Ở Việt Nam, chống lại lạm phát đã được chính phủ đặc biệt quan tâm và đã có những biện pháp kiềm chế lạm phát thành công trong suốt 12 năm 1995 2007 ở một chữ số.. -Xuất phát từ những lý
Trang 1Bài Luận
Đề Tài:
thực trạng và giải pháp kiềm chế lạm phát
ở Việt Nam
Trang 23 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.2 Phương pháp phân tích số liệu
1.1 NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT
1.1.1 Khái niệm và phân loại
1.2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1.2.1 Tình hình lạm phát từ 1999 – 2009
1.2.2 Tình hình lạm phát từ năm 2009 đến sáu tháng đầu năm 2011 Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 ĐẾN NAY
2.1 NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 ĐẾN SÁU THÁNG ĐẦU NĂM 2011
2.1.1 Yếu tố bên trong
2.1.2 Yếu tố bên ngoài
2.2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ
2.2.1 Thành tựu
2.2.2 Hạn chế
Trang 32.3 NGUYÊN NHÂN THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ
2.3.1 Nguyên nhân thành tựu
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 KẾT LUẬN
3.1 KẾT LUẬN
Trang 4Lời phê của giảng viên
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……….
PHẦN GIỚI THIỆU
Trang 51 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động sôi nổi đầy biến động thì sự cạnhtranh vốn đã gây gắt nay lại càng gay gắt hơn khi quá trình hội nhập kinh tếquốc tế đang diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu Để nền kinh tế phát triển nhanh
và bền vững đòi hỏi chính phủ, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phảinhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới Một trongnhững vấn đề có ý nghĩa quang trọng đó là lạm phát Lạm phát làm ảnh hưởngtoàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đến hầu hết mọi người
Nét đặc trưng nổi bật của nền kinh tế có lạm phát là giá cả của hầu hết cáchàng hoá đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh
Ở Việt Nam, chống lại lạm phát đã được chính phủ đặc biệt quan tâm và đã
có những biện pháp kiềm chế lạm phát thành công trong suốt 12 năm (1995 2007) ở một chữ số Tuy nhiên lạm phát đã tăng cao trong giai đoạn năm 2008đến nay ở mức hai chữ số khoảng hơn 12% và được dự đón là tiếp tục tăngtrong thời gian tới Một khi lạm phát cao xuất hiện thì tổn thất về kinh tế và xãhội là rất lớn Vậy lạm phát là gì? Thực trạng lạm phát ở Việt Nam hiện nay nhưthế nào? Và chúng ta phải làm gì để kiềm chế lạm phát?
-Xuất phát từ những lý do trên nên em quyết định chọn đề tài “thực trạng vàgiải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam” để làm chuyên đề kinh tế năm ba củamình, nhằm phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến sáutháng đầu năm 2011, để từ đó đề xuất một số giải pháp kiềm chế lạm phát ở ViệtNam trong thời gian tới
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn năm 2009 đến naynhằm đề xuất một số giải pháp kiềm chế lạm phát Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Thực trạng lạm phát Việt Nam từ năm 2009 đến nay.
- Đánh giá thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 2009 đến nay.
- Đề ra giải pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam trong thời gian tới.
Trang 63 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp từ sách, báo, đài, web có liên quan đến đề tài
3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nhĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử để tổng hợp, lý giải, so sánh và phân tích số liệu
Trang 7THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
NĂM 2009 ĐẾN NAY 1.1 NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT
1.1.1 Khái niệm và phân loại
Khái niệm:
Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế độ lưu thôngtiền giấy Điều này xuất phát từ chỗ tiền giấy chỉ là một loại dấu hiệu giá trịđược phát hành và lưu thông nhằm thực hiện vai trò trung gian trao đổi Bảnthân tiền giấy không có giá trị nội tại mà chỉ mang giá trị danh nghĩa Do đó, khi
có hiện tượng thừa tiền giấy trong lưu thông thì người ta không có xu hướng giữlại trong tay mình những đồng tiền bị mất giá và lượng tiền thừa sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa
Có rất nhiều định nghĩa về lạm phát, nhưng định nghĩa của các nhà kinh tếhọc hiện đại là được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiêm cứu thị trường: lạmphát là sự tăng lên mức giá trung bình theo thời gian
Lạm phát được đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phát hàng năm Nhưng trong thực
tế người ta dùng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính tỷ lệ lạm phát
Phân loại:
Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát hàng năm ta có thể chia lạm phát thành ba loại:
- Lạm phát vừa phải (lạm phát ở một con số): Khi giá tăng chậm dưới 10%một năm, đồng tiền ổn định
- Lạm phát phi mã (lạm phát ở 2,3 con số): Khi giá cả tăng 20%, 30%,200% một năm, đồng tiền mất giá nhanh chóng
- Siêu lạm phát (lạm phát ≥ 4 con số): Khi tỷ lệ lạm phát lớn hơn 1000%một năm, đồng tiền mất giá nghiên trọng
1.1.2 Nguyên nhân của lạm phát
Lạm phát cầu kéo: Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh
mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng Khi xảy ra lạm phát cầukéo người ta thường nhận thấy lượng tiền không lưu thông và khối lượng tíndụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng giới hạn của mức cung hàng hóa Bản
Trang 8chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạnchế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đã đạtcân bằng Xuất phát từ sự gia tăng tổng cầu, đường AD dịch chuyển sang phảilàm cho mức sản lượng tăng và mức giá chung tăng lên.
Các nguyên nhân làm tăng tổng cầu: dân cư tăng chi tiêu, doanh nghiệptăng đầu tư, chính phủ tăng mua hàng hóa dịch vụ, người nước ngoài tăng muahành hóa và dịch vụ trong nước…
Lạm phát do cung (còn gọi là lạm phát chi phí đẩy): Lạm phát loại này
xuất hiện khi chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc năng lực sản xuất của nềnkinh tế giảm sút Khi chi phí sản xuất tăng thì đường cung AS dịch chuyển sangtrái, làm cho sản lượng giảm và mức giá chung tăng lên: kinh tế vừa suy thoáivừa lạm phát
Nguyên nhân làm cho chi phí sản xuất tăng: Tiền lương tăng nhưng năngxuất lao động không tăng, điều kiện khai thác các yếu tố sản xuất khan hiếm vàtốn kém hơn, thuế tăng, thiên tai chiến tranh, do khủng hoảng một số yếu tố làmcho giá vật tư tăng lên
1.2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1.2.1.Tình hình lạm phát từ 1999–2009 ở Việt Nam
Thời kỳ 1999-2003 được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp Thời kỳ từ
2004 đến nay là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại, cứ hai nămtăng cao mới có một năm tăng thấp hơn
Năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, thì năm 2006 tăng 6,6% Năm
2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng 19,89%, thì năm 2009 tăng 6,52%
1.2.2 Tình hình lạm phát từ năm 2009 đến sáu tháng đầu năm 2011
CPI của cả năm 2009 dừng ở mức 6,88%, đúng mục tiêu của Chính phủ đề
ra là kiểm soát lạm phát dưới hai con số Tăng giá mạnh nhất là nhóm giaothông: 2,47% Chỉ số giá USD và vàng biến động mạnh Giá vàng chỉ tăng thêm0,49% trong tháng 12 nhưng cả năm 2009 đã tăng đến 9,16% Chỉ số giá USDtháng 12 tăng 3,19% khiến mức tăng cả năm lên đến 9,17% Việt Nam đã cónhiều biện pháp để kiêm chế lạm phát trong năm 2009 như: Chính phủ bắt đầu
Trang 9các chính sách “ nới lỏng tiền tệ “ , NHNN liên tục giảm lãi suất và tỷ lệ dự trữbắt buộc, ngoài ra chính phủ còn chủ trương giảm 50% thuế giá trị gia tăng cho
19 nhóm hàng dịch vụ, Chính phủ đưa ra gói kích cầu với tổng trị giá 160 nghìn
tỷ đồng
Năm 2010, Việt Nam lạm phát hơn 11,75% gấp rưỡi mức 6,88% của 2009, vượt
xa mục tiêu ban đầu (dưới 7%) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giátiếp tục tăng và tăng cao nhất với mức 3,31% so với tháng trước Chỉ số giávàng tháng 12/2010 tăng 5,43% so với tháng trước; tăng 30% so với cùng kỳnăm 2009 Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2010 tăng 2,86% so với tháng trước;tăng 9,68% so với cùng kỳ năm 2009 Việt Nam đã có nhiều biện pháp để kiềmchế lạm phát trong năm 2010 đáng chú ý nhất là Nghị quyết số 18 của Chínhphủ ra ngày 06/04/2010 với sáu gói giải pháp nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô,hạn chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng NHNN Việt Nam chủ động triển khaicác biện pháp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thông qua việc điều hànhtốt các công cụ của chính sách tiền tệ bảo đảm kiềm chế không để lạm phát cao
và đáp ứng yêu cầu thanh khoản của nền kinh tế, của hệ thống ngân hàng, đápứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Trước tình hình giá cả, thịtrường những ngày sau Tết Nguyên đán Canh Dần vẫn biến động theo chiềuhướng tăng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương khẩntrương triển khai một số biện pháp nhằm hạn chế tối đa những yếu tố phát sinhlàm cho lạm phát tăng cao trong năm 2010 Theo chỉ đạo của Thủ tướng, cácbiện pháp cần tập trung vào những yếu tố tác động do việc lợi dụng sự điềuchỉnh giá của Nhà nước để đẩy giá các loại hàng hóa tăng cao, gây tâm lý bất lợitrong xã hội
CPI bình quân 6 tháng tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước, gấp gần 3 lần
so với tốc độ tăng trưởng GDP cùng thời kỳ, ước vào khoảng 5,6% So với kỳgốc 2009 đã tăng xấp xỉ 32%, cho thấy sức mua của tiền đồng đã mất đi nhanhchóng thế nào trong vòng 2 năm qua Nhìn vào tổng mức bán lẻ hàng hóa vàdoanh thu dịch vụ tiêu dùng, tốc độ tăng đã loại trừ yếu tố giá mấy tháng gầnđây đã thấp hơn hẳn so với cùng kỳ các năm trước Trong khi đó, chi phí đầu
Trang 10vào sản xuất có chu kỳ tăng lên rất cao Điện, xăng dầu, gas kéo dài sức ảnhhưởng suốt giai đoạn quý 2/2011 Gạo, thịt, cá, rau quả các loại cũng liên tụclàm “đảo điên” chỉ số giá lương thực, thực phẩm.
Doanh nghiệp thì chịu thêm chí phí vốn, lao động và tỷ giá làm tăng giáthành nguyên liệu nhập khẩu Nền sản xuất cũng vào vòng quay khó khăn hơn.Tăng trưởng sản lượng toàn bộ nền kinh tế 6 tháng năm 2011 kém hơn cùng kỳnăm trước, nên giá cả lại một lần nữa chịu thêm tác động từ nguồn cung hạnchế Tuy nhiên, áp lực lên giá kéo dài đến tháng này đã gần cạn CPI nhóm hàng
ăn và dịch vụ ăn uống vẫn còn tăng cao nhưng đã thấp hơn rất nhiều so với mấytháng trước Nhóm giao thông, nhà ở và vật liệu xây dựng cũng không còn bámsát ở Top sau
Ngày 24/2/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP đề ra 7nhóm giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảođảm an sinh xã hội Các giải pháp trọng tâm là giảm tổng cầu của nền kinh tếthông qua các chính sách tài khóa, tiền tệ, xuất nhập khẩu; thông qua cắt giảmđầu tư công, giảm bội chi ngân sách, giảm dư nợ tín dụng của nền kinh tế, giảmnhập siêu và quá trình thực hiện đã đạt được những kết quả nhất định
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
Trang 11GIAI ĐOẠN 2009 ĐẾN NAY
2.1 NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 ĐẾN SÁU THÁNG ĐẦU NĂM 2011
Lạm phát về thực chất là sự mất giá của đồng tiền so với hàng hóa, dịch vụ,với nguyên nhân tổng quát là mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu, mà biểuhiện của nó là mất cân đối tiền-hàng: tổng cung cao hơn tổng cầu, tiền nhiều hơnhàng thì lạm phát (còn tổng cung ít hơn tổng cầu, tiền ít hơn hàng thì thiểu phát).Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát bao gồm những yếu tố tác động đến hai
vế của quan hệ cân đối này, tức là các yếu tố tác động đến tổng cung, đến hàng
và các yếu tố tác động đến tổng cầu, đến tiền
Xét theo các mặt này, thì các nguyên nhân của lạm phát thời gian qua baogồm các yếu tố sau
2.1.1 Yếu tố bên trong
- Xét tổng quát là sản xuất trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng cuốicùng, hay đầu tư và tiêu dùng vượt qua sản xuất lên đến trên dưới 10% hàngnăm, phải nhập siêu, phải vay nợ từ nước ngoài để bù đắp
Khi tổng cầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhậpsiêu, mà còn rất dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngoài (khủnghoảng, lạm phát ) và có trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩmô )
Vốn đầu tư/GDP gia tăng từ 34,9% trong thời kỳ 1996-2000 lên 39,1%trong thời kỳ 2001-2005 và lên 43,5% trong thời kỳ 2006-2010 Tiêu dùng cuốicùng/GDP của Việt Nam đã tăng tương ứng từ 71,1% thời kỳ 2001-2005 lên72,2% thời kỳ 2006-2010
Đây là tỷ lệ cao so với một số nước (năm 2009 của Việt Nam là 72,8%,trong khi của Brunei là 47%, Trung Quốc 48,7%, Singapore 52,4%, Malaysia64%, Indonesia 68,2%, Thái Lan 68,3%, Ấn Độ 69,6%, Hàn Quốc 70,3% ).Tiêu dùng của Việt Nam cao và tăng lên, có một phần do quy mô GDPbình quân đầu người thấp, có một phần do tiêu dùng có xu hướng tăng lên; có
Trang 12một phần do đã xuất hiện tình trạng “ăn chơi sớm” và chuộng hàng ngoại củamột bộ phận dân cư cũng góp phần đẩy lạm phát lên cao hơn.
Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tănglên qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên19,1 tỷ USD thời kỳ 2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-2010)
Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong
đó đáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhậpkhẩu lớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thựcvật, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ liệu, đường,thịt; mà một nước có bờ biển dài nhưng phải nhập muối; một nước có tỷ lệ xuấtkhẩu/GDP cao, nhưng do tính gia công, lắp ráp cao mà nhập khẩu nguyên phụliệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo nguyên liệu, máy vitính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có kim ngạchlớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ô tô nguyên chiếc, xe máy nguyênchiếc, hóa mỹ phẩm lên đến mấy tỷ USD
Nguyên nhân tiềm ẩn, sâu xa của lạm phát là hiệu quả đầu tư và năng suấtlao động thấp Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện ở hệ số ICOR cao và tăng lên quacác thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 là 5 lần, thời kỳ 2001-2005 lên 5,2 lần, thời kỳ2006-2010 lên 6,2 lần, cao gấp đôi nhiều nước trong khu vực)
Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư của Việt Nam từ năm 2003 trở vềtrước ở mức trên dưới 57%, từ 2004 đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức trên dưới40%, trong khi ICOR của khu vực này cao gấp rưỡi hệ số chung của cả nước.Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2010 đạt 40,3 triệuđồng/người, chỉ tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tươngứng của một số nước (năm 2008 của Nhật Bản 73.824 USD, Brunei 72.500USD, Singapore 62.724 USD, Hàn Quốc 38.235 USD, Malaysia 17.718 USD,Thái Lan 6.915 USD, Trung Quốc 5.460 USD, Indonesia 4.597 USD,Philippines 4.535 USD, Ấn Độ 2.706 USD )
Trang 13- Tổng thu ngân sách/GDP của Việt Nam thuộc loại khá cao (mấy năm nayđạt trên dưới 28%), nhưng thu từ dầu thô, từ hải quan, thu từ đất đai là nhữngkhoản không trực tiếp phản ánh hiệu quả kinh tế và có xu hướng giảm (thu từdầu thô năm 2005 chiếm 29,2%, 6 tháng đầu năm 2011 chiếm 13,9%; thu từ hảiquan, tương ứng chiếm 16,7% và 22,5%; thu từ đất đai chiếm khoảng 6-7%).Bội chi ngân sách/GDP từ năm 2006 trở về trước ở mức thấp, nhưng từnăm 2007 đến nay ở mức cao, tuy đã có xu hướng giảm xuống trong vài nămnay, nhưng vẫn thuộc loại cao Trong tổng chi ngân sách, tỷ trọng chi cho đầu
tư, chi cho lĩnh vực xã hội là cần thiết, nhưng thuộc loại cao, nhất là chi cho đầu
tư công-thể hiện Nhà nước còn “gánh” nhiều quá, cần khuyến khích các nguồnlực xã hội
- Tiền tệ là nguyên nhân trực tiếp và bộc lộ ra cuối cùng của lạm phát Tốc
độ tăng dư nợ tín dụng cao gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP
Năm 2010 so với năm 2000, tín dụng cao gấp trên 13,7 lần, trong khi GDPchỉ gấp trên 2 lần; hệ số giữa tốc độ tăng của tín dụng và của GDP lên đến trên6,2 lần-một hệ số rất cao Do vậy, dư nợ tín dụng/GDP đã ở mức khoảng 125%,cao gấp đôi con số tương ứng của nhiều nước Cùng với tăng trưởng tín dụng làtăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, mà tổng phương tiện thanh toán củaViệt Nam không chỉ là tiền đồng mà còn có vàng, có ngoại tệ
- Tình trạng vàng hóa và Đô la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm phát;Hút vào đây một lượng vốn lớn của xã hội mà không được đầu tư trực tiếp chosản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối với tiền
Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanhtoán tăng lên
Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tácđộng tới nhập lậu, kéo tỷ giá biến động theo Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lạitác động đến tâm lý, đến lòng tin vào đồng nội tệ
Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạmphát ở trong nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạmphát của thế giới; làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng VND