1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay

118 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó chứng tỏ, việc dạy và học Tiếng Việt đang dần được quan tâm nhiều hơn không chỉ đối với các giáo viên và học viên có nhu cầu mà cả những nhà nghiên cứu ngôn ngữ, những người làm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN BÍCH DIỆP

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM ĐOẠN THOẠI

TRONG MỘT SỐ SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội – 2011

Trang 2

1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 6

4 Ý nghĩa của luận văn 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Tư liệu nghiên cứu 7

7 Bố cục luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG 10

Chương 1: Khái quát cơ sở lý thuyết hội thoại 10

1.1 Hội thoại là gì? 10

1.2 Vận động hội thoại 11

1.3 Các yếu tố kèm lời và phi lời 13

1.4 Các quy tắc hội thoại 14

1.5 Thương lượng hội thoại 21

1.6 Cấu trúc hội thoại 24

1.7 Ngữ pháp hội thoại 30

1.8 Tính thống nhất của cuộc thoại 32

1.9 Tiểu kết 32

Chương 2: Khảo sát đặc điểm hội thoại trong một số sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài 34

2.1 Giới thiệu khái quát về nguồn tư liệu khảo sát 34

2.2 Nội dung khảo sát đặc điểm hội thoại trong một số sách DTVCNNN 36

2.3 Tiểu kết 66

Chương III: Thiết kế bài giảng hội thoại Tiếng Việt cho người nước ngoài và đề xuất một số bài hội thoại luyện nói theo chủ đề ở TĐCS 69

Trang 3

2

3.1 Dẫn nhập 69

3.2 Thiết kế bài giảng hội thoại Tiếng Việt cho người nước ngoài69 3.3 Đề xuất một số hội thoại luyện nói cho học viên ở TĐCS 82

3.4 Tiểu kết 93

PHẦN KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 102

Trang 4

và sâu sắc Bởi vậy, việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện đang trên đà phát triển khá mạnh mẽ

Nếu như trước đây chỉ có một số cơ sở trực thuộc một số trường đại học đảm nhận dạy tiếng Việt cho người nước ngoài thì nay con số đó đã lớn mạnh hơn rất nhiều Khoa Việt Nam học không chỉ được thành lập ở một số trường đại học công lập như: Đại học KHXH &NV- ĐHQGHN, Đại học Hà Nội, Đại học Thương mại Hà Nội, Đại học Ngoại Thương Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Thái Nguyên, Đại học Hải Phòng, Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng, Đại học Ngoại ngữ- Đại học Huế, Đại học Ngoại ngữ Tin học TPHCM, Đại học KHXH &NV- ĐHQG TPHCM, vv mà còn được mở cả ở một số trường dân lập như Đại học dân lập Phương Đông, Đại học dân lập Thăng Long, Đại học dân lập Đông Đô vv Ngoài các trung tâm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài do các trường đại học quản lý còn có các trung tâm do cá nhân, tổ chức ngoài hệ thống giáo dục mở ra và hoạt động theo nhu cầu của thị trường ở gần các khu đô thị tập trung đông đảo số lượng người nước ngoài đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam như khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính, khu vực quận Tây Hồ, khu đô thị Mỹ Đình vv

Đã có ngày càng nhiều các cuộc hội thảo, hội nghị khoa học về Tiếng Việt

và giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài đã được tổ chức Vấn đề Tiếng Việt cho người nước ngoài cũng đã được đưa ra bàn bạc, thảo luận một cách nghiêm túc và đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong ngành ngôn ngữ học

Trang 5

4

Trong các nghiên cứu khoa học đặc biệt là các khóa luận, luận văn của các sinh viên, học viên cao học, số đề tài viết về sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài cũng đang dần mở rộng địa hạt của mình Ví dụ như: Đỗ Thị Thúy Hoàn tác giả luận văn thạc sỹ ngôn ngữ về “Khảo sát hệ thống bài luyện và bài tập trong một số sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay” bảo vệ năm 2008; Đinh Thị Thùy Trang tác giả luận văn thạc sỹ ngôn ngữ học về “Trợ từ tình thái trong các giáo trình dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài

”, bảo vệ năm 2009; Nguyễn Thị Lệ Hằng viết khóa luận tốt nghiệp ngành ngôn ngữ học khóa 2005-2009 về “Bước đầu khảo sát việc cung cấp vốn từ trong một số giáo trình dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài” bảo vệ năm 2009 Điều đó chứng tỏ, việc dạy và học Tiếng Việt đang dần được quan tâm nhiều hơn không chỉ đối với các giáo viên và học viên có nhu cầu mà cả những nhà nghiên cứu ngôn ngữ, những người làm việc trong ngành cũng ít nhiều dành cho địa hạt này một sự lưu tâm nhất định

Trong quá trình học Tiếng Việt, một trong những nội dung được học viên quan tâm, thực hành và sử dụng nhiều và hiệu quả nhất đó chính là các hội thoại trong sách Có thể thể nói mục đích cuối cùng và cơ bản nhất đối với hầu hết học viên nước ngoài trong quá trình học ngoại ngữ đó là giao tiếp được bằng ngoại ngữ đó với người bản địa

Trong nghiên cứu ngôn ngữ nói chung, việc nghiên cứu hội thoại đã được lưu tâm xem xét ở một số bình diện, dù vậy việc khảo sát các đoạn hội thoại để nắm bắt các đặc điểm cơ bản từ đó tiến tới chỗ giúp người sử dụng ngôn ngữ chủ động trong việc hiểu hội thoại, sử dụng hội thoại một cách tự nhiên, xây dựng hội thoại chuẩn mực vẫn chưa được chú ý nhiều Luận văn của chúng tôi sẽ hướng vào việc tìm hiểu, khảo sát các hội thoại trong các sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng đề xuất một số cách thiết kế bài giảng

về hội thoại Tiếng Việt, đồng thời tiến hành tìm hiểu và bước đầu xây dựng một số bài hội thoại tự nhiên, đạt chuẩn Chính bởi vậy, chúng tôi chọn nội dung “Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy Tiếng Việt hiện nay” làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu

Trang 6

5

Đối tượng mà luận văn của chúng tôi tập trung hướng vào là các đoạn hội thoại được thể hiện trong các sách dạy Tiếng Việt cụ thể là các sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài mà trong luận văn về sau này chúng tôi sẽ dùng ký hiệu viết tắt là sách DTVCNNN Chúng tôi sẽ tập trung khảo sát các hội thoại tại các sách DTVCNNN trong những năm gần đây Sở dĩ chúng tôi làm rõ đối tượng như vậy thay vì cách đặt vấn đề như tên của đề tài đã có là nhằm mục đích tự hạn chế cho mình một phạm vi, đối tượng khảo sát hẹp hơn, cụ thể và phù hợp hơn với công việc mà chúng tôi đang đảm nhiệm là dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài Với phạm vi đề tài cụ thể này, chúng tôi có thể đưa ra những số liệu và nhận định sát thực tế hơn Việc tìm hiểu đặc điểm đoạn thoại trong sách dạy Tiếng Việt rõ ràng là có phần rộng và cũng chưa cụ thể Khiếm khuyết này xuất phát từ chỗ chúng tôi phải xây dựng đề cương trước khi bắt tay vào nghiên cứu số liệu thực tế Chúng tôi nói rõ điều này để thống nhất lại nội dung mà chúng tôi khảo cứu trong luận văn sẽ thể hiện tính cụ thể và có phạm vi hẹp hơn so với nhan đề của luận văn Kính mong các thầy cô trong hội đồng đọc và đánh giá luận văn theo hướng triển khai mới

Cấu trúc của một giáo trình dạy Tiếng Việt dành cho người nước ngoài, về

cơ bản thường chia thành ba phần chính đó là: hội thoại (hoặc bài đọc, bài nghe), chú giải ngữ pháp và phần luyện tập

Luận văn tập trung nghiên cứu và khảo sát phần hội thoại trong sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay Cụ thể là luận văn sẽ khảo sát toàn bộ nội dung các hội thoại có trong các cuốn sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài đã được lựa chọn để đưa ra những đặc điểm cơ bản nhất của các hội thoại đã được nghiên cứu

+ Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các hội thoại có trong sách đã được lựa chọn dưới đây Do điều kiện hạn chế nên luận văn chỉ tiến hành khảo sát tất cả các hội thoại chính trong sách học Còn một số hội thoại của phần bài tập và cả một số hội thoại được trích từ đáp án bài nghe cũng như trong phần bài tập triển khai trong sách học tạm thời chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu và hy vọng sẽ có cơ hội nghiên cứu trong đề tài có phạm vi rộng hơn

Bên cạnh đó trong quá trình khảo sát, luận văn cũng xem xét đến cả một số hoạt động đi kèm với hội thoại như: bảng từ mới, tranh ảnh, một số dạng bài tập triển khai cùng với hội thoại vv nhằm làm rõ hơn đặc điểm của hội thoại trong sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài

Trang 7

+ Cố gắng tìm ra được một số đặc điểm cơ bản nhất trong các hội thoại trong sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài

+ Thiết kế bài soạn giảng về dạy hội thoại Tiếng Việt cho người nước ngoài

và đề xuất được được một số bài hội thoại luyện nói cho học viên người nước ngoài một cách hiệu quả

- Để đạt được những mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:

+ Tóm tắt những nét cơ bản nhất về lý thuyết hội thoại và một số khái niệm

+ Tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát cụ thể các hội thoại đã được lựa chọn

để cuối cùng thiết kế được bài giảng hội thoại và đề xuất các bài hội thoại luyện nói giai đoạn đầu học Tiếng Việt một cách hiệu quả

4 Ý nghĩa của luận văn

Thực hiện tốt đề tài, luận văn sẽ góp phần nghiên cứu làm rõ đặc điểm của hội thoại Tiếng Việt Đồng thời, việc tìm hiểu các đặc điểm cơ bản của các đoạn hội thoại Tiếng Việt trong một số sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài sẽ giúp các giáo viên dạy Tiếng Việt hiểu cặn kẽ và đầy đủ về các đoạn hội thoại trong các sách dạy Tiếng Việt Qua đó, có thể tiếp cận và đưa ra những hội thoại Tiếng Việt dễ hiểu và cách thiết kế bài giảng một cách hiệu quả trong quá trình giảng dạy Tiếng Việt

Trang 8

7

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ như: Phương pháp miêu tả, phân tích, phương pháp so sánh đối chiếu Ngoài ra, để có thể thu thập số liệu phục vụ cho việc khảo sát, luận văn cũng sử dụng các thủ pháp nghiên cứu cụ thể trong quá trình thực hiện như: các thủ pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp phân tích, miêu tả, thủ pháp thống

kê, phân loại theo tiêu chí cụ thể vv nhằm đưa ra được những số liệu và những dẫn chứng khoa học có tính xác thực cao nhất

6 Tư liệu nghiên cứu

Dưới đây là những tư liệu mà luận văn tiến hành khảo sát, thống kê và miêu

tả trong luận văn từ 18 cuốn sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài được tạm chia thành hai trình độ như sau:

Giáo trình Tiếng Việt cơ sở:

1 Phan Văn Giưỡng (2004), Tiếng Việt cho người nước ngoài, Tập 1, NXB

6 Nguyễn Việt Hương (1996), Thực hành Tiếng Việt, NXB ĐHQG, Hà Nội

7 Nguyễn Văn Phúc (chủ biên), Đào Văn Hùng, Nguyễn Văn Chính (2004),

Tiếng Việt cho người nước ngoài, Chương trình cơ sở, NXB ĐHQG, Hà Nội

8 Đoàn Thiện Thuật(chủ biên) (2004), Thực hành Tiếng Việt Trình độ A, Tập

Trang 9

8

1 Mai Ngọc Chừ (2005), Học Tiếng Việt qua Tiếng Anh, NXB Thế giới, Hà

Nội

2 Trịnh Đức Hiển(chủ biên), (2004), Tiếng Việt cho người nước ngoài trình độ

nâng cao, ĐHQG, Hà Nội

3 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), (2004), Tiếng Việt dành cho người nước ngoài ,

Tập 4, NXB GD, TP HCM

4 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), (2004), Tiếng Việt dành cho người nước ngoài ,

Tập 5, NXB GD, TP HCM

5 Nguyễn Thiện Nam (1998), Tiếng Việt nâng cao, NXB GD, Hà Nội

6 Nguyễn Anh Quế (2000), Tiếng Việt cho người nước ngoài, NXB VHTT Hà

9 Viện ngôn ngữ học- Viện khoa học xã hội Việt Nam (2004), Tiếng Việt nâng

cao dành cho người nước ngoài, NXB KHXH, Hà Nội

7 Bố cục luận văn

Ngoài danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu trong luận văn, mục lục, phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo theo quy định, bố cục phần nội dung chính của luận văn được trình bày gồm ba chương như sau:

Chương 1: Khái quát cơ sở lý thuyết hội thoại

Chương 1 giới thiệu các vấn đề lý luận liên quan đến lý thuyết hội thoại và các yếu tố cấu thành hội thoại, tầm quan trọng của lý thuyết hội thoại trong nghiên cứu và giảng dạy hội thoại Tiếng Việt Trong đó, đặc biệt lưu ý đến đặc điểm, cấu trúc hội thoại

Chương 2: Khảo sát đặc điểm hội thoại trong một số sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài

Ở chương này, chúng tôi tập trung khảo sát và nhận diện các đặc điểm của hội thoại trong các sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay Cụ thể là

18 đầu sách với 588 hội thoại Qua đó chúng tôi có thể có những nhận định khách quan logic và khoa học để đưa ra những đánh giá và nhận xét đúng đắn Đồng

Trang 10

9

thời, trong chương 2, chúng tôi cũng tiến hành thống kê khảo sát các số liệu, bảng biểu một cách chi tiết, cụ thể và đầy đủ để bảo tính chính xác và khách quan trong quá trình đánh giá và nhận xét Ngoài các đặc điểm cơ bản như: vai giao tiếp, đoạn thoại, cặp thoại, hành vi ngôn ngữ, kết cục hội thoại , chúng tôi còn đưa ra số liệu thống kê về các yếu tố khác đi kèm như: tranh ảnh, bảng từ, ngữ cảnh, câu hỏi, bài tập kèm theo trong quá trình khảo sát

Chương 3: Thiết kế bài giảng hội thoại Tiếng Việt cho người nước ngoài và

đề xuất một số bài hội thoại luyện nói theo chủ đề ở TĐCS

Đây là chương mà chúng tôi đã thiết kế, xây dựng có vận dụng việc nghiên cứu và tìm hiểu hệ thống lý thuyết hội thoại ở chương 1 và lĩnh hội những kết quả khảo nghiệm thực tế cụ thể qua phần khảo sát ở chương 2 Do vậy, chúng tôi mạnh dạn đề xuất chương này với mong muốn làm thế nào để có thể dạy hội thoại Tiếng Việt cho học viên người nước ngoài một cách hiệu quả nhất Đây cũng là mục đích

mà chúng tôi hướng tới khi chọn đề tài nghiên cứu “Đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy Tiếng Việt hiện nay”

Trang 11

10

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Khái quát cơ sở lý thuyết hội thoại

Bản chất của quá trình giao tiếp bao giờ cũng mang tính xã hội Điều này được thể hiện trước hết ở chỗ con người là một thực thể xã hội Chỉ khi con người giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ con người mới thực sự thoát khỏi cuộc sống mang tính bản năng động vật để trở thành con người có ý thức, con người với bản tính xã hội Để quá trình giao tiếp đạt được kết quả mong đợi nhất đòi hỏi nội dung hội thoại phải đảm bảo được tính nhất quán, khoa học cũng như đảm bảo được tất cả các mục tiêu mà một quá trình giao tiếp hiệu quả hướng tới Bởi vậy, hội thoại không chỉ là sản phẩm của quá trình giao tiếp mà nó còn là cơ sở để hình thành và phát triển quá trình giao tiếp

Một số khái niệm cơ bản dưới đây sẽ phần nào cung cấp một số nội dung về

lý thuyết hội thoại để có thể tiếp cận một cách khoa học vấn đề đặt ra :

1.1 Hội thoại là gì?

Theo Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ

biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác

”[2, tr 201]

Còn theo Nguyễn Thiện Giáp: “Hội thoại là phương tiện phổ biến và cơ bản nhất để dẫn dắt công việc của con người Giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ Trong giao tiếp hội thoại luôn có sự hồi đáp giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói

của từng người cũng tác động lẫn nhau ”[6, tr 219]

Mặt khác, theo Nguyễn Đức Dân: “Các hành vi ngôn ngữ không đứng độc lập, riêng lẻ Chúng kế tiếp nhau thành chuỗi Sự kết thúc của hành vi này là tiền

đề cho những hành vi tiếp theo, dù đó là lời của một người hay là lần lượt của hai người Chuỗi các hành vi đó tạo thành một hội thoại ”[3, tr 233]

Qua ba định nghĩa trên, có thể dễ dàng nhận thấy, “Hội thoại là hình thức giao tiếp phố biến của ngôn ngữ Hội thoại không phải là các hành vi ngôn ngữ đứng độc lập mà chúng kế tiếp nhau thành chuỗi Sự kết thúc của hành vi này là tiền đề cho những hành vi tiếp theo.”

Trang 12

11

Tuy nhiên, không phải mọi cuộc hội thoại đều giống nhau “Các cuộc hội thoại có thể khác nhau ở một số đặc điểm như sau:

1 Chúng khác nhau về đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở

đó diễn ra cuộc hội thoại

2 Sự khác biệt về số lượng người tham gia “Số lượng nhân vật hội thoại hay còn gọi là đối tác hội thoại hay đối tác - thay đổi từ hai đến một số lượng lớn

Có những cuộc hội thoại tay đôi (song thoại), tay ba (tam thoại), tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại)

3 Các cuộc thoại còn khác nhau về cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại rất khác nhau tùy theo các cuộc hội thoại, chẳng hạn như: tính chủ động hay thụ động của đối tác, vị thế giao tiếp mạnh hay vị thế giao tiếp yếu

4 Sự khác nhau ở tính có đích hay không có đích Những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học có đích được xác định trước rõ ràng Những cuộc tán gẫu được xem là không có đích Nói đến đích của hội thoại cũng là nói đến đặc tính nội dung của cuộc hội thoại Có những cuộc hội thoại ngẫu hứng, tự do và những cuộc hội thoại được định trước về nội dung Có những cuộc hội thoại có nội dung nghiêm túc và có những cuộc hội thoại nói những chuyện “tào lao”

Và cuối cùng, là sự khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức Những cuộc thương nghị, hội thảo là những cuộc hội thảo mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ, còn những chuyện trò đời thường không cần một hình thức tổ chức nào cả.”[2, tr 203, 204]

1.2 Vận động hội thoại

Trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp và tương tác

1.2.1 Sự trao lời (allocution, allocution)

Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời Chúng ta đã dùng kí hiệu SP chỉ người tham gia vào hội thoại SP1 là vai nói, SP2 là vai nghe SP1, SP2 và SPn là các đối tượng hội thoại Trao lời là vận động mà SP1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía SP2 nhằm làm cho SP2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho SP2

Trang 13

12

Trong lời trao, sự có mặt của SP1 là điều tất yếu Sự có mặt đó thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm của SP1 trong nội dung của lượt lời trao

Nói một cách tổng quát, ngay trước khi SP2 đáp lời, tức thực hiện sự trao lời của mình, người nghe đã được đưa vào lượt lời, cùng tồn tại với ngôi thứ nhất “ tôi” trong lượt lời, thường xuyên kiểm tra và điều hành sự trao lời của SP1 Trong hội thoại dù trong những cuộc đối thoại tùy ý, ngẫu hứng nhất, SP1 không hoàn toàn tự do, muốn nói gì, nói theo cách nào thì nói SP2 luôn luôn theo dõi anh ta

và SP2 sẽ có phản ứng nếu như lượt lời của SP1 có gì không phù hợp với SP2 Chính vì vậy, phía mình, SP1 người trao lời phải lấn trước (anticipation, anticipation) vào SP2 phải dự kiến trước, phải hình dung được SP2 về tâm lí, tình cảm, sở thích, hiểu biết tình trạng công việc v.v trước khi nói Không những thế, SP1 còn phải dự đoán trước hiệu quả của lượt lời của mình, dự đoán cả cách đáp lời của SP2 nữa Hình ảnh tâm lí, vật lí, xã hội về SP2 càng đúng với SP2 bao nhiêu thì khả năng thành công của sự trao lời và khả năng áp đặt điều SP1 muốn nói trong hội thoại càng lớn bấy nhiêu

1.2.2 Sự trao đáp (exchange, exchange)

Cuộc hội thoại chính thức hình thành khi SP2 nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của SP1 Trong vận động trao đáp, cái lõi của hội thoại sẽ diễn ra liên tục, lúc nhịp nhàng, lúc khúc mắc, lúc nhanh, lúc chậm cùng với sự đổi thay liên tục vai nói, vai nghe

Cũng như sự trao lời, sự hồi đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời, thường thì hai loại yếu tố này đồng hành với nhau

Chúng ta đã biết diễn ngôn là sản phẩm của các hành vi ngôn ngữ Tất cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi sự hồi đáp Sự hồi đáp có thể bằng các hành vi ngôn ngữ tương thích với hành vi dẫn nhập lập thành cặp như hỏi/ trả lời, chào/ chào, cầu khiến/ nhận lời hoặc từ chối, cảm ơn/ đáp lời, xin lỗi/ đáp lời mà sau này

sẽ gọi là cặp kế cận

1.2.3 Sự tương tác

Trong hội thoại, các nhân vật hội thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau biến đổi lẫn nhau Trước cuộc hội thoại, giữa các nhân vật có sự khác biệt, đối lập, thậm chí trái ngược về các mặt (hiểu biết, tâm lí, tình cảm, ý muốn v.v ) Không có sự khác biệt này thì giao tiếp thành thừa Trong hội thoại và qua

Trang 14

13

hội thoại những khác biệt này giảm đi hoặc mở rộng ra, căng lên có khi thành xung đột

Hội thoại có thể ở hai cực: điều hòa, nhịp nhàng hoặc hỗn độn, vướng mắc

mà tiêu biểu là những cuộc cãi lộn Ở những cuộc cãi lộn ngoài cử chỉ, điệu bộ và ngữ điệu, sự trùng lời, dẫm đạp lên lượt lời của nhau, cướp lời của nhau là dấu hiệu của cuộc chiến bằng lời này Như vậy có nghĩa là trong các cuộc đối thoại đều phải có sự hòa phối (synchronisation) các hoạt động của các đối tác về mọi mặt, trước hết là hòa phối của lượt lời Sự hòa phối nếu hoàn hảo thì cuộc hội thoại sẽ diễn ra nghiêng về cực thứ nhất, nếu không tốt thì cuộc đối thoại nghiêng

về thế cực thứ hai

Ba vận động trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng cho hội thoại, trong đó hai vận động đầu do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp với nhau thành vận động thứ ba Bằng vận động trao lời và trao đáp, các nhân vật hội thoại sẽ hòa phối để thực hiện sự liên hòa phối Đó là cốt lõi của vận động tương tác

1.3 Các yếu tố kèm lời và phi lời

Trong những cuộc đối thoại, ngoài việc sử dụng những yếu tố ngôn ngữ - được hiểu theo nghĩa hẹp - bao gồm các đơn vị từ vựng và các đơn vị cú pháp, chúng ta còn sử dụng những yếu tố kèm lời và những yếu tố phi lời

Yếu tố kèm lời (paraverbal) là các yếu tố mặc dầu không có đoạn tính như

âm vị và âm tiết nhưng đi kèm với các yếu tố đoạn tính Không một yếu tố đoạn tính nào được phát âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo Những yếu tố kèm lời gồm có: ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài và đỉnh giọng (pitch) Các yếu tố này có vai trò biểu nghĩa, đặc biệt biểu nghĩa ngữ dụng của các yếu tố kèm lời là hiển nhiên

Yếu tố phi lời (non verbal) là những yếu tố không phải là những yếu tố kèm lời được dùng trong đối thoại mặt đối mặt Thuộc yếu tố phi lời là: cử chỉ, khoảng không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể và định hướng cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt (gesture, proxemics, body contact, posture and body orientation, facial expression, gaze) Cũng được tính là tín hiệu phi lời những tín hiệu âm thanh như tiếng gõ, tiếng kéo bàn, xô ghê, tiếng huýt sáo, tiếng còi v.v

Nói một cách tổng quát, chúng ta không thể loại bỏ các tín hiệu kèm lời và phi lời khi giao tiếp bằng lời Ngay cả khi chúng ta nói chuyện bằng điện thoại, nghĩa là không đương diện với người đối thoại, không ít người vẫn “hoa chân múa tay” với cái máy điện thoại kẹp ở cổ Arbercrombie viết “chúng ta nói bằng các cơ

Trang 15

14

quan cấu âm nhưng chúng ta hội thoại với cả cơ thể chúng ta” Những sự kiện kèm ngôn ngữ (paralinguistic) xuất hiện song song với ngôn ngữ nói, hòa lẫn vào ngôn ngữ nói và cùng ngôn ngữ nói hình thành nên một hệ thống giao tiếp trọn vẹn Do vậy, nghiên cứu về các hành vi kèm ngôn ngữ là một bộ phận của quá trình nghiên cứu hội thoại

1.4 Các quy tắc hội thoại

Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định Nguyên lí chi phối các quy tắc hội thoại là nguyên lí cộng tác bởi vì như đã nói hội thoại là một hoạt động

xã hội Từ nguyên lí chung này mà các quy tắc hội thoại ràng buộc các đối tác hội thoại trong một hệ thống những quyền lợi và trách nhiệm

Thực ra, các quy tắc hội thoại không hoàn toàn xác định cũng không thật chặt chẽ C.K Orecchioni cho rằng quy tắc hội thoại có những tính chất sau:

+ Trong hội thoại các quy tắc tổ chức điều hành tổ chức các đơn vị hội thoại + Quy tắc chuẩn tắc chi phối việc nói năng thế nào cho đạt được đích của mình + Có những quy tắc hội thoại chung cùng cho mọi cuộc hội thoại nhưng cũng có những quy tắc riêng cho mỗi loại hình, mỗi kiểu hội thoại

+ Các quy tắc hội thoại gắn rất chặt với ngữ cảnh

+ Các quy tắc hội thoại thể hiện rất khác nhau tuy theo từng xã hội và từng nền văn hóa

+ Nhìn chung, quy tắc hội thoại khá mềm dẻo, linh hoạt (mềm dẻo, linh hoạt hơn các quy tắc cú pháp)

+ Quy tắc hội thoại được thụ đắc một cách tuần tự từ thuở nhỏ nhưng không được truyền thụ một cách hệ thống, cho nên phần lớn chúng được vận dụng một cách tự phát

Mặt khác, C.K Orecchioni đã chia các quy tắc hội thoại thành ba nhóm: Thứ nhất là các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời

Thứ hai là những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại

Thứ ba là những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại

Đỗ Hữu Châu cho rằng nên thêm một nhóm quy tắc nữa là nhóm quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

Trang 16

15

Nghiên cứu hội thoại có nhiệm vụ tường minh hóa các loại quy tắc hội thoại khác nhau đó, những quy tắc làm cơ sở, đứng đằng sau sự vận hành của hội thoại

1.4.1 Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời

Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời gồm một hệ những điều khoản

mà Sacks và các đồng tác giả phát biểu như sau:

+ “Thứ nhất, vai nói thường xuyên thay đổi nhau (luân phiên) trong một cuộc hội thoại Theo điều khoản này thì một cuộc hội thoại lí tưởng là cuộc hội thoại có sự cân bằng về lượt lời

Điều khoản cân bằng lượt lời này cũng có tác dụng về mặt nội dung: người nào nói quá nhiều về mình trong cuộc hội thoại - dù nói theo kiểu tự khen hay kể khổ - cũng đều đáng bị lên án

+ Thứ hai, mỗi lần chỉ có một người nói

+ Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào thì một lượt lời chấm dứt

+ Thứ tư, vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài

+ Thứ năm, thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị dẫm đạp lên nhau

+ Thứ sáu, trật tự (nói trước, nói sau) của những người nói không cố định, trái lại luôn luôn thay đổi Do đó một số phương tiện được dùng để chỉ định và phân phối lượt lời là cần thiết.”[2, tr 226- 227]

Đằng sau sự liên hòa phối là các quy tắc luân phiên lượt lời Phải liên hòa phối là để cho các quy tắc luân phiên lượt lời vận hành được tốt, mà các quy tắc luân phiên lượt lời có vận hành tốt thì cuộc hội thoại mới có kết quả

1.4.2 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

Nội dung của một cuộc hội thoại được phân phối thành nội dung của các lượt lời Quy tắc luân phiên lượt lời có mục đích là phục vụ cho sự phát triển vấn

đề mà cuộc hội thoại chấp nhận làm nội dung Bởi vậy, một cuộc hội thoại còn cần đến những quy tắc điều hành nội dung của nó, đúng hơn là quy tắc điều hành quan hệ giữa nội dung các lượt lời tạo nên cuộc hội thoại đó

Trang 17

16

Các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại theo đó là hai nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu

1.4.2.1 Nguyên tắc cộng tác (cooperative principle)

Theo H.P Grice, nguyên tắc cộng tác hội thoại có dạng tổng quát như sau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của một cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào

Nguyên tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi là phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức theo tinh thần các phạm trù của nhà triết học Kant

1 Phương châm về lượng

Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi (của đích đang diễn ra của từng phần của cuộc hội thoại) Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi

2 Phương châm về chất

Đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng

3 Phương châm quan hệ

Hãy quan yếu (be relevant)

4 Phương châm cách thức

Tránh lối nói tối nghĩa

Tránh lối nói mập mờ (có thể hiểu nhiều nghĩa)

Hãy ngắn gọn (tránh dài dòng)

Hãy nói có trật tự

Có thể hiểu các phương châm đó một cách cụ thể như sau:

+ Phương châm về lượng: Nếu ai đó giúp tôi sửa xe, tôi mong đợi sự đóng góp của người đó phù hợp không hơn không kém với điều tôi đang chờ đợi Nếu tôi cần bốn cái vít thì người đó đưa cho tôi không phải sáu, cũng không phải hai cái vít

+ Phương châm về chất: Tôi trông đợi một sự giúp đỡ thực sự chứ không phải một sự giúp đỡ vớ vẩn Nếu tôi cần đường để làm một chiếc bánh ga tô thì tôi

Trang 18

17

mong đợi người đó đưa cho tôi đường chứ không phải đưa cho tôi muối Nếu tôi cần một chiếc thìa thì tôi mong anh ta đưa tôi một chiếc thìa chứ không phải một cái cặp chả

+ Phương châm quan hệ: Tôi trông đợi sự giúp đỡ của người giúp tôi đúng vào điều tôi đang cần ở thời điểm cụ thể của việc tôi đương làm Nếu tôi đang nhào bột làm bánh thì tôi không mong người giúp tôi đưa cho tôi cuốn sách hướng dẫn làm bánh hoặc đưa tôi một cái dĩa để xiên thịt (Mặc dầu cuốn sách làm bánh, chiếc dĩa xiên thịt có thể cũng cần cho việc làm bánh nhưng không phải ở giai đoạn nhào bột.)

1.4.2.2 Lý thuyết quan yếu

Quan yếu theo Grice là tính chất của phát ngôn xét trong quan hệ với các phát ngôn khác, chủ yếu là với tiền ngôn trong ngôn cảnh với hướng và đích của cuộc hội thoại Không đối chiếu phát ngôn đang xem xét với tiền ngôn thì không thể kết luận rằng nó có quan yếu hay không

Khái niệm về hiệu lực đối với ngữ cảnh là cơ bản để xác định tính quan yếu Có thể nói, hiệu lực đối với ngữ cảnh là điều rất cần thiết của tính quan yếu

và trong những điều kiện giống nhau thì hiệu lực đối với ngữ cảnh càng cao thì tính quan yếu của phát ngôn càng lớn Một phát ngôn càng quan yếu với lượng tin càng ít thì nó sẽ làm cho người nghe làm giàu thêm hoặc thay đổi càng nhiều hiểu biết và quan niệm của anh ta

“Theo C.K Orecchioni, một phát ngôn có thể quan yếu về các phương diện sau đây:

- Quan yếu về ngữ dụng: Một phát ngôn quan yếu về ngữ dụng khi nó có những hệ quả đối với hành động, cách xử sự của những người tham gia hội thoại

- Quan yếu về lập luận: Một phát ngôn quan yếu về lập luận khi nó có thể làm cơ sở để người nghe rút ra được những suy ý làm thay đổi hiểu biết hay tín điều của mình, hoặc để dẫn tới một lập luận nào đó cho dù phát ngôn có lượng tin hay không

- Quan yếu về hứng thú: Một phát ngôn được xem là quan yếu về hứng thú khi những thông tin mà nó cung cấp có một hứng thú, gây ra được một sự quan tâm nào đấy đối với người nghe Có rất nhiều phát ngôn rất phong phú về lượng tin nhưng không quan yếu chỉ vì nói không đúng lúc, đúng chỗ

- Quan yếu về đề tài: Khi tham gia vào hội thoại, mọi người đều nhất trí với nhau một chấp ước, đó là phát ngôn được nói ra trong cuộc hội thoại phải có quan

Trang 19

18

hệ với đề tài của cuộc hội thoại và qua quan hệ với đề tài mà có quan hệ với nhau

Do chấp ước này mà chúng ta cố gắng tìm ra tính quan yếu với đề tài của những phát ngôn có vẻ như không dính líu gì với câu chuyện đang nói.”[29, tr 199]

Bởi vậy, làm cho phát ngôn đạt tính quan yếu tối ưu lại tùy thuộc vào hai quy tắc, thứ nhất là quy tắc về quan hệ giữa tính quan yếu và lượng tin, thứ hai là quy tắc về mối liên hệ giữa tính quan yếu và nỗ lực của người nghe để tìm ra dự ước quan yếu Theo quy tắc thứ nhất thì, một quy tắc chứa lượng tin càng thấp thì càng quan yếu Theo quy tắc thứ hai thì giữa nỗ lực tìm ra dự ước quan yếu và tính quan yếu có tỷ lệ nghịch Có nghĩa là quan yếu có thể có những mức độ khác nhau Theo Wilson và Sperber thì nỗ lực bỏ ra để tìm dự ước quan yếu càng lớn thì tính quan yếu càng thấp

Trên đây chỉ là sự trình bày đại lược những tư tưởng và khái niệm chính của lý thuyết quan yếu Với lý thuyết quan yếu, Wilson và Sperber chứng minh rằng, tất cả phương châm hội thoại của Grice đều có thể quy về nguyên tắc quan yếu Như vậy, nguyên tắc quan yếu đóng vai trò là một siêu nguyên tắc đủ sức giải thích không chỉ hoạt động giao tiếp mà còn là một siêu lý thuyết cho lý thuyết tri nhận

1.4.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự

1.4.3.1 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân

Quan hệ liên cá nhân giữa những người tham thoại cũng có tầm quan trọng đặc biệt trong tương tác hội thoại Đó là những nhân tố sẵn có trong cuộc tương tác nhưng chúng nằm ngoài tương tác Chúng liên quan tới quan hệ thân - sơ, quan

hệ vị thế xã hội, tuổi tác, quyền lực và được thể hiện khác nhau ở cộng đồng người Theo Nguyễn Đức Dân, quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ: quan hệ ngang (quan hệ thân - sơ) và quan hệ dọc (quan hệ vị thế) Trong đó:

- Quan hệ ngang chỉ rõ mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa những người tham gia giao tiếp Mối quan hệ này có thể thay đổi và điều chỉnh trong quá trình hội thoại từ thân đến sơ hoặc ngược lại

- Quan hệ dọc là quan hệ tôn ti trong xã hội tạo thành các vị thế trên dưới trong giao tiếp Quan hệ này được đánh dấu bằng yếu tố quyền lực Quan hệ này

có tính chất tương đối và phụ thuộc vào những yếu tố khách quan như cương vị xã hội, giới tính, tuổi tác

Có nhiều dấu hiệu thể hiện qua hệ vị thế như bằng lời, bằng cử chỉ hoặc điệu bộ Hầu như mọi yếu tố trong hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế và điều

Trang 20

19

này được thể hiện khác nhau ở từng cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa Do vậy, người tham gia giao tiếp cần hiểu và nắm bắt được những quan niệm về vị thế giữa các dân tộc, giữa các nền văn hóa để có những hành vi ứng xử đúng đắn

1.4.3.2 Phép lịch sự

a Định nghĩa lịch sự

- Theo Lakoff, lịch sự là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột diễn

ra trong diễn ngôn Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi

- Còn Brown và Levinson đưa ra định nghĩa về lịch sự dựa trên khái niệm thể diện (face), đó là hình ảnh về ta - cộng đồng mà mỗi thành viên muốn mình có được Thể diện gồm thể diện âm tính và thể diện dương tính Thể diện âm tính có nghĩa là mong muốn không bị can thiệp, mong muốn được hành động tự do theo như mình đã chọn lựa Còn thể diện dương tính là cái được phản ánh trong ý muốn của mình được ưa thích, tán thưởng, tôn trọng và đánh giá cao

b Các thuyết về lịch sự

Lakoff nêu lên ba loại quy tắc lịch sự Đó là quy tắc không được áp đặt, quy tắc dành cho người đối thoại sự lựa chọn và quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè

- Quy tắc không được áp đặt thích hợp với những ngữ cảnh trong đó, giữa những người tham gia tương tác có những khác biệt được nhận biết về quyền lực

và cương vị như giữa sinh viên và chủ nhiệm khoa, giữa công nhân và ông giám đốc nhà máy

- Quy tắc dành cho người đối thoại sự lựa chọn thích hợp với những ngữ cảnh, trong đó người tham gia có quyền lực và cương vị gần tương đương với nhau nhưng không gần gũi về quan hệ xã hội Ví dụ như giữa thương nhân và khách hàng mới, giữa hai người không quen biết nhau trong phòng bệnh Dành cho sự lựa chọn có nghĩa là bày tỏ ý kiến sao cho ý kiến hay lời thỉnh cầu của mình có thể không được biết đến mà không bị bác bỏ hay từ chối

- Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè thích hợp với bạn bè gần gũi hoặc thực sự thân mật với nhau Nguyên tắc chi phối ở đây không phải là chỉ dừng ở chỗ tỏ ra quan tâm thực sự lẫn nhau mà còn tỏ ra săn sóc nhau, tin cậy nhau bằng cách “thổ lộ hết tâm can với nhau”

Trang 21

20

Khác với quy tắc lịch sự của Lakoff, quy tắc lịch sự của Leech dựa trên hai khái niệm tổn thất và lợi ích Ông đưa ra sáu phương châm lịch sự lớn và một số phương châm phụ khác Các phương châm cụ thể đó là:

1 Phương châm khéo léo

a Giảm thiểu tổn thất cho người (other)

b Tăng tối đa lợi ích cho người (other)

2 Phương châm rộng rãi

a Giảm thiểu lợi ích cho ta

b Tăng tối đa tổn thất cho ta

3 Phương châm tán thưởng

a Giảm thiểu sự chê bai đối với người

b Tăng tối đa khen ngợi người

4 Phương châm khiêm tốn

a Giảm thiểu khen ngợi ta

b Tăng tối đa sự chê bai ta

5 Phương châm tán đồng

a Giảm thiểu sự bất đồng giữa người và ta

b Tăng tối đa sự đồng ý giữa người và ta

6 Phương châm thiện cảm

a Giảm thiểu ác cảm giữa người và ta

b Tăng tối đa thiện cảm giữa người và ta

Theo Leech, những phương châm trên có tính chuyên dụng đối với những hành vi ở lời nhất định Mức độ lịch sự của một hành vi ở lời theo ông phụ thuộc vào ba nhân tố Đó là: bản chất của hành vi, hình thức ngôn từ thể hiện hành vi và mức độ quan hệ giữa người cầu khiến và người được cầu khiến

c Kết luận

Có thể nói, quy tắc lịch sự chi phối quan hệ giữa thể diện của người nói và thể diện của người nghe trong hội thoại Phép lịch sự có hiệu lực giải thích các phát ngôn, các cách thức nói năng và giải thích cái mà ngữ dụng học thường đề cập tới là hàm ngôn và hành vi gián tiếp

Trang 22

21

Trong hội thoại, một mặt người nói phải tự làm nổi mình lên (thể diện dương tính), mặt khác lại phải tôn trọng thể diện của bên đối tác Trong hội thoại, phải tôn trọng lãnh địa của người nhưng cũng phải làm sao cho lãnh địa của mình không bị xúc phạm

Lịch sự là hiện tượng có tính phổ quát đối với mọi xã hội trong mọi lĩnh vực tương tác Không lịch sự thì cuộc sống dường như không thể chịu đựng nổi Bởi lịch sự trước hết là vấn đề văn hóa nên nó mang tính đặc thù của mỗi nền văn hóa Vì thế xã hội nào cũng cần phải có lịch sự, nhưng cái gì là lịch sự, đến mức

độ nào là lịch sự và biểu hiện thế nào là lịch sự lại bị quy định bởi riêng từng nền văn hóa

1.5 Thương lượng hội thoại

Hội thoại là một vận động, từ khi các nhân vật hội thoại gặp nhau bắt đầu cuộc tiếp xúc cho đến khi kết thúc, nội dung không phải được đặt ra từ đầu và giữ nguyên vẹn không thay đổi Phải trải qua một cuộc thương lượng, các đối tác mới đạt được một sự thỏa thuận về nội dung và hình thức cho cuộc hội thoại Nói tóm lại, thương lượng không chỉ xảy ra lúc khởi đầu mà nó còn xuất hiện liên tục trong diễn tiến của hội thoại

1.5.1 Đối tượng thương lượng

Các đối tác có thể thương lượng về:

1.5.1.1 Hình thức của hội thoại

Các nhân vật phải thỏa thuận về ngôn ngữ được dùng Ngay cả nói chuyện với nhau bằng tiếng mẹ đẻ, vẫn phải có sự thương lượng về phong cách, về giọng điệu vv

1.5.1.2 Cấu trúc của hội thoại

Thương lượng về các đoạn mở đầu, kết thúc, về sự phân bố lượt lời Tất nhiên, trong hội thoại có thể xuất hiện những “va chạm” về lượt, về vị thế vv Nhưng tất cả những va chạm này sẽ phải được giải quyết thông qua thương lượng

1.5.1.3 Lí lịch và vị thế giao tiếp của các đối tác

Như đã đề cập ở trên, quan hệ liên cá nhân tác động mạnh đến hội thoại Đặc biệt là trong những cuộc hội thoại giữa những người gặp nhau lần đầu, họ phải thương lượng để dò tìm lí lịch của nhau

Trang 23

22

Ngoài ra, trong hội thoại còn có vị thế giao tiếp Ai là người chủ động điều khiển cuộc thoại, nêu vấn đề, ai là người bị chế ngự trong cuộc hội thoại, tất cả những điều này đều qua thương lượng về vị thế giao tiếp mà xác lập và qua lực lượng trong diễn tiến hội thoại mà biến đổi

1.5.1.4 Các yếu tố ngôn ngữ

lượng về ý nghĩa của chúng, về câu cú Không phải chỉ vì trình độ ngôn ngữ của các đối tác không đồng đều mà ý nghĩa của từ ngữ, của câu cú trong giao tiếp cũng thay đổi, trong chừng mực nhất định, chúng còn mang ý nghĩa do cuộc hội thoại mang lại

1.5.1.5 Nội dung hội thoại

Các nhân vật hội thoại phải thương lượng với nhau về các vấn đề được đưa

ra trò chuyện với nhau Trong các cuộc hội thoại thường ngày, có thể A thích đề tài này, B thích đề tài khác, C lại thích đề tài khác nữa Lúc đó, vận động thương lượng đề tài sẽ được đặt ra Ngay cả khi A muốn kết thúc nhưng B, C chưa muốn, cũng phải qua thương lượng mới có thể quyết định được việc chấm dứt hội thoại

Như vậy, biểu hiện đầu tiên của thương lượng về nội dung cuộc hội thoại là thương lượng về đề tài Cần có sự phân biệt về đề tài và chủ đề Đề tài là mảng hiện thực được lựa chọn để đề cập đến trong hội thoại Chủ đề là chiều hướng phát triển của đề tài đó Chủ đề sẽ quyết định đích của hội thoại Dẫn nhập đề tài và xác lập chủ đề là bộ phận cần nghiên cứu trong hội thoại Trong quá trình hội thoại kéo dài, không phải cứ hết một đề tài diễn ngôn là cuộc hội thoại kết thúc Trong quá trình hội thoại có thể có sự thay đổi đề tài hay lảng tránh đề tài Có khá nhiều cuộc hội thoại trong đó, đề tài chính lúc ẩn, lúc hiện, lúc bị lãng quên, lúc được phục hồi trở lại Những biến hóa đó của đề tài diễn ngôn cũng phải qua thương lượng mới có được

Nói tóm lại, về mặt nội dung, trong một cuộc hội thoại, các đối tác vừa trình bày tư tưởng, quan điểm của mình, vừa tiến hành thương lượng với đối tác để mong có được sự nhất trí của đối phương

1.5.2 Phương thức thương lượng

Việc thương lượng sẽ diễn ra tùy theo các yếu tố sau:

1.5.2.1 Thời gian thương lượng

Trang 24

23

Thương lượng có thể xuất hiện ở ngay đầu cuộc hội thoại sau một thời gian

dò dẫm mở thoại, dò dẫm để xác lập quan hệ hội thoại (xem đối tác có bắt lời mình, có chịu hợp tác làm hội thoại với mình hay không) một cách trực tiếp hay gián tiếp, đồng thời, vừa trò chuyện vừa thương lượng

1.5.2.2 Thể thức thương lượng

Thương lượng có thể dùng các dấu hiệu ngôn ngữ, có thể dùng dấu hiệu kèm lời hay phi lời Đôi khi cuộc thương lượng phải cần đến một trọng tài, trọng tài là một người thứ ba nào đó mà cũng có thể là một cuốn sách hay một quyển từ điển vv

Trong các phương thức thương lượng thì phương thức thương lượng để dẫn nhập đề tài diễn ngôn là đáng chú ý nhất

Ở các cuộc hội thoại đời thường giữa bạn bè, thương lượng đề tài thường diễn ra theo lối “tung quả bóng thăm dò” và theo lối thử và sai lầm Người muốn đưa đề tài tung ra một đề ở lời và chờ xem phản ứng của đối tác thế nào Nếu đối tác không hưởng ứng thì thôi, chuyển sang quả bóng thăm dò khác Cũng có khi hai, ba đối tác lần lượt ném ra đề ở lời của mình để cho những người tham gia hội thoại quyết định đề tài nào sẽ là đề tài diễn ngôn Các đối tác sẽ dùng các hành vi ngôn ngữ khác nhau tung quả bóng đề tài để thăm dò Hành vi hỏi là hành vi thường được dùng nhất để đưa ra đề tài ở lời Vì thế, việc nghiên cứu các hành vi dẫn nhập đề tài diễn ngôn là một việc nghiên cứu hết sức thú vị

Trong đó, “Thỏa thuận” là kết cục lý tưởng nhất trong đó hai phía tham gia hội thoại tác động lẫn nhau và đạt được sự hài hòa Đây là kiểu hội thoại mà lợi ích của cả SP1 và SP2 đã đồng nhất từ đầu

Còn “Liên kết tự nguyện” thì kém hơn, trong đó một phía phải chấp nhận lập trường của phía bên kia nhưng là sự chấp nhận một cách hoàn toàn tự nguyện Hay nói cách khác, lợi ích của cả SP1 và SP2 dễ dàng tương hợp

Trang 25

24

“Mỗi người giữ vững lập trường riêng” là loại hội thoại mà cả SP1 và SP2 đều “bướng bỉnh” không chịu nhượng bộ Nói cách khác, chúng đều “cứng đầu cứng cổ” với nhau Mỗi bên đều tìm cách giữ lập trường riêng của mình và nhất định không chịu tìm tiếng nói chung

Cuối cùng, “Liên kết miễn cưỡng” là loại hội thoại mà cả hai đối tác sẽ nhượng bộ nhau Nhưng sự nhượng bộ giữa chúng là miễn cưỡng và sự thành công của hội thoại chỉ là hình thức bên ngoài chứ lợi ích của hai bên không được hài hòa một cách trọn vẹn như “Tự nguyện miễn cưỡng”

1.6 Cấu trúc hội thoại

Có 3 trường phái có quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại Đó là: + Trường phái phân tích hội thoại ở Mỹ ( conversation analysis)

+ Trường phái phân tích diễn ngôn ở Anh (discourse analysis)

+ Trường phái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sỹ (Geneve) và Pháp

Do điều kiện hạn chế nên luận văn của chúng tôi xin chỉ trình bày một cách tóm lược quan điểm về cấu trúc hội thoại của trường phái phân tích hội thoại ở Mỹ

và trường phái phân tích diễn ngôn ở Anh Luận văn sẽ tập trung nhiều hơn vào quan điểm về cấu trúc hội thoại của trường phái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ - Pháp

1.6.1 Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích hội thoại ở Mỹ

Trang 26

1.6.3 Cấu trúc hội thoại theo trường phái lý thuyết hội thoại Thụy

Sĩ - Pháp

Luận văn của chúng tôi chọn hướng nghiên cứu cấu trúc hội thoại của trường phái này để khảo sát hệ thống các hội thoại của mình.Theo quan điểm của trường phái này, cấu trúc hội thoại bao gồm các nội dung sau:

+ Tham thoại và hành vi ngôn ngữ

Cụ thể như sau:

1.6.3.1 Cuộc thoại

Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất Toàn bộ hoạt động ngôn ngữ của con người là một chuỗi những lời đối đáp Và cuộc thoại là đơn vị được tách ra trong chuỗi ngôn ngữ ấy Trong lịch sử, có rất nhiều cuộc thoại kéo dài theo thời gian và có sự thay đổi ở nhiều không gian khác nhau, nhưng trong phạm

vi của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những cuộc thoại thông thường chứ không đi sâu vào các cuộc thoại đặc biệt

Một số tiêu chí xác định cuộc thoại là:

Trang 27

26

+ Nhân vật hội thoại: một cuộc thoại được xác định bởi sự hiện diện liên tục của những người hội thoại Khi thay đổi người hội thoại thì chúng ta có cuộc hội thoại mới

+ Tính thống nhất về thời gian và địa điểm: Thông thường thì một cuộc thoại sẽ diễn ra trong khoảng thời gian và địa điểm xác định Tuy nhiên, cũng có không ít cuộc thoại có thể thay đổi thời gian và địa điểm vì lý do chủ quan hoặc khách quan

+ Ranh giới của cuộc thoại: thông thường sẽ có dấu hiệu mở đầu và dấu hiệu kết thúc cuộc thoại Tuy nhiên, ở một số cuộc thoại cũng khó áp dụng ranh giới này Bởi vậy, đôi khi sự phân chia cũng ít nhiều mang tính võ đoán

1.6.3.2 Đoạn thoại

Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng Về ngữ nghĩa chính là sự liên kết về chủ

đề, còn về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích

Do đó, cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại có thể là:

Đoạn thoại mở thoại (mở thoại);

Thân cuộc thoại (thân thoại);

Đoạn thoại kết thúc (kết thoại)

Trong đó, đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc đa số được công thức hóa tùy thuộc vào mục đích, thời gian, hoàn cảnh giao tiếp, sự quen thuộc, sự hiểu biết và quan hệ giữa các nhân vật hội thoại Dù rất khác nhau nhưng đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc bị chi phối bởi nguyên tắc là “không dễ dàng khi chuyển từ im lặng sang nói năng và ngược lại từ nói năng sang im lặng.”

Đoạn thoại mở thoại ngoài chức năng mở ra cuộc hội thoại còn có chức năng thương lượng hội thoại về đề tài diễn ngôn và thăm dò đối phương về mọi mặt Nhìn chung, trong đoạn thoại mở thoại, người mở thoại thường tránh sự xúc phạm đến thể diện của người nghe, chuẩn bị “hòa khí” cho cuộc thoại Đoạn thoại kết thúc không chỉ có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ mà còn phải xác định cách chia tay Vì phép lịch sự chúng ta thường tránh sự kết thúc đột ngột đơn phương, tuy nhiên cũng vẫn có một số trường hợp ngoại lệ

Tóm lại, qua đoạn thoại mở thoại và đoạn thoại kết thúc, người ta phải ứng

xử dường như là để biểu lộ niềm vui của sự gặp gỡ và nỗi buồn của việc chia tay

1.6.3.3 Cặp trao đáp (cặp thoại)

Trang 28

27

Chúng ta đều biết rằng, bước thoại do một người nói ra, có thể là một lượt lời và cũng có thể là những bộ phận của một lượt lời Một bước thoại có thể do một số hành vi thực hiện nhưng tất cả các hành vi đó đều nằm trong một lượt lời của người nói ra Hình dung như vậy để có thể phân biệt rõ bước thoại và cặp thoại Cặp thoại gồm ít nhất hai bước thoại Cũng có những trường hợp cặp thoại chỉ có một bước thoại của người nói (không có bước thoại đáp của người nhận) do hai phía đối tác kế tiếp nhau nói ra

Về nguyên tắc, cặp trao đáp là những đơn vị lưỡng thoại tối thiểu Đây là đơn vị cơ sở của hội thoại Cặp thoại được phân loại căn cứ vào số lượng các tham thoại Cụ thể như sau:

a Cặp thoại một tham thoại

Chúng ta biết rằng, về nguyên tắc, cặp thoại ít nhất phải có hai tham thoại của hai nhân vật Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ Đó là trường hợp tham thoại SP1 không được SP2 hưởng ứng hồi đáp bằng hành vi tương ứng Những cặp thoại kiểu như vậy được gọi là cặp thoại một tham thoại hay cặp thoại “hẫng”

SP2: (Đứng dậy bật đèn mà không nói một lời nào)

Hai ví dụ trên không phải minh họa cho cặp thoại một tham thoại bởi một trong hai tham thoại cấu trúc nên nó được thực hiện bằng những hành vi kèm lời hoặc vật lý

b Cặp thoại hai tham thoại (cặp thoại đôi)

Cặp thoại đôi gồm có hai tham thoại: SP1 là tham thoại dẫn nhập, còn SP2 được gọi là tham thoại hồi đáp

Ví dụ:

Trang 29

28

SP1: Đi đâu đấy?

SP2: Đi học

c Cặp thoại ba tham thoại (cặp thoại ba)

Cặp thoại ba thường xuất hiện khi SP1 phát ra có tính chất đóng lại cặp thoại trước đó (nếu cần) để mở ra một cặp thoại khác

Ví dụ:

SP1: Đi đâu đấy?

SP2: Đi xem điểm

SP3: Thế à? Điểm cao không?

1.6.3.4 Tham thoại

Tham thoại là đơn vị đơn thoại Tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên Một tham thoại có một hành vi chủ hướng (CH) và có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc (PT) Cấu trúc của tham thoại có thể là:

SP1: Anh có biết cô Mai ở đâu không? Cô Mai dạy Khoa Anh ý

Chủ hướng ở đây là hành vi hỏi và SP2 chắc chắn sẽ có câu trả lời biết hay không biết khi nghe tham thoại này

SP1: Trời mưa to quá anh ạ

SP2: Không sao, đối tác vẫn chưa đến

Ở ví dụ trên, chủ hướng của SP1 là hành vi xin lỗi vì đến muộn nhưng là hành vi gián tiếp SP2 hồi đáp cho chính hành vi chủ hướng đó chứ không hồi đáp cho hành vi phụ thuộc

Trang 30

29

Tóm lại, các tham thoại tạo nên cặp thoại Tham thoại có thể là tham thoại chủ hướng hoặc tham thoại phụ thuộc tùy vào từng trường hợp cụ thể Do vậy, hội thoại thường có các kiểu tham thoại sau:

Tham thoại có chức năng dẫn nhập (tham thoại chủ hướng);

Tham thoại hồi đáp - dẫn nhập trong lòng cặp thoại;

Tham thoại hồi đáp (thường là tham thoại kết thúc cặp thoại)

1.6.3.5 Hành vi ngôn ngữ

Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Cách ứng xử bằng lời căn cứ vào các hành vi ngôn ngữ đi trước chứ không căn cứ vào các đơn

vị ngữ pháp thông thường như từ và câu

Labov và Fanshel viết “Các hành động chủ yếu bảo đảm tính liên kết chuỗi, lời không phải là các hành động như khiêu khích, tự vệ, lẩn tránh Những hành động này có liên quan đến tư cách của người tham gia hội thoại, với các quyền lực

và trách nhiệm của họ và với mối quan hệ thường xuyên thay đổi của họ trong tổ chức xã hội.”[30, tr 230]

Trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia thành hai nhóm là: những hành vi có hiệu lực ở lời và những hành vi liên hành vi Trong đó, những hành vi có hiệu lực ở lời là những hành vi có hiệu lực thay đổi quyền lực và trách nhiệm của người hội thoại Hay nói cách khác, đó là những hành vi xét trong quan

hệ giữa các tham thoại của các nhân vật hội thoại với nhau Khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời thành một tham thoại, người nói đã có trách nhiệm với phát ngôn của anh ta và anh ta có quyền đòi hỏi người đối thoại phải hồi đáp lại bằng một hành vi ở lời tương ứng Ví dụ: hỏi/trả lời; cầu khiến/đáp ứng vv Nhóm những hành vi liên hành vi nằm trong quan hệ giữa các hành vi tạo nên một tham thoại, chúng có tính chất đơn thoại trong khi các hành vi ở lời có tính chất đối thoại

Nhận xét về hai hành vi nêu trên, Đỗ Hữu Châu viết “Trên cơ sở phân biệt hai loại hành vi nêu trên, ngoài các hành vi ở lời mà Austin và Searle đã nêu, lý thuyết hội thoại còn đưa ra các hành vi liên hành vi như: dẫn khởi, tiếp tục, nhắc lại, láy lại, ngắt lời, củng cố, kết thúc, chú thích, đánh giá, giải thích, bổ khuyết, tóm tắt, nhấn mạnh, điều chỉnh, biện minh, lập luận vv Tuy nhiên, việc liệt kê

và phân loại các hành vi liên hành vi còn tản mạn và chưa hợp lý Những hành vi

đề cập đến ở trên mới chỉ mang tính chất đặt vấn đề và gợi ý, chưa phải là những kết luận đủ tin cậy Có lẽ điều quan trọng là chức năng của các hành vi trong hội

Trang 31

30

thoại hơn là sự phân loại cố định các hành vi ngôn ngữ trong hội thoại Có thể cùng một hành vi (chẳng hạn như giải thích hoặc chú thích) lúc này thì có chức năng ở lời, lúc khác lại chỉ có chức năng liên hành vi.”[2, tr 320]

1.7 Ngữ pháp hội thoại

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, cả ba lý thuyết hội thoại trên trong khi chú tâm tìm cách xác định các đơn vị hội thoại và quan hệ giữa chúng chưa xem xét đến hội thoại trong toàn cục Ngữ pháp hội thoại của Gotz Hinderlang là một thử nghiệm tìm ra quan hệ toàn cục đó của hội thoại Ông cho rằng, nói đến ngữ pháp của hội thoại là ngầm thừa nhận sự tồn tại của hệ thống những quy tắc chi phối chuỗi những hành vi ngôn ngữ quyết định một cuộc hội thoại có tính mạch lạc Nói đến quy tắc trong hội thoại, không nên nghĩ đến quy tắc của các trò chơi ngôn ngữ, đó là những quy tắc cho phép chúng ta miêu tả vận động của những người nói như là vận động được điều khiển bởi hướng và đích Mục đích của ngữ pháp hội thoại là tìm ra những quy tắc tạo nên một số mô hình hội thoại Hinderlang viết “Ngữ pháp hội thoại miêu tả điều người ta làm khi tham gia vào hội thoại mà hội thoại là những hoạt động ngôn ngữ bị chi phối bởi quy tắc, có đích và có hướng Phạm trù đích đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng mô hình hội thoại.” [28, tr 38]

Do điều kiện hạn chế, luận văn chỉ tập trung đề cập đến vấn đề phân loại và cấu trúc nội tại của những cuộc hội thoại đơn giản Còn vấn đề mô hình những cuộc hội thoại phức hợp sẽ được đề cập khi mở rộng đề tài ở cấp độ cao hơn

Gotz Hinderlang đã vận dụng quan điểm của Frank và Hundsnurscher phân loại các cuộc hội thoại đơn giản theo tiêu chí kết hợp đích và lợi ích Ở bậc phân loại thứ nhất, chúng ta phân biệt hội thoại hài hòa và hội thoại bất hòa

- Hội thoại hài hòa là những cuộc hội thoại mà lợi ích của SP1 và SP2 hoặc

đã đồng nhất từ đầu hoặc dễ dàng tương hợp SP2 dễ dàng tương hợp với SP1 hoặc ngược lại

Trang 32

31

SP2: Ừ, nếu cậu muốn thì về

(3).SP1: Thôi, về đi

SP2:Không, tớ thích ở đây Tớ muốn ở lại một lát nữa

SP1: Thế hả, nếu cậu muốn ở lại thì ta ở

- Trong các cuộc hội thoại bất hòa, lợi ích của SP1 và SP2 hoặc khác nhau, hoặc trái ngược nhau lúc đầu Ở hội thoại kiểu này, cần phân biệt những cuộc thoại trong đó cả hai đối tác đều sẵn sàng nhượng bộ nhau và những cuộc thoại mà mỗi đối tác đều “bướng bỉnh” không chịu nhượng bộ

Biểu đồ sau đây tổng hợp bốn mô hình hội thoại có đích:

SP1/SP2 không sẵn sàng nhân nhượng

- Hình thức tối thiểu của những cuộc hội thoại trên do các chuỗi hành vi thuộc các kiểu sau lập nên:

1 Hành vi dẫn nhập (DN): Bằng hành vi dẫn nhập, SP1 nêu ra đích

2 Hành vi phản hồi tích cực (PHTC): Bằng hành vi phản hồi tích cực, SP2 chấp nhận đích mà SP1 nêu ra ở DN

3 Hành vi phản hồi tiêu cực (PHTiC): Bằng hành vi này, SP2 chối bỏ đích

Trang 33

32

1.8 Tính thống nhất của cuộc thoại

Cuộc thoại là những diễn ngôn ngắt quãng cài răng lược vào nhau (mặc dầu cũng có những cuộc thoại chỉ do một người liên tục nói theo đuổi một chiến lược định sẵn) nhưng chiến lược không thể định trước hoặc có định trước thì thường xuyên phải biến đổi theo hoạt động đối thoại của đối tác

Tính thống nhất của cuộc thoại cũng được quyết định bởi tính liên kết hình thức và tính mạch lạc về nội dung Và tính mạch lạc của hội thoại có thể xem xét theo các phương diện sau đây:

+ Tính mạch lạc của toàn bộ cuộc thoại chung cho tất cả các đối tác

+ Tính mạch lạc của tham thoại của từng đối tác trong toàn bộ cuộc thoại tính mạch lạc trong từng đoạn, từng sự kiện lời nói và trong từng cặp thoại

+ Cuối cùng, khi xét tính mạch lạc cũng nên chú ý cuộc thoại có đích nhận thức và đích liên cá nhân, tạo lập quan hệ Có những cuộc thoại chẳng mạch lạc gì

về nội dung thông tin, nhưng lại rất “mạch lạc” về nội dung tạo lập quan hệ Nghiên cứu mạch lạc trong hội thoại không thể không chú ý đến đặc điểm này

Nói một cách tổng quát, không thể sử dụng những tri thức về liên kết và mạch lạc của văn bản để xử lý liên kết và mạch lạc trong hội thoại Liên kết và mạch lạc trong hội thoại được nâng cao lên thành liên kết và mạch lạc trong văn bản chứ không phải liên kết và mạch lạc trong văn bản quyết định liên kết và mạch lạc trong hội thoại

1.9 Tiểu kết

Có thể nói rằng, hội thoại là mảnh đất sống của ngôn ngữ và là một môi trường hoạt động của con người, một biểu hiện của cái gọi là xã hội loài người Qua hội thoại, các yếu tố, đơn vị của ngôn ngữ mới được đóng dấu chứng nhận tư cách đơn vị ngôn ngữ của mình và các quy tắc, các cơ chế vận hành các yếu tố, đơn vị đó mới bộc lộ ra, phát huy tác dụng Nghiên cứu hội thoại, một mặt phải vận dụng tổng hòa những tri thức về cấu trúc ngôn ngữ, những tri thức ngữ dụng,

cả những tri thức xã hội học, tâm lý học, văn hóa học Mặt khác, qua nghiên cứu hội thoại chúng ta mới hiểu biết đầy đủ, toàn diện tất cả những cái tạo nên ngôn ngữ và những cái nằm trong các lĩnh vực ngữ dụng học đã được xem xét một cách riêng rẽ

Trong chương này, chúng tôi đã đề cập khá đầy đủ những vấn đề lý luận chung về hội thoại Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, chúng tôi đã xác lập cho mình một cách hiểu về khái niệm hội thoại, cho phép

Trang 34

33

chúng tôi triển khai những vấn đề nghiên cứu, khảo sát trong luận văn Qua đó, ở chương tiếp theo, chúng tôi có thể tiến hành khảo sát đặc điểm hội thoại Tiếng Việt trong sách DTVCNNN một cách logic và khoa học

Trang 35

34

Chương 2: Khảo sát đặc điểm hội thoại trong một số sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài

2.1 Giới thiệu khái quát về nguồn tư liệu khảo sát

Như đã trình bày ở phần mở đầu, luận văn của chúng tôi tiến hành khảo sát các hội thoại trong các sách DTVCNNN Cụ thể là 18 đầu sách của nhiều tác giả khác nhau Chúng tôi cũng tạm phân thành hai trình độ để khảo sát Cụ thể thể là trình độ cơ sở và trình độ nâng cao Do điều kiện hạn chế nên chúng tôi chỉ khảo sát hội thoại trong phần bài học, còn một số các hội thoại trong phần nghe và phần bài tập chúng tôi tạm thời không đề cập đến trong luận văn Tổng số hội thoại chúng tôi thu thập được ở cả hai trình độ là 588 hội thoại Số liệu cụ thể và chi tiết được tổng hợp như sau:

Bảng 1: Bảng tổng hợp số lượng hội thoại trong sách DTVCNNN

1 Phan Văn Giưỡng (2004),

Tiếng Việt cho người nước

2 Phan Văn Giưỡng (2004),

Tiếng Việt cho người nước

ngoài, Tập 2, NXB Trẻ, TP

HCM

10 2 Trịnh Đức Hiển(chủ biên),

(2004), Tiếng Việt cho người

nước ngoài trình độ nâng cao,

ĐHQG, Hà Nội

45

3 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên)

(2004), Tiếng Việt dành cho

người nước ngoài, Tập 1, NXB

GD, TPHCM

25 3 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên),

(2004), Tiếng Việt dành cho

người nước ngoài , Tập 4, NXB

GD, TP HCM

8

4 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên)

(2004), Tiếng Việt dành cho

người nước ngoài, Tập 2, NXB

GD, TPHCM

biên),(2004), Tiếng Việt dành

cho người nước ngoài, Tập 5,

NXB GD, TP HCM

9

Trang 36

35

(2004), Tiếng Việt dành cho

người nước ngoài, Tập 3, NXB

74 6 Nguyễn Anh Quế (2000),

Tiếng Việt cho người nước ngoài, NXB VHTT Hà Nội

138

7 Nguyễn Văn Phúc (chủ biên),

Đào Văn Hùng, Nguyễn Văn

Chính (2004), Tiếng Việt cho

người nước ngoài, Chương trình

Thứ nhất, trong một số sách, phần hội thoại nằm ngay ở phần đầu tiên của bài học Ví dụ như sách của Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Việt Hương, Nguyễn Anh Quế vv Tuy nhiên, cũng có một số sách, hội thoại nằm sau phần từ vựng, khởi động Ví dụ như sách của Nguyễn Văn Huệ, Mai Ngọc Chừ vv Hội thoại nằm ở

vị trí nào trong bài học cũng đều thể hiện ý đồ của tác giả trong quá trình truyền tải nội dung đến cho học viên Vấn đề là ở chỗ làm sao các giáo viên trong quá trình giảng dạy của mình có thể nắm bắt được ý đồ của tác giả để có thể thực hiện bài giảng của mình một cách hiệu quả nhất

Trang 37

36

Thứ hai, hội thoại trong sách DTVCNNN luôn có lượt lời hỏi - đáp Một hội thoại có thể bao gồm số lượng các lượt lời nhiều ít khác nhau Hội thoại càng dài thì số lượng lượt lời càng lớn và ngược lại

Thứ ba, phần lớn các hội thoại giữa các bài trong mỗi cuốn sách DTVCNNN không có tính liên kết và logic với nhau một cách chặt chẽ và thống nhất Các hội thoại thường độc lập với nhau về mặt nội dung và ngữ cảnh cũng như chủ đề, vai giao tiếp vv Chúng ta rất hiếm khi tìm được một cuốn sách mà

từ bài một đến bài cuối cùng các vai giao tiếp có quan hệ với nhau Hội thoại có thể diễn ra đối với cùng một số đối tượng nhất định, ở những thời điểm khác nhau trong một số tình huống khác nhau vv Một chuỗi các nội dung hội thoại thống nhất và xuyên suốt toàn bộ cuốn sách chắc chắn sẽ giúp người học tiếp cận vấn đề nhanh và dễ hiểu nhất

Thứ tư, cách sử dụng các đại từ nhân xưng ở các hội thoại trong sách DTVCNNN cũng hết sức đa dạng và phong phú Khảo sát về lĩnh vực này cũng là một trong những điều hết sức thú vị đối với chúng tôi mà không phải dễ gặp ở bất

cứ ngôn ngữ nào cũng có

Cuối cùng, hội thoại trong sách DTVCNNN cũng có rất nhiều điều cần khám phá và tìm hiểu như yếu tố văn hóa, kết cục hội thoại, ngữ pháp hội thoại, hành vi ngôn ngữ, chủ đề hội thoại và một số các yếu tố khác vv Tất cả những điều đó, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát và đề cập đến một cách đầy đủ và chính xác trong phần tiếp theo của chương này

2.2 Nội dung khảo sát đặc điểm hội thoại trong một số sách DTVCNNN

2.2.1 Đoạn thoại trong hội thoại

Đoạn thoại - như đã trình bày ở trên- là mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng Một hội thoại, có thể chứa một hoặc một số đoạn thoại Tùy vào nội dung, độ dài cũng như trình độ mà hội thoại đó xuất hiện trong bài học mà số lượng đoạn thoại trong hội thoại đó có thể nhiều hoặc ít khác nhau Một hội thoại có thể chỉ có một đoạn thoại hoặc cũng

có thể có nhiều hơn một đoạn thoại Dưới đây là kết quả khảo sát về số đoạn thoại

cụ thể trong các sách DTVCNNN:

Trang 38

sẽ thể hiện rõ điều đó

Quan sát bảng thống kê trên, chúng tôi thấy, có tới 93% tổng số hội thoại trong các sách DTVCNNN ở cả hai trình độ là TĐCS và TĐNC chỉ có 1 đoạn thoại Số hội thoại 2 đoạn thoại ở TĐCS và TĐNC lần lượt là 4% và 6,5% Còn hội thoại có trên 2 đoạn thoại ở cả hai trình độ chiếm số lượng không đáng kể Sự phân bố như vậy cũng dễ hiểu, bởi lẽ, các hội thoại trong sách vốn dĩ không phải

là các hội thoại giao tiếp một cách tự nhiên, mà chúng được kiến tạo để giúp cho học viên tiếp cận vấn đề một cách đơn giản, dễ hiểu và khoa học nhất Do vậy, việc thiết kế hội thoại chỉ bao gồm nội dung một đoạn thoại cũng là một trong những yếu tố đảm bảo vấn đề này

Việc sử dụng hội thoại 1 đoạn thoại giúp cho học viên dễ hiểu, dễ tiếp thu

và từ vựng cũng không nhiều Như vậy, cho dù học viên ở trình độ nào thì cũng dễ dàng tiếp cận và nắm bắt hơn Ngược lại, xây dựng hội thoại nhiều đoạn thoại sẽ xuất hiện nhiều vai giao tiếp làm cho học viên khó hình dung Đồng thời, hội thoại nhiều đoạn thoại cũng sẽ có nhiều từ vựng hơn, điều này gây khó khăn cho cho học viên trong việc sử dụng và huy động từ vựng một cách linh hoạt Hội thoại nhiều đoạn thoại cũng có thể có sự chuyển ngữ cảnh Và thay đổi ngữ cảnh trong

Trang 39

và tiếp cận được một cách trọn vẹn toàn bộ nội dung của hội thoại thì việc phân định hội thoại thành các đoạn thoại cũng là một trong thao tác cần thiết Tuy nhiên, tùy từng trường hợp cụ thể mà có sự phân định một cách rõ ràng, hợp lý, tránh trường hợp phân chia đoạn thoại một cách thiếu cẩn thận, gây ảnh hưởng đến cấu trúc nội dung của toàn bộ hội thoại cũng như tạo ra những trở ngại không đáng

có đối với học viên khi tiếp cận nội dung hội thoại

2.2.2 Các yếu tố kèm lời và phi lời

Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, yếu tố kèm lời là các yếu tố mà mặc dù không có đoạn tính như âm vị và âm tiết nhưng chúng đi kèm với các yếu

tố đoạn tính Không một yếu tố đoạn tính nào được phát âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo Chẳng hạn như: những tiếng ừ, ừ à, à mà SP1 thêm vào cho lời nói của SP2 Còn yếu tố phi lời là những yếu tố không phải là những yếu tố kèm lời được dùng trong đối thoại mặt đối mặt Những yếu tố phi lời tuy là thứ yếu nhưng rất quan trọng Thiếu chúng, cuộc trò chuyện sẽ tẻ nhạt, thậm chí phải chấm dứt Yếu tố phi lời có thể là những vận động cơ thể như: gật đầu, lắc đầu, ánh mắt, nụ cười vv

Nói một cách tổng quát, không thể bỏ các yếu tố kèm lời và phi lời khi giao tiếp bằng lời Những sự kiện kèm ngôn ngữ xuất hiện song song với ngôn ngữ nói hòa lẫn vào ngôn ngữ nói hình thành nên một hệ thống giao tiếp trọn vẹn Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát hội thoại trên văn bản (trong các sách DTVCNNN) chứ không khảo sát hội thoại trên các ngữ liệu khác như: đĩa CD, băng cát xét, trên truyền hình hay các hội thoại thực tế vv Do đặc điểm của các hội thoại trên văn bản, yếu tố kèm lời và phi lời không được thể hiện một cách rõ ràng Hay nói một cách khác, chúng gần như không xuất hiện trong các văn bản hội thoại Và chúng chỉ có thể được nhận biết rõ qua các hội thoại được thể hiện bằng lời Vì vậy, chúng tôi cũng không đi sâu khảo sát yếu tố kèm lời và phi lời trong luận văn này

Trang 40

39

2.2.3 Chủ đề hội thoại

Chủ đề của hội thoại là một trong những gợi ý để giúp sinh viên tiếp cận hội thoại bằng việc huy động và tập trung vốn từ vựng thuộc chủ đề đã có Đồng thời sinh viên có thể dễ dàng nắm bắt được nội dung đoạn thoại Tuy nhiên, không phải mọi hội thoại trong sách DTVCNNN đều có chủ đề hội thoại Có những hội thoại đã có sẵn chủ đề Ví dụ như: hội thoại trong sách của Đoàn Thiện Thuật trình

độ B,C, sách của Nguyễn Anh Quế vv Nhưng cũng có những hội thoại không có tên chủ đề Hầu hết hội thoại trong các sách DTVCNNN trình độ cơ sở không có tên chủ đề Còn ở trình độ nâng cao thì một số hội thoại có chủ đề, một số không

có Các hội thoại không có sẵn tên chủ đề chúng tôi đã dựa vào nội dung để xếp chúng vào chủ đề và nhóm chủ đề một cách hợp lý và khoa học nhất Kết quả phân tích ngữ liệu cho thấy, xét về mặt nội dung, có 6 nhóm chủ đề được sử dụng, đó là: nhóm bạn bè, đồng nghiệp; nhóm dịch vụ; nhóm giải trí, du lịch; nhóm văn hóa; nhóm giao tiếp, xã giao và nhóm các chủ đề khác Để tiện theo dõi, chúng tôi đã lập hai biểu đồ thể hiện tỉ lệ của các nhóm chủ đề ở hai trình độ như sau:

Biểu đồ 1: Biểu đồ tổng quan nhóm chủ đề ở trình độ cơ sở

chủ đề giao tiếp xã giao chiếm 35,40%, tiếp theo là nhóm chủ đề dịch vụ (30,20%), tiếp đó lần lượt là nhóm chủ đề khác (16,30%); nhóm chủ đề văn hóa (9,30%); nhóm giải trí, du lịch (5,40%) và cuối cùng là nhóm bạn bè, đồng nghiệp (3,40%)

Ở TĐCS, do hạn chế về mặt ngôn ngữ, nên hội thoại chủ yếu tập trung vào nhóm chủ đề dịch vụ và giao tiếp, xã giao bởi tần xuất sử dụng nhiều và dễ có cơ hội thực hành Còn chủ đề văn hóa, du lịch hay quan hệ bạn bè thì hạn chế hơn do

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên)(2010), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXBGD Việt Nam, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A (chủ biên)
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
Năm: 2010
2. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXBGD, Hà Nội 3. Nguyễn Đức Dân (1999), Logic và Tiếng Việt, NXBGD, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học", tập 2, NXBGD, Hà Nội 3. Nguyễn Đức Dân (1999), "Logic và Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXBGD, Hà Nội 3. Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
4. Nguyễn Đức Dân (2000), Ngữ dụng học, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2000
5. Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp Tiếng Việt, NXBGD Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp Tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
Năm: 2009
6. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Phân tích hội thoại, Viện KHXH, Hà Nội 7. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Dụng học Việt ngữ, ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hội thoại", Viện KHXH, Hà Nội 7. Nguyễn Thiện Giáp (2006), "Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (1999), Phân tích hội thoại, Viện KHXH, Hà Nội 7. Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 2006
8. Cao Xuân Hạo (chủ biên) (2003), Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt, câu trong Tiếng Việt, Quyển 1, NXBGD, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo (chủ biên)
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2003
9. Cao Xuân Hạo (chủ biên) (1991), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo (chủ biên)
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1991
10. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Cú pháp Tiếng Việt, NXBGDVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: NXBGDVN
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2008
12. Nguyễn Hòa (2008), Phân tích diễn ngôn một số vấn đề lý luận và phương pháp, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn một số vấn đề lý luận và phương pháp
Tác giả: Nguyễn Hòa
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2008
13. Nguyễn Chí Hòa (2009), Khẩu ngữ Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng giao tiếp, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khẩu ngữ Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2009
14. Nguyễn Chí Hòa (2010), Nội dung và phương pháp giảng dạy từ vựng Tiếng Việt thực hành, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung và phương pháp giảng dạy từ vựng Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2010
15. Nguyễn Văn Khang (1997), Giáo trình Tiếng Việt với vấn đề giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếng Việt với vấn đề giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 1997
16. Phan Ngọc (2005), Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, NXBĐHQG, Hà Nội 17. Nguyễn Văn Phúc (2005), Về khái niệm ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai – Tiếng Việt và việc dạy tiếng, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á", NXBĐHQG, Hà Nội 17. Nguyễn Văn Phúc (2005), "Về khái niệm ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai – Tiếng Việt và việc dạy tiếng
Tác giả: Phan Ngọc (2005), Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, NXBĐHQG, Hà Nội 17. Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2005
18. Nguyễn Quang (2002), Giao tiếp và giao tiếp giao văn hóa, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp và giao tiếp giao văn hóa
Tác giả: Nguyễn Quang
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2002
19. Nguyễn Anh Quế (1997), Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tiến trình, kết quả và những vấn đề đang đặt ra, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tiến trình, kết quả và những vấn đề đang đặt ra
Tác giả: Nguyễn Anh Quế
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 1997
20. Đỗ Tiến Thắng (2009), Ngữ điệu Tiếng Việt , NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ điệu Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Tiến Thắng
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2009
21. Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn Tiếng Việt, NXB Phương Đông, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn Tiếng Việt
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2009
22. Trần Ngọc Thêm (dịch) (1996), Ngữ pháp văn bản, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản
Tác giả: Trần Ngọc Thêm (dịch)
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996
23. Lê Quang Thiêm (2008), Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ
Tác giả: Lê Quang Thiêm
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng tổng hợp số lượng hội thoại trong sách DTVCNNN - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 1 Bảng tổng hợp số lượng hội thoại trong sách DTVCNNN (Trang 35)
Bảng 2: Bảng thống kê số lượng đoạn thoại trong hội thoại - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 2 Bảng thống kê số lượng đoạn thoại trong hội thoại (Trang 38)
Bảng 3: Bảng khảo sát chi tiết chủ đề trong hội thoại - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 3 Bảng khảo sát chi tiết chủ đề trong hội thoại (Trang 41)
Bảng 4: Bảng tổng hợp số vai giao tiếp trong hội thoại - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 4 Bảng tổng hợp số vai giao tiếp trong hội thoại (Trang 46)
Bảng 5: Bảng tổng hợp các ĐTNX cụ thể trong  hội thoại - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 5 Bảng tổng hợp các ĐTNX cụ thể trong hội thoại (Trang 49)
Bảng 6: ĐTNX ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ 2 số ít ở một số ngôn ngữ - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 6 ĐTNX ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ 2 số ít ở một số ngôn ngữ (Trang 53)
Bảng 7: Bảng tổng hợp số cặp thoại và tham thoại - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 7 Bảng tổng hợp số cặp thoại và tham thoại (Trang 54)
Bảng 8: Bảng tổng hợp HVNN trong hội thoại - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 8 Bảng tổng hợp HVNN trong hội thoại (Trang 57)
Bảng 10: Bảng tổng hợp một số yếu tố khác trong hội thoại - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
Bảng 10 Bảng tổng hợp một số yếu tố khác trong hội thoại (Trang 64)
7  Bảng liệt kê các câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ được sử dụng  trong 16/ 588 hội thoại - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
7 Bảng liệt kê các câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ được sử dụng trong 16/ 588 hội thoại (Trang 103)
7. Phụ lục 7: Bảng liệt kê các câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ được sử dụng  trong 16/ 588 HT - Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay
7. Phụ lục 7: Bảng liệt kê các câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ được sử dụng trong 16/ 588 HT (Trang 117)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w