Tính cấp thiết của đề tài Tín dụng là hoạt động kinh doanh phức tạp nhất so với các hoạt động kinh doanh khác của NHTM, hoạt động này tuy thu được nhiều lợi nhuận nhưng cũng gặp không ít rủi ro. Rủi ro tín dụng khi xảy ra không chỉ tác động đến sự tồn tại và bản thân mỗi NHTM mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Quản lý rủi ro tín dụng vì thế luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị ngân hàng. Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế, số lượng các NHTM gia tăng mạnh mẽ đã khiến cạnh tranh ngày càng gay gắt và áp lực mở rộng tín dụng nhanh. Cùng với đó, các biến đổi khó lường của một nền kinh tế đang phát triển đã khiến rủi ro tín dụng mà NHTM phải đối mặt ngày càng tăng và phức tạp. Trong bối cảnh đó, quản lý rủi ro tín dụng được coi là điều kiện tiên quyết để NHTM đứng vững trong cạnh tranh và hạn chế nguy cơ rủi ro đến với mình. Điều này càng trở lên quan trọng và cấp thiết đối với một chi nhánh NHTM còn non trẻ như Vietcombank Bắc Ninh. Chính vì vậy, đề tài: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh" được lựa chọn để phân tích, nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tín dụng cả về mặt lý luận và thực tiễn, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bắc Ninh.
Trang 1Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngânhàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Bắc Ninh” là mộtkết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc.
Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được tríchdẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiêncứu đã được công bố, các website,…
Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận vàquá trình nghiên cứu thực tiễn
Hà Nội, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hà
Trang 2Trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, chúng tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lưu Thị Hương Bộ môn tàichính doanh nghiệp trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong việc nghiên cứu khoahọc và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngân hàng - Tài chính vàViện Sau Đại học - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, cảm ơn Ban lãnhđạo và cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – chinhánh Bắc Ninh, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài.Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm,động viên và giúp đỡ cho tôi hoàn thiện việc nghiên cứu đề tài
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 3
1.1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 3
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng của NHTM: 3
1.1.1.2 Phân loại hoạt động tín dụng: 4
1.1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại: 7
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại: 7
1.1.2.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng: 8
1.1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng: 9
1.1.2.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng: 10
1.1.2.5 Hậu quả khi xảy ra rủi ro tín dụng 11
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại: 13
1.2.1 Khái niệm: 13
1.2.2 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 14
1.2.2.1 Nhận biết rủi ro tín dụng: 14
1.2.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng: 16
1.2.2.3 Hạn chế rủi ro tín dụng: 20
1.2.2.4 Xử lý rủi ro tín dụng: 24
1.2.2.5 Mô hình quản lý rủi ro tín dụng: 26
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá quản lý rủi ro tín dụng: 28
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng 30
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC NINH 34
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh: 34
2.1.1 Qúa trình thành lập và phát triển: 34
2.1.2 Mô hình hoạt động: 35
2.1.3 Các hoạt động chủ yếu và kết quả kinh doanh trong thời gian qua: 36
2.1.3.1 Huy động vốn: 37
2.1.3.2 Sử dụng vốn 38
2.1.3.3 Các hoạt động dịch vụ khác 40
2.1.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank Bắc Ninh 41
2.2 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Bắc Ninh: 42
2.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Vietcombank Bắc Ninh: 42
2.2.2 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bắc Ninh: 44
2.2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bắc Ninh 44
1.2.2.2 Nội dung thực hiện quản lý rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bắc Ninh 48
2.3 Đánh giá hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bắc Ninh: 54
2.3.1 Kết quả đạt được: 54
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân: 55
2.3.2.1 Hạn chế: 55
2.3.2.2 Nguyên nhân: 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC NINH 61
3.1 Định hướng hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh 61
Trang 53.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh 62
3.1.2.1 Tăng trưởng tín dụng với mục tiêu an toàn và hiệu quả 62
3.1.2.2 Định hướng phát triển tín dụng đối với các nhóm đối tượng khách hàng hiện 62
3.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh 63
3.2.1 Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt chính sách, quy trình cấp tín dụng 63
3.2.2 Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc hệ thống xếp hạng tín dụng 64
3.2.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp 65
3.2.3 Tăng cường công tác kiển tra, giám sát sau khi cho vay 66
3.2.4 Nâng cao vai trò kiểm tra, kiểm soát nội bộ 66
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng: 67
3.2.6 Nâng cao năng lực xử lý các khoản nợ xấu: 68
3.2.7 Tăng cường mối quan hệ khách hàng, đưa khách hàng và ngân hàng xích lại gần nhau 69
3.2.8 Hoàn thiện cơ chế hảo đảm tiền vay 70
3.3 Một số kiến nghị 71
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 71
3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN 72
3.3.2 Kiến nghị đối với Vietcombank: 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6NHTM Ngân hàng thương mại
Trang 7Bảng 2.2: Tăng trưởng dư nợ tín dụng của Vietcombank Bắc Ninh 2008-2011 39Bảng 2.3 Kết quả một số hoạt động dịch vụ khác của VCB Bắc Ninh trong giai
đoạn 2008-2011 41Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh của VCB Bắc Ninh 42Bảng 2.5: Dư nợ tín dụng của Vietcombank Bắc Ninh phân theo thời hạn và loại
hình khách hàng trong giai đoạn 2008 – 2011 43Bảng 2.6: Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro qua các năm 45
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1 Thị phần tín dụng của VCB Bắc Ninh đến 31/12/2011 39
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Tín dụng là hoạt động kinh doanh phức tạp nhất so với các hoạtđộng kinh doanh khác của NHTM, hoạt động này tuy thu được nhiều lợi nhuậnnhưng cũng gặp không ít rủi ro Rủi ro tín dụng khi xảy ra không chỉ tác động đến
sự tồn tại và bản thân mỗi NHTM mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống ngânhàng và toàn bộ nền kinh tế Quản lý rủi ro tín dụng vì thế luôn là mối quan tâmhàng đầu của các nhà quản trị ngân hàng
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế, số lượng các NHTM giatăng mạnh mẽ đã khiến cạnh tranh ngày càng gay gắt và áp lực mở rộng tín dụngnhanh Cùng với đó, các biến đổi khó lường của một nền kinh tế đang phát triển đãkhiến rủi ro tín dụng mà NHTM phải đối mặt ngày càng tăng và phức tạp Trongbối cảnh đó, quản lý rủi ro tín dụng được coi là điều kiện tiên quyết để NHTM đứngvững trong cạnh tranh và hạn chế nguy cơ rủi ro đến với mình Điều này càng trởlên quan trọng và cấp thiết đối với một chi nhánh NHTM còn non trẻ như
Vietcombank Bắc Ninh Chính vì vậy, đề tài: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh" được lựa chọn để
phân tích, nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tín dụng cả về mặt lý luận và thựctiễn, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tạiVietcombank Bắc Ninh
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mạiPhân tích, đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCPNgoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh trong thời gian qua
Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàngthương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi Nhánh Bắc Ninh
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại và
các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng
Trang 9Phạm vi nghiên cứu: Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Ngoại thương Việt Nam - Chi Nhánh Bắc Ninh trong khoảng thời gian từ năm
2008 đến năm 2011 Đề tài được nghiên cứu trên giác độ ngân hàng thương mại vàquản lý rủi ro tín dụng được giới hạn trong phạm vi quản lý rủi ro cho vay
4 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, các phương pháp được sử dụngtrong quá trình thực hiện luận văn bao gồm: phương pháp thống kê, so sánh,phương pháp phân tích hoạt động kinh tế, phương pháp tổng hợp thống kê
5 Đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa những vần đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tíndụng của Ngân hàng thương mại
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thươngmại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàngthương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánhBắc Ninh
Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng của NHTM:
Tín dụng là quan hệ vay mượn, sử dụng vốn của nhau dựa trên nguyên tắchoàn trả và sự tin tưởng Trong nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình quan hệ tíndụng cùng tồn tại như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước,tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế Song căn cứ vào chức năng
và vai trò của NHTM với nền kinh tế, tín dụng ngân hàng là phổ biến và quan trọngnhất, thường xuyên được quan tâm nghiên cứu
Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân
hàng-tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với một bên là các chủ thể còn lại
của nền kinh tế (Bên vay) Trong đó, NHTM chuyển giao một khoản tiền cho Bên
vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận Bên vay có trách nhiệmhoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho NHTM khi đến hạn thanh toán Theo khoản
10 Điều 20 Luật các TCTD, tín dụng được quy định như sau: “ cấp tín dụng là việc
tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc
có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnhngân hàng và các nghiệp vụ khác” Và nghiệp vụ được coi là điển hình nhất của tíndụng ngân hàng chính là cho vay Đây cũng chính là công cụ cạnh tranh của cácNHTM trong việc thu hút các dịch vụ ngân hàng khác vì thường khi khách hàng vayvốn ở đâu thì cũng tập trung các giao dịch tại ngân hàng tại đó
Dưới giác độ NHTM, tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng nhất,đem lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng Dưới giác độ nền kinh tế, vai trò của tíndụng ngân hàng cũng không hề nhỏ Đây là cầu nối giữa người có vốn và người cầnvốn, từ đó thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế
Trang 11phát triển bền vững Thông qua tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểm soátđược khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưuthông tiền tệ Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăngcường chế độ hạch toán kinh doanh, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quảtiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh.
Với những vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng và nền kinh tế, tíndụng luôn là mảng hoạt động được các NHTM chú trọng đẩy mạnh và tăng cườngquản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo tính cạnh tranh trên thị trường tàichính
1.1.1.2 Phân loại hoạt động tín dụng:
NHTM cung cấp nhiều hình thức cấp tín dụng khác nhau tương ứng với sự đadạng trong nhu cầu của khách hàng Có thể phân loại các sản phẩm tín dụng củaNHTM theo nhiều tiêu chí khác nhau nhưng mục đích chủ yếu của việc phân loạinày là nhằm thiết lập các quy trình cấp tín dụng thích hợp và quản lý rủi ro tín dụnghiệu quả Có các cách phân loại chủ yếu dựa vào tiêu thức sau:
(i) Phân loại theo nghiệp vụ cho vay: Hiện nay, chủ yếu các NHTM cấp tín
dụng theo các loại nghiệp vụ sau đây:
Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thựchiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng Các khoản vay từng lầnthường căn cứ trên những phương án kinh doanh cụ thể, có các tài liệu có thể chứngminh tính khả thi và hiệu quả của phương án kinh doanh ngay tại thời điểm vayvốn Các khoản vay từng lần được các tổ chức tín dụng đánh giá là có rủi ro thấp,tuy nhiên tỉnh linh hoạt của phương thức cho vay này không cao
Cho vay theo hạn mức: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoảthuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, phù hợpvới tình hình hoạt động luân chuyển vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp và ngânhàng ký một hợp đồng tín dụng để doanh nghiệp thực hiện các phương án kinhdoanh trong cả năm Phương thức này được các tổ chức tín dụng áp dụng với nhữngkhách hàng có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, ngân hàng có thể ước lượng
Trang 12được chu trình luân chuyển vốn của khách hàng trong một thời gian cấp hạn mức.
Ưu điểm của phương thức cho vay này là tính linh hoạt cao cho khách hàng, giảmthủ tục khi giải ngân vốn vay tuy nhiên ngân hàng sẽ khó khăn hơn trong việc đánhgiá hiệu quả của từng lần giải ngân dẫn đến rủi ro trong việc kiểm soát hiệu quảhoạt động của vốn vay
Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khác hàng vay vốn đểthưc hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu
tư phục vụ đời sống Những khoản cho vay theo dự án đầu tư được đánh giá là cómức độ rủi ro cao, thời gian vay thường dài, tuy nhiên nó cũng tạo ra sự ổn định cho
dư nợ tín dụng của các ngân hàng, tạo ra sự gắn kết chặt trẽ và lâu dài hơn giữangân hàng và doanh nghiệp
Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc một phương án vay vốn cho khách hàng; trong đó có một tổ chứctín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Thôngthường các tổ chức tín dụng cho vay hợp vốn đối với những khoản vay có giá trịlớn, một tổ chức tín dụng không có khả năng cho vay toàn bộ hoặc muốn phân tánrủi ro
Cho vay bắc cầu: Là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vayvốn để đáp ứng vốn cho phương án sản xuất kinh doanh hoặc đời sống mà phương
án đó đã có nguồn tài trợ vốn, tuy nhiên vào thời điểm vay bắc cầu thì nguồn tài trợ
đó chưa đáp ứng vốn kịp thời để thực hiện phương án Nguồn trả nợ của khoản vaybắc cầu không phải là nguồn thu từ phương án mà từ chính nguồn tài trợ vốn chophương án đó Thông thường các khoản vay bắc cầu là các khoản vay ngắn hạn
Cho vay bù đắp: Là khoản vay mà tổ chức tín dụng cấp cho khách hàng để
bù đắp tài chính cho khách hàng do việc khách hàng tạm thời sử dụng nguồn vốnkhác để thực hiện phương án đầu tư khi chưa vay được vốn ngân hàng mà số vốn đóvượt quá số vốn tự có tham gia được xác định trong phương án đầu tư
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoảthuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt mức số tiền có trên tài
Trang 13khoản thanh toán của khách hàng, với lãi suất, thời hạn thanh toán đã xác địnhtrước
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chứctín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạnmức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng, dịch vụ, rút tiền mặt tại máy rút tiền tựđộng hoặc các diểm thanh toán thẻ hoặc đại lý của tổ chức tín dụng
(ii) Phân loại theo thời hạn vay vốn:
Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho kháchhàng mà tính từ thời điểm nhận nợ đến khi đáo hạn có thời gian từ một năm trởxuống Thông thường các khoản cho vay ngắn hạn được ngân hàng cung ứng chocác nhu cầu vốn luân chuyển nhanh như vốn lưu động, bù đắp tài chính tạm thời
Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho kháchhàng mà tính từ thời điểm nhận nợ đến khi đáo hạn có thời gian từ 1-5 năm Thôngthường các khoản cho vay trung hạn được ngân hàng cung ứng cho cá nhu cầu vốn
để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, hoặc phương án đầu tư phục vụ đời sống cóquy mô nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh
Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho khách hàng
mà tính từ thời điểm nhận nợ đến khi đáo hạn có thời gian từ 5 năm trở lên Thôngthường các khoản cho vay dài hạn được ngân hàng cung ứng cho các nhu cầu vốn
để đầu tư mới hoặc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh mà phương án đầu tư này
có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài
(iii) Phân loại theo biện pháp bảo đảm
Cho vay có đảm bảo toàn bộ: Là các khoản cho vay của ngân hàng đượcđảm bảo bằng tài sản của bên vay vốn mà giá trị của tài sản bảo đảm đó lớn hơnhoặc bằng giá trị của khoản vay
Cho vay có đảm bảo một phần: Là các khoản cho vay của ngân hàng đượcđảm bảo bằng tài sản của bên vay vốn mà giá trị của tài sản bảo đảm đó nhỏ hơn giátrị của khoản vay
Cho vay đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Là các khoản cho vay của
Trang 14ngân hàng được đảm bảo bằng tài sản của bên vay vốn mà tài sản bảo đảm đó chưahình thành tại thời điểm vay vốn, tài sản này sẽ được hình thành từ nguồn vốn vayngân hàng và vốn tự có của khách hàng vay vốn.
Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là các khoản cho vay của ngân hàngcấp cho khách hàng thực hiện phương án sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng phục
vụ đời sống mà không được đảm bảo bằng bất cứ tài sản nào của bên vay vốn Ngânhàng cho vay dựa trên uy tín và nguồn thu của khách hàng vay vốn
(iv) Phân loại theo đối tượng vay vốn
Cho vay cá nhân, hộ gia đình: Là các khoản cho vay của ngân hàng cấp chođối tượng khách hàng là các cá nhân hoặc hộ gia đình có nhu cầu sử dụng vốn đểkinh doanh nhỏ lẻ hoặc tiêu dùng phục vụ đời sống Tùy vào mục đích sử dụng màcác khoản vay này có thời hạn cho vay khác nhau nhưng thông thường là các khoànvay có thời hạn từ lăm năm trở xuống
Cho vay doanh nghiệp lớn: Là các khoản vay mà ngân hàng cung ứng chocác công ty, các tập đoàn có quy mô lớn, có cấu trúc doanh nghiệp phức tạp, có vịthế trên thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng, việc cho vay đòi hỏiphải thẩm định kỹ lưỡng, phân tích các mặt hoạt động của doanh nghiệp và đánh giáđầy đủ yếu tố ngành và kinh tế vĩ mô
Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ: Là các khoản vay ngân hàng cung ứngcho đối tượng là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (theo quan điểm của từngquốc gia trong từng thời kỳ khác nhau) Thông thường đây là các khoản vay có giátrị nhỏ, đáp ứng cho các phương án kinh doanh rõ ràng, việc cho vay đòi hỏi phảikịp thời và thủ tục đơn giản
1.1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại:
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại:
Đã có nhiều cách tiếp cận về rủi ro dưới các góc độ khác nhau và thống nhất ởquan điểm “Rủi ro là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước”, làm cho chủthể không đạt được mục tiêu đã định Khi chủ thể là Ngân hàng, rủi ro xảy ra khôngchỉ gây tổn thất đến vốn, tài sản mà còn ảnh hưởng xấu đến tín nhiệm và thươnghiệu ngân hàng
Trang 15Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đemlại lợi nhuận chủ yếu nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn Các thống kê
và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt độngngân hàng Rủi ro tín dụng trong NHTM được hiểu một cách đơn giản là khả năngtrong tương lai người vay ngân hàng không thực hiện đúng các điều khoản tronghợp đồng tín dụng về cơ chế tín dụng, thời gian vay, lãi suất phải trả, Ngân hàngkhông thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản cho vay hoặc thu không đúng kỳ hạn.Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng nhà nướcViệt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng làkhả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng dokhách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mìnhtheo cam kết”
Theo quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránhkhỏi, là khách quan Có thể nói, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, cóthể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ Do vậy, rủi ro tín dụng dự kiến luônđược xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng
1.1.2.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng:
Để chủ động quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm củarủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích Rủi ro tín dụng những đặc điểm cơ bản sau:
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng
chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi kháchhàng gặp những tổn thất, thất bại trong quá trình sử dụng vốn Nói cách khác,những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếugây ra rủi ro tín dụng của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở
sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặctrưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu, tức là luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động
tín dụng của NHTM: tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không
Trang 16thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làmcho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng Kinh doanh ngânhàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tươngứng
1.1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng:
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầunghiên cứu Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành cácloại khác nhau
- Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành cácloại sau đây:
Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phátsinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giákhách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm: rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quátrình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ củangân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như mức chovay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,…); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quanđến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệthống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề)
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
Rủi ro danh mục
Rủi ro
lựa chọn
Rủi ro đảm bảo
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nội tại
Rủi ro tập trung
Trang 17 Rủi ro danh mục là RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chếtrong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại (xuấtphát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinhtế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một sốkhách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặccùng một loại hình cho vay có rủi ro cao).
- Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi
ro tín dụng được phân thành rủi ro khách quan, rủi ro chủ quan Ngoài ra còn nhiềuhình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phânloại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay…
1.1.2.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng:
Tín dụng ngân hàng luôn phải đối diện với rủi ro Vì vậy, nhận diện nhữngnguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp phòng ngừa hiệuquả, giảm thiệt hại Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
+ Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuậndẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quánhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó
+ Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tinkhông đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý
+ Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấphành đúng quy trình cho vay Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ nghiệp vụ; Cán
bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh
+ Định giá tài sản không chính xác; không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp
lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là: giá trị vàkhả năng phát mại
+ Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, giám sát của các ngân hàng:
- Các nguyên nhân từ phía khách hàng:
+ Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý
Trang 18+ Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả
+ Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được
+ Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo
- Các nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài:
+ Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…
+ Tình hình an ninh, trong nước, trong khu vực bất ổn
+ Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cânthanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường
+ Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan
hoặc khách quan Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay củacác NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từngngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi,đang định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam
1.1.2.5 Hậu quả khi xảy ra rủi ro tín dụng.
i) Đối với Ngân hàng:
- Giảm lợi nhuận: Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ phát sinh các khoản nợ khóthu hồi Ảnh hưởng trước mắt của nó đến hoạt động ngân hàng là sự ứ đọng vốndẫn đến làm giảm vòng quay, giảm hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng Đồngthời, rủi ro xảy ra tức là khách hàng vay không hoàn trả được nợ gốc và lãi chongân hàng đúng hạn Khi đó, ngân hàng không những không thu được lãi từ cho vay
mà còn có khả năng mất vốn Trong khi đó các chi phí huy động nguồn vốn cho vayvẫn phải chi trả Đồng thời khi có quá nhiều các khoản nợ khó hoặc không thu hồiđược sẽ lại phát sinh các khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ Các chi phí nàycòn cao hơn khoản thu nhập từ việc áp dụng lãi phạt quá hạn bởi thực tế Ngân hàngrất khó thu hồi đầy đủ phần lãi phạt phát sinh Kết quả là lợi nhuận của Ngân hàng
sẽ bị giảm sút
- Giảm khả năng thanh toán: Ngân hàng thường dự tính có kế hoạch cân đốidòng tiền ra (trả gốc, lãi tiền gửi, cho vay, đầu tư mới ) và dòng tiền vào (tiền gửi,
Trang 19thu nợ gốc, thu lãi ) tại các thời điểm trong tương lai Khi các món vay không đượcthanh toán đầy đủ và đúng hạn sẽ dẫn đến sự mất cân đối dòng tiền, khác biệt sovới dự tính của Ngân hàng Các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm của khách hàng phảithanh toán đúng kỳ hạn trong khi các khoản Ngân hàng cho vay lại không hoàn trảđúng hạn Khả năng thanh toán của Ngân hàng do đó bị giảm sút, Ngân hàng sẽphải đi vay hoặc bán các tài sản của mình để bù đắp sự thiếu hụt so với dự tính, đảmbảo khả năng thanh toán.
- Giảm uy tín: Thông tin về ngân hàng có mức độ rủi ro tín dụng cao sẽ làmgiảm uy tín của Ngân hàng trên thị trường tài chính và giảm lòng tin của nhữngngười gửi tiền
- Phá sản Ngân hàng: Rủi ro tín dụng khi xảy ra ở mức độ lớn sẽ khiến Ngânhàng không thu hồi được vốn cho vay và giảm khả năng trong hoàn trả tiền gửi vàcác nguồn vốn khác, từ đó dẫn đến khủng hoảng trong hoạt động Ngân hàng, giảmnhanh chóng khả năng thanh toán và có thể dẫn đến sự sụp đổ Ngân hàng
ii) Đối với khách hàng:
Rủi ro tín dụng xảy ra đồng nghĩa với việc khách hàng gặp khó khăn vềtài chính, không thể hoàn trả nợ vay đúng hạn cho Ngân hàng Khi đó, khách hàng
sẽ phải chịu mức lãi phạt tối đa bằng 150% lãi vay thông thường, khiến khó khăn vềtài chính càng gia tăng và áp lực trả nợ lớn Ngân hàng cũng sẽ ngừng cấp tín dụngcho khách hàng Nguồn vốn cần thiết cho hoạt động của khách hàng có thể thiếu hụt
và Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp, gắn liền với đời sống hoặc hoạt độngsản xuất kinh doanh của khách hàng Khi tình trạng này xảy đến đồng nghĩa vớiviệc doanh nghiệp có thể chấm dứt hoạt động
iii) Đối với nền kinh tế:
Rủi ro tín dụng xảy ra làm cho nguồn vốn của nền kinh tế tồn đọng trongcác khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi, làm giảm nguồn vốn cung ứng cho quá trìnhsản xuất và làm chậm tốc độ luân chuyển vốn phục vụ cho phát triển kinh tế.Nguồn vốn cho vay của Ngân hàng ứ đọng tại các dự án, phương án không hiệuquả cũng có nghĩa là vốn đầu tư cho các dự án, phương án có hiệu quả giảm sút
Trang 20Điều này tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, làm chậm thậm chítrì hoãn tăng trưởng.
Mặt khác hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều cá nhân, nhiều doanhnghiệp và nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế Vì vậy khi một Ngân hàng gặp phải rủi
ro tín dụng hay bị phá sản thì sẽ không chỉ giảm uy tín của riêng Ngân hàng mà cònảnh hưởng đến cả hệ thống Ngân hàng Người gửi tiền hoang mang lo sợ và ồ ạt kéonhau đi rút tiền trong hệ thông Ngân hàng, làm cho hệ thống Ngân hàng gặp khókhăn Hệ thống này gặp khó khăn lại tác động đến các doanh nghiệp đang hoạt động
và làm kinh tế lâm vào suy thoái (do gía cả tăng, thất nghiệp tràn lan) Rủi ro tíndụng có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính đến cả khu vực và thếgiới
Như vậy, rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau: nhẹ nhất làNgân hàng bị giảm lợi nhuận, nặng nhất là NHTM không thu được gốc lãi, nợ thấtthu với tỷ lệ cao làm NHTM bị lỗ và mất vốn Tình trạng này kéo dài sẽ làm NHTM
bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh
tế nói chung Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị Ngân hàng phải hết sức thậntrọng và thực hiện quản lý rủi ro tín dụng một cách hợp lý, ngăn ngừa và giảm thiểurủi ro trong hoạt động tín dụng
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại:
1.2.1 Khái niệm:
Đối với ngân hàng, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản Mặc dùhiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thunhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướngtăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ ½ đến 2/3thu nhập ngân hàng(Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại) Rủi ro trong kinh doanh ngânhàng cũng tập trung chủ yếu tại hạng mục cấp tín dụng Khi ngân hàng rơi vàotrạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từhoạt động tín dụng của ngân hàng Vậy nên, quản lý rủi ro tín dụng luôn là mụctiêu quan trọng của mọi ngân hàng
Trang 21Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và giảiquyết hậu quả của rủi ro tín dụng Quản lý rủi ro tín dụng bắt đầu từ khâu kiểmđịnh, đánh giá khách hàng cũng như khoản vay của khách hàng trước khi có đếnquyết định cho vay, đên giải ngân, theo dõi và các biện pháp xử lý những khoản nợ
có vẫn để nhằm giảm thiểu mức độ rủi ro có thể xảy ra
Mục tiêu của quản lý rủi ro là tối đa hóa thu nhập trên cơ sở giữ mức độ rủi rohoặc tổn thất tín dụng mà ngân hàng cho là hợp lý, được kiểm soát và trong nguồnlực tài chính của ngân hàng
1.2.2 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Nhận biết rủi ro tín dụng:
Cơ sở cho việc quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả là khả năng nhận biết nhữngrủi ro tiềm tàng và rủi ro hiện có thông qua việc phân tích khách hàng, môi trườngkinh doanh, đặc thù các sản phẩm, dịch vụ và quy trình tín dụng Sau khi khoản vayphát sinh, NHTM phải luôn theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thôngqua các dấu hiệu cảnh báo sau:
(i) Dấu hiệu nhận diện rủi ro từ phía khách hàng:
Dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:
- Không tích cực cung cấp thông tin Ngân hàng yêu cầu hoặc cung cấpthông tin không trung thực về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh
- Không thực hiện đầy đủ các điều kiện tín dụng cam kết trong quá trìnhquan hệ tín dụng
- Trì hoãn, gây khó khăn cho Ngân hàng trong quá trình kiểm tra định kỳhoặc đột xuất (kiểm tra sử dụng vốn vay, kiểm tra tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh)
- Không chủ động, thiếu thiện chí trong việc trả các khoản nợ gốc, lãi đếnhạn
- Có sự suy giảm dòng tiền từ doanh thu bán hàng qua tài khoản ngân hàng
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, cấp thiết, yêu cầu khoản vay vượt quánhu cầu dự kiến
Trang 22- Có những nguồn thu bất thường không phải từ hoạt động sản xuất kinhdoanh để trả nợ.
- Có dấu hiệu sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn
Dấu hiệu liên quan đến tình hình nội tại của khách hàng:
- Đối với khách hàng doanh nghiệp: có sự không thống nhất trong ban lãnhđạo doanh nghiệp, thay đổi nhân sự quản lý thường xuyên, nhân sự thiếu ổn định.Những người quản lý mới không nắm được đầy đủ các thông tin hiện tại doanhnghiệp mình quản lý Các chỉ tiêu tài chính có dấu hiệu thay đổi theo hướng tiêucực: hệ số thanh toán giảm, khoản phải thu, hàng tồn kho gia tăng, hệ số nợ cao, khảnăng sinh lời giảm sút
- Hay đối với khách hàng cá nhân: thay đổi vị trí công tác, thay đổi nơi làmviệc, thay đổi về tình trạng hôn nhân hay môi trường sống (ví dụ như đang ở nhàriêng chuyển sang ở nhà thuê )
- Dấu hiệu từ sự chênh lệch giữa dòng tiền thực tế và doanh thu dự tính trongphương án vay vốn của khách hàng
Những dấu hiệu này tồn tại trong bản thân khách hàng và không dễ nhậndiện nếu không có sự quản lý sâu sát, chặt chẽ, tìm hiểu thường xuyên của cán bộtín dụng
(ii) Dấu hiệu xuất phát từ phía ngân hàng:
Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nóng Có sự nới lỏng các điều kiện tíndụng để cạnh tranh với các ngân hàng khác trong việc cấp tín dụng cho khách hàng
Ngân hàng thực hiện cấp tín dụng dựa trên các cam kết trong tương laicủa khách hàng (như cam kết về tiền gửi, hay lợi ích khác từ khoản tín dụng)
Đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàngnhư đánh giá quá cao năng lực tài chính, thực hiện thẩm định trên cơ sở thông tin
“tĩnh” mà khách hàng cung cấp, bỏ qua các nghi ngờ khi phân tích dữ liệu tài chính
Tập trung cấp tín dụng vào số ít khách hàng hoặc ngành nghề
Khi phát hiện ra các dấu hiệu phát sinh rủi ro, Ngân hàng cần xác định ngaynguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của vấn đề, xem xét và phân loại nhóm nợcủa khoản vay để có các biện pháp xử lý phù hợp
Trang 231.2.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng:
Đây chính là nội dung quản lý rủi ro tín dụng được coi là quan trọng nhất củacác Ngân hàng thương mại Đo lường, xác định mức độ rủi ro tín dụng của cáckhách hàng sẽ giúp Ngân hàng có cơ chế sàng lọc tốt và lựa chọn cấp các khoản tíndụng hiệu quả, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng Mức độ rủi ro tín dụng đượcđánh giá thông qua các đa dạng các mô hình, bao gồm các mô hình phản ánh về mặtđịnh lượng và các mô hình phản ánh về mặt định tính
Mô hình định tính về rủi ro tín dụng- Mô hình 6C
Để tìm hiểu và phân tích về người đi vay, cán bộ tín dụng cần phải nghiên cứuchi tiết “6 khía cạnh – 6C”của người xin vay là Charater (tư cách), Capacity (nănglực), Cash (thu nhập), Collateral (bảo đảm), Conditions (điều kiện), Controls (kiểmsoát) Tất cả các tiêu chí này phải được đánh giá tốt thì khoản vay mới được xem làkhả thi
Tư cách người vay: Cán bộ tín dụng phải tin chắc rằng người xin vay phải cómục đích rõ ràng và có thiện chí khi đến hạn trả nợ, ngoài ra phải xem xét mục đíchxin vay có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không.Thậm chí cho dù mục đích xin vay tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xem xét xemngười vay có thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay hay không, có trả lờicác câu hỏi một cách trung thực, có thiện chí và nỗ lực hết sức để hoàn trả nợ củangười vay gọi chung là tư cách người vay
Năng lực của người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người vay có
đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng Tương tự cán
bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty ký kết hợp đồng tíndụng phải là người ủy quyền hợp pháp của công ty Một hợp đồng tín dụng được kýkết bởi người không đủ năng lực pháp lý sẽ trở thành một hợp đồng vô hiệu và ngânhàng sẽ có thể không thu hồi được vốn trong trường hợp này
Thu nhập của người vay: Nguồn thu nhập của người đi vay cần được xácđịnh và tính toán so sánh với mức độ trả nợ, từ đó đánh giá khả năng hoàn trả nợvay của khách hàng
Trang 24Bảo đảm tiền vay: Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín dụngphải tự hỏi người vay có sở hữu một giá trị nào hay tài sản có chất lượng để hỗ trợcho khoản vay Đây được coi là nguồn trả thứ 2 đối với khoản nợ.
Các điều kiện: Ngân hàng có những chính sách tín dụng, mục tiêu khác nhautrong từng thời kỳ nên có những điều kiện nhất định đối với khoản tín dụng Khoảnvay cần được xem xét việc đáp ứng các điều kiện này nhằm phù hợp với địnhhướng phát triển của NHTM
Kiểm soát: đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chếhoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này
là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dựbáo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD
Mô hình điểm số Z:
Mô hình định tính như trên được xem là mô hình cổ điển để đánh giárủi ro tín dụng Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương phápđánh giá rủi ro hiện đại hơn, đó là lượng hóa rủi ro tín dụng Trong đó, mô hìnhđiểm số Z là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiềunhất:
Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với ngườivay phụ thuộc vào:
1- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xi)
2- Tầm quan trọng của các chỉ tiêu này trong việc xác định xác suất vỡ nợ củangười vay trong quá khứ
Từ đó đi đến mô hình cho điểm sau:
Z = 1, 2 X1 + 1, 4X2 + 3, 3X3 + 0, 6 X4 + 1, 0X5
Trong đó:
X1: tỷ số vốn lưu động ròng/tổng tài sản
X2: tỷ số lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/ tổng tài sản
X3: tỷ số “ lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản”
Trang 25X4: tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
X5: tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp, như vậy trị số Zthấp hay là 1 số âm là 1 căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao Theo mô hình này, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1, 81 phải xếpvào nhóm rủi ro tín dụng cao Căn cứ vào kết luận này, ngân hàng sẽ không cấp tíndụng cho khách hàng này cho đến khi cải thiện điểm số Z lớn hơn 1, 81
Mô hình này phân biệt khách hàng thành 2 nhóm rủi ro và không rủi ro Tuynhiên, trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàngkhác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không được trả lãi cho đến mức mất hoàntoàn cả vốn và lãi của khoản vay
Mặc khác, không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánhtầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến Tương tự như vậy, bản thâncác chỉ số cũng được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi các điềukiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục Đồngthời, mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóngmột vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của các khoản vay ( danh tiếngcủa khách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng hay các yếu tố
vĩ mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế) Do đó mô hình điểm số Z vẫn có một
số hạn chế nhất định
Mô hình điểm tín dụng
Điểm tín dụng được định nghĩa như là một hệ thống đo lường xác suất thống
kê tín dụng được hoàn trả Kỹ thuật này dựa trên việc chấm diểm các câu trả lời chodanh mục các câu hỏi về tình hình tài chính và phi tài chính của khách hàng, các câuhỏi được đưa ra thích hợp cho từng đối tượng khách hàng khác nhau.Mỗi câu hỏi lànhững tiêu chí để đánh giá khách hàng, tuy nhiên nó phải phản ánh được khả năngtài chính của khách hàng hay khả năng trả nợ của khách hàng
Thông thường, đối với khách hàng cá nhân vay tiêu dùng, các yếu tố quantrọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình điểm tín dụng tiêu dùng sẽ
Trang 26bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhàthu nhập, điện thoại cố định, số loại tài khoản nhân, thời gian công tác.
Đối với doanh nghiệp, việc xây dựng một hệ thống chấm điểm tín dụng đối vớiđối tượng khách hàng khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với chấm điếm khách hàng
cá nhân vay vốn tiêu dùng Nhìn chung, mô hình tính điểm điểm đối với các doanhnghiệp được thực hiện thông qua các nhóm hạng mục liên quan đến các yếu tố sau:
- Nhóm các yếu tố liên quan đến người vay vốn:
+ Uy tín của khách hàng: được thể hiện qua lịch sử vay trả của khách hàng.Nếu trong suốt quá trình đi vay, khách hàng luôn trả đủ và đúng hạn thì sẽ tạođược lòng tin đối với ngân hàng
+ Các yếu tố thể hiện tình hình tài chính của khách hàng (tỷ lệ sinh lời, khảnăng thanh toán, hiệu quả hoạt động tài chính )
+ Cơ cấu vốn của khách hàng; thể hiện thông qua tỷ số giữa vốn huy động/vốn tự có Nếu tỷ lệ càng cao thì xác suất rủi ro càng lớn
+ Mức độ biến động của thu nhập: Với bất kỳ cơ cấu vốn nào, sự thu nhậpcũng sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của người vay Chính vì vây,thường các công ty có lịch sử thu nhập ổn định thường xuyên lâu dài sẽ hấp dẫncác nhà đầu tư hơn
+ Tài sản đảm bảo: Là một trong những điều kiện của bất kỳ một quyết địnhcho vay nào nhằm khuyến khích việc sử dụng vốn có hiệu quả đồng thời nâng caotrách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ ngân hàng
- Nhóm các yếu tố liên quan đến thị trường:
+ Chu kỳ kinh tế: Chu kỳ kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Do đó, ngân hàng cần phân tích chu kỳ kinh
tế nhằm lựa chọn quyết định đúng vào thời điểm và nên đầu tư vào ngành nào
có mức độ rủi ro thấp
+ Môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế: sự tác động của các yếu tố tự nhiênđến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các chính sách của Nhà nước đối vớilĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp (hạn chế hay khuyến khích)
Trang 27Thực tế, có nhiều hệ thống tính điểm khách hàng khác nhau nhưng kết quả đềuđược Ngân hàng phân chia, xếp loại vào các hạng rủi ro khác nhau trên tổng điểmcủa khách hàng, Ngân hàng sẽ xác định các cấp độ rủi ro khác nhau từ thấp đến cao.
Từ đó, dựa vào chính sách và mục tiêu của mình mà đưa ra quyết định cấp tín dụng
và mức cấp tín dụng
Mô hình điểm số có ưu điểm là loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quátrình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của Ngân hàng Tuynhiên mô hình này khó điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với nhữngthay đổi của nền kinh tế và sự không linh hoạt này có thể bỏ sót những khách hànglành mạnh, làm giảm lòng tin của cộng động với dịch vụ của Ngân hàng
1.2.2.3 Hạn chế rủi ro tín dụng:
(i) Đa dạng hóa danh mục cho vay
Nguyên tắc hạn chế rủi ro đối với các nhà kinh doanh là không nên cho trứngvào cùng một giỏ Đa dạng hóa danh mục cho vay sẽ giúp giảm thiểu rủi ro tíndụng Các biện pháp đa dạng hóa bao gồm:
Đa dạng hóa phương thức cho vay: cho vay hạn mức, cho vay thấu chi, chovay theo món, cho vay đồng tài trợ Có thể thực hiện mua bán các khoản cho vay
để thay đổi tình trạng mất cân đối trong danh mục cho vay của ngân hàng
Đa dạng hóa khách hàng: để phân tán rủi ro và để đạt mục tiêu lợi nhuận các tổchức tín dụng có thể mở rộng cho vay đối với các thành phần kinh tế, cho vay nhiềuđối tượng khách hàng
Đa dạng hóa kỳ hạn cho vay: các khoản cho vay ngắn hạn thường ít rủi ro hơncác khoản cho vay dài hạn Nhưng các khoản cho vay dài hạn lại mang lại lợi nhuậnlớn hơn cho ngân hàng Việc đa dạng hóa kỳ hạn cho vay giúp ngân hàng cân đốigiữa rủi ro và lợi nhuận
(ii) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát
Ngân hàng thực hiện kiểm tra trước, trong và sau khi xuất tiền vay: về hồ sơpháp lý, năng lực tài chính, mục đích vay, tài sản đảm bảo Trong quá trình kiểmtra, kiểm soát nếu khách hàng vi phạm những cam kết trong hợp đồng tín dụng hoặc
Trang 28có dấu hiệu có thể dẫn tới rủi ro thì phải xử lý kịp thời Đồng thời với công tác kiểmtra khách hàng, Ngân hàng phải thành lập bộ phận thanh tra kiểm soát nội bộ, nhằmthanh tra việc chấp hành chính sách, chế độ Nhà nước, thể lệ chế độ của ngành.Thông qua kiểm tra, kiểm soát phải xử lý nghiêm minh những cán bộ vi phạm.(iii) Thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro
Quỹ dự phòng rủi ro là nguồn bù đắp chủ yếu của những khoản tín dụng bị tổnthất Qua đó, giúp Ngân hàng tránh được các trường hợp khó khăn về tài chính cóthể dẫn đến đổ vỡ
Việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện theo quyết định493/QĐ - NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam và Quyết định
số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN Theo đó, TạiViệt Nam, theo quy định của NHNN theo nội dung Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 Theo đó, TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm:
- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả
năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tươnglai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán;
- Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại
thời hạn trả nợ
- Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
Việc phân loại nêu trên được thực hiện theo Điều 6 của Quyết định 493 Bêncạnh đó, các TCTD có thể căn cứ vào kết quả xếp hạng tín dụng theo hệ thống xếphạng tín dụng nội bộ được NHNN chấp thuận, phân loại nợ theo 5 nhóm sau (phânloại theo Điều 7 Quyết định 493):
Trang 29- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn
- Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năngtrả nợ
- Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ được đánh giá là
không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được đánhgiá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm các khoản nợ được đánh giá là khả năng
tổn thất cao
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm các khoản nợ được đánh giá là
không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Dù phân loại nợ theo phương pháp nào thì các khoản nợ xấu của NHTM(hay các tên gọi khác như nợ có vấn đề, nợ khó đòi…) là các khoản nợ thuộc cácnhóm 3,4 và 5 đều có đặc trưng sau:
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các camkết này đã đến hạn
- Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiếu hướng xấu dẫn đến cókhả năng ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi
- Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợgốc và lãi
- Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những khoản
nợ quá hạn trên 90 ngày
Đồng thời, các khoản nợ đều được trích lập dự phòng cụ thể với tỷ lệ là0%, 5%, 20%, 50% và 100% tương ứng là đối với các nhóm nợ 1, 2, 3, 4, và 5.Ngoài ra, các TCTD phải trích lập dự phòng chung đủ tỷ lệ bằng 0,75% trên tổnggiá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4
Qũy dự phòng này chính là khoản tài trợ cho rủi ro tín dụng trong trường hợpphát sinh
Trang 30(iv) Độc lập giữa chức năng bán hàng, tác nghiệp và quản trị rủi ro
Để hạn chế rủi ro xuống mức thấp nhất, cần thiết có sự độc lập giữa các chứcnăng mà một cán bộ tín dụng ngân hàng hiện nay thường thực hiện, đó là: chứcnăng bán hàng ( tiếp xúc khách hàng, đàm phán, tiếp thị ), chức năng quản trị rủi
ro ( phân tích, thẩm định, dự báo, đo lường, đánh giá lại theo định kỳ ) và chức năng tác nghiệp ( xử lý hồ sơ, theo dõi, giám sát khoản vay, thu nợ, thu lãi )
(v) Bảo hiểm tín dụng
Các công ty bảo hiểm cũng là một trong những giải pháp mà các nhà kinhdoanh ngân hàng nghĩ tới trong việc hạn chế rủi ro đối với những khoản tín dụng đãcấp Họ có thể hạn chế rủi ro bằng cách chuyển bớt một phần rủi ro tiềm ẩn bằngcách:
- Bán rủi ro: tức là chuyển rủi ro sang cho các chủ thể có khả năng chịu rủi ro
lớn hơn, đó thường là các ngân hàng lớn hơn hoặc các tổ chức trung gian tài chính
có tiềm lực lớn hơn để hưởng phí hoa hồng
- Đồng tài trợ: đây là hình thức nhiều Ngân hàng cùng cấp tín dụng cho một
khách hàng với một số vốn vay quá lớn, chứa đựng nhiều rủi ro
- Mua bảo hiểm tín dụng:
+ Bảo hiểm tín dụng gián tiếp: Ngân hàng yêu cầu khách hàng phải trực tiếp
bỏ tiền ra để mua bảo hiểm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ hoặc cho đờisống của họ (đối với khách hàng cá nhân) Khi đó khách hàng đã gián tiếp bảo hiểmcho vốn vay của Ngân hàng Khi khách hàng gặp khó khăn công ty bảo hiểm cótrách nhiệm giúp đỡ khách hàng thanh toán nợ cho Ngân hàng
+ Bảo hiểm tín dụng trực tiếp: khi cấp tín dụng Ngân hàng phải trực tiếp bỏ
một khoản tiền để mua bảo hiểm và khoản tiền này sẽ được tính vào chi phí vốn vayđược khách hàng chia sẻ
(vi) Bảo đảm tín dụng Ngân hàng
Bảo đảm tín dụng hay còn gọi là bảo đảm tiền vay là việc bảo đảm quyền lợicủa người cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đivay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Trang 31Việc ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng nhằm hai mục đích: Thứ nhất, nếungười vay không trả nợ theo quy định thì Ngân hàng có quyền bán tài sản cầm cốhay thế chấp để thu hồi nợ; Thứ hai, nhận bảo đảm tín dụng tạo cho Ngân hàng lợithế Khi đó buộc người vay phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợvay.
- Quản lý giám sát khoản vay: kiểm tra chi tiết và sát sao tình hình sử dụngvốn cũng như tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính của khách hàng, thu thập báocáo tài chính và các thông tin liên quan của khách hàng nhằm xem xét khả nănggiảm thiểu hay gia tăng mức độ rủi ro
- Rà soát và xem xét lại tài sản bảo đảm của khách hàng: đánh giá lại giá trị vàkhả năng phát mại thực tế của tài sản, xem xét cả trong điều kiện kinh doanh bìnhthường và cả trong điều kiện kinh doanh không tốt
- Hoàn thiện hồ sơ pháp lý: Rà soát lại toàn bộ hồ sơ pháp lý của khoản vay vàyêu cầu khách hàng bổ sung đầy đủ nếu thiếu hoặc thất lạc
Trang 32- Các biện pháp khuyến khích trả nợ: miễn giảm một phần lãi suất, không ápdụng lãi phạt trong trường hợp khách hàng có thiện chí và khả năng trả nợ gốc.
- Xác định phương án cơ cấu nợ: biện pháp này được áp dụng khi người vaychỉ gặp khó khăn tài chính tạm thời và có hướng khắc phục, trả nợ sau cơ cấu khảthi Cơ cấu nợ có thể thực hiện theo hướng điều chỉnh nợ, giãn nợ, gia hạn nợ hoặctất cả các nội dung trên Trong tất cả các trường hợp cơ cấu nợ, người vay phải có
hồ sơ đề nghị trong đó nêu rõ thời hạn cơ cấu, kế hoạch, biện pháp trả nợ, kế hoạchthu nhập và dòng tiền trả nợ, báo cáo chi tiết về tài sản nợ và tài sản có, các tài sảnbảo đảm bổ sung Ngân hàng chỉ thực hiện cơ cấu nợ sau khi thẩm định tính khả thicủa phương án cơ cấu Các khoản nợ được cơ cấu này vẫn phải lưu trong danh mục
nợ xấu cho đến khi các khoản vay được trả theo lịch điều chỉnh
- Thu hồi nợ: sau khi rà soát, thẩm định và nhận thấy khách hàng không thểkhắc phục tình trạng hiện tại để trả nợ thì ngân hàng tận dụng tối đa các cơ hội đểthu hồi nợ và chú ý tới mục tiêu:
+ Tận thu vốn nhưng giữ thời gian thu hồi ngắn nhất
+ Giảm chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi nợ
+ Giảm thiểu sự phản ứng của khách hàng
Biện pháp xử lý: Khi rủi ro tín dụng xảy ra khiến ngân hàng không thể thuhồi khoản nợ từ phía khách hàng thì có thể áp dụng một số biện pháp sau:
- Phát mại tài sản: Thỏa thuận với khách hàng chủ động, tự nguyện phát mạitài sản
- Trả nợ thay: yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện trả nợ thay cho khách hàng
- Khởi kiện: tiến hành khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên buộc khách hàng thựchiện nghĩa vụ trả nợ và phát mại tài sản theo sự phán quyết của cơ quan pháp luật
- Bán nợ: chuyển giao quyền thu hồi nợ đối với khoản vay của khách hàng chobên mua nợ để bên mua nợ trở thành chủ nợ mới của khách hàng
- Xử lý bằng quỹ dự phòng:
+ Về nguyên tắc, biện pháp này chỉ được áp dụng đối với nợ xấu, sau khi ngânhàng đã áp dụng tất cả các biện pháp khắc phục và xử lý mà vẫn không thu hồi được
Trang 33nợ, hoặc các khoản nợ đã phát mại hết tài sản nhưng không đủ trả nợ, hoặc cá khoảnvay, hoặc khoản vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan không thể khắc phụcđược
+ Việc sử dụng quỹ dự phòng để bù đắp những khoản rủi ro tín dụng xảy ra lànhằm phân tách và lành mạnh hóa tài chính của ngân hàng chứ không có nghĩa làxóa hoàn toàn nợ vay cho khách hàng Những khoản vay được xử lý bằng quỹ dựphòng rủi ro sẽ được chuyển ra ngoại bản để theo dõi tận thu và ngân hàng vẫn tiếptục sử dụng các biện pháp khắc phục và xử lý để thu hồi nợ
1.2.2.5 Mô hình quản lý rủi ro tín dụng:
Để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng, các môhình quản lý rủi ro tín dụng của NHTM đều áp dụng các nguyên tắc theo Basel II.Theo đó, mô hình quản lý rủi ro tín dụng có nội dung và tuân thủ các nguyên tắc cơbản sau:
Thiết lập môi trường tín dụng thích hợp (gồm 3 nguyên tắc):
Trong đó, Hội đồng quản trị NHTM phải thực hiện phê duyệt định kỳ chínhsách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một chiến lược xuyên suốttrong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…) Trên cơ
sở này, Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm thực thi các định hướng này và pháttriển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấutrong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư Cácngân hàng xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạtđộng của mình, đặc biệt là các sản phẩm mới phải có sự phê duyệt của Hội đồngquản trị hoặc Ủy ban của Hội đồng quản trị
Hoạt động theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý (gồm 4 nguyên tắc)
Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thịtrường mục tiêu, đối tượng khách hàng, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng…).Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn
và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhaunhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối
Trang 34với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Ngân hàng phải
có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự thamgia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phận tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tíndụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời cần pháttriển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, có kiến thức nhằmđưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tíndụng Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằnggiữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoảntín dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ
Duy trì một quy trình quản lý, đánh giá và kiểm soát tín dụng có hiệu quả(gồm 10 nguyên tắc):
Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thịtrường mục tiêu, đối tượng khách hàng, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng…).Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn
và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhaunhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đốivới khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Ngân hàng phải
có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự thamgia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phận tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tíndụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời cần pháttriển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, có kiến thức nhằmđưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tíndụng Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằnggiữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoảntín dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ
Trách nhiệm đối với các khoản tín dụng này có thể được giao cho bộ phận tiếpthị hay bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy theo quy mô và bảnchất của mỗi khoản tín dụng Ủy ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng pháttriển và xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng,
Trang 35giúp phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng trong các tài sản có tiềm năng rủi ro củangân hàng
Như vậy, mô hình quản lý rủi ro tín dụng điển hình nguyên tắc Basel có mộtđiểm cơ bản:
- Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phântích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các
bộ phận tham gia
- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý rủi ro tín dụng
- Xây dựng một hệ thống quản lý và cập nhật thông tin hiệu quả để duy trì mộtquá trình đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định và quản
lý rủi ro tín dụng
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá quản lý rủi ro tín dụng:
Để đánh giá hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tốt hay xấu, có thể dựa vào một
số chỉ tiêu như sau:
Tổng dư nợ là tổng các khoản nợ cho vay, bao gồm bằng VNĐ và ngoại tệquy đổi, nhưng không bao gồm dư nợ các khoản cho vay ủy thác, nợ khoanh, nợchờ xử lý
Có thể nói đây là một chỉ tiêu rộng rãi nhất để đánh giá kết quả quản lý rủi rotín dụng của NHTM Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng của NHTMcàng lớn, việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng chưa được tốt
Thứ hai: Tăng/giảm tỷ lệ nợ quá hạn:
Trang 36Dư nợ quá hạn cuối kỳ
H2 = x 100% -
Tổng dư nợ cuối kỳ
Dư nợ quá hạn đầu kỳ
x 100% Tổng dư nợ đầu kỳ
Chỉ tiêu này cho biết sự thay đổi tỷ lệ nợ quá hạn trong kỳ đánh giá củaNHTM, thể hiện sự hiệu quả của các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng áp dụngtrong kỳ Chỉ tiêu này <0 và càng nhỏ sẽ cho thấy quản lý rủi ro tín dụng trong kỳ
đã mang lại hiệu quả tốt
Chỉ tiêu này được tính điểm cao nhất trong trường hợp cả đầu kỳ và cuối kỳngân hàng không có dư nợ xấu Chỉ tiêu này nhỏ hơn 0 và càng thấp thì chất lượngquản lý rủi ro tín dụng trong kỳ được đánh giá càng cao
Thứ 5: Mức độ tự bù đắp rủi ro trong kỳ (H5):
Dư quỹ dự phòng rủi ro cuối kỳ
H3 = x 100%
Dự phòng rủi ro phải trích cuối kỳ
Chỉ tiêu này cho biết khả năng phòng chống rủi ro tín dụng của NHTM, chothấy trường hợp phát sinh rủi ro, Ngân hàng có đủ năng lực tài chính để bù đắpphần vốn tổn thất do rủi ro tín dụng Trong trường hợp các Ngân hàng không có đủlợi nhuận để trích lập dự phòng rủi ro thì khi phát sinh rủi ro, Ngân hàng sẽ gặp tổn
Trang 37thất rất lớn.
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng
1.3.1 Nhân tố chủ quan:
- Chính sách tín dụng của NHTM: Chính sách tín dụng chính là kim chỉ nan cho
hoạt động tín dụng của NHTM, đặt ra các tiêu chuẩn pháp lý và đảm bảo an toàn đốivới các khoản cấp tín dụng Chính sách tín dụng cung cấp cho cán bộ tín dụng và nhàquản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng danhmục đầu tư tín dụng của ngân hàng Thông qua chính sách tín dụng ngân hàng có thểđạt được một danh mục tín dụng đa mục đích, làm tăng khả năng sinh lời, kiểm soátđược tiềm ẩn rủi ro và đáp ứng được các đòi hỏi từ các nhà quản lý Đây là một nhân tốquyết định đến định hướng và chất lượng của quản lý rủi ro tín dụng
- Quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại: Quy trình tín dụng là cơ sở
tác nghiệp của các bộ phận, các cán bộ trong quá trình cấp và quản lý tín dụng đốivới khách hàng, bao gồm quy trình xét duyệt cho vay, quy trình phát tiền vay, quytrình kiểm tra sử dụng vốn vay và quy trình thu hồi nợ vay Một quy trình tín dụngtốt sẽ đảm bảo vừa xử lý nhanh chóng, kịp thời nhu cầu tín dụng của khách hàng,vừa đảm bảo khả năng quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
- Hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng: Hệ thống xếp hạng tín dụng
khách hàng là máy đo sức khỏe thường xuyên của khách hàng, thông qua hệ thốngnày ngân hàng thương mại thường xuyên kiểm tra, phát hiện và đánh giá được rủi rotín dụng phát sinh từ phía khách hàng, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp, do vậy
hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng có vai trò hết sức quan trọng trong quản lýrủi ro tín dụng
- Chất lượng cán bộ tín dụng: Cho dù có chính sách tín dụng tốt, quy trình
tín dụng rõ ràng và hệ thống xếp hạng tín dụng hiệu quả mà con người sử dụngnhững nhân tố đó không tốt thì không thể mang lại hiệu quả trong quản lý rủi ro tíndụng Có thể nói rằng đây là nhân tố có yếu tôs quyết định đến quá trình quản lý rủi
ro tín dụng
- Hệ thống thông tin tín dụng: Để có thể đưa ra quyết định cấp tín dụng
Trang 38chuẩn xác cũng như quản lý rủi ro thì thông tin tín dụng là hết sức cần thiết Chấtlượng và độ tin cậy của thông tin tín dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc đolường và đánh giá rủi ro tín dụng Ngân hàng chỉ có thể thực hiện quản lý rủi ro tíndụng khi xây dựng được cho mình một hệ thống thông tin thường xuyên và có độtin cậy cao.
- Kiểm tra kiểm soát nội bộ: Do đặc thù của hoạt động tín dụng có mức độ
rủi ro cao và chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của các quy định pháp luật nên công táckiểm tra kiểm soát nội bộ có vai trò đặc biệt quan trọng Nếu ngân hàng tổ chức tốthoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ sẽ sớm phát hiện được những sai sót và rủi rocủa khoản cấp tín dụng, từ đó đưa ra các giải pháp để xử lý Mặt khác, công táckiểm tra kiểm soát nội bộ cũng góp phần ngăn ngừa các rủi ro đạo đức của cán bộ
tín dụng
1.3.2 Nhân tố khách quan:
- Môi trường kinh tế xã hội: Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính
sách kinh tế của mỗi quốc gia luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanhcủa các doanh nghiệp và cá nhân trên thị trường Tính ổn định về kinh tế mà trướchết và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát
là những điều mà các nhà kinh doanh rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trựctiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện,môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thuđược lợi nhuận cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh củangân hàng Trong trường hợp ngược lại, sự bất ổn sẽ khiến các phương án, dự áncủa khách hàng nằm chệch khỏi dự tính ban đầu, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ,gây tổn thất cho ngân hàng
- Môi trường chính trị: Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò
quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng.Tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi chocác doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả Nếu xẩy ra các diễn biến gâybất ổn chính trị như: chiến tranh, xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình,
Trang 39bãi công,…sẽ làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ, Và như vậy,những món tiền doanh nghiệp vay ngân hàng sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúnghạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng.
- Môi trường pháp lý: Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thươngmại nói riêng là hệ thống pháp luật Với một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh,thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật, văn bản dưới luật, đồng thời với nó là
sự sách nhiễu của các cơ quan hành chính có liên quan sẽ khiến cho doanh nghiệpgặp phải những khó khăn, thiếu đi tính linh hoạt cần thiết, vốn đưa vào kinh doanh
dễ bị rủi ro Văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn không rõ ràng có thể làm cho
cả doanh nghiệp và cơ quan nhà nước hiểu không chính xác, dẫn đến đẩy doanhnghiệp vào tình thế vi phạm pháp luật Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp – bên vay trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, gâyđến những rủi ro lớn cho ngân hàng Mặt khác, môi trường pháp lý không đồng bộkhiến các NHTM có thể gặp khó khăn trong các thủ tục phát mại tài sản, thực hiệncác biện pháp thu hôi nợ
- Môi trường tự nhiên: Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hoả
hoạn, động đất, dịch bệnh,… có thể gây ra những thiệt hại không lường trước đượccho cả người vay và ngân hàng Những rủi ro do yếu tố này gây lên thường rất lớnnhưng lại khó dự đoán
- Môi trường cạnh tranh của các ngân hàng: Một môi trường kinh doanh có
quá nhiều ngân hàng cạnh tranh để cung ứng tín dụng thì sẽ xuất hiện sự cạnh tranhkhông lành mạnh dẫn tới sự nối lỏng các điều kiện cấp tín dụng của một số ngânhàng, làm gia tăng mức độ rủi ro tín dụng và gây khó khăn cho quản lý rủi ro tíndụng Tuy nhiên ở một khía cạnh khác, khi môi trường cạnh tranh lành mạnh lạithúc đẩy ngân hàng đổi mới, tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện hệ thống quản lýhiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh
- Uy tín và đạo đức của khách hàng vay vốn: Uy tín và đạo đức của khách
Trang 40hàng vay vốn là nhân tố không thể lượng hóa nhưng có ý nghĩa quan trọng trong đolường rủi ro của khách hàng Thực tế kinh doanh đã cho thấy, tính chân thật và khảnăng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện Kháchhàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sởhữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinhdoanh, phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến nhữngrủi ro cho ngân hàng Và trường hợp người vay không thiện chí thì các biện pháp xử
lý nợ xấu của ngân hàng sẽ kém hiệu quả Đạo đức và uy tín của người vay cầnđược kiểm nghiệm qua những hoạt động trong quá khứ với thời gian càng dài càngchính xác Do đó, ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quátrình phát triển của khách hàng đồng thời xem xét cả mối quan hệ giữa khách hàng
và các bạn hàng khác
- Tình hình hoạt động kinh doanh của Bên vay: Đây là yếu tố trực tiếp nhất
ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Nếu hoạt động kinh doanh của khách hàng có hiệuquả, họ sẽ hoàn thành nghĩa vụ tài chính với ngân hàng Nhưng ngược lại, nếukhách hàng gặp khó khăn trong kinh doanh, sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả dẫnđến có thể không thực hiện đúng các cam kết với ngân hàng Trong đó, tiền đề tạo
ra khả năng kinh doanh của khách hàng chính là năng lực tổ chứng, kinh nghiệmquản lý kinh doanh của khách hàng Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế
về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ,
sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát vốn, làm phát sinh rủi ro
- Tài sản bảo đảm: đây nguồn trả nợ thu hồi nợ cuối cùng khi phát sinh rủi ro
tín dụng Tuy nhiên, các yếu tố về tài sản bảo đảm như giá trị và khả năng phát mại
có thể thay đổi so với thời điểm NHTM xét duyệt cấp tín dụng, ảnh hưởng đến khảnăng thu hồi nợ trong việc xử lý rủi ro tín dụng