Như vậy, hiểu biết về mạch lạc để xác định, nắm bắt những biểu hiện cụ thể của mạch lạc là hết sức quan trọng, không chỉ đối với người nghiên cứu ngôn ngữ, người làm công tác phê bình vă
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC - -
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC - -
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh
HÀ NỘI – 5/2009
Trang 3đi đến thống nhất bởi tính phức tạp trong nội tại khái niệm
Trong những năm gần đây, mạch lạc đã và đang trở thành một vấn
đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước
và đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng Có thể nói đây chính là
sự mở rộng của ngôn ngữ học trên nhiều phương diện như đối tượng nghiên cứu, hệ thống khái niệm và phương pháp luận
Trong những nghiên cứu về mạch lạc, mạch lạc trong lời nói chiếm một vị trí khá quan trọng và là một vấn đề tương đối mới mẻ Tuy vậy, trong các tư liệu, công trình nghiên cứu từ trước đến nay, vấn đề mạch lạc trong lời nói chưa được đề cao và đưa lên vị trí xứng tầm của nó Mặc dù các lời nói rất đa dạng, biến hoá muôn hình vạn vẻ nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng dễ dàng nắm bắt được cái “mạch” giữa chúng Như vậy, hiểu biết về mạch lạc để xác định, nắm bắt những biểu hiện cụ thể của mạch lạc là hết sức quan trọng, không chỉ đối với người nghiên cứu ngôn ngữ, người làm công tác phê bình văn học mà còn quan trọng với cả những người viết văn, làm báo, nhà chính trị, nhà khoa học…
Chọn đề tài Mạch lạc diễn ngôn hội thoại trong một số tác phẩm
văn học hiện đại, chúng tôi mong muốn góp phần làm rõ thêm khái niệm
mạch lạc, đồng thời chỉ ra hướng triển khai mạch lạc mới trong văn bản
Trang 4nghệ thuật, trên cơ sở đó đi vào lý giải sự phát triển tư duy văn học trong những năm gần đây dựa trên các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ nhằm
cụ thể hoá khái niệm mạch lạc nói chung, khái niệm mạch lạc diễn ngôn hội thoại nói riêng trong các văn bản văn học, vai trò tạo lập tính chỉnh thể văn bản của mạch lạc, cách xác định mạch lạc trong một văn bản nghệ thuật
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu “mạch lạc”
Mạch lạc nói chung và mạch lạc diễn ngôn hội thoại nói riêng không phải là những khái niệm quá mới mẻ, nhưng việc ứng dụng chúng vào việc nghiên cứu văn học lại chưa được nhiều người quan tâm
Trong ngôn ngữ học hiện đại, giai đoạn thứ hai của ngôn ngữ học văn bản và là thời kì hưng thịnh của dụng học, vấn đề mạch lạc được đề cập khá thường xuyên, hầu như trong các công trình nghiên cứu về diễn ngôn, dù là trực tiếp hay gián tiếp
K.Wales đã viết “Mạch lạc được coi là một trong những điều kiện
hoặc những đặc trưng hàng đầu của một văn bản: ngoài mạch lạc, một văn bản không đích thực là một văn bản” Như vậy đối với một văn bản, mạch
lạc vừa là điều kiện cần vừa là điều kiện đủ Không có mạch lạc, một chuỗi câu không thể trở thành một văn bản được
Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về mạch lạc, có thể kể đến công trình của các tác giả Widdowson, Green, Edmoson, Gullian Brown, David Nunan… Tuy nhiên các cách hiểu về mạch lạc cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn trên cơ sở khoa học Chẳng hạn, D
Nunan, 1993, quan niệm mạch lạc là cái tầm rộng mà ở đó các lời nói
được tiếp nhận như là có mắc vào nhau, chứ không phải là một tập hợp các câu nói không có liên quan với nhau Pergram Press trong “Bách khoa thư
ngôn ngữ và ngôn ngữ học”, 1994, quan niệm mạch lạc là sự nối kết có
tính chất logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện kể… lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được nối kết với
Trang 5nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết) D
Togeby, 1994 cho rằng mạch lạc là cái đặc tính của sự tích hợp văn bản,
tức là cái đặc tính đảm bảo cho các yếu tố khác nhau trong văn bản được khớp với nhau trong một tổng thể gắn kết Còn Galperin hiểu mạch lạc
trong văn bản văn chương nói chung như sau: “Những phương tiện liệt kê
mạch lạc được xem là những phương tiện logic bởi vì chúng được sắp xếp vào những khái niệm logic-triết học, những khái niệm về chuỗi liên tục, về quan hệ thời gian, không gian, nhân-quả Những phương tiện giải mã dễ dàng bởi vậy không kìm giữ sự chú ý của người đọc, chỉ trừ những trường hợp muốn hay không vẫn phát hiện ra sự tương ứng giữa các đại diện được kết chuỗi với chính những phương tiện mạch lạc”
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thiện Giáp… là những người đi đầu trong việc nghiên cứu các vấn
đề về mạch lạc nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những khái niệm ban đầu chứ chưa đi sâu vào khảo sát nghiên cứu từng hiện tượng cụ
thể Công trình nghiên cứu của Giáo sư Diệp Quang Ban với Văn bản và
liên kết trong tiếng Việt (1998) lần đầu tiên đã đề cập đến mạch lạc một
cách tổng thể và chi tiết Sau đó, với Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết,
đoạn văn (2003), Giáo sư đã giới thiệu “những nội dung có phân hoạch rõ ràng hơn và chi tiết hơn, xứng đáng với vị trí thực hữu của mạch lạc trong quá trình tạo lập và giải thích văn bản” Đinh Trọng Lạc với Phong cách tiếng Việt (2004), Đỗ Hữu Châu với Ngữ pháp văn bản (2004), Nguyễn
Thiện Giáp với Dụng học Việt ngữ (2000), Bùi Minh Toán với Tiếng Việt
thực hành (2004), Nguyễn Thị Thìn, Nguyễn Thị Việt Thanh… cũng đã có
những nghiên cứu từ những góc độ khác nhau, góp phần làm “dày” dần những nghiên cứu về mạch lạc ở Việt Nam Trong những năm gần đây cũng đã có một vài khoá luận, luận văn đề cập đến vấn đề này, như khoá luận của Vương Bá Cẩn (K42 Ngôn ngữ), Nguyễn Thị Xuân Nữ (K43 Ngôn ngữ), Hoàng Thu Trang (K46CLC Ngôn ngữ) đi vào tìm hiểu mạch
Trang 6lạc từ các góc độ khác nhau… Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga cũng đã đề cập đến các biểu hiện của mạch lạc theo quan hệ thời gian và không gian trong một số truyện ngắn Các công trình trên đã đưa ra được một số nhận xét bước đầu về mạch lạc, góp phần bổ sung và hoàn thiện thêm những nghiên cứu của các tác giả đi trước
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết chung và tiếp thu, tổng hợp những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, trong luận văn này, chúng tôi đi vào tìm hiểu hiện tượng mạch lạc diễn ngôn hội thoại trong một số tác phẩm văn học hiện đại, qua đó hi vọng sẽ rút ra được các đặc trưng của mạch lạc trong văn bản nói chung và trong các văn bản diễn ngôn hội thoại nói riêng
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn này là các diễn ngôn hội thoại, cụ thể là các cặp thoại Hỏi - Đáp được rút ra từ các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết in trong một số tuyển tập như:
- Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (NXB Hội Nhà văn - 2004)
- 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (NXB Hội Nhà văn – 2004)
- Giấc mơ không có con dế nhỏ (NXB Hội Nhà văn và báo Tiền Phong - 1997)
- 80 tác giả nữ Việt Nam (NXB Thanh niên – 2000)
- Truyện ngắn hay 2000 (NXB Hội Nhà văn – 2000)
- Truyện ngắn chọn lọc (NXB Hội Nhà văn – 1995)
- Truyện ngắn chọn lọc báo Văn nghệ trẻ 2002 (NXB Hội Nhà văn – 2003)
- Truyện ngắn hay và đoạt giải Tạp chí Văn nghệ Quân đội
2001-2002 (NXB Văn học – 2003)
- Dương Hướng, Bến không chồng (NXB Hội Nhà văn)
- Nguyễn Quang Sáng, Con mèo của Foujitta (NXB Phụ nữ - 1996)
Trang 7- Thạch Lam, Một đời người (NXB Văn học, 1987)
- Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn
- Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam
- Trần Văn Tuấn, Ngõ hẻm bên cầu
- Nguyễn Dậu, Con thú bị ruồng bỏ
Có thể nói rằng, trong diễn ngôn, mạch lạc biểu hiện ở khả năng dung hợp giữa các hành động nói Hành động nói là hành động được thực hiện trong khi nói như hành động hỏi, ra lệnh, hứa hẹn, chào, cảm ơn, xin lỗi… Có những hành động nói thường phải đi đôi với nhau và cũng có những hành động nói không thể ăn nhập với nhau Khi các hành động nói
đi đôi với nhau thì bản thân chúng cũng tạo ra được mạch lạc cho những lời trao đổi hoặc những chuỗi câu nối tiếp nhau Chẳng hạn hành động hỏi thường kéo theo hành động trả lời, hành động mời thường kéo theo hành động chấp nhận hoặc từ chối lời mời, hành động chào thường kéo theo hành động chào đáp lễ Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, do sự giới hạn về thời gian và tư liệu, chúng tôi chỉ xin đề cập đến vấn đề mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp (cặp thoại có thể được xem là dạng tiêu biểu nhất của diễn ngôn hội thoại), đặc biệt là các cặp thoại Hỏi – Đáp bao gồm một lượt lời và hai lượt lời
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trong các cặp thoại Hỏi – Đáp thường có một người đưa ra câu hỏi
và người kia đáp lại Tuy nhiên trong thực tế, không phải lúc nào câu hỏi
và câu đáp cũng có sự tương hợp với nhau Trong nhiều trường hợp câu đáp dường như không có sự liên quan gì với câu hỏi cả về mặt nội dung cũng như sự hiện diện của các phương tiện liên kết ngữ kết học, song nó lại chính là câu trả lời xác đáng cho thông tin còn thiếu cũng như biểu thị sự phản ứng đối với câu hỏi Mục đích của luận văn này là đi tìm sự mạch lạc trong cả hai trường hợp: cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp và cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp Trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp thì mạch
Trang 8lạc chính là khi người nghe hiểu câu hỏi của người nói và đưa ra lời đáp phù hợp với câu hỏi đó (có thể là nội dung thông tin của sự đồng tình, bác
bỏ, khẳng định, tuyên bố…) Còn trong trường hợp các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp thì yếu tố quyết định sự mạch lạc chính là sự tồn tại của các lớp nghĩa ngầm ẩn, sâu xa, những tiền giả định, hàm ý… mà chúng
ta khó có thể nhận thấy thông qua các phương tiện ngôn ngữ hiển ngôn Việc nghiên cứu mạch lạc trong diễn ngôn hội thoại nói chung và các cặp thoại Hỏi – Đáp nói riêng sẽ giúp cho quá trình giao tiếp giữa con người với con người được tốt hơn, duy trì được những xu hướng tích cực trong hội thoại để từ đó mỗi đối tượng giao tiếp đều có thể đạt được những mục đích giao tiếp nhất định
Đi tìm sự mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp đồng nghĩa với việc tìm hiểu sự liên quan về mặt nội dung giữa chúng, đồng thời lý giải được sự liên quan về nghĩa đó được biểu hiện như thế nào Bên cạnh đó, việc khảo sát hiện tượng mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp được chúng tôi tiến hành trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong công trình này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích miêu tả Ngoài ra các phương pháp khác như thống kê, so sánh, đối chiếu… cũng được chúng tôi vận dụng nhằm phục vụ hiệu quả cho mục đích nghiên cứu của mình
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi được bố cục thành ba chương cụ thể như sau:
Chương 1: Một số cơ sở lí thuyết
Chương 2: Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp
Chương 3: Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1 Vấn đề mạch lạc
1.1 Các quan niệm về mạch lạc
Như đã nói ở trên, vấn đề mạch lạc từ lâu đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, song giữa họ vẫn chưa đi đến một sự thống nhất hoàn toàn trên phương diện khoa học về cách hiểu cũng như định nghĩa thuật ngữ “mạch lạc”
Halliday và Hasan không bàn đến mạch lạc riêng rẽ như một đề tài,
mà chỉ nhắc đến nó nhân nói đến dấu vết của tình huống trong văn bản Tuy nhiên qua đó cũng thấy được một phần quan niệm về mạch lạc của tác giả Đề tài chung có liên quan đến mạch lạc được bàn đến ở đây là “chất
văn bản” (texture): “… chất văn bản bao gồm nhiều hơn, không chỉ là sự
có mặt của những quan hệ nghĩa thuộc loại mà chúng tôi qui về liên kết -
sự phụ thuộc của một yếu tố này vào yếu tố khác để giải thích được nó Nó bao gồm cả một chừng mực nào đó của mạch lạc trong các ý nghĩa được diễn đạt: không chỉ hoặc cũng không phải chủ yếu là ở nội dung, mà ở sự lựa chọn toàn bộ từ các nguồn ý nghĩa của ngôn ngữ đó, bao gồm cả các thành tố liên cá nhân (xã hội - biểu cảm - ý chí) khác nhau - các thức, các tình thái, các độ mạnh, và những hình thái khác nữa mà người nói nhồi nhét vào trong tình huống nói”
So với Halliday và Hasan thì cách định nghĩa của David Nunan có
phần dễ hiểu hơn Theo ông “mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn
được tiếp nhận như là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan nhau”
Các tác giả Việt ngữ học cũng đưa ra các cách nhìn nhận về mạch
lạc Theo Nguyễn Thiện Giáp thì “văn bản mạch lạc là văn bản mà ở đó
Trang 11người giải mã có thể cấu trúc lại sơ đồ của người nói một cách hợp lí bằng cách suy luận những mối liên hệ giữa các câu và những mối liên hệ riêng biệt của chúng với những mục đích thứ cấp khác nhau trong sơ đồ giải thích, khiến cho sự khó hiểu trở nên dễ hiểu” Theo quan điểm này,
mạch lạc không phụ thuộc vào những đặc trưng liên kết lẫn nhau mà phụ thuộc vào qui mô mà người tạo ra văn bản cố gắng đạt được để cấu trúc một sơ đồ hợp lí trong việc tạo ra văn bản Cấu trúc một sơ đồ hợp lí trong việc tạo ra văn bản lại phụ thuộc vào việc xem xét mỗi câu có phải
là sự thể hiện của một chân lí, một đóng góp cần thiết và thích hợp đối với sơ đồ đó hay không
Còn theo Diệp Quang Ban, “mạch lạc là một khái niệm phức tạp và
bao gồm nhiều yếu tố trừu tượng không dễ xác định” Từ góc độ dụng học,
ông đã phát biểu rằng: “mạch lạc chính là sự áp dụng các qui tắc tạo hành
động và hiểu hành động nói” Trong cuốn “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” ông đã khái quát mạch lạc thành ba kiểu như sau
1 Mạch lạc trong triển khai mệnh đề
2 Mạch lạc trong hành động ngôn ngữ
3 Mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác
Nếu đặt các cách hiểu mạch lạc này trong mối quan hệ với liên kết
và với văn bản/phi văn bản thì có thể thấy chính mạch lạc là yếu tố có tác dụng làm cho một sản phẩm ngôn ngữ có tư cách là một văn bản
Tác giả Nguyễn Hoà trong cuốn “Phân tích diễn ngôn - Một số vấn
đề lí luận và phương pháp” cũng đã nhận định rằng: “mạch lạc là một vấn
đề cốt yếu của lí luận phân tích diễn ngôn” Trong chương 1, khi bàn về
vấn đề mạch lạc, ông cũng đã xem xét một vài khía cạnh tạo mạch lạc chính trong diễn ngôn như mạch lạc trong liên kết, mạch lạc trong cấu trúc… Nguyễn Hoà đã tóm tắt được quan điểm của các tác giả đi trước và đưa ra được các ví dụ cụ thể để phân tích, bên cạnh đó ông cũng tán thành
Trang 12quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp cho rằng “cái quyết định để một sản
phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn hay văn bản chính là mạch lạc”
Khái niệm mạch lạc văn bản tuy chưa thống nhất nhưng các nhà nghiên cứu đều xem mạch lạc là điều kiện đặc trưng và cơ bản nhất của một văn bản đích thực Tuy nhiên, mạch lạc vẫn là một cái gì đó khó nắm bắt, bởi vì nó thuộc về tầm rộng và chiều sâu cấu trúc nội dung toàn văn bản Nhưng chắc chắn rằng chính mạch lạc mới khiến cho một sản phẩm ngôn ngữ trở thành văn bản hay phát ngôn Điều này cũng đã được các nhà ngôn ngữ học như Lê Quang Thiêm, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban,
Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Việt Thanh, Nguyễn Thị Thìn nhắc đến Tuy
có nhiều cách định nghĩa như vậy, nhưng chung quy lại, tất cả các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản đều thống nhất ở một điểm: Mạch lạc là đặc trưng quyết định tính thống nhất văn bản của một văn bản đích thực Những cách hiểu mạch lạc từ dung dị đến khái quát, từ đơn giản đến phức tạp, một mặt giúp người quan tâm hình dung được hiện tượng mạch lạc ở nhiều khía cạnh khác nhau, mặt khác chứng tỏ mạch lạc là một hiện tượng phức tạp gồm nhiều yếu tố trừu tượng, không dễ xác định
Theo chúng tôi, quan niệm về mạch lạc của David Nunan là đơn giản
và dễ hiểu nhất, lại có thể thâu tóm được toàn bộ các vấn đề về mạch lạc
Do vậy trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chấp nhận quan điểm về mạch lạc của tác giả David Nunan và coi đó là phương hướng để đi sâu vào tìm hiểu sự mạch lạc diễn ngôn hội thoại (cụ thể hơn là mạch lạc của các cặp thoại Hỏi – Đáp) trong một số tác phẩm văn học hiện đại
1.2 Phân biệt mạch lạc và liên kết
Chúng ta đều thừa nhận quan điểm rằng “ở đâu có văn bản đích thực
thì ở đó có mạch lạc” Trong trường hợp này liên kết hình thức chỉ là
phương tiện hiển ngôn hoá mạch lạc Các câu trong một văn bản mạch lạc
có thể vẫn gắn bó với nhau mà không cần tới những dấu hiệu hình thức chỉ
ra quan hệ giữa các câu Tuy nhiên ranh giới giữa mạch lạc và liên kết là
Trang 13rất mong manh và chúng ta khó có thể phân biệt được chúng một cách rạch ròi Chúng ta có thể tạo ra những chuỗi câu có liên kết hình thức nhưng không có mạch lạc, ví dụ:
Hồ Tây là hồ lớn nhất Hà Nội Hà Nội là thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á
Hay như ví dụ tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra:
Cắm bơi một mình trong đêm Đêm tối bưng không nhìn rõ mặt đường Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm Khung cửa xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng Trăng bồng bềnh nổi lên qua dãy Pú Hồng Dãy núi này có ảnh hưởng quyết định đến gió mùa đông bắc ở miền Bắc nước ta Nước ta bây giờ của ta rồi, cuộc đời bắt đầu hửng sáng
Có thể thấy hai câu trong mỗi đôi câu của ví dụ trên đều có liên kết với nhau bằng phương thức nhắc lại (lặp) từ vựng và từng đôi câu ấy cũng hình thành được một đề tài chung nào đấy Nhưng nhìn toàn bộ từ câu đầu đến câu cuối thì ta không thể biết đề tài - chủ đề của chuỗi câu này là gì, tức là không có sự mạch lạc
Một ví dụ phổ biến khác mà rất nhiều công trình đã sử dụng:
Anh ấy đã từng đi đánh trận ở nhiều nơi Anh đã bị hai phát đạn Một phát ở đùi Một phát ở Đèo Khế
Sự vi phạm tính logic trong triển khai mệnh đề ở đây làm cho câu cuối cùng không “ăn nhập” được với phần văn bản đi trước, tức là không mạch lạc với phần văn bản đi trước, mặc dù ở đây tính thống nhất đề tài - chủ đề vẫn được bảo toàn
Bên cạnh đó, có những phát ngôn không hề xuất hiện liên kết hình thức nhưng chúng ta vẫn có thể nhận ra sự mạch lạc giữa chúng Như ví dụ
mà Widdowson (1978) đưa ra:
A: Có điện thoại kìa
B: Em đang tắm
Trang 14A: Có điện thoại kìa Yêu cầu
B: Em đang tắm Xin lỗi vì không thực hiện yêu cầu
A: Thôi được Chấp nhận lời xin lỗi
Điều này cũng ứng với quan điểm của Nunan (1993) : “khi các
chức năng đã nhận dạng được thì tính mạch lạc của các phát ngôn cũng được phơi bày”
Quay lại với vấn đề phân biệt giữa mạch lạc và liên kết, tác giả Nguyễn Hoà đã nhận định rằng: Liên kết với tư cách là một phương tiện hiện thực hoá mạch lạc có một vai trò rất quan trọng trong lí luận và thực tiễn phân tích diễn ngôn Tuy nhiên cũng không nên hiểu ngược lại rằng mạch lạc là các phương tiện liên kết Liên kết chỉ là phương tiện để tạo mạch lạc, và cũng chưa có bằng chứng cho thấy rằng một văn bản càng có nhiều phương tiện liên kết thì tính mạch lạc của nó càng cao Như vậy chúng ta không nên lẫn lộn giữa liên kết và mạch lạc
Về mối quan hệ giữa mạch lạc và liên kết, có thể nói như GS Diệp
Quang Ban: “Mạch lạc là yếu tố quyết định văn bản, trong đó nổi rõ lên
việc tạo thành tính thống nhất đề tài (chủ đề) của văn bản Trong khi không
ít trường hợp, mạch lạc có thể sử dụng các phương tiện liên kết để làm cái diễn đạt cho mình, tuy nhiên mạch lạc có thể không cần dùng đến phương tiện liên kết, mà trái lại có dùng phương tiện liên kết chưa chắc đã tạo ra được mạch lạc cho văn bản” Ở Việt Nam, khái niệm mạch lạc đã được
một số nhà ngôn ngữ học diễn giải từ những góc độ khác nhau, bằng các cách khác nhau Đồng thời với việc tìm hiểu khái niệm mạch lạc, các tác giả đều cố gắng phân biệt mạch lạc với liên kết – một khái niệm khá quen
Trang 15thuộc trong giới ngôn ngữ học Việt Nam Cũng theo ông thì: “Cách nhìn
chung nhất hiện nay là những từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữ các câu - phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc” “Mọi văn bản
có mạch lạc tiềm ẩn đều có thể sử dụng phương tiện liên kết để hiển ngôn hóa các kết nối mạch lạc, liên kết trong chừng mực đó là một thứ phương tiện liên kết của mạch lạc ”
Đỗ Hữu Châu đã viết: “Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận
đơn hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn”
Theo Bùi Minh Toán thì lại: “Trước đây, thuật ngữ liên kết được
dùng để chỉ chung cả phương diện liên kết nội dung lẫn liên kết hình thức của văn bản Gần đây, hai phương diện này được gọi bằng thuật ngữ khác
để phản ánh đúng đắn hơn bản chất của các vấn đề nghiên cứu Vì thế, phương diện liên kết nội dung nhận được tên gọi mới mạch lạc, trong khi
đó, phương diện liên kết hình thức vẫn được gọi chung là liên kết Mạch lạc trong văn bản được thể hiện cụ thể ra thành sự thống nhất về đề tài, sự nhất quán về chủ đề và sự chặt chẽ về logic”
Rõ ràng ở đây có sự phân biệt giữa mạch lạc và liên kết Tuy mạch lạc và liên kết không phải là những khái niệm đối lập nhau nhưng việc phân biệt chúng không phải lúc nào cũng thật rõ ràng Chúng ta đều hiểu
và chấp nhận quan điểm rằng liên kết chỉ là một trong những phương tiện thể hiện sự mạch lạc chứ không phải là yếu tố quyết định mạch lạc Trong luận văn này, chúng tôi coi các liên kết hình thức là một yếu tố để củng cố thêm cho mạch lạc của các diễn ngôn hội thoại nói chung và các cặp thoại Hỏi – Đáp nói riêng, còn chính sự liên hệ với nhau về mặt nội dung cũng như sự liên hệ của những yếu tố ngầm ẩn giữa các phát ngôn mới là nhân
Trang 16tố quyết định xem các diễn ngôn hội thoại/các cặp thoại Hỏi - Đáp đó có mạch lạc hay không
1.3 Mạch lạc diễn ngôn
Với cách hiểu chung nhất, mạch lạc tồn tại trong ba phạm vi khái quát nhất là: mạch lạc trong quan hệ nghĩa – logic giữa các từ ngữ trong văn bản, mạch lạc trong quan hệ giữa văn bản với ngữ cảnh tình huống, mạch lạc trong quan hệ giữa các hành động nói (mạch lạc trong diễn ngôn) Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ xin đi vào nghiên cứu phạm vi mạch lạc trong các diễn ngôn hội thoại, cụ thể hơn là các cặp thoại Hỏi – Đáp của một số tác phẩm văn học hiện đại
Trong câu nói diễn đạt các hành động nói nối tiếp nhau một cách chấp nhận được có thể chứa những từ ngữ cho thấy chúng liên kết với nhau, cũng có thể không chứa những từ ngữ liên kết chúng, nhưng chúng vẫn có thể đi được với nhau Khả năng cùng đi với nhau của các hành động nói như vậy được gọi là khả năng dung hợp nhau của các hành động nói
Ví dụ:
- Hôm nay em cho anh ăn món gì đấy?
- Anh đi mà hỏi con Liên ấy!
Rõ ràng ở đây người trả lời không đáp trực tiếp vào hành động hỏi
có chủ hướng của người hỏi mà lại đáp vào chính việc hỏi của người hỏi Đứng ở phương diện từ ngữ thì hai phát ngôn này có vẻ không ăn nhập với nhau nhưng xét về khả năng dung hợp giữa các hành động nói thì rất mạch lạc Vì phát ngôn của người hỏi là một hành động hỏi và phát ngôn của người trả lời là một hành động trả lời
1.4 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp
* Cặp thoại Hỏi – Đáp
Cặp thoại Hỏi – Đáp có đầy đủ các tính chất và đặc điểm của một cặp thoại thông thường và xảy ra khi người nói đưa ra lời trao là một câu
Trang 17hỏi và người nghe có sự phản ứng lại Cả hai làm thành một chu trình giao tiếp khép kín
Về cơ bản, hỏi là tìm kiếm thông tin, khi chưa biết một vấn đề X nào đó thì chúng ta đặt câu hỏi về X và mong muốn được cung cấp thông tin về X Thông tin về X đó có thể được xác định ngay trong cấu trúc câu hỏi bởi các tiểu từ hỏi như ai, cái gì, ở đâu… X cũng có thể được xác định thông qua các cấu trúc ngữ pháp như “Có X hay không?”, khi đó câu trả lời có thể là “có X” hoặc “không có X”
Như vậy, dạng chính thức của một cặp thoại Hỏi – Đáp là:
Hỏi: tìm thông tin về X
Đáp: cung cấp thông tin về X
Tuy nhiên cần phải hiểu ý nghĩa cụm từ “cung cấp thông tin về X” ở đây theo nghĩa rộng Trong thực tế không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nhận được một câu trả lời truyền đạt trọn vẹn thông tin về sự thật, sự tình X nào đó mà ta đã đề cập trong câu hỏi Nhiều lúc lời đáp có thể chỉ là những phát ngôn được người nói phát ra để phản ứng lại những phát ngôn trước
đó Nguyên nhân của những phản ứng này rất đa dạng, người hỏi không đúng với cương vị câu hỏi được đặt ra, người hỏi có thái độ không thích hợp trong hành vi hỏi, câu hỏi đặt ra nhưng lại sai về tiền giả định… Thậm chí ở một số trường hợp, lời đáp dường như không có sự “ăn khớp” với câu hỏi song người nghe vẫn có thể hiểu, tiếp nhận và đáp trả lại để duy trì cuộc thoại Trong tất cả các trường hợp, hình thức của những lời đáp này cũng rất khác nhau: có thể là câu trần thuật, câu cảm thán, câu hỏi… Đôi khi, lời đáp còn được đưa ra dưới hình thức các cử chỉ, điệu bộ hay sự im lặng
Chúng tôi nhận thấy rằng xảy ra hai khả năng đối với lời đáp:
- Trường hợp 1: lời đáp là sự trả lời vào vấn đề được hỏi
- Trường hợp 2: lời đáp là sự phản ứng lại với phát ngôn hỏi Sự phản ứng này có thể được diễn đạt bằng các phương tiện ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, sự im lặng)
Trang 18Trong cả hai trường hợp lời đáp kể trên, cặp thoại Hỏi – Đáp vẫn duy trì được yếu tố người nghe hiểu và tiếp nhận những phát ngôn mà người nói phát ra Đảm bảo cho yếu tố đó chính là bởi giữa lời trao và lời đáp của cặp thoại có sự mạch lạc Đây cũng chính là vấn đề mà chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu trong những chương sau
* Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp
Bất cứ một câu hỏi nào khi được phát ngôn ra đều tiền giả định trong
đó những câu trả lời Nhiệm vụ của người nghe là phải tìm ra lời đáp tương ứng với một (một số) tiền giả định đó, giúp hình thành một cái “mạch” xuyên suốt câu hỏi và câu đáp Đó chính là sự mạch lạc giữa các cặp thoại Hỏi – Đáp
Đối với các cặp thoại Hỏi – Đáp mà lời đáp thuộc vào trường hợp thứ nhất trong hai trường hợp kể trên, chúng tôi tạm gọi đó là các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp Mạch lạc giữa các cặp thoại này thể hiện ở chỗ câu đáp đã sử dụng các phương tiện ngôn ngữ hiển ngôn để lấp đầy điểm hỏi trong câu hỏi, đồng nhất một sự tình, sự vật nào đó với đối tượng nghi vấn
mà câu hỏi đặt ra Khi đó, chúng ta dễ dàng nhận thấy có sự tương hợp giữa hai phát ngôn hỏi và đáp, người nghe dễ dàng hiểu được câu hỏi của người nói và từ đó đưa ra các lời đáp phù hợp
Đối với các cặp thoại Hỏi – Đáp mà lời đáp thuộc vào trường hợp thứ hai, chúng tôi cũng xin được quy ước gọi là các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp Trong thực tế cuộc sống, những cặp thoại này xuất hiện rất nhiều, rất đa dạng, phong phú Trong một số trường hợp phát ngôn hỏi
và phát ngôn đáp dường như không hề có sự ăn nhập với nhau, giữa chúng thiếu vắng hoàn toàn các phương tiện liên kết hiển ngôn song lời đáp vẫn chính là câu trả lời xác đáng, cần thiết cho câu hỏi Khi đó, sự mạch lạc giữa các phát ngôn trong cặp thoại không dễ dàng tìm được bởi các phương tiện ngôn ngữ hiển ngôn nữa mà như nằm sâu ở một tầng ngầm ẩn, một nấc
Trang 19nghĩa nào đó mà phải vận dụng các kiến thức ngôn ngữ về tiền giả định, về hàm ý… chúng ta mới có thể phát hiện ra được
Như trên đã trình bày, tác giả Diệp Quang Ban trong công trình
nghiên cứu “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” đã khái quát mạch lạc
thành ba kiểu: mạch lạc trong triển khai mệnh đề, mạch lạc trong hành động ngôn ngữ và mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng cách phân chia mạch lạc của Diệp Quang Ban như kim chỉ nam, như phương pháp phân tích khi nghiên cứu mạch lạc ở các cặp thoại Hỏi – Đáp Tuy nhiên, theo quan niệm của Diệp Quang Ban thì mạch lạc trong triển khai mệnh đề bao gồm có mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài - chủ đề, mạch lạc thể hiện trong tính hợp lý logic của
sự triển khai mệnh đề, mạch lạc thể hiện trong trình tự hợp lý giữa các câu (mệnh đề) Theo ông, tính thống nhất đề tài - chủ đề có tầm quan trọng nhất định đối với việc tạo lập và giải quyết văn bản Tính thống nhất đề tài - chủ
đề chính là kết quả của mạch lạc, sự vi phạm tính thống nhất này được cụ thể hoá thành sự vi phạm tính hợp lý của sự triển khai mệnh đề
Mạch lạc trong tính hợp lý logic của sự triển khai mệnh đề: sự vi phạm tính logic trong triển khai mệnh đề ở đây làm cho câu (mệnh đề cuối cùng) không “ăn nhập” được với phần văn bản đi trước, tức là không mạch lạc với phần văn bản đi trước
Mạch lạc thể hiện trong trình tự hợp lý logic giữa các câu (mệnh đề): giữa các sự việc chứa trong các câu (mệnh đề) có thể có mối quan hệ nguyên nhân hoặc quan hệ giữa các mệnh đề trong lập luận
Luận văn của chúng tôi đi vào tìm hiểu mạch lạc diễn ngôn hội thoại,
cụ thể hơn là mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp cho nên chúng tôi chỉ xin đề cập đến khía cạnh mạch lạc trong tính thống nhất chủ đề đề tài, lấy
đó là cơ sở giải thuyết cho nội dung chương hai, còn hai khía cạnh sau thiên về nghiên cứu mạch lạc trong các văn bản viết nên không thuộc phạm
vi nghiên cứu của chúng tôi
Trang 20Như chúng ta đã biết, cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp là cặp thoại mà lời đáp trả lời trực tiếp vào vấn đề được hỏi, lấp đầy điểm hỏi được nêu ra trong câu hỏi Mạch lạc của cặp thoại này rất dễ thấy do các yếu tố ngôn ngữ hiển ngôn, các phương tiện liên kết ngữ kết học được sử dụng trực tiếp, hay nói cách khác là có sự thống nhất trong chủ đề, đề tài giữa phát ngôn hỏi và phát ngôn đáp, người nói hỏi gì thì người nghe đáp trực tiếp vào vấn đề người nói quan tâm, tức là họ cùng nói về một chủ đề, đề tài, tạo nên mạch lạc cho cặp thoại Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp giải thuyết theo tính thống nhất đề tài - chủ đề sẽ được chúng tôi trình bày rõ hơn trong chương 2 của luận văn
Tuy nhiên không phải lúc nào câu trả lời cũng giải đáp trực tiếp vấn
đề người nói quan tâm, không phải lúc nào câu hỏi và câu đáp cũng tương hợp, cũng thống nhất về chủ đề, đề tài Có khi người nghe không trả lời câu hỏi mà sử dụng các phương thức khác như hỏi lại, nói tránh đi, phủ định câu hỏi… Có khi người nghe sử dụng các phương tiện ngôn ngữ hàm ngôn, tiền giả định, thậm chí có khi người nghe không trả lời mà dùng các động tác, điệu bộ, cử chỉ để đáp lời người nói Nhìn chung trường hợp cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp là vô cùng đa dạng phong phú và nó cũng chính là vấn đề chúng tôi quan tâm trình bày ở chương 3 Nói theo Diệp
Quang Ban: “trong những cặp thoại dạng này thì nội dung từ ngữ của câu
không giữ vai trò đáng kể trong việc xem xét mạch lạc mà sự dung hợp giữa các hành động nói mới là vấn đề quan tâm” Người nói và người nghe
có thể không trực tiếp đề cập đến cùng một đề tài nhưng các hành động nói
có sự dung hợp, chấp nhận nhau thì cặp thoại vẫn có mạch lạc
2 Vấn đề hội thoại
2.1 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ
Theo Austin, có ba loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn là hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời
Trang 21Hành vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp từ tạo thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung Theo Austin có ba phương diện khác nhau của hành vi này Quan sát một phát ngôn, trước hết người ta thấy có hành vi ngữ âm để tạo ra chuỗi âm thanh làm nên phát ngôn đó Tất cả mọi cách thức âm thanh để thực hiện một âm tố, một từ thuộc một lớp từ vựng hay ngữ pháp nào đó với những kiểu nhấn giọng, ngữ điệu xác định được gọi là hành vi đưa giọng Một cách tổng quát, hành vi thực hiện một câu hay những thành
tố của nó với những “nghĩa” đã xác định nào đó cũng như “sự qui chiếu” xác định được gọi là hành vi tạo vật Như vậy, mỗi hành vi tạo lời đã tạo ra nội dung mệnh đề và do đó đã có một ý nghĩa xác định
Hành vi tại lời: là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói
năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận
Ví dụ về hành vi tại lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo… Khi chúng ta hỏi một ai về điều gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ phải trả lời chúng ta, cho dù trả lời không biết Không trả lời, không đáp lại, người nghe bị xem là không lịch sự Hành vi tại lời có ý định qui ước và có thể chế dù rằng qui ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà qui tắc vận hành chúng được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác Có thể nói, nắm được ngôn ngữ, không có nghĩa là nắm được ngữ âm, từ ngữ, câu… của ngôn ngữ đó mà còn là nắm được những qui tắc điều khiển các hành vi tại lời trong ngôn ngữ đó, nghĩa là biết các qui tắc để “hỏi”, “hứa hẹn”, “mời”… sao cho đúng lúc, đúng chỗ, thích hợp với ngữ cảnh và với người được hỏi
Hành vi mượn lời: là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ,
nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của
Trang 22phát ngôn Có những hiệu quả mượn lời là đích của một hành vi ở lời, nhưng có những hiệu quả không thuộc đích của hành vi ở lời Những hiệu quả mượn lời thường rất phân tán và không thể tính toán được
Trong công trình của Austin (1962) ông đã phân loại các hành vi tại
lời thành năm lớp lớn Đó là:
Phán xét: về cơ bản là những đánh giá về một sự kiện hoặc một giá
trị dựa trên những chứng cớ hoặc lí lẽ xác đáng Như: coi là, định giá trị, ước lượng, trù tính, lên án, huỷ bỏ…
Hành xử: bao gồm những hình thức thể hiện hoạt động quyền lực
hay thế lực Như: chỉ định, miễn trừ, ra lệnh, đặt tên, kết án…
Cam kết: bao gồm những hành vi ràng buộc người nói vào những
trách nhiệm, nghĩa vụ nhất định Như: hứa hẹn, kí kết, giao kèo, thoả thuận, thề bồi, cá cược…
Ứng xử: gồm những hành vi phản ứng lại những cách xử sự của
người khác, những hành vi đáp ứng những sự kiện hữu quan có liên quan tới thân phận và thái độ của người khác Như: xin lỗi, cảm ơn, ca ngợi, chúc mừng, chia buồn, phê phán, nguyền rủa, ngờ vực…
Bày tỏ: bao gồm những hành vi dùng để trình bày các quan niệm,
dẫn dắt các lập luận, giải thích từ ngữ, bảo đảm sự qui dẫn Như: khẳng định, phủ định, bác bỏ, trả lời, đưa ví dụ, giải thích, minh hoạ…
Trong bảng phân loại trên, chính Austin cũng nhận thấy còn những điều không thoả đáng: có chỗ chồng chéo, có chỗ còn mơ hồ Tuy nhiên cho đến ngày hôm nay, những quan niệm của Austin cũng như lý thuyết hành vi ngôn ngữ và các bảng phân loại của ông vẫn được các nhà nghiên cứu coi trọng và xem là kim chỉ nam cho các nghiên cứu về ngữ dụng học
2.2 Các quan niệm về hội thoại
Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người Qua giao tiếp con người nắm bắt được thông tin, tích lũy được các tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết khoa học… Con người muốn phát triển hay hoà nhập vào một cộng
Trang 23đồng, xã hội nào đó phải có khả năng giao tiếp tốt, mà muốn giao tiếp tốt thì phải có năng lực sử dụng ngôn ngữ Như vậy, ngôn ngữ đóng vai trò chính và là yếu tố quyết định thành công của hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp thông thường là hội thoại, là sự trao đổi thông tin giữa hai người với nhau Qua hội thoại các yếu tố ngôn ngữ bộc lộ khả năng vận hành và phát huy tác dụng cao nhất Có thể nói giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản và là hình thức giao tiếp thường xuyên phổ biến của con người
Cho đến nay chưa có một định nghĩa hoàn toàn chính xác về hội thoại Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới tuy đã có rất nhiều công trình về hội thoại song họ cũng chỉ đưa ra những quan niệm khác nhau về vấn đề này chứ đó chưa được coi là một định nghĩa hoàn chỉnh
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (1992) định nghĩa: “Hội thoại là
sử dụng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau”
Sách Tiếng Việt 12 do Đỗ Hữu Châu và Cao Xuân Hạo chủ biên cho
rằng: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời (bằng miệng) giữa các
nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra”
Hồ Lê đưa ra quan niệm hội thoại gắn với hành vi phát ngôn như
sau: “Phát ngôn hội thoại là kết quả của một hành vi phát ngôn được kích
thích bởi một sự kiện hiện thực (kể cả hội thoại hoặc một xung đột tâm lý của người phát ngôn, có liên quan đến những người có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại, nó tác động vào anh ta khiến anh ta phải dùng lời để phản ứng lại và hướng lời nói của mình vào những người có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại ấy, trên cơ sở của một kiến thức về cấu trúc câu và cách xử lý mối quan hệ giữa phát ngôn và ngữ cảnh tình huống và của một
dự cảm về hiệu quả của lời nói ấy đối với người thụ ngôn hội thoại trực tiếp”
Theo Nguyễn Thiện Giáp, thì “hội thoại là hành động giao tiếp phổ
biến nhất, căn bản nhất của con người Đó là giao tiếp hai chiều có sự
Trang 24tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời”
Đỗ Hữu Châu lại khẳng định: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường
xuyên phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” Còn theo Nguyễn Đức Dân “trong giao tiếp hai chiều, bên này nói và bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại” Quan niệm của Đỗ Thị Kim Liên lại hơi thiên
về ngữ nghĩa: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời
giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định”
Tóm lại các quan niệm trên đều có điểm chung: hội thoại là hoạt động giao tiếp thường xuyên, phổ biến của con người, là sự trao đổi thông
tin theo mục đích nào đó của những người tham gia giao tiếp
2.3 Cấu trúc hội thoại
Các nhà nghiên cứu đều thống nhất hội thoại có ba bậc lớn:
- Cuộc thoại (talk)
- Đoạn thoại (sequence)
- Cặp thoại (adjacency)
Cuộc thoại là một lần nói chuyện trao đổi giữa cá nhân, ít nhất là hai câu, trong một cộng đồng, xã hội Cuộc thoại ngắn nhất chỉ gồm một cặp câu như chào – chào, hỏi – đáp… Cuộc thoại dài có thể là một cuộc thương lượng mua bán, một buổi nói chuyện về ngôn ngữ học…
Cấu trúc của cuộc thoại:
Mở thoại – Thân thoại - Kết thoại
Đoạn thoại là tập hợp các lượt lời trao đổi về một vấn đề Một cuộc thoại có thể có hơn một đoạn thoại Mỗi đoạn thoại lại bao gồm nhiều lời trao đổi chứ không thể chỉ có một lời nói Các đoạn thoại được liên kết với nhau cả về hình thức và ý nghĩa Tuy nhiên cách chuyển từ đoạn thoại này
Trang 25sang đoạn thoại khác dựa trên nghĩa hay logic ngữ nghĩa nhiều hơn Đoạn thoại cũng có cấu trúc như của một cuộc thoại, nghĩa là bao gồm mở thoại, thân thoại và kết thoại
2.4 Lý thuyết cặp thoại
Lý thuyết các hành vi ngôn ngữ của Austin chỉ xem xét các hành vi một cách riêng rẽ, độc lập với những hành vi khác Trong hội thoại, mỗi phát ngôn đều có quan hệ trực tiếp đến những phát ngôn đi trước nó hoặc định hướng cho những phát ngôn tiếp sau Vậy là có những hành vi ngôn ngữ đã gây ra những hành vi ngôn ngữ Các hành vi ngôn ngữ không đứng biệt lập, hành vi này kéo theo hành vi kia, lượt lời này kéo theo lượt lời kia
Vì thế hình thành khái niệm “cặp thoại”
Đơn vị quan trọng nhất để tạo được đoạn thoại hay cuộc thoại chính
là cặp thoại Theo Nguyễn Đức Dân: “trong một lượt lời liên kết có thể gồm
nhiều phát ngôn với những chức năng và mục đích khác nhau, có liên kết chặt chẽ với nhau Mỗi lượt lời có những chức năng hội thoại khác nhau Người này nói và người kia lặp lại Hai lượt lời có liên quan trực tiếp và đứng kề nhau làm nên một cặp thoại” Theo Đỗ Hữu Châu thì “cặp thoại là cấu trúc gồm hai tham thoại do hai đối tác của cuộc thoại tạo nên Cho nên muốn xác định các cặp thoại phải nhận diện được các tham thoại” Nguyễn
Thiện Giáp thì khẳng định “cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ tương
thích về chức năng, hai vế của cặp thoại có thể liền kề nhau nhưng cũng có thể cách xa nhau”
Như vậy, các tác giả trên đều quan niệm cặp thoại do hai phát ngôn/lượt lời có quan hệ trực tiếp và đứng kề cận nhau tạo nên Trong hội thoại, cặp thoại là đơn vị quan trọng nhất
Các cặp thoại không phải được nói ra một cách ngẫu nhiên, tuỳ tiện Chúng được tổ chức, thực hiện theo một qui tắc chặt chẽ, tuân theo những qui tắc chi phối hội thoại Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất
có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai Khi nói một điều, người ta
Trang 26dự đoán, chờ đợi một điều khác sẽ xảy ra Sau khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ, người ta chờ đợi một hành vi ngôn ngữ đáp ứng Nghĩa là hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau Quan hệ này phản ánh sự tác động của hiệu lực tại lời của hành vi ngôn ngữ ở lượt lời thứ nhất lên lượt lời thứ hai Trong hiệu lực tại lời này có vai trò của các cấu trúc ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ
Ví dụ:
Trong lượt lời thứ nhất, chúng ta sẽ gặp một mệnh lệnh như “Lạnh quá! Đóng hộ tớ cửa sổ với!” thì lượt lời thứ hai có thể là sự tuân theo tích cực (“Được”) hoặc tiêu cực (“Xin lỗi, tớ đang bận, cậu tự đóng đi”) Tuy nhiên, có thể những câu trả lời khác vẫn là sự tuân theo nhưng có kèm theo những thông tin phụ, chẳng hạn “Đợi tớ tí nhé!”
Nói xong lượt lời thứ nhất, người nói chờ đợi sự đáp ứng Nếu không
có lượt lời thứ hai, người nói lượt lời thứ nhất có thể nhắc lại với sắc thái nhấn mạnh:
- Lạnh lắm lắm ấy, nhanh rồi đóng hộ tớ nhé!
Sự vắng mặt câu đáp có thể coi là một cách ứng xử: một hành vi im lặng Sự im lặng cũng có những ý nghĩa nhất định Với lượt đầu là câu mệnh lệnh, sự im lặng sẽ biểu hiện thái độ không đồng ý thực hiện
Về mặt hình thức, có thể chia các cặp thoại thành cặp thoại một lười lời, cặp thoại hai lượt lời, cặp thoại ba lượt lời… Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ quan tâm đến các cặp thoại một lượt lời và hai lượt lời để tìm hiểu sự mạch lạc giữa các lượt lời
3 Diễn ngôn
3.1 Một số vấn đề về “diễn ngôn” và “phân tích diễn ngôn”
3.1.1 Mối quan hệ giữa “diễn ngôn” và “văn bản”
Cho đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về khái niệm “diễn ngôn” song vẫn chưa thực sự có một định nghĩa hoàn chỉnh nhất Trước hết cần kể
Trang 27đến người đầu tiên đề xướng ra khái niệm này, Z Harris (1952) trong công
trình “Discourse analysio – Phân tích diễn ngôn” đã đưa ra khái niệm
“diễn ngôn” với cách hiểu là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu (Z Harris,
1952, trích theo Nguyễn Hoà, 2003) Có thể nói với việc đề ra khái niệm này, Harris đã góp phần quan trọng giúp ngành ngôn ngữ học văn bản còn non trẻ xác định được nền móng phát triển của mình là hướng vào nghiên cứu các chức năng của ngôn ngữ “Diễn ngôn” và “văn bản” là hai khái niệm không thể bỏ qua trong nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản nói chung, trong phân tích diễn ngôn nói riêng Tuy nhiên trên thực tế, để phân biệt rạch ròi hai khái niệm này lại không hề đơn giản Có khi chúng được coi là hai khái niệm có cấu trúc xác định tách biệt hoàn toàn, thuộc hai quá trình,
có khi khái niệm này là sự biểu hiện cụ thể, là bộ phận của khái niệm kia, cũng có khi chúng lại được dùng thay thế cho nhau như hai khái niệm đồng nghĩa hoàn toàn Chúng ta có thể nhìn lại quan điểm của một vài tác giả tiêu biểu để có cơ sở phân định rõ hơn về hai khái niệm này:
Trước hết, hai tác giả Brown & Yule quan niệm rằng “văn bản như
là thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp”,
hay “văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn” Còn khi xử lý diễn ngôn như là
“sản phẩm” hay “tiến trình” thì các tác giả lại khẳng định: “diễn ngôn như
một tiến trình” Trong khi đó, David Nunan về cơ bản cũng có khuynh
hướng phân biệt rạch ròi hai khái niệm này nhưng lại diễn đạt cụ thể hơn Theo ông, thuật ngữ “văn bản” được dùng để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp, sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (một cuộc hội thoại, một bài thuyết giáo) hoặc ngôn ngữ viết (một bài thơ, một mẩu truyện) Còn về thuật ngữ “diễn ngôn”, ông cho rằng
nó được dùng để giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh
Một tác giả khác là Crystal thì lại phân biệt “diễn ngôn là một chuỗi
nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo,
Trang 28tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” Tác giả này đồng thời cũng nhận
định “văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới
dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc hội thoại, một tờ áp phích” (dẫn theo David Nunan, Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, 1997) Như
vậy, ở đây mặc dù có sự phân định rành mạch ranh giới giữa chúng, văn bản trở thành sản phẩm của diễn ngôn và trong nhiều trường hợp thậm chí
có thể thay thế được cho nhau
Ở Việt Nam cũng có khá nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này nên cũng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau, hoặc có khi là sự thay đổi về quan điểm của cùng một tác giả trong những giai đoạn khác nhau Tiêu biểu có thể kể đến tác giả Diệp Quang Ban trong các công trình nghiên cứu của mình đã nhận định mối quan hệ giữa hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” qua các giai đoạn như sau:
(1) Văn bản được dùng để chỉ chung các sản phẩm của ngôn ngữ viết
và ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết;
(2) Có sự đối lập giữa diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn chỉ ngôn ngữ nói;
(3) Diễn ngôn được dùng như văn bản ở ý nghĩa (1)
(trích theo Nguyễn Hoà, 2003)
Còn tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong một công trình mới đây, sau khi điểm qua một số quan điểm khác nhau về hai khái niệm này thì lại bày
tỏ quan điểm cá nhân: “thuật ngữ diễn ngôn và văn bản thường được coi là
đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn”
(Nguyễn Thiện Giáp 2004: 169)
Trang 29Một trong số các tác giả khác ở Việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này là tác giả Nguyễn Hoà Trong công trình nghiên cứu của mình, ông tỏ ra nhấn mạnh sự phân biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và
“văn bản” Theo ông “văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá
trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể”; trong khi đó “diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoành chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” Mặc dù đã đưa ra sự
phân biệt hai khái niệm như trên song tác giả cũng thừa nhận rằng trên thực
tế sự phân biệt này chỉ mang tính tương đối vì theo cách hiểu đó, trong văn bản sẽ xuất hiện một vài đặc trưng của diễn ngôn và ngược lại trong diễn ngôn cũng nhiều khi tồn tại các thuộc tính của văn bản
3.1.2 Mối quan hệ giữa “phân tích diễn ngôn” và “phân tích văn bản”
Trước tiên, với việc xác định “diễn ngôn như một tiến trình”, hai tác giả Brown & Yule khẳng định quan điểm rằng nhà phân tích diễn ngôn cần quan tâm đến chức năng hay mục đích của một mẩu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dẽ liệu đó được người phát cũng như người nhận xử lý Biện luận sâu hơn, hai tác giả cho rằng, nhà phân tích sẽ phải nghiên cứu từng từ, từng câu xuất hiện trong dữ liệu thành văn của diễn ngôn, để tìm cho được bằng chứng về sự nỗ lực của người phát trong việc chuyển giao thông điệp đến người nhận Đồng thời chúng ta cũng cần tìm hiểu bằng cơ chế nào, lý
do tại sao mà người nhận có thể hiểu được chính xác thông điệp chuyển giao tới trong một ngữ cảnh cụ thể, đồng thời các yêu cầu trở lại của người nhận trong một ngữ cảnh cụ thể bằng cách nào có thể chuyển giao trở lại người phát, để từ đó ảnh hướng đến kết cấu của diễn ngôn tiếp theo của người phát Như vậy có thể thấy rõ ràng là phương hướng nghiên cứu này chủ trương lấy chức năng giao tiếp của ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu chính, vì thế nó mô tả các hình thức ngôn ngữ không ở dạng tĩnh mà như
Trang 30các phương tiện động nhằm thể hiện ý nghĩa (Dẫn theo Brown & Yule, 2002: 48)
Một tác giả khác – David Nunan với việc xác định hai khái niệm
“diễn ngôn” và “văn bản” như đã trình bày ở trên cũng đồng thời xác nhận phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng – khác với phân tích văn bản là thiên về nghiên cứu các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ, bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng Tác giả cũng biện luận rằng, giống như các nhà ngữ âm học, ngữ pháp học, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan trâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu trong ngôn ngữ Tuy nhiên, không chỉ có thế, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn
cả là đạt đến mục đích cuối cùng của công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn Như vậy ở đây, tác giả đã căn cứ vào đối tượng của nhà phân tích là ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc hình thức thuần tuý (phân tích văn bản) và ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (phân tích diễn ngôn) để phân biệt hai khái niệm trên
Trong thực tế thì sự phân biệt này là không hề đơn giản bởi ngay chính bản thân tác giả khi đối chiếu những đặc trưng của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cũng đã thừa nhận không có sự khác biệt tuyệt đối giữa hai hình thức nói và viết vì những đặc điểm có xu hướng gắn với ngôn ngữ nói đôi khi có thể xuất hiện trong ngôn ngữ viết và ngược lại Điều này có thể hiểu rằng, trong quá trình ta tiến hành phân tích văn bản (ngôn ngữ viết) thì không thể chỉ căn cứ đơn thuần vào những đặc điểm hình thức mà còn phải xem xét đến cả những đặc trưng của nó trong hành chức; và cũng tương tự như vậy đối với phân tích diễn ngôn (Dẫn theo David Nunan, 1998: 21)
Tác giả Đỗ Hữu Châu, một người nghiên cứu khá nhiều về dụng học
cũng quan tâm đến mối quan hệ văn bản - diễn ngôn thì cho rằng: “Diễn
ngôn là lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp”; “… tuỳ theo
Trang 31đường kênh hay tuỳ theo dạng ngôn ngữ được sử dụng mà chúng ta có diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết Chúng tôi sẽ gọi diễn ngôn viết là các văn bản” Tác giả cũng cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhưng
cả hai đều chịu tác động của ngữ cảnh Do vậy, phân tích diễn ngôn là phân tích cả các yếu tố hình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn Các yếu tố kèm lời và phi lời, theo tác giả, cũng được xem là các yếu
tố thuộc hình thức của phát ngôn Về nội dung, tác giả cho rằng diễn ngôn bao gồm nội dung thông tin và nội dung miêu tả Hai thành tố nội dung này
có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố ngôn ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp của đối phương Như vậy, phân tích diễn ngôn một cách đầy đủ, toàn diện cần xét đến cả hai mặt hình thức và nội dung của diễn ngôn
Trên cơ sở phân tích quan điểm của tác giả David Nunan, tác giả Nguyễn Hoà lại cho rằng, mối quan hệ giữa phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản cũng có sự tương đồng như mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản Bởi theo ông, không nên nhìn nhận đây là hai bộ môn riêng biệt
mà về thực chất chỉ nên xem xét đó là hai mặt của quá trình phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội Với việc xác định như vậy, tác giả chủ trương quy các yếu tố như liên kết, cấu trúc đề thuyết, cấu trúc thông tin, cấu trúc diễn ngôn… thuộc về địa hạt phân tích văn bản; đồng thời những yếu tố như mạch lạc, các hành động ngôn từ, vận dụng tri thức nền, cách thức xử lý từ trên xuống hay từ dưới lên… sẽ thuộc địa hạt của phân tích diễn ngôn (Dẫn theo Nguyễn Hoà, 2003; 35)
3.2 Một số vấn đề cơ bản về “diễn ngôn hội thoại” và “phân tích diễn ngôn hội thoại”
3.2.1 Thế nào là “diễn ngôn hội thoại”
Có thể nói rằng, hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, cơ bản nhất của con người, đồng thời hội thoại cũng là hình thức cơ sở của
Trang 32mọi hoạt động ngôn ngữ khác Khi giao tiếp hai chiều cũng tức là chúng
ta tạo ra một hội thoại trên cơ sở tương tác qua lại giữa một bên là người nói và một bên là người nghe, kết hợp với sự luân phiên lượt lời, thay đổi vai trò trong suốt quá trình giao tiếp Hội thoại khi được thực hiện bởi hai bên là song thoại, khi được thực hiện bởi ba bên là tam thoại, thậm chí có hội thoại gồm rất nhiều vai giao tiếp, ta có đa thoại Tuy nhiên, song thoại được coi là hình thức hội thoại cơ bản và phổ biến nhất, mang đậm những đặc trưng của một cuộc hội thoại Do đó ở đây chủ yếu bàn đến vấn đề mạch lạc của các cặp thoại Hỏi – Đáp gồm một lượt lời và hai lượt lời, trên cơ sở đó có thể hình dung ra được bức tranh khái quát nhất về các đặc trưng của “diễn ngôn hội thoại”
Trước khi đưa ra được cách hiểu đầy đủ nhất về “phân tích diễn ngôn hội thoại”, chúng ta đi vào tìm hiểu khái niệm “cuộc thoại” Để tham gia một cuộc thoại, người tham gia giao tiếp phải tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản nhất là nguyên tắc luân phiên lượt lời và nguyên tắc liên kết Điều đó
có nghĩa là, trong khi người này nói thì người kia nghe rồi mới phản hồi trở lại, không cùng nói đồng thời Hai bên tham gia phải luân phiên nói một cách uyển chuyển, nhịp nhàng Mặt khác, các lượt lời tham gia phải đảm bảo sự liên kết với nhau để cùng tạo ra tính liên kết của cả cuộc thoại Mặc
dù trên thực tế không có sự quy định hay xác định một cách chặt chẽ từ trước thứ tự người nói và cách thức luân phiên lượt lời hay cách thức liên kết lượt lời, song việc tuân thủ hai nguyên tắc này dựa trên sự tự nguyện của các bên tham gia giao tiếp là điều kiện tiên quyết tạo nên một cuộc thoại
Ngoài hai đặc điểm trên, cuộc thoại còn luôn bao gồm tính có mục đích, một hay nhiều chủ đề khác nhau Đích của cuộc thoại có thể được thể hiện tại lời, cũng có thể nằm ngoài lời Mỗi bên tham gia giao tiếp có thể nhằm tới một đích khác nhau, hoặc cùng hướng về một đích nhất định, nhưng dù thế nào thì cũng tồn tại tính có mục đích
Trang 33Để nghiên cứu cuộc thoại, bên cạnh các đặc điểm nội tại của cuộc thoại như đã giới thiệu ở trên, chúng ta cũng cần lưu ý tới một số đặc điểm bên ngoài của cuộc thoại, đó là số lượng người tham dự, quan hệ giữa những người tham dự và chu cảnh (không gian, thời gian diễn ra cuộc thoại)
3.2.2 Một số vấn đề về “phân tích diễn ngôn hội thoại”
Có thể nói, ngữ cảnh là một trong những nhân tố giao tiếp quan trọng không thể bỏ qua trong phân tích diễn ngôn, đặc biệt là phân tích diễn ngôn hội thoại Cho đến nay cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về ngữ cảnh
Theo tác giả David Nunan, ngữ cảnh có nhiệm vụ quy chiếu tình huống gây ra diễn ngôn và tình huống trong đó diễn ngôn được gắn vào Theo đó ngữ cảnh bao gồm hai kiểu: một là ngữ cảnh ngôn ngữ, tức là gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ bao quanh hoặc đi kèm với sản phẩm diễn ngôn đang được phân tích; hai là kiểu ngữ cảnh phi ngôn ngữ, bao gồm tất
cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ tạo nên môi trường nền rộng mà diễn ngôn xuất hiện như các kiểu sự kiện giao tiếp, đề tài, mục đích giao tiếp, những người tham dự… và những hiểu biết cơ sở, những giả định làm cơ sở cho
sự kiện giao tiếp
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp chủ trương phân biệt ngữ cảnh với hoàn cảnh nói năng Theo đó, tác giả quan niệm rằng, ngữ cảnh là những từ bao quanh hay đi kèm theo một từ, tạo cho nó tính xác định về nghĩa; trong khi
đó, hoàn cảnh nói năng lại được hiểu là tình huống, bối cảnh phi ngôn ngữ
mà từ xuất hiện, được giải thích bằng các thông số như ai nói, nói bao giờ, nói ở đâu, nói với ai và vì sao nói
Ngoài ra, còn có một nhóm các tác giả quan niệm ngữ cảnh bao gồm ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hoá Trong đó, ngữ cảnh tình huống được hiểu là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một trường hợp văn bản cụ thể Nói cách khác, ngữ cảnh tình huống chính là thế giới xã hội, tâm lý mà trong một thời điểm nhất định ở đó người ta sử dụng ngôn
Trang 34ngữ Ngữ cảnh tình huống có thể bao giồm sự hiểu biết về vị thế của những người tham gia giao tiếp, sự hiểu biết về không gian, thời gian giao tiếp, đồng thời nó còn bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của các bên tham gia giao tiếp về tất cả những quy ước, tiền đề… được coi là đương nhiên trong cộng đồng có người nói và người nghe
Khác với tất cả những yếu tố trên, ngữ cảnh văn hoá được hiểu là phân tích ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách một hệ thống, điều đó cũng
có nghĩa là ngữ cảnh văn hoá sẽ bao gồm hàng loạt các nhân tố văn hoá bên ngoài sự kiện giao tiếp như phong tục, tập quán, các chuẩn mực xã hội, lịch
sử, tri thức nền về tự nhiên, chính trị… tức là toàn bộ những yếu tố tạo nên nền văn hoá của cộng đồng dân tộc của các bên tham gia giao tiếp và của
sự kiện ngôn ngữ đang diễn ra Như vậy có thể thấy, các tác giả đi theo hướng này đều cho rằng ngữ cảnh tình huống hay ngữ cảnh văn hoá đều là những hiện tượng phi ngôn ngữ Cũng bởi vậy, người ta chú ý đến một khái niệm nữa là văn cảnh Theo đó văn cảnh được hiểu là các yếu tố ngôn ngữ ngôn ngữ bao quanh hoặc đi kèm với hiện tượng ngôn ngữ đang xét Tức là nếu ta xét một từ thì văn cảnh của nó sẽ là các từ bao quanh nó, nếu ta xét một câu thì văn cảnh sẽ là những câu đằng trước hay đằng sau nó
Tác giả Đỗ Hữu Châu khi bàn đến khái niệm ngữ cảnh còn đưa ra một khái niệm “ngữ huống giao tiếp” Theo tác giả, ngữ cảnh là một khái niệm động, do đó khi tất cả các yếu tố tạo nên ngữ cảnh có sự tác động tổng hợp ở vào một thời điểm nhất định của cuộc giao tiếp và được nhân vật giao tiếp ý thức được thì tạo nên ngữ huống giao tiếp Bên cạnh đó, tác giả cũng quan niệm ngữ cảnh được hiểu theo nghĩa khá rộng: ngữ cảnh bao gồm các nhân tố có mặt trong một cuộc thoại nhưng nằm ngoài diễn ngôn Theo đó, ông cho rằng ngữ cảnh sẽ bao gồm rất nhiều yếu tố như nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn (đề tài diễn ngôn - thế giới khả hữu và
hệ quy chiếu, hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường, ngữ huống giao tiếp)
Trang 35Chương 2 MẠCH LẠC TRONG CÁC CẶP THOẠI HỎI – ĐÁP TƯƠNG HỢP
Trong phạm vi chương hai của luận văn này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu sự mạch lạc của các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp, giải thuyết theo quan điểm của Diệp Quang Ban về tính thống nhất đề tài - chủ đề
Cao Xuân Hạo trong cuốn “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” cho rằng
trong tiếng Việt có 6 loại câu hỏi, được chia dựa trên mục đích nói và sự biểu hiện của 6 dấu hiệu hình thức, bao gồm có:
- Câu hỏi chính danh
- Câu hỏi có giá trị cầu khiến
- Câu hỏi có giá trị khẳng định
- Câu hỏi có giá trị phủ định
- Câu hỏi biểu thị sự phỏng đoán hay ngờ vực
- Câu hỏi biểu thị sự ngần ngại
- Câu hỏi có giá trị cảm thán
Như vậy, với sáu kiểu câu hỏi như vậy, chúng ta có thể có sáu kiểu câu đáp, tạo thành sáu kiểu cặp thoại Hỏi – Đáp, trong đó có kiểu lời đáp
và sự trả lời vào vấn đề được hỏi mà chúng tôi tạm gọi là các lời đáp tương hợp Cụ thể có sáu loại cặp thoại như sau:
- Cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp với câu hỏi thuộc dạng chính danh
- Cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp với câu hỏi có giá trị cầu khiến
- Cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp với câu hỏi có giá trị khẳng định
- Cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp với câu hỏi có giá trị phủ định
- Cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp với câu hỏi biểu thị sự phỏng đoán hay ngờ vực, ngần ngại
- Cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp với câu hỏi có giá trị cảm thán
Trang 36Trong chương hai này, chúng tôi quan tâm đến những cặp thoại mà mạch lạc được thể hiện một cách rõ ràng và chúng ta hầu như có thể nhận thấy ngay lập tức thông qua các yếu tố ngôn ngữ hiển ngôn, đây là những cặp thoại mà câu đáp sử dụng các phương tiện ngôn ngữ hiển ngôn để lấp đầy điểm hỏi trong câu hỏi, là những cặp thoại mà câu hỏi và câu đáp cùng
có chung một đề tài - chủ đề tạo tính liên kết, liền mạch
Ta dễ dàng nhận thấy sự nối kết về mặt nội dung ngữ nghĩa, sự liền mạch, xuyên suốt của chủ đề trong các cặp thoại dạng này Sự xuất hiện của các phương tiện liên kết hiển ngôn (ngữ kết học) cũng là một yếu tố quan trọng giúp ta ước đoán sự mạch lạc và bản thân chúng cũng là phương tiện củng cố sự mạch lạc của cuộc thoại
Ví dụ:
- Năm mẹ con sống bằng gì?
- Bằng nghề câu cá của em
(Con thú bị ruồng bỏ - Nguyễn Dậu)
Ở ví dụ này, ta thấy từ “bằng” xuất hiện trong cả phát ngôn hỏi và phát ngôn đáp để đưa ra và giải đáp thắc mắc về phương tiện, cách thức Trọng tâm hỏi của người nói là vấn đề người nghe làm gì để sống, để tồn tại, rằng năm mẹ con làm cách nào để nuôi nhau Câu trả lời “bằng nghề câu cá của em” nghĩa là người nghe hiểu và giải đáp lại đúng với thắc mắc của người nói, lấp đầy điểm hỏi và làm thỏa mãn thông tin người nói muốn biết Từ “bằng” – phép lặp xuất hiện trong cặp thoại này càng làm cho sự liên kết giữa hai phát ngôn thêm chặt chẽ và tăng tính mạch lạc cho cặp thoại
Ví dụ:
- Con được mấy điểm?
- Con được sáu điểm
(Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng)
Trong cặp thoại này trọng điểm hỏi được đưa ra là “mấy điểm”, trong câu trả lời ta thấy xuất hiện cụm từ “sáu điểm” – giải đáp đầy đủ
Trang 37trọn vẹn thông tin người nói muốn biết Về mặt nội dung, ta thấy có sự tương hợp hoàn toàn giữa phát ngôn hỏi và phát ngôn đáp khi người nghe hiểu và đáp trả lại đúng điều người nói muốn biết “mấy điểm” – “sáu điểm” Về mặt hình thức ta thấy xuất hiện phép lặp: không chỉ lặp từ mà lặp cả cấu trúc câu, toàn bộ cấu trúc câu được lặp lại, chỉ thay từ hỏi
“mấy” bằng danh từ chỉ số đếm “sáu” trong câu trả lời Phương thức lặp này được dùng để nhấn mạnh thông báo đồng thời tỏ sự lễ phép của người nghe với người nói Nhờ phương tiện liên kết hiển ngôn này mà hai phát ngôn hỏi – đáp trong cuộc thoại có mối liên hệ ràng buộc vô cùng chặt chẽ và chắc chắn, góp phần làm tăng thêm tính mạch lạc cho cặp thoại
1 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp với câu hỏi thuộc dạng chính danh
Cao Xuân Hạo cho rằng câu hỏi chính danh là những câu hỏi yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình hay một tham tố nào đó của một
sự tình được xem là hiện thực Mạch lạc trong các cặp thoại dạng này được xem xét ở câu đáp trên cả hai bình diện hình thức (thông qua các phương tiện liên kết, ở đây là các phương tiện liên kết hiển ngôn) và nội dung (câu đáp trả lời vào đúng điểm hỏi trong câu hỏi, cung cấp đầy đủ thông tin mà người hỏi yêu cầu)
Câu hỏi chính danh lại chia thành các kiểu loại nhỏ như sau:
1.1 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp với câu hỏi thuộc dạng chính danh chuyên biệt
Câu hỏi chính danh chuyên biệt là câu hỏi có chứa yếu tố nghi vấn (vốn do một đại từ bất định làm nòng cốt) biểu thị biến tố không xác định đặt ở vị trí do chức năng cú pháp của nó quy định Các câu hỏi dạng này thường được dùng để hỏi về thời gian, nơi chốn, chủ thể, vật thể, nguyên nhân… và mỗi câu hỏi bản thân nó đã hàm chứa những gợi ý cho câu trả lời hoặc có tính chất định hướng cho câu trả lời
Trang 38Ví dụ:
- Thế về đâu con?
- Nhà bạn con, anh ấy đấy!
(Ngày đẹp trời, Ma Văn Kháng)
Đại từ nghi vấn “đâu” xuất hiện trong câu hỏi thể hiện việc người nói muốn biết nơi chốn mà người nghe sẽ về Câu trả lời của người nghe: “Nhà bạn con” đã cung cấp đầy đủ thông tin cho câu hỏi của người nói, thay thế trọn vẹn yếu tố nghi vấn trong câu hỏi vì thế ta thấy được sự mạch lạc giữa hai phát ngôn
Về mặt hình thức, phát ngôn đáp đã bị tỉnh lược phần chủ ngữ và vị ngữ, có thể khôi phục lại đầy đủ như sau:
- Thế về đâu con?
- (Con về) nhà bạn con, anh ấy đấy!
Phần in nghiêng trong ngoặc chính là yếu tố bị tỉnh lược Phương thức liên kết này cũng là một yếu tố củng cố thêm mạch lạc cho cặp thoại
Khi hỏi về một sự vật, sự việc mà ta chưa biết, người nói có thể dùng yếu tố bất định “gì” trong câu hỏi:
- Tên anh là gì?
- Ngô Quang Long
(Ngõ hẻm bên cầu, Trần Văn Tuấn)
Trong ví dụ này người nói đã dùng yếu tố bất định “gì” để nêu lên trọng tâm hỏi, làm nổi rõ vấn đề mà mình quan tâm Trên bình diện thông báo, “gì” trở thành tiêu điểm của cả câu hỏi và câu trả lời Nhiệm vụ của người đáp là phải dùng phương tiện ngôn ngữ để lấp đầy yếu tố bất định
“gì” Cặp thoại trên đã đáp ứng được điều đó, nhờ sự hỗ trợ của phương thức tỉnh lược người nghe đã đáp trả đầy đủ thông tin mà người nói muốn biết
- Tên anh là gì?
- (Tên tôi là) Ngô Quang Long
Trang 39Phần in nghiêng chính là thành phần chủ vị đã bị lược bỏ toàn bộ Tuy lược bỏ cả thành phần chính của câu trả lời nhưng người đọc vẫn hiểu nội dung cuộc thoại vì cuộc thoại duy trì được sự mạch lạc, thống nhất trong cùng một chủ đề, vì Ngô Quang Long là một danh từ riêng chỉ người, đáp ứng đúng điểm hỏi “tên anh là gì”
Trường hợp dưới đây lại tương đối đặc biệt khi giữa cặp thoại có tồn tại sự mạch lạc song phát ngôn đáp đã bị tỉnh lược gần hết các thành phần, chỉ giữ lại một yếu tố duy nhất:
- Chân chú làm sao thế?
- Thọt
(Con thú bị ruồng bỏ, Nguyễn Dậu)
- Tôi hỏi ông đã nuốt hết mấy chục cái mật rắn chưa?
- Chưa
(Con thú bị ruồng bỏ, Nguyễn Dậu)
Có thể nhìn ngay thấy sự liên quan về mặt nội dung giữa câu hỏi và câu đáp trong hai ví dụ trên, người nghe đã cung cấp đúng và đầy đủ nội dung thông tin mà người nói muốn biết Về mặt hình thức, ta có thể khôi phục lại câu đáp một cách đầy đủ như sau:
- Chân chú làm sao thế?
- (Chân chú bị) thọt
và
- Tôi hỏi ông đã nuốt hết mấy chục cái mật rắn chưa?
- (Tôi) chưa (nuốt hết mấy chục cái mật rắn)
Câu trả lời của người nghe trong hai trường hợp này đã bị tỉnh lược tối đa (ví dụ đầu tiên là tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ, ví dụ thứ hai là tỉnh lược chủ ngữ và bổ ngữ) đến mức không thể tỉnh lược thêm được nữa, tuy
nó vẫn lấp đầy điểm hỏi, cung cấp đầy đủ thông tin cho câu hỏi nhưng cách trả lời cộc lốc tạo cảm giác cụt lủn và thiếu lịch sự
Trang 40Phương thức liên kết tỉnh lược giúp ta ước đoán sự liền mạch cho người nói và người nghe vì đều cùng nói đến một vấn đề, giữa hai phát ngôn có sự liên kết về mặt nội dung
Các phương thức liên kết giúp chúng ta ước đoán mạch lạc trong cặp thoại rất phong phú, ngoài phép tỉnh lược còn có nhiều dạng liên kết khác như phép lặp, phép thế…
- Xe gì?
- Xe đạp
(Người bạn lính, Nguyễn Quang Sáng)
- Nó làm sao?
- Nó nhảy lên bờ cạnh gốc si ấy… Nó nằm như chết
(Con thú bị ruồng bỏ, Nguyễn Dậu)
Trong hai ví dụ này, việc lặp đại từ “nó” và danh từ “xe” có tác dụng duy trì chủ đề cuộc thoại giúp phát ngôn hỏi và phát ngôn đáp có sự liên kết với nhau Xét về mặt nội dung, ví dụ “xe gì – xe đạp” có sự xuất hiện của yếu tố bất định gì hỏi về tên, kiểu loại của sự vật xe Người nghe đã lấp đầy điểm hỏi, cung cấp thông tin mà người nói muốn biết: xe đạp chứ không phải xe máy, xe kéo, xe xích lô…
Ví dụ sau người nói muốn hỏi về trạng thái, cách thức của nhân vật
“nó”: Nó làm sao? Phát ngôn trả lời đã đáp ứng đầy đủ thông tin: cung cấp thông tin về cả hành động và cách thức của nhân vật “nó”:
- Lê đến đây khi mô?