1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam

82 639 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 735,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tạo được sự ổn định về kinh tế, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong đó không thể không đề cập đến vấn đề ổn định nền tài c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

HOÀNG NGỌC HÀ

CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH

TP Hồ Chí Minh tháng 10/2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Nội dung và số liệu phân tích trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của học viên và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

-

Trang 3

MỤC LỤC Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt và ký hiệu Danh mục bảng biểu

Mở đầu 1

Chương 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 4

1.1 Khái niệm, bản chất về lạm phát 4

1.2 Các quan điểm khác nhau về lạm phát 5

1.3 Cách đo lường lạm phát 6

1.3.1 Cách đo lường lạm phát trên thế giới 6

1.3.2 Cách đo lường lạm phát của Việt Nam 7

1.4 Phân loại lạm phát 8

1.4.1 Lạm phát vừa phải 8

1.4.2 Lạm phát phi mã 8

1.4.3 Siêu lạm phát 8

1.5 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế 9

1.5.1 Tác động tích cực của lạm phát 10

1.5.2 Tác động tiêu cực của lạm phát 10

1.6 Nguyên nhân gây ra lạm phát 12

1.6.1 Lạm phát do chi phí đẩy 12

1.6.2 Lạm phát do cầu kéo 13

1.6.3 Lạm phát tiền tệ 14

1.6.4 Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế 15

1.7 Kiềm chế lạm phát 15

1.7.1 Nhóm giải pháp tác động vào cung 15

1.7.2 Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu 16

Trang 4

1.7.3 Nhóm giải pháp tác động vào chính sách tiền tệ 16

1.7.4 Nhóm giải pháp tác động vào cơ cấu kinh tế 16

1.8 Kiềm chế lạm phát của một số nước trên thế giới 17

1.8.1 Các biện pháp kiềm chế của các nước 17

1.8.2 Các bài học kinh nghiệm 19

Kết luận Chương 1 20

Chương 2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2010 22 2.1 Thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2000-2010 22 2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 22

2.1.2 Xuất nhập khẩu hàng hóa, cán cân thương mại và thanh toán quốc tế 23

2.1.3 Việc làm 26

2.1.4 Thị trường chứng khoán 27

2.1.5 Thị trường bất động sản 27

2.2 Thực trạng lạm phát của Việt Nam từ năm 2000-2010 28

2.3 Thực trạng tác động của lạm phát tới các biến số kinh tế vĩ mô ……… 29

2.3.1 Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế 29

2.3.2 Tác động của lạm phát đến tỷ lệ thất nghiệp 31

2.3.3 Tác động của lạm phát đến cán cân thanh toán 32

2.4 Thực trạng áp dụng các biện pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam………. 33

2.5 Đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010……… 36

2.5.1 Ưu điểm ……… 36

2.5.2 Khuyết điểm ……… 37

2.6 Phân tích các nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010……… 42

Trang 5

2.6.1 Nhóm nguyên nhân trong nước ……… 42

2.6.1.1 Đầu tư công kém hiệu quả……… 42

2.6.1.2 Chính sách tiền tệ và vai trò điều hành quản lý của NHNN……… 44

2.6.1.3 Chính sách mở cửa của Việt Nam trong quá trình hội nhập………. 46

2.6.1.4 Chi phí sản xuất chưa hợp lý, sức cạnh tranh của sản phẩm không cao, hiệu quả kinh tế thấp 48

2.6.1.5 Yếu tố tâm lý, đầu cơ, găm hàng, làm giá……… 48

2.6.1.6 Thu nhập của dân cư……… 49

2.6.1.7 Thực hiện lộ trình điều chỉnh giá đối với hàng hóa, vật tư cơ bản 49

2.6.1.8 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên……… 50

2.6.2 Nhóm nguyên nhân ngoài nước……… 50

2.6.2.1 Tác động của dòng tiền nóng……… 50

2.6.2.2 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới……… 51

Kết luận Chương 2 53

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 54 3.1 Định hướng phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015 54 3.2 Dự đoán lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới 55

3.3 Các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian 2011-2015

57 3.3.1 Chính phủ kiểm soát lạm phát 58

3.3.2 Ngân hàng Nhà nước kiểm soát lạm phát 62

3.3.2.1 Điều hành chính sách tiền tệ 62

3.3.2.2 Cần có một NHNN độc lập và đủ mạnh 64

3.2.3 Doanh nghiệp cũng phải tự kiểm soát lạm phát 66

3.2.3.1 Tiết kiệm, cắt giảm chi phí 66

3.2.3.2 Sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro 68

3.2.3.3 Xây dựng và hoạch định chiến lược phát triển lâu dài 68

Kết luận 70

Tài liệu tham khảo

Trang 6

Phụ lục

Trang 7

IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế

FED : Cục Dự trữ liên Bang của Hoa Kỳ

EU : Liên minh Châu Âu

TI : Tổ chức minh bạch quốc tế

DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước

CPI : Chỉ số giá tiêu dùng

Trang 8

Bảng 2.3: Lợi nhuận sau thuế của một số Ngân hàng đang niêm yết trên

thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2008 46

Bảng 2.4: Mức lương tối thiểu trong cơ quan nhà nước từ năm 2000 đến

năm 2009 49

Bảng 2.5: Diễn biến giá điện và xăng A90 giai đoạn 2000 - 2007 50

Bảng 3.1: Dự báo các chỉ tiêu kinh tế-xã hội từ năm 2010-2015 57

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm 22

Hình 2.2: Tình hình xuất khẩu qua các năm 23

Hình 2.3: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu qua các năm 24

Hình 2.4: Tình hình nhập khẩu qua các năm 25

Hình 2.5: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu qua các năm 25

Hình 2.6: Xu hướng của tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2000-2009 30

Hình 2.7: Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 2000 -2009 32

Hình 2.8: Xu hướng của tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nhập siêu giai đoạn 2000-2009 33

Hình 2.9: Tổng hợp nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam 2000 – 2010 52

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Trình bày vấn đề nghiên cứu:

Trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều bất ổn do chiến tranh, xung đột, thiên tai, đặc biệt là nạn khủng bố thì Việt Nam trong những năm gần đây được xem là điểm đến an toàn nhất, có tình hình chính trị ổn định nhất Tận dụng lợi thế này, để thu hút đầu tư nước ngoài, chúng ta còn phải tạo được sự ổn định về mặt kinh tế, mà trước hết là tạo được tâm lý ổn định trong nước, khuyến khích mọi tầng lớp dân cư yên tâm làm ăn lâu dài Để tạo được sự ổn định về kinh tế, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong

đó không thể không đề cập đến vấn đề ổn định nền tài chính tiền tệ của quốc gia mà đặc biệt là vấn đề kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả tiền tệ để tăng trưởng ổn định, bền vững và có hiệu quả

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, lạm phát là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy ra và tái diễn lại ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kỳ chế độ xã hội nào Tình hình lạm phát ở Việt Nam những tháng cuối năm 2007 và năm 2008 cho thấy vấn đề kiểm soát lạm phát góp phần tạo nên một sự ổn định về kinh tế có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn Trên

cơ sở vận dụng những lý thuyết được học trong chương trình đào tạo bậc cao học - Trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh vào điều kiện Việt Nam, Luận văn

này bàn về “Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Xuất phát từ lý do trên, đề tài đi vào nghiên cứu những vấn đề sau:

• Làm rõ những quan điểm, lý luận về lạm phát, từ đó xem những quan điểm nào được vận dụng phổ biến và phù hợp với nền kinh tế Việt Nam

• Khái quát lại tình hình lạm phát và các sự kiện nổi bật liên quan đến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

Trang 11

• Định lượng mối quan hệ giữa lạm phát với 3 biến số kinh tế vĩ mô quan trọng, đó là: Tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và cán cân thanh toán thông qua xem xét mối quan hệ hồi quy giữa lạm phát với 3 biến số trên và đi tìm một ngưỡng lạm phát mà ở đó khi lạm phát vượt qua thì có ảnh hưởng không tốt tới tăng trưởng kinh

tế

• Trên cơ sở phân tích lạm phát ở Việt Nam, rút ra được những nguyên nhân chủ yếu tác động tới lạm phát kết hợp với đánh giá lại các giải pháp kiềm chế lạm phát Chính phủ đã thực hiện từ đó đề xuất các giải pháp kiểm soát lạm phát để ổn định kinh tế vĩ mô giai đoạn 2011 - 2015

3 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp thống kê, sưu tầm các

số liệu từ các Bộ, ban, ngành, các số liệu có nguồn đáng tin cậy được phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng như lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và các số liệu cần thiết khác cho nghiên cứu Công việc này tiến hành qua 2 bước như sau:

+ Thống kê các số liệu cần thiết cho giai đoạn nghiên cứu (từ năm 2000 đến năm 2010)

+ Tuỳ vào mục đích nghiên cứu mà trích dẫn số liệu phù hợp

Dựa trên số liệu thu thập được, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hồi quy để xử lý và biểu diễn số liệu có được theo các nội dung cần thiết Riêng trong phương pháp hồi quy, học viên sử dụng chương trình STATA để chạy mô hình hồi quy, chọn sai số cho phép là 5% (độ tin cậy đạt 95% trong các phân tích) Nếu phân tích hồi quy cho kết quả song không đảm bảo độ tin cậy thì kết luận kết quả hồi quy không có ý nghĩa về mặt thống kê

Ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để xem xét, nghiên cứu vấn đề dưới nhiều góc độ, nhiều ngành khác nhau; phương pháp so sánh

- đối chiếu nhằm xem xét vấn đề trong mối tương quan, so sánh đối chiếu giữa những thời kỳ khác nhau; phương pháp chuyên gia: tìm hiểu vấn đề thông qua hình thức thu thập ý kiến của những người có nhiều kinh nghiệm (đặc biệt là các thầy cô

Trang 12

giảng viên), am tường trên từng lĩnh vực để từ đó rút ra những kết luận xác thực hay vận dụng kết quả nghiên cứu của một số chuyên gia về các vấn đề có liên quan

4 Những kết quả đạt được của Luận văn:

Một là, khái quát tình hình lạm phát ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2010

Hai là, làm rõ mức độ ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ

thất nghiệp và cán cân thanh toán thông qua mô hình hồi quy xác định mức độ ảnh hưởng của lạm phát tới các nhân tố trên Tìm ra một ngưỡng lạm phát ở Việt Nam kích thích tăng trưởng kinh tế

Ba là, làm rõ những nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát ở Việt Nam đồng

thời đánh giá lại các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ thời gian qua từ đó rút

ra bài học trong vấn đề kiềm chế lạm phát và đề xuất những giải pháp kiểm soát lạm phát phù hợp

5 Nội dung kết cấu của Luận văn:

Toàn bộ nội dung của đề tài được thể hiện trong 3 chương:

Chương I: Tổng quan lý thuyết về lạm phát và kiềm chế lạm phát

Chương II: Thực trạng lạm phát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010

Chương III: Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT LẠM PHÁT VÀ

KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VỀ LẠM PHÁT

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường, người

ta hiểu theo nghĩa đầu tiên là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn hiểu theo nghĩa thứ hai là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu

Như vậy, có thể nhận thấy rằng sự tăng lên của giá cả chính là một trong

những biểu hiện cơ bản của lạm phát Việc xem xét lạm phát tập trung vào nghiên

cứu những biểu hiện của lạm phát, thể hiện qua việc gia tăng của mức giá chung với tốc độ cao và kéo dài Để đo lường mức giá chung trong nền kinh tế, người ta thường dùng các khái niệm chỉ số giá Chỉ số giá bao gồm một số loại như: chỉ số giá bán lẻ - CPI - Consumer Price Index, chỉ số giá bán buôn - WPI - Wholesale price index, Chỉ

số giá sản xuất - PPI - Producer Price Index, song thông thường thì người ta dùng chỉ số giá bán lẻ để đo lường mức độ lạm phát

Nếu nền kinh tế năm nay có lạm phát 10%/năm tức là mức giá chung trong nền kinh tế tăng lên 10% so với năm trước đó Điều đó không có nghĩa là giá cả của tất cả các hàng hóa đều tăng lên cùng một tỷ lệ 10%, mà những hàng hóa khác nhau sẽ có những tỷ lệ tăng khác nhau và thậm chí có những mặt hàng giá giảm hoặc giá không đổi

Về bản chất, lạm phát là do khối lượng tiền tệ trong lưu thông vượt quá khối lượng hàng hóa và dịch vụ cung ứng, dẫn đến sự tăng giá đồng loạt, liên tục và ở mức đáng kể Từ đó, người ta thường lấy chỉ số giá tăng để nói lên mức độ lạm phát Lạm phát thường đi kèm với tăng trưởng kinh tế, tăng số lượng công ăn việc làm Bản chất lạm phát không xấu, bởi lạm phát ở mức kiểm soát được sẽ kích thích đầu tư, xuất

Trang 14

khẩu và cải thiện công ăn việc làm Song, lạm phát khi tăng quá mức (đến 2 con số trở lên) và ngoài tầm kiểm soát sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế và cuộc sống người dân

1.2 CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ LẠM PHÁT

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển và cận đại thì lạm phát dưới

chủ nghĩa tư bản là sự tràn ngập trên các kênh lưu thông một khối lượng dấu hiệu giá trị (tiền giấy) quá thừa dẫn đến làm mất giá từng phần dấu hiệu giá trị so với mệnh giá danh nghĩa của nó Khi đó, các nhà kinh tế học cho rằng khối lượng tiền bơm ra lưu thông (Kc) lớn hơn khối lượng tiền cần thiết hay sức hấp thụ của thị trường hàng hóa (Kt) mà biểu hiện là tiền giấy mất giá so với hàng, với vàng, với ngoại tệ Người dân không muốn giữ tiền và không muốn đem tiền đến gửi tại các ngân hàng mà chuyển vào đầu tư trực tiếp hoặc ồ ạt rút ra để mua sắm bất động sản, tích trữ vàng Kết quả là

hệ thống Ngân hàng thì thiếu tiền mặt nghiêm trọng, nạn khất nợ trở thành phổ biến trong khi tiền ngoài lưu thông tràn ngập, các nhu cầu vay qua ngân hàng bị từ chối vì không có nguồn để đáp ứng Người có hàng thì mặc sức tăng giá với tốc độ lớn hơn tốc độ lạm phát, người có thu nhập bằng tiền thì bị tước đoạt dần Cũng theo các nhà kinh tế học cổ điển thì dường như nạn lạm phát dưới chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn do

ý chí chủ quan của giai cấp bóc lột thông qua quyền thao túng hệ thống các ngân hàng (trước hết là NHTƯ) gây ra Từ đó, họ đã nhìn lạm phát như một tai họa từ phía thể chế mà muốn khắc phục nó hầu như chỉ có thể thông qua một cuộc cách mạng tư sản Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì lạm phát là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng

bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy ra ở bất kỳ chế độ xã hội nào Các nhà kinh tế này cho rằng biểu hiện của lạm phát là: mức giá chung của hàng hóa và chi phí sản xuất đồng thời tăng lên một cách phổ biến trong một khoảng thời gian đủ dài để nhận

rõ xu hướng này Do đó, nếu giá cả chỉ tăng ở một vài nhóm hàng mang tính đột biến hay tính thời vụ thì phải loại bỏ các yếu tố đó theo cách tính chỉ số lạm phát cơ bản Lạm phát phản ánh thuần túy quan hệ hàng - tiền trên một quy mô phổ biến và có thời gian đủ dài để khẳng định xu hướng của nó Nguyên nhân của lạm phát bao gồm một

Trang 15

tổ hợp rất nhiều những nhân tố trong đó có thể chia ra thành một số nhóm chủ yếu như: lạm phát do cầu kéo, lạm phát do chi phí đẩy, lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế và lạm phát do tình trạng không ổn định về kinh tế - chính trị - xã hội tạo thành tâm lý đẩy giá lên và đồng tiền bị mất uy tín trong nền kinh tế Trong các nhân tố nói trên, ba nhóm nhân tố đầu tiên có tác động mang tính thường xuyên và cơ bản nhất đến các cấp độ phát sinh của lạm phát

Vậy một điều cần rút ra ở đây là: Dù theo quan điểm nào thì nói chung lạm phát vẫn là một hiện tượng kinh tế khách quan và là đối tượng cần đặc biệt quan tâm của mọi CP Trong nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ nói chung và nền kinh tế thị trường nói riêng, người ta không thể chối bỏ lạm phát nhưng nếu nhận thức đúng bản chất kinh tế của nó thì vẫn có thể chế ngự và kiểm soát được lạm phát Mặt khác, nguyên nhân của lạm phát là không hoàn toàn do chiếc máy bơm tiền của NHTƯ tạo ra mặc dù suy cho cùng thì bản chất của lạm phát vẫn là hiện tượng kinh tế nảy sinh trong mối quan hệ không tương thích một cách phổ biến giữa cung và cầu hàng hóa trong cơ chế thị trường mà ở đây, "cung" là hàng và "cầu" là tiền Cần phải bình tĩnh nhận định và chủ động chế ngự các khả năng bùng nổ những nhân tố tiềm ẩn của lạm phát

1.3 CÁCH ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT

1.3.1 Cách đo lường lạm phát trên thế giới

Ở Mỹ, FED chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân làm cơ sở cho các quyết định của mình Chỉ số này rộng hơn CPI và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đo rất tốt cho tình trạng lạm phát hiện thời

Với đa số các nước khác, NHTƯ thường sử dụng CPI đã được hiệu chỉnh yếu

tố mùa vụ vì không có được số liệu của chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân tốt như

Mỹ

Đáng lưu ý hơn cả là FED và một số NHTƯ của Úc, New Zealand, Nhật đã loại bỏ một số loại hàng hóa có độ biến thiên lớn (lương thực, năng lượng, lãi suất mua nhà) ra khỏi rổ hàng hóa tính chỉ số lạm phát cơ bản Các ngân hàng này cho rằng những thành phần nói trên dù có biên độ dao động lớn nhưng về lâu dài không làm ảnh

Trang 16

hưởng đến xu hướng chung của lạm phát, nên không ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát Hơn nữa, sự biến động của các nhóm hàng này thường nằm ngoài khả năng kiểm soát

và tầm ảnh hưởng của NHTƯ nên họ cũng không thể can thiệp

Ảnh hưởng của việc loại bỏ các yếu tố có độ biến thiên lớn ra khỏi rổ hàng hóa tính CPI rất quan trọng cho Việt Nam Hiện tại, nhóm hàng hóa lương thực thực phẩm

đã chiếm khoảng 42,85% và giá cả của mặt hàng lương thực thực phẩm của Việt nam

có độ biến thiên cao hơn so với nhiều nước

1.3.2 Cách đo lường lạm phát của Việt Nam

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá bán lẻ của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình

ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc

Ở Việt Nam, lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát, là suất tăng của mức giá tổng quát theo thời gian Thước đo phản ánh mức giá tổng quát phổ biến nhất là chỉ

số giá tiêu dùng (viết tắt: CPI) CPI là một tỷ số phản ánh của rổ hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó trong năm gốc Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng Trên cơ sở xác định CPI bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước được tính theo công thức:

N

Tỷ lệ lạm phát= (Mức giá hiện tại – Mức giá năm trước) x 100%

Mức giá năm trước

Trang 17

Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán Mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc Nhược điểm thứ hai của chỉ số này là phản ánh sự biến động của giá hàng hóa tư bản, không phản ánh

sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau theo thời gian

1.4 PHÂN LOẠI LẠM PHÁT

Tùy theo tiêu thức phân loại lạm phát mà có các loại lạm phát khác nhau Thông thường việc phân loại lạm phát trên cơ sở định lượng và định tính

Về mặt định lượng, người ta phân loại lạm phát dựa trên tỷ lệ phần trăm lạm

phát được tính trong năm Theo đó, lạm phát được chia thành 3 loại như sau: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát

1.4.1 Lạm phát vừa phải

Lạm phát vừa phải là lạm phát ở mức 1 con số nguyên (tỷ lệ tăng giá cả hàng hóa trong khoảng 10% trở lại) Ở mức độ lạm phát vừa phải, giá cả tăng chậm, dao động xung quanh mức tăng tiền lương Trong điều kiện như thế, giá trị tiền tệ không biến động nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển

Khi giá cả tăng vượt ra khỏi mức độ hợp lý trên, người ta nói lạm phát đang bước vào giai đoạn tăng cao

1.4.2 Lạm phát phi mã

Lạm phát cao là lạm phát với tốc độ 2 con số (từ 20%/năm đến dưới 100%/năm), mức độ tăng của giá cả hàng hóa lúc này giống như ”Một con ngựa bất kham đang tung vó để chạy” Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất bị đình trệ, nền tài chính bị phá hoại Nếu không có biện pháp thích hợp để “ghìm chân chú ngựa” thì nền kinh tế sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng siêu lạm phát

1.4.3 Siêu lạm phát

Siêu lạm phát là lạm phát với tốc độ 3 con số trở lên, thậm chí người ta không thể đo lường lạm phát bằng số % mà bằng số lần tăng giá trong năm Siêu

Trang 18

lạm phát thường xảy ra do các biến cố lớn như chiến tranh, khủng hoảng chính trị dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội Khi những biến cố lớn xảy ra, sự thâm thụt ngân sách khiến Chính phủ phải phát hành tiền giấy để bù đắp dẫn đến siêu lạm phát Siêu lạm phát có sức phá huỷ toàn bộ hoạt động kinh tế và nền kinh tế bị suy thoái nghiêm trọng Có thể ví siêu lạm phát như cơn sóng thần trong kinh tế

Về mặt định tính: lạm phát được chia thành nhiều loại khác nhau, tùy theo

tính chất của lạm phát mà người ta chia ra các loại cơ bản sau:

• Lạm phát thuần túy: Là trường hợp đặc biệt của lạm phát, hầu như giá cả

của mọi hàng hóa đều tăng lên cùng một tỷ lệ trong cùng một đơn vị thời gian

• Lạm phát cân bằng: Là loại lạm phát có mức giá chung tăng tương ứng với

mức thu nhập

• Lạm phát được dự đoán trước: là lạm phát mà mọi người có thể dự đoán

trước nhờ vào sự diễn tiến liên tục theo chuỗi thời gian trong nhiều năm

• Lạm phát không được dự đoán trước: là lạm phát xảy ra bất ngờ, ngoài sự

tiên liệu của mọi người về quy mô, cường độ cũng như mức độ tác động

• Lạm phát cao và lạm phát thấp: lạm phát cao là mức lạm phát mà tỷ lệ tăng

thu nhập thấp hơn tỷ lệ lạm phát Ngược lại, lạm phát thấp là mức tăng thu nhập cao hơn mức độ tăng của tỷ lệ lạm phát

Như vậy, có thể phân loại lạm phát theo nhiều mức độ khác nhau để có những biện pháp kiểm soát thích hợp Song, biện pháp “phòng chống” hay “chữa trị”cũng còn phải căn cứ vào nguyên nhân gây “bệnh”

1.5 TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN NỀN KINH TẾ

Lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác nhau, phụ thuộc đáng kể vào cơ cấu thể chế (cả nhà nước và tư nhân) của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thích nghi với mức lạm phát hiện hành và khả năng dự báo lạm phát

Trang 19

1.5.1 Tác động tích cực của lạm phát

Lạm phát vừa phải được xem là giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến khích huy động vốn và tăng tính linh hoạt giá cả Tỷ lệ lạm phát thấp có thể giúp “bôi trơn” thị trường hàng hoá, lao động và tăng tính linh hoạt tương đối đối với giá cả Nếu giá cả (kể cả tiền lương và giá cả của các nhân tố khác) giảm xuống với tính linh hoạt thấp và nếu các ngành sản xuất khác nhau có mức cầu và năng suất tăng không đồng đều thì giá cả tăng nhẹ có thể tạo ra một mức độ linh hoạt giá

cả tương đối lớn cần thiết cho việc phân bổ hiệu qủa các nguồn lực Tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định sẽ tạo ra một trong những động lực mạnh nhất để giúp đạt được mức tăng trưởng ổn định

1.5.2 Tác động tiêu cực của lạm phát

Lạm phát xảy ra ngoài dự tính sẽ tạo nên biến động bất thường về giá trị tiền

tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế xã hội Có thể kể ra một số hậu quả của lạm phát như sau:

• Một là, lạm phát kìm hãm tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực

của đời sống kinh tế xã hội

Lạm phát làm cho thu nhập thực của người lao động bị giảm sút, có thể kéo theo các cuộc đình công đòi tăng lương với qui mô lớn, dài ngày làm ngừng trệ

sự tăng trưởng kinh tế

Lạm phát còn làm cho lãi suất danh nghĩa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự tính tăng lên (lãi suất thực = lãi suất danh nghiã - tỷ lệ lạm phát), nếu lạm phát dự tính không phù hợp với lạm phát thực tế, nó sẽ làm ảnh hưởng đến mức lãi suất thực Kết quả là ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, do lạm phát, giá cả vật tư hàng hoá, nguyên liệu tăng nên khu vực sản xuất kinh doanh mỗi ngày một thu hẹp, ngược lại dịch vụ, thương mại lại phát triển (buôn bán có lợi hơn) dẫn đến khủng hoảng kinh tế

và trật tự kinh tế bị rối loạn

Trang 20

Trong lĩnh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây khó khăn cho việc xác định mức sinh lợi chính xác của các khoản đầu tư, khiến cho các nhà đầu tư ngần ngại khi tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án dài hạn, làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế

Trong lĩnh vực lưu thông phân phối, giá cả hàng hoá tăng đã gây nên tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hoá vì thế làm mất cân đối giả tạo quan hệ cung cầu làm cho lĩnh vực lưu thông bị rối loạn

• Hai là, lạm phát làm cho đời sống dân cư gặp khó khăn hơn

Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên, giá cả hàng hoá tăng, trong khi thu nhập không tăng, hoặc tăng chậm (đặc biệt là những người làm công ăn lương) ngày càng gặp khó khăn

• Ba là, lạm phát làm rối loạn hệ thống tiền tệ

Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm, lưu thông tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên một cách đột biến càng làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống nhanh chóng hơn Hoạt động của hệ thống tín dụng ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng, do nguồn tiền gửi trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh Tình hình đó làm cho hệ thống tiền tệ bị rối loạn và không thể kiểm soát nổi

• Bốn là, lạm phát làm xấu đi tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế

Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát nước ngoài (có quan

hệ mậu dịch) thì giá cả hàng hoá trong nước trở nên mắc hơn so với giá cả hàng hoá nước ngoài, do đó làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, làm xấu đi tình trạng tài khoản vãng lai Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng lai có thể tạo nên tâm lý trông đợi một sự giảm giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ gây áp lực tăng tỷ giá,

từ đó càng đẩy mức giá cả chung tăng lên

• Năm là, lạm phát làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp

Mức giá chung tăng lên có thể gây nên sự giảm sút của tổng cầu và công

ăn việc làm, do đó gia tăng tỷ lệ thất nghiệp (vì khu vực sản xuất sẽ bị thu hẹp)

Trang 21

Như vậy, có thể thấy ngoại trừ trường hợp lạm phát vừa phải còn có tác động tích cực đến nền kinh tế, các loại lạm phát còn lại đều gây ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội Vì vậy, việc tìm ra giải pháp thích hợp để kiềm chế lạm phát là một vấn đề cần thiết

Trong khuôn khổ luận văn, học viên đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát với 3 biến số vĩ mô: tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp và cán cân thanh toán

Nguồn số liệu này được lấy từ Tổng Cục Thống Kê Đối với tỷ lệ thất nghiệp, học viên chọn chỉ số về tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị Đối với cán cân thanh toán, học viên chọn tỷ lệ nhập siêu để nghiên cứu

Sau khi thu thập dữ liệu mẫu về các biến này, lần lượt tiến hành hồi quy nhằm ước lượng mối quan hệ giữa lạm phát và 3 biến số bằng phần mềm Stata, phiên bản 11.0 Để đảm các ước lượng của hàm hồi quy là không chệch, tuyến tính

và tốt nhất, phải tiến hành một số kiểm định cần thiết như đa công tuyến, dạng hàm,

tự tương quan, phân phối chuẩn của phần dư hồi quy (Phụ lục 14)

1.6 NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT

Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát Các nguyên nhân này có thể xuất phát từ phía tổng cầu trong nền kinh tế, cũng có thể xuất phát từ phía tổng cung và cũng có thể là nguyên nhân xuất hiện đồng thời ở cả phía cung lẫn phía cầu Khi quan sát thực tế, người ta nhận thấy rằng, trong môi trường có lạm phát thì bản thân môi trường đó cũng có thể có khả năng và là nguyên nhân thúc đẩy hoặc tiếp tục gây ra một chu trình lạm phát mới, tức là tạo sự luẩn quẩn trong vòng xoáy lạm phát

1.6.1 Lạm phát do chi phí đẩy

Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít trong khi chi phí tăng lên (chi phí sản xuất tăng vượt quá mức tăng của năng suất lao động) thì sẽ sinh ra lạm phát chi chí đẩy Chi phí sản xuất tăng lên tạo áp lực “Đẩy” giá bán sản phẩm tăng lên hay làm giảm mức cung ứng hàng hoá của xã hội, như vậy lạm phát trong trường hợp này là do các yếu tố sản suất và tiêu thụ hàng hoá gây ra

Trang 22

Chi phí tăng lên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau:

- Mức tăng tiền lương vượt quá mức tăng năng suất lao động: Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thường phải chịu rất nhiều áp lực về vấn đề tiền lương Trong ngắn hạn, chi phí nhân công ổn định do bị hạn chế bởi hợp đồng lao động song trong dài hạn do áp lực của công đoàn, do thuế thu nhập và các yếu tố khác làm cho tiền lương nhân viên chịu sức ép nâng lên Khi lương tăng, giá cả hàng hoá sẽ tăng Quy trình này tác động bởi yếu tố hành chính, có nghĩa khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp phải tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận Khi giá cả hàng hoá nói chung và tiêu dùng nói riêng tăng lên thì người lao động tìm mọi cách để tăng lương Khi lương tăng, giá cả lại tăng Đến lượt mình, các doanh nghiệp lại tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận Nhà kinh tế học người Scotland Adam Smith gọi sự vận hành của cơ chế này là đường xoáy trôn ốc

- Giá nhập khẩu tăng lên tác động trực tiếp tới giá cả trong nước (nếu là hàng tiêu dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc làm tăng chi phí sản xuất (nếu

là đầu vào của quá trình sản xuất) Giá hàng nhập khẩu tăng lên có thể do lạm phát của nước ngoài cao làm cho giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ

bị mất giá so với đồng tiền của những nước có quan hệ mậu dịch…

- Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lời của các nhà đầu tư nên đẩy giá cả tăng lên Để duy trì mức sinh lời mong muốn, hoặc các doanh nghiệp tăng

tỷ lệ lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán hàng hoá sẽ làm cho giá cả tăng, việc tăng giá trong trường hợp này mang tính chất hành chính tích cực nhằm duy trì lợi nhuận ở mức mong muốn Việc này thường xảy ra trong điều kiện độc quyền Một số nước gọi là “lạm phát hành chính”

Trang 23

trong biểu thức là do hàng hóa nhập khẩu làm phong phú thêm hàng hóa trong nước và làm giảm căng thẳng cho tổng cầu) Tổng cầu tăng có thể do một hoặc một số yếu tố trong vế bên phải của biểu thức tăng lên:

- Chính phủ tăng các khoản chi tiêu cho an ninh quốc phòng, các khoản đầu

tư làm cho tổng cầu tăng

- Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở trong nước, ngoài nước hoặc NHTƯ

- Các hộ gia đình tăng chi tiêu do mức thu thập tăng hoặc được Chính phủ giảm thuế, tăng trợ cấp

- Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng tốc

độ lưu thông tiền tệ Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ lưu thông tiền tệ gia tăng

- Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát triển kinh tế trong nước và cả ngoài nước hay do lãi suất giảm

- CSTT mở rộng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân dễ tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn đến nhu cầu chi tiêu nhiều hơn

- Các yếu tố liên quan đến nhu cầu nước ngoài như: Tỷ giá hối đoái, mức thu nhập của cư dân nước ngoài… làm gia tăng nhu cầu hàng hóa xuất khẩu kéo theo tổng cầu gia tăng

Như vậy, khi tổng cầu tăng thì sẽ gây áp lực tăng giá và xảy ra tình trạng lạm phát trong ngắn hạn Song, nếu nền kinh tế chưa đạt được mức sản lượng tiềm năng thì việc tăng tổng cầu trong trường hợp này trở thành một chính sách lạm phát có hiệu quả để thúc đẩy sản xuất xã hội làm cho kinh tế tăng trưởng, từ đó tổng cung sẽ tăng, sản lượng của nền kinh tế tăng lên

1.6.3 Lạm phát tiền tệ

Cung tiền tăng khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát

Trang 24

Nghiên cứu học thuyết khối lượng tiền tệ của Fisher, chúng ta sẽ thấy rõ hơn bản chất của vấn đề Đối với công thức khối lượng tiền tệ: MV = PY, trong đó M: cung tiền tệ, V: tốc độ vòng quay, P: mức giá cả, Y: tổng sản phẩm (không đổi trong ngắn hạn), PY tương đương GNP danh nghiã Học thuyết này cho rằng khi tăng lượng tiền cung ứng thì mức giá cả cũng tăng theo tương ứng (vì V và Y gần như không đổi trong ngắn hạn)

Nội dung học thuyết tập trung luận giải những yếu tố hình thành giá cả có liên quan trực tiếp đến: (i) quá trình hình thành và phát triển thị trường tiêu dùng; (ii) cung hàng hoá và dịch vụ; (iii) mối tương quan giữa cung và cầu hàng hoá; (iiii) giá cả sản xuất Tất cả các yếu tố hình thành giá cả được xem xét như là nguyên nhân tăng giá Có thể nhận thấy rằng giá cả năng lượng, nguyên liệu…có tác động đến lạm phát Song sự tác động này phải nằm trong mối liên hệ của 4 yếu tố nêu trên (thị trường tiêu dùng, cung, mối tương quan giữa cung cầu, giá cả sản xuất)

1.6.4 Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế

Là lạm phát xuất hiện khi có quan hệ không bình thường trong các cân đối cơ

bản của nền kinh tế như: Công nghiệp - Nông nghiệp, Công nghiệp nặng - Công nghiệp nhẹ, Sản xuất - Dịch vụ, Xuất khẩu - Nhập khẩu, Tích lũy - Tiêu dùng Các quan hệ nói trên không được đặt trong một hoàn cảnh kinh tế cụ thể để có định hướng cân đối một cách hợp lý sẽ lập tức gây ra hiện tượng đông cứng một bộ phận nguồn lực kinh tế, giữa chúng không chuyển hóa được cho nhau tạo ra một trạng thái vừa thừa vừa thiếu các năng lực sản xuất giả tạo Vì vậy, có thể gọi nhóm nguyên nhân gây ra loại lạm phát này là sự ách tắc các nguồn vốn Các lợi thế so sánh giữa các vùng trong nội bộ nền kinh tế và lợi thế so sánh giữa các quốc gia không được khai thác làm cho sức phát triển bị "đóng băng" hóa

1.7 KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

Sau khi tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến lạm phát, chúng ta bàn tiếp làm thế nào kiềm chế lạm phát Để kiềm chế lạm phát tốt, trước hết cần tìm hiểu nguyên nhân các mối tương tác giữa các chỉnh thể cấu thành trong nền kinh tế, tiên liệu được tình hình kinh tế có thể xảy ra Từ đó, xây dựng các hệ thống giải pháp đồng

Trang 25

bộ, phối hợp nhịp nhàng với nhau nhằm can thiệp kịp thời Các giải pháp đó trước hết cần hiểu tường tận, thấu đáo và sử dụng thành thạo các công cụ của chính sách

vĩ mô; tăng cường công cuộc cải tổ hệ thống kinh tế theo hướng rõ ràng, minh bạch nhằm tạo môi trường thông thoáng, có thể giám sát kiểm tra dễ dàng; xây dựng hệ thống các chỉ số kinh tế vĩ mô một cách chi tiết để làm căn cứ đưa ra báo động khác nhau và là cơ sở quyết định các chính sách vĩ mô nói chung và kiềm chế lạm phát nói riêng

1.7.1 Nhóm giải pháp tác động vào cung

Giải pháp hạn chế sự gia tăng của chi phí: Giải pháp cơ bản là tác động vào mối

quan hệ giữa mức tăng tiền lương và mức tăng năng suất lao động xã hội Nếu thành công, giải pháp này sẽ hạn chế những đòi hỏi tăng tiền lương bất hợp lý dẫn đến vòng luẩn quẩn lương - tiền - giá Đi kèm với cơ chế tiền lương, các nước tiến hành chính sách kiểm soát giá cả nhằm hạn chế sự biến động của tiền lương thực tế, tránh rơi vào vòng xoáy lạm phát lương - giá - tiền

Giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng hàng hoá: Nhằm chặn đứng nhanh

chóng và hiệu quả cơn sốt giá cả vì khan hiếm hàng hoá, các nước thường cho nhập khẩu các mặt hàng đang thiếu và lên giá

1.7.2 Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu

Chính phủ các nước có lạm phát thường tìm cách ngăn chặn các nguyên nhân dẫn đến gia tăng khối tiền, đồng thời tăng thu cho ngân sách nhằm rút ngắn cách biệt giữa thu và chi (giảm bội chi), dần dần tiến đến cân bằng thu chi ngân sách

1.7.3 Nhóm giải pháp tác động vào chính sách tiền tệ

NHTƯ các nước thông qua việc quản lý và sử dụng các công cụ của CSTT

để tác động trực tiếp làm giảm khối tiền trong lưu thông, tức là thực hiện một CSTT thắt chặt- vừa rút bớt tiền từ lưu thông vừa hạn chế cung ứng tiền ra lưu thông

1.7.4 Nhóm giải pháp tác động vào cơ cấu kinh tế

Chính phủ các nước chú trọng hơn nữa tính cân đối của các mối quan hệ Công nghiệp - Nông nghiệp, Công nghiệp nặng - Công nghiệp nhẹ, Sản xuất - Dịch

vụ, Xuất khẩu - Nhập khẩu, Tích lũy - Tiêu dùng trong nền kinh tế gắn liền với quá

Trang 26

trình phân công lao động xã hội - là quá trình chuyển dịch lao động giữa các ngành Đồng thời, nâng cao năng suất lao động, áp dụng các phương pháp sản xuất, công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất, trong đó có cả sản xuất nông nghiệp Hình thành các vùng kinh tế dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, gắn với nhu cầu của thị trường gắn liền với phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Xoá bỏ tình trạng chia cắt về thị trường giữa các vùng; xoá bỏ tình trạng tự cung tự cấp, đặc biệt là tự cung, tự cấp về lương thực của từng vùng, từng địa phương Mỗi địa phương cần đặt mình trong một thị trường thống nhất, không chỉ là thị trường cả nước mà còn là thị trường quốc tế, trên cơ sở đó xác định những khả năng, thế mạnh của mình để tập trung phát triển, tham gia vào quá trình phân công và hợp tác lao động có hiệu quả

1.8 KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.8.1 Các biện pháp kiềm chế của các nước

Việc đưa ra các giải pháp kiểm soát lạm phát thường xuất phát từ sự phân tích đúng đắn nguyên nhân gây nên lạm phát, bao gồm nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp Để giải quyết các nguyên nhân sâu xa cần phải có thời gian và đi kèm với các cuộc cải cách lớn Còn nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng lên Thông thường để tác động vào các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát

và kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mong muốn, Chính phủ các nước sử dụng một hệ thống các giải pháp tác động vào tổng cầu hoặc tổng cung nhằm làm giảm sự gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia tăng chi phí

Nhật Bản: luôn là một trong những quốc gia ổn định nhất trên thế giới về giá

Trang 27

xây dựng các trung tâm cung cấp sản phẩm hàng hóa bán lẻ để tiện cho Chính phủ kịp thời nắm bắt tình hình, tạo cơ sở nhanh chóng ổn định giá cả

• Xây dựng, kiện toàn hệ thống mạng thông tin, kịp thời công khai các thông tin về thị trường để phòng ngừa lạm phát và các hành động cạnh tranh không lành mạnh

Thái Lan: để kiểm soát sự tăng giá hàng hóa quá nhanh, Chính phủ Thái Lan

đã thực hiện đồng bộ hai biện pháp:

• Coi bốn loại hàng hóa (lương thực, rượu, sữa, bình ắc quy) thuộc vào những mặt hàng bắt buộc chịu sự quản lý về sản xuất, kinh doanh Bất cứ hành vi tăng giá nào của các mặt hàng này đều phải được sự cho phép của Bộ Thương mại

Kế hoạch “lá cờ xanh”- Blue Flag do Chính phủ Thái Lan đề ra yêu cầu các hãng cung ứng hàng hóa phải đưa ra thị trường các loại thực phẩm đi kèm với sự tiện lợi về dịch vụ giao hàng và giá phải rẻ hơn những cửa hàng thông thường

• Chính phủ đẩy mạnh hoạt động tấn công các hành vi vi phạm giá bán của hàng hóa và bất cứ ai đầu cơ tích trữ, căn cứ vào pháp luật để phạt tiền rất cao, nếu nghiêm trọng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự

Mỹ

Fed kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạt động thị trường

mở mà qua đó Fed mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, giấy tờ có giá Những tổ chức tham gia mua bán với Fed gọi là người giao dịch ưu tiên (primary dealers) Tất cả hoạt động thị trường của Fed ở Mỹ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên bang gần với tỷ lệ lạm phát mục tiêu Cụ thể:

• Thỏa thuận mua lại (cho vay hoặc đi vay có thế chấp): Bàn giao dịch thị

trường của Ngân hàng dự trữ liên bang New York tham gia các thỏa thuận mua lại các loại giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu ) với những nhà giao dịch ưu tiên trong thời gian ngắn, có đảm bảo của Fed Trong ngày giao dịch, Fed sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp Khi hết hạn giao dịch, Fed hoàn lại chứng khoán và nhận lại tiền cùng lãi Thời hạn giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày

Trang 28

(cho vay qua đêm) tới 65 ngày, phần lớn giao dịch là 1 ngày(cho vay qua đêm) và

14 ngày Các giao dịch làm tăng quỹ dự trữ của ngân hàng trong thời gian ngắn, từ

đó tăng nguồn cung tiền tệ Hiệu quả của hoạt động này là tạm thời bởi các giao dịch sẽ đáo hạn, tác động dài hạn là DTBB của ngân hàng tại Fed giảm đi bởi lãi suất của giao dịch Chẳng hạn, Ngân hàng sẽ vay 1 ngày, lãi suất một ngày là 0,0121% thì DTBB của Ngân hàng tại Fed sẽ giảm 1 lượng tiền lãi vay tương ứng với lãi suất 0,0121%

• Thỏa thuận bán lại (reverse repo): Fed sẽ vay tiền từ các người giao dịch

ưu tiên bằng cách đặt cọc các chứng khoán chính phủ Khi giao dịch đáo hạn, Fed

sẽ hoàn trả tiền và các khoản lãi Hiệu quả của hoạt động này cũng làm cho lượng

dự trữ của Ngân hàng tại Fed tăng lên và giảm quỹ dự trữ của Ngân hàng trong thời gian vay Fed tiến hành giao dịch mua, bán hàng ngày nhằm tạm thời tăng, giảm nguồn cung tiền tệ

• Giao dịch mua đứt: Fed mua lại trái phiếu chính phủ và cung cấp giấy

bạc mới vào tài khoản của người giao dịch đặt tại Fed Bởi hoạt động này là mua đứt nên tăng cung tiền tệ lâu dài song khi trái phiếu hết hạn khoản lãi vẫn được thu, thông thường là 12-18 tháng

• Bán quyền mua trái phiếu chính phủ: Từ những năm 1980, Fed cũng bán

quyền mua trái phiếu chính phủ ở mức lãi suất cao Việc bán quyền mua này giảm nguồn cung tiền tệ bởi các nhà giao dịch ưu tiên sẽ bị khấu trừ tài khoản dự trữ của

họ đặt tại Fed, do đó mà quá trình tạo ra tiền lưu thông bị hạn chế

Các nước khác

Hiện nay, NHTƯ các nước trên thế giới như Anh, Đức, Singapore, Thái Lan đang điều hành CSTT dựa trên lạm phát mục tiêu

1.8.2 Các bài học kinh nghiệm

Từ thực tế kiểm soát lạm phát của các nước, có thể thấy các biện pháp kiểm soát lạm phát của các nước đều có các điểm chung sau:

- Các nước rất chú trọng đến việc bình ổn các mặt hàng thiết yếu nhưng ảnh hưởng mạnh đến giá cả tiêu dùng như lương thực, thực phẩm, xăng dầu Ở Việt

Trang 29

Nam, giá các mặt hàng này luôn biến động, từ đó ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp lên chỉ số giá tiêu dùng CPI song chúng ta vẫn chưa có biện pháp kiểm soát hữu hiệu

- Các nước quan tâm đến tính minh bạch và công khai của các chỉ tiêu kinh

tế Song ở Việt Nam, do nhiều nhân tố khách quan lẫn chủ quan, các chỉ tiêu này vẫn chưa thể hiện tính xác thực và không phải chỉ tiêu nào người dân cũng có thể biết được thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các cổng thông tin của các cơ quan nhà nước

- Các nước chú trọng đến việc xây dựng và kiện toàn hệ thống thông tin kịp thời Đây là nhân tố giúp Chính phủ nắm bắt thông tin kịp thời để có chính sách ngăn chặn ngay lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô

- Các nước đều kiên quyết chống nạn đầu cơ và cạnh tranh không lành mạnh

- Các nước đang hướng đến điều hành CSTT dựa trên lạm phát mục tiêu

- Các nước hạn chế tối đa việc tác động vào thị trường tiền tệ bằng các công

cụ hành chính mà hướng vào tính tự điều chỉnh của thị trường

Có thể thấy, một số chính sách của các nước Việt Nam hiện chưa có chủ trương hoặc có chủ trương nhưng chưa có biện pháp thực hiện hiệu quả Do đó, các biện pháp kiềm chế lạm phát của các nước sẽ là kinh nghiệm vô cùng quý giá trong vấn đề kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Lạm phát vẫn là một đề tài được tranh luận sôi nổi, hầu như các nhà kinh tế đều đồng ý khi lạm phát xảy ra sẽ kéo theo tình trạng leo thang của giá cả Để đo lường lạm phát, người ta sử dụng các chỉ số giá trong đó thông dụng nhất là CPI Lạm phát tác động xấu hay tốt đối với nền kinh tế còn tùy thuộc vào mức độ của nó, song khi nhắc đến lạm phát người ta đều hình dung đến những hậu quả mà nó để lại cho nền kinh tế, vì vậy các quốc gia có lạm phát đều tìm cách kiềm chế lạm phát Trên cơ sở những nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát, luận văn đã đề cập đến một

số giải pháp chung để kiềm chế lạm phát Ngoài ra, luận văn cũng đề cập đến một

số giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định tình hình tài chính, tiền tệ của các quốc gia

Trang 30

trên thế giới Đó sẽ là những kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 31

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ KIỀM CHẾ Ở

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2010

2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Thoát khỏi những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, nền kinh tế Việt Nam đã bước sang một thời kỳ hưng thịnh kinh tế với xu hướng tăng trưởng ngày càng đi lên đến năm 2006 Năm 2007, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nóng (tăng trưởng kèm theo lạm phát cao tới 12.6%) với tốc độ tăng trưởng lên đến đỉnh điểm vào quý IV/2007 Sang đến năm 2008, tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu chậm lại khi nền kinh tế bước qua đỉnh cao của một chu kỳ tăng trưởng và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã kéo tốc độ tăng trưởng tụt thấp hơn mức tiềm năng Kinh tế năm 2009 vẫn tiếp tục tăng trưởng với tốc độ thấp trong chu kỳ đi xuống mà đỉnh đầu là thời điểm cuối năm 2007

Hình 2.1:Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm

Trang 32

2.1.2 Xuất nhập khẩu hàng hóa, cán cân thương mại và thanh toán quốc

tế

Tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2000-2008 tăng trưởng liên tục năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, đến năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu lại giảm so với năm 2008 khoảng 6.3 tỷ USD chủ yếu ở dầu thô, cao su, giày dép, cà phê, thủy sản, đồ gỗ và dây cáp điện Sang năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu trong 10 tháng đạt 57,8 tỷ USD, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm 2009, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước là dệt may, thủy sản, điện tử máy tính, gạo, gỗ và sản phẩm gỗ, máy móc thiết

bị, dụng cụ, phụ tùng, cao su, phương tiện vận tải và phụ tùng, dây điện và dây cáp điện, sắt thép, hạt điều, sản phẩm từ chất dẻo Một số mặt hàng xuất khẩu mặc dù lượng xuất khẩu giảm nhưng đơn giá bình quân trên thị trường thế giới tăng nên kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng so với cùng kỳ năm 2009 là: Than đá, xăng dầu Riêng lượng dầu thô xuất khẩu mười tháng giảm mạnh nên kim ngạch chỉ đạt 4 tỷ USD, giảm 24,6% (lượng giảm 44,3%)

Hình 2.2: Tình hình xuất khẩu qua các năm

Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam phần lớn là các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thủy, hải sản Các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công Các mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng, phong phú, số lượng các mặt

Trang 33

hàng xuất khẩu mới có kim ngạch lớn, tốc độ tăng trưởng chưa nhiều Xuất khẩu chủ yếu dựa vào lợi thế khai thác sẵn có mà chưa xây dựng được các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn

Hình 2.3: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu qua các năm

Sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu trong năm 2009 một phần không nhỏ chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như nông, lâm, thủy, hải, khoáng sản xuất khẩu gặp khó khăn do phải chịu những rào cản thương mại mới ngày càng nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu đã và đang bị thu hẹp, các đơn hàng xuất khẩu dệt may, đồ gỗ, một số nông sản vào Mỹ và EU đều giảm do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính Trong khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn thì các chi phí đầu vào không giảm, thậm chí còn tăng như lương công nhân, lãi suất ngân hàng khiến nhiều doanh nghiệp đã và sẽ còn gặp nhiều khó khăn

Tổng kim ngạch nhập khẩu từ năm 2000 đến năm 2008 luôn tăng song năm

2009 lại giảm so với năm 2008 chủ yếu ở xăng dầu, sắt thép, máy móc phụ tùng, nguyên liệu may mặc và da giày Nhập khẩu chủ yếu là tư liệu sản xuất Đến năm

2010, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu trong 10 tháng đạt 67,3 tỷ USD, tăng 20,7%

so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng,

Trang 34

sắt thép, vải, điện tử máy tính và linh kiện, chất dẻo, nguyên, phụ liệu dệt may, giày dép, kim loại thường, hóa chất, sản phẩm hóa chất Kim ngạch nhập khẩu mười tháng của hầu hết các mặt hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của sản xuất trong nước Trong chín tháng năm 2010, Trung Quốc vẫn

là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 14,2 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2009 (Máy móc thiết bị đạt 3,1 tỷ USD)

Hình 2.4:Tình hình nhập khẩu qua các năm

Hình 2.5: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu qua các năm

Cán cân thanh toán từ năm 2000 đến nay luôn trong tình trạng nhập siêu Sang đến năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO đã làm cho nền kinh tế nóng lên

Trang 35

nhanh chóng, tốc độ tăng nhập khẩu bắt đầu vượt xa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu Mặc dù nền kinh tế đã bước vào giai đoạn thu hẹp từ nửa đầu năm 2008 nhưng không thể đảo ngược ngay tốc độ tăng nhập khẩu dẫn đến nhập khẩu tăng ngày càng cao hơn so với xuất khẩu trong suốt cả năm 2007 và nửa đầu năm 2008 Sang năm

2009, nhập siêu hàng hoá vẫn ở mức 12,2 tỷ USD, tuy giảm 32,1% so với năm 2008 nhưng đã bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả năm 2009 Trong 10 tháng năm 2010, nhập siêu hàng hóa đạt 9,5 tỷ USD, bằng 16,4% kim ngạch xuất khẩu

Cán cân vốn giai đoạn 2000-2008 cho thấy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn là thành phần lớn nhất trong số các nguồn vốn đổ vào Việt Nam và thường lớn hơn thâm hụt thương mại (ngoại trừ năm 2008) Nếu cả các nguồn vốn dài hạn khác thì nguồn vốn mang tính chất dài hạn đã thừa đủ để tài trợ cho thâm hụt cán cân thương mại trong cả giai đoạn 2000-2008 Một điểm cần chú ý là các nguồn vốn ngắn hạn đổ vào Việt Nam rất nhiều trong năm 2007, xấp xỉ 9 tỷ USD, tăng khá mạnh về quy mô so với những năm trước, khi thành phần chủ yếu của cán cân vốn vẫn là những khoản đầu tư dài hạn Tuy cán cân thanh toán vẫn lành mạnh nhưng luồng vốn này đã thực sự gây lúng túng trong điều hành chính sách tiền tệ năm

2007 (không kịp trung hòa lượng tiền đồng bỏ ra mua ngoại tệ tăng dự trữ hối đoái

là một nguyên nhân khiến lạm phát gây hậu quả cả sang năm 2008)

2.1.3 Việc làm

Trong những năm gần đây, Việt Nam tạo được trung bình khoảng 8 triệu

việc làm mới mỗi năm cho những người mới tham gia vào lực lượng lao động và lao động di cư Vì số người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp giảm dần theo từng năm kể từ cuối thập kỷ 90 nên những việc làm mới này đã được tạo ra từ khu vực công nghiệp và dịch vụ Từ cuối năm 2008 đến năm 2009, nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã cắt giảm lao động do suy giảm kinh tế Tuy nhiên, không thể nói rằng tất cả những lao động này bị thất nghiệp vì phần lớn những người này đã trở về quê và tìm kiếm một công việc mới (có thể là công việc không phù hợp) nhưng vẫn cho thu nhập, dù có thể là thu nhập thấp Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp năm 2008 và 2009 lần lượt là 4,65% và 4.64%

Trang 36

Chính phủ đã có những giải pháp tổng thể, kịp thời như "Giải pháp chống suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội", giải pháp kích cầu đầu tư, tiêu dùng… để thúc đẩy sản xuất phát triển trở lại, tạo thêm việc làm cho người lao động; Song, các chính sách này triển khai vào thực tế thường có độ trễ

2.1.4 Thị trường chứng khoán

TTCK Việt Nam còn khá non trẻ, mới chỉ ra đời từ năm 2001 Những năm đầu mới thành lập, TTCK hoàn toàn xa lạ với mọi người Đến khoảng năm 2006, TTCK trở thành kênh đầu tư tâm điểm thu hút tất cả mọi người Năm 2006, 2007 TTCK thực sự sôi động Sau đó, năm 2008 TTCK Việt Nam đột nhiên biến thành một trong những thị trường tài chính chao đảo nhất thế giới Đến cuối ngày 20 tháng 6 năm 2008, chỉ số chứng khoán ở mức 366 điểm, giảm 68,63% so với thời điểm cao nhất (1167 điểm), mức độ giảm sút trong một năm thuộc loại cao nhất toàn cầu Sau đó đến nay, TTCK luôn trong trạng thái lình xình, chưa thể phục hồi

Tình trạng sa sút của TTCK của một quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng bao giờ cũng có nguồn gốc sa sút về kinh tế Năm 2008, mức độ lạm phát trên 20% đã làm chao đảo sự tăng trưởng kinh tế, tác động đến tiền tệ và toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia Bên cạnh đó, mức độ lạm phát năm 2008 còn phản ánh tình trạng kinh tế Việt Nam đang phát triển quá nóng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của giới đầu tư trong và ngoài nước Riêng đối với TTCK Việt Nam, không thể không đề cập đến yếu tố tâm lý

Như vậy, sự biến động của kinh tế vĩ mô là nhân tố quan trọng tác động đến TTCK, trong đó lãi suất và tỷ giá hối đoái là những biến số cơ bản Song, xét về quy mô, TTCK Việt Nam còn khá nhỏ nên sự đổ vỡ của TTCK chưa thể tạo nên cuộc khủng hoảng tài chính ghê gớm

2.1.5 Thị trường bất động sản

Nhà đất là thứ tài nguyên khan hiếm không thể tái sinh nên giá bất động sản tăng lên là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng Hơn nữa, các nhà đầu tư bất động sản đều coi việc mua nhà đất là một biện pháp bảo vệ

Trang 37

tốt nhất giá trị của cải và cũng là phòng tuyến bảo vệ cuối cùng Do đó, một số người cho rằng thị trường nhà đất là hầm trú ẩn an toàn nhất để giữ giá trị đồng tiền trong lạm phát

Từ vài năm trước đến năm 2007, giá nhà đất đã tăng vọt Chẳng hạn, năm

2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh, giá nhà đất trung bình là 600 USD/m2 (tăng khoảng 50% so với những năm trước), những nơi có vị thế đẹp ở trung tâm còn lên tới 3000 USD/m2, giá thuê nhà tăng tới 1000-2000 USD/tháng trong khi GDP của Việt Nam mới ở mức 835 USD/người và thu nhập bình quân của dân Thành Phố

Hồ Chí Minh mới vào khoảng 200 USD/tháng Hiện tượng bong bóng trên thị trường nhà đất đã xuất hiện rõ

Tuy nhiên, hiện tượng bong bóng cũng chỉ có thể phồng to đến một mức nào

đó, nếu không giảm lực cho bong bóng thì nó sẽ vỡ tung Lúc đó, các nhà đầu tư nhà đất còn lao đao hơn các nhà đầu tư chứng khoán Thực tế, sau khi tăng cao ngất ngưỡng, giá nhà đất từ giữa năm 2008 đến nay ở các thành phố lớn và hạng trung

đã giảm tới trên 50%, cao hơn cả mức giảm giá nhà đất trong cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ Như vậy, thực tế cho thấy, khi gặp nạn lạm phát, nhà đất vẫn phải quay về với quy luật giá trị: giá cả phải phản ánh giá trị và xoay quanh giá trị Người coi nhà đất là hầm trú ẩn an toàn nhất trong lạm phát đã quên mất hai khâu

cơ bản: nhà đất cần có vốn và thị trường nhà đất cũng có tính chu kỳ

2.2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

Lạm phát ở Việt Nam trong 10 năm qua (2000-2010) luôn thay đổi thất thường: một số năm thiểu phát, rớt xuống mức âm (2000, 2001), một số năm được cải thiện nhưng không bền vững và một số năm lạm phát ở mức hai con số (2007, 2008) mà đỉnh điểm là năm 2008 (22,96%) đã gây khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam ở nhiều mặt

Bảng 2.1: Tỷ lệ lạm phát (%) giai đoạn 2000-2010

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 10T/2010 Lạm

phát -0.6 0.8 4 3 9.5 8.4 6.6 8.3 22.96 6.88 8.75 (*)

Trang 38

Nguồn: Tổng Cục thống kê, (*) là mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng/2010 so với bình quân 10 tháng/2009

Nếu so với lạm phát giai đoạn những năm 1980 thì lạm phát năm 2008 tuy cao nhưng chỉ ở mức hai chữ số Hơn nữa, lạm phát diễn ra trong bối cảnh nền kinh

tế đang đạt mức tăng trưởng cao, hội nhập khu vực ngày càng mở rộng, những cơ hội về sản xuất, tiêu dùng, dịch vụ, xuất khẩu, đầu tư trong nước và nước ngoài đều tăng, mặc dù bên cạnh đó nền kinh tế đang phải chịu không ít thách thức và áp lực

do mức tăng cao của giá dầu, giá lương thực và tình trạng thiếu hụt cán cân ngoại thương ngày càng lớn

2.3 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI CÁC BIẾN SỐ

KINH TẾ VĨ MÔ

Khi lạm phát xảy ra, nó tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, phạm vi tác động của lạm phát là rất rộng Song, trong phạm vi luận văn chỉ đề cập tác động của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp và cán cân thanh toán Phạm vi số liệu từ năm 2000 đến năm 2009

2.3.1 Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế

Đối với bất kỳ quốc gia nào, ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế là hai trong

số những mục tiêu cuối cùng của chính sách kinh tế vĩ mô Hai mục tiêu có mối quan hệ qua lại với nhau: tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề để ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát; ngược lại, kiểm soát lạm phát tốt có tác dụng tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững

Đối với Việt Nam, việc lựa chọn mục tiêu ổn định giá cả và tăng trưởng kinh

tế trong giai đoạn hiện nay không phải dễ dàng Trong khi kinh tế các nước đang phát triển như vũ bão, chúng ta phải hòa mình vào dòng chảy này với mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, bền vững luôn được ưu tiên hàng đầu Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế nhanh thường chứa đựng nhiều nhân tố gây mất cân đối, thậm chí dẫn tới khủng hoảng Nổi bật hơn cả là hiện tượng tăng trưởng quá nóng, lạm phát tăng và không phải quốc gia nào cũng tìm được cách hạ nhiệt an toàn

Trang 39

Phân tích sơ bộ số liệu lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng đồ thị:

Hình 2.6: Đường xu hướng của lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đọan 2000-2009 Phân tích sơ bộ cho thấy tăng trưởng kinh tế biến động cùng chiều với lạm phát Chạy mô hình hồi quy cho dãy số liệu từ 2000 - 2009 cho thấy tăng trưởng kinh tế (Y) có mối quan hệ tương quan với lạm phát (X) thông qua mô hình là Y = 0,0479 X + 7,104 (phụ lục 2: kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát (X) và tăng trưởng kinh tế (Y) bằng phần mềm Stata)

Mô hình cho thấy, khi lạm phát tăng 1% thì kỳ vọng kinh tế tăng trưởng trung bình là 0,0479% Con số này có thể chấp nhận được vì tăng trưởng kinh tế còn chịu tác động của nhiều nhân tố khác ngoài lạm phát song có hai vấn đề cần phải làm

sáng tỏ xung quanh con số này Thứ nhất, con số này thể hiện tốc độ tăng trưởng

kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ lạm phát xem ra có vẻ hợp lý bởi lạm phát trong giai đoạn đang xét ở mức vừa phải nên khi lạm phát tăng lên thì có tác dụng kích thích

kinh tế Thứ hai, mức độ 0,0479 là không cao bởi có thể nhân tố lạm phát làm kinh

tế tăng trưởng, song có những nhân tố khác kìm hãm hoặc làm suy giảm mức độ tăng trưởng

Trang 40

Như vậy, số liệu thống kê qua các năm chưa thể hiện mối tương quan mạnh giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tính trung bình cho các giai đoạn chúng ta có thể kết luận lạm phát quá cao và quá thấp thường được kết hợp với tăng trưởng kinh tế thấp, trong khi tăng trưởng kinh tế nhanh thường được kết hợp với mức lạm phát vừa phải (3- 6%) Bên cạnh đó, tỷ lệ lạm phát cao 12,6%(năm 2007), 22,96% (năm 2008) trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ khoảng 8,48% (năm 2007), 6,32% (năm 2008) cho thấy tình trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, chúng ta đã quá chú trọng đến lượng mà quên đi chất của tăng trưởng Nếu chúng ta không giải quyết vấn đề ngay thì hiện tượng lạm phát tăng cao hơn tăng trưởng kinh

tế sẽ trở thành hiện thực trong thời gian tới

2.3.2 Tác động của lạm phát đến với tỷ lệ thất nghiệp

Nhà kinh tế học người New Zealand, AW Phillip đã chứng minh mối quan

hệ nghịch biến giữa lạm phát và thất nghiệp với một mức lạm phát dự tính và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cho trước Thông qua đường cong Phillips, ông đã chỉ ra giá phải trả cho 1% giảm tỷ lệ lạm phát là sự giảm sút công ăn việc làm

Như vậy, các Chính phủ nên duy trì lạm phát Nếu lạm phát bị triệt tiêu (lạm phát bằng 0) và chuyển động theo hướng ngược lại tức là giảm phát sẽ khiến kinh tế

bị trì trệ, do vậy không tạo thêm được việc làm mới mà việc làm hiện có cũng bị mất, ảnh hưởng lan truyền đến các vấn đề xã hội như an ninh, trật tự, tội phạm …

Thông qua số liệu lạm phát, thất nghiệp giai đoạn 2000 -2009, học viên sẽ kiểm tra lại mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp bằng phương pháp hồi quy tuyến tính Phân tích sơ bộ số liệu:

Ngày đăng: 18/05/2015, 00:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Dờn (2005), Tiền tệ ngân hàng, Nxb thống kê, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Đăng Dờn
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2005
2. TS. Nguyễn Duệ (2000), Chính sách mục tiêu lạm phát, Nxb thống kê, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách mục tiêu lạm phát
Tác giả: TS. Nguyễn Duệ
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2000
4. ThS.Đinh Nguyễn An Khương (2008), “Chống lạm phát và nâng cao hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước”, Tạp chí tài chính (4), tr 37-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống lạm phát và nâng cao hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước”, "Tạp chí tài chính
Tác giả: ThS.Đinh Nguyễn An Khương
Năm: 2008
5. Nguyễn Lư, biên dịch và tổng hợp (2009), Chiến tranh lạm phát, Nxb lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh lạm phát
Tác giả: Nguyễn Lư, biên dịch và tổng hợp
Nhà XB: Nxb lao động
Năm: 2009
6. TS. Nguyễn Đức Thành (2009), Kinh tế Việt Nam 2008 suy giảm và thách thức đổi mới, Nxb Tri thức, TP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 2008 suy giảm và thách thức đổi mới
Tác giả: TS. Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2009
8. T.S Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Th.S Phan Nữ Thanh Thủy (2006), Kinh tế vĩ mô, Nxb Phương Đông, TP Hồ Chí Minh.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
Tác giả: T.S Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Th.S Phan Nữ Thanh Thủy
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2006
9. ADB (2005), Financial Management and Analysis of Projects, Manila, Philippines Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Management and Analysis of Projects
Tác giả: ADB
Năm: 2005
10. Oriol Aspachs, Erlend Nier, Muriel Tiesset, Liquidity, banking regulation and the macroeconomy, Bis Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liquidity, banking regulation and the macroeconomy
11. Eddie Cade (1999), Banking risk - Reducing uncertainty to improve bank performance, Glenlake publishing company ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Banking risk - Reducing uncertainty to improve bank performance
Tác giả: Eddie Cade
Năm: 1999
12. Simon Commander (1991), Managing Inflation in Socialist Economies in Transition, The World bank, Washington D.C, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing Inflation in Socialist Economies in Transition
Tác giả: Simon Commander
Năm: 1991
13. Benton E. Gup, James W. Kolari (2005), Commercial banking - The management of risk, John Wiley & Son, Inc.III Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Commercial banking - The management of risk
Tác giả: Benton E. Gup, James W. Kolari
Năm: 2005
3. Đại học Kinh tế TP.HCM-Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Tạp chí Phát triển kinh tế số 210: Chính sách tiền tệ, lạm phát và tăng trưởng kinh tế Khác
25. Website các ngân hàng thương mại Việt Nam và một số website khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1:Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Hình 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm (Trang 31)
Hình 2.2: Tình hình xuất khẩu qua các năm - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Hình 2.2 Tình hình xuất khẩu qua các năm (Trang 32)
Hình 2.3: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu qua các năm - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Hình 2.3 Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu qua các năm (Trang 33)
Bảng 2.1: Tỷ lệ lạm phát (%) giai đoạn 2000-2010 - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Bảng 2.1 Tỷ lệ lạm phát (%) giai đoạn 2000-2010 (Trang 37)
Hình 2.6: Đường xu hướng của lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đọan 2000-2009    Phân tích sơ bộ cho thấy tăng trưởng kinh tế biến động cùng chiều với lạm  phát - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Hình 2.6 Đường xu hướng của lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đọan 2000-2009 Phân tích sơ bộ cho thấy tăng trưởng kinh tế biến động cùng chiều với lạm phát (Trang 39)
Hình 2.7: Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp từ năm 2000-2009 - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Hình 2.7 Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp từ năm 2000-2009 (Trang 41)
Hình 2.8: Đường xu hướng của lạm phát và tỷ lệ nhập siêu từ năm 2000-2009 - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Hình 2.8 Đường xu hướng của lạm phát và tỷ lệ nhập siêu từ năm 2000-2009 (Trang 42)
Bảng 2.2: Điểm và vị trí xếp hạng của Việt Nam theo Tổ chức Minh bạch  Quốc tế (TI - Transparency International) từ năm 2000 đến 2007 - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Bảng 2.2 Điểm và vị trí xếp hạng của Việt Nam theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI - Transparency International) từ năm 2000 đến 2007 (Trang 52)
Bảng 2.3: Lợi nhuận sau thuế của 1 số Ngân hàng đang niêm yết trên thị trường chứng - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Bảng 2.3 Lợi nhuận sau thuế của 1 số Ngân hàng đang niêm yết trên thị trường chứng (Trang 55)
Bảng 2.4: Mức lương tối thiểu trong cơ quan Nhà nước từ năm 1999 đến năm 2009 - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Bảng 2.4 Mức lương tối thiểu trong cơ quan Nhà nước từ năm 1999 đến năm 2009 (Trang 58)
Bảng 2.5: Giá bán điện và xăng A90 giai đoạn 2000 - 2007 ĐVT 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Bảng 2.5 Giá bán điện và xăng A90 giai đoạn 2000 - 2007 ĐVT 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 (Trang 59)
Bảng 3.1: Dự báo các chỉ tiêu kinh tế-xã hội từ năm 2010-2015 - Các giải pháp kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
Bảng 3.1 Dự báo các chỉ tiêu kinh tế-xã hội từ năm 2010-2015 (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w