MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2 3. Đối tượng, phạm vi, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ................ 3 3.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 3 3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 3 3.3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 4 3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4 4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .............................. 4 4.1. Cơ sở phương pháp luận ........................................................................... 4 4.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 4 5. Cấu trúc của khóa luận: ............................................................................... 5 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG CẤC ĐỊA ĐIỂM TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT ........ 6 1. Cơ sở lý luận ................................................................................................. 6 1.1. Quan niệm về biểu tượng lịch sử .............................................................. 6 1.1.2. Quan niệm biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện ............................... 7 1.1.3. Quan niệm về công nghệ thông tin ........................................................ 9 1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông ........ 10 1.2.1. Vai trò ................................................................................................... 10 1.2.2. Ý nghĩa .................................................................................................. 13 1.3. Yêu cầu sư phạm của việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS ở trường phổ thông .......................................... 15 1.3.1. Đảm bảo tính cơ bản ............................................................................ 15 1.3.2. Đảm bảo mục đích giáo dục cho học sinh............................................ 16 1.3.3. Đảm bảo mục đích phát huy tích tích cực, độc lập của học sinh........ 16 1.4. Cơ sở thực tiễn việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS ................................................................................... 18 1.4.1. Về phía giáo viên ................................................................................... 18 1.4.2. Đối với học sinh..................................................................................... 19 1.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế ......................................................... 19 CHƯƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT ĐỂ TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA ĐIỂM XẢY RA SỰ KIỆN TRONG DHLS VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1954 LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ................ 21 2.1. Vị trí, mục đích, nội dung nghiên cứu cơ bản của giai đoạn lịch sử Việt Nam 1945 - 1954 lớp 12 trung học phổ thông ............................................... 21 2.1.1. Vị trí ...................................................................................................... 21 2.1.2. Mục tiêu ................................................................................................ 21 2.1.3. Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 .............. 22 2.2. Hệ thống các địa điểm cần tạo biểu tượng cho học sinh trong giai đoạn (1945-1954) ..................................................................................................... 24 2.3. Một số biện pháp sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS giai đoạn (1945-1954 ). ................................................. 27 2.3.1 Sử dụng lược đồ có sự hỗ trợ của CNTT kết hợp với lời nói sinh động của giáo viên để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện. ........................ 27 2.3.2. Sử dụng tranh, ảnh, phim video có sự hỗ trợ của CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS giai đoạn (1945-1954). ....... 35 2.3.2.1. Sử dụng tranh, ảnh có sự hỗ trợ của CNTT kết hợp với tài liệu tham khảo để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS giai đoạn (1945-1954)...................................................................................................... 35 2.3.2.2. Sử dụng phim video có sự hỗ trợ của CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện .................................................................................. 41 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN PHỤ LỤC 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chúng ta biết rằng, quá trình DHLS trước hết là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức lịch sử của học sinh, tuân theo quy luật “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng...từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” nghĩa là, DHLS phải dựa trên cơ sở cung cấp, sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, rút ra quy luật, bài học lịch sử phục vụ cho thực tiễn cuộc sống. Hơn thế nữa do tri thức lịch sử mang những đặc điểm như: tính quá khứ, tính cụ thể, tính không lặp lại... Do vậy, việc học tập lịch sử không thể “trực quan sinh động” giống như những môn học tự nhiên khác mà phải từ việc nắm sự kiện để rồi tạo biểu tượng lịch sử là một khâu không thể thiếu được trong quá trình nhận thức lịch sử nói chung và nhận thức lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng. Như đã nói thì do đặc điểm của tri thức lịch sử thì việc tạo biểu tượng lịch sử là rất quan trọng. Trong đó loại biểu tượng về địa điểm nơi xảy ra sự kiện có ý nghĩa, vị trí quan trọng bởi sự kiện là cơ sở của tri thức lịch sử mà địa điểm là nơi diễn ra sự kiện đó, sẽ giúp cho học sinh hiểu đúng lịch sử, đi sâu vào bản chất của sự việc. Từ đó thấy được mối quan hệ giữa sự kiện với hoàn cảnh địa lí diễn ra sự kiện đó và với điều kiện tự nhiên, xã hội, con người…Tất cả những nhân tố đó đã tác động lẫn nhau, đồng thời góp phần vào nguyên nhân xảy ra các sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, phần nhiều các giáo viên chưa thực sự quan tâm nhiều tới việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung và biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử nói riêng, hoặc nếu có sử dụng thì lại chưa biết cách ứng dụng công nghệ thông tin mà chủ yếu vẫn là những cách dạy truyền thống. Vì vậy, mà hiện tượng học sinh bỏ những chi tiết lịch sử cơ bản và tình trạng nhàm chán trong học môn lịch sử vẫn là một bài toán khó cần có một lời giải đúng đắn. Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng ở lại việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện. Việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử sẽ giúp cho các em rèn luyện được kỹ năng khai thác tranh ảnh, bản đồ, lược đồ… Nắm được những hoàn cảnh về địa lý và để đạt được hiệu quả cao thì giáo viên phải biết lựa chọn, sử dụng, phương tiện trực quan, là phương tiện tư liệu dạy học có ưu thế hơn cả để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử. Song nó sẽ đạt kết quả cao khi giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử làm cho bức tranh lịch sử được dựng lại một cách chân thực và giàu hình ảnh sinh động. 2 Trong chương trình lịch sử lớp 12 (chương trình chuẩn) phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1945-1954 có vị trí quan trọng trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam với nội dung phong phú và những địa điểm diễn ra sự kiện lịch sử để tạo biểu tượng cho học sinh hình dung được bức tranh lịch sử sinh động của dân tộc, thời kỳ 1945-1954 có sự ứng dụng của công nghệ thông tin sẽ đạt hiệu quả cao hơn so với những phương tiện dạy học truyền thống, thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú cho học sinh làm cho bài học đạt kết quả cao. Từ những lý do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài : “Sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 lớp 12 trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)” làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn sẽ là hành trang của mình sau này khi bước lên bục giảng cũng là bước đầu đi sâu nghiên cứu của các biện pháp tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử. Hơn nữa, giải quyết vấn đề này sẽ là cơ sở vận dụng một cách có hiệu quả trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay. 2. Lịch sử vấn đề
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành được khoá luận này thì trong suốt quá trình thực hiện, dưới
sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của Cô Chu Mai Hương và sự nỗ lực của bản
thân Ngoài ra tôi còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Sử
- Địa, các cán bộ thư viện của Trường Đại học Tây Bắc cũng như gia đình và bạn bè
Tôi cám ơn chân thành và sâu sắc tới Cô giáo Chu Mai Hương, giảng viên khoa Sử- Địa - người đã động viên và khích lệ rất nhiều cùng toàn thể các thầy
cô trong khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn nhà trường, phòng thư viện Trường Đại học Tây Bắc, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Người thực hiện Đinh Thị Hương
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN
BĐTT : Bản đồ treo tường
CH : Câu hỏi CNTT : Công nhệ thông tin
ĐDTQ : Đồ dùng trực quan
ĐHSP : Đại học sư phạm ĐHQG : Đại học quốc gia
DH : Dạy học DHLS : Dạy học lịch sử
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
SGK : Sách giáo khoa NXB : Nhà xuất bản
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở TLTK : Tài liệu tham khảo
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
3.3 Mục đích nghiên cứu 4
3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Cơ sở phương pháp luận 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc của khóa luận: 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG CẤC ĐỊA ĐIỂM TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT 6
1 Cơ sở lý luận 6
1.1 Quan niệm về biểu tượng lịch sử 6
1.1.2 Quan niệm biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện 7
1.1.3 Quan niệm về công nghệ thông tin 9
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 10
1.2.1 Vai trò 10
1.2.2 Ý nghĩa 13
1.3 Yêu cầu sư phạm của việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS ở trường phổ thông 15
1.3.1 Đảm bảo tính cơ bản 15
1.3.2 Đảm bảo mục đích giáo dục cho học sinh 16
1.3.3 Đảm bảo mục đích phát huy tích tích cực, độc lập của học sinh 16
Trang 41.4 Cơ sở thực tiễn việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy
ra sự kiện trong DHLS 18
1.4.1 Về phía giáo viên 18
1.4.2 Đối với học sinh 19
1.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 19
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT ĐỂ TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA ĐIỂM XẢY RA SỰ KIỆN TRONG DHLS VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1954 LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 21
2.1 Vị trí, mục đích, nội dung nghiên cứu cơ bản của giai đoạn lịch sử Việt Nam 1945 - 1954 lớp 12 trung học phổ thông 21
2.1.1 Vị trí 21
2.1.2 Mục tiêu 21
2.1.3 Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 22
2.2 Hệ thống các địa điểm cần tạo biểu tượng cho học sinh trong giai đoạn (1945-1954) 24
2.3 Một số biện pháp sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS giai đoạn (1945-1954 ) 27
2.3.1 Sử dụng lược đồ có sự hỗ trợ của CNTT kết hợp với lời nói sinh động của giáo viên để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện 27
2.3.2 Sử dụng tranh, ảnh, phim video có sự hỗ trợ của CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS giai đoạn (1945-1954) 35
2.3.2.1 Sử dụng tranh, ảnh có sự hỗ trợ của CNTT kết hợp với tài liệu tham khảo để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS giai đoạn (1945-1954) 35
2.3.2.2 Sử dụng phim video có sự hỗ trợ của CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện 41
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta biết rằng, quá trình DHLS trước hết là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức lịch sử của học sinh, tuân theo quy luật “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” nghĩa là, DHLS phải dựa trên cơ sở cung cấp, sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, rút ra quy luật, bài học lịch sử phục vụ cho thực tiễn cuộc sống
Hơn thế nữa do tri thức lịch sử mang những đặc điểm như: tính quá khứ, tính cụ thể, tính không lặp lại Do vậy, việc học tập lịch sử không thể “trực quan sinh động” giống như những môn học tự nhiên khác mà phải từ việc nắm
sự kiện để rồi tạo biểu tượng lịch sử là một khâu không thể thiếu được trong quá trình nhận thức lịch sử nói chung và nhận thức lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng
Như đã nói thì do đặc điểm của tri thức lịch sử thì việc tạo biểu tượng lịch
sử là rất quan trọng Trong đó loại biểu tượng về địa điểm nơi xảy ra sự kiện có
ý nghĩa, vị trí quan trọng bởi sự kiện là cơ sở của tri thức lịch sử mà địa điểm là nơi diễn ra sự kiện đó, sẽ giúp cho học sinh hiểu đúng lịch sử, đi sâu vào bản chất của sự việc Từ đó thấy được mối quan hệ giữa sự kiện với hoàn cảnh địa lí diễn ra sự kiện đó và với điều kiện tự nhiên, xã hội, con người…Tất cả những nhân tố đó đã tác động lẫn nhau, đồng thời góp phần vào nguyên nhân xảy ra các sự kiện lịch sử Tuy nhiên, phần nhiều các giáo viên chưa thực sự quan tâm nhiều tới việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung và biểu tượng về địa điểm xảy ra
sự kiện lịch sử nói riêng, hoặc nếu có sử dụng thì lại chưa biết cách ứng dụng công nghệ thông tin mà chủ yếu vẫn là những cách dạy truyền thống Vì vậy, mà hiện tượng học sinh bỏ những chi tiết lịch sử cơ bản và tình trạng nhàm chán trong học môn lịch sử vẫn là một bài toán khó cần có một lời giải đúng đắn Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng ở lại việc miêu tả
bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện Việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử sẽ giúp cho các em rèn luyện được kỹ năng khai thác tranh ảnh, bản đồ, lược đồ… Nắm được những hoàn cảnh về địa lý và để đạt được hiệu quả cao thì giáo viên phải biết lựa chọn, sử dụng, phương tiện trực quan, là phương tiện tư liệu dạy học có ưu thế hơn cả để tạo biểu tượng về địa điểm xảy
ra sự kiện lịch sử Song nó sẽ đạt kết quả cao khi giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử làm cho bức tranh lịch sử được dựng lại một cách chân thực và giàu hình ảnh sinh động
Trang 6Trong chương trình lịch sử lớp 12 (chương trình chuẩn) phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1945-1954 có vị trí quan trọng trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam với nội dung phong phú và những địa điểm diễn ra sự kiện lịch sử để tạo biểu tượng cho học sinh hình dung được bức tranh lịch sử sinh động của dân tộc, thời kỳ 1945-1954 có sự ứng dụng của công nghệ thông tin sẽ đạt hiệu quả cao hơn so với những phương tiện dạy học truyền thống, thu hút được sự chú ý
và tạo hứng thú cho học sinh làm cho bài học đạt kết quả cao
Từ những lý do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài : “Sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 lớp 12 trung học phổ thông (Chương trình
chuẩn)” làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn sẽ là hành trang của mình sau
này khi bước lên bục giảng cũng là bước đầu đi sâu nghiên cứu của các biện pháp tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử Hơn nữa, giải quyết vấn
đề này sẽ là cơ sở vận dụng một cách có hiệu quả trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử nói chung và tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử nói riêng đã được các nhà lý luận dạy học, các nhà giáo dục lịch sử quan tâm nghiên cứu ở nhiều mức độ, khía cạnh khác nhau
Trong cuốn “Phương pháp lịch sử, tập 1” giáo sư Phạm Ngọc Liên chủ
biên, Nxb Đại học Sư Phạm 2000 Phần viết của phó giáo sư tiến sĩ Trịnh Đình Tùng về biểu tượng lịch sử giúp chúng ta hiểu thế nào là biểu tượng lịch sử, vai trò và việc phân loại biểu tượng, các biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng lịch sử
Trong cuốn “Những vấn đề chung về bộ môn phương pháp dạy học lịch sử
ở trường cao đẳng sư phạm” của Nguyễn Anh Dũng, Trần Viết Vượng, cũng đã
đề cập tới: Con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh, trong đó nêu một cách khái quát về việc tạo biểu tượng và những phần liên quan một cách ngắn gọn, xúc tích nhất
Trong các tác phẩm lý luận dạy học của M.N SACDACOP “Tư duy của học sinh”, Nxb giáo dục hà nội 1970 và Hồ Ngọc Đại “Tâm lý dạy học”, Nxb
giáo dục 1983, đã đề cập đến vấn đề tạo biểu tượng lịch sử như là một khâu không thể thiếu của quá trình nhận thức lịch sử Tác giả Hồ Ngọc Đại đã nêu lên vai trò của việc tạo biểu tượng thông qua việc khẳng định quá trình tri giác để tạo biểu tượng, sẽ trở thành chỗ dựa khi lĩnh hội tri thức
Trang 7Trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS phần
lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình dạy học lịch sử ở Trường THPT” tập
một phần lịch sử Việt Nam do giáo sư Nguyễn Thị Côi chủ biên cho chúng ta nắm được những nội dung lịch sử và phương pháp sử dụng hệ thống kênh hình trong dạy học phần lịch sử Việt Nam Giúp giáo viên lựa chọn các phương pháp phù hợp tạo biểu tượng cho học sinh
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử cũng được nói tới rất nhiều
trong các sách như: Trong cuốn “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS” của Trịnh Đình Tùng, Trần Việt Thục, Đặng Văn Hồ, Trần Văn
Cường, Nxb Đại học Sư Phạm có một chương nói về phần sử dụng tài liệu trên mạng internet trong dạy học lịch sử, có nói về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu khai thác trên mạng internet trong dạy học lịch sử và những yêu cầu, biện pháp sư phạm khi khai thác internet trong dạy học lịch sử
Trong cuốn “Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”, Nxb Đại
học Sư Phạm (Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng) cũng đã nói hẳn một chương
về các phương tiện kỹ thuật và việc bồi dưỡng kỹ năng khai thác thông tin trên mạng internet trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Như vậy, vấn đề tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã thu hút sự chú
ý, quan tâm của nhiều nhà giáo dục lịch sử và các tác giả, nhưng chưa đi sâu, cụ thể vào việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử hay chỉ đề cập chung chung phân loại nêu đặc điểm khái quát ngắn gọn nhất là trong giai đoạn 1945-1954 Tuy vậy, đó là những tài liệu quý báu để giúp tôi hoàn thành khóa luận này
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sử dụng công nghệ thông tin để nghiên cứu việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử giai đoạn 1945-1954 trong lịch sử lớp 12 (chương trình chuẩn)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về mặt thời gian và trình độ của bản thân có hạn nên khóa luận chỉ đề cập tới việc nghiên cứu sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS Việt Nam giai đoạn 1945-1954,
Trang 8lớp 12 THPT (chương trình chuẩn), nghiên cứu các biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng
3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên khóa luận cần giải quyết các nhiệm vụ sau: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của việc sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử
Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 12 phần lịch sử Việt Nam 1945 đến 1954
Đề xuất một số biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện với sự ứng dụng của công nghệ thông tin trong dạy học phần lịch sử Việt Nam trong giai đoạn (1945-1954)
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận đúng đắn của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước về nhận thức,
về giáo dục nói chung và về lịch sử nói riêng
Việc thực hiện khóa luận nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đáp ứng được nhu cầu hiện nay của việc xã hội giáo dục
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở khóa luận thuộc về chuyên ngành “Phương pháp dạy học lịch sử” sẽ nghiên cứu với các phương pháp
Nghiên cứu một số tác phẩm của chủ nghĩa Mac - Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh chủ chương của nhà nước ta về nhận thức giáo dục nói chung và giáo dục lịch sử nói riêng
Nghiên cứu một số công trình của các nhà giáo dục và tâm lý có liên quan Phương pháp nghiên cứu, phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Trang 9Phương pháp nghiên cứu kết hợp với lý luận và thực tiễn, phương pháp quan sát thực tế trên phạm vi xác định
5 Cấu trúc của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, phần nội dung của khoá luận gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng các địa điểm
xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Một số biện pháp tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch
sử có sự ứng dụng của công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 SGK lớp 12 (chương trình chuẩn)
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG CẤC ĐỊA ĐIỂM TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT
1 Cơ sở lý luận
1.1 Quan niệm về biểu tượng lịch sử
Do đặc điểm của sự nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ trực quan sinh động mà từ việc nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Tuy vậy, việc học tập lịch sử cũng tuân theo quy luật chung của quá trình nhận thức: Qua 2 giai đoạn, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, tạo biểu tượng được xem như là giai đoạn nhận thức cảm tính của quá trình học tập lịch sử
Biểu tượng là khái niệm được giải thích và nói tới ở các mức độ và lĩnh vực nhận thức khác nhau
Theo tâm lý học, biểu tượng là biểu tượng của ký ức - nhưng hình ảnh của các sự vật, hiện tượng không phải đang được tri giác mà là đã được tri giác trước đây Trong quá trình tri giác thế giới khách quan con người phản ánh sự vật và hiện tượng xung quanh mình dưới dạng các hình ảnh và sự phản ánh đó mang tính trực quan Các hình ảnh trực quan đó luôn tác động lên các cơ quan thụ quản khác nhau của hệ thần kinh con người và được duy trì một khoảng thời gian nhất định trong ý thức của họ
Quá trình tri giác luôn mang tính trực quan cụ thể Các hình ảnh của biểu tượng phản ánh những đặc điểm bên ngoài và đôi khi cả những đặc điểm bên trong của sự vật hiện tượng, đây chính là sự nhận thức của hoạt động tư duy Như vậy, theo tâm lý học thì biểu tượng là những hình ảnh trực quan nảy sinh trong não người về những sự vật và hiện tượng đã được truy giác trước đây Trong dạy học lịch sử giáo viên cần tạo được những biểu tượng để các em ghi nhớ kiếm thức một cách hiệu quả, xong để làm được điều đó giáo viên phải
có sự chuẩn bị từ trước, bởi không có biểu tượng nảy sinh từ những trực giác đối với những sự kiện, hiện tượng lịch sử mà việc hình thành nên những biểu tượng lịch sử phải dựa trên những sự kiện hiện tượng đã được con người nhận thức từ trước để nhằm tái tạo lịch sử một cách chính xác và sinh động
Ví dụ: khi tạo biểu tượng lịch sử về địa điểm xảy ra sự kiện trong cuộc tiến
công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 Rõ ràng chúng ta không thể trực tiếp quan sát trận địa Đông - Xuân tại thời điểm đó được ta và địch bố trí như thế nào Do vậy, phải sử dụng những hình ảnh lược đồ với sự hỗ trợ của công nghệ
Trang 11thông tin kết hợp với diễn giải để làm rõ được sự sáng xuất của Đảng mà đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh - nguyên nhân làm cho kế hoạch NaVa bước đầu bị
phá sản
Trong cuốn “phương pháp dạy học lịch sử tập 1” Phan Ngọc Liên đã định
nghĩa biểu tượng lịch sử là “hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý…được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất điển hình nhất”
Như vậy, nội dung của một sự kiện lịch sử được học sinh nhận thức thông qua việc tạo nên hình ảnh về quá khứ, bằng hoạt động của các giác quan: thị giác, thính giác…không như biểu tượng nói chung, biểu tượng lịch sử tái hiện những đặc trưng cơ bản nhất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Như đã nói thì việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả bề ngoài
mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng tính chất của sự kiện là cơ sở
để hình thành khái niệm Vì vậy, tạo biểu tượng lịch sử về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử là rất cần thiết để học sinh đi tới những khái niệm sơ đẳng còn gọi là khái niệm đơn giản trong lịch sử
1.1.2 Quan niệm biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện
Để biết được thế nào là biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trước hết chúng ta phải hiểu được địa điểm hay nói cách khác là địa danh - nơi xảy ra sự kiện lịch sử
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về địa danh xảy ra sự kiện lịch sử, tùy theo mục đích, nội dung của mỗi ngành khoa học, môn học khác nhau
Trong cuốn từ điển thuật ngữ phổ thông thì địa danh là “Tên một địa phương một quốc gia châu lục Địa danh thường phản ánh quá trình hình thành, các yếu tố địa lý, xã hội lịch sử của một vùng lãnh thổ” Một nguồn tài liệu nghiên cứu lịch sử [18,171]
Theo cuốn “Sổ tay thuật ngữ địa lý thì địa danh là danh từ riêng về địa lý, chỉ tên các lãnh thổ núi, non, sông, ngòi, biển, đại dương, các đặc điểm thuần
cư như thành phố, thị xã, thị trấn, làng mạc”
Bất cứ một vùng đất nào dù lớn hay nhỏ đều có các địa danh, tên gọi khác nhau Địa danh bao gồm: địa danh địa lý, địa danh lịch sử và địa danh văn hóa Địa danh có rất nhiều nhưng không phải địa danh nào cũng trở thành địa danh lịch sử Chỉ có những vùng đất trực tiếp gắn với các sự kiện, biến cố lịch
sử của nhân loại, dân tộc và địa phương thì mới được coi là địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử
Trang 12Có thể hiểu địa danh lịch sử là tên gọi của những vùng đất, những địa phương đã diễn ra những sự kiện, hiện tượng và biến cố trong lịch sử nhân loại, dân tộc và lịch sử địa phương
Ví dụ: Các địa danh Lai Châu, Thà Khẹt, Bắc Tây Nguyên là những nơi
đã diễn ra các sự kiện lịch sử chiến đấu trong cuộc tiến công chiến lược đông xuân 1953-1954 Hay các địa điểm như: Đồi Độc Lập, Bản Kéo, Him Lam, Hồng Cúm là những địa danh có trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954 Việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện cho học sinh trong dạy học lịch sử chính là việc phân tích những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, vị trí địa
lý, những thuận lợi và khó khăn của địa điểm xảy ra sự kiện Bất cứ một sự kiện lịch sử nào cũng gắn với một địa danh cụ thể Nó diễn ra trong một không gian nhất định Không gian của sự kiện có thể là một khu vực rộng lớn như chiến trường Châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) hoặc diễn
ra ở phạm vi hẹp như địa điểm của một trận đánh, một cuộc khởi nghĩa của một quốc gia, một dân tộc, một địa phương như: Chiến dịch Hòa Bình Đông - Xuân (1953 -1954); Chiến dịch Tây Bắc Thu - Đông (1952)… Trong chiến dịch tiến công giữ vững quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ từ cuối năm 1950 kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta Vì vậy, tạo biểu tượng
về hoàn cảnh địa lí nơi xảy ra sự kiện là yêu cầu trong dạy học lịch sử để xác định không gian lịch sử
Hơn thế nữa, trong dạy học lịch sử, giáo viên không thể cung cấp mọi kiến thức của khoa học lịch sử cho học sinh mà chỉ có thể giúp các em nắm vững các kiến thức cơ bản của bài học, mà địa điểm xảy ra sự kiện là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong lượng kiến thức cần cung cấp và làm rõ cho học sinh hiểu
Đặc trưng của tri thức lịch sử là mang tính cụ thể bất cứ một sự kiện, hiện tượng nào đều xảy ra trong một không gian, thời gian cụ thể gắn với những nhân vật lịch sử nhất định Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì không phải là sự kiện lịch sử và chúng ta không có khả năng nhận thức nó
Trong ba yếu tố cấu thành sự kiện lịch sử, thì địa điểm - địa danh chính là yếu tố không gian không thể thiếu trong lịch sử và dạy học lịch sử Đây được coi
là nguồn kiến thức quan trọng trong việc đảm bảo tính cụ thể, hệ thống, toàn diện của sự kiện lịch sử, trên cơ sở đó hình thành khái niệm cho học sinh
Như vậy, muốn tạo được biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện cho học sinh trong DHLS thì giáo viên cần có những kiến thức cơ bản về địa điểm - địa danh đó Với việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện
Trang 13sinh động góp phần tạo nên tính hình ảnh và gây xúc cảm lịch sử cho HS, qua đó nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
1.1.3 Quan niệm về công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin (IT-Information Technology), nghĩa là: Ngành ứng dụng công nghệ quản lý và sử lý thông tin, sử dụng máy tính với phần mềm để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, sử lý, truyền và thu nhận thông tin
Theo nghị quyết 49/CP của chính phủ, ngày 4 tháng 8 năm 1993 thì “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công
cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”
Thời đại hiện nay là thời đại bùng nổ thông tin, thời đại của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng ở trường phổ thông là một yêu cầu cấp thiết Chúng ta biết rõ, môn học lịch sử là một môn đặc biệt khác với các môn tự nhiên như: toán, lý, hóa, sinh…Bởi lịch sử là những gì đã diễn ra theo thời gian trong quá khứ của xã hội loài người Nó đã tồn tại cách chúng ta hàng chục năm, triệu năm… Do vậy, sẽ rất khó để khơi lại bức tranh lịch sử nếu không có sự hỗ trợ của CNTT, đặc biệt là khi tạo biểu tượng lịch sử
Ngoài ra thuật ngữ “Công nghệ thông tin” được hiểu là các ứng dụng liên quan đến máy vi tính được phân loại dựa trên phương thức chúng được
sử dụng trong lớp học chứ không dựa trên nguyên tắc hoạt động của chúng (Meansetal, 1993)
Công nghệ thông tin là phương tiện dạy học hiện đại có khả năng tích hợp cao các chức năng của những phương tiện dạy học truyền thống như tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, sơ đồ, niên biểu,… Các phương tiện kỹ thuật như radio, video, tivi, đèn chiếu overhead, projector, các loại băng đĩa…
Vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng Với nghị quyết Trung ương II, khóa VIII của Đảng đã xác định: Phải
“Đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối học truyền thụ một chiều,…Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh và chỉ thị số 40 của ban thư ký trung ương Đảng khóa IX tiếp tục yêu cầu trong giáo dục: “ Đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục
Trang 14kiểu truyền thụ một chiều, năng về lý thuyết… ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học”
Như vậy, CNTT chính là các thiết bị kĩ thuật hiện đại máy chiếu phim, đèn chiếu, máy ghi âm, tivi, video….là những phương tiện dạy học rất cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả BHLS, giúp cho HS dễ ghi nhớ kiến thức có hình ảnh sinh động về bức tranh lịch sử quá khứ
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 1.2.1 Vai trò
* Vai trò của việc sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng trong DHLS ở trường phổ thông
Như đã nói ở những phần trên Kiến thức lịch sử mang tính quá khứ, tính không lặp lại Lịch sử là những gì đã diễn ra theo thời gian, trong toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của con người và xã hội loài người…nó tồn tại từ rất lâu trong quá khứ Do đó, việc tiếp cận và tái hiện lại lịch sử gần giống như nó
đã tồn tại là một việc rất khó khăn
Vì vậy, nếu GV sử dụng những tư liệu như: Hình ảnh, biểu đồ, bản đồ và đặc biệt là phim tư liệu vào giảng dạy thì sẽ góp phần rất lớn giúp học sinh có thể tái hiện được sự kiện lịch sử gần giống như nó đã tồn tại, đó là điều cực kỳ trong dạy học lịch sử
Bởi vậy, việc ứng dụng thông tin vào giảng dạy lịch sử là vừa mang tính lịch sử vừa mang tính thời đại Trước hết là tính lịch sử vì CNTT đáp ứng được yêu cầu của dạy học: Truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất, cần thiết nhất và đáp ứng được yêu cầu của môn học đồng thời mang tính thời đại vì nó phù hợp với yêu cầu thực tại Ngày nay thời đại tin học đã thực sự đến và việc ứng dụng trong tin học vào dạy học đang là xu hướng của tất cả các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Hơn thế nữa là con đường hình thành tri thức lịch sử cho học sinh tuân thủ theo quy luật nhận thức: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn” Do đó, việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học để có thể cung cấp cho các em những tư liệu trực quan sinh động (trong ảnh, bản đồ, phim tư liệu) vào những biểu tượng lịch sử, giúp các em biết
và hiểu được bản chất của vấn đề lịch sử là hoàn toàn phù hợp với các em Cùng với đó là Việt Nam đang trên đường đổi mới và hội nhập nên không thể không tiếp cận những tiến bộ của KHKT Vì vậy, ứng dụng của CNTT vào dạy học là vấn đề cấp thiết “công nghệ thông tin và truyền thông, như là năng lực cốt lõi
Trang 15dành cho học sinh, sinh viên trong tương lai…tiếp cận và khai thác tiềm năng của công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy, khuyến khích học tập suốt đời”, (Hội nghị các nước thành viên hội nghị APEC lần 2 về vấn đề “giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ XXI” 07/04/2000)
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện sẽ làm cho BHLS đạt kết quả cao Đặc biệt, với khả năng đa phương tiện, đa truyền thông (mulilmedia) và khả năng tương tác (interactiree) Việc ứng dụng CNTT vào DHLLS sẽ giúp giáo viên nâng cao hiệu quả của việc
sử dụng các loại đồ dùng trực quan khi dựng lại bức tranh lịch sử một cách chân thực giàu hình ảnh và sinh động Đồng thời nó có khả năng thu hút sự chú ý của học sinh, kích thích và huy động nhiều giác quan của các em khả năng nhận thức Điều đó góp phần nâng cao hiệu quả của việc ghi nhớ kiến thức Nhờ đó học sinh hiểu đúng bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử
Việc khai thác và sử dụng một số chức năng của phần mềm ACD see, hero, photoshop, flash, adobe, audition…sẽ giúp giáo viên sử lý tư liệu hình ảnh, xử
lý, cắt ghép các đoạn phim, âm thanh phù hợp với nội dung yêu cầu của bài học.với các chức năng cơ bản, các hiệu ứng phong phú đa dạng của phần mềm Microsoft powerpoint, violet sẽ giúp giáo viên thiết kế và sử dụng có hiệu quả các loại đồ dùng trực quan theo yêu cầu, nội dung bài học cách triển khai giảng dạy của mình và với khả năng siêu liên kết thông tin (hypenlink) của phần mềm này, giáo viên có thể đưa vào bài giảng các hình ảnh, âm thanh, đoạn phim tư liệu đã được xử lý, trọn lọc và biên tập theo ý tưởng của giáo viên Nhờ đó, có thể phát huy tính sáng tạo của GV và HS trong những tình huống sư phạm cụ thể khi sử dụng ĐDTQ trong DH, tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc xây dựng, sử dụng ĐDTQ ,GV có điều kiện tổ chức cho học sinh nhận thức lịch sử thông qua ĐDTQ, từ đó giúp học sinh khắc sâu kiến thức trọng tâm và có thể hệ thống, khái quát tốt nội dung bài học
Ví dụ: Ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện khi
dạy về chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954, giáo viên phải sử dụng lược đồ,
mô hình, hệ thống công sự, hàng rào thép gai ở cụm cứ điểm của Pháp ở Điện Biên Phủ các ĐDTQ kết hợp với tường thuật, miêu tả, nêu đặc điểm để tạo biểu tượng về Điện Biên Phủ, GV sử dụng lược đồ của ba đợt tấn công của ta vào Điện Biên Phủ, cùng với các đoạn phim giúp học sinh nhận thức được cụ thể và
rõ ràng hơn về diễn biến của chiến dịch… Hay ví dụ khi dạy bài “Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỷ XVI-XVIII”, để giúp học sinh nắm vững kiến thức chiến tranh Nam Bắc triều, chiến tranh Trịnh Nguyễn và
Trang 16biểu tượng chính xác về giới tuyến sông Gianh thì GV kết hợp sử dụng kiến thức địa danh lịch sử, sẽ tạo được biểu tượng về vùng đất Thuận Hóa, sông Gianh một cách sinh động, lôi cuốn…
Việc ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng địa điểm xảy ra sự kiện nói riêng
và tạo biểu tượng, cung cấp tri thức lịch sử nói chung trong DHLS sẽ có vai trò quan trọng trong việc hình thành tri thức lịch sử cho HS, giúp GV có thể chọn lọc những tài liệu thích hợp, cô đọng và phù hợp nhất với nội dung và mục đích của bài giảng mà không bị lặp lại hay nhàm chán, giúp cho việc DHLS không chỉ dừng ở việc minh họa sự kiện lịch sử mà còn giúp học sinh có một nguồn tri thức lịch sử sâu sắc
Như vậy, cần phải nhận thức rõ, mặc dù khả năng ứng dụng phương tiện kỹ thuật trong dạy học lịch sử là rất đa rạng và ưu thế hơn so với các phương tiện truyền thông song không phải là duy nhất và vạn năng nhất mà chỉ có vai trò hỗ trợ, giúp các hoạt động của con người hoạt động dạy học được thuận tiện và hiệu quả hơn Việc kết hợp một cách hợp lý các phương tiện kỹ thuật - CNTT dạy học với các phương tiện dạy học truyền thống là sự lựa chọn thích hợp nhằm đảm bảo tốt mục tiêu giáo dục theo hướng phát triển của học sinh một cách tích cực, toàn diện cả về mặt tri thức, phẩm chất đạo đức cũng như các năng lực tư duy
* Vai trò của việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS ở trường phổ thông
Việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS ở trường phổ thông có vị trí vai trò rất quan trọng, giúp cho học sinh có được hình ảnh sinh động lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng
Do đặc trưng của bộ môn (mang tính cụ thể không lặp lại, tính quá khứ ) là những gì diễn ra trong quá khứ không thể “trực quan” được Bởi vậy, việc tạo biểu tượng có vai trò rất quan trọng trong quá trình tri giác của học sinh Nếu không tạo được biểu tượng thì hình ảnh lịch sử sẽ nghèo nàn và khô cứng Khi
đó, quá trình tri giác trở thành biểu tượng lịch sử là cơ sở để hình thành khái niệm, phát triển óc phán đoán, suy luận của học sinh
Việc học tập lịch sử sẽ dựa trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng, lịch sử từ đó tiến tới hình thành khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử cho HS
Nếu như, các môn học khoa học tự nhiên như, toán, hóa, lý, sinh GV có thể hướng dẫn học sinh thực hành bộ môn theo các bước đã chuẩn bị trong
Trang 17phòng thí nghiệm - công việc diễn ra rất thuận lợi nhưng với môn lịch sử thì rõ ràng GV không thể tổ chức học sinh thành những chiến sĩ, bộ đội ra trận và lấy lớp học làm không gian, thực hành một trận chiến được Vì vậy, việc tái hiện sự kiện đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác là rất khó khăn mà chỉ có thể tạo biểu tượng lịch sử với sự ứng dụng của CNTT các phương tiện dạy học ĐDTQ (tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, ) để rồi từ đó đưa đến hình thành khái niệm
1.2.2 Ý nghĩa
Việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử trong DHLS có vai trò quan trọng, giúp cho sự kiện được tái hiện một cách cụ thể riêng biệt và sinh động trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất, đặc biệt khi có
sự ứng dụng của CNTT thì việc tạo biểu tượng có ý nghĩa rất lớn trên cả 3 mặt:
giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
- Về giáo dưỡng:
Tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng về nơi xảy ra sự kiện nói riêng một cách chân thực sống động, giúp cho học sinh khôi phục lại các bức tranh, quá khứ sinh động đúng như nó tồn tại Mỗi địa điểm xảy ra sự kiện - biến
cố lịch sử đều là một địa danh có trong tiến trình lịch sử, có thể là một châu lục, một khu vực, quốc gia nào đó hay một huyện, một tỉnh, một xã, và một nơi cụ thể ví như: Nhà hát lớn ở Hà Nội - nơi quốc hội khóa 1 họp phiên đầu tiên (2-3-
Trang 181946), đồi A1, cứ điểm Him Lam, Hồng Cúm trong chiến dịch lịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954) từ đó sẽ giúp cho học sinh biết phân tích những đặc điểm về vị trí địa lí, điều kiện thuận lợi tốt để tiến hành kháng chiến…Do vậy, tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện sẽ có tác dụng cụ thể hóa một số sự kiện lịch
Về phía học sinh, với những hình ảnh, biểu tượng lịch sử sinh động mà GV cung cấp, sẽ cuốn hút học sinh vào bài giảng, lĩnh hội kiến thức rõ ràng, chủ động hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng, tránh được tình trạng “hiện đại hóa lịch sử” những nhận thức thiếu chủ quan phiến diện và đánh giá nhận định tình hình thiếu cơ sở khoa học
Bên cạnh đó việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện với sự hỗ trợ của CNTT còn giúp cho học sinh đánh giá đúng vị trí, địa điểm diễn ra sự kiện với các địa điểm - địa danh lân cận khác trong mối quan hệ tổng thể của cuộc kháng chiến toàn quốc
Như vậy, việc ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông không chỉ giúp cho các em có biểu tượng chân thực về những sự kiện lịch sử mà còn hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện Từ đó, vốn tri thức lí luận của học sinh từng bước được tăng lên
- Về giáo dục:
Trong dạy học phổ thông bộ môn lịch sử có vai trò giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm cho học sinh rất lớn, đặc biệt là việc tạo biểu tượng sinh động hấp dẫn về các sự kiện hiện tượng và ứng dụng CNTT vào giảng dạy sẽ đạt hiệu quả cao trong BHLS để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử có thật ở quá khứ mà có thể những địa danh đó vẫn còn cho đến hiện tại
Điều đó, sẽ giúp cho các em học sinh có những tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, óc suy luận xem xét đánh giá những khó khăn hay thuận lợi về điều kiện, vị trí địa lí…
Đặc biệt, khi sử dụng phần mềm Microsoft powerpoint - ứng dụng của CNTT với những hiệu ứng đa dạng, phong phú, hình ảnh và tư liệu lịch sử sinh
Trang 19động sẽ có tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức của học sinh về sự vật hiện tượng lịch sử
Ví dụ: Quan sát bức ảnh chụp tội ác của Mĩ - Diệm giết hại đồng bào Nam
Bộ, kết hợp với lời nói của giáo viên sẽ làm nảy sinh trong các em những tình cảm yêu mến nhân dân và căm thù quân xâm lược bè lũ cướp nước Hoặc để thấy được vị trí địa lí của Điện Biên Phủ trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 quan trọng như thế nào mà cả ta và địch cố giành được thì GV có thể tạo biểu tượng về vị trí địa lí của Điện Biên Phủ có sự ứng dụng CNTT (sơ đồ, lược đồ, video…) sẽ tái hiện cho HS biểu tượng về Điện Biên Phủ sinh động và hấp dẫn với sự hiểu biết của GV để miêu tả nơi đây
Về mặt phát triển
Cùng với việc hình thành tri thức, giáo giục tư tưởng tình cảm, tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện với sự ứng dụng của CNTT còn góp phần phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS, năng lực nhận thức (quan sát, hình dung, tưởng tượng, tư duy…), kỹ năng học tập bộ môn (so sánh, tưởng tượng, tư duy…) và các năng lực hành động khác
Ngoài ra với sự ứng dụng của CNTT sẽ giúp cho GV cung cấp tới HS những thông tin lịch sử đa dạng nhiều hình thức phong phú: minh họa kiến thức bằng sơ đồ, biểu đồ, lược đồ…làm cho bài học thêm sinh động, hấp dẫn và gây hứng thú học tập cho HS Đồng thời việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện là cơ sở, điều kiện để HS nhận thức lịch sử đúng đắn tiến tới hình thành khái niệm
1.3 Yêu cầu sư phạm của việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS ở trường phổ thông
1.3.1 Đảm bảo tính cơ bản
Trong khoảng thời gian có hạn, giáo viên cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức cơ bản hợp lý, không đưa học sinh vào tình trạng quá tải, căng thẳng Thông qua nội dung bài học lịch sử GV xác định địa điểm quan trọng nhất, có ý nghĩa lớn trong nội dung của bài để tạo biểu tượng về địa điểm đó đồng thời vẫn đảm bảo về mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục phát triển
Trước hết, khi dạy BHLS thì địa điểm - không gian có vai trò quan trọng, là nơi diễn ra sự kiện lịch sử Chính vì vậy việc tạo biểu tượng về địa điểm cùng với sự hỗ trợ của CNTT sẽ làm cho học sinh hiểu rõ nội dung của bài
Hơn thế nữa, những bài học có nhiều địa điểm lịch sử ví dụ như trong bài
20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp kết thúc1953-1954)” thì
Trang 20giáo viên phải lựa chọn những địa điểm tiêu biểu, quan trọng nhất, điển hình nhất, có đóng góp lớn cho nội dung bài học để đảm bảo xây dựng hiệu quả
1.3.2 Đảm bảo mục đích giáo dục cho học sinh
Dạy học lịch sử giúp cho học sinh củng cố được kiến thức, kỹ năng cũng như nắm được cơ sở lý luận và hành vi đạo đức Đảm bảo được tính giáo dục khi ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS nghĩa là cần khai thác triệt để những phương tiện giảng dạy có hiệu quả giáo dục khi lựa chọn minh họa, miêu tả cho học sinh lựa chọn những địa điểm quan trọng diễn ra trận đánh hay sự kiện lịch sử Đồng thời giúp cho các em thấy được không gian, cách bố trí, phòng thủ tận dụng điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý
để chuẩn bị hay hâm nóng bầu không khí của sự kiện diễn biến lịch sử
Ví dụ: Khi tạo biểu tượng lịch sử những địa điểm trong đợt 3 chiến dịch
lịch sử Điện Biên Phủ (1954) GV kết hợp với tranh ảnh, sơ đồ, hay lược đồ, hay những thước phim video, tường thuật về đợt 3 trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
Tối ngày 1-5 quân ta xung phong bất ngờ tiêu diệt địch chiếm hoàn toàn đồi C1 Chiều ngày 6-5 tiếng nổ của khối bộc phá 100kg ở đồi A1
Mở đầu hiệu lệnh tổng công kích của quân ta 17h30’ ta thọc thẳng vào trung tâm Mường Thanh, bao vây hầm đờ-xa-xtơ-ri Tạ Quốc Luật chỉ huy một nhóm chiến sỹ trung kích địch Hai chiến sỹ Vinh và Ngọ chuẩn bị nhảy xuống hầm đờ-xa-xtơ-ri Bốn chiếc xe tăng đỗ quanh hầm nhả đạn, để bảo vệ chỉ huy Vĩnh và Ngọ bò sát tới gần ném lựu đạn vào xe, một chiếc bốc cháy, một chiếc đứt xích, còn lại hai chiếc khác bỏ chạy để lại hầm chỉ huy không người bảo vệ Hai chiến sỹ mỗi người xông vào một cửa hầm và ném lựu đạn…
Qua đoạn tường thuật sẽ giúp cho các em thấy được không gian quyết liệt của trận chiến với những địa điểm trọng yếu của chiến dịch khi có sự hỗ trợ của CNTT càng làm cho biểu tượng có sự thu hút, lôi cuốn
1.3.3 Đảm bảo mục đích phát huy tích tích cực, độc lập của học sinh
Như chúng ta đã biết hiện nay, trước mục tiêu giáo dục của sự phát triển con người toàn diện thì việc phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS là phương pháp giảng dạy trong nhà trường phổ thông
Phát huy tính tích cực độc lập của học sinh tức là dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của GV, HS tích cực tự chủ động tiếp thu kiến thức, từ đó các em nhận thức sâu sắc vấn đề
Trang 21Việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện kết hợp với các phương pháp dạy học nên vấn đề đặt câu hỏi gợi mở dạy học theo hướng phát huy tích cực độc lập của các em GV có sự hiểu biết sâu và rộng về địa điểm cần tạo biểu tượng (kiến thức địa lý) để từ đó đưa ra các câu hỏi trao đổi, đàm thoại với HS tư duy, độc lập, đưa ra những nhận xét đánh giá và hình thành nên biểu tượng đúng đắn trong nhận thức
Ví dụ: Khi dạy bài 18 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950), mục II, phần 1 Trước khi treo bản đồ hoặc trình chiếu bản đồ giáo viên có thể nêu vấn đề bằng cách đặt câu hỏi để học sinh suy nghĩ:
Việt Bắc có vị trí địa lí như thế nào? Tại sao Pháp tấn công lên Việt Bắc? (mục đích)
Học sinh suy nghĩ, trả lời
Giáo viên nhận xét chốt ý và treo bản đồ, giới thiệu tên, tỉ lệ bản đồ, ký hiệu diễn tả cuộc tấn công mũi tên màu đen chỉ hướng hành quân của địch và tiếp tục đưa ra yêu cầu:
Một em hãy lên bảng chỉ trên bản đồ những hướng tấn công của địch lên căn cứ Việt Bắc? Mối quan hệ giữa các hướng tấn công đó?
Học sinh quan sát trả lời
Giáo viên nhận xét và lược thuật quá trình Pháp tấn công lên Việt Bắc bằng bản đồ
Như vậy, việc sử dụng CNTT kết hợp các phương pháp dạy học nêu vấn
đề, trao đổi đàm thoại với các câu hỏi gợi mở của giáo viên sẽ phát huy tính tích cực độc lập ở học sinh Tuy nhiên, trong DHLS hiện nay nói chung thì vấn đề tạo biểu tượng các địa điểm lịch sử, một số bộ phận GV chưa khởi dậy được ở học sinh tính tích cực, độc lập sáng tạo, với việc không coi trọng không gian hoàn cảnh sự kiện chỉ nêu một cách khái quát mà tập chung chủ yếu vào phần nội dung - diễn biến của sự kiện, chỉ giúp cho học sinh chỉ biết mà chưa hiểu được đầy đủ, sâu sắc, không hứng thú với môn học
Trên cơ sở các yêu cầu, nguyên tắc với việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử với một hệ thống các phương pháp sử dụng tạo biểu tượng về địa điểm lịch sử đã được đưa ra trong DHLS ở trường phổ thông, từ đó phát huy vai trò của biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng
về địa điểm lịch sử nói riêng đối với quá trình nhận thức của học sinh, nâng cao hiệu quả DHLS
Trang 221.4 Cơ sở thực tiễn việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS
1.4.1 Về phía giáo viên
tử, trình chiếu tranh ảnh, video, phim tư liệu, sơ đồ…) để tạo biểu tượng địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử và tác dụng của nó trong dạy học Đồng thời GV cũng tìm cách truyền đạt để làm cho học sinh có những biểu tượng một cách sâu sắc nhất, tạo ra được không khí dạy học hứng thú cho học sinh, kích thích trí nhớ, trí thông minh của các em
* Hạn chế
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số GV chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí bộ môn lịch sử nên chưa thực sự tích cực trong giảng dạy, chưa hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử Các bài giảng chỉ mang tính chất cung cấp sự kiện, tóm tắt kiến thức lịch sử ở SGK
SGK hiện nay đã được đổi mới rất nhiều như; tăng kênh hình, giảm kênh chữ trong SGK buộc người GV phải có chuyên môn sâu, tư liệu kiến thức phong phú để khai thác, tạo biểu tượng cho các em Tuy nhiên, một bộ phận GV vẫn giữ cách dạy truyền thống thầy (cô) đọc, trò chép, không hướng dẫn khai thác cho học sinh phần kiến thức chìm trong SGK Chỉ khoảng 30% GV thỉnh thoảng
sử dụng kênh hình để tạo biểu tượng không gian địa điểm lịch sử
Hơn nữa, trong việc tạo biểu tượng về địa điểm cho HS, nhiều GV còn ngại khắc sâu, ngại tìm tòi tạo cho HS những hình ảnh sinh động, chân thực hay lấy
lí do không đủ thời gian để tạo biểu tượng cho HS… Đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, còn hẻo lánh do điều kiện vật chất kém nên việc ứng dụng CNTT là rất
Trang 23hạn chế nên chưa khai thác triệt để các phương tiện hỗ trợ để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện để phục vụ cho BHLS
1.4.2 Đối với học sinh
*Tích cực
Một bộ phận các em đã thực sự hứng thú với giờ học lịch sử - niềm đam
mê nghiêm túc Những năm gần đây chất lượng và số lượng học sinh giỏi môn lịch sử trong các kỳ thi các cấp được nâng lên Qua điều tra khi được hỏi “các
em có hứng thú với môn học lịch sử không” ? kết quả thu được có 10% HS là rất hứng thú, 20% HS trả lời là hứng thú, 65% HS là bình thường và 5% là không hứng thú
Kết quả phản ánh đa số học sinh đã nhận thức được vai trò, ý nghĩa của bộ môn lịch sử Học sinh nhận thức được kiến thức về sự kiện lịch sử, đặc biệt là yếu tố về địa điểm - nơi xảy ra sự kiện lịch sử trong giáo dục truyền thống đạo đức niềm tự hào dân tộc, phát triển nhân cách cho học sinh
* Hạn chế
Phần lớn các em không nhận thức được vị trí môn học do tâm lý coi thường
bộ môn, là môn phụ, môn học thuộc lòng nên dẫn đến các em không thích thú với việc học tập các nhân vật lịch sử các em cũng không có hứng thú học
Hơn thế nữa, việc tiếp thu kiến thức lịch sử có nhiều hạn chế, khi được hỏi
về các địa danh diễn ra sự kiện học sinh trả lời nhầm lẫn, nhớ kiến thức một cách mơ màng Việc ứng dụng CNTT trong DHLS nhất là để tạo biểu tượng địa điểm xảy ra còn quá ít, xuất phát bởi nhiều nguyên nhân
Kết quả trên phản ánh một tình trạng đáng quan tâm về dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay Muốn giải quyết tình trạng này phải bắt đầu từ thái
độ tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo cả người dạy và học, với việc sử dụng CNTT có hiệu quả nhằm tạo biểu tượng địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS là điều hết sức cần thiết
1.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Thực trạng của việc ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra
sự kiện trong DHLS ở trường phổ thông hiện nay do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan
Quan niệm cho rằng bộ môn lịch sử chỉ là một môn phụ vẫn còn tồn tại nhiều Nên đã tác động đến tâm lý của GV và HS yếu tố coi thường đối phó dạy
Trang 24và học, tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, thương mại hóa giáo dục - một số giáo viên chưa trau rồi nghề nghiệp của mình thật tốt
Một số giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa, hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn lịch sử, có thể do giáo viên ít nhận được sự đồng tình ủng hộ lãnh đạo các trường phổ thông chưa hiểu rõ vai trò ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử…kỹ năng vận dụng CNTT trong dạy học của GV ở trường phổ thông còn yếu kém
Đồng thời có một bộ phận GV chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa thực
sự tiến hành đầu tư thời gian, cũng như tâm huyết với nghề, việc chuẩn bị bài giảng kể cả đã có một số giáo viên biết khai thác sơ đồ, bản đồ, kênh hình… Tuy nhiên, chưa nhận thức tối ưu trong việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy rá
sự kiện lịch sử
Một nguyên nhân cơ bản nữa là không thay đổi được kiểu dạy truyền thống không ít giáo viên lâu năm với cách dạy học “thầy đọc - trò chép” làm cho môn lịch sử vốn ít thu hút được sự quan tâm của học sinh so với môn học khác nay càng trở nên buồn tẻ, không phát huy được tinh thần học tập tích cực của học sinh Trong giờ học lịch sử các em thường học với tâm lý gượng ép, buồn chán thậm trí một số em mang bài học của môn khác ra học thay cho việc học và chép bài của môn lịch sử
Xuất phát từ yêu cầu bức thiết của việc dạy và học lịch sử ở trường phổ thông, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử là một điều tất yếu, trong đó việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử là một trong những biện pháp vô cùng đúng đắn và hiệu quả vào giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của nhà giáo dục em xin đưa ra một số biện pháp của ứng dụng để tạo biểu tượng về địa điểm cho học sinh qua giai đoan lịch sử việt nam 1945-1954 lớp 12 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
Trang 25
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT ĐỂ TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA ĐIỂM XẢY RA SỰ KIỆN TRONG DHLS VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1945 - 1954 LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Vị trí, mục đích, nội dung nghiên cứu cơ bản của giai đoạn lịch sử Việt Nam 1945 - 1954 lớp 12 trung học phổ thông
Kiến thức của chương thể hiện rõ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, tình đoàn kết quốc tế cao
Chính vì vậy, chương này cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức lịch sử quan trọng với các sự kiện hấp dẫn, có ý nghĩa giáo dục và phát triển, học sinh, đặc biệt là khả năng tư duy, độc lập sáng tạo của các em
Bước phát triển của cuộc kháng chiến chống pháp từ 1946-1954 với những thắng lợi có tính chất bước ngoặt Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía bắc, vĩ tuyến
16, chiến dịch Việt Bắc 1947, chiến dịch Thu - Đông 1950, các chiến dịch tiến công giữ vững chủ quyền chủ động trên chiến trường (1951-1953), đặc biệt thắng lợi trong cuộc chiến Đông - Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch
Trang 26Điện Biên Phủ với hiệp định Giơnevơ vế Đông Dương chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở đông dương
Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp (1946-1954)
Hiểu rõ các khái niệm, thuật ngữ lịch sử “chiến dịch”, “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, “thế chủ động”…
- Về mặt giáo dục :
Việc học giai đoạn lịch sử này giáo dục cho học sinh lòng căm thù quân xâm lược, căm ghét chiến tranh, quý trọng nền hòa bình, độc lập mà các em đang sống
Đồng thời, với những kiến thức trên, giáo dục cho học sinh niềm tin, biết
ơn đối với sự lãnh đạo của Đảng, với Bác Hồ kính yêu, các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh xương máu để bảo vệ tổ quốc Đặc biệt qua những thành tựu to lớn đó, cần giáo dục cho học sinh truyền thông yêu nước bất khuất, vì độc lập tự do, biết trân trọng và có trách nhiệm phát huy những thành quả cách mạng của dân tộc
- Về mặt phát triển
Nội dung lịch sử giai đoạn 1945-1954 rất phong phú và đa dạng Vì vậy việc vận dụng, phối hợp các đồ dùng trực quan, phương tiện dạy học phù hợp với từng nội dung lịch sử, sẽ có tác dụng rất lớn trong việc phát triển toàn diện học sinh về trí tưởng tượng óc tư duy, sự phân tích, tổng hợp, so sánh đánh giá đặc biệt phát triển kỹ năng thực hành bộ môn như vẽ và sử dụng bản đồ, sưu tầm tài liệu
2.1.3 Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954
Nội dung cơ bản nhất của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 là: Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ra đời Nước ta bước vào kỷ nguyên mới với nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp muôn vàn khó khăn và thử thách to lớn
Chính quyền cách mạng đứng trước tình hình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” cùng một lúc chống lại ba loại giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh truyền thống yêu nước, sức mạnh đoàn kết, trong xây dựng đất nước và trong đấu tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta, cùng với những thuận lợi đã được phát
Trang 27huy, những khó khăn to lớn đã được khắc phục Từ những kết quả đó chính quyền cách mạng đã được xây dựng, củng cố và bảo vệ
Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân pháp trắng trợn xóa bỏ hiệp định sơ bộ (6-3-1946) và tạm ước 14-9-1946, đẩy nhân dân ta đứng trước hai con đường: Hoặc là cầm vũ khí đứng lên kháng chiến để bảo vệ nền độc lập
tự do của tổ quốc hoặc là cúi đầu làm nô lệ cho pháp
Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn con đường cầm vũ khí, toàn quân đứng lên kháng chiến từ ngày 19-12-1946, sau gần một năm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân ta, khiến chúng gặp khó khăn Chúng quyết định tiến công lên Việt Bắc tháng 10-1947 với hi vọng kết thúc chiến tranh Việc pháp tấn công lên Việt Bắc không nằm ngoài dự đoán của ta, nên ta đã dành được thắng lợi to lớn trong chiến dịch này Từ cuối năm 1949 đến năm 1950, bên cạnh những thuận lợi của cuộc kháng chiến thì đế quốc Mĩ bắt đầu can thiệp sâu và “dính líu trực tiếp” vào cuộc chiến tranh Đông Dương trở thành kẻ thù của nhân dân Việt Nam Trước tình hình đó, ta đã chủ động mở chiến dịch biên giới Thu - Đông 1950 với chiến thắng biên giới Thu - Đông năm 1950, con đường liên lạc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa được khai thông, quân đội ta dành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc bộ, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến
Sau chiến thắng biên giới Thu - Đông năm 1950 ta tiếp tục chủ động mở hàng loạt các cuộc tiến công, giữ vững quyền chủ động trên chiến trường
Bước sang năm 1953, sau 7 - 8 năm tiến hành cuộc tiến hành chiến tranh xâm lược với nhiều thủ đoạn khác nhau, nhưng pháp vẫn bị tổn thất về mọi mặt,
để cứu vãn tình hình Pháp - Mĩ quyết định vạch ra kế hoạch Nava nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh
Nắm được âm mưu của địch, quân ta quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp ký hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương
Dưới sự lãnh đạo sáng xuất của đảng đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chiến tranh nhân dân, đường lối quân sự đúng đắn, sự sáng tạo biết kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, nên chúng ta đã giành được thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mĩ
Trang 28Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một thập kỷ trên đất nước ta, miền Bắc nước ta chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa tạo cơ sở để nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc
Thắng lợi này đã giáng một đòn nặng nề vào hệ thống thuộc địa của Đế Quốc, ngăn chặn âm mưu của Mĩ định thay chân Pháp thống trị Đông Dương cổ
vũ nhân dân các nước thuộc địa, và phụ thuộc đứng lên đấu tranh và tự giải phóng chính mình
2.2 Hệ thống các địa điểm cần tạo biểu tượng cho học sinh trong giai đoạn (1945-1954)
Tên bài Địa điểm xảy ra
GV đặt các câu hỏi gợi mở để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện Sau khi
HS suy nghĩ, trao đổi trả lời thì GV nhận xét, chốt ý và trình bày bằng cách miêu tả kết hợp đàm thoại để khái quát lại nội dung kênh hình
Đoàn quân “Nam tiến” lên đường vào Nam chiến đấu
GV phóng to “Hình 46 Đoàn quân “Nam tiến” lên đường vào Nam chiến đấu”, SGK, trang 126 Tiếp theo, GV hướng dẫn
HS quan sát và đặt các câu hỏi gợi mở để
HS trao đổi, trả lời Sau cùng GV nhận xét, bổ sung và giải thích thêm Từ đó cụ thể hóa cho sự kiện kháng chiến chống Thực Dân Pháp trở lại xâm lược ở Việt Nam bằng phương pháp miêu tả, trao đổi
và đàm thoại với HS Giúp cho các em có được những biểu tượng sinh động và ghi
Trang 29GV nhận xét và khái quát lại với việc miêu
tả, trao đổi và đàm thoại sẽ giúp cho việc
cụ thể hóa sự kiện cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16
Lược đồ chiến dịch Việt Bắc Thu
- Đông năm 1947
Trước hết, GV có thể sử dụng BĐTT hoặc
sử dụng máy chiếu để chiếu lên màn hình, lược đồ chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 cho HS tiện quan sát Sau đó,
GV giới thiệu khái quát lược đồ, rồi trình bày âm mưu, kế hoạch của địch…Yêu cầu
HS nhận xét về âm mưu và hành động của Pháp Tiếp theo, GV hướng dẫn, giới thiệu cho HS về: tên, tỉ lệ bản đồ, kí hiệu diễn tả các cuộc tấn công, kết hợp với câu hỏi gợi
mở cho HS HS trả lời và sau cùng, GV lược thuật và chỉ bản đồ
Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950
GV sử dụng BĐTT in sẵn GV sẽ giới thiệu về: kí hiệu, hệ thống phòng ngự, âm mưu của địch…Hướng dẫn HS quan sát lược đồ kết hợp SGK và đưa ra các câu hỏi gợi mở HS suy nghĩ, trả lời Sau cùng,
GV dựa vào lược đồ và các TLTK để miêu
tả về vị trí, lược thuật trận Đông Khê (các thao tác: chỉ bản đồ, tạo căng thẳng…)
GV hướng dẫn HS tìm hiểu hoàn cảnh dẫn tới đại hội GV giới thiệu về: địa điểm, thời gian…kết hợp với “kênh hình 51 Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2-1951)”, SGK, trang 141, để đặt các câu hỏi gợi mở
Trang 30quốc chống
Thực Dân
Pháp
(1951-1953)
cho HS trả lời Sau đó, GV nhận xét, miêu
tả kết hợp với trao đổi và đàm thoại để chốt lại những điểm chính về nội dung của đại hội
Các đại biểu dự đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt (1951)
GV sẽ hướng dẫn HS quan sát kênh hình, giới thiệu về thành phần, vị trí các đại biểu Sau đó đặt các câu hỏi gợi mở cho
HS Các em trả lời Sau cùng, GV miêu tả
và phân tích và chốt lại những nét khái quát của Đại hội
GV sử dụng lược đồ: Hình thái chiến trường trong Đông - Xuân (1953-1954) Trước hết GV giới thiệu khái quát lược đồ, các kí hiệu, màu, hướng các mũi tên…Hướng dẫn HS quan sát kết hợp SGK đưa ra câu hỏi gợi mở Tiếp theo GV lược thật hoặc tường thuật kết hợp giải thích và chỉ trên bản đồ những nét chính
về cuộc tiến công của ta, kết quả của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân (1953-1954)
Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)
GV phóng to lược đồ hình 54 trong SGK hoặc sử dụng BĐTT in sẵn, hướng dẫn HS quan sát và đặt câu hỏi phát vấn về hoàn cảnh của chiến dịch Tiếp theo, GV treo bản đồ, sau đó miêu tả về vị trí, điều kiện
tự nhiên kết hợp với chỉ bản đồ
GV yêu cầu HS quan sát bản đồ có trong SGK và lên bảng chỉ bản đồ những phân khu của địch ở tập đoàn cứ điểm này, mối quan hệ giữa các phân khu …
GV có thể kết hợp hình ảnh đoàn xe thồ phục vụ chiến dịch, ảnh kéo pháo vào chiến dịch…và đặt một số câu hỏi gợi mở cho HS Cuối cùng, GV tiến hành tường
Trang 312.3 Một số biện pháp sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra
sự kiện trong DHLS giai đoạn (1945-1954 )
2.3.1 Sử dụng lược đồ có sự hỗ trợ của CNTT kết hợp với lời nói sinh động của giáo viên để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện
Các tài liệu về phương pháp dạy học lịch sử đều chỉ ra rằng, lược đồ thuộc nhóm đồ dùng trực quan quy ước tạo cho HS những hình ảnh tượng trưng khi phản ánh về chất lượng, số lượng của quá trình lịch sử, là phương tiện để cụ thể hóa sự kiện lịch sử - cơ sở để hình thành khái niệm cho HS Do vậy, GV cần phải nghiên cứu kĩ nội dung bản đồ, lược đồ trước khi lên lớp, đọc tên, tỷ lệ, chú giải bản đồ và đọc đến nội dung nào thì mới chỉ bản đồ tới đó
Ví dụ: Khi trình bày diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ, GV trình bày
diễn biến đợt nào thì mới giới thiệu mũi tên tiến công của đợt đó đồng thời kết hợp với ngôn ngữ nói để hướng vào việc phát huy tính tích cực học tập của HS -
là các câu hỏi hay các bài tập, bài kiểm tra đánh giá cho các em
Nhìn chung thì việc khai thác ĐDTQ - khai thác bản đồ, lược đồ theo các bước sau:
Bước 1: Cho HS quan sát bản đồ, lược đồ, chú ý cho HS quan sát cả về nội dung, ranh giới và các kí hiệu của lược đồ
Bước 2: GV đặt câu hỏi nêu vấn đề và gợi ý HS tìm hiểu nội dung lược đồ Bước 3: HS trả lời câu hỏi bằng việc trình bày kết quả tìm hiểu nội dung lược đồ
Bước 4: GV nhận xét, bổ sung câu trả lời của HS và hoàn chỉnh nội dung lược đồ, bản đồ mà HS cần tìm hiểu, cung cấp kiến thức cho HS
Để sử dụng lược đồ, bản đồ tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện,
GV có thể ứng dụng CNTT kết hợp với lời nói sinh động bằng các phương pháp (miêu tả, tường thuật, lược thuật…) sẽ giúp cho HS đi đúng con đường hình thành kiến thức lịch sử Từ cung cấp sự kiện, tạo biểu tương lịch sử, đặt cơ sở cho việc hình thành khái niệm, nêu quy luật và bài học lịch sử đồng thời giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ HS, duy trì hứng thú học tập cho các em
thuât, lược thuật trên bản đồ một số trận tiêu biểu như: trận Him Lam, trận trên đồi A1… Kết hợp chỉ bản đồ và TLTK dể bài tường thuật thêm sinh động
Trang 32Ví dụ: Khi dạy bài 20: “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực Dân
Pháp kết thúc (1953-1954), phần II, mục 2 “Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954”
Hình 54 Lược đồ diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)
Để miêu tả về vị trí của Điện Biên Phủ trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm
1954 Sau khi hướng dẫn HS quan sát bản đồ, rồi đưa ra các câu hỏi cho HS trả lời GV nhận xét và kết hợp với bản đồ được trình chiếu trên bảng để miêu tả, phân tích về vị trí Điện Biên Phủ như sau:
“ Điện Biên Phủ là một cánh đồng rộng lớn, nằm dọc theo sông Nậm Rốn,
ở vùng rừng núi Tây Bắc (GV dùng bút chỉ bằng tia laze khoanh tròn lòng chảo Điện Biên Phủ) dài 18km, rộng từ 6 - 8km, cách Hà Nội 500km, cách
Luông Pha Băng 300km theo đường chim bay Thung lũng nay nằm gần biên giới Việt - Lào trên một đầu mối giao thông quan trọng, có tuyến đường đi Lào
(GV chỉ bản đồ theo hướng đường đi Lào), có sông Nậm Rốn chảy theo hướng Bắc - Nam (GV chỉ bản đồ) đổ xuống sông Nậm Hu và có sân bay Mường Thanh (GV chỉ sân bay Mường Thanh)
Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược không chỉ với Đông Dương mà còn với Đông Nam Á Một trục giao thông nối liền biên giới Lào, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc, Điện Biên Phủ được ví như “Bàn xoay chiến lược” xoay đi bốn hướng: Việt Nam, Lào, Miến Điện, Trung Quốc, như cái “chìa khóa” để bảo
vệ Thượng Lào
Hay GV có thể tường thuật một trận chiến kết hợp với bản đồ, lược đồ có
sự hỗ trợ của CNTT như: Khi dạy bài 18: “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn Quốc chống Thực Dân Pháp (1946 - 1950)”, phần IV, mục 2
Trang 33Hình 50 Lược đồ chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950
GV tường thuật trận Đông Khê trong “Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950” Để đạt hiệu quả cao nhất thì trước hết, GV sử dụng lược đồ sau đó giới thiệu khái quát về lược đồ và các kí hiệu rồi đưa ra một số câu hỏi gợi mở như:
- Quan sát lược đồ, em hãy xác định địa bàn của chiến dịch?
- Em có suy nghĩ gì về địa bàn chiến dịch và và lực lượng quân địch tại đây?
Sau khi HS trả lời, GV nhận xét, miêu tả khái quát và tường thuật trận Đông Khê kết hợp với giải thích và chỉ bản đồ:
“Đứng trên đồi cao nhìn xuống, đồn Đông Khê như một tuần dương hạm khổng lồ giữa rừng biển xanh biên giới Đông Khê nằm giữa đường số 4 cách
Cao Bằng 45km về phía bắc, cách Thất Khê 2,5km về phía Nam (GV chỉ bản
đồ từ Đông Khê lên Cao Bằng rồi xuống Thất Khê) xung quanh có 7 vị trí kiên cố đóng trên một đồi cao như một bức tường vững chắc bao bọc (GV khoanh tròn Đông Khê trên bản đồ) đồn Đông Khê có hàng chục lô cốt thấp
sát mặt đất, nắp dày hơn 1m, có hầm ngầm tường cao, dây thép gai xung quanh
về thế cuộc chiến đấu chiếm điểm Đông Khê diễn ra ác liệt
GV tường thuật trận Đông Khê Trước tiên, GV giới thiệu bản đồ (Mũi tên màu xanh quân ta tấn công):
“Vào 6h sáng ngày 16/9/1950, đạn pháo ta nổ vang trên cứ điểm Đông Khê, trận đánh mở màn chiến dịch bắt đầu Sau những cuộc chiến đấu ác liệt quân ta