Bất kỳ một tác phẩm văn học, dù ít hay nhiều cũng phản ánh thời đại xã hội mà nó được tạo ra. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng. Nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước”. Sở dĩ bộ phận văn học yêu nước giữ vai trò chủ lưu, xuyên suốt từ xưa đến nay, bởi vì lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước, và văn học phản ánh cuộc cuộc đấu tranh dựng và giữ nước trải qua hàng trăm thế kỷ ấy. Đó cũng là một khía cạnh của mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Văn học là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống và bày tỏ một quan điểm, một cách nhìn, một tình cảm đối với đời sống Sự phản ảnh đời sống của văn học không khách quan như khoa học mà nó mang tính chủ quan bởi sự phản ánh hiện thực của văn học bao giờ cũng phải qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ
Có thể nói, phản ánh hiện thực là một nội dung mà người đọc thấy rõ qua tác phẩm văn học Hay nói cách khác hiện thực là đối tượng phản ánh của văn học
Bất kỳ một tác phẩm văn học, dù ít hay nhiều cũng phản ánh thời đại xã hội mà nó
được tạo ra Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng Nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước” Sở dĩ bộ phận văn học yêu nước giữ vai trò chủ lưu,
xuyên suốt từ xưa đến nay, bởi vì lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước,
và văn học phản ánh cuộc cuộc đấu tranh dựng và giữ nước trải qua hàng trăm thế kỷ ấy
Đó cũng là một khía cạnh của mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức
xã hội
Bên cạnh việc phản ảnh hiện thực đời sống, trong quá trình phát triển của mình với
tư cách là một hình thái ý thức xã hội, văn học chịu sự tác động và ảnh hưởng từ các hình thái ý thức xã hội khác trong đó có triết học Do điều kiện xã hội mà ở Việt Nam trước đây
có hiện tượng văn-sử bất phân hay văn-sử-triết bất phân Vì vậy mà khi xem xét một tác phẩm văn học, người đọc có thể khám phá ra không chỉ những giá trị về văn học mà còn
có những giá trị lịch sử, những tư tưởng triết học
Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á Trong lịch sử phát triển hàng nghìn năm,
do điều kiện hoàn cảnh địa lý, lịch sử xã hội, văn hóa nước ta có sự giao lưu với nhiều nền văn hóa lớn trong khu vực mà tiêu biểu nhất, sâu sắc nhất là nền văn hóa Trung Quốc Chính vì vậy, rất nhiều hệ tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại đều có dấu ấn sâu sắc
trong đời sống xã hội ở nước ta Trong đó, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng sâu rộng, bền
bỉ vì trong một khoảng thời gian dài nó chiếm vị trí độc tôn và có lúc trở thành kim chỉ
nam trong đường lối trị nước của một số triều đại phong kiến nước ta
Trang 2Dấu ấn tư tưởng Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam được phản ánh qua văn hóa, tâm lý, phong tục của con người Việt Nam Trong văn học Việt Nam, đặc biệt là trong văn học thời kỳ Trung đại (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX) chúng ta tìm thấy những
tư tưởng Nho giáo có sự tác động to lớn đến thế giới quan của lớp văn sĩ – nho sĩ phong kiến
Có thể khẳng định rằng: chính các trước tác kinh điển Nho giáo là ngọn nguồn vô
tâ ̣n để khơi gợi cảm hứng sáng tác Từ tư tưởng nhân nghĩa , bác ái đầy tình yêu thương con người đã dẫn đến khuynh hướng cảm hứng về chí nam nhi… Mă ̣t khác, ngoài giá trị
gơ ̣i ý khuynh hướng sáng tác , các trước tác kinh điển còn để lại cho văn học đời sau một số hình tượng nghê ̣ thuâ ̣t trở thành nguồn thi liê ̣u giúp cho các nhà thơ, nhà văn sáng tác
Việc nghiên cứu những dấu ấn của tư tưởng triết học Nho giáo đối với văn học có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng nội dung để khám phá và giảng dạy văn học, đặc biệt
là đối với văn học trung đại Với khuôn khổ của một tiểu luận, em đi vào phân tích đề tài:
“Tư tưởng Nho giáo trong một số tác phẩm văn học Việt Nam thời trung đại”
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Khái quát về học thuyết Nho giáo
1.1.1 Lịch sử ra đời
Nho giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên (TCN), dưới thời
Xuân Thu Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551-479 TCN), tên Khâu, tự Trọng
Ni người nước Lỗ, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tri thức cũng như tư tưởng trước đây
thành học thuyết gọi là Nho học hay Nho giáo Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy tâm và duy vật trong đó dòng Nho gia Khổng - Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận
Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán Tự từ Nho gồm từ nhân (người) đứng cận chữ Nhu (cần, đợi, chờ) Nhà nho là người đọc sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời, ăn ở cho phù hợp với luân thường đạo lý
Nội dung của Nho giáo được thể hiện trong Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu) hay Tứ Kinh (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) Quan điểm của nho giáo thể hiện trong Tam Cương đó là các mối quan hệ vua-tôi, cha-con, vợ chồng và Ngũ Thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín) Nho giáo ảnh hưởng hầu
hết các nước phong kiến phương Đông qua quá trình giao thoa và đồng hóa
Ở nước ta Nho giáo xuất hiện cùng với sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, và phát triển rất nhanh trong khoảng thời gian từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII Trong thời đại ngày nay, Nho giáo được chọn lọc và cần gìn giữ để phát triển những mặt tích cực của nó như coi trọng việc học, tôn sư trọng đạo, giữ gìn nét đẹp văn hóa trong lối sống gia đình,
1.1.2 Những nội dung cơ bản của Nho giáo
Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là Quân Tử (Quân: người làm vua, Quân tử: chỉ
tầng lớp trên ở trong xã hội để phân biệt với kẻ "Tiểu nhân" những người thấp kém về địa
Trang 4vị xã hội; "Quân tử" là những người cao thượng có phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với kẻ
"Tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Điều này có thể
được lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền)
Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "Tự Đào Tạo", phải "Tu Thân" Sau khi Tu Thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "Hành Đạo" (Đạo không đơn
giản chỉ là đạo lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận mình là phát hiện ra) và cần phải tuân theo Trời giáng mệnh làm Vua cho người nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh Cần phải hiểu cơ sở triết lí của Nho giáo mới nắm được logic phát triển và tồn tại của nó
* Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà Nam giới phải theo Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà Nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội sẽ được an bình
- Tam Cương: Nói về ba mối quan hệ Quân Thần (vua tôi), Phụ Tử (cha con), Phu
Phụ (chồng vợ)
+ Quân Thần (Vua Tôi): Trong quan hệ vua tôi Vua thì thưởng phạt công minh,
Tôi tớ phải trung thành một dạ
+ Phụ Tử (Cha Con): Cha hiền Con hiếu Cha có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, Con
phải hiếu thảo và phụng dưỡng khi cha về già
+ Phu Phụ (Chồng vợ): Chồng phải yêu thương và đối xử công bằng với vợ Vợ
phải chung thủy tuyệt đối với chồng
- Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải
hằng có khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
+ Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật
+ Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải
+ Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người
+ Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt rõ thiện ác, đúng sai
Trang 5+ Tín: Giữ đúng lời hứa, đáng tin cậy
- Tam Tòng: Tam là ba, Tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo,
bao gồm: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
+ Tại gia tòng phụ: tức người phụ nữ khi còn ở nhà thì phải theo cha
+ Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng
+ Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con
- Tứ Đức: bốn tính nết tốt của người phụ nữ phải có là: Công-Dung-Ngôn -Hạnh
+ Công: khéo léo trong công việc
+ Dung: hòa nhã trong sắc diện
+ Ngôn: mềm mại trong lời nói
+ Hạnh: nhu mì trong tính nết
Người Quân tử phải đạt được ba điều trong quá trình Tu Thân:
- Đạt Đạo: Đạo có nghĩa là "Con đường" hay "Phương cách" ứng xử mà người
quân tử phải thực hiện trong cuộc sống "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" (trong sách Trung Dung), tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu" Đó chính là Ngũ thường
hay Ngũ luân Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là "Trung Dung" Tuy nhiên, đến Hán nho Ngũ Luân được tập trung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam
thường hay còn gọi là Tam Tòng
- Đạt Đức: Quân tử phải đạt được ba đức: "Nhân - Trí - Dũng" Khổng Tử
nói: "Đức của người quân tử có ba đức mà ta chưa làm được Người Nhân không lo buồn,
người Trí không nghi ngại, người Dũng không sợ hãi " (sách Luận ngữ) Về sau, Mạnh
Tử thay "Dũng" bằng "Lễ, Nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức: "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí"
Đến thời Hán nho thêm một đức nữa là "Tín" nên có tất cả năm đức là: "Nhân, Nghĩa, Lễ,
Trí, Tín" Năm đức này còn gọi là Ngũ Thường
- Biết Thi, Thư, Lễ, Nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về "Đạo" và "Đức", người quân
tử còn phải biết "Thi, Thư, Lễ, Nhạc" tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa
toàn diện
Trang 6* Hành đạo
Sau khi Tu thân, người quân tử phải Hành Đạo, tức là phải làm quan, làm chính
trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ là gia đình, cho đến lớn là trị quốc, và đạt đến
mức cuối cùng là Bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị có hai phương châm:
- Nhân Trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và
coi người như bản thân mình Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: "Kỷ
sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác - sách
Luận ngữ) "Nhân" được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: "Người
không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?" (sách Luận
ngữ)
- Chính Danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người
phải làm đúng chức phận của mình "Danh không chính thì lời không thuận, lời không
thuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ) Khổng Tử nói với vua Tề Cảnh Công:
"Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con"
(sách Luận ngữ)
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng
được tóm gọn lại trong chín chữ: "Tu Thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ" Và đến lượt
“Nhân Nghĩa”
Khổng Tử giảng chữ "Nhân" cho học trò không lúc nào giống lúc nào, nhưng xét
cho kỹ, cốt tủy của chữ Nhân là lòng thương người như chính Khổng Tử nói: “Đối với người như đối với mình, không thi hành với người những điều mà bản thân không muốn ai thi hành với mình cả Hơn nữa cái mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái gì
Trang 7mình muốn đạt tới thì phải làm cho người đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn
mà không làm cho người xấu đi” (Sách Luận ngữ)
“Nghĩa” là lẽ phải, đường ngay, việc đúng Mạnh Tử nói: “Nhân là lòng người,
Nghĩa là đường đi ngay thẳng của người” “Nhân là cái nhà của người, Nghĩa là đường đi ngay thẳng của người”
Do điều kiện lịch sử, ở nước ta, Nho giáo đã có lịch sử rất lâu đời Từ khi nước ta
bị xâm lược và sáp nhập vào Trung Quốc, từ đời Hán (206 trước Công nguyên đến 220 sau CN), Nho giáo đã được du nhập vào Việt Nam Sĩ Nhiếp (thế kỷ thứ II sau công nguyên) đã được coi là An Nam học tổ, người mở đầu cho Nho học ở nước ta Trong thời
kỳ tự chủ, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Nho giáo cùng với Phật giáo và Đạo giáo có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần nước ta Cuối thế kỷ XIV, Nho giáo giành được ưu thế
so với Phật giáo, chi phối đời sống tinh thần nước ta Đến thế kỷ XV, sau khi Lê Lợi chiến thắng quân Minh (1428) nhà nước Lê sơ dành cho Nho giáo địa vị độc tôn- học thuyết chính thống của nhà nước cuối thế kỷ đó, vào thời Lê Thánh Tông (làm vua từ 1460 đến 1497), nó đạt đến mức toàn thịnh Từ thế kỷ XV, cho đến giữa thế kỷ XIX, thậm chí đến đầu thế kỷ XX, trong đời sống tinh thần của nước ta, Nho giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo, chi phối Ảnh hưởng của Nho giáo, do thực tế lịch sử đó rất lớn và được thể hiện trong truyền thống văn hóa, phong tục và văn học, đặc biệt là trong văn học thời kỳ trung đại
1.2 Khái quát về văn học trung đại Việt Nam
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử
Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc: đất nước độc lập, chấm dứt hơn 1000 năm phong kiến Bắc thuộc, nhà nước phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển Từ đây bắt đầu một giai đoạn hào hùng với những chiến công vô cùng hiển hách của các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần
Văn học viết Việt Nam hình thành, thế kỷ X có sự xuất hiện của văn học viết chữ Hán và đến TK XIII đánh dấu sự ra đời của văn học viết bằng chữ Nôm Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng yêu nước với âm hưởng hào hùng, đặc biệt là giai đoạn nhà Trần với hào khí Đông A sục sôi Từ thế kỷ XV, văn học chuyển dần sang cảm hứng thế sự và nhân đạo
Do tư duy nguyên hợp nên văn học trung đại có hiện tượng văn-sử-triết bất phân
Văn học giai đoạn này phát triển và biến động theo sự vận động, phát triển cho đến cực
Trang 8thịnh của xã hội phong kiến Việt Nam (thế kỷ XV) và cũng phản ánh xã hội ở thời kỳ xã
hội phong kiến rơi vào khủng hoảng trầm trọng và tan rã
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại
1.2.2.1 Đặc điểm về nội dung
Văn học trung đại còn được gọi bằng những cái tên khác nhau như văn học thành văn, văn học phong kiến, văn học cổ điển Bởi từ TK X đến TK XIX, văn học trung đại phát triển trong một môi trường xã hội phong kiến với ý thức hệ Nho giáo, lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức, những người có trình độ cao, được đào tạo từ ''cửa Khổng sân Trình'' và những sáng tác chỉ lưu truyền trong tầng lớp công chúng ấy, bên cạnh đó văn học thời kì này còn chịu ảnh hưởng bởi thi pháp văn chương cổ điển Văn học trung đại tồn tại và phát triển trong suốt mười thế kỉ nhưng không bao giờ tách rời khỏi cảm hứng yêu nước; cảm hứng nhân đạo, thế sự
Khi vận mệnh đất nước gặp nguy nan thì cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng yêu nước và văn học trung đại luôn bám sát lịch sử dân tộc, phản ánh những sự kiện trọng đại liên quan đến vận mệnh đất nước Cảm hứng yêu nước luôn gắn liền với tư tưởng trung quân như là một tất yếu trong lịch sử xã hội phong kiến, bởi xã hội phong kiến quan niệm nước là vua, vua là nước Do đó văn học có một quan niệm: yêu nước là phải trung với vua và trung với vua là phải yêu nước (trung quân ái quốc) Cảm hứng yêu nước được thể hiện phong phú, đa dạng qua mội thời kì lịch sử, khi đất nước có giặc ngoại xâm (căm thù giặc ngoại xâm, xót xa trước cảnh người bị đàn áp, ý chí tiêu diệt kẻ thù, sẵn sàng xả thân vì nước), khi đất nước hòa bình (khát khao xây dựng Tổ quốc, yêu thiên nhiên, con người, tự hào với truyền thống dân tộc), âm hưởng hào hùng, khi thì bi tráng, khi thì trầm lắng, thiết tha
Khi vận mệnh cá nhân con người, quyền sống, quyền hạnh phúc của con người bị
đe dọa thì cảm hứng nhân đạo lại thăng hoa rực rỡ Văn học trung đại Việt Nam luôn gắn
bó với số phận con người Cảm hứng nhân đạo có hàm chứa cảm hứng yêu nước bởi có những bài ca yêu nước thể hiện nỗi băn khoăn, day dứt trước số phận con người Tư tưởng nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam là sự kế thừa của truyền thống tư tưởng lớn của con người Việt Nam: thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách; tư tưởng của Phật giáo: từ bi bác ái, yêu thương con người rộng rãi; và tư tưởng của Nho giáo: cái nhân, cái nghĩa Điều này được thể hiện một cách đa dạng qua việc ca ngợi vẻ đẹp con người, đồng cảm với bi kịch con người, đồng tình với ước mơ, khát vọng của con người,
Trang 9lên án các thế lực bạo tàn Tư tưởng nhân đạo được thể hiện một cách đầy đủ nhất trong nội dung của tác phẩm Truyện Kiều, đỉnh cao của tư tưởng nhân văn chủ nghĩa
cuộc đời ''Văn dĩ tải đạo, thơ dĩ ngôn chí'', văn thơ sáng tác là để giáo huấn đạo đức,
văn dùng để tải đạo, thơ dùng để bộc lộ ý chí, bày tỏ lòng mình Ngôn ngữ sáng tác gồm chữ Hán và chữ Nôm nhưng chữ Hán được xem là chính thống Tư duy nghệ thuật thì luôn cho rằng cái đẹp thuộc vào những khuôn mẫu định sẵn (xuân hạ thu đông, tùng trúc cúc mai, long li quy phượng, ngư tiều canh mục) Và thể loại chủ yếu là những thể loại văn học có kết cấu cố định, chặt chẽ về số câu, số chữ, niêm luật, đối (ví dụ thơ Đường luật, cáo, phú, văn tế) Còn hình ảnh trong thơ văn (văn liệu, thi liệu) là từ sử sách, rất lắm điển tích, điển cố hay có trong văn học Trung Hoa
Bất quy phạm có nghĩa là không chịu gò mình, tự cởi trói khỏi khuôn khổ, những quy định ràng buộc trong quá trình sáng tác Suốt 10 thế kỷ, văn học trung đại cũng đã phá
bỏ dần tính quy phạm, ước lệ để phát huy cá tính, sáng tạo nội dung và hình thức thể hiện Các tác giả đã có nhiều tác phẩm viết bằng chữ Nôm rất thành công như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du,
Văn chương Trung đại Việt Nam có tính quy phạm là do nước ta giáp với Trung Quốc, một nền văn minh cổ của nhân loại Hơn nữa Việt Nam còn phải chịu hơn 1000 năm phong kiến Bắc thuộc Phong kiến phương Bắc luôn có ý đồng hóa dân tộc Việt Nam nên người Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố Hán và văn hóa Hán Và đến khi dân tộc ta giành được độc lập thì nước ta xây dựng nhà nước theo hình thái xã hội phong kiến, một xã hội của chữ Lễ mà có thể coi quy phạm là một biểu hiện của chữ Lễ đó Tôn ti cao thấp là đặc trưng của xã hội phong kiến nên văn chương cũng có loại cao loại thấp Tính chất cao quý từ quan niệm nguồn gốc, quan niệm sáng tác và sinh hoạt thơ văn xưa cũng
đẻ ra tính quy phạm Tuy vậy nhưng chúng ta một mặt tiếp thu những tinh hoa của văn học Trung Quốc nhưng mặt khác lại cũng không ngừng phát triển văn học của đất nước mình
Trang 10theo xu hướng dân chủ hóa, dân tộc hóa Do vậy người Việt Nam đã cố gắng phá vỡ tính quy phạm
Tính trang nhã là đề tài hướng tới cái cao cả, trang trọng, hình tượng nghệ thuật hướng tới vẻ tao nhã, mĩ lệ với ngôn ngữ cao quý, diễn đạt trau chuốt, hoa mĩ Dần dần, văn học Việt Nam cũng đã có những nỗ lực không nhỏ để tiếp cận với xu hướng bình dân, gần gũi với đời sống của con người Việt Nam
Chương 2 – TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG MỘT SỐ TÁC
PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
2.1 Nguyên nhân của sự ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo trong văn học trung đại Việt Nam
2.1.1 Nguyên nhân khách quan
Lịch sử Việt Nam có hơn 1000 năm Bắc thuộc Thời kỳ độc lập tự chủ được tính từ
sự kiện Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 Mặc dù vậy, từ năm 938 nước ta vẫn không phải hoàn toàn độc lập mà trải qua quá trình vừa xây dựng củng cố, phát triển đất nước thời với sự nghiệp chống ngoại xâm, chống lại chính sách đồng hóa của phương Bắc không thời nào là không thường trực Chính vì vậy, xã hội, văn hóa phong tục của người Việt không tránh khỏi sự ảnh hưởng từ những tư tưởng tiến
bộ từ Trung Quốc Trong đó có nhiều tư tưởng từ triết học Nho giáo
2.1.2 Nguyên nhân chủ quan
Mặt khác, từ rất lâu sau khi đất nước bước vào thời kỳ độc lập tự chủ, chúng ta vẫn chưa có một văn tự dân tộc Vì vậy, trong rất nhiều năm, văn tự của nước ta là chữ Hán và đến tận khi chữ Nôm ra đời, văn tự Hán vẫn được coi là loại chữ chính thống trong một thời gian dài Ngoài ra, đa số triều đại phong kiến nước ta lấy Nho giáo làm học thuyết chính thống cho sự tổ chức, quản lý và phát triển đất nước, đặc biệt là vào thế kỷ XV – giai đoạn mà Nho giáo đạt đến mức độ toàn thịnh ở nước ta
Với hơn 1000 năm phong kiến Bắc thuộc và hàng trăm năm chống Bắc thuộc, chuyện văn chương Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán là không thể tránh khỏi Thể loại chủ yếu là các thể loại của văn học Trung Quốc, trong các tác phẩm có nhiều thi
Trang 11pháp cổ điển và hình ảnh trong văn học Trung Quốc Nho giáo ảnh hưởng đến thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng thẩm mỹ của đa số tầng lớp sáng tác văn chương thời kỳ này Bởi vì, tầng lớp nhà văn, nhà thơ thời kỳ trung đại cũng đa số là những người học theo học thuyết Nho giáo
2.2 Tư tưởng triết học Nho giáo thể hiện trong văn học trung đại Việt Nam
2.2.1 Tư tưởng thiên mệnh của Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó trong văn học trung đại Việt Nam
2.2.1.1 Sơ lược tư tưởng thiên mệnh của Nho giáo
Sinh thời Khổng Tử rất ít bàn đến những vấn đề trừu tượng thuộc bản thể, ít bàn đến chuyện quỷ thần Tuy nhiên, trong nghị luận nhiều chỗ ông nói đến “Trời”, “Mệnh Trời” để trình bày ý kiến của mình “Trời” đối với Khổng Tử có chỗ như là một quy luật,
là trật tự của vận vật (“Trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, vạn vật vẫn sinh trưởng”), có chỗ ông khẳng định trời có ý chí (“Than ôi! Trời làm mất đạo ta”; “Mắc tội với trời khổng thể cầu ở đâu mà thoát được”) Ý chí của Trời là thiên mệnh (Mệnh lệnh của trời: Mệnh trời) Thiên mệnh nói vắn tắt là mệnh Ông cho rằng mỗi cá nhân, sự sống - chết, phú quý hay nghèo hèn đều là do thiên mệnh quy định
Thật ra thuyết Định mệnh chỉ là cái mặt ngoài của Luật Nhân Quả, bởi vì trong Luật Nhân Quả, Trời không sắp đặt số phận cho ai hết, mà chính con người tự sắp đặt lấy cuộc đời của mình, tự sắp xếp số phận mình Trời chỉ cầm cây cân Công bình thiêng liêng
để kềm giữ Luật Nhân Quả thể hiện đúng và đủ một cách chính xác
Thuyết Thiên mệnh của Nho giáo gồm 4 điểm sau đây:
- Tri mệnh
- Phối mệnh
- Sĩ mệnh
- Úy mệnh
Tri mệnh: Biết mệnh Trời mà tuân theo
Tri mệnh rất khó Muốn biết được mệnh Trời thì phải chế ngự tư dục, không để cho
tư dục làm mờ ám lương tâm, để cái bổn tánh thiện được tỏ rạng, để cái lương tri lương năng hoàn toàn sáng suốt mà suy tính, rồi mới đem hết năng lực ra mà làm thì lúc đó sẽ biết được mệnh Trời, nên có câu: Tận nhân lực, tri Thiên mạng
Trang 12Đức Khổng Tử là bậc đại trí mà còn nói rằng: Ngũ thập nhi tri Thiên mệnh (50 tuổi Ngài mới biết mệnh Trời)
Phối mệnh: Kết hợp với mệnh Trời Phải luôn luôn trau dồi đức hạnh để luôn luôn
xứng đáng là một con người với danh nghĩa là một Tiểu Thượng Đế
Sĩ mệnh: Đợi mệnh Trời Không nên có thái độ nóng vội hay chán nản, than van,
mà cứ giữ tâm tánh luôn luôn được an nhiên mà chờ đợi mệnh Trời Sách Trung Dung có câu: Thượng bất oán Thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị sĩ mệnh Nghĩa là: Trên không oán Trời, dưới không trách người, cứ ở bình dị mà đợi mệnh Trời
Úy mệnh: Sợ mệnh Trời Sợ mạng Trời để kính trọng và sửa mình, chớ không phải
sợ để xa lánh, bởi vì dù có xa lánh cũng không khỏi được
2.2.1.2 Tư tưởng thiên mệnh trong văn học trung đại Việt Nam
Ở Việt Nam, tư tưởng thiên mệnh có ảnh hưởng sâu đậm và lâu bền trong truyền thống văn hóa phong tục và còn tồn tại cho đến ngày nay, mỗi khi gặp những bất trắc trong cuộc sống, người Việt vẫn than rằng “số trời”, “số phận” hay gặp những thất bại trong những kế hoạch, việc làm, họ vẫn tự an ủi mình với câu “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”
Lý Thường Kiệt trong Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà) – một văn bản vẫn
được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta, để khẳng định quyền độc lập của dân tộc, thoát ly khỏi sự lệ thuộc vào phương Bắc, thay vì dùng cương vực lãnh thổ, văn hóa, phong tục, lịch sử,… thì do những sự hạn chế trong trong hệ tư tưởng đương thời
và sự ảnh hưởng sâu đậm từ tư tưởng “Thiên mệnh” của Nho giáo, ông đã tìm đến Trời như là một quy luật của vạn vật, để khẳng định sự độc lập của nước ta là do ý trời, do Thiên mệnh
Văn bản Nam quốc sơn hà (南國山河), nguyên tác chữ Hán:
Trang 13Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Tạm dịch là:
“Sông núi nước Nam, Hoàng Đế nước Nam ở,
Giới phận đó đã được định rõ ràng ở sách trời
Cớ sao kẻ thù lại dám đến xâm phạm, Chúng mày nhất định sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong”
Nguyễn Du (1766–1820) tên chữ Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), là một
nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt Ông là một nhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng vinh danh là "Đại thi hào dân tộc" Năm 1965, Nguyễn Du được Hội đồng hòa bình thế giới công nhận là danh nhân văn hóa thế giới
Trong di sản văn chương, Nguyễn Du để lại một số lượng lớn các tác phẩm thơ ca (gồm chữ Hán và chữ Nôm) trong đó tiểu biểu nhất là Truyện Kiều Truyện Kiều (chữ Nôm: 傳翹), tên gốc là Đoạn trường tân thanh, là truyện thơ chữ Nôm theo thể lục bát, dựa theo tiểu thuyết "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đem thuyết “tài mệnh tương đố” làm luận đề cho
sự luận giải những bất hạnh của người phụ nữ, mở đầu tác phẩm có đoạn:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Chữ “mệnh” là số mệnh, số phận của mỗi người Mặc dù Nguyễn Du, trong kiến giải tác phẩm chú ý nhấn mạnh ở sự đố kỵ giữa “tài” và “mệnh”, song qua toàn bộ tác phẩm, ta nhận thấy ở tác giả chịu sự ảnh hưởng từ tư tưởng thiên mệnh của Nho giáo Điều này không khó cắt nghĩa bởi Nguyễn Du cũng là một nhà Nho, từng làm quan, giám khảo trường thi theo khoa cử Nho giáo Đồng thời, ông cũng đã từng đi sứ Trung Quốc –
đó vốn là điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc và mở rộng nhận thức về Nho giáo
Cũng trong sự lý giải nguyên nhân đọa đày, đau khổ của số phận con người, Nguyễn Du đã không ít lần nhắc đến trời như là một quy luật chi phối cuộc sống, số phận con người: