ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- DƯƠNG QUỲNH CHI MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ KHI GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng Mã
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
DƯƠNG QUỲNH CHI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ KHI GIA NHẬP
WTO ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MINH PHONG
Hà Nội – 2013
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lạm phát cao là vừa căn bệnh kinh niên vừa là người bạn đường của nền kinh tế thị trường; nó không có bản chất giai cấp mà nó là bản chất của kinh tế thị trường Có thể nói lạm phát luôn là một vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách kinh tế của bất kỳ một nền kinh tế nào trên thế giới Đặc biệt trong thời đại ngày nay, lạm phát là vấn đề trung tâm và nhạy cảm hàng đầu của đời sống kinh tế xã hội cả ở cấp quốc gia và quốc tế Với
tư cách là kết quả tổng hoà của các chính sách kinh tế xã hội vĩ mô, cũng như của các hoạt động kinh doanh vi mô trong sự hoà quyện và ảnh hưởng tương tác với bối cảnh chung của nền kinh tế khu vực và thế giới, lạm phát đã có tác động trực tiếp và gián tiếp, nhanh hoặc chậm, tích cực và tiêu cực, ở mức
độ này hay ở mức độ khác đến toàn bộ các lĩnh vực và khía cạnh hoạt động của chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân, đến các quan hệ kinh tế đối nội và đối ngoại của quốc gia, và tác động cả đến tình hình kinh tế khu vực và thế giới với mức độ tuỳ theo vị thế kinh tế chính trị mà nước đó đảm nhận trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, nghiên cứu lạm phát luôn luôn có ý nghĩa thời sự cả về lý thuyết lẫn thực tiễn
Cho đến nay, trên thế giới đã có hàng chục lý thuyết, hàng trăm cuốn sách, hàng ngàn bài báo và hàng chục cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế thuộc các tầm cỡ chuyên về lạm phát dưới mọi khía cạnh Song, thực tiễn lạm phát thế giới luôn diễn tiến không ngừng với nhiều đặc tính mới mẻ chưa được phân tích thấu đáo
Hơn nữa, từ khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007) đến nay, lạm phát ở Việt Nam có một số biểu hiện mới, như tốc độ cao và diễn biến phức tạp hơn do chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố mới, bên ngoài… Lạm phát đã
và đang tác động đến đời sống thường ngày của người dân, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cũng như gây khó khăn đối với kinh tế vĩ mô
Vì vậy, như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và 11/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/2/2011 đã xác định: mục tiêu chính của năm 2011 và
Trang 3các năm tiếp theo là kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội…
Những trình bầy trên cho thấy đề tài: “Một số giải pháp kiềm chế lạm
phát ở Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay” là cấp thiết cả về lý thuyết
và thực tế kinh tế ở nước ta Và đó cũng là lý do khiến em chọn đề tài này làm luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu:
Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, vấn đề về lạm phát trong nền kinh tế của mỗi quốc gia không chỉ chịu ảnh hưởng của các yêu tố bên trong mà còn chịu tác động mạnh mẽ bởi những yêu tố bên ngoài Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều lý thuyết, nhiều công trình, đề tài, đề án nghiên cứu, phân tích về vấn đề này: Paul Anthony Samuelson, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1970, người sáng lập khoa kinh tế học lừng danh của học viện Kỹ thuật Massachusetts Ông là đại diện tiêu biểu của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp, các nghiên cứu của ông về vấn đề lạm phát được trình bày rất kỹ trong cuốn “Kinh tế học” – cuốn sách từng được tái bản rất nhiều lần ở nhiều quốc gia trên thế giới Ngoài ra có thể kể đến học thuyết kinh tế học hiện đại của John Maynard Kenyes về lạm phát trong cuốn “The economic Consequences of the Peace” Keynes được coi là người khai sinh kinh tế học vĩ mô hiện đại, hệ thống lý luận kinh tế học vĩ mô của Keynes trở thành căn cứ chế định chính sách kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa phát đạt Ông đã đưa ra những quan điểm về lạm phát, nguyên nhân gây nên lạm phát và theo ông để kiềm chế lạm phát buộc phải có những kiểm soát chặt về giá cả hàng hóa bằng sức mạnh của luật pháp Nối tiếp trường phái kinh tế học hiện đại của Keynes, Robert J Sumelson cũng đề cập đến lạm phát theo các khía cạnh khác nhau dựa trên quan điểm của Keynes trong cuốn “The Great Inflation and its Aftermarth the Past and Future of American Affluence”
Trong nước cũng đã có rất nhiều những công trình, đề án nghiên cứu về lạm phát như: “Lạm phát và một số biện pháp kiềm chế lạm phát trong tình hình kinh tế Việt Nam” của Th.s Phạm Minh Tuấn – Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra các đặc điểm về lạm phát trong nền kinh tế hiện đại Hay
Trang 4trong cuốn “Lạm phát ở Việt Nam – Lý thuyết và kiểm chứng mô hình Start” của Nguyễn Trọng Hoài, Nguyễn Hoài Bảo đề cập đến việc xây dựng
P-và áp dụng mô hình kiểm chứng P-start P-vào nghiên cứu lạm phát P-và nhiều công trình có giá trị khác…
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về tình hình lạm phát ở Việt Nam từ khi tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đến nay Đặc biệt trong bối cảnh thế giới hiện đang có nhiều bất ổn cả về chính trị, kinh tế và an ninh quốc phòng; trong đó Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những tranh chấp chính trị, kinh tế trên biển đông Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia và tăng trưởng của nền kinh tế đất nước
ta Vì vậy, cần có những nghiên cứu kịp thời để ngăn chặn những tác động xấu đến nền kinh tế: suy giảm đà tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát tăng cao, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao…
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
+ Góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát ; + Phân tích thực tiễn lạm phát ở Việt Nam từ khi Việt nam gia nhập WTO;
+ Dự báo xu hướng, nhân tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Phân tích và tổng hợp những vấn đề lý luận liên quan đến lạm phát như: định nghĩa về lạm phát, phân loại lạm phát, những tác động của lạm phát đến nền kinh tế Đưa ra một số nguyên nhân và giải pháp đối phó với lạm phát
+ Phân tích tình hình lạm phát ở VN từ năm 2007-2011 với những diễn biến lạm phát và chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề chung về lạm phát và thực tiễn về lạm phát ở Việt Nam
Trang 5- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: giai đoạn Đổi mới, đặc biệt những năm 2007 – 2010 + Về không gian: Động thái, nguyên nhân và chính sách kiềm chế lạm phát của Chính phủ Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu để đánh giá tình hình thực tế Đồng thời kết hợp sử dụng các bảng biểu để minh họa
6 Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa lý luận về lạm phát, đưa ra một số cách tiếp cận, phân loại lạm phát theo nguyên nhân, tính chất và quá trình bộ lộ của lạm phát Góp phần phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam từ khi tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đến nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể, cấp thiết góp phần kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Trang 6Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1.1 Định nghĩa về lạm phát
Có rất nhiều các luận thuyết, các quan niệm về lạm phát mặc dầu, hoặc chỉ dựa vào hiện tượng biểu hiện bề ngoài của lạm phát, hoặc tiếp cận khái niệm lạm phát từ một hoặc vài nguyên nhân nào đó của lạm phát, song đều thừa nhận và toát lên đặc tính cơ bản chung về lạm phát là hiện tượng giá cả chung tăng lên và đúng hơn là sức mua thực tế của đồng tiền giảm xuống
Đây cũng chính là định nghĩa ngắn gọn và nhấn mạnh bản chất xác đáng nhất về lạm phát được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới cho đến nay
1.2 Phân loại và đo lường lạm phát
* Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trước: Là lạm phát mà toàn bộ
giá cả các hàng hoá, dịch vụ đều tăng với chỉ số ổn định trong sự chờ đợi có tính mặc nhiên, có thể dự báo được và mọi tính toán, thu nhập cũng tăng theo tương ứng
* Lạm phát không cân bằng và không dự đoán trước: Loại lạm phát mà
giá cả các hàng hoá dịch vụ tăng không đều nhau và nhà nước không dự báo cũng như không chủ động điều tiết được Đây là hiện tượng phổ biến nhất ở các nước đang phát triển
1.2.1.3 Căn cứ vào quá trình bộc lộ, "hiện hình" lạm phát, người ta phân biệt:
* Lạm phát “ngầm”: Lạm phát đang còn ở giai đoạn ẩn náu, tiềm ẩn, bị
Trang 7kiềm chế về tốc độ tăng giá, hoặc biểu hiện ở dạng giá cả không tăng nhưng tăng sự khan hiếm hàng hoặc giảm chất lượng hàng hoá và dịch vụ cung cấp
* Lạm phát “công khai”: Có sự biểu hiện tăng phổ biến giá cả hàng
hoá, dịch vụ rõ rệt trên thị trường
Pt- tổng giá trị cả giai đoạn t
Pt-1 - tổng giá cả giai đoạn t-1
t-1 và t là hai giai đoạn kế tiếp nhau)
Trong thực tế người ta thường sử dụng các chỉ số giá thông dụng sau
để đánh giá tình hình lạm phát:
1.2.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Trong thực tế các nước, trong đó có Việt Nam, thước đo lạm phát phổ biến nhất được sử dụng chính là CPI- Chỉ số giá thời gian (consumer price index) đo mức biến động giá cả bán lẻ của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ khác, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ
y tế Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia quyền
theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở
Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1 Cố định giỏ hàng hóa: Thông qua điều tra, người ta sẽ xác định
lượng hàng hóa, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua
2 Xác định giá cả: Thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng
hóa tại mỗi thời điểm
3 Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hóa bằng cách dùng số
lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hóa rồi cộng lại
4 Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu
dùng bằng công thức sau:
Trang 81.2.2.2 Chỉ số giá sản xuất (PPI)
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI
là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất không bằng khớp với những gì người tiêu dùng đã
thanh toán
1.2.2.3 Một số chỉ số khác:
- Chỉ số đánh giá sinh hoạt
- Chỉ số giá bán buôn đo
Thứ nhất, do làm rối loạn chức năng thước đo giá trị của tiền tệ, nên
lạm phát xuyên tạc, bóp méo, làm biến dạng các yếu tố và tín hiệu thị trường, làm cho toàn bộ các hoạt động kinh tế-xã hội, đặc biệt là các hoạt động sản xuất-kinh doanh không thể tiến hành bình thường được
Thứ hai, lạm phát làm biến dạng hành vi kinh doanh, đặc biệt là hành
vi đầu tư, do làm mất khả năng tính toán hợp lý về lợi nhuận Lạm phát kìm hãm các đầu tư dài hạn, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, kích thích đầu tư ngắn hạn thường là vào các tài sản mang lại lãi vốn, có tính đầu cơ (các bất động sản, kim loại quý ) gây ra tình trạng khan hiếm hàng hoá không bình thường và lãng phí
Thứ ba, lạm phát làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn và tín
dụng
Trang 9Thứ tư, việc phân phối thu nhập thường kém đồng đều trong các thời
kỳ lạm phát
Thứ năm, lạm phát làm tăng nguy cơ phá sản do vỡ nợ và làm tăng chi
phí dịch vụ nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ của cả các doanh nghiệp lẫn chính phủ
Thứ sáu, sự mất ổn định của giá cả và tiền tệ còn làm xấu đi môi
trường kinh doanh trong nước, khiến dòng đầu tư nước ngoài đổ vào bị chậm, chững lại, thậm chí suy giảm, đi đôi với sự ra đi của những dòng vốn trong nước
1.3.2 Lợi ích của lạm phát
- Một là, lạm phát tựa như dầu mỡ giúp "bôi trơn" nền kinh tế
- Hai là, lạm phát cho phép Chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các
công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng và tài trợ lạm phát; Đồng thời, lạm phát giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định có chọn lọc
1.4 Các nguyên nhân và giải pháp đối phó với lạm phát
1.4.1 Các nguyên nhân gây lạm phát
1.4.1.1 Lạm phát do mất cân đối về cơ cấu kinh tế:
Lạm phát xảy ra do sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế, mâu thuẫn về phân phối gây ra tăng giá Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế xuất hiện khi có quan hệ không bình thường trong các cân đối lớn của nền kinh tế như công nghiệp-nông nghiệp, công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ, sản xuất - dịch vụ, xuất khẩu - nhập khẩu, tích luỹ- tiêu dùng
Để kiểm soát được loại lạm phát này đòi hỏi phải loại bỏ những mất cân đối nêu trên, như tăng sản xuất lương thực - thực phẩm, tăng xuất khẩu trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất để xuất khẩu phát triển, cải tiến cơ chế tỷ giá hối đoái có lợi cho nhà làm hàng xuất khẩu, hạn chế chi tiêu của Chính phủ và xã hội, chỉ chi ở mức thu được không để thâm hụt quá cao
1.4.1.2 Lạm phát tiền tệ
Lạm phát tiền tệ xảy ra khi tốc độ tăng trưởng cung tiền vượt quá tốc
Trang 10độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế
Để kiểm soát loại lạm phát này phải sử dụng cách tiếp cận tiền tệ, trong
đó khống chế tổng phương tiện thanh toán ở mức tăng cung tiền tệ tương ứng với mức kiểm soát tăng lương, khống chế hạn mức tín dụng
1.4.1.3 Lạm phát do cầu kéo
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức
toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát
Các nguyên nhân có thể là do chính phủ chi tiêu quá mức khi thực hiện chính sách thu chi ngân sách mở rộng, hoặc tăng chi tiêu tiêu dùng quá mức bình thường do khu vực hộ gia đình …
1.4.1.4 Lạm phát do chi phí đẩy
Đây là tình trạng khi chi phí sản xuất tăng lên quá mức trung bình mà nền kinh tế có thể chịu được đã đẩy giá cả tăng lên Nhiều nước đang phát triển nhập khẩu nguyên liệu thường bị ảnh hưởng của lạm phát của các nước khác Trong trường hợp này, chi phí nguyên liệu nhập khẩu tăng khi tỷ giá ngoại hối trong nước không đổi Do đó, lạm phát từ nhập khẩu là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến lạm phát nội địa, nếu nước đó phụ thuộc chủ yếu vào hàng nhập khẩu để làm nguyên liệu đầu vào
1.4.2.2 Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa là quyết định của chính phủ về chi tiêu và thuế để hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn Chính sách
Trang 11tài khoá có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ và thuế
1.4.2.3 Các chính sách khác
Ngoài chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chúng ta cũng có thể áp dụng đồng thời nhiều biện pháp khác để kiềm chế lạm phát như, hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất, nhất là sản xuất các mặt hàng thiết yếu như: lương thực, thực phẩm, dầu thực vật, thịt, …, đẩy mạnh và kiện toàn hệ thống dự trữ, điều tiết xuất nhập khẩu, bình ổn giá thị trường trong nước…
1.5 Tính chất hai mặt của những giải pháp thị trường chống lạm phát
1.5 1 Bẫy lạm phát liên quan đến tự do hoá giá cả
1.5.2 Bẫy lạm phát liên quan đến chính sách tự do hoá tỷ giá hối đoái 1.5.4 Bẫy lạm phát liên quan đến chính sách vay nợ và thu hút đầu tư nước ngoài
1.5.5 Bẫy lạm phát liên quan đến thắt chặt chính sách tài chính - tiền tín dụng
tệ-1.5.6 Bẫy lạm phát liên quan đến các khía cạnh xã hội
1.5.6.1 Những xung lực lạm phát liên quan đến chính sách tiền lương và lao động xã hội
1.5.6.2 Những xung lực liên quan đến chất lượng quản lý nhà nước bằng pháp luật, trên cơ sở yêu cầu của nền kinh tế thị trường
- Nhận xét chung: Tóm lại, toàn bộ sự phân tích trên đây về vấn đề
lạm phát cho phép rút ra một số nhận định mang tính khái quát có ý nghĩa trong việc vận dụng nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam
1 Lạm phát là vốn có và đặc trưng cho nền kinh tế thị trường
2 Lạm phát có cả những tác động tích cực lẫn những tác động tiêu cực to lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
3 Không có phương thuốc chung duy nhất nào cho điều trị lạm phát ở các nước, các nền kinh tế khác nhau, bao gồm cả các nền kinh tế chuyển đổi
4 Chính sách chống lạm phát, cũng như những cải cách thị trường ở các nền kinh tế chuyển đổi, cần nằm trong tổng thể, đồng bộ, nhất quán và triệt để
Trang 12CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2007 ĐẾN NAY
2.1 Khái quát đặc điểm và chính sách đối phó với lạm phát ở Việt Nam trước năm 2007
- Thời kỳ thứ nhất, từ 1976 đến 1980:
thời kỳ được coi là không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị phổ biến trong các nước XHCN đương thời và không được phản ánh trong các thống kê chính thức
- Thời kỳ thứ hai: từ 1981 đến 1988: thời kỳ lạm phát đã chuyển từ
dạng "ẩn sang dạng "mở" song vẫn chưa được thừa nhận trong các văn kiện chính thức
- Thời kỳ thứ ba, từ tháng 5/1988 đến năm 1991 là thời kỳ lần đầu tiên
lạm phát được chính thức thừa nhận bằng Nghị quyết số 11
- Thời kỳ thứ tư, từ cuối năm 1991 đến 2006, thời kỳ mà chống lạm
phát được gắn quyện hữu cơ với chính sách đổi mới toàn diện đất nước
- Thời kỳ thứ năm, từ năm 2007-nay, thời kỳ mà lạm phát có nhiều biến
động mới, có tốc độ cao, diễn biến phức tạp gắn với việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 152 của Tổ chức thương mại thế giới
2.2 Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012
- Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 152 của tổ chức thương mại thế giới WTO Đây cũng là năm khởi đầu cho những động thái mới của lạm phát, với đặc trưng là tốc độ cao và diễn biến phức tạp Theo Tổng cục Thống kê, CPI năm 2007 tăng 12.63% Đây là mức lạm phát cao nhất châu Á trong năm này Hiện tượng giá tăng diễn ra ở hầu hết các nhóm hàng hóa và dịch vụ Tuy vậy, đứng đầu về tốc độ tăng giá trong nhóm các hàng hóa tính CPI là thực phẩm
- Lạm phát thực sự bùng nổ và thực sự gây nên những bất ổn vĩ mô vào năm 2008 Lạm phát đỉnh điểm vào tháng 9 năm 2008 khi lên tới 21,87% Bốn nhóm hàng có chỉ số giá bình quân năm 2008 tăng cao so với năm trước là: hàng ăn - dịch vụ ăn uống tăng 36,57% (riêng lương thực tăng 49,16%, thực phẩm tăng 32,36%); nhà ở - vật liệu xây dựng tăng 20,51%; phương