1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX - lớp 10 THPT (Ban Cơ bản)

72 863 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc ghi nhớ và hiểu biết các kiến thức về địa danh trong giai đoạn lịch sử này không chỉ giúp học sinh nắm được sựkiện mà còn giải thích được vai trò, ý nghĩa của yếu tố điều kiện tự nh

Trang 1

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã xác định mục

tiêu giáo dục và đào tạo nhằm “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội” [26; 81] Cùng với các môn học ở trường phổ

thông, bộ môn Lịch sử có ưu thế lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ theo quanđiểm và đường lối của Đảng thời kì hội nhập

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã coi lịch sử như là một thứ vũ khísắc bén để giáo dục và tuyên truyền cách mạng cho đồng bào Khi trở về nước đểtrực tiếp lãnh đạo cách mạng (1941), Người căn dặn:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Trong nhà trường phổ thông hiện nay, Lịch sử cùng với nhiều môn họckhác góp phần bồi dưỡng thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng CNXH Đại tướng

Võ Nguyên Giáp từng nhấn mạnh: “Môn Lịch sử giữ vai trò quan trọng bậc

nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước, giá trị truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người, giữ gìn bản sức dân tộc” [24].

Như vậy, bộ môn Lịch sử có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng Nó cungcấp cho chúng ta những hiểu biết, những kiến thức cơ bản về lịch sử phát triểncủa xã hội loài người nói chung và lịch sử dân tộc ta nói riêng từ nguồn gốc cho

tới ngày nay Song, “Lịch sử đâu có phải là một chuỗi sự kiện để người viết sử

ghi lại, rồi người giảng sử đọc lại, người học sử lại học thuộc lòng” [7;195] Cơ

sở của việc hình thành tri thức lịch sử cho học sinh là cung cấp sự kiện Để nắmvững một sự kiện lịch sử, học sinh không chỉ ghi nhớ thời gian diễn ra sự kiện,hiểu được tính chất, diễn biễn chính, kết quả, ý nghĩa, nhân vật gắn liền với sựkiện, mà còn phải nắm vững kiến thức về không gian diễn ra sự kiện đó Bởi vì,bất cứ một sự kiện lịch sử nào xảy ra cũng đều gắn liền với một không gian - địađiểm nhất định, không gian đó suy rộng ra chính là địa danh lịch sử Không nắm

vững được thời gian, không gian diễn ra sự kiện, học sinh dễ mắc bệnh “hiện

Trang 2

đại hóa lịch sử” Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần có biện pháp hướng

dẫn học sinh hình thành biểu tượng về không gian diễn ra sự kiện, qua đó giúpcác em có hứng thú trong học tập và phát triển năng lực tư duy

Để nâng cao chất lượng bài học lịch sử, tạo được hứng thú cho học sinh,mỗi giáo viên bên cạnh việc khai thác những kiến thức cơ bản trong sách giáokhoa còn phải tìm hiểu, tham khảo thêm kiến thức từ bên ngoài liên quan đến bàihọc Một trong số đó chính là nguồn tư liệu về địa danh lịch sử - không gian liênquan đến mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử Nguồn tư liệu này không chỉ làm nổibật nội dung của bài, mà còn tạo biểu tượng cho học sinh, làm cơ sở cho việchiểu sâu, nhớ lâu kiến thức

Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX, lớp 10 THPT (ban

cơ bản) có một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển chung của lịch sử dântộc Mỗi sự kiện lịch sử diễn ra trong giai đoạn này đều gắn liền với những địadanh cụ thể, chúng cần phải được khai thác và hướng dẫn học sinh ghi nhớ, như:sông Như Nguyệt, sông Bạch Đằng, Lam Sơn, Chi Lăng - Xương Giang, RạchGầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi - Đống Đa Việc ghi nhớ và hiểu biết các kiến thức

về địa danh trong giai đoạn lịch sử này không chỉ giúp học sinh nắm được sựkiện mà còn giải thích được vai trò, ý nghĩa của yếu tố điều kiện tự nhiên tácđộng đến tính chất và ảnh hưởng của mỗi sự kiện Khi học sinh hiểu được vị trí,vai trò của từng địa danh liên quan đến sự kiện, chúng ta sẽ giáo dục tư tưởng,tình cảm, đạo đức và định hướng cho các em có ý thức giữ gìn, xây dựng và bảo

vệ quê hương, đất nước, bảo vệ những di tích lịch sử

Xuất phát từ cơ sở và thực tiễn nêu trên, tôi chọn vấn đề “Hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX - lớp 10 THPT (Ban Cơ bản)” làm đề tài nghiên cứu

khoa học và thực nghiệm triển khai trong năm học 2013 - 2014

2 Lịch sử vấn đề

Địa danh là một trong những yếu tố cấu thành sự kiện lịch sử, nên vấn đề

sử dụng kiến thức về địa danh để tạo biểu tượng cho học sinh trong dạy học nói

Trang 3

chung, dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông nói riêng đã được nhiều nhànghiên cứu và giáo dục lịch sử đề cập đến.

Đai-ri (nhà giáo dục Liên Xô trước đây) trong cuốn Chuẩn bị giờ học lịch

sử như thế nào? khẳng định: Muốn chuẩn bị một giờ học tốt, giáo viên phải chú

ý trước hết đến tính cụ thể, tính hình ảnh và chất lượng của sự kiện “Tính cụ

thể, tính hình ảnh là những sự kiện có giá trị lớn lao, chúng cho phép hình dung lại quá khứ chỉ bằng những chi tiết cụ thể, đễ nhìn mới giúp hình thành ở học sinh niềm tin vững chắc” [6; 26].

Cuốn “Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam” đề cập đến một số

quan niệm về địa danh, về không gian, địa lý tự nhiên và xã hội [2] Đây làmột nguồn tư liệu tham khảo về địa danh rất bổ ích cho giáo viên và sinh viêndạy, học lịch sử

Đặc biệt, giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” Tập 1 và 2 của GS.TS Phan Ngọc Liên (Chủ biên) nêu rõ sự cần thiết phải “cụ thể hóa địa

điểm” diễn ra sự kiện bằng cách tạo biểu tượng về không gian trên cơ sở sách

giáo khoa và loại tài liệu tham khảo, kết hợp đồ dùng trực quan [18; 151]

Cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở

trường phổ thông” nhấn mạnh đến việc trình bày hình ảnh để tái diễn lại bức

tranh quá khứ lịch sử, giúp học sinh có những biểu tượng chân thực, chính xác,

cụ thể về lịch sử, như học sinh đang được tham gia, chứng kiến sự kiện lịch sử,

là một trong những biện pháp nâng cao hiệu quả của bài học lịch sử ở trường phổthông [5]

Năm 2005, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản cuốn “Hướng dẫn sử dụng

kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THCS” (2 tập) của PGS TS Trịnh

Đình Tùng (Chủ biên phần Lịch sử thế giới) và PGS TS Nguyễn Thị Côi (Chủbiên phần Lịch sử Việt Nam) đã nêu lên cụ thể nội dung và phương pháp khi sửdụng hệ thống kênh hình trong dạy học lịch sử Việt Nam và thế giới [4], [20] Ngoài ra, rất nhiều bài viết của các tác giả tâm huyết trên các tạp chíNghiên cứu lịch sử, Tạp chí Giáo dục, Tạp chí Thiết bị giáo dục,… cũng làmphong phú thêm tư liệu cho đề tài [8], [11],…

Trang 4

Tuy nhiên, tất cả những tài liệu trên mới chỉ nói đến một khía cạnh sửdụng kiến thức địa danh trong một giai đoạn lịch sử nhất định Việc hướng dẫnhọc sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh trong dạy học lịch sử Việt Nam từnguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứunào đề cập đến một cách cụ thể Song, những tất cả những nguồn tài liệu nêu

trên là những gợi mở quý báu cho tôi khi đi sâu giải quyết đề tài này.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hướng dẫn học sinh lớp

10 (Ban Cơ bản) ghi nhớ biểu tượng về địa danh trong dạy học lịch sử ở trườngTHPT Trần Hưng Đạo Trong đó, lớp 10B1 là lớp thực nghiệm, lớp 10A2, 10A5

và 10A6 là các lớp đối chứng

3.2 Đề tài không có tham vọng đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu toàn bộphần kiến thức lịch sử địa danh lớp 10 THPT, mà do điều kiện và thời gian cóhạn, chúng tôi chỉ đi tìm hiểu những kiến thức về địa danh có liên quan đến việcdạy - học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX - lớp 10 THPT(Ban Cơ bản) Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất các biện pháp hướng dẫn học sinhghi nhớ biểu tượng về các địa danh khi dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn này

Thời gian triển khai thực nghiệm đề tài được tiến hành trong năm học

2013 - 2014

4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

4.1 Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu và việckhai thác nguồn kiến thức về địa danh liên quan đến dạy học lịch sử dân tộc từnguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX, đề tài đề xuất các biện pháp hướng dẫn học sinhghi nhớ biểu tượng về địa danh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn này

4.2 Thực hiện mục đích nêu trên, đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề về lí luận và thực tiễn của việc sử dụng kiếnthức về địa danh trong dạy học lịch sử

- Tiến hành điều tra thực tiễn việc khai thác và sử dụng kiến thức về địadanh trong dạy học lịch sử dân tộc

Trang 5

- Nghiên cứu nội dung, chương trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đếngiữa thế kỉ XIX ở lớp 10 THPT, qua đó xác định các địa danh cần khai thác đểhướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng khi dạy học lịch sử giai đoạn này.

- Đề xuất các biện pháp hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địadanh khi dạy học lịch sử giai đoạn này

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩaMac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhànước ta về công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Ngoài ra, đề tài còn dựa trên cơ

sở lí luận về phương pháp dạy học bộ môn, Giáo dục học, Tâm lí học,… có liênquan đến đề tài

5.2 Đề tài có tham khảo một số tác phẩm của các tác giả kinh điển, củaChủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta viết về nhiệm vụ giáo dục lịch

sử và đào tạo thế hệ trẻ; tìm hiểu một số công trình của các nhà khoa học giáodục, các nhà giáo dục lịch sử viết về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan vàcác vấn đề lý luận khác có liên quan

6 Ý nghĩa của đề tài

6.1 Đề tài tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc khai thác và sửdụng kiến thức về địa danh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

6.2 Đề tài góp phần nâng cao trình độ lý luận dạy học nói chung, dạy họclịch sử nói riêng cho bản thân về phương pháp khai thác, sử dụng kiến thức địadanh trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông sau này

7 Cấu trúc của đề tài

Đề tài ngoài phần Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến, Hiệu quả do sángkiến đem lại, Đề xuất kiến nghị, Tài liệu tham khảo là phần Các giải pháp với 2chương nội dung:

Chương 1 - Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh ghinhớ biểu tượng về địa danh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương 2 - Hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy họclịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX - lớp 10 THPT (Ban Cơ bản)

Trang 6

II CÁC GIẢI PHÁP

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

HƯỚNG DẪN HỌC SINH GHI NHỚ BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA DANH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông

Luật Giáo dục được nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X

thông qua ngày 2/12/1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2005) nêu rõ: “Mục tiêu của

giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

[12; 28] Giống như các môn học khác, bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông cũnggóp phần thực hiện mục tiêu đó

Ở cấp THPT, mục tiêu của bộ môn Lịch sử được xác định là: Dạy học lịch

sử ở trường phổ thông nhằm giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, cần thiết

về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, làm cơ sở cho việc hình thành thế giới quankhoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần dân tộc, tạo cho họcsinh năng lực tư duy, thái độ đúng đắn trong đời sống xã hội, hình thành ý thứccông dân

Để thực hiện được mục tiêu giáo dục nêu trên, bộ môn Lịch sử có nhiệm

vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, trên cơ sở đó, giáo dục tưtưởng, chính trị, phẩm chất, đạo đức và bồi dưỡng khả năng nhận thức, tư duycho học sinh Trong hệ thống kiến thức cơ bản của bộ môn Lịch sử ở trường phổthông, kiến thức về địa danh là một bộ phận quan trọng của mỗi sự kiện lịch sử,bởi vì “không có sự kiện lịch sử nào xảy ra trong xã hội loài người lại không gắnliền với một địa danh cụ thể”

Trang 7

1.1.2 Khái niệm về địa danh và địa danh lịch sử

Để biết được địa danh lịch sử, phải hiểu “Thế nào là địa danh?”.

Theo “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông” thì “địa danh là tên gọi của

một địa phương, một quốc gia, một châu lục Địa danh thường phản ánh quá trình hình thành các yếu tố địa lý, xã hội, lịch sử của một vùng lãnh thổ”

[ngonngu.net] Như vậy mỗi một vùng, địa danh đều có tên gọi riêng khác nhau.Địa danh bao gồm: Địa danh lịch sử, địa danh địa lý, địa danh văn hóa

Địa danh có rất nhiều, nhưng không phải địa danh nào cũng trở thành địadanh lịch sử Chỉ có những vùng đất gắn với các sự kiện, biến cố trong lịch sửnhân loại, dân tộc và địa phương, thì tên gọi của vùng đất đó mới trở thành địadanh lịch sử Ví dụ, sự kiện năm 1010, vua Lí Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư vềThăng Long; năm 1077, dưới sự lãnh đạo của Lý Thường Kiệt, quân dân ta đánhtan quân xâm lược Tống trên bờ sông Như Nguyệt…

Như vậy, chúng ta có thể hiểu “địa danh lịch sử là tên gọi của những vùng

đất, những địa phương đã từng diễn ra sự kiện, hiện tượng và biến cố trong lịch

sử nhân loại, dân tộc và lịch sử địa phương” Ví như, địa danh sông Như Nguyệt

gắn liền với cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý năm 1077; địa danh sông BạchĐằng gắn liền với ba cuộc kháng chiến: chống quân Nam Hán của Ngô Quyềnnăm 938, chống quân Tống thời Tiền Lê năm 981 và chống quân Nguyên Môngthời Trần năm 1288…

1.1.3 Đặc trưng của kiến thức lịch sử

Khác với kiến thức của các khoa học khác, kiến thức lịch sử có những đặc

điểm riêng: Tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính

thống nhất giữa “sử” và “luận”.

Lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài người từ lúc con người và xãhội hình thành đến nay Tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử được con người

nhắc đến đều đã xảy ra, nó mang tính quá khứ, tính không lặp lại Đây là điểm

khác biệt giữa hiện tượng lịch sử và hiện tượng tự nhiên Chúng ta không thểnhận thức được lịch sử bằng cách trực tiếp mà phải gián tiếp qua các nguồn tưliệu lịch sử còn sót lại như tư liệu văn học dân gian, tư liệu hiện vật và tư liệu

Trang 8

thành văn Ví như, cuộc kháng chiến chống quân Thanh nổ ra vào cuối thế kỷXVIII, cách đây hơn 200 năm, nên chúng ta chỉ có thể giúp học sinh tiếp cậnthông qua nguồn sử liệu, chứ không thể trực tiếp quan sát sự kiện ấy,…Và không

có một cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nào trong lịch sử Việt Nam sau nàygiống hệt cuộc kháng chiến ấy

Bất kỳ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cũng đều gắn với thời

gian, không gian, nhân vật… Do đó mà lịch sử mang tính cụ thể Giáo viên

trình bày càng phong phú các yếu tố này bao nhiêu, sẽ càng làm tăng tính sinhđộng và hấp dẫn đối với học sinh bấy nhiêu,…

Các đặc điểm trên của kiến thức lịch sử có mối liên hệ nội tại thống nhất.

Chỉ có dựa vào nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử đúng đắn để nghiên cứu các tư liệulịch sử phong phú, cụ thể, mới rút ra được kết luận, mới có tri thức khoa học lịch

sử Trên cơ sở đó, người giáo viên mới có thể dựng lại bức tranh quá khứ lịch sửvới đầy đủ màu sắc trong trí tưởng tượng của học sinh Điều này cũng tươngđồng với việc trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần mở rộng thêm nhữngnguồn kiến thức bên ngoài có liên quan tới bài học, để làm nổi bật kiến thứctrong sách giáo khoa như: sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng câu chuyện lịchsử… trong đó không thể không nói tới việc sử dụng kiến thức về địa danh

1.1.4 Đặc điểm nhận thức và tâm lý của học sinh trong học tập lịch sử.

* Đặc điểm nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử

Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn Lịch sử mà việc nhận thức của họcsinh trong việc học tập lịch sử cũng có nhiều điểm khác biệt Nhưng trước hếtchúng ta cần khẳng định rằng, nhận thức của học sinh cũng giống như nhận thứcchung của xã hội loài người, đó là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào bộ

óc của con người, là quá trình nhận thức diễn ra theo quy luật chung “từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng…” Tuy nhiên, nếu như quá trình nhậnthức của loài người diễn ra theo con đường “mò mẫm”, tức là khám phá nhữngcái chưa biết, đi vào thế giới khách quan một cách độc lập, phát hiện và chứngminh những cái mà loài người chưa hề biết đến trong tự nhiên, xã hội và tư duy

Trang 9

để tìm ra những chân lý mới, quy luật mới, bổ sung vào kho tàng tri thức nhânloại, thì nhận thức của học sinh qua môn lịch sử không phải như vậy Đó khôngphải là việc tìm ra cái mới, cái chưa biết mà các em phải tái tạo lại những tri thứclịch sử đã được thừa nhận, những tri thức tinh giản nhưng khoa học, tạo cơ sở đểkhôi phục bức tranh quá khứ

Nhận thức lịch sử của học sinh đi từ cơ sở ban đầu là nắm vững các sựkiện lịch sử Nhưng do đặc trưng của môn lịch sử là không lặp lại, không thínghiệm được, học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện hiện tượng lịch sửđược Cho nên, nhận thức lịch sử không thể bắt đầu từ cảm giác mà rất phức tạp.Quá trình học tập lịch sử của học sinh bao giờ cũng đi từ quá khứ đến hiện tại, từ

“xa đến gần” nhưng nhận thức của các em lại đi từ “gần đến xa”, chính vì thếhọc sinh dễ rơi vào tình trạng “hiện đại hoá” lịch sử Để khắc phục tình trạngnày, giáo viên cần tạo cho học sinh một biểu tượng chân thực về quá khứ thôngqua việc sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học và thao tác sư phạm.Quá trình hình thành kiến thức lịch sử là quá trình học sinh đi từ không đến có,chưa biết đến biết, biết không đầy đủ đến nắm bắt sâu sắc các sự kiện, hiệntượng Trên cơ sở các sự kiện, học sinh trải qua quá trình tạo biểu tượng và giaiđoạn tiếp theo là hình thành khái niệm Muốn có khái niệm thật sâu sắc lâu dài,cần dựa trên cơ sở biểu tượng phong phú, chính xác, sinh động Bởi vì, không cóbiểu tượng sẽ không có khái niệm hoặc khái niệm nếu được xây dựng trên nhữngbiểu tượng nghèo nàn cũng là khái niệm rỗng, không có nội dung phong phú,làm cơ sở cho nhận thức quá khứ thì phương pháp trực quan là phương pháp khảthi và tối ưu nhất bên cạnh sử dụng các phương pháp dạy học khác

* Đặc điểm tâm lý học sinh trong học tập lịch sử

Ở học sinh THPT, các em đã có sự thay đổi rất lớn về tâm lý Đây là lứatuổi từ 16 đến 18, là tuổi thanh niên mới lớn, tính chủ động đã phát triển rấtmạnh, các em có biến đổi rất sâu sắc cả về chất và lượng Đặc biệt, hoạt động tưduy của học sinh có sự thay đổi rất quan trọng, các em đã có khả năng tư duy lýluận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo Lúc này, các em đã tích luỹđược khá nhiều quan niệm thực tế về thế giới khách quan, khá nhiều sự kiện và

Trang 10

khái niệm lịch sử Nếu ở cấp THCS, các em nhận thức kiến thức luôn luôn mangtính cụ thể, các em nhận thức cảm tính nhiều hơn lý tính, và đồ dùng trực quan ởcấp THCS chủ yếu giúp cho học sinh dễ nắm được các sự kiện, hiện tượng,…một cách cụ thể, thì ở cấp THPT, các em đã biết phân tích nội dung cơ bản củakhái niệm trừu tượng, nắm được mối quan hệ nhân quả trong mỗi sự kiện, hiệntượng, hoạt động nhận thức của các em đòi hỏi tính năng động và độc lập cao.Chính vì thế đồ dùng trực quan, nhất là hệ thống kênh hình (tranh, ảnh, bản đồ,

sơ đồ,…) có tác dụng rất lớn trong quá trình học tập lịch sử của học sinh THPT

Nói tóm lại, việc cung cấp sự kiện là cơ sở để hình thành khái niệm lịch

sử cho học sinh Không có sự kiện thì việc học tập lịch sử của các em sẽ trở nên

mơ hồ Giáo viên cung cấp sự kiện cho học sinh càng sinh động, cụ thể baonhiêu thì các em càng có biểu tượng về lịch sử bấy nhiêu Và một trong số cácbiện pháp giúp tăng cường hoạt động tư duy, tính tích cực, chủ động sáng tạocủa học sinh trong học tập lịch sử chính là sử dụng kiến thức về địa danh Bởi vì,không một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào học sinh được học ở trường phổ thônglại không gắn liền với không gian, địa danh nhất định Ghi nhớ được không gianlịch sử, học sinh cũng sẽ ghi nhớ được nhân vật lịch sử gắn liền với địa danh lịch

sử ấy, qua đó hiểu sâu sắc về tri thức lịch sử

1.1.5 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT

Bản chất của đổi mới phương pháp dạy học là chuyển từ cách dạy học lấy

“giáo viên làm trung tâm” sang dạy học lấy “học sinh làm trung tâm” Cách dạyhọc lấy “học sinh làm trung tâm” có nghĩa học sinh là nhân vật trung tâm củaquá trình dạy học Trong quá trình học tập, học sinh phải biết phát huy các nănglực, phẩm chất nhận thức để chiếm lĩnh kiến thức, còn giáo viên là người có vaitrò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh

Để thực hiện được quá trình này, học sinh cần phải tích cực, tự giác, sángtạo trong nhận thức Điều này đồng nghĩa với việc đổi mới phương pháp dạy họctheo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Vậy tính tích cực của học sinhtrong học tập lịch sử là gì? Nó được biểu hiện như thế nào?

Trang 11

Theo PGS.TS Trịnh Đình Tùng trong cuốn “Một số chuyên đề phương

pháp dạy học lịch sử” [14; 12]: “Học tập của học sinh là một quá trình nhận

thức, song đó là quá trình nhận thức đặc thù - một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên” Vì vậy, nói

đến tính tích cực học tập thực chất là nói đến tính tích cực của sự nhận thức Nó

là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong hoạtđộng học tập Từ đó, chúng ta có thể hiểu tính tích cực nhận thức là trạng hoạtđộng nhận thức của học sinh thể hiện trong khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ vànghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Có thể nhận biết tính tích cựchọc tập của học sinh ở những mặt sau:

Thứ nhất, học sinh tập trung chú ý theo dõi vấn đề đang học, khao khát, tự

nguyện tham gia trả lời những câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời củabạn, tích cực phát biểu ý kiến về vấn đề mà giáo viên và các bạn đặt ra

Thứ hai, học sinh đào sâu suy nghĩ hay nêu thắc mắc, đòi hỏi được giải

thích cặn kẽ những vấn đề mà giáo viên trình bày chưa đủ rõ

Thứ ba, học sinh chủ động vận dụng những kiến thức đã học, vốn hiểu

biết của bản thân để nhận thức những vấn đề mới

Thứ tư, học sinh hào hứng, say mê tiếp thu những bài giảng của thầy, cố

gắng hoàn thành những bài tập được giao,…

Ngoài biểu hiện trên, trong quá trình dạy học, giáo viên có thể nhận biếttính tích cực của học sinh qua ánh mắt, cử chỉ, nét mặt khi theo dõi bài giảng

Như vậy, định hướng đổi mới hiện nay là phải đổi mới đồng bộ cả hệthống giáo dục, nội dung chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học

1.1.6 Vai trò, ý nghĩa của việc hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng

về địa danh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

* Vai trò

Trong dạy học lịch sử, giáo viên không thể cung cấp cho học sinh mọikiến thức của khoa học lịch sử mà chỉ có thể giúp các em nắm được kiến thức cơbản Bởi vì kiến thức lịch sử là vô cùng, vô tận

Trang 12

Kiến thức cơ bản được hiểu là những kiến thức cần thiết nhất, tối ưu nhấtcho việc hiểu biết của học sinh về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc Kiến thức

cơ bản trong dạy học lịch sử bao gồm rất nhiều yếu tố: sự kiện, thời gian, khônggian, nhân vật, biểu tượng, khái niệm, quy luật, bài học, nguyên lý học tập vàvận dụng kiến thức vào thực tiễn… Trong các loại kiến thức, địa danh là một

bộ phận quan trọng, không thể thiếu đối với việc hiểu biết lịch sử của học sinh

Trong con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh, cung cấp sựkiện là khâu mở đầu và đặt cơ sở cho việc hình thành kiến thức lịch sử, hìnhthành thế giới quan khoa học Mà đặc điểm của kiến thức lịch sử lại mang tính

cụ thể, tức là sự kiện xảy ra bao giờ cũng gắn liền với thời gian, không gian,nhân vật - sự kiện Thiếu một trong ba yếu tố này thì không có sự kiện lịch sử vàchúng ta cũng không thể nhận thức được nó, hay phân biệt sự khác nhau giữacác sự kiện với nhau Như vậy, địa danh là một trong ba yếu tố cơ bản hìnhthành nên sự kiện lịch sử Nguồn kiến thức phong phú về địa danh sẽ đảm bảotính cụ thể, hệ thống, toàn diện của sự kiện, góp phần tạo biểu tượng, hình thànhkhái niệm lịch sử cho học sinh

Xuất phát từ tâm lý của học sinh THPT, từ yêu cầu của cấp học, môn học

và mục tiêu giáo dục, đào tạo đề ra, ngoài việc cung cấp cho học sinh kiến thức

về thời gian, nhân vật… thì việc cung cấp những kiến thức về địa lý là điều vôcùng quan trọng và cần thiết Nó góp phần tăng tính hình ảnh, sinh động và cụthể trong dạy học lịch sử, tạo cho học sinh những xúc cảm, góp phần nâng caohiệu quả của bài học lịch sử

Ví như, khi dạy học về chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyềnlãnh đạo, giáo viên kết hợp sử dụng kiến thức về địa danh để miêu tả địa thếsông Bạch Đằng, thông qua đó học sinh thấy được nghệ thuật quân sự độc đáo,

sự sáng tạo của Ngô Quyền; nghị lực, quyết tâm và lòng quả cảm của quân dân

ta Hoặc, khi sử dụng những kiến thức về địa danh để mô tả kinh đô của nước ÂuLạc là Cổ Loa, một công trình kiến trúc thống nhất, một căn cứ quân sự mangtính phòng vệ vững chắc, phối hợp bộ binh với thuỷ binh Qua đó, học sinh thấyđược trí tuệ tài giỏi và sự cố gắng của con người thời đó Các em sẽ có thái độ

Trang 13

khâm phục, ngưỡng mộ, tự hào về sự sáng tạo vô bờ bến của con người ViệtNam qua các thời đại.

* Ý nghĩa

Việc sử dụng kiến thức về địa danh trong dạy học nói chung, dạy học lịch

sử ở trường THPT nói riêng có ý nghĩa quan trọng trên cả ba mặt: bồi dưỡngkiến thức, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh

Thứ nhất, về bồi dưỡng kiến thức cho học sinh Việc sử dụng kiến thức về

địa danh trong dạy học lịch sử giúp học sinh cụ thể hoá địa điểm xảy ra sự kiệnlịch sử, khiến cho bức tranh về quá khứ hiện ra một cách rõ nét nhất Thông quabài giảng của giáo viên, cùng với các thao tác, nghiệp vụ sư phạm sẽ giúp các emnhư đang tham gia, chứng kiến sự kiện lịch sử Ghi nhớ được kiến thức về địadanh, học sinh cũng có được biểu tượng chân thực về thời gian và nhân vật liênquan đến sự kiện lịch sử ấy Các em sẽ không nhầm lẫn giữa địa danh này vói

địa danh khác, tránh được bệnh “hiện đại hoá” lịch sử.

Tạo được biểu tượng cho học sinh chính là nền tảng cho việc hình thànhkhái niệm lịch sử Trên cơ sở những biểu tượng về sự kiện được hình thành (vềkhông gian, thời gian, nhân vật, công trình văn hóa vật chất…), các em sẽ đi sâuvào khám phá bản chất của sự kiện, tìm ra những cái riêng, cái chung để phânbiệt sự kiện này với sự kiện khác Đồng thời, kiến thức về địa danh lịch sử cũnggiúp các em hiểu được tầm quan trọng của các địa danh trong tiến trình lịch sửdân tộc

Ví dụ, ở mục 2, bài 14, “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” (Lịch sử lớp 10 - Ban Cơ bản), sách giáo khoa có kênh hình “Khu di tích thánh

địa Mĩ Sơn (Quảng Nam)” Giáo viên có thể ra bài tập để học sinh tìm hiểu trước

về khu di tích thánh địa Mĩ Sơn Khi dạy học nội dung này, giáo viên yêu cầuhọc sinh (theo nhóm hoặc cá nhân) trình bày ngắn gọn những hiểu biết của mình.Sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát kênh hình đồng thời sử dụng kiếnthức về địa danh Mĩ Sơn để cụ thể hoá địa danh sự kiện, giúp học sinh hiểu

được: “Thánh địa Mĩ Sơn thuộc xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng

Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 69 km Đây là tổ hợp bao gồm nhiều đền

Trang 14

đài Champa, trong một thung lũng có đường kính khoảng 2 km, bao quanh bởi núi đồi, có độ cao từ 120 đến 350 m, tách biệt hẳn với vùng dân cư ở cách đó khá xa” Qua đó, học sinh sẽ có biểu tượng cụ thể về địa danh này, các em hiểu

rằng tại sao người Chăm chọn đây là nơi tổ chức cúng tế của các vương triều vàcũng là nơi để lăng mộ của các vị vua Chăm hay hoàng thân quốc thích

Như vậy, với nguồn kiến thức phong phú về địa danh, học sinh sẽ đượckhắc sâu kiến thức cơ bản, hiểu sâu sắc sự kiện Do đó, các em không chỉ nhớchính xác sự kiện mà còn có khả năng phân tích, đánh giá đúng đắn sự kiện

Thứ hai, về giáo dục Việc sử dụng kiến thức về địa danh trong dạy học

lịch sử sẽ góp phần giáo dục lòng yêu nước cho học sinh Các địa danh chính lànơi chứng kiến những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, gắn liền với nhiềutấm gương chiến đấu, gương hy sinh anh dũng và tên tuổi của các vị anh hùngdân tộc…, nó phản ánh truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất của dân tộc

Bên cạnh đó, sử dụng kiến thức về địa danh liên quan đến sự kiện lịch sử

sẽ giáo dục cho học sinh lòng kính yêu, khâm phục và biết ơn các anh hùng dântộc, các chiến sĩ yêu nước cách mạng…, những người có công với đất nước.Những địa danh liên quan đến các tấm gương hy sinh anh dũng trong các cuộckháng chiến của dân tộc luôn nhắc nhở học sinh rằng các em được học tập vàsống trong hoà bình, ấm no như ngày hôm nay chính là nhờ sự hy sinh to lớn ấy

Thứ ba, về phát triển Trên cơ sở bồi dưỡng kiến thức và giáo dục học

sinh thông qua các địa danh lịch sử, học sinh được rèn luyện về kĩ năng quan sát,năng lực tư duy, năng lực nhận thức và kĩ năng thực hành bộ môn Trong quátrình dạy học lịch sử, giáo viên không chỉ làm nổi bật kiến thức cơ bản, mà còn

mở rộng thêm thông qua các nguồn tư liệu, đồng thời sử dụng các câu hỏi gợi

mở để học sinh phân tích, đánh giá, hiểu sâu sắc sự kiện Đồng thời, nguồn kiếnthức về địa danh sẽ rất có ích cho học sinh khi các em làm việc với bản đồ, lược

đồ (làm các bài tập thực hành như: vẽ bản đồ, lược đồ của một cuộc khởi nghĩanào đó),… Nhờ vậy, các em không chỉ phát triển óc quan sát mà còn cả khảnăng tư duy và kĩ năng thực hành bộ môn

Trang 15

Ví dụ, khi dạy mục II.2, bài 16 “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh

giành độc lập dân tộc” (Lịch sử lớp 10 - Ban Cơ bản), giáo viên hướng dẫn học

sinh khai thác nội dung kiến thức lịch sử trên lược đồ về địa bàn diễn ra các cuộckhởi nghĩa lớn giành độc lập thời Bắc thuộc, từ đó tìm hiểu diễn biến chính, kếtquả và ý nghĩa… Thông qua hoạt động khai thác nội dung kiến thức lịch sử trênlược đồ, các em không chỉ hình thành kiến thức khoa học, có tư tưởng, tình cảmđúng đắn mà còn phát triển khả năng quan sát, rèn luyện tư duy, rèn kĩ năng diễnđạt ngôn ngữ và học tập bộ môn nói chung

Tóm lại, việc khai thác và sử dụng kiến thức về địa danh trong dạy họclịch sử ở trường THPT thường xuyên, có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vàohình thành tri thức khoa học lịch sử, giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ và pháttriển toàn diện học sinh trong học tập bộ môn

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng kiến thức về địa danh trong dạy -

học lịch sử ở trường THPT (thực trạng qua điều tra cơ bản)

Thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay,cùng với việc đổi mới sách giáo khoa thì việc đổi mới phương pháp dạy học củathầy và trò cũng trở thành một yêu cầu cấp thiết

Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử là sửdụng hợp lí các nguồn tư liệu tham khảo để tạo hứng thú học tập cho học sinh.Trong đó, nguồn kiến thức về địa danh lịch sử là vô cùng quan trọng, giúp họcsinh tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện, giúp các em nhớ một cáchchính xác về sự kiện, hiện tượng lịch sử Đồng thời, học sinh tránh được sựnhầm lẫn giữa không gian sự kiện này với không gian sự kiện khác

Qua kết quả điều tra tình hình dạy và học lịch sử, trong đó có việc sử dụngkiến thức về địa danh của giáo viên và học sinh ở trường THPT Trần Hưng Đạo,chúng tôi thu được kết quả như sau:

1.2.1 Mặt tích cực

Về phía giáo viên, đội ngũ giáo viên lịch sử ngày càng được nâng cao vềtrình độ chuyên môn cũng như phương pháp giảng dạy Rất nhiều giáo viên tâmhuyết với bộ môn, đã có sự chuẩn bị rất chu đáo cho bài dạy

Về sử dụng kiến thức địa danh trong dạy học lịch sử, qua phiếu thăm dò ý

Trang 16

kiến của 5 giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT Trần HưngĐạo cho thấy: 80% ý kiến giáo viên được hỏi cho rằng rất quan trọng; 80%khẳng định sự cần thiết phải cung cấp cho học sinh những kiến thức về địa danhliên quan đến bài học lịch sử; 100% ý kiến cho rằng để sử dụng kiến thức địadanh trong dạy học lịch sử có hiệu quả, giáo viên phải kết hợp hài hòa nhiều biệnpháp khác nhau như sử dụng đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo, sử dụng câuhỏi,… trong đó hướng dẫn học sinh tạo biểu tượng về địa danh bằng đồ dùngtrực quan là hiệu quả nhất

Như vậy, số liệu trên cho chúng ta thấy, đa số giáo viên nhận thức đúng

về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức về địa danh trong dạy học lịch sử

Về phía học sinh, không thể phủ nhận rằng có rất nhiều học sinh yêu thíchmôn Lịch sử và có ý thức trong việc học tập bộ môn này Những kết quả của các

kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm đã cho chúng ta thấy số em đạt điểm từ15/20 điểm trở lên khá nhiều

Qua cuộc điều tra thực tế bằng phiếu thăm dò ý kiến 510 học sinh khối 10trường THPT Trần Hưng Đạo kết quả như sau: hơn 90% học sinh mong muốngiáo viên liên hệ kiến thức về địa danh liên quan đến bài học lịch sử; 85% chorằng việc giáo viên sử dụng kiến thức địa danh trong dạy học lịch sử sẽ giúp các

em học tập tích cực hơn; hơn 90% ý kiến học sinh cho rằng để các em ghi nhớlâu các địa danh lịch sử, không bị nhầm lẫn giữa địa danh này với địa danh khácthì giáo viên cần sử dụng lược đồ lịch sử,

đây là “môn phụ”, “thuộc lòng” nên còn thiếu tích cực trong giảng dạy và chưa

có sự đầu tư thích đáng Họ cho rằng môn Lịch sử không có khả năng phát triển

tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh nên không cần phải đổi mới phương pháp,không cần phải tổ chức các hình thức dạy học phát huy tính tích cực, độc lập,

Trang 17

sáng tạo của học sinh.

Ngoài ra, một số giáo viên giảng dạy Lịch sử lâu năm nhưng lại khôngthường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn, tham khảo các nguồn tư liệu, trong

đó có nguồn kiến thức về địa danh lịch sử đã bị nhầm lẫn giữa địa danh lịch sửnày với địa danh lịch sử khác Sự thiếu hiểu biết, chậm cập nhật thông tin về sựthay đổi đơn vị hành chính và các địa danh lịch sử có liên quan đến bài học củamột bộ phận giáo viên đã làm cho bài học lịch sử kém hấp dẫn, học sinh không

có hứng thú học tập, không yêu thích bộ môn

Đối với học sinh, một thực tế hiện nay cho thấy, đa số học sinh cho rằng lịch sử là “môn phụ” chỉ cần học thuộc lòng nên có tâm lý coi thường, ít quan tâm đến bộ môn này Tư tưởng “thi gì học nấy” đã tác động không nhỏ đến việc học tập lịch sử của các em Khi tiến hành điều tra tình hình học tập lịch sử của hơn 510 học sinh khối 10 ở trường THPT Trần Hưng Đạo chúng tôi thu được kết quả sau:

Sau khi giáo viên kiểm tra một bài trắc nghiệm về kiến thức địa danh lịch

sử đã được học trong chương trình lớp 10 (Ban cơ bản) cho thấy có 65% các em ghinhớ tên các địa danh lịch sử, nhưng có đến 35% trong số đó nhầm lẫn giữa các sựkiện xảy ra ở cùng một địa danh lịch sử, hoặc nhầm lẫn địa danh lịch sử với nhânvật lịch sử tương ứng Ví như, đa số học sinh không phân biệt được chiến thắngBạch Đằng của Ngô Quyền (938), với chiến thắng Bạch Đằng của Lê Hoàn (981),với chiến thắng Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo (1288)

Kết quả trên phản ánh một thực trạng đáng buồn của học sinh trong họctập lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

Để có thêm cơ sở khẳng định, tôi đã thực hiện khảo sát đối chứng ở cáclớp khác nhau Với cách dạy truyền thống, qua bài kiểm tra 15 phút, tôi thu được

Trang 18

kết quả như sau:

Điểm kiểm tra 45 phút trước khi thực hiện đề tài

giỏi (%)

Điểm TB(%)

Điểm yếu,kém (%)

1.3 Một số yêu cầu cơ bản khi hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng

về địa danh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Thứ nhất, việc hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh trong dạy học lịch sử phải đảm bảo tính cơ bản, tiêu biểu

Để nâng cao chất lượng bài học, việc lựa chọn các kiến thức cơ bản củamột bài học lịch sử để truyền tải cho học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức

là rất cần thiết Những kiến thức cơ bản của một bài học lịch sử bao gồm: sựkiện, hiện tượng, địa danh, nhân vật lịch sử… Trong đó, mỗi sự kiện, hiện tượngđều gắn với một hay vài địa danh nhất định Việc cung cấp những kiến thức vềđịa danh góp phần rất lớn trong việc giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản nhanh

và chắc Tuy nhiên, giáo viên không thể cung cấp toàn bộ kiến thức về địa danh

đó mà phải chọn những kiến thức tiêu biểu làm rõ nét về địa danh

Ví dụ, trong mục II.2 bài 16 “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành

độc lập dân tộc” (Lịch sử lớp 10 - Ban Cơ bản), khởi nghĩa Hai Bà Trưng diễn ra

trên địa bàn rộng với nhiều có rất nhiều địa điểm: Hát Môn, Mê Linh, Cổ Loa,Luy Lâu, Lãng Bạc, Hạ Lôi, Cấm Khê, Cửu Chân Khi dạy học, giáo viên nênchọn lọc các địa danh gắn với những sự kiện cơ bản: khởi nghĩa bùng nổ, lên tới

Trang 19

đỉnh cao và bị dập tắt như: Hát Môn, Mê Linh, Cấm Khê

Việc lựa chọn địa danh với những kiến thức lịch sử cơ bản sẽ giúp họcsinh vừa nắm được sự kiện cơ bản của bài, giáo viên chủ động được thời gian,hiệu quả của bài học được nâng cao

Thứ hai, hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh lịch sử phải đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Lịch sử là một ngành khoa học nên mang tính chính xác và tính khoa họccao Tính chính xác và tính khoa học được thể hiện ở sự chính xác về thời gian,địa điểm và nhân vật lịch sử Do vậy, nội dung giảng dạy phải đảm bảo tínhchính xác, khoa học, tức là lựa chọn các sự kiện lịch sử và các địa danh cơ bản,chính xác

Trong quá trình giảng dạy, nếu bài học có sự kiện lịch sử liên quan đếnnhững địa danh cơ bản, quan trọng, giáo viên cần cập nhật thông tin khoa họcthường xuyên, để có những kiến thức về địa danh ngày càng phong phú, khoahọc hơn Bởi vì, qua năm tháng, tên địa danh lịch sử có trước đây có thể bị thayđổi, đổi tên, hoặc sáp nhập vào tỉnh khác

Ví như, khi dạy mục II bài 19 “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm

ở các thế kỉ X – XV”, giáo viên cần cho học sinh hiểu rằng những địa danh diễn

ra các chiến thắng lớn của vua tôi nhà Trần với quân xâm lược Nguyên - Môngtrước đây đến nay đã có sự thay đổi: Đông Bộ Đầu nay thuộc Ba Đình (Hà Nội);Hàm Tử, Chương Dương nay thuộc, Thường Tín (Hà Nội); Vạn Kiếp nay thuộcChí Linh (Hải Dương)

Thứ ba, chú ý đến mối quan hệ giữa hiện tại với quá khứ và không được

“hiện đại hóa” địa danh trong quá trình dạy - học lịch sử

Mỗi một sự kiện, hiện tượng lịch sử cụ thể luôn gắn liền với thời gian, địađiểm và nhân vật lịch sử nhất định Nhưng thời gian trôi qua cũng sẽ làm cho địadanh thay đổi tên gọi hoặc biến mất, có thể không tìm lại được nữa Nên khigiảng dạy, đòi hỏi giáo viên phải cho học sinh thấy rõ được sự thay đổi địa danh

đó Ví như, khi giảng dạy mục 1 bài 21 “Những biến đổi của nhà nước phong

kiến trong các thế kỉ XVI - XVIII”, giáo viên cần giúp học sinh nắm được nét

Trang 20

chính về thành nhà Mạc (còn gọi là thành Quốc công) Thành nhà Mạc triệt đểlợi dụng địa hình tự nhiên như hai sườn núi để tạo nên tuyến phòng thủ kiên cố.Hiện nay thành nhà Mạc còn có một số di tích ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên

Quang Kênh hình “Di tích thành nhà Mạc (Lạng Sơn)” trong sách giáo khoa

là một phần di tích ở chân núi Tô Thị - Vọng Phu, gần thành phố Lạng Sơnngày nay

Cùng với việc chú ý đến mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại thì khi

giảng dạy, giáo viên cũng giúp học sinh tránh được căn bệnh “hiện đại hóa” lịch

sử Tức là phải đặt các địa danh đó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể

Thứ tư, đảm bảo mối liên hệ thống nhất giữa các yếu tố cấu thành nên sự kiện lịch sử: thời gian - không gian - nhân vật, sự kiện lịch sử

Như đã khẳng định ở trên, mỗi một sự kiện lịch sử cũng bao gồm ba yếu tố:thời gian, không gian, nhân vật - sự kiện lịch sử Thiếu một trong ba yếu tố này thìkhông còn là sự kiện lịch sử nữa và chúng ta sẽ không được nhận thức được mộtcách đúng đắn, khoa học Địa danh nếu tách khỏi các yếu tố thời gian và conngười thì sẽ không là địa danh lịch sử mà chỉ là địa danh địa lý thông thường Ví

dụ, đất Lam Sơn nếu tách khỏi nhân vật Lê Lợi và thời gian năm 1418 thì nó chỉ là

một địa danh địa lý bình thường trên bản đồ hành chính Việt Nam mà thôi

Như vậy, kiến thức về địa danh lịch sử không chỉ dừng lại ở những kiếnthức địa lý thông thường, mà còn gắn liền với thời gian, nhân vật lịch sử,…

Thứ năm, đảm bảo tính tính hình ảnh và trực quan sinh động.

Lịch sử là một khoa học, nó mang tính cụ thể Địa danh lịch sử cũng mangtính cụ thể, bởi mỗi một sự kiện lịch sử xảy ra đều là sản phẩm của một hoàn

cảnh lịch sử nhất định Chẳng hạn, nói đến Lam Sơn là nói đến cuộc khởi nghĩa

Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo Hay nói đến Ngọc Hồi - Đống Đa là chúng ta nhớ

đến sự kiện vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789.

Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học chính là đảmbảo tính cụ thể, tính hình ảnh và tính trực quan sinh động Lịch sử là những gì đãtrải qua và không lặp lại Do vậy, việc tái hiện lại bức tranh quá khứ lịch sử đúngnhư nó tồn tại là điều hết sức quan trọng Tính cụ thể, sinh động, giàu hình ảnh

Trang 21

của kiến thức sẽ làm cho học sinh như đang tham gia, chứng kiến sự kiện lịch sử

ấy Lịch sử là rất cụ thể, và việc dạy học lịch sử không thể chung chung, sáorỗng mà phải cho học sinh thấy được tính sinh động, giàu hình ảnh của nó Sửdụng kiến thức về địa danh trong dạy học lịch sử kết hợp với nhiều biện pháp,phương pháp dạy học khác nhau như sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụngphương pháp miêu tả, tường thuật và phương pháp trình bày miệng thật sinhđộng sẽ giúp học sinh có biểu tượng lịch sử rõ ràng Hướng dẫn học sinh tạobiểu tượng về kiến thức địa danh có hình ảnh, sinh động kèm theo còn khơi dậycác em những cảm xúc lịch sử (căm ghét, buồn vui, giận hờn…) là cơ sở để hìnhthành nhân cách đúng đắn cho các em, để học sinh thấy yêu thích và say mê với

bộ môn hơn

Thứ sáu, phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh trong quá trình hướng dẫn học sinh tạo biểu tượng về địa danh lịch sử

Theo Lép-tôn-xtôi, “Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi mà nó là thành

quả cố gắng của tư duy” Điều này khẳng định giá trị tư duy của quá trình nhận

thức và việc học tập lịch sử cũng là một quá trình nhận thức Do vậy, kiến thứcchỉ thật sự có chất lượng trên cơ sở hoạt động tích cực của vỏ não Học sinh làchủ thể của nhận thức, tính chất hành động của các em có ảnh hưởng quyết địnhđến chất lượng tri thức mà các em tiếp thu

Thực tế quá trình học tập nói chung và học tập bộ môn lịch sử nói riêngcho thấy, học sinh chỉ nắm vững kiến thức và ghi nhớ có chiều sâu khi nào kếtquả của nhận thức là sản phẩm của hoạt động tư duy

Muốn học sinh hiểu sâu và nhớ lâu kiến thức thì trong quá trình dạy họcđòi hỏi giáo viên phải phát huy tính tích cực, chủ động cho học sinh thông quanhững câu hỏi gợi mở, tạo tình huống có vấn đề… có thể đưa ra các số liệu cụthể về địa danh qua đó các em so sánh, nhận xét, đánh giá Để làm được điềunày, giáo viên phải có kiến thức phong phú vế địa danh để tổ chức cho học sinhlĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc nhất

Ví dụ, khi dạy học về chiến thắng Bạch Đằng năm 938, giáo viên cần khaithác và sử dụng kiến thức về địa danh sông Bạch Đằng để miêu tả kết hợp với

Trang 22

lược đồ, đặt câu hỏi để phát triển tư duy học sinh: Vì sao Ngô Quyền lại quyết

định xây dựng trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng? Khúc sông này có đặc điểm gì? Nhận xét của em về nghệ thuật quân sự của Ngô Quyền ?

*

Chương 1 của đề tài đã giải quyết những vấn đề cơ bản liên quan đến cơ

sở lí luận và thực tiễn Trong chương 2, trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩacủa việc hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy học lịch sửViệt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX (lớp 10 - Ban Cơ bản), chúng tôikhai thác kiến thức địa danh của giai đoạn lịch sử này, đồng thời đề xuất cácbiện pháp sư phạm hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh theohướng phát huy tính tích cực của học sinh

CHƯƠNG 2 HƯỚNG DẪN HỌC SINH GHI NHỚ BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA DANH KHI DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX

LỚP 10 THPT (BAN CƠ BẢN)

Trang 23

2.1 Vị trí, ý nghĩa của việc hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX ở lớp 10 THPT (Ban Cơ bản).

Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX thuộc phần hai sáchgiáo khoa của chương trình lớp 10 THPT Đây là một giai đoạn có vị trí hết sứcquan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc: Việt Nam thực sự làmột trong những cái nôi phát sinh loài người Từ buổi đầu dựng nước Văn Lang

- Âu Lạc cho đến giữa thế kỉ XIX, dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trìnhlao động và chiến đấu đầy hi sinh, gian khổ nhưng hết sức kiên cường, anh dũng,sáng tạo để xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất của

Tổ quốc

Học tập lịch sử Việt Nam giai đoạn này, học sinh nhận thức được sự cần

cù, sáng tạo trong lao động sản xuất; sự bền bỉ, kiên cường, anh dũng chống giặcngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc của con người Việt Nam Trải qua lịch sửdựng nước và giữ nước lâu dài, oanh liệt, dân tộc Việt Nam đã làm nên biết bao

sự tích anh hùng để từ đó tạo nên những truyền thống tốt đẹp, trong đó nổi bậtnhất là truyền thống yêu nước - một truyền thống cao quý vừa được hun đúc vàphát huy qua hàng ngàn năm lịch sử, vừa thấm đượm sâu sắc vào cuộc sốnghàng ngày càng vươn cao của dân tộc

Việc hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy họclịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX có ý nghĩa quan trọng trên

cả ba mặt:

Về kiến thức, thông qua 16 bài học cụ thể của lịch sử Việt Nam từ nguồn

gốc đến giữa thế kỉ XIX, chúng ta sẽ giúp học sinh biết và hiểu rõ các vấn đề về:

- Các giai đoạn phát triển của công xã nguyên thuỷ ở Việt Nam từ khihình thành, phát triển đến giải thể

- Những nét đặc trưng về ba nhà nước cổ đại trên đất nước Việt Nam: VănLang - Âu Lạc, Cham pa và Phù Nam (sự hình thành, cơ cấu nhà nước, đời sống,văn hoá, xã hội)

- Những chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc đã tạo

ra nhiều chuyển biến về kinh tế, văn hoá, xã hội ở nước ta Trong hơn 1000 năm

Trang 24

Bắc thuộc ấy, các cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta diễn ra bền bỉ, liêntục, rộng lớn và quyết liệt, tiêu biểu như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Lý Bí, KhúcThừa Dụ và chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền.

- Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, dân tộc ta bước vào thời kì độclập, xây dựng và hoàn chỉnh nhà nước phong kiến Trong quá trình đó, nhân dânViệt Nam liên tục phải tổ chức những cuộc kháng chiến lớn chống ngoại xâmbảo vệ độc lập như: chống Tống thời Tiền Lê, chống Tống thời Lý, ba lần chốngMông

- Nguyên thời Trần, chống xâm lược Minh thời Hồ và khởi nghĩa LamSơn Trải qua 6 thế kỉ độc lập, mặc dù có nhiều biến động, khó khăn, nhân dân

ta vẫn xây dựng được cho mình một nền kinh tế phát triển đa dạng và toàndiện, lấy nông nghiệp là chính Nền văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc

đã hình thành và phát triển, đó chính là văn hoá Đại Việt (còn gọi là văn hoáThăng Long)

- Từ thế kỉ XVI, chế độ phong kiến bắt đầu khủng hoảng với sự sụp đổcủa nhà Lê sơ, chiến tranh phong kiến diễn ra, dẫn đến sự hình thành của nhàMạc và tiếp đó là sự chia cắt đất nước cho đến cuối thế kỉ XVIII Đúng lúc đó,phong trào Tây Sơn bùng nổ, vừa đánh đổ các thế lực phong kiến cát cứ trongnước vừa đánh bại hai cuộc xâm lược lớn của quân Xiêm và quân Thanh, bảo vệvững chắc nền độc lập của Tổ quốc, góp phần thống nhất đất nước Thời kì này,đất nước có nhiều biến động lớn nhưng nền kinh tế có nhiều biểu hiện phát triển;song nhìn chung, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp Trong các thế kỉ XVI

- XVIII, văn hoá nước ta có nhiều điểm mới phản ánh thực trạng của xãhội đương thời Trong lúc Nho giáo suy thoái thì Phật giáo, Đạo giáo có điềukiện mở rộng, Thiên chúa giáo du nhập vào nước ta Văn học nghệ thuật chínhthống sa sút lại là cơ hội cho trào lưu văn học nghệ thuật dân gian phát triển nở

rộ Khoa học kĩ thuật cũng có những biến chuyển mới

- Bước vào thế kỉ XIX, nhà Nguyễn được thành lập và tiếp tục duy trì môhình phong kiến ở nước ta Thống trị đất nước vào lúc chế độ phong kiến bắt đầusuy tàn, vương triều Nguyễn mặc dù có cố gắng nhưng không thể đưa nước ta

Trang 25

chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, phù hợp với hoàn cảnh chung của thếgiới Mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt Các cuộc đấu tranh của nhân dândiễn ra liên tục và mở rộng hầu hết cả nước, lôi cuốn cả một bộ phận binh línhtham gia.

Tóm lại, phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX sẽcung cấp cho học sinh cái nhìn khái quát về tiến trình lịch sử dân tộc mà cụ thể

là các bước phát triển của lịch sử Việt Nam qua các thời kì nguyên thuỷ, cổ đại,Bắc thuộc và phong kiến độc lập Đồng thời giúp học sinh nắm được quá trìnhdựng nước luôn gắn liền với giữ nước Dù đất nước có được thống nhất hay chiacắt về lãnh thổ, nhân dân Việt Nam liên tục phải chiến đấu chống các thế lựcngoại xâm, bảo vệ độc lập

Về giáo dục, thông qua nội dung chính của phần lịch sử Việt Nam từ

nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX, chúng ta bồi dưỡng cho học sinh truyền thốngyêu nước, ý chí chiến đấu cho nền độc lập dân tộc, cho tự do hạnh phúc của nhândân trong bất kỳ hoàn cảnh nào; giáo dục niềm tin vào khả năng quần chúng vàtiền đồ tươi sáng của dân tộc Dạy học lịch sử giai đoạn này, chúng ta cũng giáodục cho học sinh lòng căm thù quân xâm lược, căm ghét giai cấp bóc lột, áp bứctàn bạo nhân dân; giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tình cảm kính trọng,biết ơn đối với những bậc anh hùng, những người đã chiến đấu hi sinh bản thânmình trong cuộc đấu tranh vì nền độc lập của Tổ quốc

Về phát triển, dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn này sẽ góp phần rèn

luyện các kĩ năng học tập bộ môn cho học sinh như: khả năng tưởng tượng, phântích, tổng hợp, so sánh, đánh giá các vấn đề, sự kiện, hiện tượng lịch sử tiêu biểu,

cơ bản… rút ra những kết luận có tính chất hệ thống hoá, khái quát hoá…; rènluyện kĩ năng thực hành bộ môn như sử dụng bản đồ, lược đồ,… để xác định vịtrí các địa danh liên quan đến sự kiện lịch sử; rèn luyện tính tự giác, tích cực, độclập, sáng tạo và tinh thần làm việc tập thể,…

2.2 Nội dung kiến thức cơ bản của chương trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX trong sách giáo khoa lịch sử lớp 10 - Ban

Cơ bản.

Nội dung lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX trong sách

Trang 26

giáo khoa lịch sử lớp 10 THPT - Ban Cơ bản gồm 16 bài học:

Bài 13: Việt Nam thời nguyên thuỷ

Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam

Bài 15: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (Từthế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)

Bài 16: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc(Tiếp theo)

Bài 17: Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến (Từthế kỉ X đến thế kỉ XV)

Bài 18: Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế trong các thế kỉ X - XV.Bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X - XV.Bài 20: Xây dựng và phát triển văn hoá dân tộc trong các thế kỉ X - XV.Bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉXVI - XVIII

Bài 22: Tình hình kinh tế ở các thế kỉ XVI - XVIII

Bài 23: Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ Tổquốc cuối thế kỉ XVIII

Bài 24: Tình hình văn hoá ở các thế kỉ XVI - XVIII

Bài 25: Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá dưới triều Nguyễn (Nửa đầuthế kỉ XIX)

Bài 26: Tình hình xã hội ở nửa đầu thế kỉ XIX và phong trào đấu tranhcủa nhân dân

Bài 27: Quá trình dựng nước và giữ nước

Bài 28: Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam thời phong kiến.Qua tìm hiểu nội dung, chương trình cho thấy kiến thức lịch sử Việt Nam

từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX được thể hiện ở những nội dung sau:

- Cách ngày nay 30 - 40 vạn năm, Người tối cổ đã sinh sống trên đất nước

ta Dần dần họ đã chuyển hoá thành Nguời tinh khôn Cuối thời nguyên thuỷ, các

bộ lạc trên đất nước ta đều biết đến thuật luyện kim và nông nghiệp trồng lúanước Đây là sự chuyển biến lớn lao làm cơ sở cho sự giải thể công xã thị tộc,

Trang 27

hình thành nên các nhà nước cổ đại như: Văn Lang - Âu Lạc, Cham-pa, PhùNam Trong quá trình hình thành và phát triển, các quốc gia cổ này bên cạnhnhững nét đặc trưng riêng về văn hoá, xã hội cũng có những nét tương đồng vềđời sống kinh tế, văn hoá, có mối quan hệ với nhau.

- Chế độ cai trị tàn bạo, chính sách bóc lột về kinh tế, đồng hoá về vănhoá kéo dài hơn 1000 năm của các triều đại phong kiến phương Bắc thực sự làthử thách cam go với dân tộc ta Trong thời gian đó, các mặt kinh tế, văn hoá, xãhội nước ta vẫn có những biến chuyển nằm ngoài ý muốn của chính quyền đô

hộ Nó là sự minh chứng cho cuộc đấu tranh bền bỉ mà quyết liệt nhằm bảo vệhồn cốt và bản sắc dân tộc của nhân dân ta

- Trong các thế kỉ X - XV, trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý,Trần, Hồ, Lê sơ, nhà nước phong kiến độc lập từng bước được hình thành, pháttriển và hoàn chỉnh, tổ chức chặt chẽ trên một lãnh thổ thống nhất Giai cấpthống trị vẫn giữ được mối quan hệ gần gũi với nhân dân Đó là cơ sở để đoànkết toàn dân trong kháng chiến chống ngoại xâm Mỗi cuộc kháng chiến, khởinghĩa đều có đặc điểm riêng, nhưng muốn thắng lợi trước hết phải được sự ủng

hộ của nhân dân

Kinh tế Việt Nam thời phong kiến trong các thế kỉ X - XV lấy nôngnghiệp làm cơ sở diễn ra khá tốt đẹp Nhân dân và giai cấp thống trị đồng lòng,hợp sức cùng nhau xây dựng và bảo vệ sản xuất, đưa đất nước vươn lên nhưngđồng thời do tác động của quan hệ sản xuất phong kiến, ruộng đất dần dần tậptrung vào tay giai cấp địa chủ Chính quyền trung ương suy thoái

Sau khi giành lại được độc lập, với niềm tự hào sâu sắc, ý thức về nguồncội, nhân dân ta đã cố gắng xây dựng và phát triển văn hoá để từ đó tạo nên đượcmột nền văn hoá Đại Việt riêng biệt vừa có nguồn gốc từ thời Văn Lang - ÂuLạc, vừa phản ánh sâu sắc những nét đẹp của thời đại mình Đến thế kỉ XV, nềnvăn hoá dân tộc đã được xác lập và phát triển, được gọi là văn hoá Thăng Long

- Trong các thế kỉ XVI - XVIII, xã hội Việt Nam đã chứng kiến hàng loạtnhững biến động lớn có tính chất nội bộ, do tác động của chế độ phong kiến Sựsụp đổ của triều Lê sơ đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các thế lực phong

Trang 28

kiến Nhà Mạc ra đời và tồn tại hơn nửa thế kỉ đã góp phần ổn định xã hội trongmột thời gian Chiến tranh phong kiến (chiến tranh Nam - Bắc triều và chiếntranh Trịnh - Nguyễn) đã dẫn đến sự chia cắt đất nước Tuy ở mỗi miền (ĐàngTrong và Đàng Ngoài) có một chính quyền riêng nhưng chưa hình thành hainước Giữa lúc đó, phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ, nhanh chóng đánh đổtập đoàn phong kiến Nguyễn, đánh đổ chính quyền Lê - Trịnh, thống nhất đấtnước về mặt lãnh thổ Trong cùng thời gian này, bằng hai lần chiến thắng quânxâm lược (Xiêm, Thanh), phong trào Tây Sơn không chỉ tô đẹp thêm truyềnthống giữ nước của dân tộc mà còn góp phần củng cố ý thức dân tộc trong mỗicon người Việt Nam.

Ở các thế kỉ XVI - XVIII, sự phát triển kinh tế hàng hoá đương thời đã tácđộng to lớn đến hoạt động nông nghiệp, thủ công nghiệp, thúc đẩy giao lưu buônbán giữa các miền và đặc biệt là tạo điều kiện hình thành và phát triển các đô thị.Các đô thị, tuy không nhiều, đã góp phần thay đổi bộ mặt của xã hội Việt Nam,tác động quan trọng đến nền kinh tế phong kiến

Cũng trong thời gian này, hệ tư tưởng và tôn giáo có nhiều thay đổi Nhogiáo mất dần địa vị độc tôn; Phật giáo, Đạo giáo có điều kiện khôi phục hoạtđộng Mặt khác, sự phát triển của giao lưu quốc tế cũng dẫn đến sự du nhập củaThiên chúa giáo Trong lúc văn hoá chính thống suy thoái thì văn hóa dân gianlại phát triển rầm rộ, phản ánh những nét riêng của từng địa phương Nghệ thuật

và khoa học kĩ thuật cũng đạt được nhiều thành tựu mới

- Đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn được thành lập sau khi đánh bại vươngtriều Tây Sơn và thống trị nước ta trong một hoàn cảnh mới, chế độ phong kiếnViệt Nam bước vào giai đoạn suy vong Với mong muốn củng cố lâu dài quyềnthống trị của mình, nhà Nguyễn một mặt cố gắng thi hành một số chính sáchnhằm ổn định tình hình đất nước, mặt khác không thể không bảo thủ trong tưtưởng chính trị khi hệ thống quan lại ngày càng sa đoạ, thoái hoá Cho đến giữathế kỉ XIX, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, chậm tiến và khôngtránh khỏi trở thành đối tượng xâm lược của bọn thực dân

Trang 29

2.3 Những địa danh cần khai thác để hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng khi dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX ở lớp

10 THPT.

2.3.1 Bảng liệt kê các địa danh cần khai thác

Trên cơ sở nghiên cứu nội dung, bài viết trong sách giáo khoa lịch sử ởlớp 10 THPT - Ban Cơ bản, chúng tôi liệt kê các địa danh liên quan đến những

sự kiện lịch sử quan trọng trong từng bài học lịch sử

tượng lịch sử Tên địa danh

Đơn vị hành chính tương ứng hiện nay

Bài 13: Việt Nam

thời nguyên thuỷ

Rìu tay đá cũđược tìm thấy ởnúi Đọ vào năm1960

Hoá

Bài 14: Các quốc

gai cổ đại trên đất

nước Việt Nam

Kinh đô của nước

Đông Anh - HàNội

- Phong Châu, Giao Châu, Trường Châu

- Ái Châu, Phúc Lộc Châu, Diễn Châu, Hoan Châu

- Bắc Bộ ngày nay

- Bắc Trung Bộngày nay

* Khởi nghĩa Hai

Bà Trưng

* Khởi nghĩa LýBí

* Khởi nghĩa

- Giao Chỉ, CửuChân, Nhật Nam

- Hát Môn

- Đầm Dạ Trạch

- Bắc Bộ, BắcTrung Bộ, TrungTrung Bộ ngàynay

- Phúc Thọ - HàNội

Khoái Châu Hưng Yên

Trang 30

-Khúc Thừa Dụ

* Chiến thắng Bạch Đằng

- Kinh đô ThăngLong

để buôn bán vớinước ngoài

* Các cuộc khángchiến chống xâm

- Trận thắng Đông

Bộ Đầu

- Trận Chương Dương, Hàm Tử

- Trận Tây Kết, Vạn Kiếp

- Lam Sơn

Trận Chi Lăng Xương Giang

Sông Cầu (BắcNinh)

- Ba Đình (HàNội)

- Thường Tín (HàNội)

- Chí Linh (HảiDương)

(Hà Nội)

Bài 21: Những - Sau chiến tranh - Đàng Trong - Từ Quảng Bình

Trang 31

biến đổi của nhà

nước phong kiến

trong các thế kỉ

XVI - XVIII

Trịnh - Nguyễn,hai bên giảng hòa,lấy sông Gianhlàm giới tuyếnchia đôi đất nước

- Kháng chiếnchống Thanh

- Ấp Tây Sơn

- Trận Rạch Gầm

- Xoài Mút

Trận Ngọc Hồi Đống Đa

- Chùa TâyPhương

- Thạch Thất - HàTây (Hà Nội ngàynay)

Bài 25: Tình hình

kinh tế, chính trị,

văn hoá dưới triều

Nguyễn (Nửa đầu

thế kỉ XIX)

- Năm 1802,Nguyễn Ánh lênngôi vua, lập ranhà Nguyễn

- Kinh đô ở PhúXuân

- Huế

Bài 26: Tình hình

xã hội ở nửa đầu

thế kỉ XIX và

phong trào đấu

tranh của nhân

- Hà Tây (Hà Nộingày nay)

- Thành phố HồChí Minh

Trang 32

Cần phải nói rằng, những địa danh chúng tôi liệt kê ở đây là những địadanh cơ bản, được nhắc đến nhiều lần trong mỗi bài học, có vị trí hết sức quantrọng đối với sự kiện lịch sử Đó có thể là nơi diễn ra một trận đánh hoặc cuộckhởi nghĩa, cũng có thể là địa danh diễn ra một biến cố lịch sử nay đã được xếphạng là di tích lịch sử,… Trên cơ sở liệt kê những địa danh lịch sử này, chúng tôikhai thác nguồn kiến thức liên quan đến mỗi địa danh để đề xuất các biện pháphướng dẫn học sinh tạo ở phần sau.

2.3.2 Nội dung kiến thức về địa danh lịch sử

Trong khoá trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX có

đề cập đến rất nhiều địa danh lịch sử Song, có những địa danh cơ bản và cónhững địa danh không cơ bản (tuỳ thuộc vào sự kiện lịch sử tương ứng với địadanh đó) Nắm vững kiến thức về địa danh liên quan đến sự kiện, giáo viên cũngxác định được kiến thức cơ bản qua một bài học lịch sử

Núi Đọ (Thanh Hóa)

Núi Ðọ Núi Ðọ nằm bên hữu ngạn sông Chu, ngã ba của sông Chu, sông

Mã, hai con sông lớn nhất của tỉnh Thanh Hoá Cùng với núi Bàn A (Núi Vồm Thiệu Khánh) - Cồn Chân Tiên (Thiệu Tân) tạo ra thế chân kiềng vững chãi Núi

-Ðọ chiếm không gian không lớn trong quần thể, nhưng có cấu tạo địa chất đặcbiệt mà các núi khác xung quanh không có

Trang 33

Núi Đọ - sông Chu (Thanh Hoá)

Núi Đọ còn được gọi là Qui Sơn, được ngợi ca là "Linh Quy Hí Thuỷ"(Rùa thiêng uống nước) Núi Đọ nằm trên hữu ngạn sông Chu, cách bờ sông bởi

Vân, Thiệu Khánh (Thiệu Sơn - Thanh Hoá) Đây là một ngọn núi cổ, cao 158m,

nhìn thấy của đá Núi Ðọ là cứng rắn sắc cạnh hơn nhiều lần các loại đá xungquanh như đá vôi, đá lớp Cha ông ta đã biết điều đó từ rất sớm, nên đã sử dụngchúng làm công cụ lao động Rìu đá cũ núi Đọ là loại công cụ rất ít và hiếm,được tìm thấy vào năm 1960, có niên đại cách đây khoảng 30 đến 40 vạn năm.Loại rìu đá này hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng lịch sử Việt Nam Việc tìmthấy rìu đá ở núi Đọ (Thanh Hóa) đã góp phần xác nhận sự xuất hiện của Ngườitối cổ trên đất nước ta

Kinh đô Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội)

Cổ Loa là kinh đô của nước Âu Lạc thời An Dương Vương, nay thuộchuyện Đông Anh, Hà Nội Cổ Loa được xây dựng giữa một vùng sông nước vàđầm lầy, có làng xóm với cư dân lâu đời Thành gồm ba vòng khép kín, theo thứ

tự từ trong ra ngoài: thành nội, thành trung và thành ngoại

Trang 34

Sơ đồ thành Cổ Loa

Thành nội hình chữ nhật, chu vi 1650 m, mặt thành rộng khoảng 6 - 12 m,chân thành rộng khoảng 20 - 30 m Thành nội có 1 cửa hướng nam, trông thẳngvào Ngự triều đi quy, tương truyền là nơi thiết triều Thành nội có 4 góc, rải ráctrên mặt thành là 14 ụ đất đắp cao, nhô ra ngoài khoảng 10 -15 m, mà dân quengọi là “hỏa hồi”

Thành trung là một vòng thành khép kín, bao bên ngoài thành nội, chu vi

6500 m Mặt thành rộng khoảng 10 m, chân thành choãi rộng 20m Thành trung

có 5 cửa Riêng cửa nam được bố trí là cửa chung giữa thành trung và thànhngoại do hai vòng thành nối liền nhau tạo thành

Thành ngoại là một đường cong khép kín, không có hình dáng rõ rệt, dàikhoảng 800 m Nhiều đoạn thành đã bị san bằng, đoạn còn lại cao khoảng 3 - 4

m, chân thành rộng khoảng 12 - 20 m Ngoài cửa nam là cửa chung với thànhtrung, thành ngoại còn có 3 cửa nữa

Bên ngoài mỗi cửa thành đều có hào nước sâu bao bọc, nối với nhau và

Trang 35

rất tiện lợi Khoảng giữa các vòng thành và phía ngoài thành ngoại còn cónhiều đoạn lũy, ụ đất được bố trí và sử dụng như những công sự phòng vệthành Cổ Loa.

Với những di tích còn lại còn lại chứng tỏ thành Cổ Loa là một công trìnhlao động đồ sộ của cư dân Âu Lạc Cấu trúc thành, kĩ thuật xây dựng và địa hình

tự nhiên được nghiên cứu và lợi dụng rất thông minh và sáng tạo Đó là nhữngtiến bộ và thành tựu tiêu biểu của nền Văn hóa Đông Sơn Thành Cổ Loa là mộtkhu di tích lịch sử - văn hóa quý giá của dân tộc ta

Thánh địa Mĩ Sơn (Duy Xuyên - Quảng Nam)

Thánh địa Mĩ Sơn nay thuộc Duy Tân, Duy Xuyên, Quảng Nam, cách ĐàNẵng khoảng 69 km và cách thành cổ Trà Kiệu khoảng 10 km Đây là một tổhợp bao gồm nhiều đền đài Cham-pa, trong một thung lũng có đường kínhkhoảng 2 km, bao quanh bởi núi đồi, có độ cao từ 120 đến 350 m, tách biệt hẳnvới vùng dân cư ở đó khá xa Đó là nơi tổ chức cúng tế của vương triều Cham-pacũng như là nơi để lăng mộ của các vị vua Chăm hay hoàng thân quốc thích.Thánh địa Mĩ Sơn được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của đạoHinđu ở khu vực Đông Nam Á, và là di sản duy nhất của tôn giáo này ở Việtnam Năm 1897, một người Pháp là M.C.Pari đã phát hiện ra khu di tích Mĩ Sơn

Cả thung lũng là một quần thể kiến trúc độc đáo với những ngôi đền tháp

uy nghiêm, hùng tráng, từng lưu dấu một thời huy hoàng của các vị vua Chăm từthế kỉ IV đến thế kỉ XV Mỗi vị vua Chăm lên ngôi đề đến Mĩ Sơn làm lễ Thánhtẩy và dâng cúng một ngôi tháp thờ thần bổn mạng của mình Nơi đây có khoảng

70 ngôi đền tháp, thể hiện đầy đủ những nét đặc trưng nhất về sinh hoạt văn hoá,đời sống và tín ngưỡng của người Cham-pa xưa Phần lớn các đền thờ chính ở

Mĩ Sơn được xây dựng để thờ thần Siva nhưng dưới các tên gọi khác nhau

Những đền tháp Chăm còn tồn tại đến ngày nay chủ yếu được xây bằnggạch nung đỏ màu sẫm, sa thạch được dùng làm trụ cửa, lanh tô gia cố hoặctrang trí chân tháp, thân và trên đỉnh tháp Gạch được xếp chồng lên nhau vàđược ghép bởi một lớp vữa dày từ 0,5 đến 2 cm Khắp mặt tường có chạm nổihình những vị thần và các hình trang trí tinh xảo về người, hoa, lá

Trang 36

Thánh địa Mĩ Sơn

Mĩ Sơn còn nổi tiếng bởi hàng trăm tác phẩm điêu khắc vô giá, có niênđại từ thế kỉ XII đến thế kỉ XIII Nghệ thuật điêu khắc Cham-pa là sự kết hợpnhững yếu tố bản địa với các nền văn hoá bên ngoài một cách chọn lọc và sángtạo Các tác phẩm điêu khắc được thể hiện trên đá, nhưng cái tài tình của cácnghệ nhân Cham-pa xưa kia là biến những tảng đá vô tri thành những tác phẩmsống động, có hồn

Văn hoá Óc Eo (Thoại Sơn - An Giang)

Óc Eo là tên một cánh đồng phẳng và thấp trải rộng trên địa bàn hai tỉnh

An Giang và Kiên Giang Nền văn hoá nổi tiếng này được định danh sau cuộckhai quật đầu tiên do Lui Manlơret (Pháp) tiến hành năm 1944 tại Óc Eo

Đây là nền văn hoá lớn, phát triển ở khu vực phía Nam nước ta đầu Côngnguyên Ngay sau khi những tài liệu khảo cổ học được công bố trên Tập san củaTrường Viễn Đông Bác Cổ, người ta đã coi đó là những dấu vết của Vương quốcPhù Nam, một quốc gia cổ đại được biết từ trước qua các thư tịch cổ Trung Quốc

và văn minh trên bia kí

Ngày đăng: 03/04/2015, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Đức An (Chủ biên). Những nhân vật lịch sử và danh nhân văn hoá thế giới, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1994 Khác
2. Nguyễn Văn Âu. Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, Nxb ĐHQG, 2000 Khác
3. Khương Thiếu Ba, Chu Hữu Chí. Thế giới 5.000 năm, Nxb Văn hoá thông tin Hà Nội, 2000 Khác
4. Nguyễn Thị Côi (Chủ biên). Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS (phần Lịch sử Việt Nam), Nxb Giáo dục, 2005 Khác
5. Nguyễn Thị Côi. Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông. Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2006 Khác
6. N.G.Đairi: Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào? Nxb Giáo dục, 1973 Khác
7. Phạm Văn Đồng - Mấy vấn đề về văn hoá giáo dục. NXB Sự thật, HN, 1986 Khác
8. Lê Trung Hoa. Các phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh, Tạp chí ngôn ngữ số 7, 2002 Khác
9. Hồ Chí Minh (toàn tập), tập 3, Nxb Sự thật Hà Nội, 1982 Khác
10. Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ. Giáo dục học, Nxb Giáo dục, 1997 Khác
11. Nguyễn Mạnh Hưởng. Hướng dẫn học sinh khai thác hiệu quả các đoạn phim tài liệu trong dạy học lịch sử ở THPT, Tạp chí Giáo dục, số 258, 2011, tr.38 - 40 Khác
13. Phan Ngọc Liên (chủ biên). Đồ dùng trực quan trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp II, Nxb Giáo dục, 1975 Khác
14. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi. Một số chuyên đề Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông, Nxb ĐHSP Hà Nội, 2005 Khác
15. Phan Ngọc Liên. Kiến thức lịch sử lớp 11, Nxb ĐHQG Tp HCM, 2007 Khác
16. Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên). Sách giáo khoa lịch sử lớp 11 (chương trình chuẩn và nâng cao), Nxb Giáo dục, 2007 Khác
17. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng. Phương pháp dạy học lịch sử, tập 1, Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2009 Khác
18. Nguyễn Văn Tôn. Từ điển địa danh lịch sử - văn hoá Việt Nam. Nxb Văn hóa Thông tin, 1998 Khác
19. Trịnh Đình Tùng (Chủ biên). Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS (phần Lịch sử thế giới), Nxb Giáo dục, 2005 Khác
20. Trịnh Đình Tùng. Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS. Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2005 Khác
21. Trịnh Đình Tùng (chủ biên). Kiến thức lịch sử lớp 8, Nxb Thanh niên, 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.3.1. Bảng liệt kê các địa danh cần khai thác - Hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX - lớp 10 THPT (Ban Cơ bản)
2.3.1. Bảng liệt kê các địa danh cần khai thác (Trang 29)
Hình thành và phát - Hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX - lớp 10 THPT (Ban Cơ bản)
Hình th ành và phát (Trang 30)
Sơ đồ thành Cổ Loa - Hướng dẫn học sinh ghi nhớ biểu tượng về địa danh khi dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX - lớp 10 THPT (Ban Cơ bản)
Sơ đồ th ành Cổ Loa (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w