1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người phụ nữ trong một số triểu thuyết tiêu biểu về đề tài nông thôn Việt Nam viết sau năm 1986

111 603 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 861,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học giai đoạn này đã đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống, đã khám phá con người trong những mối q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THI ̣ HỒNG THÚY

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU VỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN VIỆT NAM VIẾT SAU NĂM 1986

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành Văn ho ̣c Viê ̣t Nam

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THI ̣ HỒNG THÚY

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU VỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN VIỆT NAM VIẾT SAU NĂM 1986

Luâ ̣n văn Tha ̣c si ̃ chuyên ngành Văn ho ̣c Viê ̣t Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luâ ̣n văn tha ̣c sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Những nô ̣i dung của luâ ̣n văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu được đăng tải trên các sách , báo, các trang web , khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p và luâ ̣n văn đã được chú thích theo danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo của luận văn

Tác giả luận văn

Trần Thi ̣ Hồng Thúy

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn các thầ y giáo cô giáo đã có những ý kiến đóng góp chân thành, sâu sắc cho tôi trong quá trình thực hiê ̣n luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình , bạn bè - những người đã luôn ủng hộ, động viên tôi nỗ lực để hoàn thành tốt nhất luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 / 2014 Tác giả

Trần Thi ̣ Hồng Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

2.1 Những ý kiến chung về văn xuôi viết về nông thôn 9

2.2 Những ý kiến đánh giá về Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Dòng sông Mía (Đào Thắng)

12

2.2.1 Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường 13

2.2.2 Tiểu thuyết Ma làng của nhà văn Trịnh Thanh Phong 15

2.2.3 Tiểu thuyết Dòng sông Mía của nhà văn Đào Thắng 17

3 Mục đích nghiên cứu 18

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

4.1 Đối tượng nghiên cứu 19

4.2 Phạm vi nghiên cứu 19

5 Phương pháp nghiên cứu 19

6 Cấu trúc luận văn 20

CHƯƠNG 1: SỰ VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT VỀ NÔNG THÔN THỜI KÌ ĐỔI MỚI SỰ XUẤT HIỆN CỦA TIỂU THUYẾT NGUYẾN KHẮC TRƯỜNG, TRỊNH THANH PHONG, ĐÀO THẮNG 20

1.1 Tiểu thuyết về đề tài nông thôn trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 21

1.1.1 Tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam viết trước năm 1986 21

1.1.2 Tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam viết sau năm 1986 23

1.2 Tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường, Trịnh Thanh Phong, Đào Thắng trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 30

Trang 6

1.2.1 Đôi điều về ta ́c giả Nguyễn Khắc Trường , Trịnh Thanh Phong,

Đào Thắng 30

1.2.2 Hiện thực nông thôn qua Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ma làng, Dòng sông Mía 33

1.2.2.1 Hiê ̣n thực nông thôn nghèo khó 33

1.2.2.2 Hiê ̣n thực nông thôn với những hủ tu ̣c ngàn đời 35

1.2.2.3 Nông thôn vơ ́ i vấn đề cải cách ruộng đất 37

1.2.2.4 Hiê ̣n thực đời sống tâm linh và con người bản năng tính dục 40

CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA, MA LÀNG, DÒNG SÔNG MÍA 45

2.1 Nhân vật bi kịch 46

2.2 Nhân vật tha hóa 58

2.3 Nhân vật vượt lên trên hoàn cảnh số phận 65

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA, MA LÀNG, DÒNG SÔNG MÍA 80

3.1 Miêu tả ngoại hình nhân vật 80

3.2 Nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm nhân vật 89

3.3 Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật 96

3.4 Ngôn ngữ nhân vật 98

3.4.1 Ngôn ngữ đối thoại tự nhiên, mang đậm tính chất khẩu ngữ, từ địa phương, lối chửi thề, chửi đổng 99

3.4.2 Ngôn ngư ̃ vận dụng chất liệu dân gian: thành ngữ, tục ngữ 101

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Đặc thù của văn học là phản ánh nhận thức, khám phá hiện thực đời sống con người Việt Nam là một nước nông nghiệp Dân cư đa số là nông dân Chính vì vậy, hiện thực nông thôn và người nông dân luôn là vấn đề nóng bỏng, mang tính thời sự Nó trở thành đề tài hấp dẫn nhiều cây bút tài năng và đã thu được những thành tựu đầy ấn tượng Tuy nhiên, do bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội, do tài năng, tâm huyết, cách nhìn nhận vấn đề của người cầm bút, hình ảnh nông thôn và người nông dân hiện lên mang những diện mạo riêng biệt

Văn học Việt Nam từ năm 1975, nhất là từ năm 1986, từng bước chuyển sang giai đoạn đổi mới Đại hội Đảng lần thứ VI với công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo đã thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật, mở ra thời kì đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật Văn học đã vận động theo khuynh hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc Văn học phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề ; phong phú mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật Văn học giai đoạn này đã đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống, đã khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kể cả đời sống tâm linh Cái mới của văn học giai đoạn này là tính chất hướng nội, quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp đời thường

Hòa vào dòng chảy của văn học, thể loại tiểu thuyết nói chung, tiểu thuyết về nông thôn nói riêng đã có những đổi mới tư duy và nghệ thuật biểu hiện Bên cạnh những vấn đề của cộng đồng, một chủ đề mới mà tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1986 quan tâm là số phận người nông dân Và đề cập

Trang 8

đến số phận người nông dân, điều mà các nhà văn quan tâm nhiều là số phận của người phụ nữ nông thôn

Hình ảnh người phụ nữ xuất hiện khá sớm trong những sáng tác dân gian, trong văn chương trung đại Giai đoạn đầu thế kỉ XX đến tháng 8 –

1945, 8 – 1945 đến 1975 hình tượng người phụ nữ được tiếp tục khám phá Song, có thể nói, đến văn học thời kì đổi mới, đặc biệt qua tiểu thuyết, hình tượng người phụ nữ được khắc họa một cách toàn diện: dáng nét ngoại hình, đời sống nội tâm, nỗi đau thân phận, khát vọng sống, khát vọng về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa, … Con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường, của cuộc sống riêng tư, hơn thế, tình yêu nhục thể là một lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân cũng đã được các nhà tiểu thuyết khai thác

Trong hàng loạt những tác phẩm văn xuôi Việt Nam viết sau năm 1986

về đề tài nông thôn, Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường),

Dòng sông Mía (Đào Thắng), Ma làng (Trịnh Thanh Phong) là ba tác phẩm

tiêu biểu, đặc sắc, được dư luận quan tâm Mảnh đất lắm người nhiều ma,

Dòng sông Mía nhận giải thưởng của Hội nhà văn Ma làng, Mảnh đất lắm người nhiều ma được chuyển thể thành phim làm lay động bao trái tim khán

giả Ba tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc, người xem những băn khoăn, trăn trở về số phận người nông dân, nhất là người phụ nữ trước sự biến chuyển của thực tiễn đời sống

Xuất phát từ lòng yêu mến ba tác phẩm , từ ý muốn tìm hiểu về cuô ̣c sống con người , đă ̣c biê ̣t là người phu ̣ nữ nông thôn trong tiểu thuyết những năm sau đổi mới, đồng thời với mong muốn bổ sung thêm kiến thức , giúp ích cho viê ̣c ho ̣c tâ ̣p , nghiên cứu sau này của bản thân , chúng tôi quyết đi ̣nh lựa

chọn đề tài: Hình tượng người phụ nữ trong một số tiểu thuyết tiêu biểu về

đề tài nông thôn Việt Nam viết sau năm 1986 (Khảo sát q ua ba tiểu thuyết

“Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Ma làng” của

Trang 9

Trịnh Thanh Phong, "Dòng sông Mía” của Đào Thắng) cho luận văn Cao học của mình Với đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm ý kiến trong hành trình khám phá một trong những nhân vật trung tâm của văn học thời kì đổi mới – hình tượng người phụ nữ nông thôn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu vấn đề , chúng tôi nhận thấy : sự nở rộ của tiểu thuyết thời kì đổi mới, đặc biệt là các tiểu thuyết về đề tài nông thôn được coi như một thành tựu của văn học thời kì này đã thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý Số lượng những bài viết , những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết thời kì đổi mới nói chung , về tiểu thuyết nông thôn nói riêng không hề nhỏ Mỗi công trình nghiên cứu, mỗi bài viết về tiểu thuyết nông

thôn và ba tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường),

Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Dòng sông Mía (Đào Thắng), ít nhiều đã đề

cập đến thế giới nhân vật trong đó có nhân vật nữ Chúng tôi tạm chia các công trình, bài viết đó thành một số tiểu mục như sau:

2.1 Những ý kiến chung về sƣ̣ chuyển biến của văn xuôi viết về nông thôn:

Tác giả Trần Cương trong bài nghiên cứu Văn xuôi viết về nông thôn

nửa sau những năm 80 đã chỉ ra có hai sự chuyển biến của văn xuôi viết về

nông thôn nửa sau những năm 80 so với những năm trước đó , đó là : sự chuyển biến trong chủ đề và sự chuyển biến trong pha ̣m vi bao quát hiê ̣n thực

Về sự chuyển biến trong chủ đề , Trần Cương đánh giá : "Dường như lần đầu

tiên xuất hiê ̣n hai chủ đề thuộc về con người mà trước kia chưa có Đó là chủ đề về số phận con người và hạnh phúc cá nhân" [12; 35] Ở phạm vi bao quát

hiê ̣n thực, tác giả cũng đưa ra nhận xét rằng "các nhà văn như đã nhìn nhận

và phản ánh hiện thực nông thôn kĩ càng Họ thấy những gì ở tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn" [12; 36] Tác giả Lã Duy Lan, trong cuốn Văn

Trang 10

xuôi viết về nông thôn – tiến trình và đổi mới [37] cũng đã có mô ̣t cái nhìn

khái quát về văn xuôi viết về nông thôn trước và sau năm 1986 về cả mă ̣t nô ̣i dung và nghê ̣ thuâ ̣t Nếu ở giai đoa ̣n trước năm 1986, tác giả đi vào những thành tựu và hạn chế trong việc phản ánh hiện thực thì ở giai đoạn sau năm

1986, ngoài việc giới thiệu diện mạo chung , tác giả còn tập trung đánh giá những đă ̣c trưng sáng tạo về nội dung của văn xuôi viết về nông thôn thời kì đổi mới qua sự chuyển biến về chủ đề, phạm vi bao quát hiện thực và cách thể hiê ̣n nhân vâ ̣t Đồng thời tác giả cũng đánh giá những thành tựu bước đầu về phương diê ̣n nghê ̣ thuâ ̣t: ngôn ngữ, thể loa ̣i, phong cách chung và gio ̣ng điê ̣u

Văn ho ̣c luôn là câu chuyê ̣n về con người , về những dâu bể thăng trầm của lịch sử Bởi vâ ̣y sự thay đổi của thời đa ̣i văn ho ̣c này so với thời đa ̣i văn học khác ngẫm ra luôn gắn với sự thay đổi quan niê ̣m về con người Trong bài

Vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới [41], tác giả Tôn Phương Lan nhâ ̣n xét: đây là thời kì mà trong văn ho ̣c con người được soi chiếu từ rất nhiều phía Chính quan niệm nghệ thuật về con người mới khiến nhà văn phải mở rộng chân trời tìm kiếm của mình đến những góc khuất , những vùng cấm đi ̣a trước đây và nhìn thấy ngoài cái con người kinh điển còn có một loạt những con người trong cùng xã hội và ngay trong cùng một con người

Mở rô ̣ng góc đô ̣ soi chiếu về con người , trong bài viết Về một hướng

thử nghiê ̣m của tiểu thuyết Viê ̣t Nam từ cuối thập kỉ 80 đến nay [48], tác giả

Nguyễn Thị Bình đã đề câ ̣p đến khía ca ̣nh "tính trò chơi" của tiểu thuyết, đến

sự xuất hiê ̣n của nhân vâ ̣t dị biệt hoă ̣c kì ảo Trong Ý thức cách tân trong tiểu

thuyết Viê ̣t Nam sau 1975, tác giả Nguyễn Bích Thu đề câ ̣p đến nhâ n vâ ̣t với

những bi ki ̣ch của nó "Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả số phận

những con người bình thường với những bi ki ̣ch của đời họ Bi ki ̣ch giữa khát vọng và thực trạng , giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hã m, giữa cái nhân

Trang 11

bản và phi nhân bản " [48; 230] Ý kiến cung cấp cho chúng tôi một số

phương diê ̣n biểu hiê ̣n của bi ki ̣ch cá nhân Tiểu thuyết đương đại Viê ̣t Nam

[60] là tập hợp các bài viết riêng lẻ của Bùi Việt Thắng đã từ ng được đăng tải trên nhiều phương tiê ̣n ở nhiều thời điểm khác nhau Nô ̣i dung của tâ ̣p tiểu

luâ ̣n gồm hai phần Trong phần mô ̣t, ở bài viết Hiê ̣n trạng tiểu thuyết, tác giả

xác định có một sự thật : con người tha hóa Sự tha hóa diễn ra dưới nhiều dạng thức khác nhau Tuy nhiên, tác giả mới đề cập vấn đề con người tha hóa mà khẳng định đó là kiểu nhân vật tha hóa , nhưng chưa đi vào phân tích , lí

giải hiện tượng đó Ở bài viết Phía trước củ a tiểu thuyết , quan sát sự phát

triển của tiểu thuyết từ năm 1980 đến nay, về cơ bản tác giả thấy xuất hiện các kiểu nhân vật : nhân vâ ̣t bi ki ̣ch , nhân vâ ̣t anh hùng , nhân vâ ̣t kì di ̣, nhân

vâ ̣t lâ ̣p thân

Trong quá trình nhận thức, khám phá, phản ánh về con ngườ i, nhân vâ ̣t người phụ nữ là nguồn cảm hứng sáng tác của văn xuôi Viê ̣t Nam thời kì đổi mới Chưa bao giờ người phu ̣ nữ la ̣i giành được sự quan tâm lớn của đông đảo người cầm bút như hôm nay Các nhà văn đã đem đến cho văn học những trải nghiê ̣m mới, những hiểu biết mới về người phu ̣ nữ Tác giả Trần Ngọc Dung

trong bài Chủ đề phụ nữ từ văn học dân gian đến văn học hiện đại Việt nam

[16] đã có sự hê ̣ thống hóa theo tiến trình lịch sử văn học : nhân vâ ̣t phu ̣ nữ xuất hiê ̣n trong văn ho ̣c ngay từ thời kì văn ho ̣c dân gian bởi cuô ̣c hành trình

đi tìm vẻ đe ̣p đích thực của người phu ̣ nữ vẫn luôn là miền đất hứa cho các công trình nghiên cứu không chỉ của văn ho ̣c mà của nhiều ngành nghê ̣ thuâ ̣t nữa Bài viết nhấn mạnh tới việc không phải đến thời kì đổi mới người phụ nữ mới được nhắc đến trong văn ho ̣c mà ngay từ thời xa xưa ho ̣ vẫn là tâm điểm trong sáng tác của nhân dân , văn ho ̣c ngày nay vẫn kế thừa được những quan niê ̣m tiến bô ̣ của cha ông ta về ng ười phụ nữ, và khẳng định: từ xưa đến nay tuy người phu ̣ nữ phần lớn gánh chi ̣u nỗi đau khôn cùng , sự hi sinh mất

Trang 12

mát lớn lao nhưng dù trong hoàn cảnh nào tâm hồn ho ̣ vẫn ánh lên vẻ đe ̣p di ̣u dàng và nhân hậu, vị tha, bao dung Tác giả nhận xét: dù những khủng hoảng tinh thần, những mă ̣t trái của cơ chế thi ̣ trường, những bi ki ̣ch của tình yêu, sự rạn nứt của gia đình truyền thống thì trong văn học ngày nay người phụ nữ hiê ̣n đa ̣i vẫn bô ̣c lô ̣ những vẻ đe ̣p mới : tự khẳng đi ̣nh mình, thể hiê ̣n mình và dám sống thực với mình Đến đây, tác giả bài viết cũng nhấn m ạnh vào một nét mới trong sáng tác về người phụ nữ đó là : sự bí ẩn của thế giới nô ̣i tâm của người phụ nữ là một đề tài luôn hấp dẫn đối với văn học mọi thời đại Bạn

đo ̣c hôm nay sẽ luôn tìm thấy nhân vâ ̣t về con ng ười mới trong sáng tác văn chương thời kì hiê ̣n đa ̣i

Ngoài những công trình , bài viết đã nêu ở trên, còn nhiều bài viết cá nhân đăng tải trên các phương tiê ̣n cũng đề câ ̣p đến những vấn đề liên quan đến nhiều khía cạnh của tiểu thuyết và nhân vâ ̣t Tuy nhiên, số lượng các bài viết này rất lớn , cần phải có thời gian và công sức mới có thể thống kê và phân loa ̣i mô ̣t cách đầy đủ

Các bài viết , các công trình nghiên cứu đều đề cập đến sự đổ i mớ i của tiểu thuyết, nhân vâ ̣t trong tiểu thuyết thời kì đổi mới có sự phai giảm yếu tố sử thi và gia tăng yếu tố tự sự đời tư ; các nhân vật được đặt trên nhiều bình diê ̣n Các nhà văn tạo dựng được kiểu nhân vật mới , mô ̣t phương tiê ̣n mới để khám phá đời sống và con người Chúng tôi vẫn chưa tìm thấy một công trình nghiên cứu riêng biê ̣t về hình tượng người phu ̣ nữ nông thôn trong tiểu thuyết Viê ̣t Nam viết sau năm 1986

2.2 Những ý kiến đánh giá về Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ma làng,

Dòng sông Mía

2.2.1 Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn

Nguyễn Khắc Trường

Trang 13

Nguyễn Khắc Trường là cây bút trẻ của nền văn xuôi hiê ̣n đa ̣i Viê ̣t Nam Khở i đầu với các tâ ̣p truyê ̣n Cửa khẩu, Thác rừng, Miền đất mặt trời

nhưng thể loa ̣i truyê ̣n ngắn này đã không đem la ̣i thành công cho ông Đánh dấu sự thành công trong sự nghiê ̣p sáng tác của Nguyễn Khắc Trường phải kể

đến tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma Với cuốn tiểu thuyết này

Nguyễn Khắc Trường đã mang đến cho văn đàn mô ̣t tiếng nói mới , trực diê ̣n và sắc sảo Khảo sát các tư liệu đã thu thập được chúng tôi nhận thấy các tài liê ̣u nghiên cứu Nguyễn Khắc Trường hầu như mới là các ý kiến thảo luận , các bài viết đăng rải rác trên các báo, tạp chí, và các bài phỏng vấn trực tuyến, online, nó không mang tính hệ thống , toàn diện Ngoài ra cũng còn phải kể

đến một số bài được phá t trên Đài tiế ng nói Viê ̣t N am, kịch bản phim Mảnh

đất lắm người nhiều ma được công chiếu dưới cái tên Đất và người của hãng

phim Truyền hình Viê ̣t N am vào tháng 1 năm 2013 Tuy các ý kiến đánh giá , phê bình đôi khi khác nhau, thâ ̣m chí trái ngược nhau, nhưng nhìn chung cũng khá thống nhất khi đánh giá về giá trị của cuốn tiểu thuyết này Đáng chú ý là

các ý kiến thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhiều

tác giả do Báo văn nghệ tổ chức ngày 25-1-1991 Trong cuô ̣c thảo luâ ̣n này , các nhà nghiên cứu đã xem xét tác phẩm dưới nhiều góc đ ộ và khía cạnh khác nhau Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đưa ra sự đánh giá tổng quát về tác phẩm

và khẳng định tài năng của tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma Ông nhâ ̣n thấy nhà văn Nguyễn Khắc Trường đã "Viết về nông thôn dưới cái nhìn chân

thực, chủ động, làm bộc lộ được qua những trang viết là một nông thôn với nhiều chuyển động , xáo trộn, đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu , tranh chấp nhau giữa các thế lực Nông thôn trong tiểu thuyết không cuộ n lên các phong trào đấu tranh yêu nước , cải cách, hợp tác mà sôi lên những nguyên nhân bên trong, những chuyê ̣n làng xóm Tác giả đã chụp đượ c khuôn mặt đích thực với những nét miêu tả sắc sảo , chân thực" [66; 386-387] Bùi Đình

Trang 14

Thi đánh giá Mảnh đất lắm người nhiều ma ở chiều sâu văn hóa của nó Ông

khẳng đi ̣nh: Điều mà cuốn tiểu thuyết đã đă ̣t ra rất có ý nghĩa đó là nông thôn bấy lâu nay không hẳn chỉ là vấn đề ruô ̣ng đất mà trên hết là mô ̣t đời sống văn hóa Phong Lê la ̣i xem xét tác phẩm ở khía ca ̣nh đóng góp của nó với đề tài

nông thôn Với Phong Lê, thì "Cuốn sách đặt ra và gây ấn tượng ở các vấn đề

chìm nổi , ở bề mặt và bề sâu trong sự đan xen đó Không chi ̉ những con người nhân danh đủ dạng trong thế bài trừ tiêu diê ̣t lẫn nhau mà còn là đủ những người "dị dạng", bị đẩy ra hoặc bị hút vào n hững giao tranh quyết liê ̣t đó" Và "sức hấp dẫn của cuốn sách là ở một một số vỉa mới mà nó khai thác, gắn bó với những vấn đề chung , vừa thực sự , vừa lưu cữu của nông thôn chúng ta" [66; 388] Trần Đình Sử, Trung Trung Đỉnh xem xét tác phẩm ở

nghê ̣ thuâ ̣t trần thuâ ̣t và các thức tổ chức cốt truyê ̣n Nhà văn Trung Trung

Đỉnh cho rằng: " Nguyễn Khắc Trường có tài lập truyện tỉnh táo và kín kẽ Tôi

nghĩ đây là thế mạnh và cũng là điểm yếu của tác giả Vì tỉnh táo quá, kĩ càng quá mà ông lo được hết mọi điều khiến người đọc đỡ phải lo Nếu anh la ̀ người say, không tỉnh táo chắc anh chẳng viết đoạn cuối làm gì Phần cuối cái được cái lí mà mất cái lập lờ vô lí khiến người ta phải thèm khát , thao thức Tôi nghĩ nghê ̣ thuật lấp lánh ở cái sự say đến ngả nghiêng , đến mập mờ và nó hấp dẫn chính ở cái sự mập mờ ấy " [66; 389] Theo Trần Đình Sử, nhà

văn Nguyễn Khắc Trường "rất giàu vốn sống , đặc biê ̣t ngôn ngữ rất phong

phú, sinh động, các thành ngữ , tục ngữ, các ngôn ngữ "bộ đội" được sử dụng linh hoạt làm cho lời trần thuật tươi tắn và có duyên " [66; 391] và chính điều

này mà Trần Đình Sử nhâ ̣n thấy tác phẩm đã góp phần đổi mới mảng tiểu

thuyết về nông thôn của chúng ta Cùng quan điểm đánh giá cao Mảnh đất lắm người nhiều ma , nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cũng khẳng định :

"Đa ̃ lâu lắm rồi mới xuất hiê ̣ n một tác phẩm viết về nông thôn Viê ̣t Nam theo đúng mạch của Tắt đèn, Chí Phèo "Mảnh đất lắm người nhiều ma " là cuốn

Trang 15

tiểu thuyết hấp dẫn nhờ nghê ̣ thuật kể chuyê ̣n Sự dẫn dắt tình tiết, sự tổ chức các tình huống đ ã tạo được nhiều bất ngờ ." [66; 392-393] Bên cạnh những ý kiến bình luâ ̣n trên , trong cuô ̣c hô ̣i thảo còn có các ý kiến đóng góp của Nguyễn Phan Hách , Ngô Thảo, Hoàng Ngọc Hiến , Hồ Phương, Nhìn chung các bài viết này đều có nhâ ̣n đi ̣nh chung là ý thức dòng ho ̣ là vấn đề nổi

bâ ̣t trong các vấn đề về hiê ̣n thực nông thôn được phản ánh trong tác phẩm Ngoài ra còn có những bài viết tr ên các báo, tạp chí, đánh giá về tiểu thuyết này, hầu hết các ý kiến đều thể hiê ̣n những ấn tượng chung nhất , khái quát

nhất về tác phẩm Tiểu biểu là các bài : "Đo ̣c Mảnh đất lắm người nhiều ma " của Hồng Diệu trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số 8/1991, bài "Thế giới kỳ ảo

trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường với cái nhìn văn hóa " của Lê Nguyên Cẩn trên Tạp chí khoa học số 5 - 2005 Trườ ng ĐHSP Hà Nô ̣i,

2.2.2 Tiểu thuyết Ma làng của nhà văn Trịnh Thanh Phong

Tác giả Trần Lệ Thanh trong bài báo Ma làng và sự trăn trở của một

ngòi bút với quê hương đã chỉ rõ giá tri ̣ nô ̣i dung và nghê ̣ thuâ ̣t trong tiểu

thuyết của nhà văn Tri ̣nh Thanh Phong Về nô ̣i dung chính của Ma làng, Trần

Lê ̣ Thanh cho rằng : "Đằng sau viê ̣c miêu tả mâu thuẫn dai dẳng , sự tranh

chấp, đố ki ̣ giữa làng trên xóm dưới , tộc này họ kia chi phối đời sống nông dân, đằng sau những mánh khóe hiểm ác những mưu mô toan tính của những người có thế lực có quyền thế , lợi dụng đúng chỗ đứng của mình để thu lợi Tác phẩm trong một chừng mực nào đó đã phản ánh được thực trạng khá đớn đau vẫn còn diễn ra trong đời sống tinh thần của một số làng quê nông thôn"

Tác giả bài viết cũng cho rằng: "Cái làm nên sức hấp dẫn của "Ma làng" là ở

tấm lòng của tác giả , ở cái nhìn xã hội vừa nghiêm khắc vừa hiền lành đôn hậu của nhà văn Đặc biệt cái làm nên sức nặng của ngòi bút Trịnh Thanh Phong chính là ở chỗ, tuy luôn day dứt, trăn trở trước những số phận , những

Trang 16

cảnh đời , mảnh đời vụn vỡ , nhưng tác giả không bao giờ thỏa hiê ̣p với cái xấu" Chính điều này chi phối đến giọng điệu , nghê ̣ thuâ ̣t xây dựng nhân vâ ̣t

của Trịnh Thanh Phong Về nghê ̣ thuâ ̣t của Ma làng, Trần Lê ̣ Thanh đề câ ̣p vài nét tới nghệ thuật tự sự như lối trần thuật "bằng nhiều chi tiết, qua lối trần

thuật độc đáo giàu sức gợi", giọng điệu "nghe và cách miêu tả những nhân vật này, thấy được thái độ vừa trân trọng , cảm thông và nghiêm khắc phán xử của nhà văn ", giọng điệu mỉa mai bông tếu cũng trở thành phương thức khá quen thuộc của nhiều cây viết ", kết cấu tác phẩm của Tri ̣nh Phong được nhâ ̣n

xét " Trịnh Thanh Phong có được phần kết luận hợp lý"

Triệu Đăng Khoa trong bài Hỏi chuyện nhà văn tác giả “Ma làng” khẳng đi ̣nh sức hấp dẫn của tác phẩm Ma làng với mo ̣i thế hê ̣ người đo ̣c Sức hấp dẫn mà tác phẩm Ma làng có được do nô ̣i dung mà nó phản ánh, đó chính

là những mưu mô toan tính , những biến thái tinh vi của bo ̣n phú hào mới mang tư duy của người nông dân Cùng với đó là cách xây dựng nhân vật cũng như tấm lòng của nhà văn đối với người nông dân

Trung Trung Đỉnh trong bài Tiểu thuyết Ma làng và thói tục mới ở làng

quê đã đề câ ̣p khá rõ nét về nô ̣i dung cũng như những mâu thuẫn được đề câ ̣p

đến trong tác phẩm Tác giả khẳng định nhà văn Trịnh Tha nh Phong đã viết về nông thôn Viê ̣t N am thời hiê ̣n đa ̣i với những thói tu ̣c xưa cũ được cải biến

thành thói tục thời nay Đó là "những thói tục mâm trên mâm dưới , họ hàng

chú bác anh em cô dì giằng dịt lôi kéo nhau vào việc l àng việc nước bọn phú hào mới của làng xã tranh thủ đục nước béo cò , xâu xé nhau bằng chức vụ ." mâu thuẫn được phản ánh trong cuốn sách : "một bên là thân phận những người nông dân ngàn đời nay vẫn chưa ra khỏi lũy tre làng một bên là bọn quan chức dùng mọi thủ đoạn mưu mô chước quỷ nắm các chức quyền trong làng ngoài xã" Đây cũng là nô ̣i dung bài viết Tiểu thuyết Ma làng - Bức

Trang 17

tranh quê trước ngày đổi mới của tác giả Minh Hòa trên báo Tuyên Quang số

ra ngày 28 tháng 9 năm 2007

2.2.3 Tiểu thuyết Dòng sông Mía của nhà văn Đào Thắng

Trong sự nghiê ̣p sáng tác của Đào Thắng , có thể coi Dòng sông Mía là

tác phẩm gắn liền với tên tuổi của nhà văn Đây là mô ̣t trong bốn tiểu thuyết đoa ̣t giải A - giải thưởng cao nhất của Hội nhà văn Việt Nam trao cho các tác phẩm xuất sắc Xoay quanh tiểu thuyết này cũng đã có nhiều ý kiến đánh giá, trong đó có thể kể đến:

Dòng sông Mía- Một không gian tiểu thuyết vừa quen thuộc vừa mới

mẻ của Lý Hoài Thu Trong bài viết , tác giả đã nhâ ̣n thấy những nét quen

thuô ̣c "quen thuộc từ hình ảnh dòng sông , cùng bức tranh thu nhỏ của mộ t

vùng dân cư có nghề chính là nghề trồng mía làm đường ", đã chỉ ra sự sáng

tạo của Đào Thắng về giá trị nội dung và những phương thức biểu hiện của tác phẩm như nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian, thời gian nghê ̣ thuâ ̣t,

điểm nhìn trần thuâ ̣t để từ đó khẳng định "đặc tính nổi bật nhất của Dòng sông

mía là sự khác lạ độc đáo"

Trong bài "Dòng sông Mía" của Đào Thắng hay tiếng nấc sông Châu

Giang? nhà phê bình Trần Mạnh Hảo nhâ ̣n đi ̣nh Dòng sông Mía là tác phẩm

"phải nói là hấp dẫn tư ̀ đầu đến cuối (chỉ đoạn kết hơi bị khiên cưỡng) Ngô

Thị Kim Cúc trên trang Việt Báo trong bài " Đắng như sông mía " [72] có viết: "Quyển sách cuốn hút người đọc từ những trang đầu tiên , không phải vì

hành văn h ay cấu trúc mà ở sức sống ngồn ngộn tỏa ra từ trang sách , tràn đầy sức mạnh tâm linh của một vùng đất, được thức dậy bằng tất cả niềm yêu thương, đau đớn" Tác giả coi Dòng sông Mía như mô ̣t cuốn "gia phả của một dòng họ ưu tú ở nông thôn, lịch sử của một ngôi làng bên bờ sông Châu đậm chất văn hóa dân gian , bi ki ̣ch của những thế hê ̣ đàn bà nông thôn , số phận mỏng manh, trải qua bao trầm luân, mất mát "

Trang 18

Ngoài ra, còn một số bài viết khác : "Trên đất nước có bao nhiêu làng

mía" của Hoàng Ngọc Hiến đăng Tạp chí Sông Hương, số 196, tháng 6/2009,

"Cha, con va ̀ dòng sô ng Mía " của tác giả Văn Chinh đăng trên

Phongdiep.net,

Nhìn chung mỗi công trình , bài viết đề cập , đánh giá những khía ca ̣nh góc độ khác nhau , nhưng đa số đều thống nhất khẳng đi ̣nh giá tri ̣ từng tác phẩm Từ những ý kiến, những bài viết về tác phẩm, chúng tôi cảm nhận được sự thành công của cả ba tác giả và sự đóng g óp to lớn của họ cả về phương diê ̣n nô ̣i dung và nghê ̣ thuâ ̣t, mở ra mô ̣t hướng tiếp câ ̣n mới, cách nhìn mới về nông thôn thời kì hô ̣i nhâ ̣p

Liên quan đến đề tài này còn có m ột số công trình nghiên cứu khoa học: khóa luận tốt nghiê ̣p, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Tuy nhiên về viê ̣c nghiên cứu ba tác phẩm này, chúng tôi nhận thấy rằng trong những bài nghiên cứu và những ý kiến trên mới mang tính chất gợi mở , mới dừng la ̣i ở viê ̣c tìm hiểu hiê ̣n thực nông thôn , thế giới nhân vâ ̣t người nông dân nói chung, trong đó có đề cập đến hình tượng người đàn bà nông thôn , nhưng vẫn chưa có công trình chuyên sâu về hình tượng người phụ nữ , chưa có ý kiến đánh giá riêng về hì nh tượng người phu ̣ nữ trong ba tác phẩm Kế thừ a thành tựu nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi sẽ cố gắng để có cái nhìn sâu sắc, cụ thể hơn về nhân vâ ̣t nữ qua ba tiểu thuyết , đồng thời cho thấy sự tìm tòi , sáng tạo của ba tác giả trong xây dựng nhân vâ ̣t - đó cũng là đóng góp của ho ̣ vào

sự đổi mới tiểu thuyết nói riêng, văn xuôi sau 1986 nói chung

3 Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn đề tài Hình tượng người phụ nữ trong một số tiểu thuyết tiêu

biểu về đề tài nông thôn Việt Nam viết sau năm 1986 (Khảo sát q ua ba tiểu

thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Ma làng” của Trịnh Thanh Phong, “Dòng sông Mía” của Đào Thắng), luâ ̣n văn nhằm

Trang 19

mục đích tìm hiểu các kiểu nhân vật phụ nữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật phụ nữ nông thôn trong ba tác phẩm nói riêng, trong tiểu thuyết nông thôn thời kì đổi mới nói chung Từ đó, chúng tôi sẽ đối chiếu với các kiểu nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết nông thôn viết trước 1986 để thấy được sự tiếp nối và đổi mới của tiểu thuyết nông thôn viết sau 1986 khi xây dựng hình tượng người phụ nữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi trong đề tài này là các nhân

vâ ̣t nữ của tiểu thuyết: Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ma làng, Dòng sông

Mía Ra đời vào những thời điểm khác nhau nhưng ba tác phẩm gă ̣p nhau ở ý

tưởng xây dựng nhân vâ ̣t nữ Qua đó, người đo ̣c có thể thấy được những đóng góp của ba nhà văn Nguyễn Khắc Trường, Trịnh Thanh Phong, Đào Thắng trong dòng chảy tiểu thuyết Viê ̣t Nam về đề tài nông thôn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luâ ̣n văn, chúng tôi tập trung khám phá các kiểu nhân

vật phụ nữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật được thể hiê ̣n trong Mảnh đất

lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ma làng (Trịnh Thanh Phong ), Dòng sông Mía (Đào Thắng) Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành khảo sát các

kiểu nữ nhân vâ ̣t trong một số tiểu thuyết nông thôn viết trước và sau 1986 để có cái nhìn so sánh

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu của đ ối tượng và mục đích nghiên cứu , luâ ̣n văn

vâ ̣n du ̣ng mô ̣t số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp lịch sử - xã hội

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Trang 20

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

6 Cấu trúc luận văn

- Trong đề tài này, ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, phần nội dung chính được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tiểu thuyết về nông thôn thời kì đổi mới Và sự xuất hiện

của tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường, Trịnh Thanh Phong, Đào Thắng

Chương 2: Các kiểu nhân vật phụ nữ trong Mảnh đất lắm người nhiều

ma (Nguyễn Khắc Trường), Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Dòng sông Mía

(Đào Thắng)

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật phụ nữ trong Mảnh đất lắm

người nhiều ma, Ma làng, Dòng sông Mía

Trang 21

CHƯƠNG 1:

SỰ VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT VỀ NÔNG THÔN THỜI

KÌ ĐỔI MỚI SỰ XUẤT HIỆN CỦA TIỂU THUYẾT NGUYẾN KHẮC TRƯỜNG, TRỊNH THANH PHONG, ĐÀO THẮNG

Về sự vâ ̣n đô ̣ng phát triển của tiểu thuyế t nông thôn thời kì đổi mới; về tác giả Nguyễn Khắc Trường , Trịnh Thanh Phong , Đào Thắng; về hiê ̣n thực nông thôn qua tiểu thuyết của ba tác giả đã được nghiên cứu trong mô ̣t số công trình khoa học của người đi trước , vì vậy trong luận văn này , người viết không đi sâu khám phá mà khái quát những điểm cơ bản nhất

1.1 Tiểu thuyết về đề tài nông thôn trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

1.1.1 Tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam viết trước năm 1986

Giai đoạn 1930 – 1945: Tiểu thuyết viết về nông thôn chủ yếu có hai

khuynh hướng sáng tác là lãng mạn và hiện thực. Các tác phẩm của Tự lực

văn đoàn như tiểu thuyết Tối tăm (Nhất Linh), Gia đình, Thừa tự (Khái Hưng), Bùn lầy nước đọng, Con đường sáng (Hoàng Đạo),… vẽ một bức tranh nông thôn trong cảnh bùn lầy nước đọng, cảnh sống nghèo khổ, tối tăm

luộm thuộm do những thói quen, trình độ thấp kém, mê tín dị đoan Khác với các nhà văn lãng mạn , các nhà văn hiê ̣n thực phê phán la ̣i nhìn ra mô ̣t thực trạng bất công, thối nát của xã hội nông thôn đương thời và tình cảnh khốn khổ của người nông dân bị áp bức bóc lột Hiê ̣n thực này đã được phơi bày

qua những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của các tác giả tiêu biểu như : Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Vỡ đê, Giông tố (Vũ Trọng Phụng), Bước đường cùng (Nguyễn

Công Hoan),… Ở những tác phẩm này , bên ca ̣nh giá tri ̣ hiê ̣n thực còn chứa đựng giá tri ̣ nhân đa ̣o sâu sắc Đó là sự quan tâm, cảm thông đến số phận của những kiếp người nhỏ bé , đầy bất ha ̣nh Đó là tiếng nói đấu tranh chống áp

Trang 22

bức giai cấp, đòi quyền sống, quyền làm người, ý thức phản kháng của người nông dân khi bi ̣ dồn vào bước đường cùng không lối thoát

Giai đoạn 1945 - 1954: Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm

1945 đã đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ nước nhà Nông thôn Việt Nam có những thay đổi to lớn Người nông dân được giao ruộng đất, bắt đầu công cuộc xây dựng cuộc sống mới Thế nhưng cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ 19/12/1946 đã mở đầu cuộc chiến tranh kéo dài chín năm với Pháp Người nông dân có thêm nhiệm vụ tham gia vào cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Trong những năm này, tiểu thuyết viết về nông thôn không tách rời với đề tài

kháng chiến Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) tái hiện hình ảnh người nông dân

với tinh thần quyết chiến quyết thắng, ra sức bảo vệ trâu để ổn định sản xuất phục vụ cho tiền tuyến Lần đầu tiên trong lịch sử tiểu thuyết nông thôn đã xây dựng được hình tượng đám đông quần chúng công – nông – binh đầy ắp

hơi thở của sự sống như trong tiểu thuyết Vùng mỏ (Võ Huy Tâm) Xung kích

(Nguyễn Đình Thi) cũng đã xây dựng được hình ảnh những người nông dân tích cực

Giai đoạn 1955 – 1964 là chặng đường văn học trong những năm xây

dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Nông thôn Việt Nam giai đoạn này nổi bật lên hai sự kiện lớn: cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hóa nông nghiệp Tiểu thuyết nông thôn đã bắt kịp nhịp đi

của thời đại Các tiểu thuyết Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng), Truyện Anh Lục (Nguyễn Huy Tưởng), Những người dân cày (Sao Mai), … đã vạch trần

những tội ác của giai cấp địa chủ, ca ngợi sức mạnh quật cường của người nông dân, khẳng định những thành quả đạt được của phong trào cải cách

ruộng đất Các tiểu thuyết Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Xung đột

Trang 23

(Nguyễn Khải),… viết về phong trào hợp tác xã, phản ánh “cuộc đấu tranh giữa tập thể và cá thể, giữa tư tưởng tư hữu của những người sản xuất nhỏ và

tư tưởng xã hội chủ nghĩa của những người nông dân đi theo đường lối giai cấp công nhân Cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đặc biệt ở những vùng cao biên giới và vùng Thiên Chúa giáo Cuộc đấu tranh giữa mới và cũ, tiến bộ và lạc hậu, tiên tiến và bảo thủ

Giai đoạn 1965 – 1975 cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ

Nông thôn vừa là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam vừa là tiền tuyến sẵn sàng chiến đấu chống lại sự leo thang của đế quốc Mỹ Xuất phát từ quan điểm văn học là vũ khí chiến đấu phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhà văn là chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận văn hóa nghệ thuật nên tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn 1965 – 1975 ít nhiều mang âm điệu sử thi anh hùng, tràn ngập cảm hứng ngợi ca Các tác phẩm khắc họa, ngợi ca ý

chí chiến đấu, tinh thần lao động sản xuất của người nông dân: Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Bão biển, Đất mặn (Chu Văn), Cửa sông (Nguyễn Minh

Châu), Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải),…

Giai đoạn 1975 – 1985 là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học sử thi thời chiến tranh sang nền văn học thời hậu chiến, được coi là giai đoạn tiền đổi mới của văn học Kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi nhưng tình hình kinh tế xã hội của đất nước gặp khó khăn chồng chất, rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng Một số nhà văn mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống, ý thức nghệ thuật chuyển biến kịp với thực tiễn xã hội Tác phẩm của họ

đã bắt đầu có sự chuyển mình ở chiều sâu đời sống nội tại, với những trăn trở tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt Tiểu thuyết nông thôn bên cạnh cảm hứng ngợi ca, bắt đầu xuất hiện cảm hứng đời tư, cảm hứng phê phán, chỉ ra những vấn đề tiêu cực lớn của đời sống nông thôn, cung cách làm ăn và quản lý của

Trang 24

nông thôn cũ,…Có thể kể tên các tiểu thuyết: Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên), Bí thư cấp huyện (Đào Vũ), Cù lao tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn),…

1.1.2 Tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam viết sau năm 1986

Bối cảnh đất nước lại gặp những khó khăn, thử thách mới, nhất là khó khăn về kinh tế chủ yếu do hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn khốc kéo dài

suốt ba mươi năm đòi hỏi chúng ta phải đổi mới Đổi mới trở thành nhu cầu

bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn của toàn dân tộc Xác định được điều

đó, tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã xây dựng đường lối đổi mới toàn diện, tiếp đó, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 05, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp

gỡ với đại diện giới văn nghệ sĩ (cuối năm 1987) Tất cả những điều ấy đã thúc đẩy nền văn học nghệ thuật nước nhà đổi mới Đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật là tinh thần thời kì đổi mới của văn học Việt Nam

Nằm trong quy luật chung đổi mới tư duy của văn học, tiểu thuyết Việt Nam cũng có những đổi mới tư duy nghệ thuật Trước hết là đổi mới nhận thức của nhà văn trước những biến thái xã hội của thế giới Nhà văn phát huy cá tính sáng tạo, viết không phụ thuộc vào sự được phép hay không và không phụ thuộc vào hình thức biểu hiện Đó chính là xu hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng từ tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật trong đường lối đổi mới tại Đại hội Đảng lần VI Tiểu thuyết vẫn không từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần – tư tưởng của nó, nhưng nó được nhấn mạnh trước hết ở sức mạnh khám phá thực tại và thức tỉnh ý thức về sự thật, ở vai trò dự báo, dự cảm Trong xu hướng dân chủ hóa của xã hội, tiểu thuyết còn là một phương tiện cần thiết để tự biểu hiện, bao gồm cả việc phát biểu tư tưởng, quan niệm, chính kiến của mỗi nghệ sĩ về xã hội và con người Và thực tại – đối tượng phản ánh, khám phá của tiểu thuyết không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực đời sống hằng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp, chằng chịt,

Trang 25

đan dệt nên những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Đổi mới tư duy tiểu thuyết còn là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn

Từ sau 1975, cuộc sống dần trở lại với những quy luật bình thường của nó, con người trở về với muôn mặt đời thường, đối diện với cuộc sống gia đình, cá nhân với mối lo cái ăn cái mặc, nơi ở, việc làm… Bối cảnh xã hội đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi con người và từng số phận Đối tượng muôn đời của văn học là con người Tư duy con người thời kì mới đã thay đổi Nhà văn cũng phải đổi mớ i tư duy cho phù hợp để thấu hiểu sâu sắc và tái hiện sinh động, chân thực về con người hiện thực trong bối cảnh mới Con người trong văn học được các nhà tiểu thuyết hôm nay nhìn ở nhiều vị thế và trong tổng hòa các mối quan hệ (với xã hội, lịch sử, gia đình, gia tộc, phong tục tập quán, thiên nhiên, với những người khác và với chính mình) Con người được tiểu thuyết khám phá soi chiếu ở nhiều bình diện, nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát

Tiểu thuyết viết về nông thôn là xu hướng phát triển, đề tài nổi trội trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, góp phần làm nên sự phong phú, sôi động của văn đàn thời kì này Xin được kể tên rấ t nhiều tác

giả, tác phẩm tiêu biểu : Lê Lựu với Thời xa vắng (1986), Chuyê ̣n làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994), Khôi Vũ vơ ́ i Lời nguyền hai trăm năm(1989), Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990), Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Dưới chín tầng trời (2007), Tạ Duy Anh với Lão Khổ (1992), Trịnh Thanh Phong với Ma làng (2002), Hoàng Minh Tường với bô ̣ tiểu thuyết Gia phả của đất và tiểu thuyết Thời của thánh

thần(2008), Đào T hắng với Dòng sông Mía (2004), Phạm Ngọc Tiến với

Trang 26

Những trận gió người (sau đổi thành Gió làng Kình ), Bùi Thanh Minh với

Giời cao đất dày, Nguyễn Xuân Khánh với Mẫu thượng ngàn (2006), Nguyễn

Phan Hách với Cuồng phong (2008), Đỗ Minh Tuấn với Thần thánh và bươm

bướm (2009), … Nhìn vào số lượng các tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam

viết sau năm 1986 được thống kê mang tính tương đối ở trên , có thể thấy đề tài nông thôn có lực hút rất lớn đối với các nhà tiểu thuyết đương đại Mảng

sáng tác “về nông thôn và nhân dân vẫn là một đề tài lớn”, “vẫn có sức lôi

cuốn bạn đọc, vẫn kích thích các nhà văn sáng tạo”

Sự bứt phá, hội nhập cùng với dòng chảy văn học đương đại của tiểu thuyết nông thôn không chỉ được đánh giá ở tiêu chí số lượng mà còn được khẳng đi ̣nh bằng chất lượng nghê ̣ thuâ ̣t Nhiều tác phẩm đã được nhâ ̣n giải thưởng từ các cuô ̣c thi hoă ̣c giải thưởng thường niên của Hô ̣i nhà văn Tính từ năm 1986 - 2012 có hơn hai mươi tiểu thuyết về nông thôn được giải thưởng và

tă ̣ng thưởng: Thời xa vắng của Lê Lựu, Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ,

Cuốn gia phả để lại của Đoàn Lê đạt Giải thưởng Hội nhà văn năm 1990, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương

Hướng, đa ̣t Giải thưởng Hô ̣i nhà văn năm 1991, Tỉ lệ tiểu thuyết nông thôn được giải trong các cuộc thi tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung chiếm số lượng không nhỏ Cuô ̣c thi tiểu th uyết lần thứ hai (2002 - 2005) có 14 tác

phẩm đoa ̣t giải, trong đó có 3 tác phẩm viết về nông thôn: Dòng sông Mía đa ̣t giải A, Cánh đồng lưu lạc đa ̣t giải B, Trăm năm thoáng chốc đa ̣t giải C Cuô ̣c

thi tiểu thuyết lần thứ ba (2006 - 2010), trong tổng số 51 tác phẩm lọt vào vòng chung khảo , mảng tiểu thuyết viết về nông thôn chiếm một số lượng

lớn: Cách trở âm dương, Cuồng phong, Dưới chín tầng trời, Màu rừng ruộng,

Thần thánh và bươm bướ m, Có thể nói, tiểu thuyết viết về nông thôn sau

1986 đã có những tác phẩm hay, đáp ứng được tầm đón đợi của bạn đọc

Tiểu thuyết về nông thôn đã thực sự đổi mới, đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ, đối mới cả về đề tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ Đề tài chiến tranh, những vấn đề liên quan đến vâ ̣n mê ̣nh dân tô ̣c của giai đoa ̣n trước được thay thế

bằng đề tài thế sự , đời tư Văn ho ̣c hiê ̣n thực giai đoa ̣n 1930 - 1945 tái hiện

Trang 27

bức tranh hiê ̣n thực đời sống tối tăm , ngô ̣t nga ̣t bởi sự tồn ta ̣i của những mâu thuẫn mang tính thời đa ̣i, ở đó người nông dân sống thân phận nghèo khổ của con sâu cái kiến , không có quyền tự chủ trong lao đô ̣ng và sinh hoa ̣t hàng ngày Văn ho ̣c thời kì đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hô ̣i ở miền Bắc , với mục tiêu được đặt lên hàng đầu là khích lệ niềm tin vào chế độ mới tốt đẹp , các nhà văn tập trung tái hiện gương mặt nông thôn hăng say lao động , sản xuất Đến thời kì đổi mới , tiểu thuyết về nông th ôn đã tâ ̣p trung tái hiê ̣n mô ̣t bức tranh hiê ̣n thực đời sống , xã hội nơi thôn quê đầy biến động trong việc thực thi những chính sách cuả nhà nước : cải cách ruộng đất , công cuô ̣c sửa sai, chủ trương đưa nông dân vào hợp tác xã , thờ i kì bao cấp , khoán 10, Trong mỗi biến đô ̣ng chính tri ̣ ấy , làng quê Việt Nam không còn không gian bình yên từ ngàn đời xưa , mà náo động , rối ren Phản ánh chân thực cuộc sống, tiểu thuyết sau 1986 không tâ ̣p trung vào mâu thuẫn giai cấp như giai đoa ̣n văn ho ̣c trước 1945 mà chỉ ra rất nhiều mâu thuẫn khác nảy sinh trong

xã hội nông thôn : mâu thuẫn giữa các dòng ho ̣ (Mảnh đất lắm người nhiều

ma, Ma la ̀ ng, ), mẫu thuẫn giữa các thế hê ̣ (Lão Khổ, Dòng sông Mía, Giời cao đất giày, ), thâ ̣m chí mâu thuẫn ngay trong bản thân mỗi con người Và

trong mỗi trang tiểu thuyết, người đo ̣c không chỉ thấy niềm tin yêu và quá đỗi lạc quan của nhà văn như giai đoạn trước đó mà còn đầy ắp sự trăn trở , suy nghĩ về hiện thực đời sống nhiều phức tạp Xã hội nông thôn phản ánh những bước đi chính tri ̣ của dân tô ̣c có ma ̣nh, có yếu, có ưu, có khuyết

Trên nền hiê ̣n thực cuô ̣c sống hàng ngày ấy , các nhà văn thời đổi mới còn quan tâm đến vấn đề thân phận và cuộc đời con người ; chỉ ra những bi

kịch mang tính chất nhân sinh Nguyễn Khải viết Mùa lạc năm 1960 - tác

phẩm nằm trong cảm hứng la ̣c quan chung của văn ho ̣c đương thời vốn tràn đầy niềm tin cuô ̣c sống và con người mới Nhân vâ ̣t trung tâm tác phẩm - cô Đào - được xây dựng bằng chính niềm la ̣c quan và có phần lí tưởng về cuô ̣c đời của nhà văn Trước khi đến với miền đất mới , cuô ̣c đời của người phu ̣ nữ này đầy bất hạnh khi bị cơn lốc cuộc đời càn quét mất hết chồng con, nhà cửa, nhan sắc, Cánh cửa cuộc đời tưởng như đã đóng chặt với con người ấy Vâ ̣y

Trang 28

mà nông trường Điện Biên - cuô ̣c sống tươi vui , nhân ái và tình yêu thương của con người nơi đây đã gọi thức niềm vui và cảm xúc trong chị Như vâ ̣y, viê ̣c nhà văn tái hiê ̣n cuô ̣c đời số phâ ̣n Đào là mô ̣t cách đề cao cuô ̣c sống mới, tương lai tốt đe ̣p của dân tô ̣c , đất nước Các nhà văn thời đổi mới không có được niềm la ̣c quan toàn ve ̣n ấy Họ nhìn thấy và phản ánh về con người và cuô ̣c sống trong cái nhìn chân thực, không bôi đen, không tô hồng, từ đó phát

hiê ̣n không ít những bi ki ̣ch xót xa Thân phận của Giang Minh Sài trong Thời

xa vắng (Lê Lựu) là thân phận mang tính bi kịch khi cả cuộc đời phải sống vì

người khác, không dám vượt thoát những quy đi ̣nh truyền thống để nắm giữ lấy tình yêu, hạnh phúc thực sự của cuộc đời mình

Sự đổi mới tư duy tiểu thuyết nông thôn thể hiê ̣n rõ qua phương diê ̣n cốt truyê ̣n Cốt truyê ̣n là hê ̣ thống sự kiê ̣n làm nòng cốt cho sự diễn biến của các mối quan hệ và phát triển tính các h nhân vâ ̣t Tiểu thuyết thời kì đổi mới phong phú hơn tiểu thuyết ra đời trước đó về cách xây dựng cốt truyê ̣n Mô ̣t số tiểu thuyết (như các tiểu thuyết hồi ức chiến tranh) lựa cho ̣n cốt truyê ̣n giàu tâm tra ̣ng, thì các nhà văn viết về nông thôn lựa cho ̣n cốt truyê ̣n sự kiê ̣n giàu

kịch tính Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường ), Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Dòng sông Mía (Đa ̀o Thắng), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng

Minh Tường), đều là những tiểu thuyết k há rõ ràng với mở đầ u, phát triển, kịch tính, kết thúc Người đo ̣c có thể dựa vào sự kiê ̣n ấy mà kể la ̣i cho người nghe về nô ̣i dung câu chuyê ̣n

Nét đổi mới đáng kể thể hiện tư duy nghệ thuật khác trước của tiểu thuyết nông thôn còn là quan niệm nghệ thuật mới về con người Nếu như quan niê ̣m con người trong văn ho ̣c trước 1975 là quan niệm con người cá nhân hòa nhâ ̣p trong tâ ̣p thể , con người quần chúng, lịch sử đã che khuất con người đời thường , cái tôi cá nhân mờ nhạ t, thì sau 1975, đă ̣c biê ̣t từ sau đổi mới, quan niê ̣m con người cá nhân thể hiê ̣n trong mối quan hê ̣ với cô ̣ng đồng trên cơ sở phát huy cá tính , tôn tro ̣ng đời tư nhân vâ ̣t Con người cá nhân đời

Trang 29

thường ấy được soi ro ̣i từ nhiều c hiều khác nhau , đă ̣t vào vòng xoáy nghiê ̣t ngã nhất của cuộc đời Con người ấy không còn giản đơn, một chiều, “không có những bất ngờ, may rủi”, không “nhạt” như trước, mà đó là những con người “đầy những vết đập xóa trên thân thể, trong tâm hồn” Ở đó, con người đồng thời tồn tại cả mặt tốt lẫn mặt xấu, cả nhân tính và phi nhân tính, cả bản ngã và phi ngã, cả ý thức và vô thức và luôn biểu hiện cá tính rõ rệt Cá tính

ấy biểu lộ xung đột trong cùng một thời điểm tạo nên nét riêng biệt của mỗi con người Con người đời tư pha lẫn hối hận, dằn vặt, đau đớn, day dứt, sám hối Họ dằn vặt trước thời cuộc, sống trong sự tự bộc bạch, tự mổ xẻ chính

mình như chị Nhân, Hạnh (Bến không chồng), Giang Minh Sài (Thời xa

vắng), bà Đất (Chuyện làng Cuội), Hai Thìn (Lời nguyền hai trăm năm),

Thuần (Giời cao đất giày)… Họ đắng cay, xót xa nhất khi hiển lộ ra sự sai

trái của mình, bởicon người không phải bao giờ cũng sáng suốt tuyệt đối, trái lại có những lúc, thậm chí nhiều lúc đã để mình rơi vào những khoảng tối Nhà văn đã tạo ra những con người có nội tâm phong phú, biết suy xét, thức nhận cuộc sống ở mức độ riêng, đấu tranh trong cùng một con người để tìm ra được chân lý đích thực của hiện tại, tìm ra chính bản thân mình như nhân vật

Sài (Thời xa vắng) là một điển hình

Khi tư duy tiểu thuyết thắng thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ cũng biến đổi theo hướng đó Do nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống xã hội nông thôn trong thời đại mới, các nhà văn tiếp cận đời sống ở cự li gần chứ không phải qua một

“khoảng cách sử thi tuyệt đối” (M Bakhtin) nên ngôn ngữ ít mực thước, trang trọng, chuẩn mực, mỹ lệ, mà xu hướng đời thường hóa, đậm tính khẩu ngữ, thậm chí thô tục trở thành “hiệu ứng” riêng trong phản ứng mỹ cảm của nhà văn với

thế giới (Lão Khổ, Ba người khác, Thời của thánh thần) Xuất phát từ tinh thần

dân chủ và ý thức cá tính trong việc đi sâu tìm hiểu, khám phá đời sống nông thôn ở chiều sâu nên giá trị triết lý trong diễn ngôn được các nhà văn chú ý khái

Trang 30

quát, thông qua việc sử dụng ngôn ngữ tự do, phóng khoáng, nhằm đem lại hiệu

ứng trực tiếp mạnh mẽ trong tiếp nhận của công chúng (Lão Khổ, Giã biệt bóng

tối, Màu rừng ruộng)

Có thể nói , trong lịch sử văn học Việt Nam, tiểu thuyết viết về nông thôn chiếm một vị trí quan trọng Đề tài nông thôn có chiều dài lịch sử ngót một thế kỷ mà công lao tạo dựng đầu tiên là hơn một thế hệ người viết, kể từ Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn… đến Ngô Tất Tố, Nam Cao Khi khai thác về

mô ̣t đối tượng không mới mẻ trong truyền thống của văn ho ̣c, các nhà văn vẫn khẳng đi ̣nh được tài năng sáng ta ̣o của mình thông qua viê ̣c đổi mới quan niê ̣m về hiê ̣n thực và con người , lựa cho ̣n đề tài , xây dựng cốt truyê ̣n , nhân

vâ ̣t và cá thể hóa ngôn ngữ nhân vâ ̣t Chính vì vậy, nông thôn Viê ̣t Nam vừa truyền thống vừ a hiê ̣n đa ̣i, vừa bình yên vừa phức ta ̣p, hiê ̣n lên sinh đô ̣ng, hấp dẫn trên từng trang viết

1.2 Tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường, Trịnh Thanh Phong, Đào Thắng trong dòng chảy tiểu thuyết Viê ̣t Nam thời kì đổi mới

1.2.1 Đôi điều về ta ́ c giả Nguyễn Khắc Trường, Trịnh Thanh Phong, Đào Thắng

Ba tác giả xuất thân từ những miền quê khác nhau song cùng là những người nông dân mă ̣c áo lính và trở thành những người lính cầm bút Trong

dòng chảy tiểu thuyết Viê ̣t Nam thời kì đổi mới , ba tác giả đã nỗ lực trong

sáng tạo , làm mới và hoàn thiện tiểu thuyết Việt Nam đương thời , và có những đóng góp đáng ghi nhâ ̣n trong mảng tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn

Nhà văn Nguyễn Khắc Trường sinh ngày 7/7/1946 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên Năm 1965 ông gia nhâ ̣p quân đô ̣i Quân chủng phòng không - không quân Sau 1975, ông đi ho ̣c trường viết văn Nguyễn Du Sau khi ho ̣c xong ông về công tác ta ̣i Ta ̣p chí văn nghê ̣ quân đ ội Từ năm 1983 đến nay, ông

Trang 31

công tác ta ̣i tổ văn xuôi tuần báo V ăn nghê ̣ và hiê ̣n là Chủ tịch Hội đồng văn xuôi của Hô ̣i nhà văn Viê ̣t Nam Bắt đầu viết văn từ thâ ̣p niên 70, Nguyễn

Khắc Trường đã xuất bản mô ̣t số tác phẩm như : Cửa khẩu (1972), Thác rừng (1976), Miền đất mă ̣t trời (1982), Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) Sự

nghiê ̣p văn ho ̣c của Nguyễn Khắc Trường cho đến nay chỉ vẻn ve ̣n ba tâ ̣p truyê ̣n và mô ̣t tiểu thuyết Chỉ duy nhất một cuốn tiểu thuy ết cũng đủ để khẳng đi ̣nh tên tuổi của ông trong nền văn ho ̣c Viê ̣t Nam Sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết này không chỉ được tính bằng số lượng đô ̣c giả mà còn bằng sự quan tâm tìm hiểu của đông đảo giới nghiên cứu , phê bình, báo chí, dư luâ ̣n Với tiểu thuyết này Nguyễn Khắc Trường đã mang đến cho đô ̣c giả những cảm nhâ ̣n mới mẻ và phong phú về nông thôn Viê ̣t N am trước và sau đổi mới Cũng qua tiểu thuyết này , trong dòng chảy văn ho ̣c , Nguyễn Khắc Trường đã chứng tỏ mô ̣t phong cách mới với sự cách tân đô ̣c đáo cả về nô ̣i dung và phương thức biểu hiê ̣n Sự trưởng thành của ngòi bút sáng tác Nguyễn Khắc Trường gắn với thời kì đổi mới đất nước nên trong quan niê ̣m về hiê ̣n thực, về con người , nhà văn luôn bày tỏ một quan niệm mang nhân văn, nhân bản Những đóng góp của Nguyễn Khắc Trường ở mảng tiểu thuyết về nông thôn sau đổi mới là có những đổi mới trong quan niê ̣m về hiê ̣n thực , con người

Nhà văn Trịnh Thanh Phong sinh năm 1950, quê gốc Lâ ̣p Tha ̣ch - Vĩnh Phúc nhưng ông được sinh ra và lớn lên ở Sơn Dương - Tuyên Quang Chính vùng đất hài hòa giữa rừng núi sông suối này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong cuô ̣c đời và sự nghiê ̣p của nhà văn Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến

của Trịnh Thanh Phong là : Bãi cuối sông (tâ ̣p truyê ̣n ngắn đầu tay , 1990),

Gặp lại (1997), Đôi mắt vầng trăng (Thơ, 1999), Lời ru ban mai (2000), Bao giờ chim vành khuyên bay về (2001), Bức tường xanh (2000), Ma làng (2002), Dưới chân núi Pắc Quan (2003), Vết thương thời bình (2006), Đất cánh đồng

Trang 32

Chum (2007), Đồng làng đom đóm (2009) Tuổi thơ Trịnh Thanh Phong lầm

lũi với rừng và lấm láp với sông ngòi , đồng ruô ̣ng quê hương Hoàn cảnh sống đó đã giúp nhà văn sớm tiếp c ận và gắn bó với người nô ng dân, thấu hiểu những nỗi buồn, cảm thông sâu sắc với những nhọc nhằn , lam lũ của ho ̣ Có lẽ vì vậy mà trong mỗi t rang văn, Trịnh Thanh Phong vừa như muốn bày

tỏ tấm lòng tri ân , tri kỉ với những người nông dân chân chỉ ha ̣t bô ̣t quê nhà , vừa như muốn giải tỏa cho những tâm sự cuả chính mình Từ khi còn ở chiến trường đầy lửa đa ̣n cho đến hôm nay, Trịnh Thanh Phong vẫ n lă ̣ng lẽ viết Với trên 10 đầu sách xuất bản , tác phẩm Trịnh Thanh Phong chủ yếu bám chắc vào đề tài nông thôn và người lính Nhâ ̣n xét về ông , tại Hội nghị cấp Chi hô ̣i Nhà văn sông Chảy năm 2010, nhà thơ Hữu T hỉnh nói: Mô ̣t nhà văn

sống ở miền núi Tuyên Quang mà làm nên mô ̣t Ma làng gây xôn xao dư luâ ̣n

trong và ngoài nước Rõ ràng đây không chỉ là thành công riêng của Trịnh Thanh Phong mà còn là đóng góp của văn ho ̣ c nước nhà cho công cuô ̣c đổi mới Điều đó cũng cho thấy: nhà văn chỉ có khoảng cách về chỗ ở chứ không có khoảng cách trong sáng tạo

Nhà văn Đào Thắng tên khai sinh là Đào Đình Thắng , sinh ngày 8/4/1946 tại Bình Lục - Hà Nam Ông từ ng là chiến sĩ c ao xa ̣ chiến đấu ta ̣i khu IV tuyến lửa những năm tháng kháng chiến chống Mỹ Đào Thắng tốt nghiê ̣p trường viết văn Nguyễn Du khóa I và công tác tại xưởng phim Q uân

đô ̣i Ông từng là chuyên viên cu ̣c tư tưởng - văn hóa Sự nghiê ̣p sáng tác của

Đào Thắng cho đến nay gồm các tác phẩm: Điểm cao thành phố (1982), Nước

mắt (1991), Dòng sông Mía (2004), Đất xanh (2006), Ngàn năm (2006) Đào

Thắng cho đến nay vẫn chỉ trung thành với mả ng tiểu thuyết Sau Điểm cao

thành phố và Nước mắt, Đào Thắng có vẻ im hơi lă ̣ng tiếng nhưng thực chất

là ông đang ấp ủ chuẩn bi ̣ cho ra đời mô ̣t cuốn tiểu thuyết về đề tài nông thôn

hấp dẫn Dòng sông Mía ra đời, tác giả phả i mất 14 năm Và với thành tựu

Trang 33

của nó mang lại cũng đủ khẳng định tên tuổi của ông trên văn đàn Việt Nam Với tiểu thuyết này , Đào Thắng đã mang đến cho đô ̣c giả những cảm nhâ ̣n mới mẻ và phong phú về nông thôn Viê ̣t Nam tron g suốt mấy chu ̣c năm trước hòa bình (1954) đến đầu những năm 80 của thế kỉ trước Cuốn tiểu thuyết về nông thôn, về người nông dân trong những thăng trầm của li ̣ch sử thời hiê ̣n

đa ̣i của Đào Thắng đã giúp ông chứng tỏ mô ̣t phong cách mới mẻ, những cách tân đô ̣c đáo cả về nô ̣i dung và phương thức biểu hiê ̣n Giống như Nguyễn Khắc Trường, sự trưởng thành trong sáng tác của Đào Thắng cũng gắn với thời kì đổi mới đất nước nên trong quan niê ̣m về hiê ̣n t hực, về con người, nhà văn luôn bày tỏ mô ̣t quan niê ̣m mang tính nhân văn sâu sắc

1.2.2 Hiện thƣ̣c nông thôn qua Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ma

làng, Dòng sông Mía

Viết về nông thôn đương đa ̣i với tấm lòng thiết tha , Nguyễn Khắc Trường, Trịnh Thanh Phong, Đào Thắng đã đem đến cho ba ̣n đo ̣c mô ̣t cái nhìn toàn diện về đời sống nông thôn Điểm tương đồng của ba tiểu thuyết

Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ma làng, Dòng sông Mía là khắc họa một hiện

thực nông thôn nghèo khó lam lũ, mô ̣t nông thôn nă ̣ng nề hủ tu ̣c "đất lề quê thói", mô ̣t nông thôn đang trong "khoảnh khắc cuối cùng của đêm dài trước bình minh" Những điểm tương đồng ấy la ̣i được khai thác trên những mảng hiê ̣n thực khác nhau với những chi tiết thú vi ̣ và đô ̣c đáo đã ta ̣o nên sức hấp dẫn riêng cho mỗi tác phẩm

1.2.2.1 Hiê ̣n thƣ̣c nông thôn nghèo khó

Nền kinh tế thi ̣ trường với những mă ̣t tích cực và tiêu cực đã có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống thôn quê Hiê ̣n thực ấy được ba tiểu thuyết thể hiê ̣n

ở việc miêu tả cái đói Sự nghèo đói nho ̣c nhằn trở nên ám ảnh hơn bao giờ hết

Trang 34

Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường , sự nghèo đói đến mức làm hiển linh âm khí của làng Giếng Chùa Xóm vốn

"đư ́ ng đầu về cái sang cái giàu toàn xã Ấy thế mà vụ này cũng đói vàng mắt! Nhiều nhà phải nấu cháo tập tàng luộc chuối xanh chấm muối " [66;

6] Cái đói giáp hạt nhảy xổ v ào khiến cho không chỉ con người "hao gầy,

nhớn nhác hớt hải ra vào quẩn quanh với cái bụng đói sôi èo èo " [66; 9]

mà quang cảnh làng quê với tre làng , ngõ vắng cũng trở nên tiêu điều, xơ xác

Mô ̣t làng quê được coi là đất lề quê thói nhất mà "đường làng đầy rác rưởi và

phân trâu bò Đàn nhặng xanh đứng yên tại chỗ như những cái dấu chấm đen giữa thinh không dọc lối đi " [66; 8] Người ta đâu thể nghĩ tới bất cứ điều gì

khác khi trong bụng không ngừng thúc giu ̣c miếng ăn Cảnh ngộ làng Giếng Chùa gợi ta nhớ về cái nghèo đói đến ra rời , cùng kiệt sức lực con người của

làng Đông Xá trong tiểu thuyết Tắt đèn (Ngô Tất Tố)

Chúng ta bắt gặp lại hiện thực đói nghèo ấy nơi Dòng sông Mía của Đào Thắng " làng xóm đang đói quay đói quắt Thằng Khuê cuốc thêm củ

đao non, bới mấy gốc sắn tầu " [62; 254] Để chống cho ̣i với cuô ̣c sống thực

tại, mẹ con chị cả Thuần phải sống nhờ và o những thứ tưởng chừng chỉ để nuôi bò, nuôi lợn Nhà bà mụ đỡ Mến "nghèo kiết xác, nghèo rớt mùng tơi ",

cu Lẹp sinh ra đã ăn sống những con trai tanh nhớ t nhát để cầm chừng , mă ̣c chiếc áo hàng trăm miếng vá đầy những rê ̣ p, luôn sình bùn nước sông Châu

Trong Ma la ̀ ng của Trịnh Thanh Phong , cái đói, cái khổ không hoành

hành và cũng chưa trở thành mối ám ảnh của những người nông dân Cuộc sống của những con người nơi đây vẫn "có vẻ " đủ đầy, chưa đến nỗi phải quay quắt lo ăn từng bữa Con người v ẫn bám vào đồng ruô ̣ng đi đánh ống lươn, đánh giâ ̣m để kiếm cơm qua ngày Nhưng đời sống nơi thôn dã không khấm khá gì cô ̣ng với bản tính lười lao đô ̣ng đã dẫn tới thiếu đó i, sinh ra những con người gian manh, thủ đoạn

Trang 35

Hoàn cảnh đói nghèo không chỉ làm con người ta khổ mà còn tác đô ̣ng tới số phâ ̣n, nhân cách nhân vâ ̣t Cái đói đã đẩy bao con người đến chỗ cùng quẫn, đánh mất đi nhân cách của m ình, đẩy ho ̣ tới những viê ̣c làm phi nhân tính Không phải cái nhìn hiê ̣n thực của các nhà văn u tối , ảm đạm mà chính hiê ̣n thực đã đi ̣nh hướng cách nhìn ấy

Đi lên từ đồng đất, những vùng quê nông thôn Viê ̣t Nam dường như chỉ dựa vào sức lao đô ̣ng của con người làm tiềm năng lớn nhất ta ̣o nên sự thay đổi Vì thế , đói nghèo trở thành cái "duyên ngầm " của thôn quê Nối tiếp những tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì trước Cách ma ̣ng , ba tác ph ẩm

Mảnh đất lắm người nhiều ma , Ma làng, Dòng sông Mía viết về làng quê

cũng không sao thoát khỏi nỗi ám ảnh về sự nghèo khó , nhọc nhằn Tuy nhiên, ám ảnh nhất trên những trang tiểu thuyết về nông thôn thời kì đổi mới là hiê ̣n thực thôn quê với những hủ tu ̣c ngàn đời

1.2.2.2 Hiê ̣n thƣ̣c nông thôn với nhƣ̃ng hủ tu ̣c ngàn đời

Giống như các tiểu thuyết viết về nông thôn Viê ̣t Nam thời kì đổi

mới, Mảnh đất lắm người nhiều ma , Ma làng, Dòng sông Mía được sáng tác trong xu hướng nhận thức lại thực tại , tái hiện hiện thực nơi làng quê còn

nă ̣ng nề những lề thói, đi ̣nh kiến - những đi ̣nh kiến vô hình nhưng là gông

cùm mà mỗi người nông dân lại tự nguyện chịu sự trói buô ̣c

Đó là quan niê ̣m đa ̣o đức gắn với gia thế dòng tô ̣c dẫn đến những con người ưu tú của dòng ho ̣ luôn phải đấu tranh để dòng ho ̣ mình vẻ vang

hơn Vì thế mà mối thù dòng họ kéo từ đời này sang đời khác Mảnh đất lắm

người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường là m sống la ̣i mô ̣t nông thôn thâ ̣ t

rùng rợn Những mâu thuẫn cá nhân cùng với mối thù dòng ho ̣ gay gắt đến mức ho ̣ tìm cách triê ̣t tiêu nhau, khiến xóm Giếng Chùa ấy như có "ma", thâ ̣m chí rất nhiều Mô ̣t lũ người sống mà khác gì ma quỷ Mối thù giữa hai dòng

họ Vũ Đình và Trịnh Bá đã thôi thúc ông Hàm làm một việc thật đáng sợ và

Trang 36

thất đức: đào mô ̣ bố của Vũ Đình Phúc Hai dòng ho ̣ "gây thù chuốc oán" với

nhau từ đời cha ông : " Đời cụ cố là chuyện đất , chuyê ̣n chức, chuyê ̣n chức lý

trưởng dù nhỏ , nhưng đấy là chuyê ̣n danh dự , là chuyện được thua giữa hai dòng họ Đôi bên đã giành nhau ki ̣ch liê ̣t Đến đời ông Phúc thì lại là chuyê ̣n tình Thật oái oăm " [66; 23] Và rồi thế hệ cháu con của hai dòng họ

là Đào và Tùng lại yêu nhau tha thiết Tình yêu của họ cũng không được ủng

hô ̣ từ tất cả ho ̣ tô ̣c vì như thế là đi ngược lời nguyề n của ông cha Cùng mạch

văn với Mảnh đất lắm người nhiều ma , tiểu thuyết Ma làng của Trịnh Thanh

Phong cũng xây dựng cuô ̣c xung đô ̣t gay gắt giữa hai dòng ho ̣ Pha ̣m và ho ̣ Trương Hình ảnh Phạm Tòng và vây cánh của lão đã trù m đen lên khắp làng

Lô ̣c với những âm mưu đen tối và những toan tính có thừa sự xấu xa Từ đầu đến cuối truyện , người đo ̣c chứng kiến hai "cuô ̣c ho ̣p chấp hành " bao gồm toàn thể vây cánh nhà họ Phạm Trong hai cuô ̣c ho ̣p ấy , Phạm Tòng luôn dặn

đàn em "phải biết mượn cái vỏ của Đảng để củng cố cái phái " [53; 48]; vấn

đề chúng bàn bạc đều xoay quanh việc làm sao nhổ được "cái gai" trước mắt là anh Tâm - mô ̣t đảng viên và cũng là người xã đội g ương mẫu được nhân dân yêu mến ; làm thế nào hạ được uy tín của ông Tĩnh - người đảng viên 50 năm tuổi Đảng ; làm thế nào hại được cô Mưa - người trót mang trong mình dòng máu nhà họ Phạm Để làm được điều đó , chúng không từ mô ̣t thủ đoa ̣n nào: mua chuô ̣c chi ̣ Ló để thu tâ ̣p thông tin , giăng bẫy cô Mưa ăn quả ô mai có tẩm thuốc độc phá thai , vu oan để Mưa phải đi tù , rắc thuốc sâu lên đồi lá sắn dùng nuôi cá để phá hoại kế hoạch phát triển kinh tế củ a Tâm , Bằng viê ̣c xây dựng hình ảnh những nhân vâ ̣t như Pha ̣m Tòng và vây cánh với đủ những mánh khóe ha ̣i người , nhà văn đã khắc họa sinh động rõ nét bức tranh hiê ̣n thực hay chân dung chủ nghĩa cá nhân nông thôn Những mảng tối của hiê ̣n thực được nhà văn nhìn thấu , soi rõ, từ đó cắt nghĩa mô ̣t cách sâu sắc ngọn nguồn Ông đã nhìn ra bản chất vấn đề , tất cả đều xuất phát từ đầu óc

Trang 37

thủ cựu, tư lợi cá nhân vốn tiềm tàng trong nếp nghĩ, trong cách hành xử của con người, nay được di ̣p bùng phát, trở thành ung nho ̣t kìm hãm sự phát triển của nông thôn

Đi ̣nh kiến về danh tiết bao đời nay cũng khiến nhiều gia đình dòng

họ tủi hổ, bản thân người phụ nữ rơi vào khổ đau Vì không còn trinh tiết, cô

Son (Mảnh đất lắm người nhiều ma ) bị anh Hàm rút thước "quất hai cái như trời giáng xuống că ̣p đùi tròn mi ̣n như bô ̣t lo ̣c ", bị Hàm dọa "sẽ trả cho bố

mẹ", trở thành con hầu con hạ cho ông Hàm suốt đời Vì không chồng mà chửa, cô Ló, cô Mưa (Ma làng) phải sống trong sự ghẻ lạnh, hắt hủi của gia

đình, dòng họ, làng xóm bàn tán xì xèo, trẻ con hát vè châm cho ̣c,…Vì thất

tiết với chồng , chị Cả Thuần (Dòng sông Mía ) phải sống trong dằn vặt suốt

mấy chu ̣c năm Chị luôn ám ảnh về tội lỗi , bao năm trôi qua vẫn không thôi day dứt, xỉ vả bản thân mình xấu xa , "đĩ ra ̣c" Cuối đời, chị rơi vào bi kịch điên da ̣i, cái chết đầy thảm thương

Qua ba tiểu thuyết , chúng ta hình dung ra một nông thôn ngột ngạt , bức bối không chỉ vì khó khăn , nghèo đói mà còn vì những hủ tục lạc hậu ,

đi ̣nh kiến cứng nhắc , hẹp hòi Đó là dấu vết của chế độ phong kiến xưa vẫn tồn ta ̣i vững bền trong mảnh đất nông thôn dù đất nước đã bước vào thời đa ̣i mới Con người vì sợ, vì yếu đuối không thể vượt qua áp lực cuả cả một tập thể lớn Và nếu dám đương đầu chắc chắn họ sẽ phải chịu những thương đau Các nhà văn bằng những trang viết sinh động , hấp dẫn đã đưa người đo ̣c nhìn lại sự phức tạp ấy của con người khi sống nơi làng quê Đó là nét riêng có , vốn có làm nên đặc trưng làng quê Việt Nam - mô ̣t dân tô ̣c đã thấm nhuầ n tư tưởng Nho giáo bao thế kỉ trước

1.2.2.3 Nông thôn vơ ́ i vấn đề cải cách ruô ̣ng đất

Cải cách ruộng đất không phải là đề tài mới Những thắng lợi to lớn của công cuộc cải cách ruộng đất đã được tiểu thuyết trước năm 1986 phản

Trang 38

ánh Nhưng ở đó, người đo ̣c chỉ thấy mă ̣t tích cực , lý tưởng hóa, còn mặt trái,

mă ̣t khuất lấp và sự mất mát lớn lao cả vâ ̣t chất và tinh thần vẫn còn đo ̣ng trong chiều sâu tâm thức , tâm lý, tình cảm của mỗi ngư ời dân Việt Nam thì chưa được đề câ ̣p tới Sau năm 1986, vấn đề này được tiểu thuyết về nông thôn soát xét la ̣i , trở thành tâm điểm nóng bỏng cuả quá khứ mà bấy lâu nay vẫn âm thầm , day dứt trong chính nô ̣i ta ̣i của đời sống văn ho ̣c Trong hành trình tìm về quá khứ , hình ảnh nông thôn Việt Nam trong cơn giông bão cải cách ruộng đất hiện lên chân thực, sinh đô ̣ng

Đo ̣c Mảnh đất lắm người nhiều ma , Dòng sông Mía, người đo ̣c đều

cảm nhận về một không khí ngô ̣t nga ̣t, bức bối, rối loa ̣n thời kì cải cách ruô ̣ng đất ở làng quê xưa Làng Giếng Chùa của Nguyễn Khắc Trường đêm nào cũng "đèn đuốc cứ rừng rực " Âm vang "Đả đảo tên đi ̣a chủ bóc lô ̣t Vũ Đình

Đa ̣i! Kiên quyết đánh đổ tên đi ̣a chủ Vũ Đình Đa ̣i!" đã được đoàn cổ đô ̣ng do

Vũ Đình Phúc - con trai Vũ Đình Đại đứng đầu hô to dõng dạc khắp ngõ xóm

Đi ̣a chủ Vũ Đình Đa ̣i để mua chức Lý trưởng đã phải đánh đổi biết bao ruô ̣ng vườn tiền ba ̣c, gây ra mối thù lớn với dòng họ Trịnh Bá Khánh kiệt vì mua chức tước, Vũ Đình Đại cũng ngày hai bữa cơm đèn , làm quần quật như trâu

Nhưng trong cái cách ruô ̣ng đất , ông vẫn bi ̣ quy vào lớp "những tên cường

hào bóc lột đ ến tận xương tủy " bởi nhà ông có "năm mẫu ruộng , ba trâu cày, ngày mùa dám thuê gần chục nhân công làm cho nhanh " [66; 21] Sáng

hôm đấu tố, Phúc bước ra, mở đầu bằng câu hỏi : - Đi ̣a chủ Đại, mày có biết

tao là ai không?" [66; 21] Con đấu tố cha, xưng hô mày - tao với người đẻ ra

mình Chỉ để chứng tỏ sự giác ngộ đường lối của mình, ông Phúc đã làm điều

bất bình thường trong truyền thống nhân nghĩa của người phương Đông ta từ xưa đến nay Viê ̣c đấu tố không đúng người đúng tô ̣i đã dẫn đến nhiều mất mát, thiê ̣t thòi cho mô ̣t bô ̣ phâ ̣n người , đồng thời làm thay đổi vi ̣ thế xã hô ̣i

cho nhiều người khác Dòng sông Mía của Đào Thắng cũng đã ghi lại đêm

Trang 39

đen của nô ng thôn Viê ̣t Nam những ngày tháng ấy Làng Thanh Khê diễn ra

"sư ̣ đổi ngôi đi ̣a chủ phú nông xuống dưới , bần nông, cố nông cưỡi lên trên"

Những kẻ nắm quyền , làm chủ cuộc đấu tố trừng trị kẻ bóc lột là cu Lẹp , lão

Quýt, - những kẻ mà theo lời bà Mến là "bọn vô lương tâm! Bọn quỷ sa tăng

hiê ̣n " [62; 245] Những người lương thiê ̣n như chi ̣ Cả Thuần , ông Nghĩa,

hoă ̣c bi ̣ bắn chết hoă ̣c sống trong sự đo ̣a dày Trong công cuộc cải cách ,

những người như Le ̣p và đồng bo ̣n "đã xây đài cao cho cái ác Hàng vạn, có

thể hàng chục v ạn người con ưu tú , trung kiên, một lòng phụng sự đất nước đã chết trong oan khuất" [62; 277] Trong Ma làng, Lão Tòng và đám đàn em

ghen tức với viê ̣c làm giàu của Nghiê ̣p Nhìn cơ ngơi nhà Nghiệp "như miếng mỡ nổi lên giữa làng " lâ ̣p tức cha con , chú cháu nhà Tòng muốn chiếm đoạt Mượn những sơ hở trong chủ trương chính sách trong công cuô ̣c cải cách của

nhà nước, Tòng và đồng bọn đã quy chụp Nghiệp "tự do vô chính phủ , có tư

tưởng đi ̣a chủ , chúa đất phục hồi ., thế là hắn bi ̣ d ân quân, du kích áp tải suốt ngày dãi nắng xới cỏ sân trụ sở ủy ban Còn đàn bò của hắn lão Tòng ra

lê ̣nh ti ̣ch thu nhập vào trại chăn nuôi của xã" [53; 16] Để rồi, đến khi hết hạn

xới cỏ sân ủy ban , Nghiê ̣p la ̣i trở về tay trắng , uất ức, hắn đốt nhà và trở nên điên điên khùng khùng

Cải cách ruộng đất nhằm đem lại ruộng đất cho nông dân, thực hiê ̣n xã

hô ̣i công bằng là một chủ trương đúng đắn , hợp lòng dân Tuy nhiên, sai lầm

ở chỗ cải cách ruộng đất đã rơi vào cực đoan trong nhìn nhận vấn đề giai cấp

ở nông thôn Cải cách ruộng đất vô tìn h đã khơi dâ ̣y lòng hâ ̣n thù , bản năng đen tối, tinh thần giai cấp cực đoan Đội cải cách được trao quyền định đoạt tất cả từ mo ̣i tổ chức , chính quyền đến tính mạng con người Họ kích động người nông dân muốn tồn ta ̣i phải làm những việc xấu , viê ̣c ác, tạo ra một nông thôn tràn ngâ ̣p thù hằn Thực tra ̣ng công cuô ̣c cải cách có những sai lầm ghê gớm, mô ̣t bầu không khí đấu tố nă ̣ng nề Đó là mô ̣t thực tra ̣ng đáng buồn

Trang 40

nhưng cần được phơi bày Tiểu thuyết trước 1986 đã không phản ánh điều này Các nhà văn mới chỉ nhìn thấy hay mới chỉ phản ánh phương diện tích

cực và lý tưởng hóa công cuô ̣c cải cách Mảnh đất lắm người nhiều ma , Ma

làng, Dòng sông Mía cùng với các tiểu thuyết về nông thôn thời kì đổi mới đã

không né tránh , dũng cảm đi sâu vào miêu tả hiện thực , phơi bày những khuyết điểm, sai lầm Nhâ ̣n thức la ̣i li ̣ch sử, nhìn thẳng vào sự thật không phải là sự hoài nghi , bôi nhọ chính quyền cách mạng , không phải là phủ nhâ ̣n quá khứ mà là phanh phui khuyết điểm , đi tìm căn nguyên của sai lầm để giúp chúng ta không đi theo vết xe đổ của người đi trước Đó chính là giá tri ̣ đích thực mà văn ho ̣c sau đổi mới đem la ̣i

1.2.2.4 Hiê ̣n thực đời sống tâm linh và con người bản năng tính du ̣c

Văn ho ̣c thời kì đổi mới nói chung , ba tiểu thuyết Mảnh đất lắm người

nhiều ma, Ma làng, Dòng sông Mía nói riêng đã khám phá con người trong

những mối quan hê ̣ đa da ̣ng và phức ta ̣p , thể hiê ̣n con người ở nhiều phương diê ̣n của đời sống, kể cả đời sống tâm linh ; đưa con người tự nhiên trước nhu cầu đời sống tâm sinh lí vào văn ho ̣c

Đời sống tâm linh tron g ba tiểu thuyết thường gắn liền với những tín ngưỡng, những niềm tin vào thế lực siêu hình cùng các quan hê ̣ bí ẩn của con người, những sức ma ̣nh thuô ̣c về "trực giác", "linh giác", những khả năng kì

lạ của con người Trước hết, đời sống tâm linh được thể hiê ̣n trong viê ̣c xây

dựng những không gian thiêng liêng Xóm Giếng Chùa trong Mảnh đất lắm

người nhiều ma nằm ở thế đất "vượng nhưng nghi ̣ch" có "cổng tiền cổng hậu như hai ụ súng", có núi ông Bu ̣t nhiều ma, có Giếng Chùa gắn với lời nguyền

Xóm Châu Giang trong Dòng sông Mía có đôi cá thần vực Diễm, ai cũng tôn

thờ "dân bản đi ̣a cúng vọng ngày rằm mồng một"[57,58], có đình Thái Hòa bên kia sông "thiêng lắm" Lão Chép vì dại dột nghe lời xúi giục của cánh nhà chè, dám cả gan báng bổ thánh thần , hung hăng bắt đôi cá thần về xơi tái nên

Ngày đăng: 07/07/2015, 11:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể loại. Tạp chí văn học, (9), Tr 28-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể loại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
2. Lại Nguyên Ân (1987), Nội dung thể tài và sự phát triển thể loại trong nền văn học Việt Nam in trong sách Một thời đại văn học mới, Nxb Văn học, Hà Nội, Tr 97-171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung thể tài và sự phát triển thể loại trong nền văn học Việt Nam" in trong sách "Một thời đại văn học mới
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987
3. Lại Nguyên Ân (2004). 150 Thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2004
4. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
5. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôtxtôiepxki, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôtxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
6. Ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam (1989), Văn học trong sự nghiệp đổi mới (Báo cáo Đại hội IV của Hội), Báo Nhân dân. ngày 28/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam
Năm: 1989
7. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995. Những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995. Những đổi mới cơ "bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Thị Bình (2003), Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 75. Tạp chí Văn học, (8). T.24-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 75
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2003
9. Trần Cương (1995), Nhìn lại văn xuôi viết về nông thôn từ sau những năm 80, Tạp chí Văn học, (4), Tr.34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại văn xuôi viết về nông thôn từ sau những năm 80
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1995
10. Trần Cương (1995), Văn xuôi viết về nông thôn trước thời kỳ đổi mới (I986),Tạp chí Văn học số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi viết về nông thôn trước thời kỳ đổi mới
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1995
11. Trần Cương (1995), Nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1995
12. Trần Cương (1995), Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những năm 80, Tạp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những năm 80
Tác giả: Trần Cương
Nhà XB: Tạp
Năm: 1995
13. Hồng Diệu (1995), Về mảnh đất lắm người nhiều ma, Văn nghệ quân đội, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mảnh đất lắm người nhiều ma
Tác giả: Hồng Diệu
Nhà XB: Văn nghệ quân đội
Năm: 1995
14. Hồng Diệu (1991), Về mảnh đất lắm người nhiều ma, Văn nghệ quân đội sô 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mảnh đất lắm người nhiều ma
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 1991
15. Nguyễn Đăng Duy (2009). Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa - Thông tin., Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin.
Năm: 2009
16. Trần Ngo ̣c Dung (2006), Chủ đề phụ nữ từ văn học dân gian đến văn học hiê ̣n đa ̣i , Tạp chí văn học sô 1/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ đề phụ nữ từ văn học dân gian đến văn học
Tác giả: Trần Ngo ̣c Dung
Năm: 2006
18. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyêt phương Tây hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyêt phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
19. Đặng Anh Đào (1997), Vì một tiểu thuyết mơ ́ i, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì một tiểu thuyết mơ"́ i
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1997
20. Phan Cự Đệ (chủ biên. 2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuvêt Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới, Tạp chí Văn nghệ quân đội số 3 (Tr.99-104) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuvêt Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Tạp chí Văn nghệ quân đội
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w