nhà đầu tư nhỏ lẻ khó có thể đáp ứng được Tại các quốc gia phát triển, cơ sở nhàđầu tư luôn được đa dạng hóa, có sự cân đối giữa các nhóm nhà đầu tư nếu muốn duytrì lực cầu đều đặn trên thị trường Các nhà đầu tư chủ chốt trên thị trường trái phiếuthường là các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, NHTM…

Với thị trường trái phiếu Việt Nam, đã xuất hiện các nhóm nhà đầu tư tổ chức cơbản, nhưng mức độ tham gia của các nhà đầu tư này chưa thực sự chuyên nghiệp.NHTM hiện đang là nhóm nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường trái phiếu Việt Nam khinắm giữ khoảng trên 80% lượng TPCP Trong bối cảnh thị trường tín dụng đang gặpnhiều khó khăn 2 năm gần đây, nguồn vốn từ NHTM được đầu tư mạnh vào thị trườngtrái phiếu, giúp cho các đợt phát hành liên tục thành công Tuy nhiên, nhu cầu đầu tưcủa các ngân hàng lại phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh chính là cho vay, khiến

Trang 12

nguồn vốn này không có tính ổn định, có thể giảm xuống đột ngột bất cứ lúc nào vàkhông đem lại sự phát triển bền vững như mong muốn cho thị trường.

Công ty bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ được coi là một nhà đầu tư tiềmnăng trên thị trường trái phiếu Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường có kỳ hạn dài,cộng thêm nhu cầu cần phải giữ tỷ lệ an toàn vốn cao, nên các công ty bảo hiểm luôn

có một tỷ lệ nhất định TPCP trong cơ cấu vốn đầu tư của mình.Nhưng vấn đề ở đây làquy mô thị trường bảo hiểm còn thấp, doanh thu phí bảo hiểm chỉ đạt khoảng 1,4%GDP vào năm 2012 khiến cho nguồn vốn đầu tư vào thị trường trái phiếu chưa cao.Tổng lượng TPCP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh mà các công ty bảo hiểmnắm giữ tính đến năm 2012 cũng chỉ khoảng 33.945 tỷ đồng (chiếm khoảng 5% tổng

dư nợ trái phiếu)

Nhóm nhà đầu tư được quan tâm tiếp theo là các quỹ đầu tư Các quỹ này hiện nắmgiữ khoảng 6 - 7% dư nợ trái phiếu, phân bổ tới những loại hình quỹ khác nhau trong

và ngoài nước Rào cản lớn nhất ngăn các nhà đầu tư nước ngoài (đầu tư nước ngoài)tham gia vào thị trường trái phiếu Việt Nam có lẽ là sự hạn chế về mặt sản phẩm, đặcbiệt là sản phẩm phái sinh liên quan đến tỷ giá

b) Thị trường cổ phiếu:

- Quy mô nhỏ, mức độ minh bạch của các thông tin về Doanh nghiệp thấp.

Nguyên nhân là do ý định chủ quan, thói quen muốn che giấu thông tin của doanhnghiệp, do sự thiếu vắng khung pháp lý và các chuẩn mực về công khai thông tin, kiểmtoán tại Việt Nam

- Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường phi chính thức lớn hơn nhiều

so với thị trường chính thức và chưa được kiểm soát chặt chẽ Việc bán cổ phiếu trênthị trường OTC khá sôi động, song hiện chưa có quy định pháp luật nào kiểm soátthích đáng

- Thị trường nhỏ, thiếu vắng sự đầu tư của các nhà đầu tư tổ chức Nhà đầu tư

trên thị trường cổ phiểu Việt Nam chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân và mang tính đầu

cơ cao hơn là đầu tư, do đó thị trường có xu hướng bất ổn định Những nhà đầu tư tổ

Trang 13

chức Việt Nam cũng như nước ngoài chưa tham gia nhiều vào mua cổ phiếu của các công ty niêm yết, một phần là do tính kém hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường, nhưng cũng một phần do những khó khăn, phức tạp liên quan đến khuôn khổ pháp lý Những khó khăn đó là khung pháp lý về bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số chưa đầy đủ, thiếu các chuẩn mực về công khai minh bạch thông tin, các quy định chưa rõ ràng về chế độ thuế đối với nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài, các hạn chế về hạn mức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài,

- Số lượng và chất lượng sản phẩm trên thị trường cổ phiếu có nhiều hạn chế.

Chưa có một lượng hàng hóa đủ lớn về quy mô cũng như cơ cấu nếu so sách mã 600

mà chứng khoán niêm yết với đăng ký giao dịch khoảng 4000 công ty đại chúng Sảnphẩm chưa đa dạng, nhiều công ty niêm yết có quy mô nhỏ

2 Cách quản lý thị trường vốn ở Việt Nam:

- Về cơ quan quản lý: Ủy ban chứng khoán nhà nước được thành lập để quản lý

và thúc đẩy thị trường phát triển theo định hướng XHCN và bảo vệ quyền lợi cho nhàđầu tư

- Về trung tâm giao dịch: Gồm 2 trung tâm là Sở giao dịch chứng khoán

TP.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (cả 2 đều thuộc nhà nước) Ngoài racòn có sự hoạt động mạnh mẽ của thị trường OTC

- Về các tổ chức trung gian: Ở Việt Nam, các ngân hàng chỉ được phép kinh

doanh chứng khoán dưới hình thức thành lập công ty độc lập, tách rời với hoạt độngkinh doanh tiền tệ Nhà nước cũng cho phép các công ty chứng khoán độc lập thành lập

từ các công ty tài chính, các tổng công ty lớn

- Về cách thức quản lý: Hiện nay, hình thức quản lý chủ yếu là tập trung thông

qua luật, các quy định có liên quan Tuy nhiên trên thực tế, có một bộ phận không nhỏcác giao dịch nằm ngoài thị trường tập trung mà vẫn chưa có quy định, hình thức quản

lý chặt chẽ

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vốn:

Trang 14

- Hành lang pháp lý, chính sách của nhà nước: khi các quy định liên quan đến

thị trường vốn hoặc các sản phẩm trên thị trường vốn, sẽ tác động đến nhu cầu của nhàđầu tư trên thị trường, tác động đến giá của các sản phẩm trên thị trường vốn Hoặc khichính phủ muốn tăng vay nợ công chúng thì chính phủ sẽ có chính sách thúc đẩy thịtrường vốn

- Sự phát triển kinh tế quốc dân, tình hình kinh tế khu vực và thế giới: Khi nền

kinh tế phát triển, thì thị trường vốn cũng tăng trưởng Ngược lại, khi có biến độngtrong nền kinh tế, sẽ làm cho thị trường vốn trở nên ảm dạm, các nhà đầu tư trở nên longại và ít giao dịch

- Tâm lý nhà đầu tư: Vào bất cứ thời điểm nào, trên thị trường cũng xuất hiện 2

nhóm người: nhóm người lạc quan và nhóm người bi quan Khi số tiền do người lạcquan đầu tư chiếm nhiều hơn, thị trường sẽ tăng giá và khi số tiền bán ra của người biquan nhiều hơn, thị trường sẽ hạ giá Tỷ lệ giữa 2 nhóm người này sẽ thay đổi tuỳ theocách diễn giải của họ về thông tin, cả về chính trị lẫn kinh doanh, cũng như những đánhgiá của họ về nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Hơn nữa,hiện nay thị trường cổ phiếu Việt Nam chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, do đó tácđộng của yếu tố tâm lý càng thể hiện rõ hơn

- Những biến động về chính trị, xã hội, quân sự: Đây là những yếu tố phi kinh

tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế nói chung và thị trường vốn nóiriêng Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanhcủa DN, chi ngân sách nhà nước, khả năng tăng trưởng của nền kinh tế, do đó cũng sẽảnh hưởng đến thị trường vốn

- Những thông tin, yếu tố gắn liền với nhà phát hành chứng khoán: Yếu tố về kỹ

thuật sản xuất: trang thiết bị máy móc, công nghệ, tiềm năng nghiên cứu phát triển ;yếu tố về thị trường tiêu thụ: khả năng về cạnh tranh và mở rộng thị trường ; yếu tố vềcon người: chất lượng ban lãnh đạo, trình độ nghề nghiệp của công nhân; tình trạng tàichính của DN sẽ tác động đến giá của chứng khoán, do đó ảnh hưởng đến thị trườngvốn

Trang 15

- Môi trường kinh tế vĩ mô: mặc dù nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã đạt những

bước phát triển đáng kể, song nhìn chung Việt Nam vẫn nằm trong nhóm nước đangphát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, lạm phát biến động, cơ cấu các ngànhtrong nền kinh tế chưa đồng đều, những điều này khiến cho việc thu hút các nhà đầu tưvào thị trường vốn còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, mục đích của các nhà đầu tưViệt Nam là đầu cơ, tăng vốn hơn là đầu tư Vì vậy, thị trường vốn Việt Nam vẫn chưathực sự phát triển

- Ngoài ra còn có các nhân tố khác như lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất:

Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến thị trường ngoại hối màcòn tác động đến thị trường vốn, cụ thể là thị trường trái phiếu Nếu tỷ giá hối đoáităng mạnh sẽ làm các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường trái phiếu ViệtNam

Lạm phát: sự mất giá đồng tiền làm thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm củangười dân Khi lạm phát tăng cao, làm đồng tiền mất giá, kéo theo lãi suất tiết kiệmtăng cao, nhà đầu tư sẽ phân vân giữa việc đầu tư vào chứng khoán dài hạn hay gửi tiếtkiệm

Lãi suất: lãi suất có tác động trực tiếp đến giá của trái phiếu, cổ phiếu, do đó nó

có tác động đến thị trường vốn Cụ thể: khi lãi suất tăng cao thì các dòng tiền chiếtkhấu với trái phiếu sẽ nhỏ, dẫn đến giá chứng khoán giảm, thúc đẩy các nhà đầu tưmua chứng khoán

4 Thực trạng thị trường vốn Việt Nam:

a) Thị trường trái phiếu:

Thị trường trái phiếu bao gồm các loại trái phiếu: trái phiếu chính phủ, trái phiếudược chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, và trái phiếu doanhnghiệp

Trái phiếu là một công cụ nợ, chức năng chính của tất cả các loại trái phiếu làgiúp nhà phát hành huy động vốn Tuy nhiên riêng với trái phiếu chính phủ, đây là một

Trang 16

công cụ vô cùng quan trọng cho chính sách tiền tệ quốc gia Hầu hết các ngân hàngtrung ương trên đều điều hành chính sách tiền tệ bằng cách mua bán trái phiếu chínhphủ để tác động vào mặt bằng lãi suất trên thị trường tài chính Trái phiếu chính phủthường được cho là không rủi ro (risk free) Bên cạnh đó trái phiếu chính phủ còn được

sử dụng như một công cụ thế chấp phổ biến cho các giao dịch giữa các định chế tàichính tư nhân nên loại trái phiếu này còn có chức năng tạo điều kiện cho dòng vốn luânchuyển dễ dàng hơn Thị trường trái phiếu chính phủ bên cạnh mục đích huy động vốncho hoạt động đầu tư và chi tiêu công còn để phục vụ cho các chính sách kinh tế tàichính khác

Từ năm 2006 cho đến nay, thị trường trái phiếu (TTTP) Việt Nam đã có nhữngchuyển biến tích cực Tính đến tháng 9/2013, dư nợ trên toàn thị trường đạt 18,4% ướctính GDP năm 2013, tăng khoảng 4 lần so với năm 2006

Trong giai đoạn từ năm 2006 đến tháng 9/2013, dư nợ TTTP chiếm từ 14,23%đến trên 18% GDP Tại thời điểm 30/9/2013, dư nợ thị trường trái phiếu chính phủ(TPCP) là 406.950 tỷ đồng gồm TTTP được Chính phủ bảo lãnh là 163.553 tỷ đồng,TTTP DN là 96.895 tỷ đồng, TTTP chính quyền địa phương là 12.389 tỷ đồng

Đối với TTTP được Chính phủ bảo lãnh, trong giai đoạn 2006 - 2012 có mức tăngtrưởng mạnh nhất là 408,6%, theo đó là thị trường TPCP tăng trưởng 193,9%, thịtrường TPDN tăng trưởng 127% và TTTP chính quyền địa phương tăng trưởng 92,4%

Có được sự tăng trưởng trên, một phần quan trọng là Bộ Tài chính đã thực hiện điềuhành lãi suất phát hành phù hợp với lãi suất của thị trường Cụ thể, lãi suất phát hànhTPCP đã giảm từ 3,1% đến 6,0% đối với các kỳ hạn dưới 10 năm, giảm 2,2% đối với

kỳ hạn 10 năm Phương thức phát hành TPCP đã chuyển dịch dần từ bảo lãnh sang đấuthầu Trước năm 2010, TPCP được phát hành chủ yếu qua phương thức bảo lãnh(chiếm trên 80% khối lượng phát hành) Từ năm 2011 đến nay, TPCP được phát hànhchủ yếu bằng phương thức đấu thầu (chiếm đến 95% khối lượng phát hành)

TPCP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh chưa có chuyển biến, vẫn tập trungchủ yếu vào các ngân hàng thương mại (chiếm đến 86,7% khối lượng trái phiếu đang

Trang 17

niêm yết) TTTP trong nước vẫn chưa thực sự thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài(chiếm 13,33% khối lượng trái phiếu đang niêm yết).

Đối với trái phiếu chính quyền địa phương, giai đoạn 2003 - 2011, trên quy môtoàn quốc, có 3 tỉnh/ thành phố là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai phát hành đạt15.697 tỷ đồng Tính đến 31/12/2012, dư nợ trái phiếu chính quyền địa phương đạt9.125 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,31% GDP 2012 Tính đến 30/9/2013, dư nợ tráiphiếu chính quyền địa phương đạt 12.389 tỷ đồng

(Bảng 2: Quy mô TTTP - Nguồn: truong-trai-phieu-Viet-Nam-va-dinh-huong-phat-trien/38303.tctc, )

http://www.tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Thi-Trong giai đoạn 2010 - 2013, TTTP đã phát triển mạnh mẽ trên thị trường sơ cấp

và thị trường thứ cấp do từ năm 2000 đến nay, khung pháp lý về phát hành trái phiếu

đã được ban hành đầy đủ, đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thịtrường Trong năm 2012, Bộ Tài chính đã ban hành các thông tư quy định đầy đủ quytrình, thủ tục phát hành, đăng ký, lưu ký và niêm yết các loại trái phiếu theo quy định

Trang 18

tại Nghị định số 01/2011/NĐ-CP, hướng tới các thông lệ của thị trường quốc tế Đặcbiệt là việc niêm yết và giao dịch tín phiếu Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại Sở Giaodịch Chứng khoán Hà Nội

b) Thị trường cổ phiếu

Giai đoạn năm 2006 – 2007

TTCK ở nước ta cuối năm 2006 đầu năm 2007 thực sự được các nhà đầu tư haygiới đánh giá gọi là thời kì bùng nổ Trong giai đoạn này, những điều kiện kinh tếchính trị tích cực của quốc gia như: VIệt Nam chuẩn bị giai nhập WTO, tổ chức thànhcông hội nghị APEC làm cho Việt Nam hấp dẫn các nhà đầu tư Cuối năm 2006, thịtrường chứng khoán tăng trưởng ngoạn mục, VnIndex tăng từ 305 điểm vào cuối năm

2005 lên 751 điểm cuối năm 2006, chỉ số VN Index bằng 246% so với chỉ số Vnindex

2005

Tại trung tâm giao dịch Hà nội, HaSTC chỉ số HaSTC Index tăng từ 95 điểm vàocuối năm 2005 lên 258 điểm, tăng 2.7 lần trong năm 2006 Số lượng công ty giao dịchtrên sàn Hà nội cũng tăng từ 6 công ty lên 87 công ty cuối năm 2006Mặc dù trong năm

2007, TTCK Việt Nam diễn biến bất thường, trồi sụt khác nhau, tăng tột đỉnh trongtháng 3 và giảm mạnh trong tháng 8/2007 Cũng tính đến hết năm 2007, tổng số vốnhoá toàn TTCK Việt Nam chiếm 39,4% GDP, so với mức 22,7% cuối năm 2006, cótổng số 250 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên thị trường chính thức

Ngày đăng: 18/06/2015, 02:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu 1: Số liệu cụ thể các năm: giá trị vốn hóa thị trường so với GDP - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM
Bảng s ố liệu 1: Số liệu cụ thể các năm: giá trị vốn hóa thị trường so với GDP (Trang 8)
Bảng số liệu 3: Số liệu cụ thể các năm: giá trị vốn hóa thị trường so với GDP - BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM
Bảng s ố liệu 3: Số liệu cụ thể các năm: giá trị vốn hóa thị trường so với GDP (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w