1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Lý luận về phát triển và phát triển bền vững

91 395 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 749 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đoạn cất cánh có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chính sách của các nước đang phát triển như: tăng tỷ lệ đầu tư, hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn và cải cách hệ thống thể ch

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT

LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NỀN KINH TẾ CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NỀN KINH TẾ

I Phát triển kinh tế

1 Bản chất

Phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của đại đa số các quốc gia trên thế giới Khi

nói về một xã hội phát triển, chúng ta thường hình dung ra một xã hội, ở đó mọi người được ăn ngon, mặc đẹp, có khả năng chủ động trong việc tiếp cận các loại tài sản vật chất, có những hoạt động vui chơi giải trí sang trọng, được sống trong một môi trường trong sạch và lành mạnh Chúng ta cũng nghĩ tới một xã hội không có sự phân biệt đối xử, với các mức độ công bằng cần thiết Một yêu cầu tối thiểu của một quốc gia phát triển đó là chất lượng cuộc sống vật chất của quốc gia đó phải cao và được phân phối một cách đồng đều thay vì chỉ giới hạn một cách bất hợp lý cho một

bộ phận tối thiểu giầu có trong xã hội Cao hơn yêu cầu tối thiểu đó, một quốc gia phát triển còn đề cập đến các quyền và sự tự do của con người về mặt chính trị, sự phát triển về văn hoá và tri thức, sự bền vững của gia đìnhv.v Những phân tích trên

đây cho chúng ta đi đến một khái niệm tổng quát nhất về phát triển nền kinh tế, đó là quá trình tăng tiến, toàn diện và về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia Bản chất của phát triển kinh tế cần được hiểu theo những khía cạnh khác nhau: Theo góc độ nội dung, phát triển kinh tế là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện hai vấn đề kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Sự phát triển về mặt kinh tế

được thể hiện sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế, mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người (sự tăng trưởng kinh tế) và sự biến đổi cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng ngày càng hiện đại Sự phát triển xã hội thể hiện khả năng mở rộng năng lực phát triển toàn diện cho con người và việc sử dụng năng lực đó để khai thác các cơ hội của cuộc sống

Theo logic biện chứng của quá trình phát triển, phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất của nền kinh tế Mặt lượng của sự phát triển

bao hàm nghĩa sự gia tăng về quy mô thu nhập và tiềm lực của nền kinh tế còn sự thay đổi về chất bao gồm quá trình thay đổi cấu trúc bên trong của nền kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế) và sự tiến bộ xã hội

Đến đây chúng ta có thể phác hoạ ra công thức phát triển kinh tế:

Trang 2

PTKT = Tăng trưởng Kinh tế + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế + Tiến bộ xã hội Mỗi bộ phận trong công thức trên chính là những mục tiêu của quá trình phát triển

và có vai trò khác nhau trong quá trình thực hiện sự phát triển Tăng trưởng kinh tế là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển Tuy vậy một quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhanh chưa chắc đã có sự

tiến bộ xã hội Điều đó có nghĩa là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần nhưng không

đủ để có sự phát triển Trình độ của cơ cấu ngành kinh tế thể hiện bản chất của sự phát triển, là dấu hiệu để đánh giá các giai đoạn phát triển kinh tế Để phân biệt các

giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải

là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là sự tiến bộ xã hội cho con người,

cụ thể là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, tăng tuổi thọ bình quân, tăng khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, nâng cao trình độ dân trí, giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân, v.v Hoàn thiện sự tiến bộ xã hội là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển

Phát triển với bản chất nêu trên phải là một quá trình lâu dài, diễn ra theo các nấc thang tuần tự và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Trong cuốn "Các giai đoạn phát triển kinh tế" ( the stages of Economic Growth) (1961) của Walter W Rostow, một nhà lịch sử kinh tế nổi tiếng, đã đưa ra một cách tổng hợp theo lịch sử

về những bước (giai đoạn) tuần tự mà mỗi quốc gia phải trải qua trong quá trình phát triển Theo ông, quá trình phát triển kinh tế trải qua 5 giai đoạn Mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi cơ cấu ngành kinh tế, tỷ lê tích luỹ, những đặc trưng của sự phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế, xã hội Người đọc có thể tham khảo nội dung cụ thể của 5 giai đoạn phát triển này trong cuốn giáo trình Kinh tế phát triển của Trường Đại

học Kinh tế Quốc dân – Hà Nội xuất bản năm 2005 (nxb Lao động – xã hội) Ở đây, chúng ta nhấn mạnh đến sự vận dụng lý thuyết này trên một số khía cạnh như sau:

(1) Trong các giai đoạn phát triển, giai đoạn cất cánh được Rostow coi là giai đoạn then chốt Điều kiện để giai đoạn cất cánh xuất hiện là: Tỷ lệ đầu tư chiếm trong tổng thu nhập quốc dân thuần tuý là 20%; phải có ngành công nghiệp mũi nhọn tạo nên tác động dây chuyền đến sự phát triển các ngành kinh tế khác; phải có thể chế chính trị -

xã hội phù hợp đảm bảo thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tế hiện đại, mở rộng kinh

tế đối ngoại và huy động mạnh mẽ nguồn vốn trong nước Các điều kiện của giai

Trang 3

đoạn cất cánh có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chính sách của các nước đang phát triển như: tăng tỷ lệ đầu tư, hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn và cải cách hệ thống thể chế.

(2) Các quốc gia đang phát triển phải tuần tự thực hiện các giai đoạn của sự phát triển, phải qua giai đoạn chuẩn bị cất cánh mới có thể chuyển sang giai đoạn cất cánh, bởi vì ở các nước đang phát triển, những điều kiện để chuyển ngay sang giai đoạn cất cánh là thực sự khó khăn, đó là: sự hạn chế về nguồn vốn tích luỹ nội bộ và khả năng tiếp nhận, chuyển giao nguồn vốn nước ngoài; năng lực bộ máy quản lý kinh tế còn yếu kém và sự tồn tại khá phổ biến tệ nạn tham những, quan liêu và trình độ chuyên môn cũng như văn hoá rất thấp

(3) Trong giai đoạn hội nhập quốc tế ngày càng đầy đủ hơn, các nước đang phát triển

có thể rút ngắn thời gian thực hiện mỗi giai đoạn phát triển thông qua việc sử dụng

sự liên kết kinh tế với các nước phát triển và sử dụng nguồn lực kinh tế sẵn có của các nước này trong quá trình trao đổi thương mại và hợp tác quốc tế

2 Những lựa chọn khác nhau của các nước đang phát triển và hậu quả của quá trình phát triển.

Quan niệm về bản chất của phát triển kinh tế, theo thời gian đã được hoàn thiện như trình bày ở trên Tuy vậy, việc thực hiện trên thực tế lại muôn hình muôn vẻ và thực

sự khó khăn Mỗi nước đang phát triển đều lựa chọn cho mình những con đường đi riêng có tuỳ thuộc vào điều kiện về địa lý, kinh tế, xã hội cũng như quan điểm của các nhà lãnh đạo chính trị Chương trình Kinh tế phát triển ở bậc đại học đã mô tả chi tiết

3 hướng đặc trưng các nước đang phát triển thường lựa chọn, đó là mô hình nhấn mạnh tăng trưởng nhanh (mô hình đoàn tầu đẩy) được thể hiện rõ rệt nhất ở các nước Nam Mỹ; mô hình nhấn mạnh từ đầu vấn đề công bằng xã hội (Mô hình đoàn tầu kéo) của các nước đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa trước đây và mô hình phát triển toàn diện ( của các nước NIC Đông Á) Tuy vậy, lịch sử phát triển kinh tế của các nước cho thấy, trong một khoảng thời gian dài, nhất là từ thập niên 50-60 của thế

kỷ 20 người ta đã đặt mục tiêu kinh tế lên quá cao so với các mục tiêu khác Thậm chí, còn xem sự tăng trưởng kinh tế gần như là thước đo duy nhất của sự phát triển Cái giá phải trả cho thiên hướng này ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn:

Thứ nhất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đã phải trả giá bằng việc sử dụng quá mức nguồn tàì nguyên, môi trường sinh thái và môi trường sống của con người

Sau những sự phát triển mạnh mẽ những năm 50-60 thế kỷ XX, loài người phải đương đầu với cuộc khủng hoảng năng lượng đầu tiên trên quy mô toàn cầu đầu

Trang 4

những năm 1970 Đồng thời, cùng với các vấn đề về an toàn lương thực, con người cũng phải đối mặt với các vấn đề ngoài kinh tế như thoái hoá đất, tình trạng nước sạch và vệ sinh môi trường, nạn chặt phá rừng, chất thải, tiếng ồn, bụi Chẳng hạn, nhờ sử dụng phân bón, năng suất cây trồng đã tăng lên Nhưng lạm dụng phân bón đã gây tác hại, làm cho 38% đất nông nghiệp trên thế giới bị thoái hoá Đất nông nghiệp được tưới tiêu đã làm tăng năng suất cây trồng, nhưng cũng gây ra tình trạng khan hiếm nguồn nước vì sử dụng nước có cường độ khác nhau: Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, trong khi khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được tưới tiêu trên 36% đất trồng trọt thì tại Châu Phi chỉ là 4% Thêm vào đó, nạn phá rừng (mõi năm thế giới mất một diện tích rừng tương đương diện tích nước Bồ Đào Nha), đã gây ra nhiều vấn đề cho xã hội và môi trường như phá huỷ đa dạng sinh học, làm thay đổi khí hậu và không gian tồn tại của nhiều dân tộc Ngày nay thế giới đã thống kê dược gần một vạn loài chim, nhưng có đến 12% tổng số loài được coi là đang bị đe doạ.

Thứ hai, sự tăng trưởng nhanh chỉ đem lợi cho một bộ phận nhỏ dân cư trong xã hội ở các nước đang phát triển Mặc dù tăng trưởng nhanh nhưng trong nhiều chục

năm qua, nổi bật lên ở các nước đang phát triển vẫn là tình trạng nghèo đói, một phần lớn dân cư vẫn nằm trong tình trạng thu nhập thấp; phân hoá giầu nghèo giữa các giai tầng, các nước trên thế giới vẫn ngày càng lớn Đẩy nhanh tăng trưởng và phát triển nhưng lại chỉ tập trung ở vùng đô thị, trong khi đó khu vực nông thôn, vùng núi mênh mông lại bị bỏ qua Mức sống, sự hưởng thụ vật chất, tinh thần, chăm sóc sức khoẻ, cơ hội việc làm quá chênh lệch giữa vùng nông thôn với thành thị, giữa các cộng đồng dân cư với nhau Điều đó có thể trở thành mầm mống dẫn đến sự đối xử không công bằng, dẫn đến sự biểu tình, gây xáo trộn nền kinh tế, khủng hoảng về chính trị

Thứ ba, chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhanh đã dẫn đến xu hướng vi phạm các khía cạnh về quyền con người và những yếu tố văn hoá truyền thống Để thực

hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, nhiều nghiên cứu và phát minh khoa học mang dấu hiệu vi phạm quyền con người, biến người thành công cụ như máy móc, sự phát triển cao của hiện tượng này là những manh nha vận dụng kết quả nghiên cứu về nhân bản vào xã hội loài người Một góc độ khác, việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến làm mai một truyền thống văn hoá văn hoá tốt đẹp của dân tộc, thay vào đó là lối sống thực dụng, tôn vinh quá thái sức mạnh của đồng tiền, của lợi nhuận, thiếu quan tâm đến lợi ích cộng đồng, chuẩn mực đạo đức xã hội, lối sống thay đổi, các hiện tượng tội phạm, ly hôn v.v ngày càng cao hơn

Trang 5

Như vậy là, sau một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế thế giới vào các năm 50 - 80 của thế kỷ trước, loài người nhận thức được rằng: chỉ riêng thước đo kinh tế không thể phản ánh được đầy đủ quan niệm về phát triển Do vậy, phải xem xét lại và đánh giá đúng đắn các mối quan hệ: con người - trái đất, phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá - bảo vệ tài nguyên, môi trường và cả các vấn đề về xây dựng thể chế trong đó con người phải đóng vai trò trung tâm của sự phát triển Tài nguyên của trái đất không phải là vô tận, không thể khai thác hoặc thống trị theo ý mình; cần thiết phải tính toán đến lợi ích chung của cộng đồng, của các thế hệ tương lai và các chi phí môi trường cho sự phát triển Hiểu được tất cả các yêu cầu trên

chính là hiểu được điều cốt yếu của vấn đề về “Phát triển bền vững” mà chúng ta sẽ

đề cập trong mục tiếp sau

II Phát triển bền vững nền kinh tế

1 Quá trình hoàn thiện quan điểm phát triển bền vững trên thế giới.

Xuất phát từ thực tế phát triển kinh tế và những hậu quả của quá trình phát triển gây ra, quan điểm phát triển bền vững đã được từng bước tìm kiếm từ thập niên 70 của thế kỷ trước

Năm 1972, thế giới đối mặt với tình trạng khan hiếm năng lượng và ô nhiễm môi trường nặng nề Ngay cả với “thần kỳ kinh tế Nhật Bản” cũng nhận thức thấy ô nhiễm môi trường đô thị đã gây tác hại như thế nào đến chất lượng cuộc sống và phát triển đất nước Trước thực tế đó và dưới sức ép của các nhà khoa học, Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị quốc tế về môi trường ở Stockholm (Thụy Điển) Hội nghị ra tuyên bố xác nhận hiện trạng môi trường toàn thế giới đang xấu đi nghiêm trọng và kêu gọi nhân loại hãy cứu lấy trái đất, cái nôi của sự sống Hội nghị đã thúc đẩy vấn đề môi trường ở các quốc gia Hội nghị là cơ sở để thành lập Chương trình môi trường của Liên hợp quốc UNEP và công ước quốc tế về buôn bán động vật quý hiếm CITES Trên phạm vi toàn cầu, nhằm tìm cách đối phó với tình trạng cuộc sống ngày càng xấu đi do sự gia tăng của nghèo đói, bệnh tật, thất học, do sự cách biệt ngày càng sâu sắc giữa giàu và nghèo, và đặc biệt do sự xuống cấp không ngừng của môi trường Trong bối cảnh đó, Liên hợp quốc đã thành lập Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển vào năm 1983

Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về môi trường và

phát triển (WCED) ấn hành năm 1987 đã chính thức đưa ra quan điểm của Liên hiệp

quốc về Phát triển bền vững, theo bào cáo này phát triển bền vững được hiểu là “sự

Trang 6

phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Quan điểm này đã tác động mạnh mẽ

tới cộng đồng thế giới bằng lời cảnh tỉnh loài người phải thay đổi cơ bản và ngay lập tức lối sống và cách hành động của mình, nếu không sẽ phải đối mặt với tình hình không thể chịu đựng được và môi trường sẽ bị phá huỷ tới mức thảm họa Như vậy có thể thấy rằng, quan điểm ban đầu về phát triển bền vững chủ yếu nhấn mạnh đến việc giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa mục tiêu về kinh tế với mục tiêu bảo vệ tại nguyên và môi trường sống của con người

Bước ngoặt quan trọng nhất trong quan điểm về phát triển bền vững được thể hiện ở Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển họp ở Rio de Janero (Braxin) năm 1992 Đây là cuộc gặp gỡ lớn chưa từng thấy của các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới Thành công lớn hơn cả của Hội nghị thượng đỉnh này là đã thông qua Chương trình nghị sự 21 Đây là khuôn khổ hành động cấp quốc gia và quốc tế, lần đầu tiên được các nước cùng thừa nhận

Hộp 1: Chương trình nghị sự 21 (đưa vào hộp)Chương trình hành động 21 là văn kiện đồ sộ gồm 40 chương nêu lên các công việc cần phải làm, các biện pháp cần thực hiện và kinh phí cần phải có cho các công việc đó Đây là văn kiện quan trọng giúp các quốc gia soạn thảo và hiệu đính chiến lược phát triển của mình và định hướng hợp tác toàn cầu nhằm bảo vệ môi trường trên trái đất

Mười năm sau, Hội nghị thượng đỉnh trái đất về phát triển bền vững (WSSD) họp tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 đã tiếp tục khẳng định việc lựa chọn con đường phát triển bền vững được xác định 10 năm trước tại Rio Chương trình nghị sự

21 đã đưa ra quan điểm phát triển bền vững không chỉ nhấn mạnh vấn đề môi trường, tài nguyên thiên nhiên mà còn nhấn mạnh nhiều hơn đến yếu tố xã hội, yếu tố con người trong quá trình phát triển của các quốc gia

Quan niệm đầy đủ về phát triển bền vững được Liên hiệp quốc đưa ra là: bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định trong mối quan hệ với thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống

2 Nội dung phát triển bền vững

Trang 7

Quan điểm của Liên hiệp quốc nêu trên đã thể hiện rõ nội dung của phát triển bền vững hiện nay Có thể mô tả khái quát nội dung này qua các hình dưới đây:

Phát triển bền vững phải được thể hiện ở vùng phối hợp được cả 3 mục tiêu kinh

tế, xã hội, môi trường ( hình bên phải) Nó mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hoá Mục tiêu của phát triển ngày nay phải là nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của loài người, tạo nên cuộc sống công bằng và bình đẳng giữa các thành viên Để đạt được mục tiêu ấy, trong quá trình phát triển, các quốc gia phải xác định được một cách hợp

lý các mục tiêu cụ thể của 3 nội dung phát riển này để tạo nên 3 đỉnh của tam giác

phát triển bền vững (hình bền trái), trong đó mục tiêu bền vững kinh tế là lựa chọn một tốc độ tăng trưởng hợp lý trên cơ sở một cơ cấu kinh tế phù hợp và có hiệu quả nhất Bền vững về xã hội tập trung vào việc thực hiện từng bước các nội dung về tiến

bộ xã hội và phát triển con người Bền vững về môi trường bao gồm khai thác hợp lý tài nguyên; bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường; thực hiện tốt quá trình tái sinh tài nguyên môi trường.

3 Việt Nam nhập cuộc hành trình phát triển bền vững

Thời kỳ trước đổi mới, mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam là mô hình nhấn

mạnh vào công bằng xã hội Kết quả là chúng ta đã tạo ra được những thành tựu nhất định về bảo đảm những yêu cầu cơ bản về phát triển con người, quyền bình đẳng trong xã hội được coi trọng Tuy vậy, mô hình này đã dẫn đến sự phát triển rất thấp kém về mặt kinh tế Sự bình đẳng và công bằng xã hội được xây dựng trên cơ sở mức sống thực sự thấp kém, nền kinh tế nói chung và đời sống kinh tế của quảng đại dân chúng rất khó khăn Bắt đầu từ giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, chúng ta bước vào thời kỳ cải tổ kinh tế, thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 8

với quan điểm gắn kết đồng thời cả mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội trong toàn tiến trình phát triển Tuy vậy, trong những năm qua, phát triển kinh tế của Việt nam vẫn còn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và chất thải Dân số tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục còn rất bất cập Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị phá hoại nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động Hệ thống chính sách và công cụ pháp luật chưa đồng bộ để có thể kết hợp một cách có hiệu quả giũa 3 mặt của sự phát triển bền vững là kinh tế, xã hội và môi trường Nắm bắt được tính hình đó, Chính phủ Việt nam đã có những bước tiếp cận ngày càng đầy đủ đến hành trình phát triển bền vững nền kinh tế đất nước Cụ thể:

Ngày 12/6/1991, tại Quyết định số 187-CT, Chính phủ thông qua “Kế hoạch quốc

gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 – 2000” một trong những kế

hoạch quốc gia đầu tiên được xây dựng theo quan điểm phát triển bền vững vừa được quốc tế chính thức công bố

Ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW “về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước” nêu lên quan điểm “Bảo vệ môi trường phải gắn liền và là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước” Tiếp đó, Đại hội IX của Đảng đã khẳng định con

đường phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo

vệ môi trường” “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”.

Ngày 17 tháng 8 năm 2004, trong Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, Thủ tướng

Chính phủ đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ

sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các

tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21 Định hướng nêu lên những thách

Trang 9

thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề ra những chủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên cần được thực hiện Định hướng không thay thế các chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch hiện có, mà là căn cứ để xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển của các ngành, địa phương, nhằm kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước.

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

(Tiếp cận từ góc độ phát triển bền vững)

Từ công thức phát triển nêu ở chương 1, theo quan điểm phát triển bền vững, việc

phân tích và đánh giá phát triển kinh tế bao gồm bốn khía cạnh: tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến bộ xã hội và vấn đề môi trường Nội dung của mỗi khía cạnh sẽ được xem xét thông quá các tiêu chí đánh giá và xu thế biến đổi của nó trong quá trình phát triển

I Tăng trưởng kinh tế

Những nguyên tắc chính phát triển bền vững ở Việt Nam

Nguyên tắc 1: Con người là trung tâm của phát triển bền vững

Nguyên tắc 2: Phát triển kinh tế là trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới

Nguyên tắc 3: Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển

Nguyên tắc 4: Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai

Nguyên tắc 5: Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước

Nguyên tắc 6: Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương, của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân

Nguyên tắc 7: Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, để phát triển bền vững đất nước

Nguyên tắc 8: Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

Trang 10

1 Khái niệm và ý nghĩa

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được

sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh

sự thay đổi về lượng của nền kinh tế

Như trên đã phân tích, trong quá trình phát triển kinh tế, sự tiến bộ và công bằng

xã hội chính là mục tiêu cuối cùng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi

về chất của nền kinh tế, còn tăng trưởng là điều kiện cần của sự phát triển Các nước đang phát triển không thể thực hiện được mục tiêu phát triển nền kinh tế nếu không

có một khả năng tích luỹ vốn cao, và mục tiêu phấn đấu của xã hội không phải là cho một sự công bằng trong đó ai cùng nghèo như ai Một xã hội lành mạnh phải dựa trên

cơ sở của một nền kinh tế vững chắc về vật chất.Tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất cần thiết cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cho sự thay đổi các mục tiêu xã hội

2 Tính chất hai mặt của tăng trưởng kinh tế.

Mặc dù là tiêu thức phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế nhưng bản thân

sự tăng trưởng kinh tế cũng chứa đựng hai thuộc tính, hay nói cách khác, nó cũng có tính hai mặt, đó là: mặt lượng và mặt chất Trong quá trình phát triển, các quốc gia phải quan tâm đồng thời đến cả hai mặt của tăng trưởng kinh tế và xu hướng vận động tích cực của nó

2.1 Mặt lượng của tăng trưởng.

Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng, nó

thể hiện ở ngay trong khái niệm về tăng trưởng như đã nói ở trên và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng thu nhập Đứng trên

góc độ toàn nền kinh tế, thu nhập thường được thể hiện dưới dạng giá trị: có thể là tổng giá trị thu nhập, hoặc có thể là thu nhập bình quân trên đầu người Các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) bao gồm: tổng giá trị sản xuất (GO); tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng thu nhập quốc dân (GNI); thu nhập quốc dân (NI); thu nhập được quyền chi (GDI)

Trang 11

Trong phân tích, đánh giá mặt lượng của tăng trưởng, một điều quan trọng hơn cả nội dung kinh tế, phương pháp tính toán các chỉ tiêu nói trên (đã được giới thiệu trong chương trình Kinh tế phát triển cho bậc đại học) là ở chỗ, hiểu được các chỉ tiêu này được sử dụng như thế nào? Cách phân tích và xu thế vận động hợp lý của nó trong quá trình phát triển là gì? Vì vậy, cần lưu ý đến những điểm nhấn mạnh sau đây:

(1) Trong số các chỉ tiêu nói trên, chỉ tiêu thường hay sử dụng nhất và phản ánh chính xác hơn cả là GDP và GDP trên đầu người GDP có ưu điểm hơn GO ở chỗ

loại trừ trong tính toán phần giá trị trung gian của hàng hoá và lại đáng tin cậy hơn các chỉ tiêu khác vì nó phản ánh toàn bộ giá trị gia tăng hay giá trị sản phẩm hàng hoá

và dịch vụ cuối cùng tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định của một quốc gia

Vì vậy, khi đánh giá tăng trưởng kinh tế, chúng ta thường sử dụng chỉ tiêu mức và tốc

độ tăng GDP và GDP/đầu người Mặt khác, xét đến cùng về mục tiêu tăng trưởng, thì tốc độ tăng trưởng dân số cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp Nếu tốc độ tăng trưởng tổng thu nhập lại thấp hơn tốc độ tăng trưởng dân số thì điều đó có nghĩa là không có

sự gia tăng về mặt lượng của tăng trưởng nếu xét theo mục tiêu cuối cùng Vì vậy, quan điểm tăng trưởng hiện đại thường quan tâm nhiều hơn đến chỉ tiêu mức và tốc

độ tăng thu nhập bình quân đầu người khi xét đến mặt lượng của quá trình này, nó chính là dấu hiệu thể hiện kết quả rượt đuổi cuộc chạy đua về kinh tế giữa các nước với nhau, nhất là giữa các nước đang phát triển với các nước phát Chúng ta có thể xem xét vấn đề này qua một ví dụ cụ thể trong khối APEC Khối APEC bao gồm có

21 nước, trong đó 11 nền kinh tế có mức thu nhập cao còn lại là các nền kinh tế đang phát triển Theo báo Cáo kinh tế APEC năm 2006 (APEC economic report 2006) từ khi thành lập đến này ( từ 1990) các nền kinh tế đang phát triển của khối có tốc độ tăng trưởng GDP trung bình cao hơn so với các nước phát triển khoảng 1,3 lần, nhưng tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm của các nền kinh tế đang phát triển lại cao hơn các nền kinh tế phát triển là 1,65 lần Kết quả là tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của các nước đang phát triển trong thời gian qua không đáng kể Khoảng cách thu nhập và mức sống dân cư giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển ttrong khối APEC tuy có giảm đi nhưng không đáng kể Nếu so sánh 5 nền kinh tế giầu nhất với 5 nến kinh tế nghèo nhất của APEC, thì GĐP/người chênh lệch

22 lần năm 1970, 25 lần năm 1975, năm 1989 là 36 lần, năm 1995 là 34 lần và năm

2004 vẫn là 34 lần Hoa kỳ và Nhật Bản, hai nền kinh tế lớn nhất khu vực, chiếm 16% dân số, nhưng chiếm tới 71% GDP khu vực, so với 84% dân số còn lại với 29%

Trang 12

GDP khu vực.Chính vì vậy, thứ hạng của các nước đang phát triển trong khối APEC, trong vòng 20 năn trở lại đây vẫn chưa có sự thay đổi tích cực (xem bảng dưới)

5 Hồng Kông Australia Singapore Singapore 25.002

6 Singapore Canada Australia New Zealand 24.499

8 NewZealand NewZealand NewZealand Brunei 14.454

17 Papua New

Guinea

Philippines Philippines Trung Quốc 1283

18 Philippines Indonesia Trung Quốc Philippines 1059

19 Indonesia Papua New

Guinea

Papua New Guinea

Indonesia 1022

20 Trung Quốc Trung Quốc Indonesia Papua New

Guinea

824

Nguồn:cơ sở dữ liệu của UNCTAD (2) Các nước đang phát triển có nhu cầu và khả năng đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn các nước phát triển Về mặt nhu cầu, đó là mong muốn đuổi kịp các

nước phát triển về mặt kinh tế Các nước đang phát triển sẽ ngày càng tụt hậu so với các nước phát triển nếu không tạo cho mình một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các nước phát triển Việt Nam muốn vươn lên để trở thành nước NIC, hay Trung Quốc muốn nhanh chóng trở thành nước công nghiệpv.v thì phải tạo cho mình một tiềm lực kinh tế vững chắc thông qua việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Mặt khác, nếu xét về mặt khả năng, ở các nước đang phát triển hiện còn tồn tại một khối

Trang 13

lượng nguồn lực chưa được khai thác và sử dụng khá lớn, sản lượng thực tế đạt được còn rất xa so với mức sản lượng tiềm năng, do đó nếu biết tìm ra được lực đẩy mạnh

mẽ, sẽ dễ dàng đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn Trước kia, trong quá trình chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhanh, các nước đang phát triển gặp phải những rào cản lớn, đó là sự hạn chế về những nguồn cần thiết cho tăng trưởng kinh tế như: vốn, lao động có tay nghề cao, hay công nghệ kỹ thuật, thị trường hàng hoá v.v Trong nền kinh tế mở cửa hiện đại như hiện nay, những rào cản trên gần như đã được tháo

gỡ thông qua cơ chế trao đổi thương mại, hợp tác quốc tế với sự di chuyển vốn và nguồn lực vật chất khác từ các nước phát triển vào một cách có hiệu quả theo cơ chế cùng có lợi Các số liệu thực chứng trong thời gian qua cũng cho chúng ta thấy kết luận nêu trên là hoàn toàn đúng Số liệu thống kê của WB (bảng dưới) cho thấy, tốc

độ tăng trưởng GDP bình quân năm của các nước có mức thu nhập thấp lại có xu hướng cao hơn cả Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất thế giới, một số nước thuộc khối Đông Nam Á trong những năm gần đây vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

(3) Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế nêu trên đều được tính bằng giá trị Giá trị GDP có thể tính theo đơn vị tiền tệ trong nước, hoặc tính theo đơn vị quy đổi

ngoại tệ trực tiếp (theo USD) Chính phủ các nước đang phát triển có thể sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh của mình khi quy đổi theo đơn vị ngoại tệ trực tiếp Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong

thời kỳ công nghiệp hoá là sử dụng công cụ “lạm phát” và “tỷ giá” phù hợp Nếu tính theo giá so sánh của đồng Won, trong ba mươi năm 1965-1995, kinh tế nước này chỉ tăng trưởng khoảng 9% Nhưng nếu tính theo USD thì trong ba mươi năm ấy kinh tế nước này tính bình quân đầu người tăng đến 16,6%/năm hay là GDP theo đồng đôla

Mỹ đã tăng bình quân khoảng 18%/năm Hệ quả là từ mức thu nhập 80USD/người đã tăng lên 8000USD/người Chính phủ Việt Nam cũng đã sử dụng chính sách tương tự như Hàn Quốc mười năm gần đây Theo đồng Việt Nam, giá so sánh Việt nam có tốc

độ tăng trưởng chỉ khoảng hơn 7%/năm, nhưng năm 2005, nếu tính theo USD mức tăng trưởng lên tới 15%/năm (mức tăng GDP theo giá hiện hành là 17%/năm, nhưng

tỷ giá chỉ giao động khoảng 2%/năm, tức là đã tăng trưởng theo USD đến 15%/năm Đây là tốc độ có thể đảm bảo tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người sau 5 năm) Chính đây là căn cứ để dự báo GDP bình quân năm 2005 là 640USD có thể tăng lên 1050-1100USD vào năm 2010

Trang 14

Giá để tính các chỉ tiêu tăng trưởng gồm ba loại khác nhau: giá so sánh, giá hiện

hành và giá sức mua tương đương Giá so sánh (giá cố định) là giá được xác định theo mặt bằng của một năm gốc Năm được chọn làm năm gốc là năm mà nền kinh tế của quốc gia ít có những biến động lớn, và khoảng cách của năm gốc không nên qúa

xa so với năm hiện hành Giá hiện hành là giá được xác định theo mặt bằng của năm tính toán Gía sức mua tương đương (PPP- Purchansing power parity) do nhà thống

kê học người Mỹ có tên là R.C.Geary đề xuất, theo đó giá được xác định theo mặt bằng quốc tế và hiện nay thường tính theo mặt bằng giá của Mỹ Mỗi loại giá phản ánh một ý nghĩa và được dùng vào những mục đích khác nhau Chỉ tiêu tăng trưởng tính theo giá cố định phản ánh thu nhập thực tế, thường sử dụng để tính tốc độ tăng trưởng kinh tế giữa các thời kỳ và có ý nghĩa so sánh theo thời gian Nếu tính theo giá hiện hành, kết quả nhận được là thu nhập danh nghĩa, thu nhập đạt được theo mặt bằng giá tại thời điểm tính toán và thường được sử dụng trong việc xác định các chỉ tiêu có liên quan đến vốn đầu tư, cơ cấu ngành kinh tế, ngân sách, thương mại v.v

Để quy đổi GDP thực tế thành GDP danh nghĩa và ngược lại, cần sử dụng thông tin

về chỉ số giảm phát GDP (deflater GDP) Các chỉ tiêu tính theo Giá PPP phản ánh thu nhập được điều chỉnh theo mặt bằng giá quốc tế và dùng để so sánh theo không gian Chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương thường dùng

để so sánh mức sống dân cư bình quân giữa các quốc gia, là cơ sở để các tổ chức quốc tế xét đoán việc cho vay hay điều kiện, thời hạn được vay đối với các nước khác nhau và xác định mức đóng góp của các nước thành viên trong các tổ chức quốc

tế

Bảng: Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế

của một số nước năm 2005

tên nước GDP

tỷ đôla % tăng trung bình hàng năm

2005 2001-05

GNITỷđôla đô la Trên đầu người

44.983 698735.528 35.131

60.644 942032.893 32.524

Trang 15

- thu nhập trung bình

- thu nhập thấp

2 một số nước tiêu

biểu:

- Mỹ

- Nhật

- Anh

- Pháp

- Trung Quốc

- Ấn độ

3 Một số nước đông

nam á:

- Singapore

- Hồng Kông

- Hàn quốc

- Thái lan

- Indonesia

- Malaysia

- Philipin

- Việt Nam

8.535 5,1 1.391 6,0

12.455 2,8 4.505 1,3 2.192 2,3 2.110 1,5 2.228 9,6

785 6,9

91 6,3

177 4,3

787 4,6

176 5,4

287 4,7

130 4,8

98 4,5

52 7,5 8.113 2.640 1363 580

12.969 43.740 4.988 38.980 2263 37.600 2.177 34.810 2263 1740

793 720

119 27490

192 27.670 764 15830

176 2750

282 1280

125 4960

108 1300

51 620

22.115 7.195 5.849 2.486 12.438 41.950 4019 31.410 1.968 32.690 1.855 30.540 8.610 6.600 3787 3460

130 29780

241 34.670 1055 21.850 542 8400

820 3720

262 10.320 440 5300

250 3010

Nguồn: WB, Báo cáo phát triển thế giới, 2007

Qua bảng số liệu trên, nếu theo phương pháp PPP, tỷ trọng tổng thu nhập và thu nhập bình quân đầu người của các nước đang phát triển trong tổng thu nhập thế giới cao hơn nhiều so với thu nhập tính theo phương pháp quy đổi ngoại tệ trực tiếp Năm

2005, tỷ trọng thu nhập tính theo GNI ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình trong tổng thu nhập thế giới chỉ chiếm 23% nếu tính theo phương pháp quy đổi ngoại

tệ trực tiếp nhưng con số này đã lên đến xấp xỉ 47% nếu tính theo PPP; Theo phương pháp này, Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ, gấp đôi Nhật Bản, Ấn Độ đứng thứ 4 Việt Nam nếu tính theo phương pháp quy đổi ngoại tệ trực tiếp thì mức GNI/người năm 2005 là 620$, nhưng tính theo PPP thì mức này là 3101$ ( gấp khoảng 5 lần)

2.2 Mặt chất lượng tăng trưởng

Trang 16

Các nước đang phát triển đã thành công trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, có năm cao gấp 2-3 lần các nền kinh tế phát triển và cao hơn mức chung toàn cầu khoảng 2 điểm phần trăm hàng năm trong nhiều năm gần đây (theo WB) Tuy vậy, nếu theo dõi qua bảng số liệu dưới đây:

Dự báo tốc độ tăng trưởng bình quân

các nước trong dài hạn

Chúng ta thấy, đã xuất hiện những dự báo không tích cực của các chuyên gia kinh

tế về khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của các nước đang phát triển vào thập niên 20 của thế kỷ 21 nếu không có sự điều chỉnh trong cấu trúc của sự tăng trưởng hay nói đầy đủ hơn là sự thay đổi về chất của sự tăng trưởng.Vì vậy, nghiên cứu chất lượng tăng trưởng trở thành một vấn đề bức xúc hiện nay ở các nước đang phát triển Nó trở thành điều kiện sống còn trong hiện tại và nhất là tương lai, trong cuộc chạy đua cải thiện mức thu nhập một cách lâu dài với các nước phát triển

Có nhiều góc độ đề cập đến quan niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế và nội dung cấu thành nó Ở đây, chúng ta sẽ đưa ra quan điểm về vấn đề này theo nghĩa hẹp

và nghĩa rộng Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, chất lượng tăng trưởng là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế (còn số lượng tăng trưởng là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng), thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đạt được mặt

số lượng của tăng trưởng và khả năng duy trì nó trong dài hạn Như vậy, nếu xét mặt

lượng của tăng trưởng, người ta thường quan tâm đến câu hỏi: tăng trưởng được bao nhiêu? nhiều hay ít? nhanh hay chậm? thì những câu hỏi liên quan đến chất lượng tăng trưởng theo nghĩa hẹp lại là: (1) khả năng duy trì các chỉ tiêu tăng trưởng như thế nào? (2) cái giá phải trả cho việc đạt được các chỉ tiêu là bao nhiêu? (3) yếu tố nào

Trang 17

cấu thành chủ yếu cho sự tăng trưởng? Còn nếu hiểu chất lượng tăng trưởng theo nghĩa rộng, chúng ta có thể hướng sự suy nghĩ theo khía cạnh tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững Theo hướng này, chất lượng tăng trưởng còn được xem xét thêm tác động lan toả của tăng trưởng kinh tế đến các đối tượng chịu ảnh hưởng, đó là: ảnh hưởng của tăng trưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; tác động của sự gia tăng thu nhập đến sự cải thiện tình trạng nghèo đói, bình đẳng, công bằng xã hội

và cuối cùng là kết quả của tăng trưởng ảnh hưởng đến bền vững tài nguyên, môi

trường Như vậy, nếu theo nghĩa rộng, chất lượng tăng trưởng thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào, tạo nên tính chất, sự vận động của các chỉ tiêu tăng trưởng

và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội - môi trường Chất lượng tăng trưởng theo nghĩa hẹp chính là nội dung chủ yếu nhất trong

phân tích tăng trưởng kinh tế, còn các khía cạnh ảnh hưởng lan toả của nó đến các lĩnh vực của phát triển bền vững sẽ được đề cập khi phân tích và đánh giá mối quan

hệ của các yếu tố cấu thành phát triển kinh tế

Đi đôi với quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, các nước, nhất là các nước đang phát triển phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng tăng trưởng và đặt mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Có thể hệ thống hoá nội dung đánh giá chất lượng tăng trưởng (theo nghĩa hẹp) theo hai nhóm tiêu chí, đó là tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng (gọi tắt là hiệu quả tăng trưởng) và tiêu chí đánh giá khả năng duy trì tính bền vững của quá trình tăng trưởng hiệu quả (gọi tắt là tính bền vững của tăng trưởng) Các tiêu chí mang tính lượng hoá này sẽ giúp cho mỗi nước, mỗi ngành, mỗi địa phương xác định được thực trạng về chất lượng tăng trưởng của mình, để có mục tiêu phấn đấu cho việc cải thiện các chỉ tiêu đó

Đánh giá hiệu quả tăng trưởng.

Hiệu quả của tăng trưởng là một khái niệm phức tạp, nó thể hiện ở: (i) sự so sánh giữa kết quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng (thu nhập) với chi phí bỏ ra (chi phí tổng hợp và các chi phí riêng biệt như lao động, vốn đầu tư, chi phí sản xuất); (ii)

sự so sánh giữa kết quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng với các chỉ tiêu thể hiện mục tiêu cuối cùng của hoạt động kinh tế, đó là tăng thu nhập thực sự cho quốc gia (giá trị gia tăng) và nâng cao mức sống bình quân cho người dân (thu nhập bình quân đầu người) Đánh giá hiệu quả của tăng trưởng, chúng ta thường quan tâm đến các tiêu chí: so sánh tốc độ tăng tổng giá trị sản xuất (GO) và tốc độ tăng giá trị tăng

Trang 18

thêm(VA); tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người (GDP/người); năng suất lao động; suất đầu tư tăng trưởng (ICOR).

Trong bốn tiêu chí đánh giá hiệu quả của tăng trưởng kinh tế, tiêu chí thứ nhất phản ánh sự so sánh giữa tốc độ tăng trưởng tổng giá trị sản xuất (GO) của nền kinh

tế với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng (VA - GDP) Tốc độ tăng trưởng GO cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP phản ánh một nền kinh tế “tăng trưởng nhờ gia công”, sự sống còn của nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn hàng hoá trung gian phải nhập khẩu từ bên ngoài Điều đó, một mặt phản ánh tính bị động và nguy cơ tắc nghẽn của nền kinh tế trong nước xét theo nghĩa nó là một dòng sông đang bị “lụt” ở phía hạ nguồn

và “khô” ở trên thượng nguồn Mặt khác tốc độ tăng của GO cao hơn GDP chứng tỏ

sự gia tăng ngày càng cao của chi phí trung gian, làm cho tỷ trọng chi phí trung gian (IC) trong GO ngày càng cao và kết quả là phần giá trị gia tăng (VA) trong GO giảm

đi, hiệu quả tăng trưởng thấp Xét về mặt hiệu quả, trong chuỗi dây chuyền giá trị, phần “giá trị gia công” thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ và ngày càng nhỏ theo xu hướng phát triển của khoa học công nghệ, một quốc gia sẽ không thể làm giầu được,

và lại càng không thể bền vững được nếu sống bằng “gia công” Một thực tế, các nước đang phát triển, do hạn chế từ nhiều khía cạnh, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng của mình đã phải thực hiện theo mô hình “nhờ vào gia công” và vì vậy luôn bị thua thiệt trong phân công hợp tác quốc tế và dành phần hiệu quả thấp, không ổn định trong chuỗi dây chuyền giá trị toàn cầu Chúng ta có thể theo dõi điều này qua số liệu (sơ đồ dưới, thay sơ đồ 2007) phản ánh động thái tăng trưởng GO và GDP của Việt Nam thời gian qua từ 2001đến 2006 Rõ ràng là, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả của tăng trưởng Việt Nam cần phải rút ngắn biên độ khoảng cách khá lớn hiện nay giữa tốc độ tăng trưởng GO và tốc độ tăng trưởng GDP

Trang 19

Nguồn: Tính toán từ Niên gián thống kê Việt Nam 2006

Tiêu chí thứ hai, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người phản ánh sự so sánh giữa hai yếu tố tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng dân số Tính hiệu quả của tăng trưởng thể hiện sự vượt trội của sự gia tăng GDP so với tăng trưởng dân số để làm cho tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người có xu hướng ngày một tăng lên Một thực tế hiện nay cho thấy, các nước phát triển vừa có thu nhập cao, lại là những nước có mật độ dân số thấp và tốc độ tăng dân số tự nhiện hàng năm thường dưới 1% (Nhật Bản:0,14%; Hoa Kỳ:0,63%) trong khi đó các nước đang phát triển, thì ngược lại, mật độ dân số đông, lại có tốc dộ tăng dân số rất cao, nhiều nước trên 2%/năm Vì vậy, để thực hiện được mục tiêu rượt đuổi các nước phát triển, các nước đang phát triển, cùng với chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phải nghiêm khắc thực hiện chiến lược ổn định dân số thông qua chương trình kế hoạch hoá sinh đẻ, kiểm soát tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên

Chỉ tiêu thứ ba và bốn thể hiện sự so sánh cụ thể kết quả thu nhập nhận được với các yếu tố nguồn lực bỏ ra là lao động (đo bằng năng suất lao động) và vốn (đo bằng suất đầu tư tăng trưởng) Năng suất lao động xã hội tính bằng GDP theo giá thực tế chia cho tổng số lao động đang làm việc, phản ánh hiệu quả của tăng trưởng ở góc độ

Trang 20

sử dụng lao dộng sống Khi năng suất lao động thấp và tăng chậm, thì chẳng những tác động không tốt đến tăng trưởng GDP, mà còn chứng tỏ giá trị thặng dư tạo ra thấp, ảnh hưởng đến tích luỹ, tái đầu tư để mở rộng cũng như nâng cao mức sống Hiện nay, năng suất lao động của các nước đang phát triển còn rất thấp so với các nước phát triển (xem bảng số liệu dưới)

So sánh Năng suất lao động nông nghiệp của một số nước khối APEC

(thời kỳ 2002-05)

Tên nước NSLĐ(USD/LĐ) So sánh với nước thấp nhất

(lần) Hoa Kỳ 36.863 125

Nguồn: WB, báo cáo phát triển thế giới, 2007

Qua bảng cho thấy, lĩnh vực nông nghiệp là thế mạnh của các nươc đang phát triển, nhưng năng suất lao động thấp hơn các nước phát triển rất lớn (xấp xỉ 100 lần) Năng suất lao động ở các nước đang phát triển rất thấp, một mặt là do chất lượng lao động, trình độ công nghệ kỹ thật thấp; mặt khác còn do ở đây tình trạng thất nghiệp, bao gồm cả hữu hình và trá hình rất cao Vì vậy, cả hai yêu cầu, vừa nâng cao chất lượng lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động, vừa phải quan tâm đến các chương trình giải quyết việc làm cho người lao động đều là mục tiêu phấn đấu của các nước đang phát triển trong quá trình nâng cao hiệu qủa và chất lượng tăng trưởng kinh tế

Hiệu quả của sử dụng vốn phản ánh tổng hợp nhất thông qua chỉ tiêu suất đầu tư

tăng trưởng thể hiện bằng hệ số giữa tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so với tốc độ tăng trưởng GDP (Hệ số ICOR) Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ phí phí về vốn cho tăng trưởng cao, hiệu quả sử dụng vốn thấp Tuy vậy, khi dùng chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cần phải xem xét kỹ lưỡng mối quan hệ của nó với trình độ công nghệ kỹ thuật của nền kinh tế Xu hướng chung của quá trình phát triển là các

Trang 21

nước sẽ áp dụng công nghệ hiện đại, đòi hỏi vốn cao hơn, sản phẩm sản xuất ra được cấu thành bởi vốn ngày càng nhiều hơn cấu thành bởi lao động, vì vậy suất đầu tư tăng trưởng tăng lên là một xu hướng đúng Do đó dùng chỉ tiêu suất đầu tư tăng trưởng để đánh giá và so sánh hiệu quả đầu tư giữa các giai đoạn hay giữa các nước với nhau, cần phải xem xét đến sự đồng nhất về trình độ công nghệ đầu tư Suất đầu

tư tăng trưởng của Nhật bản khoảng 9; Mỹ là 8,1; của các nước phát triển khoảng 7,3; trong khi đó các con số này của các nước đang phát triển chỉ là 3,5; của Trung Quốc

là 4; của Việt Nam khoảng 5 (nguồn: IMF, 2005), điều đó không có nghĩa là hiệu quả

sử dụng vốn của các nước phát triển thấp hơn so với các nước đang phát triển, mà là Nhật bản, Mỹ hay các nước phát triển thường đầu tư vào công nghệ đòi hỏi nhiều vốn hơn ở các nước đang phát triển Một số nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam được đánh giá là suất đầu tư tăng trưởng cao hơn so với mức độ đáng có của nó do hiệu quả sử dụng vốn thấp, đầu tư quá dàn trải và còn nhiều hiện tương tiêu cực trong

sử dụng vốn đầu tư Chúng ta có thể thấy điều đó qua số liệu sau đây:

Suất đầu tư tăng trưởng của VN và các nước thời kỳ tăng trưởng nhanh.

Thời kỳ tăng trưởng nhanh

Tỷ lệ đầu tư (%GDP)

Tỷ lệ tăng trưởng (%)

SĐTTT

2006

37,7 40%

7,5 8,17

5,0 5,01

so với Nhật Bản và các nước NIC ở nhiều thập niên trước

Trang 22

Phân tích và đánh giá cấu trúc đầu vào của tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế xét về phương diện nguồn gốc, tức là xem xét các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế có thể chia thành hai loại là tăng trưởng theo chiều rộng

và tăng trưởng theo chiều sâu Tăng trưởng theo chiều rộng, tức là tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn (K), tăng số lượng lao động (L) và tăng cường khai thác tài nguyên (R) Tăng trưởng theo chiều sâu là tăng trưởng do năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tức là nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp(TFP) TFP

là một yếu tố tổng hợp phản ánh tác động của yếu tố khoa học công nghệ, vốn nhân lực, các khía cạnh thể chế, cơ chế tác động đến khả năng tiếp nhận, nghiên cứu và vận hành khoa học công nghệ và vốn nhân lực vào hoạt động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế Theo xu hướng chung của quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng, cần phải xét đến vai trò của yếu tố TFP Đánh giá vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh

tế dựa vào: (i) Tỷ trọng đóng góp của yếu tố này trong kết quả tăng trưởng; (ii) Các điều kiện cần thiết cho vận hành yếu tố công nghệ mới vào hoạt động kinh tế như: trình độ công nghệ trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, quy mô đầu tư vốn cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, sự phát triển hoạt động giáo dục đào tạo và kết quả là sự gia tăng quy mô của nguồn vốn nhân lực, thể chế chính sách phù hợp để tạo

ra các nhân tố cần thiết cho quá trình tích tụ công nghệ; năng lực cạnh tranh công nghệ của nền kinh tế nói riêng và năng lực cạnh tranh tăng trưởng nói chung Các nước phát triển, các yếu tố chiều rộng đã được khai thác ở mức tối đa, thậm chí nhiều yếu tố có xu hướng giảm dần và trở nên ngày một khan hiếm như lao động, tài nguyên thiên nhiên, trong khi đó các yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu khá phát triển như trình độ nguồn nhân lực, trình độ khoa học công nghệ, thì thường thực hiện lựa chọn mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng chiếm tỷ trọng cao Đối với các nước đang phát triển, nơi mà các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng vẫn còn khá rối rào, nhất là số lượng lao động đông đảo, giá công nhân rẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên đang nằm trong quá trình khám phá, trong khi

đó chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ còn thấp thì cần thiết phải coi trọng các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng, số điểm phần trăm tăng trưởng

ở các nước đang phát triển thường được tạo nên chủ yếu bởi vốn và lao động Tuy vậy, xét theo xu thế phát triển, các nước đang phát triển cần phải có chiến lược chuyển dần sang tăng trưởng theo chiều sâu, đây vừa là yếu tố bảo đảm hiệu quả của tăng trưởng, vừa duy trì khả năng tăng trưởng trong dài hạn Những số liệu thực

Trang 23

chứng của một số nước thuộc khối Đông Nam Á dưới đây cho thấy: nhìn chung, các nước có mức thu nhập thấp thì tỷ trọng công nghệ trình độ thấp sưửdụng trong hoạt động kinh tế càng cao

So sánh trình độ công nghệ của một số nước Đông nam Á (năm 2005)

VN : Việt Nam; PHI : Philipines; THA : Thái Lan; IND : Indonesia; MAL : Malaysia; SIN : Singapore, ( nguồn: IPS, kế hoạch tổng thể bảo vệ môi trường ngành công nghiệp)

Trình độ công nghệ thấp kém của các nước đang phát triển còn thể hiện rõ hơn khi

so sánh với các nước công nghiệp phát triển về tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá mang tính công nghệ cao Trong khi tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu có trình độ công nghệ cao của Mỹ, Hàn quốc từ 36-38%; Nhật Bản là 28-29%, thì con số này của Việt Nam chỉ là 4,47%; Thái Lan là 11%( số liệu 2003, nguồn: cơ sở dữ liệu của UNCTAD) Chính vì thế mà đóng góp của yếu tố công nghệ vào tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển còn thấp hơn nhiều so với các nước phát triển (xem số liệu bảng dưới)

Nguồn tăng trưởng ở Châu Âu và Nhật Bản thời kỳ 1950 - 73 và ở Đông Á 1960-94 (% một năm)

Vốn Lao động Năng suất tổng

Trang 24

Việt Nam cũng là một trong những ví dụ cho các nước đang phát triển, mặc dù tốc

độ tăng trưởng khá cao nhưng cấu trúc đầu vào của tăng trưởng GDP còn nhiều vấn

đề phải xem xét khi phân tích về chất lượng tăng trưởng (xem bảng dưới)

Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng GDP Việt Nam (%)

Thời kỳ Đóng góp của các yếu tố 1993-1997 1998 - 2002 2003 - nay

1 Đóng góp theo điểm phần trăm

(%)

- Vốn

- Lao động

8,86,11.41,3

6,23,561,241,4

7,844,361,41,97

Trang 25

10055,7319,0725,2

Nguồn: CIEM và Thời báo kinh tế Việt Nam

Những bất cập trong cấu trúc đầu vào của tăng trưởng ở Việt nam trong thời gian qua thể hiện ở: (i) sự đóng góp hạn chế của yếu tố TFP, sự đóng góp này chỉ tương đương với các nước Đông Nam Á vào thập niên 90 của thế kỷ trước (khoảng 20%), trong khi các nước này hiện nay đã tạo nên những bước đột phá chiến lược phát triển công nghệ, sự đóng góp của TFP vào tăng trưởng đã chiếm khoảng trên 50%; (ii) bất cập thứ hai thể hiện ngay trong các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng Việt nam có lợi thế về lao động hơn là lợi thế vốn, trong khi đó, đóng góp của vốn vào tăng trưởng gấp 3,5 lần so với đóng góp của yếu tố lao động Tăng trưởng GDP của Việt nam thời gian qua bị chi phối bởi vốn và lên xuống là do sự biến động về quy mô vốn trong các thời kỳ, trong khi vốn hiện nay đang được đánh giá là sử dụng kém hiệu quả ở Việt Nam

Phân tích và đánh giá cấu trúc tăng trưởng theo ngành.

Kết quả của tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự đóng góp của các ngành kinh tế Nếu xem xét nền kinh tế theo 3 khu vực: Nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp – xây dựng, dịch vụ, thì quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP của từng ngành chính là biểu hiện mặt lượng của tăng trưởng đối với ngành đó Tuy vậy, phân tích sự tương quan trong tốc độ tăng trưởng giữa các ngành với nhau, mức độ và xu thế đóng góp của từng ngành vào tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế và tác động của nó đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế lại chính là xem xét mặt chất lượng tăng trưởng Mức độ đóng góp, vị trí của mỗi nhóm ngành trong cấu trúc tăng trưởng chung của nền kinh tế có phản ánh đúng thế mạnh của từng ngành hay không, có tạo nên được sự liên kết chặt chẽ và động lực tăng trưởng cho các ngành khác hay không

và động thái thay đổi có theo đúng xu thế của quá trình phát triển hay không và nó tạo nên diện mạo chung của tăng trưởng như thế nào chính là những điều kiện để bảo đảm tính hiệu quả của các chỉ tiêu tăng trưởng và khả năng duy trì lâu dài nó trong

Trang 26

quá trình tăng trưởng chung của toàn nền knh tế Theo gogíc trên, phân tích và đánh giá chất lượng tăng trưởng theo khía cạnh cấu trúc tăng trưởng theo ngành cần dựa vào các dấu hiệu sau đây:

(i) Tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng đóng góp của mỗi ngành trong kết quả tăng trưởng Xu hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng được thể hiện tỷ trọng sự đóng

góp ngày càng cao của các ngành có lợi thế nguồn lực, đặc biệt là của hai ngành công nghiệp và dịch vụ trong kết quả tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng và tỷ trọng đóng góp của mỗi ngành vào tăng trưởng chung theo đúng xu thế này chính là tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hợp lý trong quá trình phát triển kinh tế

(ii) Tính chất hoạt động và xu thế chuyển dịch cơ cấu sản phẩm của từng ngành, đặc biệt là hai khu vực công nghiệp và dịch vụ Điều này liên quan đến tính hiệu quả và

bền vững trong tăng trưởng của từng ngành, và về phía mình, nó tác động lan tỏa đến tính hiệu quả và bền vững trong tăng trưởng của toàn nền kinh tế Xu thế nâng cao chất lượng tăng trưởng được xem xét dưới các khía cạnh :Đối với ngành công nghiệp,

đó là mức độ đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến sản phẩm có dung lượng vốn và công nghệ cao; tỷ trọng đóng góp của nhóm ngành sản phẩm có giá trị gia tăng lớn trong tăng trưởng của ngành và của toàn nền kinh tế Đối với ngành dịch vụ là: tính chất đa dạng hóa hoạt động dịch vụ,

xu thế đóng góp và quy mô tăng trưởng của các ngành dịch vụ chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch chất lượng cao, cho thuê văn phòng v.v

Xem xét các số liệu thực chứng, chúng ta có thể thấy các nước phát triển, xuất phát từ những lợi thế về vốn và công nghệ, các ngành công nghiệp và dịch vụ thường chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong cơ cấu ngành kinh tế Trong công nghiệp, các sản phẩm công nghiệp chế biến là những mũi đột phá chủ yếu trong tăng trưởng chung, trong đó ngành và sản phẩm chế biến công nghệ cao đóng vai trò quan trọng Trong khi đó các nước đang phát triển, xét theo góc độ này, tình trạng có phần thiếu tích cực hơn (xem bảng dưới)

Một số chỉ tiêu phản ánh vai trò của công nghiệp và dịch vụ trong tăng trưởng

(năm 2005)

Các nền kinh tế % CN&DU/GDP %XK SPCB/XK %XK CNCAO/XKCB

Trang 27

91 91 96 100 90 819078

816451

9382928476737553

20204

243233595516306

Nguồn: WB: Báo cáo phát triển thế giới, 2007

Sự đóng góp tích cực của ngành công nghiệp và dịch vụ, nhất là các ngành có công nghệ cao trong thu nhập chung và trong thu nhập từ xuất khẩu của các nền kinh

tế có thu nhập cao đã làm tăng tính hiệu quả của tăng trưởng rất cao, và theo thời gian, tính hiệu quả ấy ngày càng cao hơn Các nước có thu nhập thấp, vai trò của ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp dựa trên công nghệ cao đóng góp vào tăng trưởng chung chưa lớn, nhưng theo xu thế hợp lý, tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng lên, dẫn đến vị trí của các ngành này trong tăng trưởng chung ngày càng lớn hơn và điều đó có nghĩa là hiệu quả của tăng trưởng kinh tế đất nước ngày càng cao hơn và đúng theo xu thế phát triển

Trang 28

Đóng góp của các ngành vào điểm phần trăm tăng trưởng GDP của Việt Nam

Nguồn: Niên giám thống kê VN các năm

Các số liệu về tăng trưởng và sự đóng góp của ngành công nghiệp và dịch vụ vào tăng trưởng chung của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian từ 2001-2006 thể hiện qua hình trên đã minh hoạ cho xu thế nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển đứng trên góc độ cấu trúc tăng trưởng theo ngành Tuy vậy so với các nước trên thế giới và khu vực thì nó còn hết sức khiêm tốn Để nâng cao tính hiệu quả của tăng trưởng và bảo đảm đúng xu thế của quá trình phát triển, thì cần phải cải thiện rất nhiều sự đóng góp của các ngành công nghiệp và dịch vụ, những ngành

có công nghệ cao vào tăng trưởng kinh tế

Phân tích và đánh giá cấu trúc tăng trưởng theo đầu ra

Xét về phương diện đầu ra, có ba yếu tố : tích lũy - đầu tư, tiêu dùng cuối cùng (trong đó bao gồm tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng chính phủ) và xuất khẩu ròng (X-M) Sự gia tăng trong tổng chi tiêu của nền kinh tế tạo nên quy mô và tốc độ tăng

Trang 29

trưởng GDP theo góc độ chi tiêu và đó là khía cạnh số lượng của tăng trưởng Chất lượng tăng trưởng đứng trên góc độ chi tiêu (đầu ra), thực chất là xem xét cấu trúc bên trong và xu thế biến đổi vị trí của các yếu tố cấu thành tổng thu nhập của nền kinh tế trên góc độ chi tiêu Những câu hỏi mô tả tính hiệu quả và và khả năng duy trì mức tiêu dùng trong tương lai của nền kinh tế thường là: mức độ và cơ cấu chi tiêu có hợp lý so với trình độ phát triển hiện tại của quốc gia hay không? có phù hợp nhu cầu của từng giai đoạn trong quá trình phát triển hay không? cấu trúc chi tiêu có bảo đảm cho sự tăng trưởng tích cực hơn cho tương lai hay không? Như vậy, việc phân tích chất lượng tăng trưởng khai thác theo khía cạnh đầu ra thể hiện trên các khia cạnh:

(i) Xem xét tốc độ tăng trưởng, cơ cấu chi tiêu và tỷ trọng đóng góp của từng yếu

tố đầu ra trong kết quả tăng trưởng Một xu hướng chung phản ánh tính hiệu quả là

kết quả của quá trình tăng trưởng phải dẫn đến sự gia tăng ngày càng cao về quy mô

và tốc độ của cả ba yếu tố là đầu tư, tiêu dùng cuối cùng, xuất khẩu thuần Tuy vậy, tuỳ theo từng giai đoạn phát triển khác nhau, cơ cấu chi tiêu hiệu quả không giống nhau Đối với các nền kinh tế phát triển, tăng trưởng kinh tế đi vào thế ổn định (không phải là tăng trưởng nhanh), thì tỷ trọng chi tiêu dùng cuối cùng (cả cá nhân và chính phủ) trong tổng tiêu dùng thường lấn áp so với chi tiêu cho đầu tư Đây là một

xu hướng đúng, nó phản ánh nền kinh tế đang nằm trong giai đoạn “xã hội tiêu dùng” với mức thu nhập rất cao, đời sống ở trình độ cao và nhu cầu chi tiêu của dân cư cũng nhu xã hội lớn, đa dạng, phong phú Trong khi đó, các nước đang phát triển, trong giai đoạn tăng trưởng nhanh, thường phải thể hiện sự “hy sinh” tiêu dùng hiện tại để

có mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai, bằng cánh tăng tỷ lệ chi tiêu cho đầu tư hàng năm Việc gia tăng chi tiêu cho tích luỹ, đầu tư phát triển sẽ giúp cho các nước đang phát triển nâng cao tiềm lực kinh tế, tăng năng lực sản xuất, cơ sở hạ tầng và năng lực xuất khẩu, đó chính là điều kiện để phấn đấu cho mục tiêu giảm thâm hụt xuất khẩu ròng và tăng chi cho tiêu dùng trong tương lai Tuy vậy, quay trở lại mục tiêu dài hạn của các quốc gia là phấn đấu cho một xã hội phát triển cao, ổn định và xét về mặt hiệu quả cuối cùng thì giá trị thu nhập cao tạo nên phải được dành một phần ngày càng chủ yếu cho tiêu dùng Đó cũng là sự phấn đấu của các nước đang phát triển

(ii) Xem xét hiệu quả của đầu tư Cụ thể là: tỷ lệ tích luỹ chiếm trong GDP hàng

năm; tỷ lệ đóng góp của đầu tư đến tăng trưởng; Tuy vậy, một tỷ lệ đóng góp quá cao của đầu tư vào tăng trưởng (ví dụ như trên 40% - theo quan điểm của WB) cũng là

Trang 30

một dấu hiệu không bền vững cho nền kinh tế, nó làm cho nền kinh tế bị “nóng” lên quá mức và kéo theo những hệ quả phụ gây thiệt hại lớn hơn nhiều Vì vậy xét theo góc độ tính bền vững của tăng trưởng, thì chúng ta cần phải không chế một tỷ lệ tích luỹ cho đầu tư vừa phải (dưới 40%GDP), và điều quan trọng là quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua chỉ tiêu so sánh tỷ lệ tích luỹ với tỷ lệ tăng trưởng (suất đầu tư tăng trưởng); cơ cấu sử dụng vốn đầu tư theo nguồn vốn, theo đối tượng

sử dụng vốn; tương quan giữa tốc độ tăng vốn đầu tư và tốc độ tăng tài sản tích luỹ (vốn sản xuất)

(iii) Xem xét tác động của xuất khẩu ròng đến tăng trưởng kinh tế Theo khía cạnh này, Xu thế hiệu quả và bền vững của tăng trưởng thể hiện ở: Thứ nhất, tốc độ tăng

trưởng xuất khẩu, nhất là phần giá trị gia tăng nhận được từ kim ngạch xuất khẩu và động thái thay đổi của cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, đặc biệt là tốc độ thay thế của các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, các mặt hàng chế biến, công nghệ cao cho

các mặt hàng xuất khẩu thô, mặt hàng mang tính gia công như thế nào? Thứ hai, xem

xét thực trạng của xuất khẩu ròng (NX) Thông thường, các nền kinh tế phát triển, có thu nhập cao, xuất khẩu thuần có tác dụng đóng góp tích cực đối với tăng trưởng của nước đó, nó thường nhận giá trị dương Các nước đang phát triển, yếu tố xuất khẩu thuần thường đóng vai trò không tích cực cho tăng trưởng vì nó nhận giá trị âm (giá trị nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu) Tuy vậy, xem xét góc độ hiệu quả thì các nước đang phát triển phải cải thiện vai trò của yếu tố xuất khẩu thuần trong tăng trưởng kinh tế, theo xu hướng giảm dần thâm hụt thương mại quốc tế, phấn đấu cân bằng và tiến tới thặng dư thương mại

Chúng ta có thể theo dõi cấu trúc tăng trưởng theo khía cạnh chi tiêu dựa trên cơ

sở số liệu của WB (bảng dưới), và qua đó nhận xét thấy xu hướng chuyển dịch cơ cấu tăng trưởng theo góc độ chi tiêu trong quá trình phát triển thể hiện trên thực tế như thế nào? :

Cơ cấu chi tiêu của một số nền kinh tế (năm 2005)

Các nền kinh tế % GDP cho tiêu dùng

(cá nhân và chính phủ) % GDP cho đầu tư % GDP cho NX

Trang 31

5971717283

2120

2627

3936313024

00

2-3

2-7-2-2-7

Nguồn: WB, Báo cáo phát triển thế giới, 2007

2.3 Kết luận

Số và chất lượng tăng trưởng là hai mặt của một vấn đề Tuy vậy, trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau và tuỳ theo sự lựa chọn mô hình phát triển mà vị trí của một trong hai mặt này được đặt ra khác nhau Qua những phân tích trên, Có thể đưa

ra những nhận xét mang tính lý luận và thực chứng về sự thay đổi vị trí của yếu tố số

và chất lượng tăng trưởng như sau:

(1) Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, để tạo ra những nét khởi sắc nhanh chóng cho nền kinh tế, hình thành những tiền đề vật chất, động lực cơ bản cho việc giải quyết những tiến bộ xã hội sau này, phần lớn các nước đều có nhấn mạnh nhiều hơn đến mặt số lượng của tăng trưởng kinh tế và nhiệm vụ trước mắt thường đặt ra là làm thế nào cải thiện được các chỉ tiêu phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng

Trang 32

(2) Giai đoạn sau, khi các chỉ tiêu tăng trưởng đã đạt được một mức độ nhất định, thì mới quan tâm đến vấn đề chất lượng của tăng trưởng Vấn đề đặt ra trong giai đoạn này không phải là đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng là bao nhiêu mà là tính hiệu quả và sự bền vững của các chỉ tiêu ấy như thế nào Vị trí ngày càng nâng cao của mặt chất lượng tăng trưởng là hoàn toàn phù hợp với xu thế tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế, cũng như phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững đặt ra cho mỗi quốc gia.

Dựa theo cách phân tích về động thái thay đổi về vị trí của mặt số và chất lượng tăng trưởng như trên, có thể thấy mối quan hệ của hai mặt này cũng có những thay đổi theo từng giai đoạn

(1) Giai đoạn đầu: do quan tâm đến mặt lượng của tăng trưởng nhiều hơn, trong nhiều trường hợp phải bỏ qua yêu cầu của chất lượng tăng trưởng Mặt số lượng và chất lượng tăng trưởng gần như là 2 yếu tố mang tính đánh đổi nhau Nếu quan tâm nhiều đến khía cạnh cái giá phải trả cho sự tăng trưởng và tác động lan toả tích cực nó đến các đối tượng chịu ảnh hưởng, thì nhiều trường hợp mục tiêu đạt được một tốc độ tăng trưởng nào đó lại không thực hiện được

(2) Giai đoạn sau (trong dài hạn): hai yếu tố này lại là hỗ trợ nhau, thúc đẩy nhau và tạo điều kiện cho nhau cùng hoàn thiện Chính việc quan tâm đến các tiêu chí về chất lượng tăng trưởng lại là cơ hội để đạt được mục tiêu về số lượng tăng trưởng đặt ra Ngược lại, về phía mình, mặt lượng của tăng trưởng lại tạo ra những hỗ trợ về vật chất cho việc hướng tới chất lượng tăng trưởng tốt hơn

Việc xác định vị trí và mối quan hệ của hai yếu tố số và chất lượng tăng trưởng theo hai giai đoạn, như phân tích ở trên, mang tính chất tương đối Mức độ khác biệt giữa hai giai đoạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tình trạng phát triển kinh tế xã hội đất nước; quan điểm và các chính sách của Chính phủ trong quá trình lựa chọn con đường đi cho sự phát triển đất nước; Yếu tố quốc tế và khu vực cũng đóng vai trò hết sức quan trọng cho việc giải quyết mối quan hệ của hai yếu tố này Các nước đang phát triển, xuất phát từ lợi thế lịch sử của nước đi sau, có thể khắc phục được những khó khăn trong việc giải quyết mối quan hệ của hai yếu tố số và chất lượng tăng trưởng, dung hoà và giải quyết đồng thời, hợp lý mối quan hệ này ngay từ giai đoạn đầu của quá trình phát triển dựa trên cơ sở sự hỗ trợ của quốc tế trên mọi lĩnh vực Mỗi quốc gia đang phát triển, trong quá trình theo đuổi mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng (mặt số lượng) lại đồng thời muốn nâng cao hiệu quả của quá trình tăng trưởng và duy trì nó trong thời gian dài, cần lưu ý đến một số hướng sau đây:

Trang 33

Một là, tăng cường quá trình sử dụng ngày càng hợp lý và khai thác triệt để các yếu

tố nguồn lực để tạo sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu đời sống kinh tế và xã hội Tăng trưởng sẽ trở nên có hiệu quả cao hơn khi tỷ trọng đóng góp vào quá trình này là những yếu tố nguồn lực có lợi thế nhất của đất nước Tính hiệu quả của tăng trưởng sẽ trở nên bền vững hơn khi có sự chuyển đổi hợp lý, từ việc sử dụng chủ yếu các yếu tố nguồn lực vật chất, thể hiện tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, quyết định bởi cơ chế sử dụng các yếu tố phi vật chất là công nghệ và vốn nhân lực

Hai là, với khả năng nguồn lực giới hạn, các chỉ tiêu nằm trong tiêu chí đánh giá

chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện Trong số các tiêu chí đưa ra ở trên, đặc biệt nhấn mạnh các tiêu chí phản ánh tác động lan tỏa của tăng trưởng kinh tế đến các đối tượng chịu ảnh hưởng, kể cả kinh tế, văn hóa và xã hội Việc nâng cao dần các tiêu chí về kinh tế, xã hội vừa là kết quả của tăng trưởng kinh tế, những đồng thời

nó chính là môi trường hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng nhanh hơn

II Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1 Khái niệm và ý nghĩa

1.1 Khái niệm

Cơ cấu ngành kinh tế: là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể Cách tiếp cận này đã phản ánh bản chất của cơ cấu ngành kinh tế, thể hiện trên

các khía cạnh:

Trước hết, đó là tổng thể các nhóm ngành, các ngành kinh tế được hình thành Số

lượng ngành kinh tế không cố định, nó luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã hội Từ đầu thế kỷ 19, nhà kinh tế học Collin Class căn cứ vào tính chất chuyên môn hoá của sản xuất đã chia thành 3 nhóm ngành: Khai thác tài nguyên thiên nhiên (gồm nông nghiệp và khai thác khoáng sản); Công nghiệp chế biến; sản xuất sản phẩm vô hình) Liên hiệp quốc (UN) sau này, căn cứ vào tính chất hoạt động sản xuất đã chuyển hoạt động khai thác khoáng sản sang ngành công nghiệp và gọi sản xuất sản phẩm vô hình là dịch vụ Nguyên tắc phân ngành xuất phát từ tính chất phân công lao động xã hội , biểu hiện cụ thể qua sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch

vụ Các ngành kinh tế được phân thành 3 khu vực hay gọi là 3 ngành gộp: Khu vực I

Trang 34

bao gồm các ngành nông- lâm- ngư nghiệp; Khu vực II là các ngành công nghiệp và xây dựng; Khu vực III gồm các ngành dịch vụ Trong mỗi nhóm ngành lại bao gồm các ngành khác nhau, gọi là các ngành cấp 1

Thứ đến, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện ở mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành với nhau Mối quan hệ này bao gồm cả mặt số và chất lượng Mặt số lượng thể hiện ở

tỷ trọng (tính theo GDP, lao động, vốn v.v ) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh

tế quốc dân, còn khía cạnh chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành

và tính chất của sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau Sự tác động qua lại giữa các ngành có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Tác động trực tiếp bao gồm tác động cùng chiều và ngược chiều, còn mối quan hệ gián tiếp được thể hiện theo các cấp 1, 2,

3 v.v Nói chung mối quan hệ của các ngành cả số và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở nên phức tạp hơn theo sự phát triển của lực lượng sản xuất

và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế

Chuyển dịch cơ cấu ngành

Cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ

cơ cấu ngành Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có

và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn

1.2 Ý nghĩa nghiên cứu

Xét trên khía cạnh các bộ phận cấu thành phát triển kinh tế, thì cơ cấu ngành của nền kinh tế phản ánh mặt chất về mặt kinh tế của quá trình phát triển Dạng cơ cấu

ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, vì nó phản ánh về cơ bản sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất Dấu hiệu thuyết phục nhất để đánh giá và so sánh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia hoặc quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế thường là dạng (trạng thái) cơ cấu ngành kinh tế mà mỗi quốc gia đạt được Trong cuốn “ các giai đoạn phát triển kinh tế” mà chúng ta đã

Trang 35

nhắc đến ở phần đầu chương, Rostow cũng đã tổng kết sự lựa chọn dạng cơ cấu ngành hợp lý, tương ứng với từng giai đoạn phát triển kinh tế

Dạng cơ cấu ngành trong các giai đoạn phát triển

Giai đoạn

phát triển

Kinh tế truyền thống

Chuẩn bị cất cánh

Cất cánh Trưởng

thành

Tiêu dùng cao

dạng cơ cấu

ngành

Nông nghiệp

Nông – công nghiệp

Công – nông nghiệp

- dịch vụ

Công nghiệp - dịch vụ- nông nghiêp

dịch vụ- công nghiệp

Nguồn: tổng hợp từ lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế, Rostow

Trong đó: dạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp hay nông – công nghiệp được đặc trưng bởi tỷ trọng nông nghiệp chiếm từ 40-60%, công nghiệp từ 10-20% và dịch vụ

là 10-30%; dạng cơ cấu công – nông nghiệp - dịch vụ hay công nghiệp – dich vụ - nông nghiệp thường có các tỷ trọng nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ tương ứng là: 15-25%, 25-35%, 40-50%; khi nền kinh tế đạt được dạng cơ cấu dịch vụ - công nghiệp thì tỷ trọng nông nghiệp chỉ còn dưới 10%, công nghiệp 35-40%, dịch vụ từ 50-60%

Chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục, gắn liền với quá trình công nghiệp hoá và được xem là kết quả của quá trình công nghiệp hoá đối với các nước đang phát triển CNH là quá trình phát triển liên tục, tác động liên tục của

công nghiệp vào các hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, với trình độ công nghệ ngày càng hiện đại, nhằm thay đổi toàn diện nền kinh tế xã hội để đưa một nước từ nông nghiệp lạc hậu thành công nghiệp tiên tiến (theo UNIDO) Theo cách hiểu này, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chính là nội dung quan trọng nhất và là mục tiêu chủ yếu của quá trình công nghiệp hoá đối với các nước đang phát triển Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng ngày càng hiệu đại hơn từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công - nông nghiệp rồi đến xã hội tiêu dùng cao (dịch vụ), phát triển kinh tế trí thức cũng chính là nội dung cơ bản, thể hiện mục tiêu về kinh tế của quá trình công nghiệp hoá đất nước Ngược lại, chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế sẽ tạo nên tính chất bền vững, hiệu quả của quá trình tăng trưởng , kết quả đó có tác dụng củng cố thành quả của công nghiệp hoá và tiếp theo là tác dụng đến các mục tiêu khác của công nghiệp hoá như mục tiêu về xã hội, môi trường

Trang 36

Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành với sự phát triển chung của nền kinh

tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về phân bố các

nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất định vào những hoạt động sản xuất riêng Sự chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện tính hiệu quả của của việc phân bố nguồn lực, cho phép mỗi nước sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực có lợi thế của mình để hình thành một cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng hợp lý Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng phát triển thì việc lựa chọn dạng

và chuyển dịch hợp lý cơ cấu ngành thể hiện được các lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia và thực hiện hội nhập thắng lợi, giành được vị trí xứng đáng và có hiệu quả cao trong việc tham gia vào chuỗi dây chuyền giá trị toàn cầu

2 Những cơ sở lý thuyết xác định xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

2.1 Quy luật tiêu dùng của E.Engel

Ngay từ cuối thế kỷ 19, một quy luật tiêu dùng thực nghiệm đã được Ernst Engel (nhà kinh tế học người Đức) đề xướng Quy luật này phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập và phân phối thu nhập cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân đối với hàng hoá lương thực thực phẩm Enghel cho rằng, chi tiêu cho lương thực là một chỉ số tốt phản ánh

về phúc lợi của quốc gia đó, cụ thể là phần chi tiêu cho hàng hoá lương thực càng thấp trong tổng thu nhập tiêu dùng dân cư, là biểu hiện phúc lợi càng cao

Đường Engel (Engel curve) là một đường biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng cá nhân về một loại hàng hoá cụ thể Đường Engel được minh hoạ dưới đây:

Trang 37

Độ dốc của đường này ở bất kỳ điểm nào chính là xu hướng tiêu dùng biên của hàng hoá đó và cho thấy tỷ số thay đổi tiêu dùng so với thay đổi thu nhập, nó phản ánh độ co giãn của tiêu dùng một loại hàng hoá cụ thể đối với thu nhập dân cư (εD/I ) Bằng quan sát thực nghiệm, Engel đã nhận thấy rằng khi thu nhập của các gia đình tăng lên đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi Như vậy, đường Engel thể hiện quy luật tiêu dùng đối với hàng hoá là lương thực thực phẩm có xu hướng dốc lên với độ dốc cao ở đoạn đầu, sau đó độ dốc giảm dần (độ co giãn của cầu hàng hoá theo thu nhập dương) và cuối cùng là có xu hướng

đi xuống khi thu nhập gia đình đạt đến một mức độ nhất định ( độ co giãn âm) Do chức năng chính của khu vực nông nghiệp là sản xuất lương thực thực phẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên đến một mức nhất định

Quy luật Engel được phát hiện cho sự tiêu dùng lương thực thực phẩm nhưng nó

có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu xu hướng tiêu dùng của các hàng hoá khác Các nhà kinh tế gọi các hàng hoá nông sản là hàng hoá thiết yếu, các hàng hoá công nghiệp là hàng hoá lâu bền và cung cấp sản phẩm dịch vụ là hàng hoá cao cấp Qua quá trình nghiên cứu, họ phát hiện ra rằng: trong quá trình gia tăng thu nhập , thì tỷ lệ gia tăng chi tiêu cho hàng hoá lâu bền có xu hướng gia tăng nhưng với mức độ nhỏ hơn mức tăng thu nhập (tức là 0< εD/I< 1), còn tỷ lệ chi tiêu cho hàng hoá dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng, độ dốc của đường Engel đối với hàng hoá này càng ngày càng cao và đến một mức thu nhập nào đó thì εD/I >1 tức là tốc độ tăng tiêu dùng lớn hơn tốc độ tăng thu nhập

2.2 Quy luật về đổi mới kỹ thuật và tăng năng suất lao động của A Fisher

Năm 1935, trong cuốn "Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kỹ thuật", trên cơ sở quan niệm nền kinh tế gồm 3 khu vực: khu vực thứ nhất bao gồm ngành nông, lâm, ngư nghiệp, và khai thác khoáng sản; khu vực thứ 2 bao gồn các ngành công nghiệp chế biến, xây dựng; khu vực thứ 3 là các ngành dịch vụ A Fisher đã phân tích: có hai nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, đó là chuyên môn hoá và sự thay đổi trong trong công nghệ, tiến bộ kỹ thuật Quá trình chuyên môn hoá, mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, hoàn thiện tổ chức, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất lao động Theo xu thế phát triển khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp dễ có khả năng thay thế lao động nhất, việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho nông dân nâng cao được năng suất lao động Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng hàng hoá

Trang 38

nông sản sẽ có xu hướng ngày càng giảm đi theo sự phát triển kinh tế Kết quả là để đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm cần thiết cho xã hội thì không cần đến một lượng lao động như cũ và vì vậy, tỷ lệ lực lượng lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần trong cơ cấu ngành kinh tế Trong khi đó ngành công nghiệp khó có khả năng thay thế lao động hơn nông nghiệp do tính chất phức tạp hơn của việc sử dụng công nghệ kỹ thuật mới, mặt khác độ co giãn của nhu cầu tiêu dùng loại sản phẩm này là đại lượng lớn hơn 0 vì vậy theo sự phát triển kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp có xu hướng tăng lên Quá trình chuyên môn hoá cũng hình thành những ngành chế biến cao hơn, làm cho tỷ trọng các ngành truyền thống giảm đi trong khi

đó thì tỷ trọng các ngành đòi hỏi kỹ thuật mới tăng lên Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao động nhất do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra

nó, rào cản cho sự thay thế công nghệ và kỹ thuật mới rất cao Trong khi đó, độ co giãn của nhu cầu sản phẩm dịch vụ khi nền kinh tế ở trình độ phát triển cao là lớn hơn

1 tức là tốc độ tăng cầu tiêu dùng lớn hơn tốc độ tăng thu nhập Xã hội càng bước sang những giai đoạn phát triển cao, nhu cầu tiêu dùng các hàng hoá dịch vụ, nhất là dịch vụ cao cấp trở nên phong phú, đa dạng và quy mô lớn Vì vậy, tỷ trọng ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng và tăng càng nhanh khi nền kinh tế càng phát triển Những kết luận của A Fisher đã gợi ra những nội dung khá rõ nét khi nghiên cứu về

xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình phát triển

3 Các xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Từ những cơ sở lý thuyết nêu trên có thể rút ra một xu hướng có tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đó là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Muốn chuyển một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế dựa trên cơ sở tiêu dùng cao, cần phải trải qua các bước: chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công- nông nghiệp, để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp - dịch vụ, và cuối cùng là xã hội tiêu dùng cao với cơ cấu dịch vụ - công nghiệp Các xu hướng cụ thể được thể hiện như sau:

3.1 Trong quá trình phát triển, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm đi, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên Tỷ trọng ngành dịch vụ ngày càng lấn áp trong cơ cấu kinh tế do tốc độ tăng của ngành dịch vụ có xu hướng ngày càng nhanh hơn tốc

độ tăng của công nghiệp.

Đây là xu hướng rõ nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu của các nước đang

phát triển A.Fisher cho rằng tỷ lệ nông nghiệp có thể giảm từ 80% đối với các nước chậm phát triển nhất xuống 11-12% ở các nước công nghiệp phát triển và trong

Trang 39

những điều kiện đặc biệt có thể xuống tới 5%, thậm chí 2% Cùng với quá trình giảm

tỷ trọng nông nghiệp trong thu nhập thì thu nhập của công nghiệp ngày càng chiếm

ưu thế trong cơ cấu kinh tế, và nền kinh tế càng phát triển thì ngành dịch vụ ngày càng tỏ ra giữ vị trí chi phối trong sự đóng góp vào tổng thu nhập nền kinh tế Chúng

ta có thể theo dõi điều này qua bảng số liệu sau:

Cơ cấu ngành kinh tế theo mức độ thu nhập nă m 2005(%)

Các mức thu nhập Nông nghiệp công nghiệp Dich vụ

Nguồn: WB, báo cáo phát triển, 2007

Bảng trên đã phản ánh rõ xu thế thứ nhất của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình phát triển, các nền kinh tế có mức thu nhập thấp, sự chi phối của nông nghiệp trong tổng thu nhập quốc gia khá cao Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh

tế của các nước có mức thu nhập trung bình (kể cả trung bình cao và trung bình thấp) rất cao, thể hiện quá trình các nước này chạy theo chiến lược tăng tốc để tạo ra sự khởi sắc nhanh cho nền kinh tế, để chuẩm bị tư thế cho một xã hội tiêu dùng cao Các nền kinh tế thu nhập cao, với cơ cấu dịch vụ - công nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp rất nhỏ, nhiều nước thấp hơn con số 2% như: Mỹ, Anh, Nhật Bản, Đức (chỉ còn 1%) Nhiều nước đang phát triển, nhất là các nước đã thành công trong chiến lược đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và đạt đươc những thành tựu vững chắc trong phát triển kinh tế, điển hình là các nước Đông Nam Á, kể cả Trung quốc, Việt Nam (trong những năm gần đây) là do chính phủ đã thực hiện các chính sách nhằm hướng nền kinh tế chuyển dịch theo xu hướng này (xem sơ đồ dưới)

Cơ cấu ngành kinh tế của Trung Quốc và một số nước Asean

Trang 40

Nguồn: Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế – xã hội của VN2006-2010 và sổ tay KH 2007 (Bộ KH&ĐT) (1) Số liệu của các nước là của năm 2003

Ghi chú : CHN = Trung Quốc; PHI = Philipines; IND = Indonesia; MAL = Malaysia; THA = Thái Lan; KOR = Hàn Quốc; SIN = Singapore; VN05 = Việt Nam (2005); VN06 = Việt Nam (dự báo 2006)

Hàn Quốc bắt đầu thời kỳ hậu chiến (sau năm 1950) với một nguồn lực nông nghiệp hạn chế, một lực lượng lao động dồi dào nhưng thiếu kỹ năng và với mức thu nhập đầu người rất thấp Ngay từ những năm 1960, chính phủ Hàn Quốc đã rất thành công trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu với với chính sách chú trọng vào các ngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động và theo hướng xuất khẩu Từ chiến lược tăng trưởng cao (thập niên 60,70 của thế kỷ trước) đến chiến lược tăng trưởng vững chắc (bắt đầu tư 1980), chính phủ Hàn Quốc đã có chính sách phù hợp để cơ cấu ngành công nghiệp, cơ cấu xuất khẩu hàng hoá theo hướng hiện đại và ngày càng có hiệu quả Hàn quốc đã trở thành một lực lượng mới quan trọng của nền kinh tế thế giới và là một trong những nước công nghiệp hoá mới vào cuối thập kỷ 80 Cùng với Singapore, cơ cấu ngành của Hàn Quốc đã đạt được trình độ của các quốc gia phát triển Malaysia dành độc lập vào năm 1957, đi lên bằng một nền kinh tế chỉ có hai ngành chiếm ưu thế là thiếc và cao su Chính phủ nước này đã: một mặt, có chính sách thúc đẩy và nâng chất các lọai sản phẩm truyền thống này để trở thành nước

Ngày đăng: 27/04/2015, 12:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh GDI và GEM của một số nước năm 2001 - Lý luận về phát triển và phát triển bền vững
Bảng so sánh GDI và GEM của một số nước năm 2001 (Trang 58)
Hình này là, trong quá trình phát triển, mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với   mục tiêu công bằng xã hội - Lý luận về phát triển và phát triển bền vững
Hình n ày là, trong quá trình phát triển, mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với mục tiêu công bằng xã hội (Trang 85)
Sơ đồ phân phối thu nhập theo chức năng và thu nhập cá nhân (hộ gia đình) - Lý luận về phát triển và phát triển bền vững
Sơ đồ ph ân phối thu nhập theo chức năng và thu nhập cá nhân (hộ gia đình) (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w