1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LẠM PHÁT VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM

90 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 622 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thứ hai: khi nghiên cứu lạm phát thì các đề tài đã đưa ra rất nhiều giảipháp và đã được chính phủ đón nhận cũng như tiếp thu và ứng dụng song thực tế làtình trạng lạm phát của Việt Nam

Trang 1

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

Danh Mục Bảng Biểu

Hình 1: Sơ đồ lạm phát chi phí đẩy

Hình 2: Sơ đồ lạm phát cầu kéo

Hình 3: Cơ chế truyền dẫn từ các công cụ CSTT tới lạm phát

Hình 4: Diễn biến lạm phát và GDP của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2006.Hình 5: Diễn biến lạm phát, GDP giai đoạn 2007-2011

Hình 6: Diễn biến DTBB của Việt nam giai đoạn 2007-2011

Hình 7: Diễn biến các mức lãi suất chủ đạo của Việt nam giai đoạn 2007-2011Bảng 8: Diễn biến quá trình điều chỉnh tỷ giá của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011 Hình 9: Biến động tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng

Hình 10: Diễn biến tín dụng và M2 theo quý của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011 Hình 11: Diễn biến CPI và GDP theo quý của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011 Biểu 12: sự biến động hệ số nhân tiền theo tỷ lệ DTBB qua các năm

Trang 3

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

Mục Lục

Danh Mục Bảng Biểu 1

Hình 5: Diễn biến lạm phát, GDP giai đoạn 2007-2011 1

Danh Mục Chữ Viết Tắt 2

Mục Lục 3

Lời mở đầu 6

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tiền tệ và lạm phát 12

1.1.Lý thuyết tổng quát về tiền tệ và quy luật lưu thông tiền tệ 12

1.1.1.Khái niệm và bản chất của tiền tệ 12

1.1.2.Đặc điểm của tiền tệ 13

1.1.3.Phân loại tiền tệ theo các hình thái biểu hiện 15

1.1.3.1.Tiền đúc 15

1.1.3.2.Tiền giấy 16

1.1.3.3.Tiền kế toán 18

1.1.4.Phân loại tiền tệ theo tính “lỏng” 19

1.2.Các học thuyết cơ bản về lạm phát 20

1.2.1.Học thuyết của các nhà kinh tế học hiện đại 20

1.2.1.1.Định nghĩa về lạm phát 20

1.2.1.2.Các tác động ảnh hưởng của lạm phát 21

1.2.1.3.Các nguyên nhân dẫn đến lạm phát 22

- Lạm phát chi phí đẩy: Là hiện tượng mức giá liên tục gia tăng xẩy ra khi đường tổng cung liên tục dịch chyển sang trái Ta hãy xem xét trong các nguyên nhân dẫn đến đường tổng cung dịch chuyển, nguyên nhân nào sẽ mang tính chất lâu dài có nghĩa là làm đường tổng cung liên tục dịch chuyển sang phải thì đó là nguyên nhân gây ra lạm phát chi phí đẩy 22

1.2.1.4.Cơ chế truyền dẫn của Chính sách tiền tệ đến lạm phát 26

1.2.2.Học thuyết của Karl Marx về lạm phát 29

1.2.2.1.Giá trị và giá cả của tiền tệ 29

Trang 4

1.2.2.2.Bản chất của lạm phát 29

1.2.2.3.Cơ chế lạm phát qua quy luật lưu thông tiền tệ giản đơn và đầy đủ 33

1.2.2.4.Tác động ảnh hưởng của lạm phát 39

1.2.2.5.Mối quan hệ giữa lạm phát, giá cả và giá trị 39

2.1.Tổng quan về kinh tế Việt Nam kề 23 năm đổi mới từ 1986-2011: 43

2.1.1 Về tăng trưởng kinh tế: 43

2.1.2.Về lạm phát: 45

2.2.Phân tích lạm phát giai đoạn 2007-2011 và các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ: 46

2.2.1.Diễn biến lạm phát từ năm 2007 đến 2011: 46

Hình 5: Diễn biến lạm phát, GDP giai đoạn 2007-2011 (nguồn Tổng Cục thống kê) 47

2.2.2.Định hướng của Chính phủ về các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát: 47 2.2.3.Các giải pháp tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát giai đoạn 2007-2011 48

2.2.3.Những kết quả đạt được từ việc thực hiện chính sách tiền tệ 52

2.3.Phân tích lạm phát của Việt Nam theo hai học thuyết kinh tế: 53

2.3.1.Phân tích lạm phát dưới lý thuyết kinh tế của Karl Marx 53

2.3.1.1.Mô hình tiền hàng cân bằng của Marx 53

2.3.1.2.Phân tích thực trạng lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2011: 56 2.3.1.3.Đánh giá tính thực tiễn của phương pháp phân tích của Marx: 64

2.3.2.1.Nguyên nhân lạm phát theo phân tích kinh tế hiện đại 70

2.3.2.2.Lý giải các biểu hiện của nền kinh tế sau khi NHNN áp dụng các biện phápthắt chặt tiền tệ: 71

2.3.2.3.Nguyên nhân tính không hiệu quả khi áp dụng lý thuyết hiện đại tại điều kiện Việt Nam 73

3.1.Dự báo về tương lai kinh tế Việt Nam 75

3.2.Đề xuất giải pháp 78

Trang 5

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

3.2.1.Giái pháp mang tính chất ngắn hạn 78

3.2.2.Các giải pháp mang tính chất dài hạn 80

3.2.2.1.Tiến hành phân tách thị trường 80

3.2.2.2.Nhóm giải pháp đối với hệ thống ngân hàng 84

3.2.2.3.Nhóm giải pháp đối với các thị trường tài chính 85

3.2.3.Điều kiện để thực hiện các giải pháp trên 86

Kết luận 89

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo 90

Trang 6

Lời mở đầu

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang là một nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu khá nổi bật như tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao, giảm tỷ lệđói nghèo trong dân cư xuống mức thấp, đời sống của người dân đạt được nhiềucải thiện so với cách đây hơn 20 năm Tuy nhiện thực tế cho thấy nền kinh tế ViệtNam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như tình trạng lạm phát cao, tình trạngthâm hụt thương mại và nợ chính phủ cũng như nợ quốc gia tăng cao Đặc biệt khókhăn lớn hiện nay đối với nền kinh tế Việt Nam chính là tình trạng lạm phát cao đãbắt đâu có xu hướng quay trở lại mức hai con số sau một thời gian dài ngừng ởmức một con số Tình trạng lạm phát đã có những tác động rất lớn không chỉ đếnđời sống của người dân mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến sự tăng trưởng của nềnkinh tế Cụ thể lạm phát cao làm cho suy giảm chất lượng tăng trưởng kinh tế củaViệt Nam rõ rệt, điều này có thể so sánh với nước láng giềng Trung Quốc, mặc dùtốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn Trung Quốc nhưng tỷ lệ lạmphát của Việt Nam lại cao hơn so với Trung Quốc khiến cho thu nhập bình quânthực tế của người Trung Quốc cao hơn nhiều so với Việt Nam, cụ thể ở đây là gấp

5 lần (nếu tính theo sức mua tương đương PPP) Không những vậy tình trạng lạmphát cao còn đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vào tình hình sản xuất khó khăn dogiá các nguyên vật liệu đầu vào tăng cao và sự sụt giảm từ doanh thu thực tế dotình hình lạm phát Bên cạnh đó lạm phát cao còn làm gia tăng khoảng cách giàunghèo trong xã hội và làm tiềm ẩn các nguy cơ bất ổn xã hội

Vậy nên cho đến nay lạm phát đã trở nên quen thuộc trong các đề tài nghiêncứu hiện nay Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học vềtình trạng lạm phát của Việt Nam đồng thời cũng đưa ra rất nhiều các giải pháp chotình trạng lạm phát của Việt Nam nhưng các đề tài khoa học đó đều gặp phải haivấn đề sau:

Trang 7

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

- Thứ nhất: gần như các đề tài đều mang tính chất nghiên cứu chỉ giải thíchlạm phát của Việt Nam là do đầu tư công quá nhiều và dàn trải gây nên lạm pháthay lạm phát được gây nên bởi do tỷ giá Vấn đề này ở chính phương pháp luậnkhi nghiên cứu kinh tế của Việt Nam, đó là các nghiên cứu kinh tế của Việt Namhiện nay vẫn dựa trên cơ sở lý thuyết của hai trường phái chính là trường pháitrọng cầu của Keynes và trường phái trọng tiền của Friedman

- Thứ hai: khi nghiên cứu lạm phát thì các đề tài đã đưa ra rất nhiều giảipháp và đã được chính phủ đón nhận cũng như tiếp thu và ứng dụng song thực tế làtình trạng lạm phát của Việt Nam vẫn diễn ra, hơn thế nữa nền kinh tế Việt Namphải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng thanh khoản trong toàn hệ thống ngân hàng.Vậy nên đứng trước tình trạng trên thì chính phủ Việt Nam phải đưa ra hai lựachọn: một là kiềm chế lạm phát, hi sinh tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng nguy cơkhủng hoảng tài chính tiền tệ và hai là cứu thanh khoản cho toàn hệ thống ngânhàng để tránh nguy cơ đổ vỡ kinh tế cũng như duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế

Đứng trước tình hình trên tác giả đã chọn đề tài “Lạm phát của Việt Nam

giai đoạn 2007 - 2011, nguyên nhân, thực trạng và giải pháp” Có thể nói về

vấn đề nghiên cứu của đề tài là không mới, nhưng điểm mới của đề tài là:

- Thứ nhất: vận dụng phương pháp luận khoa học mới trong nghiên cứu vềlạm phát, bên cạnh đó là việc vận dụng cơ sở lý thuyết của trường phái cổ điểnkinh tế về lạm phát mà cụ thể ở đây là lý thuyết của Karl Marx trong việc nghiêncứu và giải quyết lạm phát

- Thứ hai: từ việc vận dụng phương pháp luận và cơ sở lý thuyết mới thì đưa

ra các giải pháp trên cơ sở tuân theo các quy luật kinh tế để thực hiện việc kiềmchế lạm phát Ưu điểm của các giải pháp này là vừa có thể thực hiện việc kiềm chếlạm phát nhưng không hi sinh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà vẫn đảm bảo nền kinh

tế ổn định và phát triển bền vững, hệ thống ngân hàng không lâm vào tình trạngthiếu tính thanh khoản

Đây cũng chính là những nét nổi bật và khác biệt của đề tài nghiên cứu khoahọc về lạm phát này so với các đề tài nghiên cứu khoa học khác về lạm phát

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài.

Lạm phát cho đến nay không phải là một đề tài mới đối với các chuyên giakinh tế Việt Nam Hiện nay có hàng loạt các bài báo, các bài phát biểu cũng nhưmột số nghiên cứu được đăng trên các báo và các tạp chí chuyên ngành đã phântích về lạm phát của Việt Nam Trong đó nổi bật như bài báo phỏng vấn ôngNguyễn Đình Cung - phó viện trưởng viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ươngthì: nguyên nhân lạm phát của Việt Nam là do đầu tư công Cùng quan điểm vớiông Nguyễn Đình Cung là một số các chuyên gia kinh tế khác như ông Lê ĐăngDoanh, bà Phạm Chi Lan hoặc một số chuyên gia kinh tế trẻ như ông Nguyễn ĐứcThành, giám đốc trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách CERP Vậy nên quanđiểm của các chuyên gia kinh tế trên là thực hiện việc cắt giảm đầu tư công cũngnhư kết hợp với chính sách tiền tệ thắt chặt để chống lạm phát

Một số dự báo thống kê gần đây của ngân hàng phát triển châu Á ADB, hayngân hàng thế giới WB đều dự báo rằng con số lạm phát của Việt Nam năm naychắc chắn sẽ vượt mức 11%, cụ thể là sẽ vào khoảng từ 12% cho đến 13% Tuynhiên con số lạm phát thực tế còn có thể cao hơn

Các giải pháp được đưa ra giải quyết cho bài toán lạm phát ở Việt Nam cũngkhá đa dạng nhưng về bản chất vẫn chỉ xoay quanh chính sách thắt chặt tài khóa vàthắt chặt tiền tệ Trong khi đó khi nghiên cứu về lạm phát nói chung và tình hìnhViệt Nam nói riêng chưa đi sâu vào nghiên cứu từ gốc là quy luật lưu thông tiền tệtrong nền kinh tế nói chung cho đến thực tiễn đang diễn ra tại Việt Nam, từ đó đưa

ra các đề xuất đóng góp mang tính đột phá giải quyết bài toán lạm phát hiện naycủa Việt Nam

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là trước hết giải quyết mục đích chungnhư các nghiên cứu khác về lạm phát đó là nghiên cứu các nguyên nhân, thực trạng

và giải pháp cho lạm phát nói chung dựa trên các cơ sở lý thuyết kinh tế mang tínhphi chính thống so với các lý thuyết kinh tế hiện nay đang được sử dụng Đồng

Trang 9

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

thời thông qua đó áp dụng thực tế vào tình hình của Việt Nam để đưa ra các giảipháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong giai đoạn này

Để thực hiên tốt mục đích nghiên cứu trên thì đề tài cần phải thực hiện cácnhiệm vụ cụ thể là:

Thứ nhất: nghiên cứu, so sánh và đối chiếu các lý thuyết kinh tế về lạm phát

để trên cơ sở đó có sự lời giải tối ưu cho các nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Thứ hai: dựa trên các điều kiện hoàn cảnh thực tế của Việt Nam để lý giảinguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lạm phát của Việt Nam hiện nay

Thứ ba: là đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện việc kiềm chế lạm phát ởViệt Nam và phải trên cơ sở phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đứng dưới góc độ kinh tế học thì đối tượng nghiên cứu ở đây là tình trạnglạm phát nói chung Lạm phát ở đây phải hiểu là một hiện tượng và nó phản ánhmột bản chất kinh tế song đồng thời cũng là một phạm trù nguyên nhân chứ khôngphải là một phạm trù kết quả Nghiên cứu lạm phát để rút ra được những mâuthuẫn nội tại ngay trong tình trạng lạm phát của Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài thì về mặt không gian đề tài sẽ nghiên cứulạm phát nói chung thông qua việc trừu tượng hóa tình trạng lạm phát và bỏ quacác hiện tượng mang tính ngẫu nhiên để tìm ra cái bản chất tất yếu nằm bên tronglạm phát Vậy nên đề tài sẽ không chỉ tập trung cụ thể vào tình trạng lạm pháttrong một quốc gia hay một thời điểm mà trái lại, sẽ là sự tổng hợp và minh họabởi tình trạng lạm phát đã từng diễn ra trong lịch sử kinh tế thế giới Qua đó sẽ nêubật lên bản chất của tình trạng lạm phát của Việt Nam ngay trong thời gian qua

Trang 10

Nếu như các phương pháp nghiên cứu nguyên nhân gây lạm phát trong kinh

tế học hiện đại phần lớn là việc mô hình hóa và lượng hóa các biến số kinh tế đồngthời đưa ra các giải pháp cụ thể trong từng mô hình cụ thể một, thì phương phápnghiên cứu trong đề tài này sẽ không đi theo các phương pháp mang tính truyềnthống và có tính chất siêu hình đó nữa Ngược lại phương pháp nghiên cứu được

áp dụng ở đây là phương pháp:

Thứ nhất: áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng tức ta sẽ nghiêncứu lạm phát khi đặt lạm phát trong mối tương quan có sự tác động qua lại của cáchiện tượng kinh tế khác, đặc biệt là sự di chuyển của các dòng tiền

Thứ hai: áp dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để tìm ra cái bảnchất gốc của hiện tượng lạm phát Bởi cũng theo đề tài này lần đầu tiên ta sẽ chứngminh rằng lạm phát là một phạm trù hiện tượng và cũng là một phạm trù nguyênnhân Nó khác với các nghiên cứu trước đây khi cho rằng lạm phát là một phạm trùmang tính kết quả

Thứ ba: đó là việc áp dụng phương pháp lịch sử và logic Cho đến nay thìphương pháp lịch sử và logic vẫn luôn là phương pháp ít được chú trọng đến trongcác nghiên cứu kinh tế học Người duy nhất áp dụng phương pháp lịch sử và logictrong phân tích kinh tế là Karl Marx khi ông tiến hành việc nghiên cứu và tổng hợpcác hiện tượng kinh tế đã xảy ra trong lịch sử để qua đó phát hiện ra các quy luậtkinh tế vận động trong nền kinh tế Việc nghiên cứu các quy luật kinh tế và ápdụng vào trong phân tích kinh tế này của Marx thường bị coi là lai căng khi sửdụng một phương pháp của khoa học tự nhiên áp dụng vào trong khoa học xã hội.Tuy nhiên theo Marx thì thế giới bao gồm giới tự nhiên và giới xã hội đều vậnđộng theo những quy luật của nó vậy nên sự tồn tại của các quy luật xã hội cũnggiống như các quy luật tự nhiên, nó tồn tại khách quan và con người không thểthay đổi được quy luật mà phải vận động theo chính các quy luật đó Đây cũng làđiểm tiến bộ của Marx so với các nhà kinh tế học khác

Đề tài có những đóng góp sau:

Trang 11

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

- Thứ nhất: áp dụng các phương pháp luận mang tính phi chính thống trongviệc tìm ra bản chất của hiện tượng lạm phát,

- Thứ hai: vận dụng các quy luật kinh tế vào trong các nghiên cứu và phântích kinh tế thay vì việc sử dụng các mô hình kinh tế và đưa ra các định hướngchung cần thiết để giải quyết tình trạng lạm phát

- Thứ ba: dựa trên các định hướng chung để giải quyết bài toán lạm phát thìđưa ra các giải pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam để kiềm chế lạm phát

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đềtài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tiền tệ và lạm phát.

Chương 2: Thực trạng lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2007-2011.

Chương 3: Giải pháp kiềm chế lạm phát và các điều kiện thực hiện.

Trang 12

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tiền tệ và lạm phát.

1.1 Lý thuyết tổng quát về tiền tệ và quy luật lưu thông tiền tệ.

1.1.1 Khái niệm và bản chất của tiền tệ.

Là một phương tiện trong quá trình lưu thông hàng hóa tuy nhiên tiền tệ lạịkhông xuất hiện cùng lúc với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa mà xuất hiên saukhi nền kinh tế hàng hóa đã đạt đến một trình độ nhất định Từ đó ta có thể thấyđược tiền tệ ra đời trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, vậy nên đểlàm rõ được sự ra đời cũng như bản chất của tiền tệ bắt buộc ta phải nghiên cứucác hình thái trao đổi có trước hình thái tiền đã xuất hiện trong nền kinh tế hànghóa giản đơn Vậy vấn đề là trước khi có xuất hiện tiền tệ thì con người đã dựa trên

cơ sở nào để tiến hành trao đổi hàng hóa với nhau Để làm rõ được bản chất tiền tệbắt buộc ta phải quay về nghiên cứu “quy luật giá trị” cũng như quá trình lưu thônghàng hóa Quá trình lưu thông hàng hóa bắt đầu diễn ra khi con người có sự traođổi hàng hóa với nhau Theo Karl Marx thì hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộctính là giá trị sử dụng và giá trị Về mặt giá trị sử dụng, tức hình thái tự nhiên củahàng hóa, ta có thể nhận biết trực tiếp được, nhưng về mặt giá trị tức hình thái xãhội của hàng hóa, nó không thể cảm nhận trực tiếp được mà chỉ bộc lộ ra trong quátrình trao đổi thông qua các hình thái biểu hiện của nó Vậy nên lịch sử của tiền tệchính là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao, từ hình thái giản đơncho đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ Tuy nhiên cũng theo quy luật giá trị thì quátrình trao đổi hàng hóa diễn ra một cách ngẫu nhiên và nhưng cơ sở để trao đổihàng hóa lại phải dựa trên giá trị Điều này có thể giải thích rằng tức là để hai hànghóa có thể trao đổi được với nhau thì điều tất yếu là nó phải có giá trị bằng nhau.Tuy nhiên câu hỏi được đặt ra ở đây đó là liệu lúc nào hai hàng hóa được trao đổivới nhau cũng có giá trị bằng nhau không Thực tế đã cho thấy không phải haihàng hóa được trao đổi lúc nào cũng có giá trị bằng nhau nhưng nếu xét tổng trungbình những sự trao đổi hàng hóa thì bao giờ cũng có giá trị bằng nhau

Cũng như vậy khi ta nghiên cứu đến tiền tệ thì về thực chất đó chỉ là lịch sửphát triển của quá trình trao đổi hàng hóa diễn ra từ thấp lên cao, từ đơn giản đến

Trang 13

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

phức tạp Như Karl Marx đã trình bày thì các quá trình trao đổi hàng hóa dựa trêncác hình thái trao đổi của giá trị mà xuất phát là hình thái giá trị tương đối và lênđến đỉnh cao nhất là hình thái tiền, tuy nhiên ta sẽ không trình bày cụ thể các hìnhthái này ở đây thông qua các hình thái này ta có thể rút ra được bản chất của tiền tệ

đó là: Tiền tệ về bản chất là một hàng hóa được tách ra trong thế giới hàng

hóa làm vật ngang giá chung thống nhất; nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa Nhưng điều đó không có nghĩa ta đồng nhất chung được hình thái tiền và hình thái vật ngang giá chung

Sau khi đã hiểu bản chất tiền tệ là một hàng hóa được tách ra trong thế giớihàng hóa và được dùng làm vật ngang giá chung thống nhất thì đến đây câu hỏi

được đặt ra là người ta sử dụng loại hàng hóa nào để làm tiền tệ Theo Karl Marx:

“loại hàng hóa đặc biệt mà về mặt xã hội, hình thái tự nhiên của nó dần dần gắn liền với hình thái vật ngang giá, thì sẽ trờ thành hàng hóa - tiền, hay làm chức năng tiền Chức năng xã hội đặc biệt của nó, và do dó, độc quyền xã hội của nó, là đóng vai trò vật ngang giá phổ biến trong thế giới hàng hóa… Cái địa vị đặc quyền ấy trong lịch sử đã bị một hàng hóa nhất định giành được: đó là vàng.” 1

1.1.2 Đặc điểm của tiền tệ.

Đến đây điều mà ta cần lý giải đó là tại sao vàng lại nắm được địa vị đặc quyền

để trở thành tiền, ở đây khi phân tích thì ta coi vàng là đại biểu cho các kim loạiquý, mục đích của quá trình phân tích này đó là tìm ra lý do lựa chọn các kim loạiquý hay vàng để được dùng làm tiền tệ Điều này đã được Karl Marx giải thích rất

ký lý do vàng được chọn làm tiền tệ mà không phải là các hàng hóa khác đó là bởichúng có các đặc điểm sau:

- Thứ nhất: nếu tôi lấy bò, da sống, ngũ cốc v.v để tính giá trị của mọi hànghóa, thì trên thực tế tôi phải dùng bò trung bình, da trình bình v.v trên ý niệm để

đo, bởi vì giữa bò với bò, ngũ cốc với ngũ cốc, da với da, có những sự khác nhau

về chất Trái lại, vàng và bạc là những vật thể đơn thuần, bao giờ cũng đồng nhất

1 Tư Bản quyển 1 phần 1 trang 95 - NXB Tiến Bộ & NXB Sự thật bản in năm 1988.

Trang 14

với bản thân chúng, và vì vậy những lượng bằng nhau của những kim khí đó đạibiểu cho những giá trị có lượng bằng nhau.

- Thứ hai: với tư cách là phương tiện lưu thông, vàng và bạc có điểm nàyhơn các hàng hóa khác là: thích ứng với tỷ trọng lớn của chúng - vàng bạc thể hiệnmột trọng lượng tương đối nhiều thời gian lao động, nghĩa là một giá trị trao đổilớn trong một thể tích bé Điểm đó bảo đảm cho việc vận chuyển, việc di chuyển từtay người này sang tay người khác và từ nước này sang nước khác được dễ dàng,cũng như bảo đảm cho nó có thể xuất hiện và biến đi một cách cũng nhanh chóng -tóm lại, bảo đảm tính cơ động vật chất, tức là điều cần thiết của thứ hàng hóa dùnglàm động cơ vĩnh cửu của quá trình lưu thông

- Thứ ba: ý nghĩa to lớn của kim loại nói chung trong quá trình sản xuất trựctiếp gắn liền với chức năng của chúng dùng làm công cụ sản xuất Ngoài tính chấthiếm có của vàng và bạc thì tính chất của chúng là mềm hơn so với sắt và ngay cảvới đông nữa (đồng ở dạng đã luyện mà người cổ xưa dùng) khiến cho chúngkhông sử đụng được vào công việc đó, và do đó chúng thiếu - với một mức độ lớn

- cái đặc tính làm cơ sở cho giá trị sử dụng của các kim khí nói chung Đã vô dụng

ở trong quá trình sản xuất trực tiếp, vàng và bạc lại cũng chẳng cần thiết gì hơn với

tư cách là phương tiện sinh hoạt và vật phẩm tiêu dùng Cho nên người ta có thể bỏbao nhiêu vàng bạc vào trong quá trình lưu thông xã hội cũng không ảnh hưởng gìtới các quá trình sản xuất và tiêu dùng trực tiếp cả Giá trị sử dụng cá biệt của vàng

và bạc không xung đột với chức năng kinh tế của chúng

- Thứ tư: giá trị đặc thù của các kim loại quý, tính chất bền vững, tính chấttương đối không thể bị phá hủy được chúng, thuộc tính không bị ô xy hóa ở trongkhông khí, và nhất là thuộc tính của vàng không bị hòa tan trong các a xit trừhoàng cường toan - tất cả các thuộc tính tự nhiên đó làm cho những kim khí quỹtrở thành vật liệu tự nhiên của việc cất trữ tiền tệ

- Cuối cùng vàng và bạc cũng có thể chuyển từ hình thái tiền đúc sang hìnhthái vàng, bạc thoi, và từ hình thái vàng, bạc thoi sang hình thức xa xỉ phẩm vàngược trở lại tức là so với các hàng hóa khác, vàng và bạc có lợi thế là không bịtrói buộc mãi mãi vào những hình thái sử dụng nhất định, cái khả năng đó của

Trang 15

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

vàng, bạc làm cho chúng trở thành vật liệu tự nhien của tiền tệ, vì tiền tệ thườngxuyên chuyển từ một hình thức này sang một hình thức khác.2

Chính nhờ các đặc tính vật lý của hàng hóa đủ đáp ứng các tiêu chuẩn trên

mà các kim loại quý đã được sử dụng làm tiền tệ: cụ thể ở đây là vàng và bạc.Đồng thời giá trị sử dụng của vàng và bạc theo tính chất kinh tế không phải là giá

trị sử dụng tự nhiên của chúng mà là giá trị trao đổi Vậy nên xét về bản chất

vàng và bạc không phải là tiền tệ nhưng tiền tệ về bản chất phải là vàng và bạc 3 Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hànghóa, khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa được phần thành hai cực, một bên là cáchàng hóa thông thường và một bên là hàng hóa (vàng) đóng vai trò là tiền tệ Đếnđây giá các hàng hóa đã có một phương tiện biểu hiện thống nhất và tỷ lệ trao đổiđược cố định lại, giá trị của hàng hóa bắt đầu được định lượng

1.1.3 Phân loại tiền tệ theo các hình thái biểu hiện.

Ở phần trên ta đã lý giải bản chất của tiền tệ đó là vàng và bạc, đồng thờicũng hiểu được nhận xét của Karl Marx về tiền đó là theo Marx thì tiền còn là nơicất giữ giá trị bên cạnh các chức năng khác của tiền Chính vì chức năng cất giữgiá trị nên điều này đưa đến một kết luận đó là giá trị của vàng và bạc phải khôngđổi theo thời gian Tuy nhiên trên thực tế thì ta phát hiện ra rằng bên cạnh tiền tệtruyền thống là vàng và bạc thì cùng với sự phát triển của kinh tế thì tiền tệ cũngphát triển thêm các hình thái biểu hiện của nó

2 Xem “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Các Mác- Ăng Ghen toàn tập, tập 13, trang 181-183 NXB Sự Thật bản in năm 1993.

3 Xem “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Các Mác- Ăng Ghen toàn tập, tập 13, trang 183 NXB Sự Thật bản in năm 1993.

Trang 16

định tiêu chuẩn giá cả của tiền vậy Ban đầu việc đúc tiền được thực hiện nghiêmngặt theo đúng giá trị của tiền, tuy nhiên trong lưu thông thì bắt đầu xuất hiện sựhao mòn tự nhiên đối với vàng thoi Vấn đề này được đặt ra một quá trình cần phảigiải quyết đối với việc đúc tiền là các đồng tiền mà khối lượng của nó bị hao mònthì như vậy giá trị thực tế của nó cũng giảm dần vậy nên cần phải đúc lại nó cho đủlại giá trị thực tế của nó Tuy nhiên việc quyền đúc tiền nằm hoàn toàn trong taynhà nước quy định đã dẫn đến việc nảy sinh vấn đề mới đó là: các đồng tiền đượcđúc lại sẽ có giá trị danh nghĩa và giá trị thực tế khác hoàn toàn nhau Bằng việckiếm lợi tư việc đúc tiền, các vua chúa thời kỳ này dần dần cho thay thế các kimloại ít quý hơn vào trong những đồng tiền vàng hoặc giảm khối lượng của tiềnvàng xuống nhưng vẫn quy định tiêu chuẩn giá cả như trước Cụ thể là trước đâymột đồng vàng nặng 1g được quy định là tương đương với 1 pound nhưng giờ đâyđồng vàng đó chỉ nặg có 0.8g hoặc có 0.8g vàng và 0.2g bạc nhưng vẫn quy định là

1 pound Từ đó bắt đầu xuất hiện một mầm mống tiền tệ mới đó là hình thái kýhiệu giá trị

1.1.3.2 Tiền giấy.

Việc tiền đúc thay thế vàng thoi ở trên thị trường hàng hóa đã làm cho giá trịthực tế của đồng tiền và giá trị danh nghĩa của chúng dần dần tách rời nhau ra làmtồn tại khả năng tiềm tàng thay thế tiền kim loại trong chức năng tiền đúc của nóbằng những ký hiệu làm bằng những vật liệu khác hay bằng những vật tượngtrưng Có thể nói chính trong lĩnh vực lưu thông đã làm xuất hiệu những vật liệugọi là ký hiệu của giá trị Sự xuất hiện các ký hiệu của giá trị giúp cho việc lưuthông nhanh chóng hơn do việc có thể chia nhỏ giá trị của tiền vàng thật từ trên ýniệm thành một việc cụ thể trên thực tế Và trong lưu thông những ký hiệu ấy haomòn còn nhanh hơn tiền vàng thực tế Vì vậy trên thực tế, chức năng tiền tệ của nótrở thành hoàn toàn độc lập với khối lượng của nó, nghĩa là độc lập với mọi giá trị.Bắt đầu từ đây tiền giấy xuất hiện với vai trò là ký hiệu của giá trị và những kýhiệu này được nhà nước quy định vậy nên chúng ta thường gọi đây là loại tiềnpháp định Dưới chế độ bản vị, tiền giấy là những ký hiệu của vàng hay những kýhiệu của tiền Quan hệ giữa tiền giấy và giá trị hàng hóa chỉ bao hàm ở chỗ: các giá

Trang 17

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

trị hàng hóa ấy được biểu hiện trên ý niệm bằng chính những khối vàng mà tiềngiấy là một biểu hiện tượng trưng cho việc có thể sờ thấy được Mặc dù bây giờtiền giấy khá phổ biến nhưng ta cần phải phân biệt hai loại tiền giấy trong quá trìnhlưu thông Một đó là tiền giấy do nhà nước quy định và hai là tiền giấy do các ngânhàng phát hành

Tiền giấy do nhà nước quy định: là loại tiền giấy ký hiệu giá trị mà nhà nước

sử dụng quyền cưỡng chế của mình để bắt mọi người phải tuân theo Với loại tiềngiấy này thì khi nắm một lượng tiền giấy thì người nắm tiền đang nắm những tờgiấy đại biểu cho số giá trị mà anh ta được sở hữu dưới các quy định của pháp luật

Và số giá trị đó chỉ được anh ta sử dụng khi anh ta đem đổi các tờ giấy mangquyền sở hữu giá trị của mình đổi ra lượng giá trị cụ thể để sử dụng Nói cách kháctiền giấy do nhà nước phát hành là loại giấy chứng nhận quyền sở hữu giá trị

Tiền giấy do các ngân hàng phát hành (bank note): khác với tiền giấy do nhànước quy định, tiền giấy do các ngân hàng phát hành hay giấy bạc ngân hàng vềbản chất là giấy đòi nợ của người dân đối với các ngân hàng Cơ sở để phát hànhgiấy bạc ngân hàng đó là việc đầu tiên các ngân hàng tìm cách huy động toàn bộnguồn vàng có trong dự trữ của người dân và đem về kho, sau đó họ sử dụngnguồn vàng đó làm cơ sở để phát hành các loại giấy bạc ngân hàng cho nhữngngười đã gửi vàng cho họ Người dân sẽ sử dụng thứ giấy bạc ngân hàng đó nhưmột loại tiền tệ trong lưu thông nhưng thực chất đó chỉ là giấy đòi nợ mà ngânhàng gán cho người dân với quyền được đòi lại số nợ mà ngân hàng đã nợ của dânchúng Tuy nhiên các ngân hàng lại luôn luôn có xu hướng phát hành số giấy đòi

nợ đó vượt rất nhiều lần số tiền mà họ đã vay nợ để thực hiện việc cho vay kiếmlời của mình (điều này sẽ được làm rõ hơn trong mục vai trò của ngân hàng trongnền kinh tế) Hậu quả là mỗi lần khủng hoảng nổ ra khi người dân đổ sô đến cácngân hàng để đổi giấy bạc ngân hàng lấy tiền vàng thì ngân hàng sẽ lâm vào cảnhphá sản Vậy bài toán để giải quyết vấn đề là việc khi phát hành số giấy đòi nợ đóvượt quá nhiều số tiền đã vay của các ngân hàng là như thế nào? Câu trả lời thậtđơn giản, đó là các ngân hàng luôn tìm cách để giảm quyền được đòi nợ của nhữngngười dân thông qua giấy bạc ngân hàng (mà sau này nó tương tự với hiện tượng

Trang 18

lạm phát) Tuy nhiền điều cản trở các ngân hàng đó chính là chế độ bản vị vàng,vậy nên điều này lý giải tại sao các nhà ngân hàng là những người căm thù chế độbản vị vàng nhất Nếu như ở trên ta đã khẳng định tính bất biến về giá trị của tiền

tệ theo thời gian thì ở đây ta lại xuất hiện một khái niệm nữa, đó là sự mất giá củatiền giấy Như ta đã biết tiền giấy với tư cách là ký hiệu của giá trị hay là hình tháibiểu hiện của tiền vàng là tiền có giá trị bất biến, điều này có nghĩa là với mộtlượng tiền giấy nhất định thì nó sẽ đại biểu cho một lượng giá trị của vàng nhấtđịnh Tuy nhiên nếu lượng tiền giấy tăng lên thì điều này đồng nghĩa với việclượng giá trị của vàng mà nó đại biểu giảm đi điều này giống như việc phát hành

cổ phiếu làm pha loãng giá trị của doanh nghiệp mà không dựa trên sự tăng trưởngcủa tình hình sản xuất kinh doanh Nắm được điều này là ta đã nắm được cơ sở củahiện tượng lạm phát cũng như hiểu được vì sao lạm phát chỉ xảy ra dưới chế độtiền pháp định mà không xảy ra dưới chế độ bản vị

1.1.3.3 Tiền kế toán.

Bây giờ chúng ta sẽ đến với hình thái tiền cuối cùng hiện nay là tiền kế toánhay còn được K.Marx gọi với một cái tên khác đó là “tiền trên ý niệm” Gọi là tiềntrên ý niệm cũng không có gì sai cả vì thực chất tiền kế toán hay tiền tài khoản chỉ

là sự ghi chép lại những quy ước do chính con người đặt ra nhằm thể hiện nhữngsuy nghĩ trên ý niệm với nhau về sự vay nợ lẫn nhau giữa họ Nói một cách kháctiền kế toán về bản chất chính là tiền tín dụng Như đã xem xét ở trên nếu như tiềngiấy chính cống phát sinh từ chức năng của tiền làm phương tiện lưu thông, thì gốc

rễ tự nhiên của tiền tín dụng lại là chức năng của tiền làm phương tiện thanh toán.Việc sử dụng loại tiền kế toán này đã làm cho góp phần giúp cho việc chia nhỏ giátrị của tiền kim loại thành những con số vô cùng nhỏ để đẩy mạnh quá trình lưuthông cũng như thanh toán của đồng tiền Và như đã nói là một sản phẩm của ýniệm vậy nên những con số của tiền kế toán cũng là những con số ý niệm và thựcchất ngoài thực tế chúng ta không hề gặp nó hay sử dụng được nó mà chỉ có thể sửdụng thông qua ý niệm hoặc ghi chép lại qua các sổ sách kế toán Tiếp theo sự rađời của tiền giấy, các ngân hàng đã tiến thêm một bước khi cho ra đời loại tiền kếtoán hay tiền tín dụng này Bằng cách sử dụng tiền tín dụng, các ngân hàng đã tạo

Trang 19

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

nên một lượng cung tiền lớn gấp nhiều lần so với lượng tiền mặt có thực trong lưuthông mà ngày nay phương pháp này được gọi dưới cái tên hệ số nhân tiền tệ Cóthể coi đây là một công cụ hữu hiệu đối với ngân hàng trong việc gia tăng lợinhuận và đẩy nền kinh tế vào quá trình bong bóng Tuy nhiên ở đây chương này tatập trung vào nghiên cứu tiền tệ vậy nên vấn đề của các ngân hàng sẽ được bàn đến

kỹ hơn ở mục ngân hàng và tín dụng Sự xuất hiện của tiền kế toán cũng là yếu tố

mà làm xuất thêm một hình thái biểu hiện giá trị mới đó là hình trái giá trị trên ýniệm hay giá cả ảo, điều này sẽ được thể hiện rõ hơn ở trong mục địa tô và tư bảngiả

1.1.4 Phân loại tiền tệ theo tính “lỏng”.

Ở đây khi nghiên cứu về phân loại tiền tệ theo tính lỏng thì ta có thể phânthành các khối tiền tệ như sau tương ứng là Mo, M1, M2, M3 và L Ta sẽ đi xem xéttừng khối tiền tệ như sau:

- Khối tiền tệ M 0ở đây được hiểu là tiền mặt đang lưu hành (giấy bạc ngânhàng và tiền đúc)

- Khối tiền giao dịch (M 1) gồm những phương tiện được sử dụng rộng rãi

trong thanh toán chi trả về hàng hoá dịch vụ, bộ phận này có tính lỏng cao nhất:

+ Tiền mặt trong lưu hành: Bộ phận tiền mặt (giấy bạc ngân hàng và tiềnđúc) nằm ngoài hệ thống ngân hàng

+ Tiền gửi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng

Trang 20

- Khối tiền tài sản (M 3 ) bao gồm:

+ M2

+ Trái khoán có mức lỏng cao như: Hối phiếu, tín phiếu kho bạc… Bộ phậntrái khoán này là tài sản chính nhưng vẫn có thể được chuyển đổi ra tiền giao dịchtương đối nhanh chóng

- Khối tiền L bao gồm:

ra phép đo “tổng lượng tiền có tỷ trọng” trong đó mỗi loại tài sản có một tỷ trọngkhác nhau tuỳ theo độ “lỏng” của nó khi cộng lại với nhau Việc lựa chọn phép đonào phụ thuộc vào nhận thức và khả năng của ngân hàng trung ương trong điềuhành chính sách thực tế Tuy nhiên, sử dụng trực tiếp trong các giao dịch làmphương tiện trao đổi chủ yếu là khối tiền M1, vì vậy định nghĩa M1 được sử dụngthường xuyên khi nói tới cung-cầu tiền tệ

Như vậy nếu so sánh hai sự phân loại trên thì ta sẽ có:

Tiền đúc và tiền giấy đang lưu thông tương đương với khối tiền tệ là M0 vàtrong trường hợp nếu tính thêm tiền kế toán vào thì tương đương với khối tiền tệ là

Trang 21

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

Theo các nhà kinh tế học hiện đại thì lạm phát là một hiện tượng tiền tệ mànguyên nhân của nó xuất phát từ việc tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao dẫn đến việc tỷ

lệ giá cả của hàng hóa tăng cao trong một thời gian dài Hiện tượng mức giá chungcủa nền kinh tế tăng lên trong một thời gian dài này tất yếu sẽ dẫn đến hệ quả làviệc suy giảm sức mua của đồng tiền và gây nên hiện tượng lạm phát Ta có thểtham khảo một số quan điểm sau về lạm phát:

Quan điểm của Samuelson: chỉ cần mức giá chung tăng lên dù chỉ một đợt

(có nghĩa là chỉ cần tỷ lệ lạm phát > 0) thì coi như có lạm phát

Quan điểm của phái Keynes và phái tiền tệ (Friedman): chỉ khi mức giá

chung tăng lên liên tục trong một quá trình kéo dài (có nghĩa là tỷ lệ lạm phát liêntục > 0 qua các thời kỳ thì mới gọi là lạm phát)

1.2.1.2 Các tác động ảnh hưởng của lạm phát.

* Các hiệu ứng tích cực: Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định

rằng lạm phát (tỷ lệ tăng giá mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh

tế Ông dùng từ "dầu bôi trơn" để miêu tả tác động tích cực của lạm phát Mức lạmphát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vàolao động (tiền lương thực tế) giảm đi Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư

mở rộng sản xuất Việc làm được tạo thêm Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm, vậy nên một

số ngân hàng trung ương của các nước thường hướng tới một mức lạm phát mụctiêu để đảm bảo tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn

* Các hiệu ứng tiêu cực

- Đối với lạm phát dự kiến được: Trong trường hợp lạm phát có thể được dự

kiến trước thì các thực thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với

nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:

Chi phí mòn giày: Lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền

và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phátlàm cho người ta giữ ít tiền hay làm giảm cầu về tiền Khi đó họ cần phải thườngxuyên đến ngân hàng để rút tiền hơn Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí

Trang 22

mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêutốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát.

Chi phí thực đơn: Lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh

nghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm

Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường hợp

do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn)còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thựcđơn thì giá cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so vớidoanh nghiệp tăng giá Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giátương đối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô

Thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn của người làm

luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát Ví dụ: trongtrường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danhnghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệchgiữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế

Gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: Đồng tiền được sử dụng để làm thước đo trong

tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy các

cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình

*Đối với lạm phát không dự kiến được: Đây là loại lạm phát gây ra nhiều

tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán Cáchợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phátcao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khilạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệthại Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác độngcủa nó rất lớn

1.2.1.3 Các nguyên nhân dẫn đến lạm phát.

- Lạm phát chi phí đẩy: Là hiện tượng mức giá liên tục gia tăng xẩy ra khiđường tổng cung liên tục dịch chyển sang trái Ta hãy xem xét trong các nguyênnhân dẫn đến đường tổng cung dịch chuyển, nguyên nhân nào sẽ mang tính chất

Trang 23

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

lâu dài có nghĩa là làm đường tổng cung liên tục dịch chuyển sang phải thì đó lànguyên nhân gây ra lạm phát chi phí đẩy

Khi có cơn sốc phía cung, đường tổng cung

bị đẩy sang trái làm giá cả tăng cao và sản lượng

sụt giảm Đây gọi là hiện tượng “đình lạm” Tuy

nhiên, thường thì đường tổng cung không thể liên

tục bị đẩy sang trái vì khi sản lượng Y'< sản

lượng tiềm năng Y*, tỷ lệ thất nghiệp sẽ < tỷ lệ

thất nghiệp tự nhiên thì về nguyên tắc tiền lương

sẽ lại giảm, đồng thời do sản lượng sụt giảm nên

các chi phí sản xuất khác cũng sẽ lại giảm và

đường tổng cung lại bị đẩy trở về vị trí cũ với

mức giá cân bằng P* và sản lượng Y*

Do đó cơn sốc về cung không phải là nguồn gốc của lạm phát Chỉ khi nàoChính phủ nhận thấy hiện tượng đình lạm (giá cả tăng cao, sản lượng giảm, thấtnghiệp gia tăng) và cơ chế tự điều chỉnh phải mất một thời gian khá dài thì ChínhPhủ (CP) sẽ phải thực hiện Chính sách tiền tệ (CSTT) nới lỏng một cách liên tục đểđẩy đường tổng cầu dịch chuyển sang phải từ AD sang AD’ Khi đó sản lượng tăngtrở lại sản lượng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp sẽ trở về tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên,nhưng lúc đó lạm phát lại không trở về vị trí P* ban đầu được nữa mà lại tiếp tụctăng lên đến P” và quá trình cứ tiếp tục như vậy Do đó, lạm phát phí đẩy cũng làmột hiện tượng tiền tệ vì nó không thể tự xẩy ra mà không có CSTT nới lỏng kèmtheo với một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn

- Lạm phát do cầu kéo: Là hiện tượng mức giá liên tục gia tăng xẩy ra khi

đường tổng cầu liên tục dịch chyển sang phải Ta hãy xem xét trong các nguyênnhân dẫn đến đường tổng cầu dịch chuyển, nguyên nhân nào sẽ mang tính chất lâudài có nghĩa là làm đường tổng cầu liên tục dịch chuyển sang phải

Khi vì một nguyên nhân nào đó làm đường tổng cầu dịch chuyển sang phải

từ AD sang AD’ với mức giá tăng lên P' và sản lượng tăng lên Y' lớn hơn sảnlượng tiềm năng, điểm cân bằng chuyển sang 1’ (Hình 2)

Khi sản lượng đạt Y’> sản lượng tiềm năng Y*,

Trang 24

lập tức giá cả đầu vào của sản xuất tăng lên nhanh

chóng nên đường tổng cung AS dịch chuyển sang

trái sang AS’, điểm cân bằng chuyển sang 2 và

nếu tổng cầu chỉ tăng một đợt thì kết quả là giá cả

cũng chỉ tăng một đợt (không phải tăng liên tục),

còn sản lượng lại quay trở về vị trí cũ là sản lượng

tiềm năng Y*

Như vậy việc tăng một đợt trong tổng cầu chỉ đưa đến một sự tăng tạm thời của tỷ

lệ lạm phát, không phải mức giá cả tăng kéo dài Có 4 lý do làm đường tổng cầudịch chuyển sang phải làm mức giá tăng lên, đó là:

Thứ nhất: Chính phủ thực hiện các chính sách: Chính sách tiền tệ (CSTT)

nới lỏng hoặc Chính sách tài khoá (CSTK) mở rộng (hoặc thắt chặt) để tác độnglàm dịch chuyển đường tổng cầu sang phải (hoặc sang trái) làm mức giá tăng lên;

Thứ hai: Sự lạc quan trong tiêu dùng (C) và kinh doanh làm tiêu dùng và đầu tư

tăng, qua đó làm tổng cầu tăng; Thứ ba: Cầu nước ngoài ròng (NX) về hàng hoátrong nước: làm tổng cầu tăng, giá cả tăng lên

Trường hợp tổng cầu tăng lên đột biến vì sự gia tăng của 1 trong 4 thànhphần của tổng cầu (như sự lạc quan trong tiêu dùng, kinh doanh, xuất khẩu ròng)thường thì không phải là yếu tố mang tính chất lâu dài, do đó làm tổng cầu dịchchuyển nhưng không liên tục nên chỉ làm mức giá gia tăng mà không làm lạm phátgia tăng

Vậy câu hỏi là liệu CSTK mở rộng và CSTT nới lỏng liệu có thể thực hiệnđược liên tục không?

Đối với CSTK mở rộng sẽ không thể kéo dài liên tục vì sẽ có giới hạn là CP

sẽ không thể tăng chi tiêu lên mức lớn hơn 100% GDP và thuế cũng chỉ có thểgiảm giới hạn ở mức 0% Do đó lạm phát không thể chỉ do một mình Chính sáchtài chính thúc đẩy nên

Đối với CSTT nới lỏng: Quá trình nới lỏng tiền tệ (tăng cung tiền) hoàn toàn

có thể xẩy ra liên tục sẽ khiến đường tổng cầu liên tục dịch chuyển sang phải vàkhi sản lượng vượt quá sản lượng tiềm năng thì đường tổng cung vì vậy liên tục

Trang 25

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

dịch chuyển sang trái Kết quả là trong dài hạn sản lượng không tăng, vẫn ở vị trí

cũ (Y*) chỉ có giá cả là tăng liên tục Như vậy lạm phát chính là xuất phát từ chínhsách tiền tệ nới lỏng liên tục Như vậy chính sách tiền tệ nới lỏng chỉ tác động đếntăng trưởng trong ngắn hạn, còn trong dài hạn không có tác dụng mà chỉ làm lạmphát gia tăng

- Lạm phát do thâm hụt ngân sách: (Đây chính là trường hợp tài trợ cho

thâm hụt ngân sách bằng cách “in tiền”)

Lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng không có cuộc lạm phát cao nào mà không

có sự tăng trưởng mạnh về tiền tệ Lượng tiền tăng càng nhanh thì lạm phát càngcao và bất kỳ một chính sách vĩ mô nào giảm được tốc độ tăng tiền cũng dẫn đếngiảm tỷ lệ lạm phát

Thâm hụt ngân sách có thể là nguồn gốc lạm phát nếu như đó là sự thâm hụtdai dẳng, không phải là tạm thời và Chính Phủ trang trải thâm hụt bằng tạo thêmtiền chứ không phải phát hành trái khoán cho công chúng Việc phát hành tráikhoán ra công chúng cũng có thể coi là “in tiền” cho Chính phủ khi NHTW mualại các trái khoán đó trên thị trường mở

- Lạm phát nhập khẩu: Bên cạnh đó cũng còn có lạm phát do yếu tố ngoại

lai gây nên đó là lạm phát do tỷ giá thay đổi hoặc do giá quốc tế tăng cũng tácđộng tới việc tăng giá các mặt hàng nhập khẩu như vậy đóng góp vào việc làm giatăng lạm phát trong nước

Tuy nhiên theo cả quan điểm của phái Keynes lẫn phái tiền tệ thì lạm phátchỉ xuất phát do nguyên nhân tiền tệ vì cả ba nguyên nhân như “cầu kéo” và “chiphí đẩy” và “thâm hụt ngân sách” không thể xảy ra lâu dài liên tục nếu không có sựtác động của chính sách tiền tệ nới lỏng

Kết luận: Qua các nguyên nhân kể trên có thể thấy theo quan điểm của hầuhết các nhà kinh tế thuộc phải Keynes và phái tiền tệ lạm phát bao giờ và ở đâucũng là nguyên nhân tiền tệ

- Lạm phát tiền tệ: Vậy nên đến đây khi xem xét về lạm phát chúng ta sẽ

xem xét về bản chất cuối cùng là lạm phát được hình thành do nguyên nhân tiền tệ

Để nghiên cứu kỹ càng ta cần đến với các khái niệm sau:

Trang 26

Thứ nhất là mức cung tiền: Cung tiền tệ là khối lượng tiền cung ứng của nềnkinh tế đảm bảo các nhu cầu sản xuất lưu thông hàng hoá cũng như các nhu cầu chitiêu trao đổi khác của nền kinh tế xã hội Mức cung tiền tệ đã cung ứng cho nềnkinh tế tạo thành một khối tiền tệ.

Thứ hai là cầu về tiền tệ: là khối lượng tiền cần đề chi tiêu thường xuyên vàđều đặn cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân và kinh doanh sản xuất… gọi là mức cầu vềtiền (giao dịch) Trên thực tế mức cầu tiền phụ thuộc vào hai nhân tố: Thu nhậpthực tế và lãi suất

Như vậy lượng tiền cân bằng ở đây là lượng mà mức cung tiền và cầu tiềncân bằng ở một mức tương ứng với nền kinh tế ở trạng thái tối ưu tức là lượng tiềncung ứng dẫn đến việc cân bằng trên thị trường của tổng cung và tổng cầu tại mứcsản lượng tiềm năng Vậy nên các tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tàikhóa thường hướng vào việc tác động vào lượng cung tiền, qua đó tác động đếntổng cầu của nền kinh tế qua đó đảm bảo cho nền kinh tế thu hẹp hoặc tăng trưởngphù hợp với mức lạm phát được đặt ra Lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng không cócuộc lạm phát cao nào mà không có sự tăng trưởng mạnh về tiền tệ Lượng tiềntăng càng nhanh thì lạm phát càng cao và bất kỳ một chính sách vĩ mô nào giảmđược tốc độ tăng tiền cũng dẫn đến giảm tỷ lệ lạm phát Như vậy lạm phát về tiền

tệ ở đây theo lý thuyết kinh tế hiện đại chính là việc tăng lượng cung tiền vượt quá

so với lượng cầu tiền của nền kinh tế và khiến cho lạm phát gia tăng Trong khi đólượng cung tiền chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chính sách tiền tệ mà ta sẽ nghiêncứu sau đây

1.2.1.4 Cơ chế truyền dẫn của Chính sách tiền tệ đến lạm phát.

Sơ đồ 3: Cơ chế truyền dẫn từ các công cụ CSTT tới lạm phát

MB: Tiền cơ sở (cơ số tiền tệ)

R : Tiền gửi của các NHTM tại NHTƯ

C : Tiền mặt lưu thông ngoài NHTW MS: Mức cung tiền

rb : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc mM: Số nhân tiền tệ

(4)

Trang 27

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

(1) Tác động đến Tiền dự trữ của các NHTM tại NHTƯ (R);

(2) Tác động đến tiền cơ sở MB thông qua phương trình MB= R+C với điềukiện tiền mặt ngoài lưu thông C không đổi, riêng DTBB (rb) còn tác động trực tiếpđến mức ucng tiền MS qua số nhân tiền tệ mM theo công thưc (mM=1/rb)

(3) Tác động đến Mức cung tiền MS thông qua phương trình MS=MB.mM(4) Tác động tới lãi suất chính thức của thị trường thông qua phương trình:

i = f [Y+, (MS/P)-]

Trong đó:

Y: Thu nhập (- quan hệ đồng biến với lãi suất: Khi thu nhập tăng đòi hỏi một lượng cầu tiền thực tế tăng trong điều kiện mức cung tiền danh nghĩa không đổi, làm lãi suất tăng)

MS: Mức cung tiền danh nghĩa

Tỷ giá

Cầu trong nước

Cầu nước ngoài ròng

Tổng cầu Áp lực lạm phát trong

nước

Giá nhập khẩu

Lạm phát

Mục tiêu cuối cùng

MB: Tiền cơ sở (cơ số tiền tệ)

R : Tiền gửi của các NHTM tại NHTƯ

C : Tiền mặt lưu thông ngoài NHTW MS: Mức cung tiền

rb : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc mM: Số nhân tiền tệ

Trang 28

MS/P: Mức cung tiền thực tế (- quan hệ nghịch biến với lãi suất: có nghĩa là cung tiền thực tế tăng lãi suất giảm)

(5) Tác động tới lãi suất thị trường: Khi lạm phát có chiều hướng tăng

vượt ra ngoài phạm vi cho phép, NHTW quyết định nâng Lãi suất chính thức

để tác động làm tăng lãi suất thị trường, qua đó hạn chế tiêu dùng và đầu tư làm cầu trong nước giảm Mặt khác, tăng Lãi suất chính thức cũng có nghĩa là làm tăng giá đồng bản tệ và kết quả là xuất khẩu ròng giảm, có nghĩa là cầu nước ngoài ròng về hàng hoá trong nước giảm

Như vậy, việc điều chỉnh tăng Lãi suất chính thức làm tổng cầu trong nềnkinh tế giảm xuống thông qua 02 kênh truyền dẫn đó là: cầu trong nước giảm vàcầu nước ngoài ròng (về hàng hoá trong nước giảm) làm tổng cầu giảm Khi tổngcầu giảm sẽ tác động giảm áp lực lạm phát trong nước, kéo theo lạm phát giảm

(6) Tác động tới giá các tài sản: Khi tăng lãi suất chính thức tác động làm

lãi suất ngắn hạn trên thị trường tăng làm giảm giá các tài sản (thị giá) kể cả hữuhình như nhà cửa…lẫn tài sản tài chính như các loại giấy tờ có giá như cổ phiếu,trái phiếu Việc giá các loại tài sản tài chính giảm qua đó làm lợi tức thu về của cácgiấy tờ có giá sẽ tăng (lợi tức chứng khoán = mệnh giá chứng khoán - thị giá chứngkhoán) Do đó đối với người tiêu dùng sẽ tăng tiết kiệm gửi vào hệ thống NH vàmua chứng khoán mà hạn chế tiêu dùng Còn đối với các hãng trước tình hình lãisuất tăng sẽ hạn chế đầu tư Qua đó tác động làm giảm tổng cầu, làm giảm lạmphát;

(7) Tác động tới kỳ vọng và lòng tin: Khi lãi suất chính thức thay đổi tăng

lên sẽ tác động vào kỳ vọng cũng như lòng tin của công chúng Đó là kỳ vọng lạmphát sẽ giảm xuống vì đây cũng như một tín hiệu của NHTW cần phải giảm tốc độtăng trưởng trong tương lai Do đó làm lòng tin và kỳ vọng của công chúng giảmxuống sẽ tác động hạn chế tiêu dùng và đầu tư làm giảm tổng cầu, làm giảm lạmphát

(8)Tác động tới tỷ giá: Cuối cùng khi lãi suất tăng làm đồng nội tệ tăng giá

khiến khả năng cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài tăng cũng có nghĩa là làm

Trang 29

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

giảm giá cả hàng hoá nhập khẩu mà hàng hoá nhập khẩu cũng là các mặt hàng hoánằm trong rổ hàng hoá tiêu dùng của CPI nên trực tiếp góp phần làm giảm lạmphát

(Nguồn: báo cáo thường niên của Ngân hàng trung ương Anh)

1.2.2 Học thuyết của Karl Marx về lạm phát.

1.2.2.1 Giá trị và giá cả của tiền tệ.

Khi xem xét quan điểm về giá trị của tiền tệ thì cả Marx và các nhà kinh tếhọc đều công nhận một điều rằng giá trị của tiền chính là hao phí lao động để sảnxuất ra lượng tiền đó Vậy nên khái niệm giá trị của tiền chỉ có ý nghĩa đối với tiền

có giá trị thật là các kim loại quý chứ không có ý nghĩa đối với các loại tiền có giấy

mà nó chỉ là các ký hiệu của giá trị Đối với tiền giấy thì đại lượng đại biểu chochúng ở đây là sức mua, tức là khả năng chúng đại biểu cho bao nhiêu lượng giá trịthật Vậy nên nếu trong trường hợp quá nhiều tiền giấy tức quá nhiều lượng đạibiểu thì điều này có nghĩa là giá trị mà tiền giấy đại biểu sẽ ít đi do tổng giá trịkhông đổi, đó chính là việc suy giảm sức mua của tiền giấy

Còn với giá cả của tiền, hiện nay có một sự tranh luận, với các nhà kinh tếhọc theo trường phái Cambridge thì giá cả của tiền chính là lãi suất tức là chi phí

bỏ ra để sử dụng lượng tiền đó Nhưng theo Marx điều này không nhất quán vớikhái niệm giá cả nói chung Người ta công nhận giá cả của hàng hóa theo kháiniệm là giá trị của hàng hóa được biểu hiện dưới dạng tiền vậy giá cả của tiềnchính là giá trị của tiền biểu hiện dưới dạng hàng hóa hay nói cách khác trong thời

kỳ tiền vàng thì nó là lượng hàng hóa đầu tiên mà tiền mua được khi vừa rời khỏixướng đúc tiền và trước khi đi vào lưu thông Còn chi phí bỏ ra để sử dụng tiền thìMarx nếu ra một khái niệm đó chính là giá trị sử dụng của tư bản Việc tìm hiểu kỹ

về giá cả, giá trị của tiền sẽ giúp ta hiểu thêm về sức mua và bản chất của hiệntượng lạm phát ở Việt Nam

Trang 30

tăng vọt Bởi vì khác với giá trị của tiền vàng do hao phí lao động khai thác vàngquyết định, thì tiền giấy chỉ là ký hiệu giá trị trong chừng mực chúng thay thế chotiền vàng, vậy nên giá trị của giấy bạc trong lưu thông chỉ do số lượng của chínhgiấy bạc đó quyết định mà thôi

Như vậy ta có thể thấy rằng lạm phát của Marx là một hiện tượng là do thừaquá nhiều ký hiệu của giá trị, hay tiền giấy Nói cách khác Marx chỉ công nhận lạmphát do thừa cung tiền tức tương ứng với các nguyên nhân một ba và bốn của kinh

tế hiện đại và nó chỉ xảy ra đối với tiền giấy chứ không xảy ra đối với tiền vàng.Giờ ta hãy lý giải vì sao Marx không công nhận nguyên nhân lạm phát do chi phíđẩy và do tỷ giá, chúng ta sẽ phân tích hai hiện tượng làm phát trên: Với hiệntượng lạm phát do chi phí đẩy là lạm phát xảy ra do những cú sốc cung tiêu cựchoặc do kết quả đấu tranh đòi tăng lương gây ra Chúng ta sẽ xét hai trường hợpsau:

Thứ nhất do những cú sốc cung tiêu cực: tức là sự tăng giá của các nguyênnhiên vật liệu đầu vào do 3 nguyên nhân sau:

Trường hợp 1: là do hao phí lao động trong các ngành khai thác nguyên vậtliệu tăng, ở trường hợp này hoàn toàn không gây nên lạm phát vì sự trao đổi vẫn làngang giá Ví dụ: giả sử trong ngành khai thác dầu mỏ trước đây 1 người côngnhân hoạt động trung bình 8 giờ đồng hồ thì khai thác được một thùng dầu, bây giờthời gian đó là tăng lên 10 giờ làm cho giá cả dầu tăng từ 80 USD/ thùng lên 100USD/thùng Vậy người sản xuất dầu mỏ sẽ tăng thu nhập của mình lên thêm 20USD do hao phí lao động trong khi đó với những người tiêu thụ dầu mỏ, họ cũngphải tăng thêm 2 giờ lao động của mình để có thể mua được một sản lượng dầu mỏnhư cũ Vậy nên trong trường hợp này hoàn toàn không gây nên lạm phát mà chỉlàm tăng thêm thời gian lao động xã hội trong các ngành sản xuất đồng thời làmcho tiền công thực tế của mọi người trong nền kinh tế tăng lên

Trường hợp 2: tăng giá nguyên vật liệu là do người bán tăng cao hơn mứcgiá sản xuất chung của xã hội Giả sử những người bán dầu mỏ vào cố tình tăngmức giá bán sản phẩm của mình lên hơn mức giá trao đổi ngang giá nhằm kiếm lợi

Trang 31

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

thì điều này đã được K.Marx chứng minh rằng: đối với người bán nguyên vật liệukhi tăng giá bán sản phẩm thì họ sẽ là người được lợi khi bán sản phẩm của mìnhnhưng cũng là người bị thiệt khi mua các hàng hóa còn lại của xã hội do nhữngngười sản xuất các hàng hóa còn lại cũng tăng giá bán hàng hóa của họ Trong khiđối với những người còn lại trong nền kinh tế sẽ bị thiệt khi mua dầu mỏ nhưngđược lợi khi bán hàng hóa của mình tăng giá lên.4 Vậy xét về vấn đề tiền công thực

tế của những người lao động sản xuất trong nền kinh tế hoàn toàn không tăng lên

Trường hợp 3: sự tăng giá bán do mất cân bằng cung cầu và có yếu tố đầu

cơ Vẫn là ví dụ về sản xuất dầu mỏ ta hãy giả sử rằng do có sự mất cân bằng cung

và cầu về dầu mỏ trong ngắn hạn khiến cho giá dầu mỏ tăng cao, vậy theo đúngquy luật cung cầu thì giá dầu mỏ cao khiến cho cầu thực tế về dầu mỏ giảm, cầudầu mỏ thực tế giảm làm cho giá dầu về lại đúng giá cả cân bằng của nó Còn trongtrường hợp có yếu tố đầu cơ thì nếu xét về bản chất cầu về đầu cơ là cầu giả nhưngkhông làm thay đổi lượng cung thực tế và những người đầu cơ hi vọng đẩy giá dầulên cao nhằm kiếm lợi nhưng khi họ làm thế thì cầu về dầu thực tế cũng đã giảmvậy nên buộc những người đầu cơ phải bán giá dầu thấp xuống trở lại mức giá cũhoặc thấp hơn Vậy nên xét về dài hạn thì giá dầu trung bình vẫn bằng với mức giádầu lúc cân bằng cung cầu nên không gây nên yếu tố lạm phát

Thứ hai ta xét đến lạm phát chi phí đẩy do công nhân đấu tranh đòi tănglương cũng được thể hiện trong hai trường hợp dưới đây:

Trường hợp 1: khi tiền công cho người công nhân thấp hơn so với lao độngthực tế của họ làm ra, nếu người công nhân đấu tranh đòi tăng lương và được chấpthuận thì ta sẽ có việc đấu tranh này chỉ làm thay đổi cơ cấu lợi nhuận được phânchia sau khi bán hàng, tức phần lợi nhuận được nhà tư bản đem vào tái sản xuất lầnsau ít đi do nó được đem trả một phần vào tiền công của người công nhân nênkhông làm thay đổi giá trị của hàng hóa vậy nên giá bán hàng hóa không thay đổikhông gây nên lạm phát Trong khi đó tiền công danh nghĩa của người công nhântăng lên sẽ làm cho tiền công thực tế của họ tăng lên kéo theo việc tăng tiêu dùnghàng hóa Như vậy vòng vốn sẽ được quay vòng nhanh hơn và hạ chi phí lưu thông

4 Xem Karl Marx Tư bản tập 1 phần 1 – Mục “Nguồn gốc giá trị thặng dư”

Trang 32

hàng hóa xuống nên quá trình tái sản xuất mở rộng của nhà tư bản tuy giảm đi vềquy mô sau mỗi vòng tái sản xuất nhưng lại tăng nhanh quá trình tái sản xuất hơn

do rút ngắn được các chu kỳ sản xuất Thì đây là một điều hoàn toàn tốt, không gâyảnh hưởng lạm phát mà còn kích cầu thúc đẩy tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế,giảm ảnh hưởng của khủng hoảng thừa

Trường hợp 2: Nếu người công nhân đấu tranh đòi tăng lương vượt quá sựđóng góp về lao động của họ thì sẽ ảnh hưởng đến giá bán hàng hóa của họ tănglên so với giá trị thực của nó Như vậy giống như trường hợp tăng giá bán nguyênvật liệu đầu vào cao hơn giá trị thực của nó, người công nhân sẽ được lợi khidoanh nghiệp sản xuất của họ bán hàng hóa nhưng lại bị thiệt khi mua hàng hóacủa các doanh nghiệp sản xuất khác do toàn bộ hàng hóa đều tăng giá Vậy nêntiền công thực tế của người công nhân đều không thay đổi trước và sau khi đấutranh đòi tăng lương

Như vậy trường hợp lạm phát do chi phí đẩy không xảy ra vì trong cáctrường hợp vừa phân tích trên ta thấy rõ ràng một điều rằng trong các trường hợptrên tiền công thực tế của người lao động không hề giảm đi thậm chí có trường hợpcòn tăng thêm Có kết quả này vì khi phân tích quá trình lạm phát làm suy giảmđồng lương thực tế của mọi người thì ta phải xem xét trên góc độ của quy luật lưuthông hàng hóa tiền tệ với công thức H-T-H tức là xem xét trên 2 góc độ mua vàbán Trong khi đó khi phân tích lạm phát do hiện tượng chi phí đẩy, ta lại thườngxem xét nhìn trên góc độ giá bán hàng hóa với người mua là quá trình

T-H tức chỉ có một nửa vấn đề vì trong nền kinh tế thị trường mọi người đềuvừa là người bán và vừa là người mua tức vừa là người sản xuất nhưng cũng đồngthời là người tiêu dùng Bởi vì theo Marx: không có người tiêu dùng chuyên biệthay người sản xuất chuyên biệt mà nền kinh tế chỉ tồn tại sự trao đổi giữa nhữngngười sản xuất với nhau Nếu tồn tại người chuyên tiêu dùng và người chuyên sảnxuất thì tầng lớp những người tiêu dùng chính là những người bóc lột5

5 Xem Karl Marx Tư bản tập 1 phần 1- Mục Nguồn gốc giá trị thăng dư

Trang 33

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

Thứ ba: Với hiện tượng lạm phát do tỷ giá gây nên ta sẽ xem xét các vấn đềsau:

Trường hợp thứ nhất: khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá, nó tác động lêntâm lý của những người sản xuất trong nước muốn kéo giá hàng lên theo mức tăngcủa tỷ giá hối đoái Ở đây đã có sự lầm lẫn giữa nguyên nhân và kết quả Vì dođồng bản tệ trong nước lạm phát ở mức cao mới khiến cho bắt buộc phải phá giáđồng bản tệ vì nếu giữ nguyên tỷ giá cũ thì sẽ dẫn đến việc thâm hụt cán cân thanhtoán và giảm dự trữ ngoại hối Vấn đề này ta sẽ phân tích sâu hơn ở phần 4 của đềtài này về các cách thức xác định tỷ giá

Trường hợp thứ hai: đấy là khi lạm phát do đồng nội tệ mất giá thì sẽ làmtăng giá lượng hàng hóa nhập khẩu cũng là việc xét ngược nguyên nhân kết quả, vì

do lạm phát trong nước khiến sức mua đồng bản tệ giảm kể cả với ngoại tệ (khiphá giá đồng bản tệ) Trong khi đó sức mua của đồng ngoại tệ với hàng hóa nhậpkhẩu không thay đổi, từ đó ta có sức mua đồng bản tệ giảm khi mua hàng hóa nhậpkhẩu

Vậy bản chất của quá trình lạm phát là việc lạm dụng quyền phát hành tiền

tệ tức phát hành quá nhiều số lượng các ký hiệu của giá trị bằng việc sử dụng cácquyền lực của nhà nước hoặc của hệ thống ngân hàng khiến cho tiền giấy ngàycàng mất giá so với hàng hóa (tức tiền giấy giảm giá trị so với hàng hóa chứ khôngphải hàng hóa tăng giá so với tiền) nhưng thoạt nhìn các hiện tượng bề ngoài thì làhàng hóa tăng giá so với tiền giấy

1.2.2.3 Cơ chế lạm phát qua quy luật lưu thông tiền tệ giản đơn và đầy đủ

Như đã trình bày ở trên thì tiền tệ đóng vai trò trung gian trong quá trình lưuthông hàng hóa Nhà kinh tế học Adam Smith đã từng có một câu nhận xét chochức năng này của tiền tệ là:”Tiền tệ là bánh xe vĩ đại của lưu thông” Nhìn vàocâu nói trên ta có thể thấy một điều rằng khi ví tiền tệ là bánh xe vĩ đại của lưuthông thì Adam Smith muốn nhấn mạnh đến tiền tệ như một phương tiện thuận tiệncủa lưu thông chứ không phải là bản chất của quá trình lưu thông Bởi một lẽ đơngiản với một chiếc xe có bánh ở trên đường thì con người sẽ di chuyển nhanh hơn,

Trang 34

nhưng nếu không có chiếc bánh xe đó thì con người cũng vẫn di chuyển được vẫntrên con đường đó tuy rằng tốc độ có chậm lại Ở đây với hàng hóa và tiền tệ cũngthế: dù có hay không có tiền tệ thì hàng hóa vẫn được lưu thông bởi sự lưu thônghàng hóa là bắt buộc đối với quá trình tồn tại và phát triển của con người Trongkhi đó sự xuất hiện của tiền tệ chỉ góp phần làm cho việc lưu thông hàng hóa trởnên nhanh hơn và dễ dàng hơn chứ không quyết định quá trình lưu thông hàng hóadừng lại hay không Liên hệ điều này với thực tế đã được chứng minh như trongcuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 hay trong cuộc khủng hoảng kinh

tế năm 2007 vừa qua, ở một số vùng thuộc các nước Anh và Mỹ người ta không sửdụng đồng tiền của quốc gia đó nữa mà thực hiện tiến hành trao đổi hàng hóathông qua các phiều ghi điểm ngày công lao động Ở đây sự ghi điểm ngày cônglao động của người dân ở các vùng nói trên là đại biểu cho lượng giá trị mà họ đãlàm ra trong các hoạt động lao động và thông qua các số liệu đó mà họ nhận cáchàng hóa tương ứng một cách tương đối với giá trị trong các hoạt động lao độngcủa mình và trao đổi chúng với nhau Thấy rõ điều này chúng ta hoàn toàn có thể

làm rõ ràng một điều bản chất của quá trình lưu thông tiền tệ là: “lưu thông tiền tệ

hay hình thái vận động một chiều của tiền phát sinh từ hình thái vận động hai chiều của chính hàng hóa.Chính bản chất của lưu thông hàng hóa đã đẻ ra cái

hàng hóa là H-T-H ta có hãy chia quá trình lưu thông hàng hóa đó thành 2 giaiđoạn

- Giai đoạn 1: là H-T ở giai đoạn này một điều rõ ràng là trong sự biến đổi hìnhthái đầu tiên của hàng hóa đã không chỉ thể hiện sự vận động của tiền mà còn là sựvận động của bản thân hàng hóa nữa Ở đây hàng hóa được vận động đưa vàotrong sự lưu thông của chính mình

- Giai đoạn 2: là T-H thì ở giai đoạn này hàng hóa đã được đẩy ra khỏi lưuthông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng vậy nên ta sẽ không còn thấy sự vận động củahàng hóa trong lưu thông nữa mà chỉ thấy sự vận động của chính đồng tiền thôi

6 Xem Karl Marx Tư Bản- Tập 1 phần 1 trang 157, NXB Tiến Bộ và NXB Sự thật bản in 1988

Trang 35

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

Như vậy việc sự lưu thông hàng hóa nếu phân tích rõ đã được ẩn đi dưới cái

vỏ bọc là sự lưu thông của tiền tệ Bởi vì tính chất liên tục của sự vận động chỉ củaluôn ở phía tiền nên nếu xét trong một số hàng hóa hạn chế có thể đếm được thì tathấy rõ ràng một điều rằng tiền luôn vận động để chiếm chỗ hàng hóa trong lĩnhvực lưu thông Nhưng thực chất khi xét với toàn bộ cả một tổng thể các hàng hóakhổng lồ trong nền kinh tế làm một đối tượng và đối lập nó là đối tượng tiền thì 2đối tượng trên luôn luôn vận động theo vòng tròn với các vòng quay ngược nhau.Đơn giản với hàng hóa thì chúng ta mới có giá trị sự dụng còn với tiền thì không

có, nhu cầu sử dụng giá trị sử dụng của hàng hóa là động cơ làm hoạt động cáivòng quay lưu thông hàng hóa và tiền, còn tiền với tư cách là vật trung gian trongtrao đổi thì nó hoàn toàn không hề có giá trị sử dụng mà chỉ có giá trị mà ở đây thểhiện ra ngoài là giá trị trao đổi – vậy nên tiền hoàn toàn không thể vận hành đượcvòng quay lưu thông của nó và hàng hóa Sự nhầm lẫn một cách tế nhị này đãkhiến cho người ta lầm tưởng rằng chỉ có tiền mới quyết định quá trình lưu thôngcủa hàng hóa lẫn tiền trong khi thực tế thì hàng hóa mới quyết định quá trình lưuthông của cả 2 thứ Vậy nên mỗi khi khủng hoảng xảy ra thì người ta lại cảm thấycần tiền hơn là hàng hóa vì họ cho rằng tiền mới tiến hành quá trình lưu thông hànghóa được, và một điều ngớ ngẩn thường thấy trong khủng hoảng đó là con người tasẵn sàng hi sinh hàng triệu tấn hàng hóa với lượng giá trị gấp hàng nghìn lần lượnggiá trị của số tiền họ thu được sau khi hi sinh số hàng hóa đó

Điều thứ hai cần làm rõ trong quá trình lưu thông tiền tệ đó là trong vòngquay vĩ đại của quá trình lưu thông hàng hóa thì tiền tệ thực chất chỉ là đóng vai tròtrung gian thôi Vậy nên sự gia tăng thêm tiền vào trong lưu thông không có nghĩalàm nên sự giàu có của một quốc gia Trong khi đó sự giàu có của một quốc giathực tế được quyết định bằng số giá trị của cải mà quốc gia đó tạo ra từ trước đêngiờ trong quá trình sản xuất của xã hội loài người Chúng ta sẽ xem xét vấn đề này

rõ hơn trong quá trình lưu thông tiền tệ, cụ thể ở đây là công thức lưu thông tiền tệ:

M*V=P*Q.

Trong đó:

Trang 36

M: khối lượng tiền trong lưu thông

V: Số vòng quay của những đồng tiền cùng một tên gọi

P*Q: Tổng số giá cả của hàng hóa.

Nhìn vào công thức toán học trên ta thấy rằng khối lượng tiền trong lưuthông phụ thuộc vào tổng số giá cả hàng hóa, tốc độ quay của những đồng tiềncùng loại Và tổng số giá cả của hàng hóa lại phụ thuộc vào khối lượng cũng nhưgiá cả của từng loại hàng hóa Ở đây 3 nhân tố này hoạt động theo các chiều tráingược nhau nên sự biến đổi các nhân tố đó có thể bù trừ lẫn nhau một cách khiếncho tổng số giá cả các hàng hóa phải thực hiện vẫn không thay đổi và do đó khốilượng tiền lưu thông cũng không thay đổi mặc dù các nhân tố ấy biến động khôngngừng do quá trình tái sản xuất mở rộng liên tục diễn ra và nền kinh tế thế giới vẫntiếp tục tăng trưởng:

Vì vậy, nhất là trong khi nghiên cứu những thời kỳ tương đối dài, khối lượngtiền đang lưu thông trong mỗi nước thường có một mức trung bình cố định hơnnhiều, và trừ những thời kỳ rung chuyển mạnh do những cuộc khủng hoảng gây ra

và trong trường hợp hiếm có hơn, do những sự biến đổi trong bản thân giá trị củatiền gây ra, thì những sự chênh lệch với mức trung bình đó ít nhiều so với điều mà

ta vẫn tưởng khi mới thoạt nhìn Xét về trung bình thì khối lượng tiền trong lưuthông gần như không thay đổi trong dài hạn, mặc dù trong ngắn hạn sẽ có lúc sốlượng tiền trong lưu thông được tăng lên hay giảm xuống khá mạnh tùy theo tácđộng và độ trễ của các hiện tượng kinh tế Tuy nhiên quá trình tái sản xuất cả giảnđơn lẫn mở rộng đều vẫn diễn ra như một sự tất yếu của quy luật xã hội mà conngười bắt buộc phải tuân theo Sự nhầm lẫn việc bơm thêm tiền vào lưu thông đãtạo nên cái hiện tượng mà ta sẽ gọi nó dưới một cái tên đơn giản:” Ảo tưởng về sựthịnh vượng” Thực chất thì khối lượng tiền lưu thông chỉ thay đổi khi có sự thayđổi về giá trị trong chính đồng tiền, bởi lẽ: khi giá trị trao đổi của hàng hóa và tốc

độ trung bình của những sự chuyển hóa hình thái của chúng là những số xác địnhthì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông do chính giá trị của bản thân nó quyếtđịnh Cụ thể ở đây là trong trường hợp sau:

Trang 37

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

Khi một kim loại có giá trị cao hơn thay thế cho một kim loại có giá trị thấphơn trong lưu thông hoặc ngược lại Ví dụ cụ thể ở đây là sự thay thế của vàng đốivới bạc trong lưu thông: vì vàng có giá trị cao hơn bạc nên chỉ cần một khối lượngvàng nhỏ hơn là có thể thay thế một khối lượng bạc lớn hơn rất nhiều

Tiếp theo dựa vào công thức lưu thông tiền tệ ta thấy ở đây Marx sử dụng kýhiệu V để chỉ tốc độ những đống tiền có cùng một tên gọi Theo Marx thì khốilượng tiền được đưa vào quá trình lưu thông hàng ngày khi nó mới bắt đầu là dotổng số giá cả của các hàng hóa trong lưu thông cùng một lúc và bên cạnh nhautrong không gian, quyết định Nhưng trong phạm vi của quá trình đó có thể nói mỗimột đồng tiền đều chịu trách nhiệm về tất cả các đồng tiền khác Nếu một đồngtiền này tăng nhanh tốc độ lưu thông của mình lên thì nó sẽ làm giảm tốc độ lưuthông của đồng tiền khác, thậm chí đồng tiền này còn có thể hoàn toàn bị gạt rangoài lĩnh vực lưu thông, bởi vì lĩnh vực ấy chỉ có thể thu hut một khối lượng vàng

mà đem nhân với số vòng quay trung bình của các yếu tố cá biệt của nó thì sẽ bằngtổng số các giá cả cần phải thực hiện Vì thế nếu như số vòng quay của các đồngtiền tăng lên thì khối lượng tiền nằm trong lưu thông sẽ giảm xuống và ngược lại

Như đã chứng minh ở trên thì theo quy luật lưu thông tiền tệ của Karl Marx

đã chứng minh lượng cầu tiền thực tế của nền kinh tế là ở thị trường hàng hóa đểđảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng Như vậy điểm khác biệt của Marx ở đây làkhi xem xét về lượng cầu tiền ông chỉ tính đến lượng cầu tiền trong thị trường sảnxuất hàng hóa, vì theo Marx thì hiện tượng lạm phát chỉ xảy ra trên thị trường sảnxuất hàng hóa Khác với các nhà kinh tế học hiện đại là xem xét trên toàn bộ nềnkinh tế bao gồm cả thị trường sản xuất và thị trường phi sản xuất Còn với các thịtrường phi sản xuất Marx có tính đến lượng cầu tiền nhưng về bản chất lại khác vớithị trường sản xuất Chúng ta sẽ phân tích kỹ sự khác biệt này ở chương 2

Trong khi đó đối với lượng cung tiền, nếu như các nhà kinh tế học hiện đạixem xét lượng cung tiền của thị trường sản xuất trên cơ sở là khối tiền tệ M1 thìđối với Karl Marx khối tiền tệ ở đây chỉ là M0 (tức tiền mặt ngoài lưu thông) vì nó

đã loại trừ tiền gửi không kỳ hạn hay tiền gửi thanh toán trong các ngân hàng Để

Trang 38

chứng minh điều này Marx đã đưa ra công thức lưu thông tiền tệ đầy đủ trong nềnkinh tế đã phát triển ở mức cao là:

M*V=P*Q+P1*Q1-P2*Q2-P3*Q3

Ở đây ta có: P*Q là tống số giá cả phải được thực hiện

P1*Q1 là tổng số giá cả hàng hóa đến hạn phải trả

P2*Q2 là tổng số giá cả hàng hóa trả chậm sang kỳ sau

P3*Q3 là tổng số khoản thanh toán được hủy đi bằng cách bù trừ lẫnnhau quyết định được thực hiện thông qua hệ thống thanh toán không dùng tiềnmặt của ngân hàng

Từ công thức trên, nếu ta coi ảnh hưởng của P1*Q1-P2*Q2 là không đáng

kể, bởi vì tùy theo từng thời kỳ thì các khoản này luôn bù trừ cho nhau và hiệu chỉ

là một con số rất nhỏ có thể coi bằng 0 thì ta sẽ có:

M=(P*Q-P3*Q3)/V

Như vậy với nền kinh tế càng phát triển cùng hệ thống ngân hàng chuyểnkhoản thì P3*Q3 càng lớn, do khối tiền tệ M sẽ tương ứng với M0 (tiền mặt ngoàilưu thông càng giảm bớt đi về mặt giá trị) Điều đó có nghĩa là nếu trước đây cần

100 tấn vàng trong lưu thông thì giờ người ta chỉ còn cần 90 tấn vàng (tiền có giátrị) Như vậy nếu lượng tiền giấy là không đổi thì sự mất giá của tiền giấy đã là10%, còn trong trường hợp lượng tiền giấy tăng thêm 5% số lượng phát hành thì sựmất giá của tiền giấy hay lạm phát lúc này đã là 15% Đối với nền kinh tế mà thịtrường tài chính càng phát triển và các loại tài sản tài chính như chứng khoán, giấy

tờ có giá càng tham gia vào tổng phương tiện thanh toán và đóng vai trò tươngđương tiền giấy (trong một số trường hợp càng nhiều) thì lúc này mức lạm phát lạicàng ở mức cao, tuy nhiên điều này chỉ đúng với 2 trường hợp cụ thể:

Trang 39

Đề tài nghiên cứu khoa học 2011 GVHD: TS Phan Hữu Nghị

- Thứ hai: lạm phát theo Marx là nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăngkhoảng cách giàu nghèo vì người giàu có thừa giá trị để cất trữ nên họ thường cấttrữ dưới dạng các tài sản đảm bảo về mặt giá trị, trong khi người nghèo lại có xuhướng giữ tiền mặt để luôn đảm bảo cho sinh hoạt tối thiểu của họ, vì vậy lạm phátchính là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng khoảng cách giàunghèo

- Thứ ba: lạm phát làm tăng GDP ảo, theo Marx ở đây là giá cả ảo dẫn đếnviệc làm tăng nguy cơ bong bóng của nền kinh tế, vậy nên Marx cũng không chủtrương hướng đến một nền kinh tế tăng trưởng dựa giá cả ảo mà là một nền kinh tếtăng trưởng dựa trên giá trị thật

1.2.2.5 Mối quan hệ giữa lạm phát, giá cả và giá trị.

Ở chương này ta sẽ đi sâu vào việc phân tích cái mối quan hệ giữa lạm phát,giá cả và giá trị Ở đây trong lý thuyết kinh tế của Marx ông cho rằng việc gia tănglạm phát chỉ là một nguyên nhân mà hệ quả là nó dẫn đến việc mức giá cả hànghóa trung bình tăng cao trong một thời gian dài Khi xem xét đến việc mức giá cả

Trang 40

hàng hóa tăng cao trong thời gian dài thì Marx bảo nó có thể do các nguyên nhânsau:

- Thứ nhất đó là do nguyên nhân lạm phát tức việc lạm dụng phát hành tiền.Theo mối tương quan giữa giá cả và giá trị thì giá cả là cái biểu hiện bề ngoài, đạidiện cho giá trị Nếu trong trường hợp phát hành quá nhiều tiền giấy thì điều nàyđồng nghĩa với việc phát hành quá nhiều giá cả, bởi lẽ có những lượng tiền giấychỉ tương ứng với giá cả ảo như giá cả của tư bản giả, giá cả của đất đai bao gồm

cổ phiếu, trái phiếu, chứng thư có giá, điều này đã góp phần khiến cho tính đại biểucủa giá cả bị mất đi, nên phải một lượng giá cả rất lớn mới có thể đại biểu cho mộtlượng giá trị rất nhỏ, và lượng ký hiệu của giá trị tương ứng với lượng giá cả ảo đócũng chỉ thực hiện được việc trao đổi với một lượng giá trị nhỏ Đây chính làtrường hợp lạm phát làm tăng giá hàng hóa, nên điều này cũng lý giải vì sao chỉ cótrong chế độ tiền pháp định thì ta có khái niệm sức mua của tiền tệ

- Thứ hai nguyên nhân gây nên giá cả tăng dài có thể do sự mất cân bằngcung và cầu về hàng hóa tiêu dùng trong thời gian dài

- Thứ ba là do sự tăng giá của các nguyên liệu đầu vào do tính chất khai thácngày càng khó khăn hơn nhưng trường hợp này ta đã chứng minh ở trên là khôngphải do hiện tượng lạm phát

Đến đây ta thấy rằng một sự phân tích nào về giá cả, giá trị và lạm phát củaKarl Marx đều gắn liền rất rõ với giá trị cũng như mối quan hệ giữa chúng Lạmphát với bản chất là hiện tượng tăng lượng tiền phát hành là nguyên nhân, giá cả ảo

là điều kiện và giá trị không đổi để khiến cho hiện tượng giá cả hàng hóa tăng caotrong một thời gian dài Nếu đặt vào trong điều kiện thực tế thì ta thấy rằng lượngtiền phát hành được tăng do chính hệ thống ngân hàng gây ra, lượng giá cả ảo đượchình thành nhiều do chính các thị trường tài chính gây ra bởi sự xuất hiện của quánhiều các giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, giấy chứng nhận quyền sử dụngđất mà giá cả của chúng được hình thành chủ yếu bởi tỷ suất lợi tức bình quân vàđịa tô của đất đai Trong khi đó giá trị chỉ tồn tại ở thị trường sản xuất và nó đượcbiểu hiện ra ở thị trường hàng hóa tiêu dùng

Ngày đăng: 11/11/2015, 11:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tư bản luận của Karl Marx - nhà xuất bản sự thật in năm 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản luận
Nhà XB: nhà xuất bản sự thật in năm 1983
2. Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị của Karl Marx – nhà xuất bản sự thật in năm 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị
Nhà XB: nhà xuất bản sựthật in năm 1993
3. Các Nguyên lý kinh tế chính trị và thuế khóa của David Ricacdo - nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội bản in năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nguyên lý kinh tế chính trị và thuế khóa
Nhà XB: nhà xuấtbản đại học quốc gia Hà Nội bản in năm 2000
4. Tổng quan lý thuyết việc làm, lãi suất và tiền tệ của John Maynard Keynes – nhà xuất bản giáo dục in năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan lý thuyết việc làm, lãi suất và tiền tệ
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục in năm 1994
5. Của cải các dân tộc của Adam Smith – nhà xuất bản giáo dục in năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Của cải các dân tộc
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục in năm 1997
6. Chiến tranh tiền tệ của Tống Hồng Binh – nhà xuất bản trẻ in năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh tiền tệ
Nhà XB: nhà xuất bản trẻ in năm 2007
7. Giáo trình bài giảng kinh tế vĩ mô của Mankiw, người dịch tiến sĩ Nguyễn Văn Ngọc – nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân in năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bài giảng kinh tế vĩ mô
Nhà XB: nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân in năm 2007
8. Giáo trình tài chính quốc tế của tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến – nhà xuất bản thống kê in năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính quốc tế
Nhà XB: nhà xuất bảnthống kê in năm 2000
9. Báo cáo thường niên của Ngân hàng trung ương Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4: Diễn biến lạm phát và GDP của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2006. - LẠM PHÁT VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
Hình 4 Diễn biến lạm phát và GDP của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2006 (Trang 43)
Hình 5: Diễn biến lạm phát, GDP giai đoạn 2007-2011 (nguồn Tổng Cục thống kê) - LẠM PHÁT VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
Hình 5 Diễn biến lạm phát, GDP giai đoạn 2007-2011 (nguồn Tổng Cục thống kê) (Trang 47)
Hình 6:Diễn biến DTBB của Việt nam giai đoạn 2007-2011 - LẠM PHÁT VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
Hình 6 Diễn biến DTBB của Việt nam giai đoạn 2007-2011 (Trang 49)
Hình 7: Diễn biến các mức lãi suất chủ đạo của Việt nam giai đoạn 2007-2011 - LẠM PHÁT VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
Hình 7 Diễn biến các mức lãi suất chủ đạo của Việt nam giai đoạn 2007-2011 (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w