Bùi Thị Mai, “Tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp”, website: http://voer.edu.vn/, 09/06/2012 Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ gồm các khoản: - Nguy
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LU N VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có ba yếu
tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho xã hội Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn luôn vận động không ngừng làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục Vậy nên định nghĩa TSNH như thế nào?
“Tài sản ngắn hạn là những tài sản có đơn vị thời gian sử dụng, luân chuyển và thu hồi giá trị trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.” (Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư – Cục Phát Triển Doanh Nghiệp, Giáo trình đào tạo, website: http://www.business.gov.vn/, 19/06/2013)
Theo một tài liệu khác: “Tài sản ngắn hạn là những thứ một DN đang sở hữu, có khả năng được sử dụng hết hoặc chuyển đổi thành tiền mặt trong vòng một chu kỳ kinh doanh – thường được định nghĩa bằng một năm” (John Downes, Jordan Elliot Goodman (2014), “Dictionary of Finance and Investment Terms 9th Edition”, Barron's Educational Series, New York, pg.130)
Ngoài ra, khái niệm về TSNH còn được bổ sung thêm như sau: “So với tài sản cố định, tài sản ngắn hạn quay vòng nhanh hơn Tài sản ngắn hạn phần lớn đóng vai trò đối tượng lao động, tức là các vật bị tác động trong quá trình hoạt động, bởi lao động con người hay máy móc Do đó, tài sản ngắn hạn phản ánh dưới các dạng nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu Trong một quá trình sản xuất, các nguyên vật liệu tham gia bị chế biến thành sản phẩm hoàn chỉnh và toàn bộ giá trị của các nguyên vật liệu đó chuyển hóa hoàn toàn vào giá thành sản phẩm” (Phạm Quang Trung (2009), “Giáo trình Quản trị Tài chính Doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.38) Tóm lại, có thể hiểu TSNH là những tài sản thuộc sở hữu của DN, có tính chất ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Khác với tài sản cố định, TSNH luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình tạo ra sản phầm, cuối chu kỳ kinh doanh toàn bộ giá trị của nó sẽ được chuyển vào sản phẩm được sản xuất ra Trong bảng cân đối kế toán của DN, TSNH được thể hiện ở các bộ phận: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, TSNH khác Nhu cầu về TSNH ở các DN khác nhau là khác nhau Cơ cấu TSNH trong tổng tài sản phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh Giá trị các loại TSNH của DN thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn
Trang 2trong tổng giá trị tài sản và ngược lại với các DN sản xuất Sử dụng hợp lý các loại TSNH có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của DN
1.1.2 Đặc điểm tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn của DN không ngừng vận động qua các giai đoạn của một chu kỳ kinh doanh bao gồm dự trữ, sản xuất và lưu thông, ba giai đoạn này hợp nhất tạo thành quá trình tuần hoàn và chu chuyển của TSNH Giai đoạn sản xuất của DN luôn gắn liền với giai đoạn lưu thông TSNH dùng cho sản xuất và TSNH dùng cho lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục
Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, TSNH lại thay đổi hình thái biểu hiện TSNH chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và thay đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu tạo nên thực thể sản phẩm, giá trị của nó cũng được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Lấy ví dụ DN sản xuất muốn lắp ráp một chiếc máy vi tính để bàn, việc đầu tiên phải làm là xuất từ kho dự trữ những thành phần thiết yếu sau: Thùng máy, bo mạch, bộ vi xử lý, card đồ họa, quạt tản nhiệt, bộ nhớ trong RAM, ổ đĩa cứng rồi đem chúng vào lắp ráp tại dây chuyền sản xuất thành một chiếc máy vi tính hoàn chỉnh Sau khi đã hoành thành công đoạn lắp ráp, chiếc máy này được đem
đi đóng gói, dán nhãn để chuẩn bị cho quá trình lưu thông (bán, kí gửi) Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì TSNH hoàn thành 1 vòng chu chuyển, từ hình thái ban đầu là những vật liệu rời rạc nằm trong kho dự trữ, TSNH đi qua khâu lắp ráp (TSNH sản xuất) thành sản phẩm hoàn chỉnh (TSNH lưu thông) Giá trị của các NVL tham gia quá trình dự trữ và sản xuất được tổng hợp với các chi phí liên quan (chi phí nhân công, phân xưởng, lắp đặt ) cùng lợi nhuận của nhà sản xuất để tạo thành giá bán của sản phẩm lưu thông trên thị trường
Tài sản ngắn hạn là loại tài sản dễ dàng chuyển đổi, dễ dàng thay đổi quy mô, số lượng hơn so với tài sản cố định và việc này tốn ít chi phí hơn hoặc không tốn chi phí
Ví dụ như chứng khoán có thể chuyển đổi thành loại chứng khoán khác (trái phiếu đổi thành cổ phiếu thường) hoặc chuyển đổi thành tiền thông qua việc bán lại cho các nhà đầu tư khác trên thị trường chứng khoán Hay như việc bán được HTK giúp DN tăng doanh thu, tăng lượng tiền thu về, giảm bớt gánh nặng chi phí quản lý, lưu kho và giúp tăng tốc độ luân chuyển hàng hóa
1.1.3 Phân loại tài sản ngắn hạn
Để sử dụng TSNH có hiệu quả thì công việc trước tiên mà DN cần phải làm là phân loại nó TSNH được phân loại có Mục đích chính của việc phân loại TSNH là giúp các nhà quản trị theo dõi tình hình TSNH trên những góc độ khác nhau, từ đó đưa
ra các giải pháp sử dụng TSNH có hiệu quả Tùy thuộc vào những mục tiêu hoạt động
của mình mà DN sẽ lựa chọn việc phân chia TSNH theo các tiêu thức khác nhau
Trang 31.1.3.1 Phân loại theo lĩnh vực tham gia luân chuyển
Tài sản ngắn hạn được phân thành: TSNH dự trữ, TSNH sản xuất, TSNH lưu thông, TSNH tài chính (Bùi Thị Mai, “Tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp”, website: http://voer.edu.vn/, 09/06/2012)
Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ gồm các khoản:
- Nguyên vật liệu chính hay bán thành phẩm mua ngoài: là những loại NVL khi tham gia vào sản xuất chúng cấu tạo nên thực thể sản phẩm
- Nguyên vật liệu phụ: là những loại vật liệu giúp cho việc hình thành sản phẩm làm cho sản phẩm bền hơn, đẹp hơn
- Nhiên liệu: là những loại dự trữ cho sản xuất có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất như than, củi, xăng dầu…
- Phụ tùng thay thế: là những giá trị của những chi tiết, phụ tùng, linh kiện máy móc thiết bị dự trữ phục vụ cho việc sửa chữa hoặc thay thế những bộ phận của máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải…
- Công cụ lao động nhỏ có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giữ nguyên hình thái vật chất nhưng giá trị nhỏ không đủ tiêu chuẩn tài sản cố định
Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất gồm các khoản:
- Bán thành phẩm: là giá trị khối lượng sản phẩm còn đang trong quá trình chế tạo, đang nằm trên dây chuyền công nghệ, đã kết thúc một vài quy trình chế biến nhưng còn phải chế biến tiếp mới trở thành thành phẩm
- Chi phí trả trước: là những chi phí thực tế đã chi ra trong kỳ, nhung chi phí này tương đồi lớn nên phải phân bổ dần vào giá thành sản phẩm nhằm đảm bảo cho giá thành ổn định như: chi phí sửa chữa lớn, nghiên cứu chế thử sản phẩm, tiền lương công nhân nghỉ phép, công cụ xuất dùng…
Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông gồm các khoản:
- Thành phẩm gồm những thành phẩm sản xuất xong nhập kho được dự trữ cho quá trình tiêu thụ
- Hàng hóa là những hàng hóa phải mua từ bên ngoài (đối với đơn vị kinh doanh thương mại)
- Hàng gửi bán là giá trị của hàng hóa, thành phẩm đơn vị đã xuất gửi cho khách hàng mà chưa được khách hàng chấp nhận
- Vốn bằng tiền gồm tiền mặt, tiền đang chuyển
- Vốn trong thanh toán: những khoản phải thu và tạm ứng phát sinh trong quá trình bán hàng hoặc thanh toán nội bộ
Tài sản ngắn hạn tài chính bao gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn nhằm
mục đích kiếm lời (đầu tư chứng khoán, tiền gửi có kỳ hạn )
Trang 41.1.3.2 Phân loại theo mức độ thanh khoản của tài sản ngắn hạn
“Khả năng chuyển đổi, hay tính linh động (còn gọi là thanh khoản) của một tài sản
phản ánh mức độ dễ hay khó để tài sản đó chuyển đổi thành tiền Trong bảng cân đối
kế toán, các tài khoản được sắp xếp theo tính linh động giảm dần (từ trên xuống)” (Phạm Quang Trung (2009), “Giáo trình Quản trị Tài chính Doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.39) Theo tiêu chí trên, có thể chia tài sản thành các loại sau:
Tiền: Bao gồm tiền mặt có tại két của DN, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển
Dễ dàng nhận thấy rằng, tiền có tính thanh khoản cao nhất, tức là nó luôn giữ vị trí số một về tính có thể chuyển hóa được Tiền luôn luôn có thể chuyển đổi thành chính nó với số lượng nhiều hoặc ít hơn Chính vì vậy các nhà kinh tế coi tiền là tài sản chuẩn
để đo lường khả năng chuyển đổi của các tài sản khác
Doanh nghiệp không thể hoạt động nếu thiếu tiền, tiền được sử dụng để trả lương cho công nhân viên, mua sắm NVL, mua mới hoặc đầu tư nâng cấp máy móc kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh, chi đầu tư phát triển Tiền nếu để nguyên không đem luân chuyển sẽ không sinh lời hoặc sinh lời thấp, nếu DN dự trữ quá nhiều tiền mặt sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, giảm hiệu suất sinh lời từ vốn, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả Tuy nhiên, DN cũng cần phải có một lượng tiền dự trữ đủ để đảm bảo cho các hoạt động như:
- Đảm bảo khả năng thanh toán đúng hạn các khoản nợ, khả năng thanh toán các giao dịch trong hoạt động hàng ngày của DN
- Duy trì số dư kí quỹ theo quy định của ngân hàng khi yêu cầu ngân hàng cung cấp các dịch vụ
- Nắm bắt, tận dụng đúng lúc các cơ hội kinh doanh, cơ hội đầu tư kiếm lời
- Lập quỹ dự phòng các trường hợp biến động bất thường của luồng tiền
Trong hoạt động kinh doanh việc giữ tiền mặt luôn mang lại lợi thế nhất định cho
DN Do có đủ lượng tiền mặt để thanh toán tiền trước hay thanh toán đúng hạn, DN sẽ được hưởng lợi thế chiết khấu khi mua hàng hóa, dịch vụ Việc nắm giữ tiền ở mức hợp lý làm ổn định khả năng thanh toán ngắn hạn, giúp DN mua hàng được hưởng những ưu đãi và mức tín dụng linh hoạt Ngoài ra, có sẵn một lượng tiền dự trữ giúp
DN tăng khả năng ứng phó với các trường hợp đột xuất, khẩn cấp như: mở chiến dịch marketing cấp tốc, rủi ro tự nhiên, rủi ro tài chính
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Vì tiền là loại tài sản không sinh lời hoặc
sinh lời rất ít nếu không được đem ra sử dụng nên các DN muốn duy trì một lượng tài sản có tính lỏng cao thường đầu tư vào các loại chứng khoán ngắn hạn là bất cứ khoản đầu tư nào mà một DN thực hiện với thời gian dưới 1 năm Các tài khoản như thế này thường gồm: cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản có tính thanh khoản tương đối nhanh
Trang 5Với sức mạnh của công nghệ thông tin hiện này, các nhà tài chính có thể dễ dàng chuyển đổi tiền sang các loại chứng khoán ngắn hạn và ngược lại Điều này giúp cân bằng lượng tiền dự trữ của DN, không quá cao so với mức cần thiết và vẫn đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh Việc sử dụng các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền ở mức độ mong muốn được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ luân chuyển tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao
(Nguồn: Thư Viện Học Liệu Mở Việt Nam, website http://voer.edu.vn/)
Hầu hết các DN có vị thế tiền mặt mạnh đều có tài khoản các khoản đầu tư ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán Điều này có nghĩa là một DN có thể đủ sức đầu tư thặng
dư tiền mặt vào cổ phiếu và trái phiếu để tìm kiếm được lợi nhuận cao hơn so với việc đem tiền mặt thặng dư đi gửi tiết kiệm
Các khoản phải thu: Là một bộ phận thuộc tài sản của DN đang bị các đơn vị và
các cá nhân khác chiếm dụng mà DN có trách nhiệm phải thu hồi, bao gồm: Các khoản phải thu khách hàng, các khoản phải thu nội bộ, các khoản tạm ứng cho công nhân viên, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ Các khoản phải thu được ghi nhận như là tài sản của DN vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai Qui mô các khoản phải thu không chỉ phụ thuộc vào quy mô DN mà còn phụ thuộc vào chính sách tín dụng của DN
Với tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các DN cần duy trì và phát triển mạng lưới khách hàng và đối tác trung thành, bền lâu giúp DN mở rộng kinh doanh, tiếp tục đứng vững trên thị trường Vì vậy việc bán chịu cho khách hàng tin cậy là không thể thiếu, hình thức tín dụng thương mại này đang được sử dụng rộng rãi trong
Đầu tư tạm thời bằng cách
mua chứng khoán có tính
thanh khoản cao
Bán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt
Trang 6nền kinh tế, lấy sự tin tưởng lẫn nhau và uy tín làm cơ sở cho quan hệ làm ăn lâu dài
Nó đem lại những lợi ích không nhỏ cho DN:
- Các khoản phải thu tác động đến doanh thu bán hàng do chính sách này khiến DN thu hút được nhiều khách hàng hơn và với số tiền trả chậm bị khách hàng chiến dụng,
DN có thể nâng mức giá lên
- Chính sách bán chịu sẽ khuyến khích việc lưu thông hàng hóa, do vậy HTK sẽ giảm, từ đó chi phi lưu kho cũng giảm
- Tín dụng thương mại thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa đồng thời thúc đấy quá trình sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, việc cấp tín dụng thương mại tạo ra những rủ ro lớn cho DN Hoạt động tín dụng thương mại có thể làm tăng chi phí hoạt động của DN, phát sinh thêm chi phí đòi nợ, chi phí phải trả cho nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ Thời hạn cấp tín dụng càng dài, chi phí phát sinh càng lớn Việc quyết định cấp tín dụng cho đối tượng nào, điều khoản quy định ra sao, có nên cấp hay không là những vấn đề rất khó khăn Nếu đưa ra một quyết định sai lầm có thể ảnh hưởng đến tình hình tài chính của DN, hình thành các khoản nợ khó đòi Với tác động nêu trên buộc các nhà quản trị phải có chính sách quản lý các khoản phải thu để giữ DN hoạt động hiệu quả
Dự trữ - Hàng tồn kho: HTK là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất
- kinh doanh bình thường, đang trong quá trình sản xuất - kinh doanh dở dang, nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất - kinh doanh hoặc
cung cấp dịch vụ
Hàng tồn kho của mỗi DN có thể bao gồm: Hàng hoá mua về để bán (hàng hoá tồn kho, hàng hoá bất động sản, hàng mua đang đi đường, hàng gửi đi bán, hàng hoá gửi đi gia công chế biến), thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán, sản phẩm dở dang (sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho), nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường, chi phí sản xuất, kinh doanh dịch vụ dỡ dang, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu và thành phẩm, hàng hoá được lưu giữ tại kho của DN
Hàng tồn kho chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của DN, bởi vì doanh thu từ HTK là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho DN Đó là những tài sản đã sẵn sàng để đem ra bán hoặc sẽ được đem ra bán Thông thường, tỷ trọng HTK lớn luôn là mối quan ngại ít nhiều với nhà đầu tư, do tính chất tồn lâu, chôn vốn, chi phí phát sinh thêm của nó hay nói cách khác, nếu để tồn HTK quá lâu thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình kinh doanh
do DN sẽ phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời và thanh
lý hàng hư hỏng Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ HTK cũng là một rủi ro vì DN có
Trang 7thể đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiềm năng hoặc thị phần nếu giá tăng cao trong khi DN không còn hàng để bán
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại thường duy trì HTK
ở một mức độ nhất định trong chiến lược dự trữ hàng hoá của mình, nhằm đảm bảo NVL cho sản xuất, đảm bảo nguồn hàng trong lưu thông DN cần phải tính toán để có chiến lược dự trữ một cách tối ưu sao cho quá trình sản xuất kinh doanh luôn diễn ra liên tục nhưng cũng đảm bảo không gây ứ đọng hàng hóa, tốn kém chi phí lưu kho
Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phí trả
tước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý và các khoản thế chấp, kí quỹ
1.1.4.1 Tài sản ngắn hạn được hình thành theo quan hệ sở hữu về vốn
Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của DN, bao gồm vốn
do chủ sở hữu đầu tư vốn, vốn tự bổ sung chủ yếu từ lợi nhuận để lại và quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính DN, vốn do ngân sách cấp nếu có Nguồn vốn này
DN có quyền sở hữu định đoạt, không có thời gian hoàn trả và nó có vai trò rất quan trọng với DN Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của DN Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của DN càng cao
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản – Nợ phải trả
Nợ phải trả: là khoản nợ được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại
hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh mà DN phải có trách nhiệm thanh toán cho chủ nợ nhưng chưa thanh toán Nguồn vốn này DN phải bỏ ra chi phí để sử dụng vốn, thời gian sử dụng vốn có hạn, DN chỉ được sử dụng trong thời gian đã thỏa thuận,
hết thời gian này các DN phải hoàn trả nợ cho chủ nợ
(Nguồn: Bùi Thị Mai, “Tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
của doanh nghiệp”, website: http://voer.edu.vn/, 09/06/2012) 1.1.4.2 Tài sản ngắn hạn được hình thành căn cứ vào thời gian huy động vốn và sử dụng vốn
Nguồn vốn thường xuyên: Là những nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn
để hình thành nên TSNH thường xuyên và cần thiết, bao gốm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn
Nguồn vốn thường xuyên = Tổng tài sản – Nợ ngắn hạn
Trang 8Nguồn vốn tạm thời: Nguồn này có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) đáp ứng
nhu cầu vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh của DN Nguồn vốn này gồm có: các khoản vay ngắn hạn, khoản nợ ngắn hạn, nợ phải trả cho người bán, các khoản nộp ngân sách Nhà nước, phải trả phảo nộp khác nhưng chưa trả, chưa nộp
Nguồn vốn tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp
Mỗi DN có cách thức phối hợp khác nhau giữa nguồn vốn ngắn hạn thường xuyên
và nguồn vốn ngắn hạn tạm thời để bảo đảm nhu cầu chung về vốn ngắn hạn của mình
(Nguồn: Bùi Thị Mai, “Tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
của doanh nghiệp”, website: http://voer.edu.vn/, 09/06/2012) 1.1.4.3 Tài sản ngắn hạn được hình thành căn cứ vào phạm vi huy động vốn
Nguồn vốn bên trong DN: là những nguồn vốn có thể huy động được từ bản thân
DN bao gồm vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình sản xuất kinh doanh, các quỹ của
DN, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản Sử dụng triệt để nguồn vốn bên trong tức là DN đã phát huy được tính chủ động trong quản lý TSNH của mình
Nguồn vốn bên ngoài DN: Là nguồn vốn DN có thể huy động từ bên ngoài bao
gồm vốn vay liên doanh, vốn vay từ các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, vốn vay thông qua phát hành trái phiều, nợ người cung cấp, nợ khách hàng và các khoản
nợ khác , việc vay vốn từ bên ngoài tạo cho DN cơ cấu tài chính linh hoạt
1.1.5 Vai trò tài sản ngắn hạn
Một DN trong nền kinh tế thị trường muốn bắt tay vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải có tư liệu sản xuất TSNH là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Trong khâu dự trữ và sản xuất, TSNH đảm bảo cho quá trình sản xuất, quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất của DN được diễn ra liên tục Ví dụ như việc giao một đơn hàng 100 chiếc máy vi tính, nếu có đủ những linh kiện lắp rắp với số lượng tương đương thì đơn hàng sẽ được hoàn thành và gửi đi đúng tiến độ, DN sẽ thu về lợi nhuận theo đúng dự tính Nhưng nếu thiếu chỉ một loại linh kiện sẽ khiến cho quá trình lắp ráp bị đình trệ vì phải đợi nhập thêm hàng, gây tốn thời gian, tăng chi phí lưu kho linh kiện, bán thành phẩm, DN có thể phải bồi thường vì không giao hàng đúng hạn Trong lưu thông, TSNH đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng nhu cầu của khách hàng Nếu không có dự trữ đủ lượng TSNH lưu thông, DN có thể vuột mất các cơ hội kinh doanh, để thị trường tiềm năng rơi vào tay đối thủ cạnh tranh, dẫn đến làm ăn thua lỗ Thời gian luân chuyển TSNH lớn khiến cho công việc sử dụng TSNH luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày Với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển TSNH, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH trong DN là một yêu cầu tất yếu
Trang 9Tài sản ngắn hạn là tiền đề cho sự tăng trưởng và phát triển của DN Đặc biệt đối với các DN sản xuất, thương mại và các DN nhỏ bởi TSNH tại các DN này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản TSNH (tiền, chứng khoán ngắn hạn, HTK ) chính là các khoản “vốn” được các DN này đem ra sử dụng để đầu tư kiếm lời trên thị trường (Dùng tiền mua cổ phiếu của những công ty lớn, dùng tiền đầu tư nâng cấp trang thiết
bị phục vụ sản xuất ) Bên cạnh đó, tính chất của hoạt động kinh doanh đòi hỏi DN phải luôn dự trữ sẵn một lượng hàng nhất định để đảm bảo cho việc kinh doanh diễn ra hàng ngày, đối phó kịp thời những biến động bất thường của thị trường, nắm bắt các
cơ hội kinh doanh lợi nhuận cao Sự tồn tại của các DN phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức, quản lý, sử dụng TSNH Mặc dù hầu hết các trường hợp thất bại trong kinh doanh là hậu quả từ nhiều yếu tố, nhưng cũng phải nhận định rằng việc hoạch định và kiểm soát TSNH và các khoản nợ ngắn hạn thiếu chặt chẽ là nguyên nhân chủ yếu Tóm lại, TSNH chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Vì vậy việc sự TSNH như thế nào cho hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu chung của DN đó
1.2 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn
1.2.1 Quản lý tài sản ngắn hạn theo chiến lược cấp tiến
“Quản lý tài sản ngắn hạn theo chiến lược cấp tiến là chính sách duy trì một tỷ trọng TSNH thấp” (Chu Thị Thu Thủy (2011), “Bài giảng Quản lý Tài chính 1”,
“Chương I: Quản lý Vốn ngắn hạn”, Đại Học Thăng Long, Hà Nội, tr.6)
Theo chính sách này, mức TSNH thấp nhưng được quản lý hiệu quả DN chỉ giữ một mức tối thiểu tiền và chứng khoán thanh khoản cao, dựa vào sự quản lý hiệu quả, khả năng vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu bất thường Tương tự vậy, khoản phải thu
và HTK cũng mang giá trị thấp hơn Việc giảm tối thiểu lượng tiền mặt và HTK nắm giữ được cho là mạo hiểm vì DN có thể không đủ lượng HTK để cung ứng khi nhu cầu thị trường tăng cao, dó đó sẽ bị lỡ mất cơ hội gia tăng doanh số, ngoài ra có thể bị mất thị phần vào tay đối thủ vì nếu tình trạng thiếu hàng xảy ra thường xuyên thì khách hàng sẽ tìm nhà cung cấp khác có nguồn hàng ổn định hơn Bên cạnh đó việc nắm giữ lượng tiền mặt thấp cũng khiến DN có thể lỡ mất cơ hội đầu cơ nguồn nguyên liệu hay hàng hóa đầu vào khi giá trên thị trường xuống thấp
Chi phí thấp hơn dẫn đến lợi nhuận trước thuế cao hơn do khoản phải thu khách hàng ở mức thấp, chi phí quản lý dành cho công nợ cũng thấp hơn, tổng giá trị các khoản nợ không thể thu hồi cũng giảm đi (Tiền của DN không bị khách hàng chiếm dụng quá nhiều, DN sẽ dư dả tiền đem đi đầu tư kiếm lời) Thêm vào đó, việc DN dự trữ ít HTK hơn giúp tiết kiệm chi phí lưu kho (DN không cần đầu tư xây dựng, mở rộng thêm nhà kho để chứa hàng hay gia cố nhà kho đế ngăn cản những tác hại xấu
Trang 10của thời tiết tác động vào hàng hóa trong kho, bớt được khoản đầu tư thêm nhân viên sắp xếp, quản lý kho hàng )
Theo đuổi chiến lược quản lý TSNH theo phương pháp cấp tiến khiến DN gặp rủi
ro như cạn kiệt tiền hay không có đủ tiền mặt để theo đuổi chính sách quản lý hiệu quả, mất doanh thu khi dự trữ thiếu HTK, khi thắt chặt chính sách tín dụng Những rủi
ro này đánh đổi bởi chi phí thấp hơn nên yêu cầu lợi nhuận kỳ vọng cao hơn
1.2.2 Quản lý tài sản ngắn hạn theo chiến lược thận trọng
“Quản lý tài sản ngắn hạn theo chiến lược thận trọng là chính sách duy trì một tỷ trọng TSNH cao” (Chu Thị Thu Thủy (2011), “Bài giảng Quản lý Tài chính 1”,
“Chương I: Quản lý Vốn ngắn hạn”, Đại Học Thăng Long, Hà Nội, tr.6)
Chính sách thận trọng phản ánh việc DN tăng đáng kể lượng tiền mặt và HTK đang nắm giữ Việc này giúp DN có thể tận dụng mọi cơ hội tăng doanh số khi nhu cầu tăng, tăng thị phần hoặc thậm chí thống lĩnh thị trường vì nguồn hàng ổn định và dồi dào đáp ứng nhu cầu kịp thời
Ngoài ra với lượng tiền mặt lớn DN có thể đàm phán được giá tốt hoặc đầu cơ nguyên liệu, hàng hóa với giá rẻ Việc TSNH được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn dài hạn giúp DN giảm áp lực về vòng quay tiền hàng tháng, thậm chí còn có thể gia tăng công nợ cho khách hàng Khả năng thanh toán của công ty được đảm bảo và ít rủi
ro mất khả năng thanh toán, luôn chủ động đáp ứng nhu cầu của thị trường Tuy nhiên một nhược điểm lớn của chính sách này chính là chi phí sử dụng vốn sẽ tăng cao vì một lượng vốn lớn nằm trong HTK (DN sẽ phải chi thêm tiền cho công tác quản lý, bảo toàn chất lượng HTK, tránh hỏng hóc, hư hại hàng hóa trong kho), tiền nhàn rỗi (Tiền không đem ra lưu thông sẽ bị giảm dần tính thanh khoản, giảm giá trị) và khoản phải thu (Chi phí bỏ ra cho công tác thu nợ, lượng tiền bị khách hàng chiếm dụng làm giảm cơ hội đầu tư kinh doanh của DN)
Tài trợ cho TSNH hoàn toàn bằng nguồn dài hạn làm giảm tính linh hoạt trong sử dụng vốn do việc huy động nguồn dài hạn rất tốn thời gian, nhà đầu tư và ngân hàng thường phải thẩm định kỹ và khắt khe hơn, đòi hỏi thế chấp nhiều hơn và lãi suất cao hơn Mặt khác, nếu đang trong một nền kinh tế yếu, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa giảm thấp thì việc duy trì HTK lớn lại vô cùng mạo hiểm, mang lại rủi ro kinh doanh rất lớn
1.3 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả là một khái niệm được đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau Song theo cách nhìn chung nhất thì “Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ
ra để đạt được kết quả đó Kết quả có thể đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau: Kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường Còn chi phí có thể là tiền vốn, nhân công, thời gian.” (Bùi Văn Vần (2013), “Giáo trình Tài chính Doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Tài Chính,
Trang 11Hà Nội, tr.185) Với các DN, hiệu quả thường được đánh giá ở góc độ kinh tế, đó là hiệu quả sản xuất kinh doanh, là sự so sánh giữa doanh thu, lợi nhuận với chi phí sản xuất hoặc số vốn ngắn hạn đã bỏ ra để đạt được mức doanh thu, lợi nhuận đó Nói cách khác, hiệu quả phản ánh mức độ khai thác sử dụng các nguồn lực thế nào Vì vậy, DN muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì vấn đề sống còn là phải quan tâm đến tính hiệu quả
Như đã trình bày ở mục 1.1.5 Vai trò tài sản ngắn hạn, TSNH của DN được sử
dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông Quá trình vận động của TSNH bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong DN tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm Vì vậy, hiệu quả sử dụng TSNH luôn gắn liền với lợi ích của
DN cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN
Nói tóm lại, hiệu quả sử dụng TSNH của DN có thể hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, quản lý TSNH của DN, đảm bảo lợi nhuận tối đa với số lượng TSNH sử dụng với chi phí thấp nhất Các DN đều cố gắng sao cho tài sản được đưa vào sử dụng hợp lý để kiếm lợi nhuận cao nhất đồng thời luôn tìm các nguồn tài trợ, sử dụng và tăng cường thêm tài sản hiện có để mở rộng sản xuất kinh doanh cả về chất và lượng, đảm bảo các mục tiêu mà DN đề ra
1.3.2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các DN hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là tối đa hóa giá trị DN Để đảm bảo mục tiêu này, DN thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn Quản lý và sử dụng hiệu quả TSNH là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nội dung có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị DN Có thể khẳng định như trên
là bởi TSNH (Tiền, chứng khoán ngắn hạn, HTK ) có tính chất ngắn hạn, nó vận động không ngừng qua các giai đoạn của một năm/một chu kỳ kinh doanh (dự trữ – sản xuất – lưu thông), TSNH chính là nguồn “vốn” kinh doanh không thể thiếu của mọi DN, DN nào cũng cần có tiền để mua sắm tư trang thiết bị sản xuất, NVL phục vụ cho sản xuất hay cần có sẵn hàng hóa trong kho để kịp đáp ứng nhu cầu mua bán trao đổi Các chỉ về tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của DN bằng các TSNH như tiền mặt, các khoản phải thu, HTK vậy nên các chỉ tiêu về khả năng thanh toán ngắn hạn tốt có nghĩa là hiệu quả sử dụng TSNH cao Các chỉ tiêu này tốt cũng đồng nghĩa với việc khả năng trả nợ ngắn hạn của DN tốt, điều này sẽ giúp DN tăng khả năng linh hoạt về tài chính của mình, nâng cao tính tự chủ và giảm bớt rủi ro trong kinh doanh DN sẽ chủ động trong việc thanh toán, không bị phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài, việc sử dụng linh hoạt vốn
sẽ làm giảm thiểu các rủi ro tài chính và chi phí cho DN (DN có đủ vốn để đầu tư kinh
Trang 12doanh, không phải đi vay mượn ngân hàng hay các tổ chức khác nên giảm được chi phí lãi phải trả hàng tháng và rủi ro biến động lãi suất) Như vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH sẽ tạo sự an toàn trong kinh doanh cho DN
Nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển TSNH, rút ngắn thời gian TSNH nằm trong lĩnh vực dự trữ, sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt
số lượng TSNH chiếm dùng Tăng tốc độ luân chuyển TSNH còn có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho DN có đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước
Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan khiến một DN làm
ăn thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường Tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng vốn không hiệu quả trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí TSNH, tốc độ luân chuyển TSNH thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí còn gây thất thoát không kiểm soát được TSNH dẫn đến mất khả năng sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán Yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động của tất cả các DN Xét từ góc độ quản lý tài chính, yêu cầu cần phải nâng cao năng lực quản lý tài chính trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH là một nội dung quan trọng không chỉ đảm bảo lợi ích riêng DN
mà còn có ý nghĩa chung đối với nền kinh tế quốc dân
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu phân tích biến động của tài sản ngắn hạn
Phân tích biến động của TSNH là so sánh tình hình biến động của TSNH trong kỳ này với những kỳ trước để xét xem những biến động tăng giảm đó là tốt hay xấu, trên
cơ sở đó, tìm nguyên nhân gây nên biến động xấu để có thể đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH Có thể phân tích biến động TSNH dựa trên các khoản mục sau:
Tiền: Khi phân tích biến động tiền có thể thấy xu hướng dự trữ tiền của DN cao
hay thấp, nếu lượng dự trữ quá cao thì biểu hiện tiền trong DN nhàn rỗi nhiều, vốn không được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp, tiền mất dần tính thanh khoản và giá trị Nếu chỉ tiêu này quá thấp thì sẽ gây khó khăn lớn cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN, thậm chí không đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN được liên tục vì không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán các chi phí (Chi phí NVL, nhân công, phân xưởng, quản lý )
Các khoản phải thu: Khi phân tích biến động các khoản phải thu có thể thấy xu
hướng quản lý các khoản phải thu của DN, DN giữ khoản phải thu của mình ở mức vao hay thấp, mức này cao chứng tỏ DN đang bị các đơn vị khác chiếm dụng vốn, điều này không tốt vì DN sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội kinh doanh vì không huy động đủ vốn
Trang 13Nếu các khoản phải thu giảm thì đây là một biểu hiện tốt vì chính sách tín dụng và chính sách quản lý các khoản phải thu của DN đã đạt hiệu quả khiến tình trạng nợ xấu,
nợ khó đòi giảm Tuy nhiên, cần chú ý rằng không phải lúc nào các khoản phải thu tăng lên cũng là biểu hiện không tích cực, mà còn phải chú ý đến trường hợp DN mở rộng các mối quan hệ kinh tế thì khoản này tăng lên là điều tất yếu Vì vậy, ta phải xem xét số vốn bị chiếm dụng có hợp lý với tình hình kinh doanh hay không
Hàng tồn kho: Khi phân tích biến động HTK có thể thấy xu hướng dự trữ HTK
của DN ở mức cao hay thấp Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ lượng HTK của DN càng lớn Nếu HTK tăng lên do quy mô sản xuất kinh doanh mở rộng, mức dự trữ cần phải tăng để đáp ứng các đơn hàng trong tương lai thì việc giữ số lượng HTK nhiều được đánh giá là cần thiết Nhưng nếu HTK tăng lên do dự trữ vật tư quá mức, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho quá nhiều, thì đây là biểu hiện xấu vì DN chưa có chiến lược sản xuất và kinh doanh hiệu quả khiến sản xuất ngưng trệ và kinh doanh không thuận lợi Ngược lại, nếu HTK giảm do giảm định mức dự trữ vật tư, sản phẩm dở dang, thành phẩm bằng các biện pháp như tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, tìm nguồn cung cấp hợp lý nhưng vẫn đảm bảo sản xuất kinh doanh thì đây là biểu hiện tốt
(Nguồn: Bùi Thị Mai, “Tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
của doanh nghiệp”, website: http://voer.edu.vn/, 09/06/2012) 1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
hả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanh toán hiện hành = Giá trị tài sản ngắn hạn
Giá trị nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán hiện hành cho biết khả năng của một công ty trong việc dùng các TSNH (Tiền mặt, HTK, các khoản phải thu) để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng TSNH Khả năng thanh toán hiện hành của một DN là chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của DN đó, không thể nói một cách đơn giản tình hình tài chính của DN là tốt nếu khả năng thanh toán hiện hành lớn Khả năng thanh toán hiện hành lớn có thể do các khoản phải thu (Nợ không đòi được hoặc không dùng để bù trừ được) vẫn còn lớn, hàng tồn kho lớn (Nguyên vật liệu dự trữ quá lớn không dùng hết và hàng hóa, thành phẩm tồn kho không bán được) tức là có thể có một lượng lớn TSNH tồn trữ, phản ánh việc sử dụng TSNH không hiệu quả, vì bộ phận này không vận động không sinh lời
và khi đó khả năng thanh toán của DN thực tế sẽ là không cao nếu không muốn nói là không có khả năng thanh toán
Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào
có TSNH chiếm tỷ trọng cao (chẳng hạn thương mại) trong tổng tài sản thì hệ số này
Trang 14trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các khoản nợ khi đáo hạn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là DN sẽ phá sản bởi vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn Mặt khác, nếu hệ số này quá cao cũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho thấy DN đang sử dụng TSNH chưa được hiệu quả, TSNH bị ứ đọng, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của DN
hả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh = Giá trị tài sản ngắn hạn – Giá trị hàng tồn kho
Giá trị nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh cho biết liệu công ty có giữ đủ TSNH để trả cho các khoản
nợ ngắn hạn mà không cần phải bán HTK hay không Hệ số này phản ánh chính xác hơn hệ số thanh toán hiện hành Tuy nhiên, với công thức trên, ta đã triệt tiêu năng lực thanh toán "không dùng tiền" các khoản nợ đến hạn của DN Tức là chưa tính đến khả năng DN bán ngay được hoặc xuất đối lưu một lượng hàng hóa mà thị trường có nhu cầu cao, cũng như chưa tính đến khoản phải thu mà khi cần DN có thể thỏa thuận để
bù trừ khoản nợ phải trả cho các chủ nợ Và như vậy sẽ là sai lầm khi lượng tiền của
DN có thể ít, khoản đầu tư ngắn hạn của DN không có nhưng lượng hàng hóa, thành phẩm tồn kho có thể bán ngay bất cứ lúc nào lớn, khoản phải thu có thể bù trừ ngay cho các khoản phải trả nhiều, mà lại đánh giá khả năng thanh toán nhanh của DN thấp Nhìn chung hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất Tuy nhiên giống như hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ trong kỳ
hả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời = Giá trị tiền và các khoản tương đương tiền
Giá trị nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán tức thời cho ta biết lượng tiền mà DN hiện có có đủ khả năng chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả hay không Hệ số này bị ảnh hưởng bởi chính sách quản lý tiền mặt và quản lý nợ của DN Nếu tiền và tương đương tiền lớn hơn nợ ngắn hạn, hệ số này càng cao, càng chứng tỏ lượng tiền và tương đương tiền hiện có DN có đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn Khi chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ DN bảo đảm và thừa khả năng thanh toán tức thời, ngược lại, khi chỉ tiêu này nhỏ hớn 1, DN đó không bảo đảm được khả năng thanh toán tức thời Chỉ tiêu này càng cao thì tình hình tài chính của DN càng tốt, DN chủ động hơn trong việc nắm giữ và quản lý tiền, không bị phụ thuộc quá nhiều vào các nguồn tài trợ bên ngoài nên không chịu áp lực hàng tháng từ việc trả lãi vay
(Nguồn: CFA Company (2009), “CFA Level 1 Book 3: Financial Reporting and
Analysis”, Kaplan Inc, New York, pg.137-138)
Trang 151.3.2.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần Bình quân các khoản phải thu
Hệ số vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu của DN thành tiền mặt và khả năng chiếm dụng vốn của các nhà cung cấp với DN
Hệ số này càng cao càng có lợi cho DN vì nó chứng tỏ khả năng thu hồi tiền hành kịp thời và lượng vốn của DN bị chiếm dụng giảm xuống
Hệ số vòng quay các khoản phải thu lớn (các khoản phải thu nhỏ) chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của DN nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp DN nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất Đồng thời điều này còn thể hiện chính sách tín dụng của DN khá chặt chẽ, đảm bảo thu hồi tiền đúng hạn, nhưng cũng có thể khiến doanh thu giảm do quá cứng nhắc trong giao dịch với khách hàng Nếu hệ số vòng quay các khoản phải thu quá nhỏ (các khoản phải thu lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro nợ xấu, nợ khó đòi, số tiền của DN bị chiếm dụng nhiều lên, lượng tiền mặt sẽ giảm dần đi, làm giảm sự chủ động của DN trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể DN sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này, khi đó
áp lực lãi vay sẽ tăng lên làm DN mất thêm một khoản chi phí cho lãi vay hàng tháng
Thời gian thu tiền trung bình
Thời gian thu tiền trung bình = Thời gian kỳ kinh doanh
Vòng quay các khoản phải thu (Trong đó, thời gian kỳ kinh doanh thường được quy ước bằng 360 ngày)
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn đang bị chiếm dụng của DN Thời gian thu nợ trung bình cho biết bình quân DN phải mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng cao thì thời gian thu nợ trung bình càng thấp và ngược lại Thời gian thu nợ trung bình phụ thuộc vào yếu tố:
- Chính sách tín dụng và chi phí bán chịu: Khi lãi suất tín dụng cấp cho các DN để
tài trợ cho kinh doanh tăng, các DN có xu hướng giảm thời gian bán chịu vì nếu tiếp tục kéo dài thời hạn sẽ rất tốn kém về chi phí tài chính
- Tính chất của DN chấp nhận bán chịu: Một số DN có chính sách mở rộng bán chịu
và chấp nhận kéo dài thời hạn thanh toán hơn các đối thủ cạnh tranh để phát triển thị trường
- Tình trạng của nền kinh tế: Khi tình trạng thuận lợi các DN có khuynh hướng dễ
dàng chấp nhận bán chịu và ngược lại Nếu chấp nhận tăng thời gian bán chịu cho khách hàng mà không tăng được mức tiêu thụ thì đó là dấu hiệu xấu về tình hình kinh
Trang 16doanh DN cần phải thay đổi chính sách tiêu thụ để giữ khách hàng hoặc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
(Nguồn: CFA Company (2009), “CFA Level 1 Book 3: Financial Reporting and
Analysis”, Kaplan Inc, New York, pg.141) 1.3.2.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Bình quân giá trị hàng tồn kho Chỉ tiêu này thể hiện khả năng quản lý HTK của DN Vòng quay HTK là số lần
mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Hệ số vòng quay HTK thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị HTK từng năm là tốt hay xấu,
là hiệu quả hay chưa Hệ số vòng quay HTK càng cao cho thấy DN có chính sách bán hàng hiệu quả, hàng bán ra nhanh, đều đặn và HTK không bị ứ đọng nhiều trong DN Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao là dấu hiệu đáng báo động vì như vậy lượng hàng dự trữ trong kho của DN không nhiều, nếu nhu cầu của thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng DN bị mất khách hàng và thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh Thêm nữa, dự trữ NVL đầu vào cho dây truyền sản xuất không đủ có thể khiến hoạt động này bị ngưng trệ, tốn kém thời gian, chi phí vận hành lại Vì vậy, hệ số vòng quay HTK cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất cũng như nhu cầu khách hàng được đáp ứng
Thời gian luân chuyển kho trung bình
Thời gian luân chuyển kho trung bình = Thời gian kỳ kinh doanh
Vòng quay hàng tồn kho (Trong đó, thời gian kỳ kinh doanh thường được quy ước bằng 360 ngày)
Đây là thước đo thể hiện khả năng về mặt tài chính của công ty Hệ số này cho các nhà đầu tư biết về khoảng thời gian cần thiết để công ty có thể thanh lý được hết số lượng HTK của mình (bao gồm cả hàng hoá còn đang trong quá trình sản xuất) Thông thường nếu hệ số này ở mức thấp thì có nghĩa là công ty hoạt động khá tốtvì nó chứng tỏ HTK đang quay vòng nhanh, điều này góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận của DN Tăng đốc độ luân chuyển HTK là rút ngắn thời gian HTK nằm trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh như dự trữ, sản xuất và lưu thông, là điều kiện quan trọng để DN thu thêm vốn mở rộng quy mô sản sản xuất kinh doanh mà không cần huy động vốn hay vay vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài Mặt khác tăng tốc
độ luân chuyển HTK nhanh sẽ giúp DN giảm các chi phí phát sinh khi lưu kho (chi phí quản lý, bảo quản ), hạ thấp giá thành sản phẩm
(Nguồn: CFA Company (2009), “CFA Level 1 Book 3: Financial Reporting and
Analysis”, Kaplan Inc, New York, pg.141)
Trang 171.3.2.5 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn
Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn = Giá trị tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ Doanh thu thuần
Hệ số này cho biết để thu được một đồng doanh thu thuần trong kỳ, DN phải sử dụng bao nhiêu đồng TSNH Hệ số này càng cao chứng tỏ DN đang huy động quá nhiều TSNH vào quá trình tạo ra một đồng doanh thu Điều này đồng nghĩa với việc quản lý, kiểm soát hiệu quả sử dụng TSNH chưa tốt dẫn đến lãng phí TSNH Hệ số này càng thấp thì hiệu quả sử dụng TSNH của DN càng cao vì khi đó tỷ suất lợi nhuận của một đồng TSNH tăng lên Với các DN kinh doanh thương mại thì hệ số này nhỏ hơn một đồng nghĩa với việc doanh thu nhận về lớn hơn TSNH là “vốn” bỏ ra ban đầu trong khâu sản xuất kinh doanh, chênh lệch giữa doanh thu và TSNH càng lớn thì lợi nhuận thu về của DN càng cao
Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ
Vòng quay tài sản ngắn hạn =
Doanh thu thuần Giá trị tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ Trong đó:
Giá trị tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ =
Giá trị tài sản ngắn hạn đầu kỳ + Giá trị tài sản ngắn hạn cuối kỳ +
2 Vòng quay TSNH là chỉ tiêu phản ánh số lần quay của TSNH trong một thời kỳ nhất định thường là một năm Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH trên cơ sở
so sánh giữa doanh thu thuần và số TSNH bỏ ra trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSNH bỏ ra thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công ty sử dụng có hiệu quả TSNH tạo ra được nhiều doanh thu thuần (Đem tiền đầu tư vào các dự án kiếm lời, mua cổ phiếu, trái phiếu nhận lãi hàng tháng, cung cấp một số lượng lớn hàng hóa, dịch vụ ra thị trường thu về lợi nhuận cao )
Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn
Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn = Thời gian kỳ kinh doanh
Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ (Trong đó, thời gian kỳ kinh doanh thường được quy ước bằng 360 ngày)
Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển của TSNH hay số ngày bình quân cần thiết để TSNH thực hiện một vòng quay trong kỳ Trái ngược với chỉ tiêu số vòng quay TSNH trong kỳ, thời gian luân chuyển TSNH càng ngắn càng chứng tỏ TSNH được sử dụng có hiệu quả TSNH tham gia vào các khâu dự trữ, sản
Trang 18giá trị của TSNH qua các khâu được chuyển thành tiền (Khi sản phẩm bán ra thị trường), tiền đem đi đầu tư mua TSNH mới phục vụ cho sản xuất, một vòng luân chuyển mới lại bắt đầu
Tỷ suất sinh lời tài sản ngắn hạn
Tỷ suất sinh lời tài sản ngắn hạn = Lợi nhuận sau thuế
Giá trị tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết với một đồng TSNH được đem ra sử dụng trong kì DN thu
về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cao phản ánh lợi nhuận sau thuế của DN cao, TSNH tạo ra càng nhiều lợi nhuận ròng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho DN Các DN đều mong muốn hệ số này càng cao càng tốt vì như vậy DN
đã sử dụng được hết giá trị của TSNH trong một kì sản xuất kinh doanh Lợi nhuận
DN đạt được phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả
sử dụng TSNH nói riêng
(Nguồn: Nguyễn Minh Kiều (2009), “Tài chính doanh nghiệp căn bản”, Nhà xuất bản
Thống Kê, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.82) 1.3.2.6 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS – Return on Sales)
ROS =
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế được sinh ra từ một đồng doanh thu thuần trong năm Tỷ suất sinh lời trên doanh thu lớn hơn 0 chứng tỏ DN kinh doanh có lãi và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 0 thì DN đó đang gặp khó khăn dẫn đến thua lỗ Chỉ tiêu này nói lên mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận với hiệu quả các chiến lược kinh doanh của DN, doanh thu chỉ ra vai trò, vị trí DN trên thương trường và lợi nhuận lại thể hiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hiệu quả kinh doanh cuối cùng Hệ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành nghề nên để
có đánh giá khách quan và chính xác hơn, chúng ta nên so sánh hệ số này với hệ số bình quân của ngành mà DN đang tham gia hoạt động
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (RO – Return on Assets)
Trang 19cao càng tốt vì công ty đang kiếm đƣợc nhiều tiền hơn trên lƣợng đầu tƣ ít hơn Ngoài
ra, theo mô hình tài chính Dupont, chỉ tiêu này còn đƣợc phân tích nhƣ sau:
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity)
ROE =
Lợi nhuận sau thuế Giá trị vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu ROE thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Hệ số này cho biết số lợi nhuận đƣợc thu về cho các chủ sở hữu DN sau khi họ đầu tƣ một đồng vốn vào sản xuất kinh doanh Do vốn chủ sở hữu
là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ
số lợi nhuận trên tổng tài sản Mối quan hệ này đƣợc thể hiện bằng mô hình Dupont:
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
x
Giá trị tổng tài sản Giá trị tổng tài sản Giá vốn chủ sở hữu Hay ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục đƣợc triển khai chi tiết thành:
- Tác động tới cơ cấu tài chính của DN thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động
- Tăng hiệu suất sử dụng tài sản Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản
- Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lƣợng của sản phẩm Từ đó tăng lợi nhuận của DN
(Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, “Mô hình dupont”, website:
http://www.ssc.gov.vn/, 03/12/2009)
Trang 201.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của DN chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố khác nhau, chính vì vậy để đưa ra một quyết định tài chính thì nhà quản trị tài chính DN phải xác định được và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề cần giải quyết
Các nhân tố ảnh hưởng được thể hiện dưới nhiều hình thái khác nhau gồm hai nhóm chính: Nhóm nhân tố kiểm soát được và nhóm nhân tố không kiểm soát được Việc phân tích, quản lý, đánh giá các nhân tố tác động như thế nào đến DN nhằm đưa
ra các chiến thuật phát triển hợp lý, khai thác tối đa nguồn lực DN luôn nằm trong chiến lược của từng thời kỳ Mức độ ảnh hưởng đến DN của các nhân tố này mạnh hay yếu phụ thuộc vào thực trạng hoạt động, bối cảnh kinh tế khác nhau của từng ngành, từng quốc gia
1.4.1 Các nhân tố kiểm soát được
Trong cùng một môi trường, cùng một điều kiện kinh doanh mà lại có những DN làm ăn có lãi, dần dần có những bước phát triển vượt bậc, bên cạnh đó cũng gặp không
ít những DN kinh doanh trì trệ, thậm chí thua lỗ dẫn đến phá sản Vậy nguyên nhân thất bại của những DN đó từ đâu, chính là từ bản thân DN Những nhân tố bắt nguồn
từ bên trong DN nếu không được quản lý hiệu quả sẽ để lại tác hại không ngờ tới Tuy nhiên chúng là những nhân tố có thể dự trù, có thể điều chỉnh, khắc phục được
Đặc điểm ngành nghề sản xuất
Ngành nghề sản xuất liên quan đến nguồn nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ Nếu ngành nghề chính của DN là kinh doanh các sản phẩm, thiết bị, dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày (Thực phẩm, đồ gia dụng, văn phòng phẩm ) thì thị trường tiêu thụ rộng lớn và không mang tính thời vụ Chưa kể đến tác động của việc cạnh tranh dành thị phần thì lượng hàng bán ra của DN sẽ có xu hướng ổn định, thường xuyên và nằm trong dự tính của DN, hàng hóa luân chuyển qua các khâu dự trữ, sản xuất, lưu thông theo đúng tiến độ, không xảy ra tình trạng ứ đọng, tắc nghẽn nên lượng HTK ít Ví dụ như với mặt hàng văn phòng phẩm (Bút, giấy, kẹp hồ sơ ),
để tiết kiệm chi phí các DN thường đặt mua văn phòng phẩm trực tiếp từ cơ sở sản xuất, kinh doanh thay vì mua tại đại lý với tần suất 2-6 tháng một lần tùy theo quy mô
DN Sau một thời gian làm ăn thì mối quan hệ mua bán với khách hàng và nhà cung ứng cũng ổn định nên các khoản phải thu nhỏ (Do DN biết cách điều tiết chính sách thu mua, bán hàng của mình, tạo sự hợp tác lâu dài dựa trên đạo đức nghề nghiệp và lòng tin với các đối tác cũng như khách hàng), luồng tiền ra vào DN theo chu kỳ nhất định Với những ngành sản xuất mang tính chuyên dụng thì thị trường tiêu thụ cũng bị thu hẹp với một lượng khách hàng nhất định, mức độ tiêu thụ không đều đặn, các khoản phải thu cũng lớn hơn do lượng hàng hóa đem gửi tại các đại lý bán ra không thường xuyên Lấy ví dụ dòng máy tính xách tay chuyên dụng MSI WS60-20J dành
Trang 21cho dân thiết kế đồ họa có giá gấp 3-4 lần những loại máy tính xách tay thông thường, dòng máy tính bảng Wacom Cintiq dành cho họa sĩ chuyên nghiệp thường có giá trên
50 triệu với giá cả và đặc tính chuyên dụng như vậy, không phải ai cũng có thể mua
và sử dụng các sản phẩm này nên việc tiêu thụ chúng với số lượng lớn hoàn toàn không dễ dàng
Ngoài việc cạnh tranh thị trường tiêu thụ, DN họat động trên thị trường còn luôn phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh trong cung ứng NVL Cạnh tranh về nguồn cung ứng NVL đòi hỏi DN phải lập kế hoạch mua sắm, dự trù cho những trường hợp thiếu NVL ngoài ý muốn, DN cũng nên tránh tình trạng nguồn hàng phân bố không ổn định Việc chọn mua hàng từ nhiều nhà cung ứng khác nhau sẽ giúp DN tìm được nguồn hàng giá rẻ hơn nhưng song song với đó là việc cung ứng hàng không ổn định, đối tác sẵn sàng bỏ hợp đồng nếu tìm thấy hợp đồng khác lợi nhuận hơn (số lượng đặt hàng lớn hơn, đặt mua loại hàng giá cao hơn ) So với việc đó thì mua hàng từ một đối tác đáng tin cậy, hợp tác bền lâu sẽ đảm bảo hơn, tuy giá mua không phải là tốt nhất nhưng sẽ không xảy ra tình trạng thiếu NVL khi đang sản xuất dẫn đến ngưng trệ
cả quá trình
ế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Mỗi DN hoạt động trong các ngành khác nhau sẽ có kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khác nhau Các chính sách này cụ thể hóa chiến lược đầu tư dài hạn trong một kỳ kinh doanh Chính sách sản xuất sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến lượng tiền mặt, lượng NVL tồn kho, còn chính sách tiêu thụ sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến hàng hóa tồn kho và các khoản phải thu Vào kỳ sản xuất, DN sẽ sử dụng lượng NVL, hàng hóa lớn nên số lượng dự trữ cần tăng lên Hoặc khi DN chuẩn bị cho công tác lưu thông thì kế hoạch bán hàng được chú trọng, lượng hàng gửi bán tăng lên khiến TSNH cũng tăng Việc lập kế hoạch ngay từ đầu kỳ giúp DN có lượng dự trữ hợp lý, tránh tình trạng thừa NVL, hàng hóa dẫn đến thất thoát vốn, tốn chi phí bảo quản, lưu kho, hay thiếu NVL, hàng hóa, dẫn đến không hoàn thành đơn hàng đúng hẹn, mất uy tín với đối tác hoặc bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh đáng giá
Chính sách sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH, ngược lại nếu chính sách không hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH, có thể dẫn đến thua lỗ Có thể khẳng định câu nói trên bởi sản phẩm bán ra đều đặn với số lượng lớn, đem về lợi nhuận cao sẽ giúp DN có thêm vốn đầu tư nâng cấp thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, thiết bị hiện đại rút ngắn thời gian làm kích thích quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra nhanh chóng Sản phẩm được ưa chuộng và bán
ra nhiều sẽ kích thích sự luân chuyển qua các khâu dự trữ – sản xuất – lưu thông của TSNH (Sản phẩm máy tính để bàn của DN hiện đang được ưa chuộng, doanh số bán ra tăng, DN thu về nhiều lợi nhuận, dùng lợi nhuận thu được tiếp tục mua vào linh kiện
Trang 22lắp ráp, nhiên liệu vận hành dây chuyển sản xuất sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn để cung cấp cho thị trường, thu về lợi nhuận và lại tiếp tục dùng nó đầu tư mở rộng quy
mô kinh doanh)
Trình độ nguồn nhân lực
Con người đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sản xuất - kinh doanh Con người là nhân tố quyết định đến hiệu quả sản xuất nói chung và hiệu quả sử dụng TSNH nói riêng, nhất là trình độ của cán bộ quản lý và kinh nghiệm tay nghề sản xuất của công nhân viên Để việc sử dụng TSNH đạt hiệu quả thì DN cần có những người quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao trong sản xuất
Trình độ quản lý là nhân tố quyết định đến việc DN có vận hành, tổ chức, quản lý
và ra quyết định hiệu quả hay không Nhà quản trị phải là những người có năng lực, trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm quản lý và đưa ra được những quyết định đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh tình hình DN và thị trường sẽ giúp cho DN sử dụng tài sản một cách hiệu quả và đem lại lợi ích kinh doanh lớn Người quản lý giỏi sẽ nắm bắt được tình hình hoạt động của DN, sau mỗi chu kỳ kinh doanh cần có những phân tích đánh giá xem hiệu quả sử dụng TSNH hiện nay ra sao, từ đó đưa ra các kế hoạch hoạt động cho kỳ tiếp theo
Công nhân lao động là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, trực tiếp sử dụng tài sản của DN Vì vậy, với những nhân viên có tay nghề kinh nghiệm cao, có khả năng tiếp thu tốt khoa học kỹ thuật mới, có tinh thần trách nhiệm và năng động sáng tạo trong công việc sẽ giúp cho DN sử dụng được TSNH một cách hiệu quả đem lại lợi ích lớn nhất Trong quá trình sản xuất, những người công nhân giỏi sẽ tận dụng được các nguồn NVL để tạo ra các sản phẩm có chất lượng, đặc biệt việc sử dụng máy móc thiết bị hết sức quan trọng, máy móc thiết bị ngày càng hiện đại đòi hỏi đội ngũ
sử dụng những loại máy móc thiết bị đó cũng phải được đào tạo có chuyên môn, có kỹ thuật
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Đây là nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc sở hữu NVL tốt thì để có được những sản phẩm tốt DN cũng cần phải sử dụng những thiết bị máy móc tốt Một DN
có được những trang thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễ dàng hơn, tốn
ít thời gian hơn Cùng một chất lượng NVL, DN nào có trang thiết bị tốt hơn, đưa vào dây truyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao hơn sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng hơn, đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn, ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị của NVL thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, như vậy hiệu quả sử dụng TSNH không cao
Trang 23Bên cạnh đó, với trang thiết bị cùng cơ sở vật chất thuận tiện, công nhân viên cũng được làm việc trong môi trường an toàn, thoải mái, tiện nghi, chất lượng công việc, sản phẩm đầu ra cũng sẽ được nâng lên
Công tác quản lý tài sản ngắn hạn
Quản lý TSNH có liên quan chặt chẽ tới hiệu quả sử dụng TSNH Công tác quản
lý tốt sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng TSNH và ngược lại Việc quản lý TSNH chủ yếu gồm những mục như quản lý và dự trữ tiền mặt, quản lý HTK, quản lý các khoản phải thu Các khoản mục trên ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng TSNH DN cần có những chính sách dự trữ tiền mặt phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh để có thể ra những quyết định đúng đắn khi có cơ hội đầu tư vào những hạng mục ngắn hạn (thu mua NVL khi giá đầu vào giảm, đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay vốn với thời hạn thu hồi trong vòng một năm ) để sinh lời Bên cạnh đó DN còn giảm thiểu được
áp lực lãi suất từ việc đi vay do đã dự trù đủ lượng tiền mặt cần thiết cho các kế hoạch kinh doanh mở rộng sản xuất, không cần sự trợ giúp của nguồn vốn bến ngoài Luồng tiền ra vào DN cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định sẽ giúp DN bớt đi nhiều vấn đề đáng quan tâm, từ đó tập trung hơn vào đầu tư mua NVL, thiết bị cải tiến quá trình sản xuất kinh doanh, làm tăng hiệu quả sử dụng TSNH
Quản lý HTK: HTK tham gia vào mọi quá trình trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của DN, từ những NVL, nhiên liệu, phụ tùng ở khâu dự trữ cho đến những bán thành phẩm trong khâu sản xuất và cuối cùng là sản phẩm hoàn thiện để đem vào lưu thông NVL dự trữ không thể trực tiếp tạo sao lợi nhuận nhưng đóng vai trò to lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh, có NVL dự trữ mới có đủ thành phần để sản xuất
ra sản phẩm, sản phẩm bán ra trực tiếp tạo lợi nhuận Quản lý HTK ở mức hợp lý, DN
sẽ giảm thiểu được những khó khăn từ sự biến động của thị trường (khi NVL trên thị trường trở nên khan hiếm khiến giá thu mua đầu vào tăng, DN không đủ khả năng chi trả), giảm thiểu được chi phí bảo quản lưu giữ NVL, hàng hóa trong kho, từ đó giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường
Quản lý tiền và các chứng khoán thanh khoản cao: Trong hoạt động kinh doanh
của DN, việc gửi tiền là cần thiết nhưng việc giữ đủ tiền cũng quan trọng không kém Khi mua hàng hóa nếu có đủ tiền để thanh toán, DN sẽ được hưởng lợi thế chiết khấu, đồng thời một lượng tiền vừa đủ có thể giúp DN duy trì tốt khả năng thanh toán, đáp ứng nhu cầu trong các trường hợp khẩn cấp Quản lý tiền gắn liền với việc quản lý các tài sản liên quan như các chứng khoán có khả năng thanh toán cao, nhằm duy trì tiền ở mức độ mong muốn Quản lý tốt luồng tiền mặt sẽ giúp DN vượt qua giai đoạn khó khăn Ngoài ra, việc này còn tạo cho DN một cơ hội để đầu tư chiến lược hoặc giảm
thiểu chi phí
Trang 24Quản lý các khoản phải thu: Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu là
điều không thể tránh khỏi với các DN Việc mua bán chịu sẽ giúp cho DN đẩy mạnh được khả năng tiêu thụ hàng hóa, giảm lượng HTK nhưng cùng với đó sẽ làm tăng chi phí thu nợ, chi phí bù đắp cho việc thiếu hụt nguồn vốn để tái sản xuất kinh doanh của
DN Do đó, DN cần có một chính sách quản lý các khoản phải thu của mình một cách hiệu quả và hợp lý để lợi nhuận tạo ra là lớn nhất
hả năng huy động vốn và cơ cấu vốn
Vốn là nhân tố không thể thiếu trong mỗi DN và trong các hoạt động kinh doanh Vốn là nguồn hình thành nên tài sản Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và TSNH nói riêng của DN
Doanh nghiệp có khả năng huy động vốn tốt sẽ mở ra cơ hội cho các hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa các hoạt động đầu tư, từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận cho DN dẫn tới nâng cao hiệu suất sử dụng TSNH Ngoài ra, nếu DN duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí vốn sẽ giảm, dẫn tới chi phí kinh doanh giảm, làm tăng lợi nhuận từ
đó tỷ suất sinh lời trên TSNH của DN sẽ tăng
1.4.2 Các nhân tố không kiểm soát được
Là nhóm nhân tố do môi trường bên ngoài DN tác động Nó đứng độc lập, không phụ thuộc vào hoạt động của DN và không nằm trong tầm kiểm soát của DN Đối với các nhân tố này, công việc tốt nhất DN nên làm là tìm hiểu rõ những tác động của nó
để tận dụng một các hợp lý, hoặc tự điều chỉnh chiến lược kinh doanh để phù hợp với biến động của nó
Yếu tố tự nhiên
Tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc tới cuộc sống con người, dẫn đến sự thay đổi trong nhu cầu sinh hoạt cũng như hàng hóa qua từng thời điểm Tự nhiên có tác động rất lớn đến DN, đa phần gây ra những tác động bất lợi với các DN, ví dụ như việc bảo quản hàng hóa, sản phẩm không cẩn thận trong thời tiết quá nóng nực hay ẩm ướt có thể dẫn đến hỏng hóc, mất một phần chức năng hay không sử dụng được Vì vậy để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên, các DN cần phần tích, dự báo, đánh giá tình hình khí hậu, thời tiết, môi trường thông qua các cơ quan chuyên môn (Trung tâm
Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, Bộ Tài nguyên Môi trường ), phải có biện pháp đề phòng để giảm thiểu rủi ro tới mức có thể
Môi trường kinh tế - chính trị
Môi trường chính trị ổn định là nhân tố rất quan trọng trong phát triển kinh tế, bởi
vì nếu tình hình chính trị bất ổn sẽ tạo ra rủi ro và như vậy các DN sẽ rất khó huy động vốn và bản thân họ cũng không muốn đầu tư Do vậy, để phát triển kinh tế, các nước đều chú trọng tạo lập một môi trường chính trị ổn định, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trang 25Khi nền kinh tế tăng trưởng, phát triển, DN sẽ làm ăn thuận lợi hơn, luồng tiền vào
DN tăng, phải thu giảm, khả năng thanh toán của DN tốt hơn, chứng tỏ hiệu quả trong việc sử dụng TSNH cao hơn Ngược lại nếu nền kinh tế suy thoái, kế hoạch sản xuất kinh doanh và dự trữ của DN cũng phải thay đổi, số lượng hàng bán giảm đi, tồn kho tăng lên Chính vì vậy, các nhà quản trị cần theo dõi sự biến động của nền kinh tế để đưa ra quyết sách kịp thời và phù hợp với tình hình hiện tại
Chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước
Chính sách của Nhà nước ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng TSNH của DN Những chính sách của chính phủ có thể tác động đến những nguồn tài trợ cho TSNH như nguồn vốn vay ngân hàng, nguồn này tăng hay giảm phụ thuộc vào chính sách cho vay và lãi suất vay của các ngân hàng dựa trên lãi suất ấn định sẵn của chính phủ Ví dụ như việc lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước bằng đồng Việt Nam được giảm từ 10,5% xuống mức 9,6%/năm kể từ ngày 11/12/2014 theo thông tư ban hàng của Bộ tài chính (Lan Phương, “Giảm lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu”, website: http://baodientu.chinhphu.vn/, 16/12/2014), việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các DN đang có ý định xin vay vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh Nhà nước có thể đưa ra những chính sách ảnh hưởng đến việc mua sắm các NVL đầu vào hay bán hàng hóa, sản phẩm đầu ra như việc tăng thuế nhập khẩu, xuất khẩu, thay đổi điều kiện xuất – nhập khẩu Mức thuế nhập khẩu dầu xăng dùng làm nhiên liệu cho động cơ, máy móc sản xuất tăng từ 18% lên 27% kể từ ngày 06/12/2014 (Minh Phương, “Tăng thuế nhập khẩu xăng dầu từ ngày 06/12/2014”, website: http://www.customs.gov.vn/, 11/12/2014), thuế tăng dẫn đến giá bán tăng sẽ gây khó khăn rất lớn cho các DN sử dụng nhiều máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất cần nhiên liệu để vận hành động cơ, nếu không đủ vốn để đầu tư cho nhiên liệu sản xuất thì mọi kế hoạch sử dụng tiền dự trữ của DN đều phải tính toán lại Đảng và Nhà nước ban hành các luật lệ, chính sách nhằm mục đích tránh sự gian lận, đảm bảo sự công bằng và an toàn trong xã hội Sự thắt chặt hay lới lỏng chính sách quản lý kinh tế đều có ảnh hưởng nhất định đến DN như quyết định đầu tư, quá trình sản xuất kinh doanh Để tránh rơi vào tình trạng mất kiểm soát, bỡ ngỡ trước những thay đổi của chính sách Nhà nước, DN cần theo dõi sát sao tới các chế độ chính sách sắp ban hành/sửa đổi để có phương pháp hoạt động phù hợp
Trình độ phát triển khoa học – công nghệ
Khoa học – công nghệ là một trong các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của DN Chúng quyết định tới năng suất lao động và trình độ sản xuất của các DN Khoa học – công nghệ luôn luôn thay đổi và phát triển không ngừng Sự tiến bộ của khoa học – công nghệ sẽ góp phần làm cho các DN tăng năng suất lao động, giảm
Trang 26thiểu chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, sự tiến bộ không ngừng đó
sẽ làm cho tài sản hiện có của DN bị hao mòn vô hình một cách nhanh chóng, dẫn tới máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất… sẽ trở lên lạc hậu trong sản xuất Vì vậy, việc theo dõi cập nhật khoa học công nghệ là công việc cần thiết trong DN, từ đó, DN
sẽ có các quyết định đầu tư đúng đắn để đạt hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng TSNH và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp
Các DN hiện nay đang hoạt động trên thị trường cạnh tranh khốc liệt Do vậy việc lập kế hoạch sản xuất, tiêu thụ hàng hòa cũng như dự trữ HTK là hết sức quan trọng Tất cả các kế hoạch này đều ảnh hưởng đến việc sử dụng TSNH
Mỗi DN hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào đều có đối thủ cạnh tranh Khi nền kinh tế phát triển, có sự mở rộng về loại hình kinh doanh cũng như lĩnh vực hoạt động thì yếu tố cạnh tranh của các DN cũng tắng lên DN phải quan tâm nhiều hơn đến chiến lược của đối thủ cạnh tranh khi lập kế hoạch kinh doanh Ví dụ như khi mua nguyên liệu sản xuất, nếu không tính toán trước sẽ dẫn đến tình trạng NVL chỗ thừa chỗ thiếu Khi cạnh tranh ra tăng, việc đưa ra các biện pháp nhằm đẩy nhanh lượng hàng bán ra khiến DN nới lỏng chính sách tín dụng, gây thêm khó khăn cho việc quản
lý các khoản phải thu
Nếu không nắm vững tình hình các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm dịch vụ cạnh tranh sẽ dấn tới kế hoạch sản xuất, dự trữ không phù hợp dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn hoặc bỏ lỡ cơ hội kinh doanh
Nhu cầu của thị trường
Ngày nay, các nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ đều theo quan điểm marketing hiện đại: Sản xuất những gì mà thị trường cần Do đó nhu cầu tiêu dùng của thị trường giúp các nhà quản trị DN tìm giải đáp cho câu hỏi sản xuất cái gì, mẫu mã ra sao, chất lượng thế nào và hướng tới nhóm khách hàng nào?
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, DN phải có chiên lược sản xuất kinh doanh hợp lý Việc quản lý, sử dụng TSNH một cách hiệu quả có ảnh hưởng lớn tới sản xuất kinh doanh của DN, từ đó ảnh hưởng đến việc cung ứng hàng hóa ra thị trường Ngược lại nhu cầu tiêu dùng của thị trường lại có tác động đến sản xuất kinh doanh nói chung, tới hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng TSNH của DN nói riêng Nhu cầu của người tiêu dùng về các sản phẩm dịch vụ thay đổi theo thời gian, vùng lãnh thổ, văn hóa Sản phẩm cũng có chu kỳ sống của nó, không có sản phẩm nào tồn tại mãi mãi và được ưa chuộng mãi mãi Sản phẩm đang trong chu kỳ tăng trưởng, nhu cầu tăng mạnh đòi hỏi phải sản xuất và dự trữ nhiều hơn, hoặc khi ở giai đoạn suy thoái, nhu cầu giảm dần thì DN phải giảm lượng dự trữ xuống
Trang 27Nhu cầu tiêu dùng của thị trường biến động hầu như không theo quy luật nào và nằm ngoài tầm kiểm soát của hầu như các DN Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm và những ghi chép tình hình tiêu thụ qua các năm, những nhà quản trị có thể dự đoán xu hướng của thị trường để tận dụng cơ hội kinh doanh và giảm bớt rủi ro có thể xảy ra
Kết luận chương 1 Nói tóm lại, dù chiếm phần nhỏ hay lớn trong cơ cấu tài sản chung của một DN
thì TSNH luôn đóng vai trò không thể thiếu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN đó TSNH tham gia vào mọi quy trình hoạt động của DN, được phân bổ trên khắp các quá trình luân chuyển, nó có tác động lớn đến việc tăng hay giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN (Lợi nhuận) Muốn cho quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục DN cần đảm bảo đủ nhu cầu về TSNH, nếu không thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn, tăng chi phí hoạt động dẫn đến kết quả kinh doanh không đạt mức tối ưu Quy mô TSNH cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất Với một quy mô TSNH hợp lý với tiềm lực của mình, DN sẽ giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động và dẫn tới tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
KỸ THU T VIỆT 2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt
2.1.1 Giới thiệu thông tin chung về công ty
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT VIỆT
- Tên viết tắt: VTSI.,JSC
- Tên nước ngoài: VIET TECHNOLOGY SERVICE AND TRADING INVESTMENT JOINT STOCK COMPANY
Những năm đầu thế kỉ 21 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin
và điện tử truyền thông Nắm bắt được nhu cầu lúc bấy giờ, Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt được thành lập vào năm 2006 với một cửa hàng chuyên kinh doanh các loại thiết bị phục vụ văn phòng, sửa chữa, mua bán mới, cũ các loại laptop, PC nằm trong ngõ 64 phố Nguyễn Lương Bằng Trải qua ba năm phấn đấu với những thành công nhất định và liên tục mở rộng quy mô, đến tháng 7 năm
2009, công ty chính thức đi vào hoạt động mang đầy đủ tư cách pháp nhân
Do là một DN trẻ nên công ty gặp phải một số khó khăn trong quá trình kinh doanh như: Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ công nhân viên còn thiếu thốn, số lượng khách hàng đến với công ty cũng chưa đáng kể Tuy nhiên, lãnh đạo công ty đã hết sức
cố gắng khắc phục những trở ngại đó bằng việc không ngừng chăm lo, nâng cao đời sống nhân viên, năng động sáng tạo trong chiến lược kinh doanh, tạo cho công ty một hướng đi riêng phù hợp và bắt nhịp với xu thế phát triển của thị trường trong nước Công ty hiện đang ngày một cải thiện để phục vụ khách hàng tốt hơn và để tồn tại trước sự cạnh tranh gay gắt trong ngành
Trang 29Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt thành lập từ năm
2006, đến nay đã được tám năm đi vào hoạt động, công ty luôn duy trì và tạo dựng uy tín bằng cách tìm tòi nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng nhằm cung cấp những sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng, luôn bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng cũng như giữ vững mối quan hệ lâu dài với những DN đối tác
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Thương Mại Và Dịch
Vụ Kỹ Thuật Việt
(Nguồn: Nhân viên tài chính - Kế toán)
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
Giám đốc
Giám đốc đứng đầu bộ máy quản lý của công ty, điều hành các hoạt động kinh doanh của công ty theo giấy phép kinh doanh hành nghề cho phép Đồng thời, giám đốc là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của toàn công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, cơ quan chủ quản và công ty về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Giám đốc có quyền và nhiệm vụ sau:
- Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hàng ngày của công ty
- Bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty
Nhân viên kinh doanh
- Quản lý công tác tổ chức kinh doanh sao cho sản phẩm và dịch vụ đạt hiệu quả, phù hợp thị yếu và nhu cầu thị trường, xây dựng kế hoạch kinh doanh ngắn và dài hạn nhằm mở rộng thị trường Nghiên cứu tham mưu cho giám đốc trong công tác định hướng kinh doanh
- Thiết lập giao dịch với hệ thống khách hàng, đối tác Thực hiện hoạt động marketing, hoạt động bán hàng tới các khách hàng nhằm mang lại doanh thu cho công ty
Giám đốc
Nhân viên kinh doanh
Nhân viên tài chính
kế toán
Nhân viên
kỹ thuật
Trang 30- Chủ động soạn thảo các hợp đồng kinh tế có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty Tổ chức theo dõi tiến độ và thực hiện đúng quy định các hợp đồng kinh doanh đã kí kết theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với nhân viên tài chính - Kế toán của công ty trong các nghiệp vụ thu tiền bán hàng hóa, thanh toán tiền mua hàng hóa - dịch vụ có liên quan đến hoạt động kinh
Nhân viên tài chính kế toán
- Thực hiện những công tác nghiệp vụ chuyên môn tài chính kế toán theo đúng quy định của pháp luật
- Thu thập xử lý thông tin có liên quan đến nghiệp vụ kinh tế tài chính trong công ty
- Phản ánh tới giám đốc tình hình tiêu thụ hàng hoá cả về số lượng, trị giá và việc thực hiện các hợp đồng mua bán Quản lý chặt chẽ doanh thu bán hàng, thường xuyên theo dõi kiểm kê hàng hoá, đối chiếu giữa thực tế với sổ sách nhằm ngăn ngừa những hiện tượng tham ô, lãng phí, thiếu trách nhiệm trong bảo quản hàng hoá
- Kiểm tra, giám sát tình hình doanh thu và thu nhập của DN, trên cơ sở đó
có những biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp cho lãnh đạo đơn vị nắm được tình hình tiêu thụ hàng hoá để có những chính sách điều chỉnh kịp thời cho thích hợp với điều kiện thực tế
Nhân viên kỹ thuật
- Kiêm luôn chức năng vận chuyển và chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ trực tiếp tới khách hàng
- Chịu trách nhiệm lắp đặt, sửa chữa, cài đặt hệ thống máy tính, máy in, thiết bị văn phòng, hệ thống mạng máy tính đồng thời bảo trì, bảo dưỡng máy móc thiết bị cho khách hàng sau khi mua
2.1.4 Đặc điểm về hoạt động kinh doanh và một số kết quả đạt được của công ty
2.1.4.1 Khái quát về ngành nghề kinh doanh của công ty
- Nhập khẩu và bán lẻ linh kiện máy tính, thiết bị văn phòng từ các hãng sản xuất uy tín trên thế giới
- Sửa chữa, mua bán mới, cũ các loại laptop, PC
- Thi công lắp đặt hệ thống mạng LAN, WAN, điện thoại tổng đài, điện nhẹ
- Cung cấp phần mềm có bản quyền
- Lập trình máy vi tính, dịch vụ tư vấn và các hoạt động khác liên quan đến máy vi tính
- Cho thuê máy móc, thiết bị (Không kèm người điều khiển)
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa
Trong đó, lĩnh vực kinh doanh mang lại doanh thu chính của công ty là kinh doanh máy vi tính, linh kiện máy vi tính và thiết bị ngoại vi Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, công ty không ngừng đa dạng hoá các loại hình kinh doanh của mình Ngày 3 tháng 3 năm 2010 công ty đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư cho phép bổ
Trang 31sung thêm ngành nghề kinh doanh là tư vấn và làm dịch vụ kỹ thuật trong lĩnh vực điện tử tin học:
- Dịch vụ thương mại điện tử, quảng cáo điện tử, tiếp thị điện tử…
- Dịch vụ đăng ký tên miền, thiết kế và lưu trữ trang web
- Dịch vụ tư vấn, lắp đặt thiết bị kỹ thuật văn phòng
2.1.4.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh chung của công ty
Vì hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu của công ty là hoạt động kinh doanh thương mại nên quy trình sản xuất chung của công ty được thể hiện như sau:
Sơ đồ 2.2: Quy trình hoạt động kinh doanh chung
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Bước 1: Đặt mua hàng
Vì các sản phẩm, thiết bị công ty kinh doanh đều nhập khẩu từ nước ngoài nên công ty dựa vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường hiện có hoặc theo đơn đặt hàng của khách để chọn mua từ các đối tác
Bước 2: iểm tra chất lượng hàng
Trước khi chuyển hàng về nhập kho, bộ phận kiểm soát trong công ty sẽ kiểm duyệt, đánh giá lô hàng có đúng với tiêu chuẩn, đảm bảo chất lượng theo đúng hợp đồng hay không
Bước 5: Bảo hành
Theo phương châm hoạt động ban đầu, công ty luôn giữ vững uy tín và mối quan hệ tin cậy lâu dài với khách hàng Sau khi đã hoàn thành giao dịch mua bán, nhân viên công ty thường xuyên gọi điện hỏi thăm chất lượng sản phẩm, hướng dẫn khách hàng tận tình, cũng như cung cấp dịch vụ bảo hành một năm sau khi mua
Đặt mua
hàng
iểm tra chất lượng hàng
Nhập kho Giao hàng Bảo hành
Trang 32Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị: VNĐ
Chênh lệch giữa năm 2011
và 2012
Chênh lệch giữa năm 2012
và 2013 Tuyệt đối Tương
đối (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
1 Doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ 1.574.755.978 1.592.053.160 1.194.513.500 17.297.182 1,10 (397.539.660) (24,97)
3 Doanh thu thuần 1.574.751.578 1.592.053.160 1.194.513.500 17.301.582 1,10 (397.539.660) (24,97)
15 Lợi nhuận sau thuế (20.585.442) 5.330.272 3.729.883 25.915.714 125,89 (1.600.389) (30,02)
(Nguồn: Nhân viên tài chính – kế toán)
Trang 332.1.4.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2011 – 2013
Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của công ty, cho biết liệu công ty làm ăn có hiệu quả hay không Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong các năm năm 2011, 2012 và 2013, ta thấy:
Về doanh thu
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu của công ty qua các năm
chủ yếu đến từ việc sửa chữa, bán linh kiện, thiết bị văn phòng, máy tính nguyên chiếc và tư vấn, lắp đặt hệ thống mạng máy tính, thiết bị ngoại vi cho các DN vừa và nhỏ Doanh thu năm 2012 là 1.592.053.160 đồng, tăng 17.297.182 đồng so với năm
2011, tương đương với 1,10% Có sự tăng nhẹ này là do năm 2012 công ty tăng cường các dịch vụ hậu mãi (Giao hàng miễn phí tại nhà, nếu khách hàng không hài lòng có thể đổi hàng với giá trị tương đương hoặc lớn hơn trong vòng 7 ngày, hỗ trợ mua hàng trả góp lãi suất 0% ) và mở chương trình khuyến mãi ưu tiên cho khách hàng là học sinh, sinh viên (giảm giá 20% cho hóa đơn trên 300.000 đồng ) nên thu hút thêm một lượng khách hàng mới, số lượng khách hàng đến với công ty trong năm 2012 tăng 5%
so với năm 2011, tăng từ xấp xỉ 1050 lượt khách/năm lên xấp xỉ 1100 lượt khách/năm Tuy nhiên, lượng tăng này vẫn chưa đáng kể
Sang năm 2013, doanh thu chỉ còn 1.194.513.500 đồng, giảm 397.539.660 đồng
so với năm 2012, tương ứng với 24,97% Có thể thấy tình hình kinh doanh của công ty năm 2013 không mấy khả quan, ¼ doanh thu từ hoạt động kinh doanh giảm Có sự giảm sút này là do cuộc khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công từ các nước Châu Âu gây hậu quả tiêu cực trên lĩnh vực ngoại thương khiến xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn Theo CIEM, Châu Âu hiện là đối tác thương mại và thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, khủng hoảng nợ công Châu Âu làm giảm mạnh xuất khẩu, giảm các luồng vốn từ bên ngoài cho đầu tư như vốn ODA, FDI, vay tín dụng , giảm thu nhập từ nước ngoài có thể gây tác động tiêu cực tới kinh tế trong nước (Liên Việt, “CIEM: Nợ công châu Âu tăng rủi ro tỷ giá USD/VND”, website
http://www.lvs.vn/, 09/02/2012) Ngoài ra, hiện tượng đồng USD tăng giá (Do có độ
an toàn cao hơn) cũng có hậu quả không tốt, khi giá cả của những mặt hàng định trên đồng USD tăng nhanh khiến đồng nội tệ giảm giá trị Hai tác động trên khiến giá cả các loại hàng hóa tăng lên, ảnh hưởng đến sức mua và nhu cầu hàng điện tử của người tiêu dùng (Vì hàng điện tử phần lớn là hàng nhập khẩu, người tiêu dùng sẽ cân nhắc chỉ mua, nâng cấp những mặt hàng thực sự cần thiết cho công việc, cuộc sống hàng ngày) Thêm nữa, doanh thu giảm xuống cũng do công ty chưa tìm cách mở rộng thêm quy mô, thêm chiến lược kinh doanh khéo léo để cạnh tranh với các đối thủ khác Do
Trang 34đó, vì mục đích tăng lợi nhuận, công ty nên có kế hoạch cải thiện tình hình, chiến lược kinh doanh của mình
Các khoản giảm trừ doanh thu: Năm 2012 và 2013 công ty không phát sinh bất
cứ khoản giảm trừ doanh thu nào, trong năm 2011 khoản giảm trừ doanh thu phát sinh
do chiết khấu thương mại cho khách hàng cũng rất nhỏ (4400 đồng), không đáng kể Đây là dấu hiệu tốt chứng tỏ chất lượng sản phẩm, dịch vụ công ty cung cấp luôn đảm bảo, không có hiện tượng khách đòi bồi thường dịch vụ, hoàn trả sản phẩm hay đòi giảm giá hàng bán do chất lượng thấp Công ty cần tiếp tục duy trì điểm mạnh này của
mình trong những năm tới
Doanh thu thuần: Doanh thu thuần của công ty năm 2012 tăng tương đương tổng
doanh thu, mức tăng 17.301.582 đồng, tương ứng với 1,10% so với năm 2011 Năm
2013 doanh thu thuần giảm tương đương tổng doanh thu, mức giảm 397.539.660 đồng, tương ứng với 24,97% so với năm 2012 Không có mức chênh lệch giữa hai chỉ tiêu doanh thu và doanh thu thuần qua các năm 2012, 2013 do công ty không chịu tác động bởi khoản giảm trừ doanh thu
Doanh thu từ hoạt động tài chính: Công ty không có bất cứ khoản thu nào từ
hoạt động tài chính Do hiện vẫn đang hoạt động trong quy mô nhỏ nên công ty chưa
có kế hoạch đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn hoặc góp vốn liên doanh, liên kết nên không có thu nhập về thu hồi hoặc thanh lý các khoản vốn góp Bên cạnh
đó, công ty không có hoạt động thanh toán sớm cho đối tác nên không được hưởng thêm bất cứ khoản chiết khấu thanh toán nào Công ty cũng không đem tiền mặt đi cho vay hay gửi ngân hàng nên cũng không nhận được khoản thu nhập nào từ lãi suất
Thu nhập khác: Thu nhập khác của công ty năm 2012 là 6.594.317 đồng, giảm
816.558 đồng so với năm 2011, tương ứng với 11,02% Nguồn thu khác của công ty đến từ hoa hồng được hưởng khi nhận bán lẻ máy chiếu phim mini 3D từ nhà cung cấp Tuy nhiên, nguồn thu này không lớn vì đây là thị trường khá mới mẻ, công ty lại chưa nghiên cứu kĩ nên bị đối thủ cạnh tranh lấn át, lượng sản phẩm bán ra không nhiều Khoản thu này lẽ ra phải được ghi nhận vào doanh thu của công ty, tuy nhiên khi trao đổi với kế toán thì được biết công ty không có ý định kinh doanh tiếp dịch vụ này, hơn nữa thu nhập từ nó cũng rất nhỏ nên vào năm 2011, 2012 công ty ghi nhận đây là một khoản thu khác Thu nhập khác của công ty năm 2013 là 4.552.964 đồng, giảm 2.041.353 đồng so với năm 2012, tương ứng với 30.96% Nguồn thu này đến từ việc thanh lý một số tài sản cố định dùng cho văn phòng đã lỗi thời (máy vi tính, máy
in, máy fax ) để đầu tư mua sắm thiết bị mới, phục vụ tốt hơn cho hoạt động bán hàng, kiểm kê hàng hóa cũng như chăm sóc khách hàng của công ty Bên cạnh đó, năm
2013 công ty cũng thu lại được một vài khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá sổ từ phía đối tác
Trang 35Về chi phí
Giá vốn hàng bán: GVHB của công ty năm 2012 là 1.262.734.368 đồng, giảm
49.155.146 đồng so với năm 2011, tương ứng với tốc độ giảm là 3,75% Có sự sụt giảm này là do năm 2012 công ty chuyển qua hình thức đặt hàng với số lượng lớn nên được hưởng chiết khấu thương mại cao hơn, công ty cũng thương lượng với những đối tác lâu năm và tìm được nguồn nhập hàng với giá thấp hơn các năm trước nhưng chất lượng vẫn đảm bảo Minh chứng cho việc này là trong năm 2012 không hề tồn tại bất
cứ sai sót gì gây nên các khoản giảm trừ doanh thu
Gía vốn hàng bán của công ty năm 2013 là 941.588.899 đồng, giảm 321.145.469 đồng so với năm 2012, tương ứng với 25,43% Điều này hợp lý bởi hoạt động kinh doanh khó khăn khiến doanh thu giảm mạnh, lượng hàng tiêu thụ đầu ra giảm dẫn đến nhu cầu thu mua đầu vào giảm Ngoài ra, công ty vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác uy tín với những đối tác trước đây nên vẫn được hưởng chiết khấu khi mua hàng
Chi phí tài chính: Công ty không phát sinh khoản chi phí tài chính nào trong các
năm 2011 – 2013 Thứ nhất là do công ty không tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính nên không tốn chi phí cũng như chịu các khoản lỗ liên quan Thứ hai, tuy năm
2011 công ty có một khoản vay 100.000.000 đồng nhưng lượng tiền này công ty huy động từ nhân viên, từ người thân của cán bộ công ty cho mục đích chính đáng là đầu
tư mở rộng quy mô kinh doanh nên không phải chịu lãi vay
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý năm 2012 là 330.582.837 đồng,
tăng 39.724.456 đồng so với năm 2011, tương ứng với 13,66% Nguyên nhân là do năm 2012, công ty đã tăng cường đầu tư cho bộ phận quản lý với mục tiêu mở rộng quy mô hoạt động, bộ phận quản lý cần được bổ sung thêm nguồn nhân lực cũng như trang thiết bị để quản lý công ty hoạt động hiệu quả hơn Tuy nhiên, xem xét báo cáo chi tiết có thể thấy khoản chi này phát sinh lớn hơn kế hoạch nên ảnh hưởng không tốt đến lợi nhuận của công ty Do vậy công ty cần có sự phối hợp và quản lý chặt chẽ hơn giữa các phòng ban để tránh tình trạng lãng phí và rủi ro đạo đức của nhân viên
Sang năm 2013, chi phí quản lý là 253.747.682 đồng, giảm 76.835.155 đồng so với năm 2012, tương ứng với 23,24% Hoạt động kinh doanh của công ty năm 2013 kém hiệu quả so với năm trước nên các chi phí liên quan đến hoạt động này (lương nhân viên, chi phí vật liệu văn phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài: điện, nước ) cũng giảm theo Ta có thể thấy việc thắt chặt công tác quản lý các khoản chi tiêu trong công
ty cũng đạt hiệu quả nhất đinh, kết quả là các khoản chi vượt mức (mua sắm vật dụng văn phòng, chi phí điện, nước ) đã giảm đáng kể so với những năm trước Cụ thể, chi phí điện nước giảm từ xấp xỉ 1.000.000 đồng/tháng xuống còn xấp xỉ 800.000 đồng/tháng, chi phí cho vật dụng văn phòng giảm từ xấp xỉ 300.000/3 tháng xuống còn xấp xỉ 150.000/3 tháng do sử dụng tiết kiệm hơn Bên cạnh đó, lương trả cho các nhân
Trang 36viên giảm từ 3.800.000 đồng/người/tháng xuống còn 3.300.000 đồng/người/tháng, qua trao đổi với nhân viên kế toán, được biết nguyên nhân là do doanh thu hàng tháng giảm, không đủ đáp ứng mức lương hiện tại, các chi phí khác nếu giảm thêm sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của công ty nên công ty đã bàn bạc với tất cả cán
bộ để đi đến quyết định tạm thời giảm lương, điều này dẫn đến việc số lượng nhân viên cũng giảm đi một người
Chi phí khác: Công ty không tồn tại khoản chi phí nào khác, do luôn tuân thủ
đúng quy định của hợp đồng kinh doanh nên không phải chịu khoản phạt vi phạm hợp đồng và do công ty không mất chi phí khi thanh lý một số tài sản đã hết giá trị sử dụng
Lợi nhuận
Lợi nhuận gộp: Lợi nhuận gộp năm 2012 của công ty là 329.318.792 đồng, tăng
66.456.728 đồng so với năm 2011, tương ứng với 25,28% Nguyên nhân do doanh thu thuần năm 2012 tăng 1,1% nhưng công ty lại quản lý khá tốt chi phí trực tiếp vào hàng hóa khiến giá vốn bán hàng giảm 3,17%, mức giảm này kết hợp với mức tăng của doanh thu tạo nên lợi nhuận gộp tăng
Trong khi đó, lợi nhuận gộp năm 2013 của công ty là 252.924.601 đồng, giảm 76.394.191 đồng so với năm 2012, tương ứng với 23,20% Doanh thu năm 2013 giảm
24,97% kết hợp với việc giảm GVHB 25,43% khiến lợi nhuận gộp giảm
Lợi nhuận thuần: Lợi nhuận thuần năm 2012 của công ty tăng 95,48% so với
năm 2011, tương đương với 26.732.272 đồng Thoạt nhìn tưởng chừng đây là điều đáng mừng, nhưng thực tế lợi nhuận thuần hai năm gần đây của công ty đều là số âm Năm 2011 là âm 27.996.317 đồng, năm 2012 do cải thiện xu hướng kinh doanh nên con số không còn âm nặng như năm trước, tuy nhiên vẫn là âm 1.264.045 đồng Nguyên nhân là do chi phí quản lý DN cao hơn lợi nhuận gộp đạt được, điều này thể hiện việc sử dụng nguồn vốn của công ty cho công tác quản lý DN vẫn còn nhiều thiếu sót, chưa được kiểm soát chặt chẽ và phân bổ thích hợp Công ty còn vội vàng trong việc tuyển dụng thêm nhân viên, mở rộng quy mô mà chưa tính đến việc nguồn lực tài chính của mình có phù hợp hay không
Lợi nhuận thuần năm 2013 của công ty là âm 823.081 đồng, tăng 440.964 đồng so với năm 2012, tương đương với 34,89% Có thể thấy, dù đã nỗ lực hết mình trong công tác cải thiện chiến lược kinh doanh và quản lý chặt chẽ chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh nhưng công ty vẫn chưa đạt được kết quả tốt Mức tăng lợi nhuận năm 2013 là 440.964 đồng, kém hơn rất nhiều so với năm 2012 (26.732.272 đồng) Có thể hiểu mức tăng này không cao bởi công ty đã có một năm hoạt động khó khăn Để vực dậy và tiếp tục phát triển hơn nữa, công ty cần nghiêm túc xem xét, so sánh các chiến lược kinh doanh qua từng năm, bàn bạc kỹ lưỡng để tìm ra những bước
đi đúng đắn hơn trong tương lai
Trang 37Lợi nhuận khác: Lợi nhuận khác năm 2012 là 6.594.317 đồng, giảm nhẹ 816.558
đồng so với năm 2011, tương ứng với 11,02% Lợi nhuận khác năm 2013 là 4.552.964 đồng, giảm 2.041.353 đồng so với năm 2012, tương ứng với 30,96% Lợi nhuận khác
bằng thu nhập khác do công ty không phát sinh thêm bất kì khoản chi phí nào khác
Lợi nhuận kế toán trước thuế: Năm 2012, lợi nhuận trước thuế của công ty là
5.330.272 đồng, tăng 25.915.714 đồng so với năm 2011, tương ứng với 125,89% Khoản chi phí quản lý (330.582.837 đồng) đã khiến công ty sử dụng hết phần lợi nhuận gộp thu được (329.318.792 đồng) nên lợi nhuận thuần là âm 1.264.045 đồng Tuy nhiên năm 2012, công ty còn thu về một khoản lợi nhuận khác là 6.594.317 đồng (Nhờ làm đại lý bán máy chiếu phim mini) nên lợi nhuận sau cùng không còn âm như năm 2011 (âm 20.585.442 đồng) Tuy nhiên, với khoản lợi nhuận khác quá nhỏ (xấp xỉ 6,5 triệu đồng), cộng thêm việc khoản lợi nhuận này còn được dùng để bù đắp cho khoản lỗ gần 1,3 triệu đồng từ lợi nhuận thuần khiến cho lợi nhuận kế toán trước thuế năm nay của công ty không đáng kể (Chỉ có 5.330.272 đồng)
Lợi nhuận kế toán trước thuế năm 2013 là 3.729.883 đồng, giảm 1.600.389 đồng, tương ứng với 30,02% Sang năm 2013, dù GVHB và cả chi phí quản lý DN đều giảm một mức đáng kể (Giảm lần lượt 25,43% và 23,24%) nhưng do tình hình kinh doanh không mấy khả quan, doanh thu thu về sụt giảm nặng nề (giảm xấp xỉ 25%) nên mức lợi nhuận trước thuế rất thấp Lợi nhuận từ hai năm 2012 và 2013 vẫn chưa đủ để bù đắp số lỗ năm 2011 là âm 20.585.442 đồng
Lợi nhuận kế toán sau thuế: Lợi nhuận sau thuế hai năm 2012, 2013 bằng lợi
nhuận trước thuế do năm 2011 công ty lỗ 20.585.442 đồng nên không phải nộp thuế thu nhập DN Khoản lỗ sẽ tiếp tục được khấu trừ vào năm tiếp theo, mà lợi nhuận trước thuế năm 2012 là 5.330.272 đồng, năm 2013 là 3.729.883 đồng vẫn chưa đủ để
bù đắp lại khoản lỗ của năm 2011 nên năm 2012, 2013 DN cũng chưa phải nộp thuế
Có thể tóm tắt kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2011 – 2013
bằng Biểu đồ 2.1 dưới đây Ta có thể thấy doanh thu năm 2012 tăng nhẹ so với năm
2011 (1,10%) nhưng sang năm 2013, chỉ tiêu này giảm mạnh (giảm gần ¼ so với lượng đầu năm) Tình hình doanh thu trên kết hợp với việc GVHB giảm đều qua các năm và lợi nhuận đạt được không đáng kể chứng tỏ công ty đang trải qua giai đoạn kinh doanh rất khó khăn và gặp nhiều trục trặc trong hoạt động quản lý DN Nguyên nhân là do sự biến động của thị trường dẫn đến biến động giá cả hàng hóa đầu vào, đầu
ra (Như đã giải thích ở mục Doanh thu thì cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Âu khiến
giá trị đồng EUR giảm, trong khi đó đồng USD tăng do sự ổn định của thị trường Mỹ, điều này khiến giá hàng hóa nhập khẩu đầu vào tăng do nguồn hàng đầu vào của công
ty chủ yếu giao dịch bằng đồng USD), thị hiếu và sức mua của người tiêu dùng không
ổn định (Người dân Hà Nội ngày càng ưa chuộng những nhãn hiệu hàng hóa đắt tiền
Trang 38vì cho rằng hàng hóa có nhãn hiệu luôn bền hơn, trong khi hàng hóa của công ty phần lớn ở mức giá trung bình), bản thân công ty chưa sáng tạo trong chiến lược thu hút khách hàng (Các chính sách giảm giá và các dịch vụ đi kèm của công ty khá phổ biến, được hầu hết các DN cùng quy mô áp dụng), chưa biết cách quản lý và sử dụng tốt nguồn vốn và tài sản hiện đang sở hữu Công ty cũng nên bàn bạc, nghiên cứu để có biện pháp cải thiện tình hình hoạt động kinh doanh càng sớm càng tốt, tránh tính trạng lãng phí nguồn lực, hoạt động kém hiệu quả
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động doanh thu, giá vốn hàng bán, lợi nhuận sau thuế
của công ty giai đoạn 2011 – 2013
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh các năm 2011, 2012, 2013)
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt
2.2.1 Thực trạng tài sản của công ty
2.2.1.1 Tình hình biến động tài sản của công ty giai đoạn 2011-2013
Biểu đồ 2.2: Tình hình biến động tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của công ty
giai đoạn 2011 – 2013
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán các năm 2011, 2012, 2013)
-400000000
0400000000
Năm2012
Năm2013
Năm2011
Năm2012
Năm2013
Tài sản dài hạn
Trang 39Bảng 2.2: Tình hình biến động tài sản của công ty giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị: VNĐ
Phần tài sản Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Chênh lệch giữa năm 2011
Trang 40Nhìn chung, tổng tài sản của công ty qua các năm có xu hướng giảm Cụ thể là năm 2012, tổng tài sản của công ty đạt 1.906.343.183 đồng, giảm 89.427.555 đồng so với năm 2011, tương ứng với 4,48% Năm 2013, tổng tài sản tiếp tục giảm mạnh hơn, con số là 1.547.531.329 đồng, giảm 358.811.854 đồng so với năm 2012, tương ứng với 18,82% Tổng tài sản giảm do sự biến động của TSNH và tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn: TSDH của công ty chỉ bao gồm hai khoản mục là TSCĐ và chi
phí trả trước dài hạn TSDH của công ty năm 2012 đạt 15.616.672 đồng, tăng 15.243.565 đồng so với năm 2011, tương ứng với 4085,57% Do công ty không phải công ty sản xuất mà chỉ hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nên khoản đầu tư cho TSCĐ không quá lớn Năm 2011, khoản mục TSCĐ của công ty bằng 0 do trong năm loại tài sản này đã khấu hao hết giá trị Tuy nhiên, tài sản này vẫn
có khả năng sử dụng được nên công ty tốn thêm một khoản phí trả trước dài hạn là 373.107 đồng cho việc bảo trì, sửa chữa để sử dụng tài sản đến hết năm Sang năm
2012, công ty chỉ còn khoản mục TSCĐ trong chỉ tiêu TSDH của mình TSCĐ đầu năm 2012 là 19.950.000 đồng do công ty đầu tư thay thế một số thiết bị, máy móc, nội thất văn phòng cũ Đến cuối năm TSCĐ mới bị hao mòn giá trị 4.333.328 đồng nên giá trị còn lại là 15.616.672 đồng Năm 2013, TSDH tiếp tục giảm do hao mòn lũy kế của TSCĐ mua đầu năm 2012 Tài sản dài hạn của công ty năm 2013 là 9.116.680 đồng, giảm 6.499.992 đồng so với năm 2012, tương ứng với 41.62%
Tài sản ngắn hạn: TSNH của công ty năm 2012 đạt 1.890.726.511 đồng, giảm
104.671.120 đồng so với năm 2011, tương ứng với 5,25% Sang năm 2013, TSNH đạt 1.538.414.649 đồng, tiếp tục giảm 352.311.862 đồng, tương ứng với 18,63% so với năm 2012 Có thể hiểu nguyên nhân của sự sụt giảm này là do: Thứ nhất, tình hình kinh doanh năm 2012, 2013 của công ty không mấy khởi sắc so với những năm trước Doanh thu và lợi nhuận sau thuế năm 2013 giảm lần lượt 24,97% và 30,02% so với năm 2012 khiến lượng tiền thu về giảm Thứ hai, lượng HTK chưa được dự trữ một cách hợp lý (HTK chiếm gần 2/3 trong tổng giá trị TSNH), trong khi doanh thu giảm 24,97%, số lượng hàng bán ra giảm, hàng trong kho vẫn ứ đọng nhiều thì lượng HTK lại tăng thêm 13,21% Thứ ba, việc thu hồi các khoản phải thu trong năm 2013 khá tốt, các khoản phải thu giảm hơn 70% khiến lượng vốn bị chiếm dụng giảm, công ty thu thêm tiền về để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cho người bán (Khoản phải trả người bán giảm từ 392.746.650 đồng trong năm 2012 xuống còn 38.514.257 đồng) và đầu tư thêm vào HTK, điều này khiến lượng tiền mặt giảm mạnh 65,46% Nhìn chung, TSNH giảm chủ yếu do tác động từ sự sụt giảm tiền và các khoản phải thu Tuy nhiên,
để có thể đưa ra những đánh giá chính xác và chi tiết hơn về tình hình TSNH của công
ty thì ta cần tiến hành các bước xem xét cụ thể từng khoản mục cấu thành nên TSNH