Lời mở đầu Nghề kinh doanh ngân hàng cũng giống như bất kì một hoạt động kinh doanh nào khác nó cũng luôn ẩn chứa những rủi ro. Hoạt động ngân hàng có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, nên rủi ro có tính đa dạng, mức độ cao và sự lan truyền rộng khắp khi rủi ro xảy ra. Điều này có nguồn gốc từ đặc điểm đối tượng kinh doanh, nguồn vốn kinh doanh, về sử dụng vốn và các đặc trưng trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng. Vì vậy các ngân hàng thương mại cần có các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro hữu hiệu để giảm tới mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra. Hạn chế rủi ro cùng đồng thời là hạn chế cơ hội sinh lãi, vì vậy ngân hàng cần thiết phải chấp nhận rủi ro nhưng phải kiểm soát được. Ngân hàng có thể quản lí rủi ro một cách tích cực như hạn chế rủi ro bằng cách giảm thiểu các hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro, hay cải thiện việc đa dạng hoá rủi ro (đa dạng hoá rủi ro có nghĩa là đa dạng các hoạt động kinh doanh, lỗ và lãi sẽ bù trừ nhau). Ngân hàng có thể quản lí rủi ro một cách thụ động như tăng khả năng chịu đựng rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro, hay lập dự trữ vốn tự có và vốn khả dụng (vốn tự có được coi như là cái đệm để bù đắp rủi ro khi ngân hàng thua lỗ là điều kiện để ngân hàng tồn tại và tiếp tục phát triển). Rủi ro tín dụng của các ngân hàng cần phải được tập trung, theo dõi và quản lý sát sao, nhất là đối với đối tượng khách hàng mà ngân hàng tập trung hướng đến, ở ngân hàng Thương Mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam nói chung và chi nhánh Techcombank Hai Bà Trưng nói riêng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, trong quá trình thực tập tại chi nhánh Techcombank Hai Bà Trưng, em đã quyết định chọn đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng” cho chuyên đề thực tập của em tại ngân hàng. Nội dung chính của chuyên đề thực tập được chia thành 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về ngân hàng thương mại và rủi ro cho vay đối với các doanh nghiệp Vừa và nhỏ. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý rủi ro cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Kỹ thương Việt Nam – chi nhánh Hai Bà Trưng. Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Kỹ thương Việt Nam – chi nhánh Hai Bà Trưng.
Trang 1Lời mở đầu
Nghề kinh doanh ngân hàng cũng giống như bất kì một hoạt động kinhdoanh nào khác nó cũng luôn ẩn chứa những rủi ro Hoạt động ngân hàng có đốitượng kinh doanh là tiền tệ, nên rủi ro có tính đa dạng, mức độ cao và sự lantruyền rộng khắp khi rủi ro xảy ra Điều này có nguồn gốc từ đặc điểm đối tượngkinh doanh, nguồn vốn kinh doanh, về sử dụng vốn và các đặc trưng trong lĩnhvực kinh doanh ngân hàng Vì vậy các ngân hàng thương mại cần có các biệnpháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro hữu hiệu để giảm tới mức thấp nhất rủi ro cóthể xảy ra Hạn chế rủi ro cùng đồng thời là hạn chế cơ hội sinh lãi, vì vậy ngânhàng cần thiết phải chấp nhận rủi ro nhưng phải kiểm soát được
Ngân hàng có thể quản lí rủi ro một cách tích cực như hạn chế rủi ro bằngcách giảm thiểu các hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro, hay cải thiện việc đadạng hoá rủi ro (đa dạng hoá rủi ro có nghĩa là đa dạng các hoạt động kinhdoanh, lỗ và lãi sẽ bù trừ nhau)
Ngân hàng có thể quản lí rủi ro một cách thụ động như tăng khả năng chịuđựng rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro, hay lập dự trữ vốn tự có và vốnkhả dụng (vốn tự có được coi như là cái đệm để bù đắp rủi ro khi ngân hàng thua
lỗ là điều kiện để ngân hàng tồn tại và tiếp tục phát triển)
Rủi ro tín dụng của các ngân hàng cần phải được tập trung, theo dõi và quản
lý sát sao, nhất là đối với đối tượng khách hàng mà ngân hàng tập trung hướngđến, ở ngân hàng Thương Mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam nói chung và chinhánh Techcombank Hai Bà Trưng nói riêng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, trong quá trình thựctập tại chi nhánh Techcombank Hai Bà Trưng, em đã quyết định chọn đề tài
“Quản lý rủi ro tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Kỹthương Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng” cho chuyên đề thực tập của em tạingân hàng Nội dung chính của chuyên đề thực tập được chia thành 3 chương:
Trang 2Chương 1: Lý luận chung về ngân hàng thương mại và rủi ro cho vay đối với
các doanh nghiệp Vừa và nhỏ
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý rủi ro cho vay đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại ngân hàng Kỹ thương Việt Nam – chi nhánh Hai Bà Trưng
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Kỹ thương Việt Nam – chi nhánhHai Bà Trưng
Trang 3Techcombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Trang 4Chương 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI
RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.1 Định nghĩa ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhấtcủa nền kinh tế Ngân hàng có nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nềnkinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thươngmại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượngcác ngân hàng
Ngày nay hệ thống ngân hàng thương mại là bộ phận không thể tách rời,tồn tại tất yếu trong đời sống kinh tế xã hội Trình độ phát triển của một hệthống ngân hàng của một quốc gia phản ánh trình độ phát triển kinh tế củanước đó Các thông tin liên quan đến hoạt động ngân hàng là mối quan tâmhàng đầu của chính phủ, của các doanh nghiệp, của tầng lớp dân cư
Không phải ngẫu nhiên mà ngân hàng lại ở vào vị trí trụ cột quyết định sựtồn vong của nền kinh tế đất nước như vậy Chính bề dày lịch sử thai nghén, rađời, tồn tại và phát triển chất đặc thù là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ đãđương nhiên đặt ngân hàng vào vị trí huyết mạch đó
Hoạt động của NHTM đa dạng, phức tạp và luôn thay đổi để bắt kịp sự đổithay đến chóng mặt của nền kinh tế Mỗi một nền kinh tế có một đặc thù riêng,
và tập quán, luật pháp ở mỗi quốc gia một khác nên đã nảy sinh nhiều quanniệm, nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng Luật Tổ chức tín dụng Việt
Nam ghi rõ: “Ngân hàng là một loại hình Tổ chức tín dụng được phép thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.
Trong khái niệm này, hoạt động ngân hàng được giải thích tại Luật Ngân hàng
nhà nước “ là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Nhưng dù có được xem xét định nghĩa như thế nào thì tựu trung lại có thểnói Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện 3
Trang 5nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toáncho khách hàng.
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức nhận tiền gửi đóng vài trò là trunggian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồicung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vaytrực tiếp Các ngân hàng thương mại huy động vốn chủ yếu dưới dạng: tiềngửi thanh toán tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá.Vốn huy động được dùng để cho vay: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng,cho vay bất động sản và để mua chứng khoán chính phủ, trái phiếu của chínhquyền địa phương Ngân hàng thương mại dù ở quốc gia nào cùng là nhómtrung gian tài chính lớn nhất và là nhóm tổ chức tài chính mà các chủ thể kinh
tế giao dịch thường xuyên nhất không chỉ vậy, ngân hàng còn có những chứcnăng riêng nó mà không một tổ chức tín dụng nào được phép có
Chức năng tạo tiền
Dù các ngân hàng không thể tạo tiền kim loại nhưng bản thân các ngânhàng thương mại trong quá trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khảnăng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanhtoán của khách hàng tại ngân hàng thương mại hay các khoản nhận nợ Đâychính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác củaNgân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thôngqua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được
để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa,thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của kháchhàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để muahàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống ngân hàngthương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đápứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũngtạo ra phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngânhàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay
Trang 6Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng vàlưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay
ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượngtiền cung ứng Các nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàngtạo ra chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dựtrữ vượt mức, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửikhông phải tiền gửi thanh toán …
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu làchuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổchức trong nền kinh tế: các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu với
cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, nói cách khác, ngân hàng thươngmại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay,vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệchgiữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả cácbên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗidưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa ngân hàng cònđảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanhtoán tiện lợi
Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiệnlợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sứclực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ Đặc biệt làđối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩytăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sảnxuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất
Chức năng trung gian tài chính được xem là chức năng quan trọng nhấtcủa ngân hàng thương mại
Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết cácquốc gia Thay mặt khách hàng , ngân hàng thương mại, thực hiện các thanh
Trang 7toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ đểthanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của kháchhàng tiền thu bán hàng và các khác thu khác theo lệnh của họ.
Việc ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán
có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, các ngânhàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiệnlợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tíndụng,…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấptiền giấy khi khách hàng cần Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn chomình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế khôngphải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanhtoán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thựchiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rấtnhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này môhình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tố
độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Nhiều hình thức thanhtoán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉgiữa các ngân hàng trong cùng một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trêntoàn thế giới Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng
đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưuthông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản, Ngân hàng thương mạithu phí thanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vạy của ngânhàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng
1.1.3 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Đây là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất , ảnh hưởng tới chất lượng hoạtđộng của ngân hàng Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khácnhau như huy động dưới hình thức tiền gửi , đi vay , phát hành giấy tờ có giá Mặtkhác trên cơ sở nguồn vốn huy động được , ngân hàng tiến hành cho vay phục vụcho nhu cầu phát triển sản xuất , cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương
và cả nước Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tíncủa ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinhdoanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư,
Trang 8mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứvào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương Từ đóđưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạnnhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hoạt động huy động vốn hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn trong ngânhàng, làm tăng giá trị nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, cơbản gồm các hình thức sau:
- Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán)
- Tiền gửi có kỳ hạn của doanh ngiệp, các tổ chức xã hội
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
- Tiền gửi của các ngân hàng khác
Hoạt động cho vay
Cho vay được coi là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM vì phần lớnlợi nhuận của ngân hàng chủ yếu là thu từ hoạt động này Theo thống kê, nhìnchung thì khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay.Thành công hay thất bại của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện
kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của
Trang 9ngân hàng Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích,hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả
- Cho vay thương mại: Ngay ở thời kỳ đầu, ngân hàng đã chiết khấu thươngphiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán, sau đó là bước chuyển tiếp từchiết khấu thương phiếu san cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ cóvốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh
- Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn hầu hết ngân hàng không tích cực cho vayđối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro
vỡ nợ tương đối cao Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranhtrong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như mộtkhách hàng tiềm năng
- Tài trợ dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngânhàng ngày nay trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặcviệt là trong các ngành công nghệ cao Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nóichung là cao song lợi nhận lớn
Hoạt động đầu tư
Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhucầu khác nhau Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏiNgân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấpđầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế Ngoài hình thức phổ biến là cho vay,ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàngthương mại có thể tiến hành là:
- Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào cácdoanh nghiệp, các công ty khác
- Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngânhàng
Hoạt động quản lý ngân quỹ.
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp vànhiều cá nhân Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều kháchhàng Do đó kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân,nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đóngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiến hànhđầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụngngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
Trang 101.2. Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp Vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
1.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ
bé bề mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chiathành ba loại căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanhnghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thếgiới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còndoanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước, người ta có tiêu chíriêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình Ở Việt Nam, theoNghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định sốlượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanhnghiệp siêu nhỏ, từ 20 đến 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ
và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa
Bên cạnh những đặc điểm của Doanh nghiệp nói chung như hoạt độngsản xuất kinh doanh hay dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệpvừa và nhỏ cũng có những đặc điểm riêng
(1) Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năngđộng, nhạy bén với thay đổi của thị trường
Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằngkhông lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đó có thể bắtđầu hoạt động Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sửdụng vốn tự cú, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng Bộ máy
tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồngthời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó,doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu củathị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát
Trang 11huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọnthay đổi mặt hàng Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống độngtrong phát triển kinh tế.
(2) Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có
mức độ rủi ro cao
Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tưnhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng sẵn sàng mạo hiểm.Nếu thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như cácdoanh nghiệp lớn, có khả năng làm lại từ đầu được Bên cạnh
đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các lĩnhvực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnhtranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyềnhàng loạt, họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinhdoanh mạo hiểm
(3) Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ,hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vàocác tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trangthiết bị khi điều kiện cho phép Bên cạnh đó doanh nghiệp tậndụng được lao động dồi dào để thay thế vốn Với chiến lượcphát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực củamình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được hiệu quảkinh tế- xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá
có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cảkhi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiềuhạn chế
(4) Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê laođộng với người lao động
Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không lớn Sốlượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phâncông lao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt Mối quan
hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó
Trang 12Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn cũng sẽ không khó khăntrong việc dàn xếp.
Tuy nhiên, bên cạnh một số ưu điểm trên, các doanh nghiệpvừa và nhỏ tại Việt Nam hiện nay còn khá nhiều hạn chế Cóthể thấy hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hainguồn Các hạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, vàcác hạn chế đến từ chính các lợi thế của doanh nghiệp vừa vànhỏ
(1) Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của doanh nghiệpvừa và nhỏ nằm trong chính đặc điểm của nó, đó là quy mônhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tìnhtrạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường,hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị
(2) Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phụ thuộcvào doanh nghiệp mà nó cung cấp sản phẩm
(3) Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân vàchủ doanh nghiệp, thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không
có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư chonghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ năng lựcsản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng caođược năng suất và hiệu quả kinh doanh
(4) Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tưcông nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ
đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm
và tính cạnh tranh trên thị trường cũng như gặp khó khăntrong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường
(5) Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường,các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tỏ ra bị động trong cácquan hệ thị trường
(6) Do tính chất vừa và nhỏ của nó, doanh nghiệpvừa và nhỏ gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ
Trang 13hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanhnghiệp đó đang hoạt động.
1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam đã vàđang có những bước tiến khá vững trong nền kinh tế Tuy cònnhiều hạn chế xong không thể phủ nhận được vai trò to lớncủa nó đối với nền kinh tế thị trường đang trên đà đổi mới củaViệt Nam
Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng, số lượng và chủng loại
Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp
Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương
Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn
trưởng kinh tế
1.2.2 Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàngtrong việc cấp tín dụng Trong đó, các giai đoạn cụ thể được xây dựng theomột trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đến khichấm dứt quan hệ tín dụng Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạnmang tính chất liên hoàn theo một trật tự nhất định đồng thời có quan hệ chặtchẽ gắn bó với nhau
Quy trình này có thể cụ thể hóa theo sơ đồ sau:
Trang 141.2.3 Phương thức cho vay
Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ có rất nhiều phương thức khác nhau
a Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn thường xuyên haynhu cầu vốn do đặc điểm sản xuất kinh doanh theo thời vụ của doanh nghiệp.Phần lớn các khoản cho vay này có thể thế chấp hoặc cầm cố tài sản Cho vayngắn hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm một số phương thức chovay như sau:
Tiếp xúc khách hàng, hướng dẫn lập và tiếp nhận hồ sơ vay vốn
Thẩm định khách hàng và phương án
Tất toán hợp đồng tín dụng và lưu trữ hồ sơ
Thẩm định TSĐB
Trang 15- Cho vay từng lần : Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngânhàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điềukiện để cấp hạn mức thấu chi Cho vay từng lần thường áp dụng cho các khoảnvay dài hạn hoặc cho vay các dự án Ưu điểm của phương thức cho vay từnglần là ngân hàng chủ động sử dụng vốn, thu lãi cao do các món vay được táchbiệt thành các hồ sơ khác nhau.
-Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay theo đó ngânhàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng làmức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng
và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Căn cứ để cấp hạn mứctín dụng là kế hoạch tài chính của doanh nghiệp, trong đó dự báo chi tiết về tàisản và vốn của doanh nghiệp Đây là phương thức cho vay thuận tiện chokhách hàng vay mượn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm Phươngthức cho vay này có ưu điểm là thủ tục đơn giản, khách hàng chủ động đượcnguồn vốn vay, tuy nhiên về phía ngân hàng dễ bị đọng vốn, đồng thời do cáclần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểmsoát hiệu quả sử dụng từng lần vay
- Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay dựa trên luân chuyểncủa hàng hóa Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vayvốn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm Cho vay luân chuyển rấtthuận tiện cho khách hàng Thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiềulần vay Tuy nhiên nếu khách hàng gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa thìngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vaykhông được quy định rõ ràng
- Cho vay thấu chi: Thấu chi là phương thức cho vay trong đó ngânhàng cho phép khách hàng được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán củamình đến một giới hạn nhất định và trong khoản thời gian xác định
b Cho vay trung và dài hạn
Trang 16Là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho tài sản cố
định và tài sản lưu động thường xuyên hay nhu cầu tài trợ cho các dự án riêngbiệt Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm trangthiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ…Về nguyên tắc, doanhnghiệp có thể sử dụng vốn dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn đểtài trợ cho những loại tài sản này Nhưng do vốn chủ sở hữu có giới hạn nênthường doanh nghiệp phải sử dụng đến nguồn vốn vay dài hạn Doanh nghiệp
có thể vay dài hạn thông qua ngan hàng hoặc phát hành trái phiếu huy độngvốn trên thị trường
Nhu cầu theo = Nhu cầu đầu tư vào + Nhu cầu đầu tư vào
DA TSCĐ TSLĐ
Số tiền có thể cho vay = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia tài trợ
Cho vay trung và dài hạn có thể bao gồm nhiều phương thức khác nhau nhưcho vay trả góp, cho vay theo các dự án…
- Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay, theo đó ngân hàng cho phépkhách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận Chovay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trảgóp
- Cho vay theo các dự án: Khái niệm dự án có thể hiểu là tổng thể cácchính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạtđược những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định Cho vay theo dự
án đòi hỏi quá trình thẩm định dự án một cách cẩn trọng và chính xác
Trên đây là một số phương thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏphân theo kì hạn cho vay Mặc dù phương thức cho vay doanh nghiệp vừa vànhỏ có thể khác nhau, tuy nhiên các phương thức đó đều phải tuân theo mộtquy trình cho vay chung nhất, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong quátrình cho vay của ngân hàng thương mại
vừa và nhỏ
1.3.1 Rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 171.3.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụngRủi ro tín dụng (lending risk) là loại rủi ro phát sinh do khách hàngkhông có khả năng hoàn trả hoặc không muốn hoàn trả khoản tiền đã vay củangân hàng Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp Ngân hàng không thuhồi được đầy đủ cả tiền gốc và tiền lãi của các khoản vay, hoặc việc hoàn trảcủa khách hàng không đúng kỳ hạn như đã định.
Đối với ngân hàng, khi gặp rủi ro, có nghĩa là không thu hồi được vốn
đã cấp và lãi của khoản vay, nhưng ngân hàng vẫn phải trả gốc và lãi cho cáckhoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm ngân hàng mất cân đối trongviệc thu chi, ảnh hưởng đến lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh Đồng thời khigặp phải rủi ro cho vay, ngân hàng cũng thường rơi vào tình trạng mất khảnăng thanh toán, ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của ngân hàng và lòng tin củakhách hàng, là hoàn cảnh mà không một ngân hàng nào muốn rơi vào
Rủi ro tín dụng ở mỗi ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau.Mức độ nhẹ nhất là khi ngân hàng không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất
là khi ngân hàng không thu được cả vốn và lãi, nợ thất thu ở tỷ lệ cao dẫn đếnngân hàng mất vốn và thua lỗ Kéo dài tình trạng này sẽ đẩy nhanh ngân hàngđến bờ vực phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng đến cả nền kinh tế nói chung và
hệ thống ngân hàng nói riêng
Đối với nền kinh tế, hoạt động nhịp nhàng của hệ thống ngân hàng là
vô cùng quan trọng, liên quan đến các cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp.Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp cần vay vốn
vì ngân hàng là một kênh dẫn vốn quan trọng, doanh nghiệp không thể pháttriển, đời sống công nhân khó khăn, nền kinh tế cũng phải chịu hậu quả nặng
nề, giá cả tăng, sức mua giảm, tình trạng thất nghiệp gia tăng mạnh, mất ổnđịnh kinh tế và xã hội Một ngân hàng phá sản hay gặp khó khăn trong thanhkhoản cũng có thể làm cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế rơi vào khủnghoảng nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời Đối với các ngân hànglớn, ở các quốc gia lớn, khủng hoảng có thể lan ra toàn cầu như khung hoảngtài chính Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
1.3.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro
Trang 18- Do thị trường biến động không thể dự đoán
Nền kinh tế của Việt Nam còn non trẻ và chưa thể đứng vững trước các biếnđộng tiềm ẩn của thị trường khu vực và thế giới, vấn đề xuất nhập khẩu còngặp nhiều khó khăn Doanh nghiệp Việt Nam tất nhiên không thể thoát rangoài vòng xoáy của giá thành nguyên vật liệu tăng cao, sản phẩm khó tiêu thụkhi nền kinh tế thị trường biến động xấu
- Rủi ro từ quá trình hội nhập quốc tế.
Hội nhập quốc tế, tương ứng với tự do hóa tài chính, cạnh tranh gay gắt, khiếncác doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng có thể rơi vào cảnh thua lỗ và
bị đào thải bất cứ lúc nào
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong và ngoài nước trong môitrường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các nhân hàng trong nước với hệ thốngquản lý lỏng lẻo, yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên, vì nhữngkhách hàng tốt sẽ bị thu hút bởi các ngân hàng lớn mạnh có uy tín nước ngoài
Đầu tiên phải kể đến sự kém hiệu quả của các cơ quan pháp luật địa phương.Các văn bản luật, dưới luật điều chỉnh hướng dẫn hoạt động tín dụng ngânhàng được ban hành thường xuyên, nhưng việc triển khai vào hoạt động ngânhàng thì diễn ra hết sức chậm chạp và hay gặp phải nhiều bất cập, vướng mắcnhư một số văn bản về hướng dẫn thu hồi nợ Ví dụ như quy định : “Trongnhững trường hợp khách hàng không trả được nợ, ngân hàng thương mại cóquyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay” Nhưng thực tế, ngân hàng thương mại làmột tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, nên việccưỡng chế hay buộc khách hàng giao nộp tài sản đảm bảo cho ngân hàng xử
lý, nhiều khi vì vậy mà ngân hàng không thể giải quyết được nợ tồn đọng
Tiếp đến là sự thiếu sót, chưa chặt chẽ trong khâu thanh tra, kiểm tra, giám sátcủa Ngân hàng Nhà Nước Cho đến nay, phương pháp và nội dung thanh tra,giám sát đối với các ngân hàng thương mại còn lạc hậu, thanh tra tại chỗ vẫn
là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiến tệ và giámsát rủi ro còn yếu kém, năng lực của cán bộ thanh tra chưa đáp ứng được nhucầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới thanh tra ngânhàng còn chưa theo kịp, vai trò kiểm toán chưa được phát huy và hệ thốngthông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu Thanh tra ngân hàng còn thụđộng xử lý vụ việc đã phát sinh chứ ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa
Trang 19rủi ro hay vi phạm Thực tế cho thấy hàng loạt những sai phạm chứa đựngnhiều rủi ro ở một số ngân hàng thương mại đe dọa đến cả hệ thống đáng lẽ đã
có thể được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lýsớm hơn
Ở Việt Nam, trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng CIC của ngân hàngNhà nước là địa chỉ đầu tiên các chuyên viên khách hàng tìm đến tham khảokhi xuất hiện khoản vay, vì nó cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạtđộng tín dụng, cũng như uy tín khách hàng trong quan hệ tín dụng với cácngân hàng trước đó Tuy nhiên thông tin trung tâm này cung cấp còn đơn điệu,thiếu cập nhật, không phản ánh hay đánh giá gì về tiềm lực cũng như uy tíntrong kinh doanh của khách hàng, chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệmdoanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả Nếu các ngân hàng vì chạy theolợi nhuận, mở rộng hoạt động cho vay trong điều kiện môi trường thông tinkhông cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu
- Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm và năng lực hoạt động kinhdoanh còn đang ở trình độ thấp, hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắmbắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh Vì vậy, khi dự ánvay vốn gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề, rủi ro tíndụng là điều không thể tránh khỏi
- Thông thường khi vay vốn, các doanh nghiệp phải xuất trình cácphương án kinh doanh cụ thể, khả thi Ngân hàng xét duyệt sau đó quyết định
có cho doanh nghiệp vay vốn hay không và nếu cho vay thì tối đa là baonhiêu, thế nhưng lợi dụng điểm yếu của ngân hàng thương mại, nhiều kháchhàng đã tìm cách lừa đảo để được vay vốn Họ lập phương án sản xuất kinhdoanh giả, giấy tờ thế chấp cầm cố giả mạo, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàngvới cùng bộ hồ sơ Sử dụng sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến chonguồn trả nợ trở nên bấp bênh Vì vậy, khi khách hàng đã sử dụng vốn sai mụcđích, việc thanh toán gốc và lãi đúng hạn rất khó xảy ra,rủi ro tín dụng xuấthiện
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp vẫn còn yếu kém và thiếu minhbạch, sổ sách kế toán để ngân hàng xét duyệt cho vay nhiều khi chỉ mang tính
Trang 20hình thức hơn là thực chất Khi các cán bộ ngân hàng lập các bảng phân tíchtài chính doanh nghiệp dựa trên số liệu khách hàng cung cấp thì đa phần làthiếu tính xác thực và thực tế
- Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức thường tạo điều kiện cho rủi
ro tín dụng của ngân hàng tăng lên.Mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa vớiviệc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng,khả năng giám sát của cán bộ tín dụngđối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời cũng làm cho việc tuânthủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng
- Trình độ cán bộ hạn chế, nhất là cán bộ tín dụng người trực tiếp nhận hồ
sơ khách hàng, phân tích và thẩm định khách hàng cũng như dự án vay vốn.Vìvậy nếu trình độ cán bộ tín dụng không cao, thẩm định không tốt, có thể chấpnhận cho vay những khoản vay không khả thi hoặc bị khách hàng lừa gạt.Song song với nó, cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ caonhưng thiếu đạo đức cũng là rủi ro rất lớn của ngân hàng Một số cán bộ tíndụng cùng với khách hàng vay lập hồ sơ giả, hoặc nâng giá trị tài sản thế chấplên cao hơn thực tế để nâng hạn mức cho vay hoặc giá trị tối đa của khoản vay
- Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các ngânhàng thương mại khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên sơ sài, qua loahơn Hơn nữa, nhiều ngân hàng thương mại do quá chú trọng đến lợi nhuậnnên đã chấp nhận rủi ro cao, bất chấp những khoản vay không lành mạnh,thiếu an toàn
- Quy chế cho vay chưa chặt chẽ, quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đều khiếncho ngân hàng thương mại gặp phải rủi ro tín dụng.Việc đánh giá giá trị tài sảnthế chấp, cầm cố cũng là vấn đề rất lớn, hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trongquy chế tín dụng tại các ngân hàng thương mại
-Việc giám sát sau khi cho vay cũng là trách nhiệm tuy quan trọng nhưngthường bị xem nhẹ bởi các chuyên viên khách hàng, các cán bộ tín dụng.Thường ngân hàng chỉ tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khicho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, giám sát đồng vốn sau khi cho vay.Công việc theo dõi hoạt động kinh doanh của khách hàng này nhằm đảm bảo
sự tuân thủ các điều khoản đã ghi trên hợp đồng tín dụng, đồng thời tìm ranhững cơ hội mới để phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trang 21- Ngoài ra, còn rất nhiều nhân tố khác thuộc về ngân hàng thương mạigây ra rủi ro tín dụng như: chất lượng thông tin và xử lý thông tin trong ngânhàng thương mại, cơ cấu tổ chức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực côngnghệ
1.3.2 Quy trình giám sát, quản lý rủi ro
Giám sát rủi ro tín dụng là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục vàđược thực hiện với từng khoản vay của khách hàng để đảm bảo thông tin và độrủi ro của khách hàng luôn được ngân hàng nắm vững, đồng thời có biện pháp
xử lý kịp thời khi có nguy cơ xảy ra rủi ro
Quy trình giám sát tín dụng được xem xét ở 3 giai đoạn: trước, trong và sautín dụng
- Chấm điểm tín dụng và xếp loại khách hàng
Hồ sơ, tài liệu, thông tin khách hàng cung cấp và đã được xác minh tính chânthực là cơ sở để chuyên viên khách hàng tiến hành chấm điểm tín dụng đối vớidoanh nghiệp Mỗi ngân hàng tùy vào quy định, chiến lược hay nghiên cứucủa mình mà có một bảng chấm điểm riêng đối với doanh nghiệp, dựa vào sốđiểm đã chấm mà doanh nghiệp sẽ được xếp loại, thông thường sẽ được quyđịnh là các chữ cái A,B,C như sau
Hệ thống ký hiệu xếp hạng doanh nghiệp
Trang 22AA Khả năng trả nợ rất tốt.
BBB
Có khả năng trả đầy đủ các khoản nợ Tuy nhiên
sự thay đổi bất lợi của các yếu tố bên ngoài cóthể tác động giảm khả năng trả nợ
BB
Có ít nguy cơ mất khả năng trả nợ Đang phải đốimặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể tác động giảmkhả năng trả nợ
CCC
Đang bị suy giảm khả năng trả nợ Trong trường hợp có các yếu tố bất lợi xảy ra thì nhiều khả năng sẽ không trả được nợ
thái tương tự nhưng việc trả nợ vẫn được duy trì
Tùy vào kết quả xếp loại mà doanh nghiệp sẽ được ngân hàng điều chỉnhhạn mức vay phù hợp, tránh trường hợp rủi ro khi cho doanh nghiệp xếp loại kémlại được vay số tiền lớn mà không có khả năng trả nợ
- Tính khả thi của phương án kinh doanh
Đây là yếu tố vô cùng quan trọng, phương án kinh doanh tốt hay chưa tốtquyết định khả năng sinh lời của doanh nghiệp đồng thời cũng quyết định khảnăng trả nợ của doanh nghiệp đó Phương án kinh doanh phải được kháchhàng trình bày với các giấy tờ chứng minh và cam kết sẽ chỉ dùng khoản tíndụng ngân hàng cấp cho phục vụ phương án kinh doanh này
- Tài sản đảm bảo
Tài sản đảm bảo là động lực trả nợ của khách hàng, tuy nhiên vì tài sản đảmbảo cũng có rủi ro mất giá nên doanh nghiệp chỉ được vay với giá trị thườngnhỏ hơn 100% giá trị tài sản đảm bảo, ngoài ra phải mua bảo hiểm và cung cấpcác giấy tờ sở hữu để chứng minh Về phía ngân hàng phải tiến hành định giá
Trang 23nhập kho tài sản đảm bảo đúng quy trình vì phát mại tài sản đảm bảo là sựchống đỡ cuối cùng của ngân hàng khi phải đối diện với nguy cơ doanh nghiệpkhông có khả năng trả nợ.
Trong tín dụng
- Giám sát tín dụng là khâu quan trọng nhất trong quá trình doanh nghiệpvay vốn Để đảm bảo doanh nghiệp dùng vốn vay đúng mục đích, chuyênviên khách hàng phải tiến hành kiểm tra định kì hoặc đột xuất tình hìnhkinh doanh của doanh nghiệp, tình trạng hàng tồn kho, phải thu phải trả,hóa đơn nhập – xuất…Những theo dõi của chuyên viên khách hàng cầnphải được ghi chép lại thành báo cáo để theo dõi và phát hiện xử lý nhữngsai lệch do doanh nghiệp vô ý hoặc cố tình làm trái các điều khoản ghi trênhợp đồng tín dụng
nghiệp thường vay vốn từ nhiều nguồn, hoặc có nhiều hơn 1 khoản vay
ở 1 ngân hàng Khi một khoản vay của khách hàng không được thanhtoán khi đến hạn hoặc đến lịch trả nợ thì ngay lập tức không chỉ khoản
nợ đó mà tất cả các khoản vay khác của khách hàng cần phải được tiếnhành theo dõi chặt chẽ và bị đẩy xuống nợ xấu trong quá trình theo dõi,nhân viên ngân hàng nhận thấy nhiều khoản cho vay đang có dấu hiệukém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn Khoản cho vay có vấn
đề được xây dựng dựa trên quy định của ngân hàng
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn
nợ đã cơ cấu lại
- Nhóm 3:Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90-180 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngàytheo thời hạn đã cơ cấu lại
- Nhóm 4:Nợ nghi ngờ
Trang 24+ Các khoản nợ quá hạn từ 180-360 ngày.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90-180 ngàytheo thời hạn đã cơ cấu lại
Trang 25nhất hoặc lấy lợi nhuận bù đắp vào khoản rủi ro mà ngân hàng sẵn sàng đươngđầu.
Việc xử lý nợ xấu cần thực hiện theo đúng quy trình, thông báo nhắc nhởkhách hàng, tiến hành xem xét gia hạn nợ nếu khách hàng có yêu cầu, cùngkhách hàng nghiên cứu giải quyết vấn đề, bán tài sản đảm bảo để bù đắp tổnthất và sử dụng các quỹ dự phòng rủi ro
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.4.1 Dấu hiệu nhận biết rủi ro
Nhận biết rủi ro là bước đầu tiên trong việc quản lý rủi ro, nhận biếtđược rủi ro, ngân hàng sẽ có các giải pháp đề phòng ngừa hay hạn chế nó
Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng:
Đối với mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng:
- Khi ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp các báo cáo tài chínhthì khách hàng chậm trễ, lấy nhiều lý do để trì hoãn nhưng không có lý do nàothuyết phục
- Khách hàng có dấu hiệu không thực hiện đủ các quy định, nghĩa vụtài chính, pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng
- Có những yêu cầu về gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ vay nhiều lần
mà lý do đưa ra là thiếu căn cứ và không thỏa đáng
- Thanh toán các khoản lãi vay và nợ gốc không đầy đủ và đúng hạn
- Có dấu hiệu sử dụng các tài khoản ngắn hạn để tài trợ cho các hoạtđộng đầu tư dài hạn
- Chấp nhận sử dụng nguồn vốn với giá cao và mọi điều kiện
- Khách hàng trông chờ vào nguồn thu bất thường để trả nợ mà khôngphải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từ hoạt động họ đã đề xuấttrong phương án vay vốn
- Có thái độ trì hoãn hoặc gây cản trở đối với chuyên viên khách hàngtrong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất về tình hình sử dụng vốn vay,tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh
- Mức vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu về các khoản vay vượt quánhu cầu dự kiến
- Khi khách hàng có dấu hiệu tìm kiếm nguồn tài trợ vốn mới, đặcbiệt là từ các đối thủ cạnh tranh của ngân hàng
Trang 26- Không có các báo cáo hay dự đoán về dòng tiền của doanh nghiệp.
- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo cónguy cơ giảm sút so với khi định giá cho vay Hay có dấu hiệu tài sản đã chongười khác thuê, bán hoặc trao đổi hoặc không còn tồn tại
Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính
và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Nhóm dấu hiệu này không tác động ngay đến chất lượng của khoảnvay, nhưng nó là những rủi ro rất tiềm ẩn, nếu cán bộ tín dụng của ngân hàngkhông có sự giám sát chặt chẽ thì khó có thể nhận diện được Một số biểu hiệnlà:
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu tổ chức của ban điều hành, thay đổi
kế toán thường xuyên Xuất hiện những mâu thuẫn trong phương pháp quảntrị, tranh chấp trong quản lý
- Theo đuổi một sản phẩm mà doanh nghiệp chưa từng có kinhnghiệm trong lĩnh vực đó mà lại không thuê bên thứ 3 tư vấn
- Sẵn sàng ký kết các hợp đồng có giá trị quá lớn, không phù hợp vớinăng lực của doanh nghiệp, hoặc bỏ qua các hợp đồng nhỏ nhưng tỷ suất lợinhuận cao
- Có những thay đổi bất thường trong cơ cấu vốn, khả năng thanhtoán hay các chỉ số hoạt động
- Phát sinh những chênh lệch lớn giữa dòng tiền thực tế với mức dựkiến khách hàng đưa ra khi đề nghị vay vốn
- Ngày càng xuất hiện các khoản chi phí bất hợp lý như sự gia tăngđột biến trong chi phí tiếp khách, quảng cáo, đầu tư trang thiết bị văn phòng…
- Ngành nghề khách hàng kinh doanh xuất hiện dấu hiệu suy thoái,không còn chỗ đứng trên thị trường, sản phẩm làm ra không thể tiêu thụ
- Các yếu tố khách quan do nền kinh tế mang lại, hoặc thiên tai, hỏahoạn, bệnh tật…
Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng.
- Chuyên viên khách hàng đưa ra sự đánh giá và phân loại khôngchính xác về mức độ rủi ro của khách hàng Khi đánh giá về tình hình tàichính của khách hàng lại chỉ xem xét đến các thông tin tĩnh, do khách hàngchủ động cung cấp mà không tìm hiểu xem xét các thông tin khác từ phía thịtrường, bạn hàng, đối thủ cạnh tranh của khách hàng
Trang 27- Hồ sơ tín dụng do chuyên viên khách hàng lập không đầy đủ hoặcthiếu sự thuân thủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng.
- Chính sách tín dụng của bản thân ngân hàng quá cứng nhắc hoặcquá lỏng lẻo, tạo nhiều kẽ hở
- Đồng ý cho vay mà thiếu sự chắc chắn trong cam kết và tính bảođảm của khách hàng về vấn đề lợi ích do khách hàng đem lại từ các khoản tíndụng được cấp
- Tốc độ tăng trưởng cho vay quá nhanh, vượt quá khả năng và nănglực kiểm soát của ngân hàng
1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro cho vay
Tuy rủi ro cho vay là khách quan, song ngân hàng phải quản lý rủi ronhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Từ nhữngnguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng và các dấu hiệu chính phát sinh tronghoạt động tín dụng, ngân hàng cụ thể hóa thành những chỉ tiêu phản ánh rủi
ro tín dụng
-Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
-Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ
-Nợ có vấn đề
-Tính đa dạng hóa của tài sản
-Môi trường hoạt động của người vay
-Quan hệ tín dụng giũa ngân hàng và khách hàng
-Tình hình tài chính và phương án của người vay
-Đảm bảo tiền vay
nợ quá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác như quá một kỳ gia hạn nợ, hoặckhông có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản không bán được, con nợ thua lỗ triềnmiên, phá sản…
khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa thuận ghi trênhợp đồng tín dụng Khi một món nợ không trả được vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợgốc còn lại của hợp đồng sẽ bị chuyển thành nợ quá hạn
Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi
ro khác nhau Đối với ngân hàng, việc khách hàng không hoàn trả đúng hạn
có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản Chi phí gia tăng để tìm
Trang 28nguồn mới chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng Nợ khó đòi là một cảnhbáo cho ngân hàng về khả năng thu lại tiền đã cho vay, ngân hàng cần có biệnpháp hữu hiệu để giải quyết.
1.4.3 Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình tín dụng
Hoạt động tín dụng có liên quan đến nhiều bộ phận trong ngân hàng, đòi hỏiphải có sự kết hợp và chỉ đạo chung thông qua chính sách, quy tắc và sự kiểmtoán chung
Chính sách tín dụng với mục tiêu chính là mở rộng tín dụng đồng thời hạnchế rủi ro tín dụng nhầm nâng cao thu nhập cho ngân hàng Chính sách tín dụngnhằm hạn chế rủi ro như: Chính sách tài sản đảm bảo, chính sách bảo lãnh, chínhsách đồng tài trợ…
Quy trình phân tích tín dụng do Ban giám đốc ngân hàng quyết định, đượcxây dựng một cách chi tiết và quán triệt xuống từng chi nhánh ngân hàng, từngcán bộ ngân hàng Quy trình tín dụng thể hiện những nội dung mà cán bộ tín dụngphải thực hiện khi cho vay nhằm hạn chế rủi ro như phân tích tình hình sản xuấtkinh doanh, thẩm định dự án vay, lịch sử người vay, mục đích vay, kiểm soát saukhi vay…
Bên cạnh chính sách và quy trình nhằm hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàngcòn xây dựng quy chế kiểm tra, phân định trách nhiệm và quyền hạn, khen thưởng
và kỷ luật đối với nhân viên tín dụng
Rủi ro là tất yếu của quá trình kinh doanh, luôn đi kèm với lợi nhuận Do vậyngân hàng không thẻ chối bỏ mà buộc phải xây dựng chính sách để có thể chungsống với rủi ro: Hạn chế rủi ro, chấp nhận rủi ro , khai thác hoặc thanh lý nợ quáhạn, nợ khó đòi hoặc nợ có vấn đề
việc phân tích nguyên nhân, thực trạng và khả năng giải quyết
có khả năng và ý chí trả nợ, ngân hàng áp dụng chính sách hỗ trợ như cho vaythêm, gia hạn nợ, giảm lãi…
ngân hàng áp dụng chính sách thanh lý tài sản đảm bảo, phong tỏa tiền gửi trên tàikhoản
Trang 29Xây dựng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp tổn thất Dựa trên tỷ lệ rủi ro chấpnhận và danh mục các khoản cho vay rủi ro , ngân hàng xây dựng quỹ dự phòng.Quỹ này không có tác dụng giảm rủi ro mà để chống đỡ cho vốn chủ khi tổn thấtxảy ra Việc trích lập dự phòng tổn thất được thực hiện đối với các khoản nợ quáhạn,chia theo 5 nhóm, tỷ lệ trích lập khác nhau:
Các biện pháp giảm thiểu rủi ro của ngân hàng thương mại.
Đương đầu với rủi ro là điều không thể tránh khỏi khi hướng tới mục tiêu
là tìm kiếm lợi nhuận Muốn thu được lợi nhuận phải quản lý hoặc hạn chế được rủi
ro Có 3 biện pháp mang tính nguyên tắc thường được áp dụng để giảm mức rủi ro: + Đa dạng hoá rủi ro: Có nghĩa là hướng các hoạt động cho vay đến đadạng mà các hậu quả của các hoạt động cho vay đó không liên quan đến nhau chặtchẽ, giúp loại trừ một số rủi ro Đa dạng hoá càng làm lợi nhuận khi các khoản chovay hay các hoạt động tín dụng khác hướng về các hậu quả có quan hệ đối nghịchnhưng việc đa dạng hoá lúc nào cũng có thể diễn ra dể dàng
+ Chuyển rủi ro: Khi gặp các hoạt động nhiều rủi ro nhưng cũng nhiều lợinhuận nhà kinh doanh có thể hạn chế rủi ro bằng cách chuyển rủi ro cho các chủ thể
có khả năng chịu đựng rủi ro (như công ty bảo hiểm) bằng việc mua bảo hiểm, hoặcchung lưng gánh chịu rủi ro hoặc bán rủi ro Trong hoạt động cho vay Ngân hàng
có một số khách hàng vay mang nhiều rủi ro, nếu từ chối cho vay ngân hàng sẽ mấtkhách, vỡ thế các ngân hàng thường thực hiện chuyển rủi ro dưới nhiều hình thứcnhư:
một khách hàng cú một dự án có nhu cầu vốn lớn hay nhiều rủi ro
chịu đựng rủi ro Trong trường hợp khoản vay có rủi ro cao, ngân hàng khó có thể
Trang 30chịu nổi nếu rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ “bán” khoản vay cho ngân hàng lớn hơnhoạc một trung gian tài chính khác để hưởng hoa hồng phí.
+ Tìm kiếm thêm thông tin về các khoản cho vay Các quyết định cho vayđưa ra trên cơ sở thiếu thông tin thường dẫn đến hậu quả là không chắc chắn Nếu
có nhiều thông tin về khoản vay hơn, ngân hàng sẽ dự đoán tốt hơn, và có thể giảmthiểu rủi ro Thông tin ngày nay cũng là hàng hóa có giá trị, nếu muốn có nó chúng
ta phải bỏ ra một số chi phí Ở các nước, ngân hàng có thể mua thông tin về cáckhoản vay ở các tổ chức hoặc các công ty tư vấn có uy tín
Trong những kỹ thuật giảm thiểu hoặc hạn chế rủi ro nêu trên, các biện phápchuyển rủi ro, bán rủi ro hoặc chung lưng gánh chịu rủi ro là hướng chuyển giaotoàn bộ hoặc một phần rủi ro cho các chủ thể có khả năng chịu đựng rủi ro, các chủthể này bằng chức năng đặc biệt của mình có thể triệt tiêu rủi ro hoặc giảm chúngxuống mức tối thiểu
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG KỸ
THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG
2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam và chi nhánh Hai
Bà Trưng
2.1.1 Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
Trang 31Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - tên giao dịch quốc
tế là Vietnam Technological and Commercial joint stock Bank - Techcombankđược thành lập vào ngày 27 tháng 09 năm 1993 theo giấy phép số 0040/NH-GPcấp ngày 6 tháng 8 năm 1993 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với
số vốn điều lệ là 20 tỉ đồng, được chia thành 4000 cổ phiếu, mỗi cổ phiếu mệnhgiá 5 triệu đồng Cổ đông lớn nhất của ngân hàng là hãng hàng không Việt Namvới tổng số vốn góp là 6 tỉ đồng Ngoài ra còn có một số doanh nghiệp Nhà nướcnhư Tổng công ty Da giầy, tổng công ty Dệt may và một số cá nhân Ngân hàngthương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam là một trong những ngân hàng thươngmại cổ phần đầu tiên của Việt Nam được thành lập trong bối cảnh đất nước đangchuyển sang nền kinh tế thị trường, trụ sở chính ban đầu được đặt tại số 24 LýThường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, ngân hàng đã từng bước xâydựng được lòng tin của dân chúng, các tổ chức, kinh tế trong và ngoài nước Hội
sở chính hiện nay của ngân hàng tại 70-72 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Những mốc lịch sử quan trọng của Techcombank
- Ngân hàng tăng vốn điều lệ lên 51,495 tỷ đồng
- Thành lập Chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quátrình phát triển nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn
- Tăng vốn điều lệ lên 80,020 tỷ đồng
- Khai trương Phòng giao dịch số 3 tại phố Khâm Thiên, Hà Nội
Trang 32 Năm2000
- Thành lập Phòng Giao dịch Thái Hà tại Hà Nội
- Tăng vốn điều lệ lên: 102,345 tỷ đồng
- Ký kết hợp đồng với nhà cung cấp phần mềm hệ thống ngân hàng hàngđầu trên thế giới Temenos Holding NV, về việc triển khai hệ thống phần mềmNgân hàng GLOBUS cho toàn hệ thống Techcombank nhằm đáp ứng ngày càngtốt hơn nhu cầu của khách hàng
- Thành lập Chi nhánh Chương Dương và Chi nhánh Hoàn Kiếm
- Thành lập Chi nhánh Hải Phòng tại Hải Phòng
- Thành lập Chi nhánh Thanh Khê tại Đà Nẵng
- Thành lập Chi nhánh Tân Bình tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Mạng lưới bao gồm Hội sở chính và 8 Chi nhánh cùng 4 Phòng giaodịch tại các thành phố lớn trong cả nước
- Vốn điều lệ tăng lên 104,435 tỷ đồng
- Chuẩn bị phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn điều lệ Techcombank lên
- Đưa chi nhánh Techcombank Chợ lớn vào hoạt động
- Vốn điều lệ tăng lên 180 tỷ tại 31/12/2003
- Khai trương biểu tượng mới của Ngân hàng
- Tăng vốn điều lệ lên 234 tỉ đồng
- Tăng vốn điều lệ lên 252,255 tỷ đồng
- Tăng vốn điều lệ lên 412 tỷ đồng
- Ký hợp đồng mua phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ với CompassPlus
Trang 33- Thành lập các chi nhánh cấp 1 tại: Lào Cai, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, BắcNinh, T.P Nha Trang (tỉnh Khánh Hoà), Vũng Tàu.
- Đưa vào hoạt động các phòng giao dịch: Techcombank Phan Chu Trinh(Đà Nẵng), Techcombank Cầu Kiều (Lào Cai), Techcombank Nguyễn Tất Thành,Techcombank Quang Trung, Techcombank Trường Chinh (Hồ Chí Minh),Techcombank Cửa Nam, Techcombank Hàng Đậu, Techcombank Kim Liên (HàNội)
- Tăng vốn điều lệ lần lượt lên 453 tỷ đồng, 498 tỷ đồng và 555 tỷ đồng
- Khai trương phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ của hãng CompassPlus
- Nâng cấp hệ thống phần mềm Globus sang phiên bản mới nhấtTenemos T24 R5
- Nhận giải thưởng về thanh toán quốc tế từ the Bank of NewYorks,Citibank, Wachovia
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi Lộc Xuân
- Nhận cúp vàng “Vì sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững” do Tổngliên đoàn lao động Việt Nam trao
- Call Center và đường dây nóng 04.9427444 chính thức đi vào hoạtđộng 24/7
- Moody’s, hãng xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới đã công bố xếphạng tín nhiệm của Techcombank, ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam đượcxếp hạng bởi Moody’s
- Đại hội cổ đông thường niên thông qua kế hoạch 2006 – 2010; Liên kếtcung cấp các sản phẩm Bancassurance với Bảo Việt Nhân Thọ
- Hoàn thiện hệ thống siêu tài khoản với các sản phẩm mới Tài khoảnTiết kiệm đa năng, Tài khoản Tiết kiệm trả lãi định kỳ
- Tăng vốn điều lệ lên 1.500 tỉ đồng
- Ra mắt thẻ thanh toán quốc tế Techcombank Visa
- Tổng tài sản đạt gần 2,5 tỷ USD
- Trở thành ngân hàng có mạng lưới giao dịch lớn thứ hai trong khốingân hàng TMCP với gần 130 chi nhánh và phòng giao dịch tại thời điểm cuốinăm 2007
Trang 34- HSBC tăng phần vốn góp lên 15% và trực tiếp hỗ trợ tích cực trong quátrình hoạt động của Techcombank
- Chuyển biến sâu sắc về mặt cơ cấu với việc hình thành khối dịch vụkhách hàng doanh nghiệp, thành lập Khối Quản lý tín dụng và quản trị rủi ro,hoàn thiện cơ cấu Khối Dịch vụ ngân hàng và tài chính cá nhân
- Triển khai chương trình “Khách hàng bí mật” đánh giá chất lượng dịch
vụ của các giao dịch viên và điểm giao dịch của Techcombank
- Ra mắt hàng loạt các sản phẩm mới: như các chương trình Tiết kiệm dựthưởng “Gửi Techcombank, trúng Mercedes”, Tiết kiệm Tích lũy bảo gia, Tíndụng tiêu dùng, các sản phẩm dành cho doanh nghiệp như Tài trợ nhà cung cấp;các sản phẩm dựa trên nền tảng công nghệ cao như F@st i-Bank, sản phẩm Quản
lý tài khoản tiền của nhà đầu tư chứng khoán F@st S-Bank và Cổng thanh toánđiện tử cung cấp giải pháp thanh toán trực tuyến cho các trang web thương mạiđiện tử F@stVietPay
Nhận giải thưởng “Thương mại Dịch vụ Top Trade Services 2007” giải thưởng dành cho những doanh nghiệp tiêu biểu, hoạt động trong 11 lĩnh vựcThương mại Dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO do BộCông thương trao tặng
- Nhận danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất năm 2008” do độc giả củabáo Sài Gòn Tiếp thị bình chọn
- Ra mắt thẻ tín dụng Techcombank Visa Credit
- Triển khai máy gửi tiền tự động ADM
- Triển khai hàng loạt dự án hiện đại hóa công nghệ như: nâng cấp hệthống phần mềm ngân hàng lõi lên phiên bản T24.R7, là thành viên của cả hai liênminh thẻ lớn nhất Smartlink và BankNet, kết nối hệ thống ATM với đối tác chiếnlược HSBC
- Tài trợ cuộc thi Sao Mai Điểm Hẹn 2008
Trang 35- Ra mắt Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản Techcombank AMC.
- Nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2008 do Hội Doanh nghiệp trẻtrao tặng
- Tăng tỷ lệ sở hữu của đối tác chiến lược HSBC từ 15% lên 20% và tăngvốn điều lệ lên 3.165 tỷ đồng
- Ra mắt thẻ đồng thương hiệu Techcombank – Vietnam Airlines – Visa
- Nhận giải thưởng “Thương hiệu chứng khoán uy tín” và “Công ty cổphần hàng đầu Việt Nam” do UBCK trao tặng
- Tăng vốn điều lệ đợt 1 năm 2009 lên 4.337 tỉ đồng
- Tăng vốn điều lệ đợt 2 năm 2009 lên 5400,416710 tỉ đồng
- Phát hành 2.100 tỷ đồng trái phiếu
Trang 36Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
Ủy ban kiểm toán và quản
lý rủi ro
Ủy ban nhân
sự và tiền lương
HĐQT
Ủy ban đầu
tư chiến lược
Ủy ban chỉ đạo công nghệ Ủy ban quản lý tài sản nợ và có
Trung tâmnguồn vốn
Khối quản trị nguồn nhân lực
Khối thẩmđịnh và quản trị rủi ro
Khối quản trị rủi ro thị trường
và vận hành
Trung tâm công nghệ
Khối phápchế và kiểm soát tuân thủ
Khối vận hành
Các phòng bantham mưuĐại hội cổ đông
Trang 37và thị trường
- P.QT sản phẩm
- P.QL tiền
tệ và tài trợ thương mại miền Bắc vàmiền Trung
- P.QL tiền
tệ và tài trợ thương mại miền Nam
- P KHDN vừa và nhỏ
- P.KHDN lớn
- P.DV và CSKH DN
- Trung tâm KHDN nhỏ
và hộ kinh doanh
- P.KD tiền tệ
- Phòng quản lý đầu tư tài chính
- Phòng giao dịch các thị trường hàng hóa
- P.KD trái phiếu
- P KD ngoại hối
- P.phát triển sản phẩm
- Ban kinhdoanh Treasury HCM
- Tổ hỗ trợ khách hàng interbank
- Phòng tuyển dụng
- Phòng tiền lương
và phúc lợi
- Phòng quản trị thông tin
và chính sách nhânsự
- TT đào tạo
- P.QTRR TD
- P Các mô hình
QTRRTD
- P.TD H.O
- P.TD miền Trung
- P.TD miền Nam
- P.TD dự án
- P.TD M.banking H.O
- P.TD M.banking miền Nam
- P.giám sát
TD và các khoản vay có vấn đề
- P.QLTSĐB H.O
- P.QLTSĐB miền Nam
- P.QTRR quy trình
và sản phẩm
- P.QTRR thị trường
- P.QTRR hoạt động
- P.QTRR tài sản nợ
- Ban duy trì kinh doanh
- Ban phân tích thông tin
- P.quản lí
kế hoạch và
dự án công nghệ
- P.bảo mật thông tin
- P.hỗ trợ vàphát triển ứng dụng
- P.công nghệ thẻ và ngân hàng điện tử
- P.hạ tầng truyền thông
- Ban IT miền Trung
- Ban IT miền Nam
- P.pháp chế
và kiểm soát tuân thủ
- P.kiểm soát nội bộ
- Ban xử lí
nợ và khai thác t ài sảnthu nợ
- Trung tâm
xử lí nghiệpvụ
- Trung tâmkiểm soát tín dụng và
hỗ trợ kinh doanh
- P.nghiệp
vụ kho quỹ
- P.quản lí đầu tư xây dựng
- Văn phòng
- P.quản lí chất lượng
- Trung tâmquản lí và vận hành dịch vụ thẻ
- P
Marketing
- P.kế hoạchtổng hợp
- P.kế toán tài chính
- Ban dự án phát triển
hệ thống quản trị thông tin (MIS)
- P.định chếtài chính
Các sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch