MỞ ĐẦU 1 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6 4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7 5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8 6. Giả thuyết khoa học 8 7. Đóng góp của đề tài 8 8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9 9. Cấu trúc của khoá luận 9 Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khoá luận gồm 2 chương: 9 NỘI DUNG 10 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KHU DI TÍCH TRUNG TÂM HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT. 10 1.1 Cơ sở lí luận 10 1.1.1 Một số khái niệm liên quan 10 1.1.1.1 Di tích 10 1.1.1.2 Di tích lịch sử 10 1.1.1.3 Di tích lịch sử văn hoá 11 1.1.1.4 Di tích Quốc gia Đặc biệt 11 1.1.1.5 Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 12 1.1.2 Ưu thế của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử 14 1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 15 1.1.3.1 Mục tiêu của bộ môn 15 1.1.3.2 Đặc trưng của tri thức lịch sử 16 1.1.3.3. Đặc điểm nhận thức của học sinh 17 1.1.3.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 17 1.1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long đối với dạy học lịch sử 19 1.1.4.1 Ý nghĩa đối với việc hình thành kiến thức 19 1.1.4.2 Ý nghĩa đối với việc hình thành kĩ năng 20 1.1.4.3 Ý nghĩa đối với việc bồi dưỡng thái độ, tư tưởng, tình cảm 21 1.1.4.4 Định hướng phát triển năng lực 22 1.2. Cơ sở thực tiễn 23 1.2.1. Thực trạng việc sử dụng di tích trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT 24 1.2.1.1. Về phía giáo viên 24 1.2.1.2. Về phía học sinh 25 1.2.2 Thực trạng việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long vào dạy học Lịch sử ở trường THPT 25 CHƯƠNG 2. HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG KHU DI TÍCH TRUNG TÂM HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX CHO HỌC SINH THPT 28 2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung phần Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) 28 2.1.1. Vị trí 28 2.1.2 Mục tiêu 28 2.1.3 Nội dung cơ bản 29 2.2 Khái quát cấu trúc, nội dung Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long 31 2.3. Những nội dung của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long có thể và cần khai thác, sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) 37 2.4 Nguyên tắc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội trong dạy học lịch sử 41 2.4.1 Đảm bảo mục tiêu của việc sử dụng di tích 41 2.4.2 Đảm bảo tính khoa học 42 2.4.3 Đảm bảo tính vừa sức 43 2.4.4 Đảm bảo tính sư phạm 43 2.5 Hình thức và biện pháp sử dụng Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long trong dạy học lịch sử Việt Nam (nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) cho học sinh THPT 44 2.5.1 Sử dụng trong giờ học nội khoá trên lớp 44 2.5.1.1 Sử dụng tư liệu viết về Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long 44 2.5.1.2 Sử dụng tư liệu hình ảnh về Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long 46 2.5.1.3 Sử dụng phim tư liệu về Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 48 2.5.2 Sử dụng trong ngoại khóa 50 2.5.2.1 Tổ chức cho học sinh tham quan ngoại khóa tại Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 50 2.5.2.2 Khai thác và sử dụng tư liệu Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long để tổ chức dạ hội lịch sử 52 2.6 Thực nghiệm sư phạm 57 2.6.1 Mục đích thực nghiệm 57 2.6.2 Đối tượng thực nghiệm 57 2.6.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 57 2.6.4 Tiến trình thực nghiệm 58 2.6.5 Kết quả thực nghiệm 58 KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Hiện nay, phát triển bền vững được xác định là chiến lược hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong đó, nguồn lực con người là một trong những nhân tố quan trọng nhất để thực hiện chiến lược phát triển này. Con người vừa là mục tiêu phát triển, vừa là động lực cho sự phát triển của xã hội. Muốn vậy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phải được coi là “quốc sách hàng đầu”. Giáo dục cung cấp nguồn nhân lực có trình độ để xây dựng và cống hiến cho đất nước. Bộ môn Lịch sử với đặc trưng và ưu thế của mình, đã trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản nhất về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, tác động đến trí tuệ và tâm tư tình cảm của các em. Đồng thời, Lịch sử bồi dưỡng lòng yêu nước, giữ gìn truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, bộ môn Lịch sử chưa được đặt đúng vị trí như ý nghĩa của nó. Chất lượng dạy và học của bộ môn Lịch sử cũng chưa thực sự hiệu quả. Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này là phương pháp dạy học Lịch sử vẫn còn nhiều bất cập. Học sinh chưa chủ động chiếm lĩnh tri thức mà lĩnh hội kiến thức một cách thụ động. Các phương tiện đồ dùng trực quan chưa được khai thác triệt để. Vì thế, các bài giảng Lịch sử chưa tạo được sức hấp dẫn, lôi cuốn các em, dẫn đến sự mệt mỏi, chán nản và tỏ ra chán ghét. Vậy, một trong những phương pháp khoa học để giảng dạy bài học Lịch sử tạo sự hứng thú cho học sinh ở trường THPT là biết khai thác có hiệu quả các di tích lịch sử. Đồ dùng trực quan nói chung và di tích nói riêng là một loại tài liệu gốc rất có giá trị, là những dấu vết còn sót lại của quá khứ, là bằng chứng về sự tồn tại của mỗi thời kì lịch sử. Mỗi một di tích lịch sử đều gắn liền với những sự kiện lịch sử cụ thể, tiêu biểu. Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hoá Thể thao ban hành văn bản hướng dẫn về việc sử dụng di sản văn hoá vào dạy học, thực hiện thí điểm tại 7 địa phương trong đó có Hà Nội với ba môn: Lịch sử, Địa lý và Âm nhạc. Tại hội thảo “Chương trình giáo dục di sản trong nhà trường tại Việt Nam” diễn ra năm 2012 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cũng nhấn mạnh: “Giáo dục di sản đã và đang từng bước trở thành yêu cầu, nhiệm vụ, động lực đối với các trường phổ thông, góp phần quan trọng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh”27;161 Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có một hệ thống các di tích lịch sử, di sản văn hoá mang ý nghĩa quan trọng có thể sử dụng trong dạy học Lịch sử đạt hiệu quả cao. Trong đó, đặc biệt phải kể đến Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long vừa được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt vừa là di sản thế giới. Khu di tích bao gồm Di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và Trục chính tâm Hoàng thành Thăng Long tạo nên quần thể thống nhất, có giá trị lịch sử và văn hoá to lớn. Hoàng thành Thăng Long còn là Kinh đô của quốc gia Đại Việt từ thế kỉ XII đến thế kỉ XVIII. Sử dụng di tích để dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) giúp học sinh có biểu tượng cụ thể, sinh động về kiến trúc kinh thành Thăng Long qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau. Học sinh sẽ hiểu thêm về nghệ thật điêu khắc, kĩ thuật đồ gốm và những thành tựu văn hóa rực rỡ khác của các thế hệ đi trước. Không những thế, học sinh sẽ hình thành ý thức giữ gìn các di sản văn hóa, di tích lịch sử; ý thức biết ơn và trân trọng những gì mà ông cha đã gây dựng nên trong quá khứ đồng thời phát triển nhiều kĩ năng và năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt của môn Lịch sử. Song, để sử dụng di tích này như thế nào cho hiệu quả thì đây là vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Xuất phát từ những lí do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) ở trường THPT” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu phương pháp khai thác và sử dụng di tích này thật hiệu quả, phần nào làm tăng sự hứng thú của học sinh đối với bộ môn Lịch sử hơn, đồng thời nâng cao chất lượng dạy học lịch sử dân tộc cho học sinh THPT. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1 Tài liệu nước ngoài A. A Vaghin trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, Nxb Matxcova, 1972 đã trình bày khá đầy đủ về việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử bao gồm: vị trí, vai trò, cách sử dụng trong dạy học. Crugiac trong cuốn “Phát triển tư duy học sinh như thế nào”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1976 và M.A. Lexeep trong cuốn “Phát triển tư duy học sinh”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1976 đã chỉ rõ việc sử dụng đồ dùng trực quan có vai trò trong việc phát triển tư duy của học sinh. Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1979 đã nhấn mạnh tác dụng của lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học. Sácđacốp trong cuốn “Tư duy học sinh”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1982 đã nêu lên cơ sở thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan cũng như ý nghĩa của nó trong dạy học. Trong cuốn “Các phương pháp sư phạm”, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1996, GuyPalmade đã nhấn mạnh việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ra trong óc trẻ một hiện tượng bền vững. Đặc điểm của phương pháp này là cung cấp cho học sinh những dữ liệu để quan sát, lĩnh hội. Cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào?” của tác giả N. G. Đairi, Nxb giáo dục, Hà Nội, 2001 là công trình nghiên cứu có đề cập đến vai trò của đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử. Trong khuyến nghị của Nghị viện Châu Âu năm 2001, chính phủ các nước Liên minh châu Âu (EU) đã đề xuất việc mở rộng môi trường học tập lịch sử cho học sinh ra phạm vi ngoài nhà trường. Học sinh cần học tập tại bảo tàng, nơi diễn ra các sự kiện lịch sử, nghiên cứu tài liệu ở địa phương để làm phong phú kiến thức Lịch sử, phát huy năng lực. Nhìn chung, các tài liệu nước ngoài đều đã có nghiên cứu về vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và đồ dùng trực quan khu di tích nói riêng và khẳng định tầm quan trọng của chúng trong dạy học Lịch sử. 2.2 Tài liệu trong nước • Về những tài liệu Giáo dục học, Tâm lí học: Tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học”, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 1987 đã khẳng định vai trò quan trọng của đồ dùng trực quan đối với dạy học “tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, giảm độ mệt nhọc”18;249. Về các tài liệu Phương pháp dạy học Lịch sử: Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2011, tác giả Nguyễn Thị Côi và Trịnh Đình Tùng khẳng định giáo viên không những phải nắm chắc lí luận, mà còn phải rèn luyện kĩ năng xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan. Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử”, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2012 do GS Phan Ngọc Liên chủ biên, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến việc sử dụng di tích trong dạy học lịch sử ở nhiều phần của sách như: “Hệ thống các phương pháp dạy học”, “Bài học lịch sử”, “Công tác ngoại khóa lịch sử”, … • Ngoài những công trình nghiên cứu chung về đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử thì còn có nhiều nghiên cứu riêng về việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ở nhiều địa phương khác nhau. Đó là các công trình: “Quy trình giáo dục trải nghiệm di sản trong nhà trường” của tác giả Nguyễn Văn Huy, Trung tâm nghiên cứu và phát huy giá trị văn hoá; “Các bước xây dựng kế hoạch dạy học có sử dụng di sản văn hoá phi vật thể”, Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Đặc Tăng, Nxb. giáo dục, Hà Nội, 2004; “Giáo dục trải nghiệm di sản ở nhà trường phổ thong – hướng tiếp cận mới trong giáo dục truyền thống”, Nguyễn Minh Nguyệt, Tạp chí giáo dục (297), 2012; “Tài liệu tập huấn sử dụng di sản trong dạy học ở trường THPT”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2013. Các công trình không những khẳng định vai trò của sử dụng di tích, di sản mà còn đưa ra biện pháp sử dụng trong dạy học lịch sử. Thêm vào đó, nhiều luận án tiến sĩ cũng đã nghiên cứu về sử dụng di tích. Điển hình như luận án của Hoàng Thanh Hải nghiên cứu về “Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở”, năm 1999; luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thảo “Sử dụng di tích lịch sử cách mạng ở địa phương trong dạy học lịch sử từ 1945 đến 1954 lớp 12 trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang (chương trình chuẩn)”, năm 2014. Các luận án đều để cập những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng di tích, các phương pháp sử dụng và tiến hành thực nghiệm các biện pháp sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài. Đó là nguồn tư liệu quí gía để tôi tiếp cận, kế thừa cho việc xây dựng cơ sở lí luận của đề tài. • Về các tài liệu nghiên cứu về di tích: Trong cuốn “Bảo tàngdi tíchlễ hội”, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1992 của Phạm Khanh, có viết: “di tích là tấm gương lịch sử, để mỗi người đến chiêm ngưỡng, dù một mình cũng phải soi bóng mình vào và tự vấn mình đang và làm gì để góp phần đóng góp cho sự trường tồn, phát triển, thịnh vượng của non nước này.”24;171 Tác giả Nguyễn Đăng Duy và Trịnh Minh Đức trong “Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá”, Bộ Văn hoá thông tin, Đại học văn hoá Hà Nội, Hà Nội, 1993 khẳng định: “ Di tích lịch sử văn hoá có khả năng rất lớn, góp phần vào phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử.” 7;71 Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 24, tháng 3 năm 1996 có chuyên đề “Sử dụng và khai thác di tích” cũng có rất nhiều bài viết nhằm nêu lên ý nghĩa quan trọng của các di tích lịch sử. Như vậy, kết luận mà mọi công trình nghiên cứu đưa ra đều nhằm khẳng định tầm quan trọng, vị trí của di tích và khả năng sử dụng di tích trong nhà trường để giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử dân tộc, về ý thức bảo tồn các di tích. • Về các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long: Cuốn “Hoàng thành Thăng Long” của Viện khoa học và xã hội Việt Nam, Viện khảo cổ học, do Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội xuất bản năm 2006 là công trình tổng hợp về những di tích, di vật tại Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long. Cuốn sách bao gồm những hình ảnh và bài viết về các di tích tại Hoàng thành Thăng Long đồng thời cũng công bố những kết quả khai quật khảo cổ tại khu di tích này. Cuốn “Di vật tiêu biểu Hoàng thành Thăng Long 2002 – 2013” của Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 2014 là tài liệu hữu ích giới thiệu về giá trị của di sản văn hóa thế giới Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long. Đây là tác phẩm tổng hợp về những di vật tiêu biểu được phát lộ tại khu di tích từ năm 2002 đến 2013. Qua tác phẩm này, người đọc sẽ được khám phá những tầng sâu văn hóa, giá trị của từng di vật đã ẩn mình trong lòng đất hàng ngàn năm lịch sử. Bên cạnh đó, trên website chính thức của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long cũng có rất nhiều hình ảnh, bài viết, phim tư liệu giới thiệu đầy đủ và toàn diện về khu di tích quan trọng này. Nhìn chung, vấn đề sử dụng di tích trong giáo dục nói chung và giáo dục Lịch sử nói riêng đã được đề cập đến từ lâu và thu hút sự quan tâm của nhiều học giả. Tuy nhiên nếu nghiên cứu chuyên sâu về một di tích cụ thể như Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long và vận dụng vào dạy học Lịch sử Việt Nam trong một giai đoạn nhất định thì chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào. Các công trình nghiên cứu thường đề cập đến di tích lịch sử nói chung hoặc một cụm các di tích thuộc một địa phương nào đó. Vì vậy, trong khoá luận tốt nghiệp này, tôi đã lựa chọn vấn đề “Sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) ở trường THPT”làm đề tài tốt nghiệp với mong muốn sử dụng linh hoạt, hiệu quả giá trị lịch sử, văn hoá của di tích Hoàng thành Thăng Long vào dạy học Lịch sử Việt Nam. Qua đó, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Quá trình khai thác và sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử ở trường THPT. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: nghiên cứu về việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử ở trường THPT. Phạm vi đối tượng: nghiên cứu trong dạy học Lịch sử cho đối tượng học sinh lớp 10. Phạm vi thời gian: nghiên cứu việc sử dụng di tích trong chương trình Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX. Phạm vi điều tra: tiến hành điều tra giáo viên và học sinh tại các trường THPT tại Hà Nội bao gồm trường THPT Yên Hoà, trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam, trường THPT Marie Curie, trường THPT Hoàng Cầu. Phạm vi thực nghiệm sư phạm: tiến hành thực nghiệm sư phạm tại hai lớp 10A5 và 10A4, trường THPT Hoàng Cầu, Hà Nội. 4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, đề tài đi sâu xác định các biện pháp sử dụng Khu di tích này một cách hiệu quả, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Lịch sử. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục đích đề ra, tác giả đi sâu vào giải quyết những nhiệm vụ sau: Tìm hiểu những lí luận cơ bản về di tích, phương pháp sử dụng và sự cần thiết của các di tích trong dạy học lịch sử, đặc biệt là lịch sử dân tộc. Tìm hiểu về Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là cơ sở cho việc lựa chọn những nội dung phục vụ dạy học Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX (Chương trình chuẩn) ở trường THPT. Tìm hiểu nội dung chương trình Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX (Chương trình chuẩn) để xác định những sự kiện cơ bản có liên quan đến Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long. Xác định hình thức, biện pháp sư phạm để khai thác và sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất. 5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1 Cơ sở phương pháp luận Là lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác giáo dục, nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu Lịch sử, văn hoá…. 5.2 Phương pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra, tác giả sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ như: phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê, thực nghiệm, tổng hợp, … 6. Giả thuyết khoa học Hiện nay, việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử ở trường THPT còn nhiều bất cập và hạn chế. Nếu vận dụng linh hoạt các biện pháp sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long theo khoá luận đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy môn Lịch sử ở trường THPT. 7. Đóng góp của đề tài Nếu thực hiện đủ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sẽ góp phần: Khẳng định giá trị của việc sử dụng di tích nói chung và Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long nói riêng trong dạy học Lịch sử. Xác định những nội dung kiến thức Lịch sử có thể sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long. Đề xuất các hình thức và phương pháp sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử. 8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: góp phần làm phong phú lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử nói chung, vấn đề sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn: đề tài này là một tư liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên, giúp giáo viên có thể sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử một cách hiệu quả. 9. Cấu trúc của khoá luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khoá luận gồm 2 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử ở trường THPT. Chương 2: Hình thức và biện pháp sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX cho học sinh THPT
Trang 1KHOA LỊCH SỬ
VŨ HÀ THU
SỬ DỤNG KHU DI TÍCH TRUNG TÂM HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ NGUỒN GỐC
ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX) Ở TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thế Bình Sinh viên thực hiện : Vũ Hà Thu
Lớp : K64 CLC
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Khóa luận Tốt nghiệp là một trong những công trình quan trọng của cuộc đờimỗi con người Để hoàn thành khoá luận, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS Nguyễn Thị Thế Bình, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện khóa luận của mình
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, trườngĐại học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Tổ bộ môn Lý luận vàPhương pháp dạy học Lịch sử đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trongquá trình học tập, nghiên cứu tại Khoa và Trường
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những ngườiluôn đồng hành, góp một phần không nhỏ vào quá trình thực hiện khoá luận tốtnghiệp của em
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Vũ Hà Thu
MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Giả thuyết khoa học 8
7 Đóng góp của đề tài 8
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
9 Cấu trúc của khoá luận 9
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khoá luận gồm 2 chương: 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KHU DI TÍCH TRUNG TÂM HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 10
1.1 Cơ sở lí luận 10
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 10
1.1.1.1 Di tích 10
1.1.1.2 Di tích lịch sử 10
1.1.1.3 Di tích lịch sử - văn hoá 11
1.1.1.4 Di tích Quốc gia Đặc biệt 11
1.1.1.5 Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 12
1.1.2 Ưu thế của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử 14
1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 15
1.1.3.1 Mục tiêu của bộ môn 15
1.1.3.2 Đặc trưng của tri thức lịch sử 16
1.1.3.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh 17
1.1.3.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 17
1.1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long đối với dạy học lịch sử 19
1.1.4.1 Ý nghĩa đối với việc hình thành kiến thức 19
1.1.4.2 Ý nghĩa đối với việc hình thành kĩ năng 20
1.1.4.3 Ý nghĩa đối với việc bồi dưỡng thái độ, tư tưởng, tình cảm 21
1.1.4.4 Định hướng phát triển năng lực 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
Trang 41.2.1 Thực trạng việc sử dụng di tích trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT 24
1.2.1.1 Về phía giáo viên 24
1.2.1.2 Về phía học sinh 25
1.2.2 Thực trạng việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long vào dạy học Lịch sử ở trường THPT 25
CHƯƠNG 2 HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG KHU DI TÍCH TRUNG TÂM HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX CHO HỌC SINH THPT 28
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung phần Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) 28
2.1.1 Vị trí 28
2.1.2 Mục tiêu 28
2.1.3 Nội dung cơ bản 29
2.2 Khái quát cấu trúc, nội dung Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long 31
2.3 Những nội dung của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long có thể và cần khai thác, sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) 37
2.4 Nguyên tắc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội trong dạy học lịch sử 41
2.4.1 Đảm bảo mục tiêu của việc sử dụng di tích 41
2.4.2 Đảm bảo tính khoa học 42
2.4.3 Đảm bảo tính vừa sức 43
2.4.4 Đảm bảo tính sư phạm 43
2.5 Hình thức và biện pháp sử dụng Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long trong dạy học lịch sử Việt Nam (nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) cho học sinh THPT 44
2.5.1 Sử dụng trong giờ học nội khoá trên lớp 44
2.5.1.1 Sử dụng tư liệu viết về Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long 44
2.5.1.2 Sử dụng tư liệu hình ảnh về Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long 46
2.5.1.3 Sử dụng phim tư liệu về Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 48
2.5.2 Sử dụng trong ngoại khóa 50
2.5.2.1 Tổ chức cho học sinh tham quan ngoại khóa tại Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 50
2.5.2.2 Khai thác và sử dụng tư liệu Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long để tổ chức dạ hội lịch sử 52
2.6 Thực nghiệm sư phạm 57
2.6.1 Mục đích thực nghiệm 57
2.6.2 Đối tượng thực nghiệm 57
2.6.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 57
2.6.4 Tiến trình thực nghiệm 58
2.6.5 Kết quả thực nghiệm 58
KẾT LUẬN 61
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, phát triển bền vững được xác định là chiến lược hàng đầu của hầuhết các quốc gia trên thế giới Trong đó, nguồn lực con người là một trong nhữngnhân tố quan trọng nhất để thực hiện chiến lược phát triển này Con người vừa làmục tiêu phát triển, vừa là động lực cho sự phát triển của xã hội Muốn vậy sựnghiệp giáo dục và đào tạo phải được coi là “quốc sách hàng đầu” Giáo dục cungcấp nguồn nhân lực có trình độ để xây dựng và cống hiến cho đất nước
Bộ môn Lịch sử với đặc trưng và ưu thế của mình, đã trang bị cho họcsinh một hệ thống kiến thức cơ bản nhất về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới,tác động đến trí tuệ và tâm tư tình cảm của các em Đồng thời, Lịch sử bồidưỡng lòng yêu nước, giữ gìn truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc Tuynhiên, bộ môn Lịch sử chưa được đặt đúng vị trí như ý nghĩa của nó Chất lượngdạy và học của bộ môn Lịch sử cũng chưa thực sự hiệu quả Nguyên nhân chínhdẫn đến thực trạng này là phương pháp dạy học Lịch sử vẫn còn nhiều bất cập.Học sinh chưa chủ động chiếm lĩnh tri thức mà lĩnh hội kiến thức một cách thụđộng Các phương tiện đồ dùng trực quan chưa được khai thác triệt để Vì thế,các bài giảng Lịch sử chưa tạo được sức hấp dẫn, lôi cuốn các em, dẫn đến sựmệt mỏi, chán nản và tỏ ra chán ghét Vậy, một trong những phương pháp khoahọc để giảng dạy bài học Lịch sử tạo sự hứng thú cho học sinh ở trường THPT
là biết khai thác có hiệu quả các di tích lịch sử
Đồ dùng trực quan nói chung và di tích nói riêng là một loại tài liệu gốcrất có giá trị, là những dấu vết còn sót lại của quá khứ, là bằng chứng về sự tồntại của mỗi thời kì lịch sử Mỗi một di tích lịch sử đều gắn liền với những sựkiện lịch sử cụ thể, tiêu biểu Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với
Bộ Văn hoá Thể thao ban hành văn bản hướng dẫn về việc sử dụng di sản vănhoá vào dạy học, thực hiện thí điểm tại 7 địa phương trong đó có Hà Nội với bamôn: Lịch sử, Địa lý và Âm nhạc Tại hội thảo “Chương trình giáo dục di sảntrong nhà trường tại Việt Nam” diễn ra năm 2012 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ
Trang 7Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cũng nhấn mạnh: “Giáo dục di sản đã
và đang từng bước trở thành yêu cầu, nhiệm vụ, động lực đối với các trường phổ thông, góp phần quan trọng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh”[27;161]
Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có một hệ thống các di tích lịch
sử, di sản văn hoá mang ý nghĩa quan trọng có thể sử dụng trong dạy học Lịch
sử đạt hiệu quả cao Trong đó, đặc biệt phải kể đến Khu di tích trung tâm Hoàngthành Thăng Long vừa được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt vừa là di sảnthế giới Khu di tích bao gồm Di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và Trục chínhtâm Hoàng thành Thăng Long tạo nên quần thể thống nhất, có giá trị lịch sử vàvăn hoá to lớn Hoàng thành Thăng Long còn là Kinh đô của quốc gia Đại Việt
từ thế kỉ XII đến thế kỉ XVIII Sử dụng di tích để dạy học lịch sử Việt Nam (từnguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) giúp học sinh có biểu tượng cụ thể, sinh động
về kiến trúc kinh thành Thăng Long qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau Họcsinh sẽ hiểu thêm về nghệ thật điêu khắc, kĩ thuật đồ gốm và những thành tựuvăn hóa rực rỡ khác của các thế hệ đi trước Không những thế, học sinh sẽ hìnhthành ý thức giữ gìn các di sản văn hóa, di tích lịch sử; ý thức biết ơn và trântrọng những gì mà ông cha đã gây dựng nên trong quá khứ đồng thời phát triểnnhiều kĩ năng và năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt của môn Lịch
sử Song, để sử dụng di tích này như thế nào cho hiệu quả thì đây là vấn đề cầntiếp tục đi sâu nghiên cứu
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử Việt Nam
nghiệp nhằm nghiên cứu phương pháp khai thác và sử dụng di tích này thật hiệuquả, phần nào làm tăng sự hứng thú của học sinh đối với bộ môn Lịch sử hơn,đồng thời nâng cao chất lượng dạy học lịch sử dân tộc cho học sinh THPT
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tài liệu nước ngoài
A A Vaghin trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ
thông”, Nxb Matxcova, 1972 đã trình bày khá đầy đủ về việc sử dụng đồ dùng trực
quan trong dạy học lịch sử bao gồm: vị trí, vai trò, cách sử dụng trong dạy học
Trang 8Crugiac trong cuốn “Phát triển tư duy học sinh như thế nào”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1976 và M.A Lexeep trong cuốn “Phát triển tư duy học sinh”,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1976 đã chỉ rõ việc sử dụng đồ dùng trực quan có vai tròtrong việc phát triển tư duy của học sinh
Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như
thế nào”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1979 đã nhấn mạnh tác dụng của lời nói sinh
động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạyhọc
Sácđacốp trong cuốn “Tư duy học sinh”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1982 đã
nêu lên cơ sở thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan cũng như ý nghĩacủa nó trong dạy học
Trong cuốn “Các phương pháp sư phạm”, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1996,
GuyPalmade đã nhấn mạnh việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ratrong óc trẻ một hiện tượng bền vững Đặc điểm của phương pháp này là cungcấp cho học sinh những dữ liệu để quan sát, lĩnh hội
Cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào?” của tác giả N G Đairi,
Nxb giáo dục, Hà Nội, 2001 là công trình nghiên cứu có đề cập đến vai trò của
đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử
Trong khuyến nghị của Nghị viện Châu Âu năm 2001, chính phủ cácnước Liên minh châu Âu (EU) đã đề xuất việc mở rộng môi trường học tập lịch
sử cho học sinh ra phạm vi ngoài nhà trường Học sinh cần học tập tại bảo tàng,nơi diễn ra các sự kiện lịch sử, nghiên cứu tài liệu ở địa phương để làm phongphú kiến thức Lịch sử, phát huy năng lực
Nhìn chung, các tài liệu nước ngoài đều đã có nghiên cứu về vấn đề sửdụng đồ dùng trực quan nói chung và đồ dùng trực quan khu di tích nói riêng vàkhẳng định tầm quan trọng của chúng trong dạy học Lịch sử
2.2 Tài liệu trong nước
Trang 9Tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học”, Nxb Đại
học sư phạm, Hà Nội, 1987 đã khẳng định vai trò quan trọng của đồ dùng trực
quan đối với dạy học “tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, giảm độ mệt
nhọc”[18;249].
Về các tài liệu Phương pháp dạy học Lịch sử:
Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”, Nxb
Đại học sư phạm, Hà Nội, 2011, tác giả Nguyễn Thị Côi và Trịnh Đình Tùngkhẳng định giáo viên không những phải nắm chắc lí luận, mà còn phải rèn luyện
kĩ năng xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan
Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử”, Nxb Đại học sư
phạm Hà Nội, 2012 do GS Phan Ngọc Liên chủ biên, các nhà nghiên cứu cũng
đề cập đến việc sử dụng di tích trong dạy học lịch sử ở nhiều phần của sách như:
“Hệ thống các phương pháp dạy học”, “Bài học lịch sử”, “Công tác ngoại khóalịch sử”, …
dạy học Lịch sử thì còn có nhiều nghiên cứu riêng về việc sử dụng di tích lịch sử
trong dạy học lịch sử ở nhiều địa phương khác nhau Đó là các công trình: “Quy
trình giáo dục trải nghiệm di sản trong nhà trường” của tác giả Nguyễn Văn
Huy, Trung tâm nghiên cứu và phát huy giá trị văn hoá; “Các bước xây dựng kế
hoạch dạy học có sử dụng di sản văn hoá phi vật thể”, Nguyễn Xuân Trường,
Nguyễn Đặc Tăng, Nxb giáo dục, Hà Nội, 2004; “Giáo dục trải nghiệm di sản
ở nhà trường phổ thong – hướng tiếp cận mới trong giáo dục truyền thống”,
Nguyễn Minh Nguyệt, Tạp chí giáo dục (297), 2012; “Tài liệu tập huấn sử dụng
di sản trong dạy học ở trường THPT”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2013 Các công
trình không những khẳng định vai trò của sử dụng di tích, di sản mà còn đưa rabiện pháp sử dụng trong dạy học lịch sử
Thêm vào đó, nhiều luận án tiến sĩ cũng đã nghiên cứu về sử dụng di tích
Điển hình như luận án của Hoàng Thanh Hải nghiên cứu về “Sử dụng di tích
lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở”, năm 1999; luận văn
Trang 10thạc sĩ của Lê Thị Thảo “Sử dụng di tích lịch sử - cách mạng ở địa phương
trong dạy học lịch sử từ 1945 đến 1954 lớp 12 trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang (chương trình chuẩn)”, năm 2014 Các luận án đều để cập những cơ sở lí
luận và thực tiễn của việc sử dụng di tích, các phương pháp sử dụng và tiến hànhthực nghiệm các biện pháp sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài Đó
là nguồn tư liệu quí gía để tôi tiếp cận, kế thừa cho việc xây dựng cơ sở lí luậncủa đề tài
Trong cuốn “Bảo tàng-di tích-lễ hội”, Nxb Thông tin, Hà Nội, 1992 của Phạm Khanh, có viết: “di tích là tấm gương lịch sử, để mỗi người đến chiêm
ngưỡng, dù một mình cũng phải soi bóng mình vào và tự vấn mình đang và làm
gì để góp phần đóng góp cho sự trường tồn, phát triển, thịnh vượng của non nước này.”[24;171]
Tác giả Nguyễn Đăng Duy và Trịnh Minh Đức trong “Bảo tồn di tích lịch
sử văn hoá”, Bộ Văn hoá thông tin, Đại học văn hoá Hà Nội, Hà Nội, 1993
khẳng định: “ Di tích lịch sử - văn hoá có khả năng rất lớn, góp phần vào phát
triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử.” [7;71]
Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 24, tháng 3 năm 1996 có chuyên đề
“Sử dụng và khai thác di tích” cũng có rất nhiều bài viết nhằm nêu lên ý nghĩa
quan trọng của các di tích lịch sử Như vậy, kết luận mà mọi công trình nghiêncứu đưa ra đều nhằm khẳng định tầm quan trọng, vị trí của di tích và khả năng
sử dụng di tích trong nhà trường để giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử dân tộc, về ýthức bảo tồn các di tích
thành Thăng Long:
Cuốn “Hoàng thành Thăng Long” của Viện khoa học và xã hội Việt
Nam, Viện khảo cổ học, do Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội xuất bản năm 2006
là công trình tổng hợp về những di tích, di vật tại Khu di tích trung tâm Hoàngthành Thăng Long Cuốn sách bao gồm những hình ảnh và bài viết về các di tích
Trang 11tại Hoàng thành Thăng Long đồng thời cũng công bố những kết quả khai quậtkhảo cổ tại khu di tích này.
Cuốn “Di vật tiêu biểu Hoàng thành Thăng Long 2002 – 2013” của
Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2014 là tài liệuhữu ích giới thiệu về giá trị của di sản văn hóa thế giới Khu di tích trung tâmHoàng thành Thăng Long Đây là tác phẩm tổng hợp về những di vật tiêu biểuđược phát lộ tại khu di tích từ năm 2002 đến 2013 Qua tác phẩm này, người đọc
sẽ được khám phá những tầng sâu văn hóa, giá trị của từng di vật đã ẩn mìnhtrong lòng đất hàng ngàn năm lịch sử
Bên cạnh đó, trên website chính thức của Khu di tích trung tâm Hoàngthành Thăng Long cũng có rất nhiều hình ảnh, bài viết, phim tư liệu giới thiệuđầy đủ và toàn diện về khu di tích quan trọng này
Nhìn chung, vấn đề sử dụng di tích trong giáo dục nói chung và giáo dụcLịch sử nói riêng đã được đề cập đến từ lâu và thu hút sự quan tâm của nhiềuhọc giả Tuy nhiên nếu nghiên cứu chuyên sâu về một di tích cụ thể như Khu ditích trung tâm Hoàng thành Thăng Long và vận dụng vào dạy học Lịch sử ViệtNam trong một giai đoạn nhất định thì chưa có một công trình nghiên cứuchuyên biệt nào Các công trình nghiên cứu thường đề cập đến di tích lịch sử nóichung hoặc một cụm các di tích thuộc một địa phương nào đó Vì vậy, trong
khoá luận tốt nghiệp này, tôi đã lựa chọn vấn đề “Sử dụng Khu di tích trung tâm
Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) ở trường THPT”làm đề tài tốt nghiệp với mong muốn sử dụng
linh hoạt, hiệu quả giá trị lịch sử, văn hoá của di tích Hoàng thành Thăng Longvào dạy học Lịch sử Việt Nam Qua đó, góp phần đổi mới và nâng cao chấtlượng dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình khai thác và sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành ThăngLong trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Trang 12-Phạm vi thực nghiệm sư phạm: tiến hành thực nghiệm sư phạm tại hailớp 10A5 và 10A4, trường THPT Hoàng Cầu, Hà Nội.
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích đề ra, tác giả đi sâu vào giải quyết nhữngnhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những lí luận cơ bản về di tích, phương pháp sử dụng và sựcần thiết của các di tích trong dạy học lịch sử, đặc biệt là lịch sử dân tộc
- Tìm hiểu về Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là cơ sởcho việc lựa chọn những nội dung phục vụ dạy học Lịch sử Việt Nam từ nguồngốc đến giữa thế kỉ XIX (Chương trình chuẩn) ở trường THPT
- Tìm hiểu nội dung chương trình Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đếngiữa thế kỉ XIX (Chương trình chuẩn) để xác định những sự kiện cơ bản có liênquan đến Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long
Trang 13- Xác định hình thức, biện pháp sư phạm để khai thác và sử dụng Khu ditích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam từnguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm địnhtính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Là lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác giáo dục, nghiên cứu giáo dục,nghiên cứu Lịch sử, văn hoá…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu đó là phương pháp lịch sử
và phương pháp logic
Ngoài ra, tác giả sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ như: phươngpháp so sánh, đối chiếu, thống kê, thực nghiệm, tổng hợp, …
6 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Longtrong dạy học Lịch sử ở trường THPT còn nhiều bất cập và hạn chế Nếu vậndụng linh hoạt các biện pháp sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành ThăngLong theo khoá luận đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy môn Lịch sử ởtrường THPT
7 Đóng góp của đề tài
Nếu thực hiện đủ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sẽ góp phần:
- Khẳng định giá trị của việc sử dụng di tích nói chung và Khu di tíchtrung tâm Hoàng thành Thăng Long nói riêng trong dạy học Lịch sử
- Xác định những nội dung kiến thức Lịch sử có thể sử dụng Khu di tíchtrung tâm Hoàng thành Thăng Long
- Đề xuất các hình thức và phương pháp sử dụng Khu di tích trung tâmHoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử
Trang 148 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: góp phần làm phong phú lí luận và phương pháp dạyhọc Lịch sử nói chung, vấn đề sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: đề tài này là một tư liệu tham khảo bổ ích cho giáoviên, giúp giáo viên có thể sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử một cách hiệuquả
9 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khoá luận gồm
Trang 15Từ khi xuất hiện trên Trái đất, con người đã lao động, sinh hoạt, đấutranh, xây dựng cuộc sống, … Với những hoạt động đó, loài người đã tạo ranhiều giá trị văn hoá vật chất và tinh thần Những di tích còn lại là kết tinh củanhững giá trị đó Di tích còn bao gồm những hiện vật như: nhà cửa, thành quách,
y phục, công cụ lao động, lăng mộ,
Thông qua các di tích, thế hệ sau có thể tiếp thu, nghiên cứu, hiểu biết vềcuộc sống, về những thành tựu của quá khứ Di tích được phân loại thành: ditích lịch sử văn hoá, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, di tích thắngcảnh
1.1.1.2 Di tích lịch sử
Di tích lịch sử là những di tích phản ảnh hoạt động, đời sống kinh tế, xãhội, văn hoá của con người qua các thời đại Bất cứ thời đại nào, trình độ nàocũng đều được phản ánh khá rõ trong các di tích lịch sử Di tích lịch sử là mộtloại của dấu vết lịch sử được lưu lại đến ngày nay, nó cho thấy những hoạt độngkinh tế, văn hoá, xã hội, phong tục tập quán của con người qua các thời kì lịch
sử Di tích lịch sử còn là nơi lưu niệm, tưởng nhớ các nhân vật lịch sử, các anh
Trang 16hùng dân tộc trong những cuộc kháng chiến chống xâm lược, chống thiên tai,
các danh nhân văn hoá, …Như vậy, có thể nói, di tích lịch sử “gắn liền, phản
ánh, ghi nhận, minh chứng một sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc biệt là những sự kiện lịch sử lớn, quan trọng”.[11;13]
1.1.1.3 Di tích lịch sử - văn hoá
Di tích lịch sử - văn hoá được định nghĩa theo pháp lệnh bảo vệ và sử
dụng di tích lịch sử - văn hoá của nước ta ban hành ngày 4/4/1984 như sau:“di
tích lịch sử - văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá
xã hội”.[11;5]
Di tích lịch sử - văn hoá là một trong những di sản vật chất quí báu màlịch sử để lại Chúng có ý nghĩa đối với con người như: truyền bá kiến thức khoahọc, tìm hiểu lịch sử, giáo dục truyền thống, tham quan du lịch
Theo nội dung mà các di tích phản ánh, người ta lại phân loại các di tíchlịch sử-văn hoá thành nhiều loại nhỏ hơn:
-Loại di tích ghi dấu dân tộc học
-Loại di tích ghi dấu những sự kiện chính trị quan trọng tiêu biểu có ýnghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương
-Loại di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược
-Loại di tích ghi dấu những kỉ niệm của các anh hùng dân tộc, danh nhânvăn hoá
-Loại di tích ghi dấu sự vinh quang lao động
-Loại di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến
Như vậy, kho tàng di tích nói chung và các di tích lịch sử - văn hoá nóiriêng vô cùng phong phú và đa dạng Đó là nơi ẩn giấu những giá trị văn hoá,lịch sử của loài người; là sản phẩm của các thế hệ trước để lại hoặc các thế hệsau tạo dựng lên để tưởng nhớ về các thế hệ đi trước
1.1.1.4 Di tích Quốc gia Đặc biệt
Trang 17Di tích được phân chia thành nhiều cấp bậc khác nhau: di tích cấp tỉnh, ditích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt Di tích quốc gia đặc biệt là những
di tích Việt Nam có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Di tích quốc gia đặcbiệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng trên cơ sở lựa chọn các di tíchquan trọng đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích quốcgia Hiện nay, tất cả nước ta có 69 di tích quốc gia đặc biệt trong đó Hà Nội có
10 di tích đó là: di tích kiến trúc nghệ thuật đình Tây Đằng, di tích lịch sử vàdanh lam thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn, di tích lịch sử và kiếntrúc nghệ thuật đền Phù Đổng, di tích lịch sử đền Hát Môn, di tích lịch sử đềnHai Bà Trưng, di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ Cổ Loa, di tíchlịch sử và kiến trúc nghệ thuật Văn Miếu – Quốc Tử Giám, di tích lịch sử vàkiến trúc nghệ thuật Cố đô Hoa Lư, di tích lịch sử và khảo cổ Hoàng thànhThăng Long – Hà Nội, di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tạiPhủ Chủ tịch
1.1.1.5 Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long có diện tích 20ha Cụm ditích này được bao bọc bởi 4 con đường: phía bắc là đường Phan Đình Phùng,phía nam là đường Điện Biên Phủ, phía đông là đường Nguyễn Tri Phương vàphía tây là đường Hoàng Diệu
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thànhThăng Long Hà Nội Công trình này được xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch
sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam
những dấu vết kiến trúc độc đáo cùng hàng triệu hiện vật quí giá đã phần nào táihiện quá trình lịch sử trải dài từ thời Bắc thuộc đến các triều đại: Lý, Trần, Lê,Mạc, Nguyễn
Ngày 1/8/2010, Uỷ ban di sản thế giới đã thông qua Nghị quyết côngnhận Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hoá thế giới
Trang 18Di sản thế giới là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia được Tổchức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận vàquản lí Di sản thế giới gồm cả ba loại hình: di sản thiên nhiên thế giới, di sảnvăn hóa thế giới, di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên thế giới Trong các hệthống danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá và lâu đờinhất.
Việt Nam hiện tại có 8 di sản thế giới trong đó có: 5 di sản văn hóa, 2 di sản tựnhiên và 1 di sản hỗn hợp Các di sản thế giới của Việt Nam bao gồm: vườnquốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long, quần thể di tích cố đô Huế, phố
cổ Hội An, thánh địa Mĩ Sơn, Di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàngthành Thăng Long – Hà Nội, thành nhà Hồ, quần thể danh thắng Tràng An Đặcđiểm của các di sản Việt Nam là: các di sản đều nằm ở phía Bắc (từ Quảng Namtrở ra), các di sản thiên nhiên thế giới đều liên quan đến hang động (Vịnh HạLong, Quần thể danh thắng Tràng An, Vườn quốc gia Phong Nha), các di sảnvăn hóa thế giới đều liên quan đến các kinh đô cổ của Việt Nam (di tích lịch sử
và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, quần thể danhthắng Tràng An và thành nhà Hồ, Quần thể di tích cố đô Huế) Quần thể danhthắng Tràng An là di sản thế giới hỗn hợp duy nhất ở Việt Nam
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận là di sảnthế giới dựa trên ba tiêu chí Thứ nhất, những di tích trên mặt đất và trong lòngđất của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là minh chứng đặc sắc
về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bênngoài Thứ hai, khu di tích này còn là minh chứng về truyền thống văn hóa lâuđời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt 13 thế kỉ và vẫn được tiếpnối cho đến ngày nay Thứ ba, khu di tích cũng là biểu hiện rõ nét về một di sản
có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử một quốc gia vùngĐông Nam Á trong mối quan hệ khu vực và thế giới
Trang 191.1.2 Ưu thế của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long có ba đặc điểm nổi bật:chiều dài lịch sử văn hoá, tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâmquyền lực và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú
Năm 2002, các chuyên gia khảo cổ đã tiến cuộc khai quật lớn nhất ViệtNam và Đông Nam Á đã phát lộ những dấu tích của Hoàng thành Thăng Longtrong suốt 13 thế kỉ với những di tích và tầng văn hoá xếp chồng lên nhau Khukhai quật nằm về phía tây của điện Kính Thiên trong Hoàng thành thời Lê sơ.Đây là di tích của một phần phía Tây Hoàng Thành thời Lý, Trần, Lê sơ, Mạc,
Lê trung hưng thế kỉ XI – XVIII, ngược lên thành Đại La thế kỉ VII – IX và kéodài đến thành Hà Nội thế kỉ XIX
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là trung tâm quyền lựcnối tiếp nhau của Việt Nam trong hơn một nghìn năm lịch sử, là minh chứng cómột không hai về sự phát triển của nền văn minh dân tộc trong tiến trình lịch sửcủa nhà nước quân chủ vùng Đông Nam Á và Đông Á Những giá trị nổi bật củakhu di tích không chỉ thể hiện ở những di tích, di vật hiện hữu được phát lộ màcòn lắng đọng ở chiều sâu văn hoá phi vật thể và những giá trị tinh thần đượcbồi đắp qua nghìn năm lịch sử Trong hơn một thiên niên kỉ, đây là nơi giao thoacác giá trị nhân văn, nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật kiến trúc, kĩ thuật xâydựng, qui hoạch đô thị và nghệ thuật tạo dựng cảnh quan độc đáo Tác giả Phan
Huy Lê từng nhận xét: “Khu di tích cùng các tầng văn hoá mở ra trước mặt mọi
người như một bộ sử bằng di tích, di vật cụ thể, đa dạng, giàu tính biểu đạt của một vùng trung tâm của Cấm thành Thăng Long” [32]
Với ý nghĩa đặc biệt như trên, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng
có ưu thế lớn trong dạy học Lịch sử ở trường THPT Đến với di tích này, họcsinh sẽ được tìm hiểu về lịch sử dân tộc, lịch sử Hà Nội qua những giai đoạnkhác nhau Khu di tích không chỉ cung cấp những tri thức về các sự kiện lịch sử
mà còn về các thành tựu văn hoá, nghệ thuật của dân tộc từ nguồn gốc đến giữa
Trang 20thế kỉ XIX Thêm nữa, học sinh còn có cơ hội tiếp thu nhiều kiến thức về cácngành khác ngoài Lịch sử như: kiến trúc, điêu khắc, làm gốm, …Bên cạnh đó,các em cũng sẽ được tham quan ngắm cảnh tại khu di tích và trải nghiệm vềcông việc khai quật của những nhà khảo cổ học Điều này tạo nên sự hứng thúhọc tập bộ môn Lịch sử Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long có vaitrò giáo dục học sinh về truyền thống dân tộc, về ý thức bảo tồn di sản, về thẩm
mĩ và nghệ thuật
1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
1.1.3.1 Mục tiêu của bộ môn
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử được xây dựng dựa trên cơ sở lí luận vàthực tiễn, tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục phổ thông vàthông qua chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng của môn học và nhiệm vụ cụ thể củađất nước trong những hoàn cảnh cụ thể
Luật giáo dục được thông qua ngày 25/11/2001 đã nêu: “Mục tiêu của
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”[16;66]
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử được xây dựng theo mục tiêu giáo dục, mụctiêu của từng cấp học và quan điểm, đường lối của Đảng về sử học và giáo dục.Đồng thời, mục tiêu môn học cũng phụ thuộc vào nội dung và đặc trưng củahiện thực lịch sử cũng như yêu cầu của cách mạng hiện nay
Cụ thể, mục tiêu của môn Lịch sử đối với trường phổ thông là “giúp học
sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội”.[16;67]
Trang 21Như vậy, mục tiêu của môn Lịch sử không chỉ là hình thành kiến thức màcòn định hướng thái độ và phát triển năng lực cho học sinh Việc sử dụng Khu ditích trung tâm Hoàng thành Thăng Long sẽ đáp ứng mục tiêu ấy.
1.1.3.2 Đặc trưng của tri thức lịch sử
Để xác định đúng đắn các biện pháp sư phạm nhằm giúp học sinh nắmvững kiến thức lịch sử, giáo viên cần hiểu rõ những đặc trưng riêng của tri thứclịch sử
Đặc trưng của tri thức Lịch sử là tính quá khứ Tất cả những sự kiện vàhiện tượng Lịch sử được chúng ta nhắc đến đều đã xảy ra Vì vậy, chúng takhông thể trực tiếp quan sát lịch sử mà phải nhận thức gián tiếp thông qua cáctài liệu tuy nhiên các tài liệu này thường không thống nhất vì chúng được nhậnthức bằng những quan điểm khác nhau Điều đó đòi hỏi mỗi người cần có khảnăng suy luận, phân loại, đánh giá, tư liệu
Tính không lặp lại của tri thức lịch sử là sự không lặp lại về thời gian vàkhông gian Mỗi sự việc lại diễn ra trên một không gian và thời gian khác nhau.Không có sự kiện, hiện tượng nào giống nhau; dù có điểm giống nhau cũngkhông phải lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển
Tính cụ thể của lịch sử thể hiện ở sự cụ thể về tiến trình lịch sử của cácdân tộc khác nhau Mỗi quốc gia mang những đặc điểm riêng mặc dù đều cùngtuân thủ theo những quy luật chung của sự phát triển của loài người Lịch sửcàng cụ thể bao nhiêu càng hấp dẫn bất nhiêu
Tính hệ thống: nội dung tri thức lịch sử rất đa dạng, đề cập đến mọi mặtcủa đời sống xã hội Tuy nhiên các tri thức đó rất phức tạp và có mối liên hệchằng chịt với nhau Điều đó yêu cầu người giáo viên phải chú ý đến quan hệgiữa các sự kiện lịch sử để cung cấp cho học sinh những kiến thức mang tính hệthống, hoàn chỉnh, có logic và dễ hiểu
Tính thống nhất giữa “sử và luận”: đó là sự thống nhất giữa tính giai cấpcủa giai cấp vô sản và tính khoa học của lịch sử Điều đó đòi hỏi người giáo viênluôn phải kết hợp giữa trình bày sự kiện và giải thích bình luận; đảm bảo sự
Trang 22thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng của việc dạy học theo chủ nghĩaMác-Lê, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Với những đặc trưng trên của tri thức lịch sử thì việc sử dụng đồ dùngtrực quan nói chung, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long nói riêng
là cơ sở để hình thành tri thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1.3.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh
Quá trình nhận thức của học sinh là việc phản ánh thế giới khách quan
vào ý thức học sinh Quá trình đó diễn ra theo qui luật “từ trực quan sinh động
đến tư duy trìu tượng, từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn.”[16;35]
Về nội dung, học sinh có khả năng phản ánh đúng bản chất và những quiluật của thế giới khách quan; về hình thức, mỗi học sinh có cách phản ánh riêngmình, có cách xây dựng những khái niệm và cấu trúc logic của riêng mình Quátrình nhận thức của học sinh không phải là tìm ra cái mới mà là tiếp thu kiếnthức của loài người cho bản thân mình
Ở lứa tuổi THPT, học sinh đã trưởng thành về nhận thức Đặc trưng nổibật ở các em là niềm tin, ý thức đạo đức thể hiện ở trình độ và tính tích cực hoạtđộng của tư duy và thái độ với công việc chứ không thể hiện ở kiến thức nhiềuhay ít Cũng trong độ tuổi này, tư duy của học sinh có đặc điểm: một là cố gắngtiếp xúc với mọi người để mà học tập, rèn luyện, kiểm tra nhận thức; hai là thểhiện kết quả đó theo suy nghĩa, tình cảm, hoạt động của riêng mình Đặc biệt, ởlứa tuổi này, học sinh cũng có những suy nghĩ chín chắn hơn, tư duy ở mức độcao hơn, có sự quan sát sâu sắc và nhạy bén Học sinh cũng rất tò mò và có sởthích khám phá
1.1.3.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Vấn đề đổi mới giáo dục cũng như đổi mới phương pháp dạy học là yêucầu cấp thiết nhằm đáp ứng xu thế dạy học theo hướng phát triển năng lực củathế giới ngày nay
Các tài liệu, văn kiện của Đảng và Chính phủ đều nhấn mạnh phải “lấyngười học làm trung tâm”, “áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại phù
Trang 23hợp với thực tiễn Việt Nam để bồi dưỡng năng lực tư duy, giải quyết vấn đề”.Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 cũng chỉ rõ việc đổi mới phương phápgiáo dục phải chuyển từ truyền đạt kiến thức thụ động thầy giảng trò ghi sanghướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạyngười học phương pháp tự học, có tư duy sáng tạo.
Luật giáo dục (sửa đổi năm 2010) có ghi: “Phương pháp dạy học phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh.”[28;24]
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Đối với các em bậc trung học,
điều cốt yếu cũng là điều quan trọng có tầm cỡ rộng lớn và sâu xa là tránh tham lam, nhồi nhét, tránh lối học vẹt, chỉ cần học thuộc lòng điều thầy giảng đến lúc trả bài thì trả lại cho thầy Trái ngược hẳn với phương pháp trên là phương pháp dạy người học suy nghĩ, tìm tòi, hiểu rộng hơn điều thầy nói, mở rộng tư duy và nghị lực sáng tạo của người học”.[28;25]
Nghị định số 29 năm 2013 “Về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và
đào tạo đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” và Chương trình
giáo dục phổ thông mới năm 2017 đã xác định: bản chất của đổi mới phươngpháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông là chuyển từ mô hình lấy giáo viên làmtrung tâm sang lấy học sinh làm trung tâm Chuyển mục tiêu dạy học từ trang bịkiến thức đến phát triển năng lực và phẩm chất Theo đó, nội dung, chương trìnhSách giáo khoa, hình thức, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá cũng thayđổi theo
Thực chất, việc đổi mới phương pháp dạy học không phải là thay đổi mụctiêu, xóa bỏ các kinh nghiệm quí giá mà các thể hệ trước đúc kết mà là làm chomục tiêu ấy được thực hiện hiệu quả, thiết thực hơn
Như vậy, từ những cơ sở xuất phát trên, một lần nữa có thể khẳng địnhrằng: việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là phù hợp
Trang 24với mục tiêu, đặc trưng của bộ môn; đặc điểm nhận thức của học sinh và yêu cầuđổi mới giáo dục.
1.1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long đối với dạy học lịch sử
1.1.4.1 Ý nghĩa đối với việc hình thành kiến thức
Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn Lịch sử đó là kiến thức của bộ mônđều thuộc về quá khứ, học sinh không được tiếp cận trực tiếp với những tri thức
đó, vì vậy, nguyên tắc sử dụng đồ dùng trực quan là một nguyên tắc cơ bảntrong dạy học Lịch sử Bởi lẽ, lời nói có vai trò quan trọng giúp học sinh hình
thành biểu tượng và khái niệm lịch sử nhưng “lời nói là cái vỏ ngoài, sự vật là
cái hột ở trong”[16;30] lời nói có cụ thể và hấp dẫn đến đâu cũng không thể
chân thực bằng những hiện vật mà học sinh nhìn thấy, sờ thấy tận mắt Thêmvào đó, ngày nay, trình độ khoa học ngày càng phát triển nên việc ra đời nhiềuphương tiện trực quan sinh động hiện đại là một điều tất yếu Tuy nhiên, nhữngphương tiện hiện đại đó vẫn không phải là “dấu vết” của quá khứ nên không thểthay thế vai trò của những hiện vật đang được lưu giữ lại trong di tích
Sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long góp phần tạo ra
một “khung cảnh lịch sử”[11;8] sinh động nhằm tạo biểu tượng cụ thể cho học sinh về các sự kiện và khắc phục tình trạng “hiện đại hoá” lịch sử của học sinh Cũng như những môn học khác, việc nhận thức lịch sử phải đi từ “trực quan
sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn”[16;20],
học sinh phải được quan sát, nhận thức từ cụ thể thì mới có thể hình thành kháiniệm, nắm được bản chất, qui luật của sự kiện và cuối cùng học sinh vận dụngnhững tri thức đó là thực tiễn
Thăm quan khu di tích, học sinh còn có cơ hội được tích hợp nhiều trithức của các môn học khác bên ngoài môn Lịch sử như: văn học; khoa học tựnhiên; địa lý; đặc biệt là những kiến thức về thẩm mĩ
Ví dụ: Khi dạy bài 17 “Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước
phong kiến (từ thế kỉ X đến thế kỉ XV)”, phần II.1 “Tổ chức bộ máy nhà nước”,
Trang 25giáo viên có thể minh hoạ cho sự kiện năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa
Lư về Thăng Long (Hà Nội) bằng cách sử dụng tư liệu viết về khu di tích trung
tâm Hoàng thành Thăng Long Đoạn tư liệu lấy từ cuốn “Hoàng thành Thăng
Long Hà Nội” của Viện khảo cổ học, Nxb Văn hoá thông tin Hà Nội, 2006:
“Mùa thu năm Canh Tuất (1010), vua Lý Công Uẩn khi lên ngôi đã hạ Chiếu dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên là Thăng Long Kể từ đó, Thăng Long trở thành kinh đô được xây dựng và phát triển phồn thịnh qua nhiều thế kỉ.
Toàn bộ dấu ấn về diện mạo kinh đô Thăng Long thửo đó dường như không còn trên mặt đất Các nhà khảo cổ học đã dày công đi tìm quá khứ của kinh đô dưới lòng đất và công cuộc tìm kiếm ấy đã diễn ra từ vài thập kỷ trước.
Công cuộc khai quật khảo cổ Hoàng thành Thăng Long đã cho phép rút
ra những nhận định khoa học quan trọng Trong nhiều hố khai quật đã tìm thấy các dấu tích kiến trúc và di vật thuộc thời Lý – Trần – Lê nằm chồng lên các di tích kiến trúc và di vật thời Tống Bình – Đại La (thế kỉ VII – IX) Điều đó minh chứng rất rõ lời của vua Lý Thái Tổ trong Chiếu dời đô đã nói tới việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đặt tên kinh đô là Thăng Long.”
Việc sử dụng đoạn tư liệu trên sẽ giúp học sinh có cái nhìn đầy đủ và toàndiện về việc vua Lý dời đô và xây dựng kinh đô của mình ở đâu, như thế nào.Các em sẽ biết được rằng ngày nay, kinh đô của nhà Lý có còn tồn tại haykhông Cũng từ đó, học sinh sẽ biết tới Khu di tích trung tâm Hoàng thànhThăng Long và khắc sâu thêm sự kiện năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô
1.1.4.2 Ý nghĩa đối với việc hình thành kĩ năng
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là một kho tàng quí hiếm,hầu như giữ được nguyên trạng với khối lượng lớn tài liệu, hiện vật Khi đưahọc sinh tiếp cận Khu di tích, học sinh sẽ được tiếp xúc với nguồn tư liệu gốc đadạng, phong phú Từ đó, học sinh hình thành kĩ năng thu thập và xử lí thông tincũng như kĩ năng đánh giá, giải thích Khi học sinh tìm hiểu về khu di tích, họcsinh sẽ nảy sinh nhiều thắc mắc, nhiều suy nghĩ và học sinh cần đi tìm lời giải
Trang 26đáp Vì vậy, học sinh hình thành thêm kĩ năng tư duy lịch sử và kĩ năng xác địnhmối liên hệ logic giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Đặc biệt, khi được tiếp cận trực tiếp với các hiện vật học sinh sẽ phát triểnkhả năng quan sát, trí tưởng tượng Từ những gì thu thập được sau khi học tậptại di tích, học sinh có thể rèn luyện kĩ năng trình bày lịch sử; tái hiện sự kiệnlịch sử, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ,
Ví dụ: Khi giáo viên tiến hành dạy học bài 20 “Xây dựng và phát triển
văn hóa dân tộc trong các thế kỉ X – XV” ngay tại khu di tích trung tâm Hoàng
thành Thăng Long, giáo viên vừa đưa học sinh tham quan di tích, vừa thuyếttrình cho học sinh về văn hoá dân tộc từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Bên cạnh thuyếttrình, giáo viên còn đặt các câu hỏi để học sinh suy nghĩ, thảo luận, giải quyếtnhiệm vụ giáo viên đặt ra Từ đó, học sinh sẽ hình thành những kĩ năng như: thuthập và xử lí thông tin, quan sát, miêu tả, tường thuật, so sánh, phân tích, đánhgiá, … Đặc biệt, học sinh có thêm kiến thức về kĩ năng khai quật khảo cổ tại khu
di tích
1.1.4.3 Ý nghĩa đối với việc bồi dưỡng thái độ, tư tưởng, tình cảm
Bên cạnh nhiệm vụ giáo dưỡng (bổ sung, củng cố, kiểm tra kiến thứckhoa học) môn Lịch sử còn có nhiệm vụ giáo dục, đó chính là việc hình thànhthái độ, tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho người học
Trước hết, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long có khả năngnâng cao chất lượng dạy và học lịch sử, gây hứng thú cho học sinh Trước thựctrạng học sinh ngày càng sợ Sử, chán học Sử, không muốn thi môn Sử thì việc
sử dụng di tích lịch sử như là đưa luồng gió mới vào việc dạy học Lịch sử tránhgây nhàm chán và khơi dậy niềm yêu thích ham mê lịch sử trong các em Vìvậy, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long như cầu nối giữa quá khứvới hiện tại, đưa học sinh sống lại một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc, từ
đó tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, thái độ của các em đối với nhữngtrang sử hào hùng đó
Trang 27Đến với Di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, học sinh sẽ biết trântrọng những giá trị văn hoá, lịch sử của khu di tích quan trọng này Học sinh sẽbiết ơn công lao của các thế hệ đi trước đã gây dựng nên những di tích, di vật tạiHoàng thành Thăng Long cũng như công lao của những nhà khảo cổ học đã khaiquật tại khu di tích Học sinh cũng sẽ cảm thấy căm phẫn trước hành động pháhuỷ khu di tích này của chính quyền thực dân Pháp và Mĩ Đồng thời các em sẽ
tự hào về công trình kiến trúc Hoàng thành Thăng Long cũng như những di sảnvăn hoá còn được lưu giữ tại khu di tích Đặc biệt, học sinh sẽ có thái độ đánhgiá khách quan về những chính sách cai trị của phong kiến phương Bắc tại ViệtNam thông qua các di vật được tìm thấy tại Hoàng Thành từ thời Cao Biền (nhàĐường) thống trị tại thành Đại La
Thêm vào đó, khi thực hiện học tập Lịch sử tại khu di tích, học sinh sẽđược rèn luyện ý thức bảo vệ các di sản văn hoá của dân tộc Học sinh là mộtlực lượng đông đảo, là tương lai của đất nước, có kiến thức và nhu cầu sử dụngcác di tích Vì vậy, cần hình thành và bồi dưỡng ý thức bảo vệ, giữ gìn di tíchlịch sử bằng nhiều biện pháp khác nhau trong đó có hình thức dạy học lịch sử tạikhu di tích Học sinh đi tới đó, các em sẽ không khỏi bất bình trước những hànhđộng phá hoại khu di tích Và với việc hiểu được những ý nghĩa to lớn của khu
di tích, các em sẽ biết trân trọng những di sản văn hoá của dân tộc
Ví dụ: Khi giáo viên tổ chức buổi ngoại khoá: “Tìm hiểu Khu di tích
trung tâm Hoàng thành Thăng Long”, giáo viên yêu cầu học sinh đóng vai là
nhà tuyên truyền để nói về sự cần thiết phải bảo tồn khu di tích này, từ đó các
em sẽ được bồi dưỡng về sự tôn trọng giá trị của khu di tích Học sinh sẽ biếtđánh giá khách quan về khu di tích cũng như có ý thức giữ gìn bảo vệ di tích
1.1.4.4 Định hướng phát triển năng lực
Khi sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạyhọc Lịch sử, giáo viên sẽ kết hợp sử dụng loại tư liệu này với nhiều phươngpháp khác nhau như: thuyết trình, kể chuyện, đóng vai, tranh luận,….Từ đó, sẽgiúp các em phát triển nhiều kĩ năng Khi các kĩ năng trở nên thuần thục thì học
Trang 28sinh sẽ phát triển các năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt của mônLịch sử Trong đó, các năng lực chung cần hình thành cho học sinh bao gồm:Năng lực tự học, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, Năng lực giao tiếp,Năng lực hợp tác, Năng lực sử dụng công nghệ thông tin, Năng lực tính toán,Năng lực thẩm mĩ, Năng lực thể chất Các năng lực riêng cần hình thành chohọc sinh trong dạy học Lịch sử là: Năng lực tái hiện quá khứ Lịch sử, Năng lựcthực hành bộ môn, Năng lực vận dụng kiến thức Lịch sử vào cuộc sống, Nănglực tư duy Lịch sử, Năng lực giải quyết vấn đề.
Ví dụ: giáo viên có thể đưa học sinh tới Khu di tích trung tâm Hoàng
thành Thăng Long, để thu thập thông tin cho dự án “Văn hoá, nghệ thuật Việt
Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX” Dự án gồm bốn tiểu chủ đề:
+ Tiểu chủ đề 1: Văn hoá, nghệ thuật thời Lý
+ Tiểu chủ đề 2: Văn hoá, nghệ thuật thời Trần
+ Tiểu chủ đề 3: Văn hoá, nghệ thuật thời Lê sơ
+ Tiểu chủ đề 4: Văn hoá, nghệ thuật thời Nguyễn
Sau khi thu thập thông tin từ Khu di tích trung tâm Hoàng thành ThăngLong và hoàn thành sản phẩm dự án, học sinh sẽ phát triển năng lực thu thập và
xử lí thông tin, năng lực giải quyết vấn đề
Như vậy, với tất cả những ý nghĩa được phân tích trên đây, chúng tôikhẳng định rằng: việc dạy học Lịch sử tại khu di tích có vai trò quan trọng trongviệc hình thành kiến thức, phát triển kĩ năng và giáo dục nhân cách cho người
học Di tích lịch sử là nguồn tư liệu quí, là “cửa sổ mở ra cho thấy hoạt động
lịch sử”[23;32], là mảnh ghép còn sót lại về một quá khứ hào hùng của dân tộc.
Vì vậy, V.I.Lenin đã chỉ rõ: “Bảo tàng, di tích phải thực hiện chức năng của
nhà nước là giáo dục cũng như mọi cơ quan giáo dục khác”[23;32].
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để nắm bắt thực trạng sử dụng di tích nói chung và sử dụng Khu di tíchtrung tâm Hoàng thành Thăng Long nói riêng trong dạy học Lịch sử Tác giả đãtiến hành điều tra khảo sát giáo viên và học sinh tại các trường sau: trường
Trang 29THPT Yên Hoà, trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam, trường THPTMarie Curie, trường THPT Hoàng Cầu Tác giả đã khảo sát được 9 giáo viên và
160 em học sinh thông qua hình thức phát phiếu điều tra Kết quả khảo sát nhưsau:
1.2.1 Thực trạng việc sử dụng di tích trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT
1.2.1.1 Về phía giáo viên
Khi được hỏi về nội hàm khái niệm “di tích quốc gia đặc biệt”, “di sảnvăn hoá thế giới”, 80% giáo viên đều nắm được những khái niệm này 100%giáo viên khẳng định việc sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử là có ý nghĩakhông chỉ về kiến thức mà còn về kĩ năng và thái độ Bởi lẽ, di tích là nguồn tưliệu gốc, là bằng chứng về quá khứ, di tích có tác dụng giáo dục sâu rộng vàgiúp học sinh hình thành kiến thức, kĩ năng
Tuy nhiên, về mức độ sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử thì chỉ cókhoảng 23% giáo viên sử dụng thường xuyên còn 77% giáo viên chỉ thỉnhthoảng mới dùng Về phương pháp, các giáo viên đều lựa chọn những phươngpháp dạy học tích cực như: đóng vai, tranh luận, để sử dụng di tích Các giáoviên chủ yếu sử dụng di tích ở hình thức dạy học ngoại khoá (85%) còn dạy họcnội khoá trên lớp và ngoài lớp thì tỉ lệ ít hơn (15%)
Về nội dung nào phù hợp để sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử, giáoviên đề xuất nhiều nội dung khác nhau trong chương trình bộ môn Lịch sử cóthể sử dụng tư liệu di tích như: 30% giáo viên chọn giai đoạn Lịch sử Việt Nam
từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX, 25% giáo viên chọn giai đoạn Lịch sử ViệtNam từ 1930 đến 1945, 40% giáo viên chọn giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ 1954đến 1975, còn 5% đề xuất các giai đoạn khác của Lịch sử Việt Nam…
Như vậy, có thể thấy rằng, giáo viên THPT tại Hà Nội đều hiểu rõ về ditích quốc gia đặc biệt, di sản văn hoá thế giới Giáo viên cũng đều thấy rằng việc
sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử là có ý nghĩa và cần thiết Tuy nhiên, họlại chỉ dùng di tích trong dạy học ngoại khoá theo kế hoạch của nhà trường chứ
Trang 30chưa thường xuyên sử dụng trong dạy học nội khoá Điều này xuất phát từnhững khó khăn về thời gian, vật chất và phương tiện đi lại hay những hạn chế
về phương pháp
1.2.1.2 Về phía học sinh
Qua tiến hành khảo sát tại một số trường THPT ở Hà Nội, tác giả đã nhậnđược kết quả khả quan khi có đến 60% học sinh trả lời là có yêu thích bộ mônLịch sử Và 90% học sinh cảm thấy hứng thú với việc học Lịch sử thông qua ditích
Các em cũng đánh giá được ý nghĩa của việc sử dụng di tích trong dạyhọc Lịch sử đó là không chỉ đem đến những kiến thức chân thực, sinh động màcòn góp phần giáo dục tư tưởng tình cảm và phát triển kĩ năng, năng lực cho họcsinh Các em trả lời 100% đã từng học lịch sử qua khu di tích Cụ thể, các emhọc Lịch sử tại các di tích như: Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại PhủChủ Tịch, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Pháo Đài Láng, Hoàng thành ThăngLong…Khi được hỏi về hình thức học Lịch sử qua khu di tích, học sinh đều trảlời muốn học thông qua việc giáo viên đưa tư liệu, học sinh được thảo luận sôinổi về tư liệu đó
Như vậy, có thể thấy rằng, việc sử dụng di tích thực sự tạo hấp dẫn và lôicuốn học sinh Các em học sinh cũng đã từng tham gia học Lịch sử thông quacác di tích song hiệu quả chưa cao xuất phát từ việc giáo viên chưa có phươngpháp giảng dạy thích hợp Vì thế, học sinh đều mong muốn được học tập Lịch
sử qua khu di tích bằng nhiều hình thức học hấp dẫn hơn
1.2.2 Thực trạng việc sử dụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long vào dạy học Lịch sử ở trường THPT
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long có ý nghĩa lịch sử đặcbiệt lớn lao mang tầm cỡ quốc tế Vậy thực trạng việc sử dụng Khu di tích vàodạy học Lịch sử ở trường THPT như thế nào?
Theo điều tra của tác giả tại các trường THPT ở Hà Nội, 100% giáo viên
và học sinh đều trả lời là Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã
Trang 31từng được đưa vào chương trình dạy học Lịch sử Tuy nhiên, chỉ 5% số ngườilàm khảo sát cho rằng di tích này đã được dạy học ở bài học nội khóa 95% sốngười trả lời là di tích này chỉ dừng lại ở việc tổ chức ngoại khóa tham quan,nhưng lại không phục vụ để củng cố kiến thức cũ hay liên quan đến kiến thứcmới mà chỉ là đi chơi và học sinh cũng không có thái độ học tập nghiêm túc thực
sự Như vậy vẫn còn rất nhiều vấn đề quan trọng và cần thiết chưa được khaithác ở Khu di tích này Khi được hỏi về từng điểm di tích trong Khu di tích thìhọc sinh không thể nắm rõ được những điểm di tích đó Ngoài ra, khi đến thamquan tại Khu di tích này, cán bộ tuyên truyền ở đây không giống như công việccủa một người giáo viên trên bục giảng, phương pháp giới thiệu còn mang tínhkhuôn mẫu, áp đặt và đem lại hiệu quả không cao Nhưng cần lưu ý rằng, chínhviệc đó sẽ khiến cho học sinh có những hiểu biết không đầy đủ và chân thực vềkhu di tích Như vậy, công tác tuyên truyền sẽ không đạt được hiệu quả giáo dụcnhư mong muốn Vì thế, giáo viên cần có biện pháp khai thác hiệu quả khu ditích này trong dạy học Lịch sử
Giáo viên và học sinh đều nêu lên những khó khăn trong việc sử dụng khu
di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử đó là tốn kémthời gian, khó khăn về tư liệu, khó khăn về phương tiện đi lại đến khu di tích,khó khăn về điều kiện vật chất,… Vậy, cần biết giảm bớt khó khăn thì việc sửdụng di tích sẽ diễn ra thuận lợi hơn
Tiểu kết: Việc sử dụng di tích vào trong dạy học lịch sử góp phần nâng
cao hiệu quả và chất lượng dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT, có vai tròđặc biệt quan trọng không chỉ trong việc hình thành kiến thức, rèn luyện các kĩnăng cho học sinh mà còn góp phần giáo dục nhân cách người học Vì thế, sửdụng Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong dạy học lịch sử ViệtNam là cần thiết và khả quan bởi đây là khu di tích lịch sử có ý nghĩa đặc biệtlớn lao đối với dân tộc Việt Nam và thế giới Tuy nhiên, hình thức và phươngpháp tổ chức, sử dụng khu di tích này còn nhiều hạn chế Giáo viên cần trang bị
Trang 32tốt lý luận và thực tiễn để có các biện pháp sử dụng khu di tích một cách phùhợp với từng nội dung bài học và điều kiện cụ thể.
Trang 33CHƯƠNG 2 HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG KHU DI TÍCH TRUNG TÂM HOÀNG THÀNH THĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX CHO
HỌC SINH THPT 2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung phần Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX)
2.1.1 Vị trí
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX chiếm nội dung chủyếu trong chương trình lịch sử Việt Nam lớp 10 cơ bản Đây là phần đặt sau nộidung “Lịch sử thế giới nguyên thủy, cổ đại và trung đại” và trước “Lịch sử thếgiới Cận đại”
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX gồm 4 chương với 16bài Ở phần này, học sinh được tìm hiểu lịch sử dân tộc từ thời khởi thủy chođến thời nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam Từ đó, các
em sẽ tái hiện được bức tranh toàn cảnh về lịch sử đất nước trên các mặt kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội cũng như thấy được sự phát triển của các vương triềuphong kiến Việt Nam, công cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ViệtNam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX Đặc biệt, học sinh hiểu về truyền thống yêunước của dân tộc Việt Nam
2.1.2 Mục tiêu
Sau khi học phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX,học sinh sẽ:
Học sinh cần nhận thức được những vấn đề cơ bản sau:
- Những dấu vết của người tối cổ trên đất nước Việt Nam, đời sống vàsinh hoạt của những cư dân đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam
- Các quốc gia cổ đại: Chăm pa, Chân Lạp, Phù Nam
- Thời gian, diễn biến, kết quả của những cuộc đấu tranh chống ngoạixâm từ thời nguyên thủy đến giữa thế kỉ XIX
Trang 34- Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các triều đại phongkiến Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX.
- Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam
Thông qua học tập phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉXIX, học sinh phát triển những kĩ năng sau:
- So sánh, phân tích, giải thích, đánh giá, … các sự kiện lịch sử
- Đọc bản đồ, lược đồ, biểu đồ, quan sát tranh ảnh, quan sát video clip,
Thông qua việc lĩnh hội kiến thức, giáo viên bồi dưỡng cho học sinh:
- Lòng tự hào về những thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nướccủa các triều đại phong kiến Việt Nam
- Sự phẫn nộ trước sự xâm lăng của các triều đình phong kiến phươngBắc đối với Việt Nam
- Sự biết ơn công lao của các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng đểbảo vệ Tổ quốc
- Ý thức bảo vệ những di sản, di tích mà ông cha đã gây dựng từ nhữngthế kỉ trước
- Học sinh sẽ phát triển những năng lực chung là: năng lực giao tiếp vàhợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, …
- Những năng lực chuyên biệt của bộ môn Lịch sử là: năng lực tái hiện
sự kiện lịch sử, năng lực trình bày vấn đề lịch sử, năng lực đánh giá, giải thíchvấn đề lịch sử, năng lực thực hành bộ môn…
2.1.3 Nội dung cơ bản
Phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX bao gồm 4 nộidung lớn:
Trang 35 Nội dung 1: Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỉ X
Dấu tích Người tối cổ được tìm thấy tại Việt Nam có niên đại từ 30 đến
43 vạn năm Sự hình thành và phát triển của công xã thị tộc được biểu hiện quacuộc sống của cư dân thuộc nền văn hoá Sơn Vi và văn hoá Hoà Bình – BắcSơn Vào thời nguyên thuỷ, cùng với sự phát triển của công cụ bằng kim loại,thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước, các quốc gia cổ đại đã hình thành
đó là: Văn Lang – Âu Lạc, Chăm-pa, Phù Nam Năm 179 TCN, nước Âu Lạc bịTriệu Đà xâm chiếm Cho đến năm 938, với chiến thắng Bạch Đằng của NgôQuyền mới mở ra thời đại độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc ta
kiến (thế kỉ X đến thế kỉ XV)
Thế kỉ X mở đầu thời đại độc lập của dân tộc Việt Nam Nhà nước quânchủ được thành lập và từng bước phát triển Năm 938, Ngô Quyền xưng vương,đóng đô ở Cổ Loa Năm 944, Ngô Quyền mất, đất nước “loạn 12 sứ quân”, Đinh
Bộ Lĩnh đem quân dẹp yên nội loạn, thống nhất đất nước Nhà Đinh và sau đó lànhà Tiền Lê đã xây dựng nên một nhà nước quân chủ sơ khai
Năm 1009, nhà Lý thành lập Từ thế kỉ XI đến XV, trải qua các triều đại
Lý, Trần, Hồ, Lê, nền chính trị, kinh tế, văn hoá Việt Nam đã có những bướcphát triển Bên cạnh công cuộc xây dựng đất nước, nhân dân cũng đồng thờiphải tiến hành những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
Cuộc khủng hoảng chính trị ở đầu thế kỉ XVI đã làm sụp đổ triều Lê sơ.Nhà Mạc ra đời chưa được bao lâu thì lại xảy ra chiến tranh Nam – Bắc triều vàtiếp theo là chiến tranh Trịnh – Nguyễn Cuối thế kỉ XVIII, một phong trào nôngdân bùng lên bắt đầu từ ấp Tây Sơn (Bình Định) đã thống nhất đất nước và đánhđuổi ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc Những biến động về kinh tế, chính trịcũng đã dẫn đến thay đổi về văn hoá, giáo dục, xã hội và ngoại thương
Trang 36Năm 1802, nhà Nguyễn thành lập Trong nửa thế kỉ thống trị, nhà Nguyễn
ra sức củng cố chính quyền, phục hồi kinh tế, chấn chỉnh văn hoá Tuy vậy, nhàNguyễn vẫn không tạo ra được cơ sở cho một bước phát triển mới Dưới thờinhà Nguyễn, cuộc sống nhân dân cơ cực, mâu thuẫn xã hội gay gắt gây nên hàngtrăm cuộc khởi nghĩa chống phong kiến kéo dài đến giữa thế kỉ XIX
Nội dung này đã tổng hợp, sơ kết về quá trình dựng nước và giữ nước, vềtruyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam Đây là một truyền thống cao quí,được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử và thấm đẫm vào cuộc sống của dântộc Việt
2.2 Khái quát cấu trúc, nội dung Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội bao gồm khukhảo cổ học 18 Hoàng Diệu và các di tích còn sót lại trong khu di tích Thành cổ
Hà Nội như Bắc Môn, Đoan Môn, Hậu Lâu, rồng đá điện Kính Thiên, nhà conrồng, nhà D67 và cột cờ Hà Nội
Thời kì nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, TốngBình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ, lần đầu tiên mảnh đất sau là kinhthành Thăng Long nắm giữ vai trò là trung tâm quyền lực của chính trị Năm
866, một viên tướng nhà Đường là Cao Biền xây dựng một thành trì mới, TốngBình được đổi tên thành Thành Đại La Đến cuối thế kỉ IX, nhà Đường suy yếu,Khúc Thừa Dụ chiếm thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ Năm 931, DươngĐình Nghệ đem quân từ Ái Châu ra Đại La, giải phóng thành và giành quyền tựchủ cho đất nước Năm 938, Ngô Quyền lại hạ thành Đại La sau đó xưng là NgôVương và về đóng đô tại Cổ Loa Đại La lúc này do Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ caiquản và tu sửa Hoàng thành quay về hướng nam
Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên kinhthành là Thăng Long, gấp rút tiến hành việc xây dựng kinh đô Năm 1011, việcxây dựng Kinh thành về cơ bản mới hoàn thành Sau đó, các vua Lý cũng từngnhiều lần tu sửa kinh thành Thăng Long Đến thời Lê, Lê Thái Tổ cũng đóng đô
Trang 37ở Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Kinh Từ năm 1490 đến thế kỉ XVI, kinhthành có nhiều thay đổi về kiến trúc và được mở rộng về diện tích Cho tới thờinhà Mạc, Đông Kinh lại chìm trong loạn lạc và nhiều lần bị tàn phá.
Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, kinh đô đặt tại Phú Xuân, những gì còn sót lạicủa Hoàng Thành lần lượt bị các đời vua Nguyễn chuyển vào Phú Xuân phục vụcho công cuộc xây dựng kinh thành mới Chỉ có Điện Kính Thiên và Hậu Lâuđược giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi Ngự giá Bắc Thành.Năm 1831, vua Minh Mạng đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội Sau đóngười Pháp lại thay đổi thành thành phố Hà Nội và chọn nơi đây thành thủ đôcủa Liên bang Đông Dương Thành Hà Nội cũng bị phá huỷ để làm cơ quan choPháp chỉ còn giữ lại những di chỉ mà chúng ta đã phục dựng tại Khu di tích ưtrung tâm Hoàng thành Thăng Long
Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên phía đông của thànhĐại La dưới thời Cao Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhàTrần, tiếp theo là một phần trung tâm của đông cung nhà Lê và trên cùng là mộtphần của trung tâm tòa thành tỉnh Hà Nội thế kỷ 19
Trang 38 Cột cờ Hà Nội
Cột cờ Hà Nội là di tích được xây dựng năm 1812 dưới triều Gia Long.Cột cờ cao 60 m, gồm có chân đế, thân cột và vọng canh Chân đế hình vuôngchiếm một diện tích là 2007 m² và gồm 3 cấp thóp dần lên Mỗi cấp đều cótường hoa với hoa văn bao quanh Từ mặt đất lên tới chân cấp thứ 2 phải leo 18bậc tại mặt phía Đông và mặt phía Tây Muốn từ cấp 2 lên cấp 3 cũng phải leo
18 bậc ở hai cửa hướng Đông và Tây Còn cấp thứ 3 có 4 cửa Đông, Tây, Nam,Bắc (với các tên "Nghênh húc" (Đón ánh nắng ban mai), "Hồi quang" (ánh nắngphản chiếu), "Hướng Minh" (hướng về ánh sáng)…) và từ cạnh dưới lên tớicạnh trên phải qua tới 14 bậc cầu thang
Đoan Môn là cửa vòm cuốn dẫn vào điện Kính Thiên Đoan Môn gồmnăm cổng xây bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn khoảng 1812 - 1814, triềuNguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn còn sừng sững) Năm 2002, giớikhảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan Môn đã tìm thấy “lối xưa
xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý Nếu khai quật tiếp, sẽ có thể
Trang 39thấy cả con đường từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên ở phía Bắc và cửa TâyNam thành Hà Nội.
Điện Kính Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể cácđịa danh lịch sử của thành cổ Hà Nội Điện Kính Thiên chiếm vị trí trung tâmcủa khu di tích Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới Cột Cờ Hà Nội,phía sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc, hai phía đông và tây có tường bao và mở cửanhỏ Dấu tích điện Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ
Trang 40 Nhà D67
Từ Tổng hành dinh - Nhà D67 Khu A Bộ quốc phòng, Bộ Chính trị vàQuân uỷ Trung ương đã đưa ra những quyết định lịch sử đánh dấu những mốcson của cách mạng Việt Nam Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, cuộcTổng tiến công năm 1972, tổng tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch HồChí Minh