1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các phát ngôn hỏi đáp từ góc độ giới tính trên cứ liệu một số tác phẩm văn học trước Cách mạng

129 459 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tham vọng khảo sát các phát ngôn hỏi đáp trên nhiều cặp giao tiếp, xét từ góc độ giới tính, trong các tác phẩm văn học trước Cách mạng để có được bức tranh tổng quan về việc sử dụng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Cuối cùng, tác giả luận văn muốn gửi lời cảm ơn tới toàn thể Gia đình đã ủng

hộ, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2013

Người thực hiện

Nguyễn Thị Hiền

Trang 4

1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Kết cấu của luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9

1.1 Hội thoại và phát ngôn ngôn ngữ 9

1.1.1.Hội thoại 9

1.1.2 Phát ngôn ngôn ngữ 9

1.2 Vấn đề hỏi – đáp 12

1.2.1 Khái quát về câu hỏi 12

1.2.1.2 Đặc điểm về hình thức của câu hỏi 13

1.2.1.3 Đặc điểm về nội dung của câu hỏi 13

1.2.1.4 Phân chia câu hỏi và phương thức biểu hiện hành vi hỏi 14

1.2.2 Khái quát về câu trả lời 16

1.2.2.1 Trả lời trực tiếp 17

1.2.2.2 Trả lời gián tiếp 17

1.3 Chiến lược giao tiếp 18

1.4 Một số vấn đề về giới và giới trong ngôn ngữ 18

1.4.1 Khái niệm về giới 18

1.4.2 Giới trong ngôn ngữ 19

Chương 2: CHỦ ĐỀ VÀ CÁCH XƯNG HÔ TRONG CÁC PHÁT NGÔN HỎI – ĐÁP ĐỐI VỚI CẶP GIAO TIẾP VỢ CHỒNG QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TRƯỚC CÁCH MẠNG 21

2.1 Chủ đề của các phát ngôn hỏi – đáp 21

Trang 5

2

2.1.1 Vợ chồng lao động bình dân 21

2.1.2 Chồng là trí thức, vợ là lao động bình dân 23

2.1.3 Vợ chồng thành thị 24

2.1.4 Vợ chồng quan lại 25

2.2 Xưng hô trong các phát ngôn hỏi – đáp 26

2.2.1 Vợ chồng lao động bình dân 26

2.2.1.1 Xưng hô trống không 27

2.2.1.2 Xưng hô Mày – tao/ông 27

2.2.1.3 Xưng hô thân mật 30

2.2.2 Chồng là trí thức, vợ là lao động bình dân 31

2.2.2.1 Xưng hô trống không 32

2.2.2.2 Xưng hô mình – em/tôi, người ta 32

2.2.3 Vợ chồng thành thị 33

2.2.3.1 Xưng hô trống không 34

2.2.3.2 Xưng hô cậu/mợ - tôi 34

2.2.3.3 Xưng hô anh - em 35

2.2.4 Vợ chồng quan lại 35

2.2.4.1 Xưng hô trống không 36

2.2.4.2 Xưng hô cậu/mợ - tôi 36

2.2.4.3 Xưng hô ông/bà – tôi 37

2.2.4.4 Xưng hô mày – tao/ông 37

Tiểu kết chương 2 38

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC PHÁT NGÔN HỎI – ĐÁP ĐỐI VỚI CẶP GIAO TIẾP VỢ CHỒNG QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TRƯỚC CÁCH MẠNG 40

3.1 Phát ngôn hỏi 40

3.1.1 Vợ chồng lao động bình dân 40

3.1.1.1 Câu hỏi đích thực 40

3.1.1.2 Câu hỏi không đích thực 41

3.1.2 Chồng là trí thức, vợ là lao động bình dân 43

Trang 6

3

3.1.2.1 Câu hỏi đích thực 44

3.1.2.2 Câu hỏi không đích thực 46

3.1.3 Vợ chồng thành thị 48

3.1.3.1 Câu hỏi đích thực 48

3.1.3.2 Câu hỏi không đích thực 49

3.1.4 Vợ chồng quan lại 50

3.1.4.1 Câu hỏi đích thực 51

3.1.4.2 Câu hỏi không đích thực 52

3.2 Phát ngôn đáp 55

3.2.1 Vợ chồng lao động bình dân 56

3.2.1.1 Trả lời trực tiếp 56

3.2.1.2 Trả lời gián tiếp 57

3.2.2 Chồng là trí thức, vợ là lao động bình dân 59

3.2.2.1 Trả lời trực tiếp 59

3.2.2.2 Trả lời gián tiếp 60

3.2.3 Vợ chồng thành thị 61

3.2.3.1 Trả lời trực tiếp 61

3.2.3.2 Trả lời gián tiếp 62

3.2.4 Vợ chồng quan lại 63

3.2.4.1 Trả lời trực tiếp 64

3.2.4.2 Trả lời gián tiếp 64

Tiểu kết chương 3 66

PHẦN KẾT LUẬN 66

Trang 7

Thông thường các phát ngôn hỏi – đáp nói chung được đề cập chủ yếu trong giao tiếp hàng ngày, dưới hình thức các cuộc thoại với những bối cảnh giao tiếp khác nhau mà ít thấy xuất hiện trong các tác phẩm văn học

Bên cạnh hỏi – đáp, vấn đề giới cũng là một trong những nội dung quan trọng

và không thể thiếu của Ngôn ngữ học xã hội Tuy nhiên vấn đề giới trong ngôn ngữ ở

Việt Nam có lẽ vẫn cần sự đóng góp của nhiều công trình nghiên cứu hơn nữa Bài Sự

bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ của tác giả Nguyễn Văn Khang [1998] có thể

được coi là nghiên cứu đầu tiên trực tiếp bàn tới mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính Từ đó đến nay cũng xuất hiện thêm một số luận án, luận văn và bài viết có giá trị liên quan tới vấn đề này nhưng nhìn chung ngôn ngữ và giới tính vẫn còn là một vấn đề

mở, cần sự đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu Đặc biệt, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu giá trị nào về ngôn ngữ giới tính trên cứ liệu là các cặp hỏi – đáp

Xuất phát từ tính cấp thiết của việc nghiên cứu các phát ngôn hỏi đáp từ góc độ giới tính nói chung và mong muốn được nghiên cứu vấn đề này từ các tác phẩm văn học nói riêng, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu này

Với tham vọng khảo sát các phát ngôn hỏi đáp trên nhiều cặp giao tiếp, xét từ góc độ giới tính, trong các tác phẩm văn học trước Cách mạng để có được bức tranh tổng quan về việc sử dụng ngôn ngữ trong các phát ngôn hỏi - đáp từ góc độ giới tính

ở giai đoạn này, chúng tôi đã lựa chọn tên đề tài là: Khảo sát các phát ngôn hỏi – đáp

từ góc độ giới tính trên cứ liệu một số tác phẩm văn học trước Cách mạng Tuy nhiên,

Trang 8

5

trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các phát ngôn hỏi – đáp của nam và nữ xuất hiện dàn trải và không tiêu biểu nếu xét chung ở các cặp giao tiếp khác nhau (ví dụ: trong giao tiếp gia đình: bố mẹ với con cái – bố với con trai, bố với con gái, con cái với nhau – con trai với con gái, vợ chồng với nhau , trong giao tiếp xã hội: bề trên với dân thường – quan ông với dân thường là nam, quan ông với dân thường là nữ, quan ông với đầy tớ nam, quan ông với đầy tớ nữ ) Trong khi đó việc sử dụng các phát ngôn hỏi – đáp của cặp giao tiếp vợ - chồng khá nổi trội dưới các tầng lớp xã hội khác nhau Chính vì thế, chúng tôi quyết định đi sâu khảo sát các phát ngôn hỏi – đáp với cặp giao tiếp này Chúng tôi cũng giới hạn phạm vi khảo sát hiện tượng ngôn ngữ này trong một số truyện ngắn giai đoạn trước Cách mạng để có cái nhìn khách quan hơn với cùng một thể loại tác phẩm văn học

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề hỏi – đáp và vấn đề giới tính là đề tài của nhiều công trình nghiên cứu từ trước tới nay đặc biệt là các công trình nghiên cứu về hành vi hỏi và về vấn đề giới tính

Trong nền ngôn ngữ học Việt Nam, nghiên cứu về câu hỏi cần phải kể đến các tác giả như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Lê, Lê Đông, Hồ

Lê, Hoàng Trọng Phê, Trần Thị Thìn, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Đăng Sửu Tác giả Lê

Đông trong công trình nghiên cứu “Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi chính danh”

[1996] đã chỉ rõ mối quan hệ giữa ngữ cảnh và câu hỏi, tiền đề và câu hỏi, tác giả đã phân tích cụ thể một số kiểu loại câu hỏi đặt trong ngữ cảnh thực Năm 1991, trong

công trình “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” tác giả Cao Xuân Hạo đã phân tích hiệu lực

ngôn trung của câu nghi vấn, từ đó thấy câu nghi vấn không chỉ được dùng để thể hiện hành vi hỏi

Vấn đề trả lời dường như dành được sự quan tâm ít hơn của các nhà nghiên cứu Cần phải kể đến một số tác giả như: Lê Đông trên tạp chí ngôn ngữ số 1 năm 1985 có

bài viết: “Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi”; tác giả Lê Anh Xuân với một số bài

Trang 9

Về vấn đề giới tính trong ngôn ngữ cũng là tâm điểm chú ý của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Trong đó phải kể đến một số tác giả như: E.d.Sapir, O.Jersper, Allport, Shen Haibing, R.Lakoff, Coates, Jennife, Crawford, Mary, Eckert, Penelope, Goddard, Angela, Gray, J, Herbert, Robert K, Holmes, Janet Ở Việt Nam, nghiên cứu vấn đề này có các tác giả như: Mai Huy Bích, Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Thanh Bình, Bùi Thị Minh Yến, Vũ Tiến Dũng, Trần Xuân Điệp, Nguyễn Thị Mai Hoa, Đỗ Thu Lan, Đỗ Kim Liên, Lê Hồng Linh, Nguyễn Lê Lương, Bùi Ngọc Oanh, Trần Thị Quế, Lê Thị Quý, Nguyễn Thị Việt Thanh, Nguyễn Đức Thắng, Trần Thanh Vân, Lương Văn Hy Đặc biệt tác giả Nguyễn Văn Khang trong công trình nghiên cứu “Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản” [2003]

Tuy nhiên, xét riêng về vấn đề hỏi – đáp từ góc độ giới tính thì vẫn chưa xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, luận văn nhằm mục đích tìm hiểu, phân tích việc sử dụng ngôn ngữ trong các phát ngôn hỏi – đáp trong giao tiếp của các cặp vợ chồng, xuất hiện trong các truyện ngắn trước Cách mạng Qua đó để thấy được, các cặp vợ chồng ở các tầng lớp xã hội khác nhau, họ sử dụng ngôn ngữ như thế nào qua các cặp hỏi – đáp được thể hiện trên tác phẩm văn học Từ đó, luận văn muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu ngôn ngữ giới tính nói riêng và ngôn ngữ học xã hội nói chung

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm giải quyết ba nhiệm vụ cơ bản sau:

Trang 10

7

Thứ nhất là tổng hợp và khái quát một số vấn đề về lý thuyết liên quan đến đề

tài nghiên cứu: vấn đề hội thoại, phát ngôn ngôn ngữ, vấn đề hỏi đáp, vấn đề giới trong ngôn ngữ

Thứ hai là khảo sát và phân tích chủ đề giao tiếp và xưng hô trong giao tiếp của

các cặp vợ chồng qua các phát ngôn hỏi - đáp trên một số truyện ngắn trước Cách mạng Từ đó thấy được các chủ đề chi phối cách giao tiếp của các cặp vợ chồng, cách thức xưng hô giữa vợ và chồng, giữa các cặp vợ chồng thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau

Thứ ba là khảo sát và phân tích về đặc điểm ngôn ngữ biểu hiện cụ thể trong các

phát ngôn hỏi và phát ngôn đáp trong giao tiếp của vợ, của chồng, của các cặp vợ chồng ở các tầng lớp khác nhau, qua một số truyện ngắn trước Cách mạng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu là các phát ngôn hỏi – đáp với cặp giao tiếp vợ - chồng trong tất cả các truyện ngắn của 4 tác giả: Nam cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam Khi đó chúng tôi tìm được và khảo sát hiện tượng ngôn ngữ trên qua 28 truyện ngắn với 184 cặp hỏi đáp, cụ thể:

Nam Cao - 16 truyện ngắn, được trích từ “Tuyển tập Nam Cao”, Nxb Văn học

Trang 11

8

Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là những tác giả tiêu biểu cho dòng văn học hiện thực trước Cách mạng Đặc biệt, các tác giả này luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho những người nông dân nghèo khổ, các trí thức khốn cùng và cả những tầng lớp quan lại, bề trên của dân chúng Riêng với tác giả Thạch Lam, cũng là một trong những cây bút trước Cách mạng, có khuynh hướng đi gần với cuộc sống của những người bình dân, nghèo khổ Tuy nhiên, ngòi bút của Thạch Lam không gay gắt như những Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng mà nó giản dị, nhẹ nhàng, giàu chất thơ Chính

vì thế, ta có thể bắt gặp hình ảnh những cặp vợ chồng trong các tác phẩm của ông có thể là vợ chồng lao động bình dân hay vợ chồng thành thị nhưng họ sống rất đỗi tình cảm và thanh lịch

Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát ở các cặp thoại hỏi – đáp gồm hai lượt lời (song thoại)

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích miêu

tả cùng với thủ pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần: mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Cấu trúc của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí thuyết

- Chương 2: Chủ đề và cách xưng hô trong các phát ngôn hỏi – đáp đối với cặp giao tiếp vợ chồng qua một số truyện ngắn trước Cách mạng

- Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ của các phát ngôn hỏi – đáp đối với cặp giao tiếp vợ chồng qua một số truyện ngắn trước Cách mạng

Trang 12

9

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Hội thoại và phát ngôn ngôn ngữ

1.1.1.Hội thoại

Như chúng ta biết, giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều hình thức: Giao tiếp một chiều (độc thoại), giao tiếp hai chiều hoặc nhiều hơn Giao tiếp hai chiều là hoạt động

cơ bản nhất, phổ biến nhất của con người “Hội thoại là một trong những hoạt động

ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một mục đích nhất định.” [23, tr 18]

Hội thoại là một hoạt động xã hội Trong cuộc thoại khi hoạt động phản hồi nảy sinh, vai trò của hai người tham gia cuộc thoại đã thay đổi Bên nghe trở thành bên nói

và bên nói trở thành bên nghe Hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham gia, có thể có ba bên hoặc nhiều hơn thế Tuy nhiên hội thoại gồm hai bên là quan trọng nhất Trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi cũng chỉ đề cập đến hội thoại hai bên

Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu, các cuộc thoại

có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như: thời gian, không gian, nơi chốn, số lượng người tham gia, về cương vị với tư cách người tham gia cuộc thoại, về tính chất cuộc thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời…Những yếu tố này không tách rời nhau

mà liên kết nhau, tạo thành một khối lượng thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định [4, tr 72]

1.1.2 Hành động ngôn ngữ

Cũng như mọi hệ thống xã hội khác, hệ thống ngôn ngữ được sinh ra để thực hiện chức năng hướng ngoại – chức năng làm công cụ giao tiếp Khi ngôn ngữ được sử

Trang 13

10

dụng để giao tiếp thì người ta nói ngôn ngữ đang hành chức, hay ngôn ngữ hành chức khi con người nói năng bằng một ngôn ngữ nhất định Vậy nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con người – hành động bằng ngôn ngữ [22, tr.68]

Hành động ngôn ngữ được hiểu: Trong hội thoại “vai nói có thể dùng ngôn ngữ

để miêu tả một hiện tượng: a) Bầu trời hôm nay rất đẹp; để thuật lại một sự việc: b)

Hôm nay tôi gặp một người lạ mặt, người đó cứ nhìn tôi với vẻ gì đó mà tôi rất khó tả;

để khẳng định: c) Điều đó đúng; để bày tỏ một sự nghi vấn: d) Bạn đang làm gì?; để đưa ra một yêu cầu: đ) Anh hãy ra ngoài một lát; để khuyên nhủ: e) Anh nên bỏ thuốc;

để đe dọa: g) Mày thì liệu hồn; để khen ngợi: h) Em ngoan quá! [22, tr.69] Ta gọi các

hành động trong các ví dụ a,b,c,d,đ,e,g là những bộ phận nằm trong hoạt động giao tiếp nói chung – hành động ngôn ngữ

Theo J.L Austin, có ba loại hành động ngôn ngữ:

a Hành động tạo lời: Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ

âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo thành những phát ngôn hay những văn bản có thể hiểu được

b Hành động mượn lời: Là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ hay nói

cách khác là mượn các phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Hiệu quả này không đồng nhất ở những người nghe khác nhau

c Hành động ở lời (hành động ngôn trung, hành động trong lời): Là hành động

người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng gây ra những tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe

Đối tượng chúng tôi khảo sát là các phát ngôn hỏi – đáp (thuộc hành động ở lời),

vì thế trong phần này chúng tôi đi sâu vào nhóm hành động ở lời

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều

kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [3, tr.111]

Trang 14

11

J.R Searle chỉ ra 4 điều kiện cụ thể sau: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản

Tiêu chí nhận diện và phân loại hành động ở lời:

Để nhận diện hành động ở lời, có thể căn cứ vào các tiêu chí sau:

- Đích ở lời

- Cấu trúc hình tƣợng, bao gồm: Các kiểu kết cấu, những từ ngữ chuyên dùng cho biểu thức ngữ vi, ngữ điệu, động từ ngữ vi

- Nội dung mệnh đề

- Theo cách thể hiện lực ngôn trung

Phân loại hành động ở lời:

Để phân loại hành động ở lời, Austin đƣa ra 5 phạm trù: (1) Phán xử, (2) Hành

xử, (3) Cam kết, (4) Biểu cảm, (5) Tuyên bố

1.1.3 Phát ngôn ngôn ngữ

Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến: “Nếu xét ở góc độ nhận thức và sử dụng thì,

phát ngôn là phạm trù ngữ pháp – lôgic Ở phát ngôn có các nhân tố của tư duy, tức là

có cơ cấu của phán đoán logic gồm thành phần hư thể, thành phần vị thể, thành phần xác định và có các nhân tố ngữ pháp Nói đến phát ngôn là nói cú pháp và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất”

“Nếu xét ở góc độ cấp độ hệ thống cấu trúc thì câu là cái trừu tượng còn phát ngôn là cái cụ thể, câu là bất biến thể phát ngôn là biến thể, các phát ngôn làm chức năng hiện thực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là phương thức tồn tại của

mô hình đó Đến lượt mình, câu vừa thuộc bình diện ngôn ngữ vừa thuộc bình diện lời nói, còn phát ngôn là thuộc vào bình diện lời nói” [44, tr 199]

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “Phát ngôn chính là các thông điệp hình thành trên

cấu trúc của câu nhưng phải là kết quả của tất cả những quy tắc, những tác động vừa miêu tả” [44, tr 200]

Trang 15

12

Theo tác giả Diệp Quang Ban, “Nhìn chung, phát ngôn được hiểu là một hành

động giao tiếp, một đơn vị thông báo mà người nghe có thể tiếp nhận được trong điều kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Nói một cách thô thiển, phát ngôn là cái biểu hiện cụ thể trong từng lúc của câu Có thể hình dung một câu do nhiều người nói ra, hoặc do một người nói ra trong những lúc khác nhau Mỗi lần nói ra tương đương với câu ta có được phát ngôn Như vậy, một mặt câu là kết quả của quá trình phân tích vô vàn phát ngôn và rút ra được từ chúng, mặt khác câu là cơ sở để theo đó mà tạo ra những phát ngôn khác nhau” [44, tr 201]

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, “Một cách đầy đủ, phát ngôn có thể định nghĩa

như sau: Phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn, với một cấu trúc và nội dung nhất định nào đó (đầy đủ hoặc không đầy đủ) được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức, ở dạng viết, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt phát ngôn; ở dạng nói, nó có những kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt hơi; về mặt khối lượng, nó có thể được tận cùng bằng ngữ khí từ Theo tác giả, khi phân đoạn, đoạn văn sẽ được chia hết thành các phát ngôn, không có phần dư” [44, tr 201]

Để tiện cho việc khảo sát, trong luận văn của mình, chúng tôi quy ước 1 phát ngôn hỏi tương ứng với 1 câu hỏi, 1 phát ngôn đáp tương ứng với 1 câu trả lời

1.2 Vấn đề hỏi – đáp

1.2.1 Khái quát về câu hỏi

Hỏi là một hiện tượng có tính chất phổ quát trong đời sống, giao tiếp ngôn ngữ của con người Đây là một đối tượng có tính chất phức tạp, đa diện nhưng khá thú vị bởi không chỉ đơn thuần hỏi chỉ để biểu thị “điều chưa biết” “cái không rõ”, thông qua hành vi hỏi còn thể hiện cả một truyền thống văn hóa, tâm lí, phong tục tập quán…những cách hỏi khác nhau sẽ để lại những dấu ấn văn hóa khác nhau Qua hành

vi hỏi, chúng ta có thể lí giải, đánh giá được ngôn ngữ của người tham gia giao tiếp nói chung và nhân vật trong tác phẩm văn học nói riêng Có lẽ vì thế, dạng thức câu hỏi thu

Trang 16

1.2.1.2 Đặc điểm về hình thức của câu hỏi

Theo Bách khoa thư ngôn ngữ học do William Bright chủ biên (1992) thì câu hỏi trong các ngôn ngữ thường có đặc trưng hình thức phổ biến là:

- Ngữ điệu lên giọng ở cuối câu với câu hỏi có – không

- Các từ nghi vấn đứng ở vị trí đầu câu hoặc đứng ở vị trí trước động từ

- Đảo vị trí của động từ làm vị ngữ đứng sau chủ ngữ trong câu tường thuật lên trước chủ ngữ trong câu hỏi Việc đảo trật tự này chỉ xảy ra trong các ngôn ngữ có hiện tượng đảo trật tự từ trong các câu hỏi đặc biệt mà trong các câu hỏi ấy có từ nghi vấn đứng ở đầu câu

1.2.1.3 Đặc điểm về nội dung của câu hỏi

Theo Bách khoa thư ngôn ngữ học do William Bright chủ biên thì câu hỏi là một loại câu có cấu trúc phổ quát, và có ít nhất một chức năng phổ quát là nhằm cung cấp một lượng thông tin nào đó Xét về mặt ngữ nghĩa câu hỏi khác câu tường thuật đó

là chúng không thể là chân thực hay không chân thực, là hành động ngôn ngữ câu hỏi giống với câu mệnh lệnh là chúng cần phải có phản ứng đáp lại nào đó Ngoài yêu cầu cung cấp lượng thông tin, câu hỏi có thể có một số chức năng khác nữa, câu hỏi có thể dùng như những yêu cầu gián tiếp mà không cần câu trả lời bằng ngôn từ

Trang 17

14

Ở Việt Nam, câu hỏi thường được nhận diện theo mục đích nói Tác giả Nguyễn

Kim Thản cho rằng: “Câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của người nói

và nói chung đòi hỏi người nghe tường thuật về đối tượng hay đặc trưng của đối tượng” [44, tr 34] Tác giả Hoàng Trọng Phiến thì định nghĩa: “Câu hỏi là một thể câu thuộc phạm trù phân chia câu theo thực tại hóa Nếu như câu kể là thuộc phạm trù câu hiện thực thì câu hỏi thuộc phạm trù câu khả năng Bởi lẽ các sự kiện làm biểu vật cho câu là khả năng hoặc phi hiện thực.” “Cho dù ở dưới dạng nào, trong nội dung câu hỏi đều làm nổi rõ một “cái không rõ” mà câu trả lời cần hướng đến” Tác giả còn đưa ra một loại câu hỏi khác mà nội dung các câu hỏi đó không cần trả lời trong hoạt động giao tiếp, “hỏi nhằm đạt đến sự đồng tình của người nghe, người đọc, loại câu hỏi như vậy thường gọi là câu hỏi tu từ” [44, tr 35]

Như vậy đặc điểm nhận diện về nội dung của câu hỏi bao giờ cũng biểu thị

“điều chưa biết” hoặc “cái không rõ”, để người nghe đáp lại “điều chưa biết, cái không rõ” ấy

1.2.1.4 Phân chia câu hỏi và phương thức biểu hiện hành vi hỏi

Có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các loại câu hỏi Theo hai tác giả Ange la Downing và Philip locke thì câu hỏi là câu có cấu trúc nghi vấn gồm 3 loại: Câu nghi vấn phân cực, câu nghi vấn không phân cực và câu nghi vấn lựa chọn Tác giả Diệp Quang Ban lại cho rằng: Câu nghi vấn được dùng để nêu lên điều chưa biết, hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó và được chia làm 4 loại: Câu nghi vấn có đại từ nghi vấn, câu nghi vấn có kết từ “hay” và nghi vấn có phụ từ nghi vấn, câu nghi vấn có tiểu từ chuyên dụng, câu nghi vấn dùng ngữ điệu Tác giả Cao Xuân Hạo lại chia câu hỏi thành hai loại lớn: câu hỏi chính danh và câu hỏi có giá trị ngôn trung khác: câu hỏi có giá trị cầu khiến, câu hỏi có giá trị khẳng định, câu hỏi có giá trị phủ định, câu hỏi phỏng đoán hay ngờ vực hay ngần ngại, câu hỏi có giá trị cảm thán

Trang 18

15

Trong luận văn này chúng tôi chọn cách phân loại của tác giả Nguyễn Đăng Sửu Câu hỏi được chia thành hai loại lớn: Câu hỏi đích thực và câu hỏi không đích thực Trong mỗi loại này tác giả lại chia thành 3 loại: Câu hỏi có – không, câu hỏi lựa chọn và câu hỏi có từ nghi vấn [31, tr 21] Cụ thể như sau:

a Câu hỏi đích thực: “là những câu hỏi yêu cầu người nghe trả lời, cung cấp

lượng thông tin còn khuyết thiếu hoặc còn chưa rõ theo mục đích của người phát ngôn”

Tác giả Nguyễn Đăng Sửu cũng đưa ra các mô hình câu hỏi cụ thể (trong sự đối chiếu với câu hỏi trong tiếng Anh)

b Câu hỏi không đích thực: “là loại câu hỏi không liên quan đến câu trả lời, nó

được dùng như một phương tiện truyền cảm, hỏi để thực hiện những mục đích khác nhau của người phát ngôn”

Đây là loại câu hỏi dùng với mục đích khác nhau trong giao tiếp, và trong tư duy hết sức đa dạng

Trong thực tế tiếng Việt, chúng ta có thể gặp nhiều trường hợp hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để chào, để ca thán, cầu khiến, khẳng định, phủ định…Như vậy, việc hỏi và đáp không phải là đặc trưng tất yêu của câu hỏi Tác giả Nguyễn Đăng Sửu

cho rằng: “Bản chất của câu hỏi là sự diễn đạt những điều còn băn khoăn, chưa rõ,

những tâm sự, những ước muốn hoặc những nhận xét… của người nói dưới dạng thức nghi vấn trong giao tiếp hàng ngày.”

Đối với câu hỏi không đích thực, chúng ta cần phải chú ý tới các yếu tố như: các nguyên tắc hội thoại, phép lịch sự…Tác giả Nguyễn Đăng Sửu đã chỉ ra “điều kiện sử dụng câu hỏi không đích thực” Cụ thể như sau:

Trong giao tiếp ngôn ngữ, ta có thể gặp trường hợp cần phải lựa chọn các câu hỏi “đồng nghĩa”: một câu hỏi không đích thực tương đương với một câu hỏi không đích thực Tính đa dạng ở mặt biểu hiện của ngôn ngữ (cấu trúc ngữ pháp, hình thức), năng lực ngôn ngữ của đối tượng sử dụng (vai giao tiếp – người nói/ người nghe) và sự

Trang 19

16

vận dụng ngôn ngữ (mục đích giao tiếp) là những nhân tố chi phối cách hiểu nội dung hỏi trong các câu hỏi đồng nghĩa Thí dụ trong hai câu nói:

Có ai ngồi đây chưa? (a)

Tôi có thể ngồi đây được không? (b)

Khi nói câu (a) người nói dùng khuôn hỏi “đã…chưa?” và tin chắc người nghe trả lời chưa, còn khi nói câu (b) dùng kiểu câu hỏi với hi vọng nhận được lời đáp có thể được, nghĩa là hiệu lực ở lời (đề nghị) sẽ được thực hiện

Như vậy từ những phân tích tương tự như trên tác giả đã đưa ra những điều kiện

sử dụng đối với câu hỏi không đích thực trong tiếng Anh và tiếng Việt Một mặt, hành động lời nói phải tuân thủ các qui tắc phổ quát của hành động xã hội và những qui tắc riêng phù hợp với đặc điểm của bản thân ngôn ngữ Nhưng mặt khác, vấn đề đặt ra là: tại sao một câu hỏi lại được dùng với mục đích sai khiến, trần thuật hay cảm thán (theo cách phân loại truyền thống trong các sách dạy tiếng), mà không dùng để hỏi và làm thế nào để nhận biết được mục đích đó ở câu hỏi?

1.2.2 Khái quát về câu trả lời

Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên năm 1998, “Trả lời” tức là nói cho người khác biết điều người ấy hỏi hoặc yêu cầu

Hỏi – trả lời luôn là một cặp hội thoại tương tác Trước mỗi câu hỏi có thể có nhiều câu trả lời Tuy nhiên “các câu trả lời đó đều thuộc một trong hai phương thức cơ bản của hành vi trả lời là trả lời trực tiếp và trả lời gián tiếp” [43, tr 23] Trả lời trực tiếp là trả lời một cách hiển ngôn, đáp ứng trực tiếp vào điểm hỏi Trả lời gián tiếp là trả lời một cách hàm ngôn, người nghe phải thông qua suy diễn ngữ nghĩa mới rút ra được thông tin mà người nói muốn truyền đạt

Điều mà người hỏi mong muốn là câu trả lời trực tiếp Khi đó những thông tin

mà họ chờ đợi được đáp ứng một cách cụ thể Nhưng về phía người trả lời không phải lúc nào họ cũng trả lời một cách trực tiếp mà có thể trả lời theo kiểu gián tiếp, bóng gió, lửng lơ hoặc cũng có thể láng tránh…Chính điều này làm cho cuộc thoại trở nên

Trang 20

17

hấp dẫn hơn “Những câu trả lời không trực tiếp như vậy luôn gắn với những hành vi

ngôn ngữ gián tiếp, chuyển tải một thông tin ngầm, ẩn chứa đằng sau câu chữ cụ thể.”

[43, tr 20]

Lý thuyết hội thoại cũng chỉ ra rằng mỗi hành vi ngôn ngữ đều có đích của nó Với các hành vi trả lời (nói chung) cũng vậy Xét một cách tổng quát, hành vi trả lời

được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu của hành vi hỏi “Tuy nhiên trong từng trường

hợp cụ thể, hành vi trả lời nói chung và nhất là các câu trả lời gián tiếp nói riêng, có thể chỉ đáp ứng một trong các yếu tố của câu hỏi như: điều tiền giả định, điều hỏi, người hỏi, cách thức hỏi hoặc đối tượng dược nhắc đến trong câu hỏi…Có khi nghĩa tình thái trong câu hỏi cũng là đích của hành vi trả lời” [43, tr.21]

1.2.2.1 Trả lời trực tiếp

Như trên đã nói: trả lời trực tiếp là trả lời một cách hiển ngôn, đáp ứng trực tiếp vào điểm hỏi Khi nghe câu trả lời, người hỏi có thể hiểu và thỏa mãn được yêu cầu hỏi của mình Đây thường là đích hướng tới của người hỏi

1.2.2.2 Trả lời gián tiếp

Là loại câu trả lời mang tính chất hàm ngôn, không trực tiếp Người hỏi có thể nhận được những thông tin gián tiếp liên quan đến câu hỏi để từ đó có thể suy diễn, hiểu được những điều mình muốn biết Một số biểu hiện của trả lời gián tiếp:

a.Phủ định lại điều được hỏi

Đôi khi người hỏi đưa ra tiền giả định và hỏi về những điều liên quan Trong một số trường hợp người trả lời phủ định lại những tiền giả định đó

b Lảng tránh câu trả lời

Có thể vì một lí do nào đó như một vấn đề tế nhị, khó nói, người trả lời chọn cách lảng tránh Họ có thể đáp lại bằng những câu trả lời mang ý khác, cũng có thể không trả lời

c Trả lời bằng câu hỏi lại

Người được hỏi có thể hỏi lại thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi người hỏi đặt ra

Trang 21

18

1.3 Chiến lược giao tiếp

“Chiến lược giao tiếp là một loạt những biện pháp làm thuận lợi cho giao tiếp, làm cho phát ngôn của người nói phù hợp với chuẩn xã hội” [25, tr 54]

Để tiến hành giao tiếp, mỗi bên tham gia phải thiết lập quan hệ giao tiếp tức là phải xác định vai giao tiếp của mình và xác định được vai giao tiếp của người đối thoại

để từ đó có chiến lược giao tiếp giao tiếp cụ thể Chính vì lẽ đó mà trong giao tiếp nhiều phát ngôn ngôn ngữ đã được hiện thực hóa thành những khuôn mẫu Bên cạnh

đó để thực hiện một phát ngôn ngôn ngữ nào đó với người đối thoại, người tham gia giao tiếp thường chú ý đến mục đích và hiệu quả giao tiếp Muốn vậy các bên tham gia giao tiếp phải tuân thủ nguyên tắc giao tiếp và có chiến lược giao tiếp

Chiến lược giao tiếp phân biệt với nguyên tắc giao tiếp ở chỗ: chiến lược giao tiếp quan tâm đến việc làm sao tiếp cận đến mục đích càng hiệu quả càng tốt còn nguyên tắc giao tiếp quan tâm đến việc làm sao để cuộc thoại không thất bại Trong khi giao tiếp mọi người đều có ý thức tự giác hay không tự giác sử dụng những chiến lược

giao tiếp nhất định, nhằm thực hiện mục đích giao tiếp cụ thể “Vì thế giao tiếp ngôn

ngữ trên thực tế là vận dụng các chiến lược giao tiếp” [25, tr 54]

1.4 Một số vấn đề về giới và giới trong ngôn ngữ

1.4.1 Khái niệm về giới

Giới tính (Sex) chỉ sự khác biệt về mặt thể chất (tức sinh lý học) giữa nam giới

và nữ giới “Sự khác biệt này, chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi

và do các yếu tố di truyền tự nhiên (sinh học) qui định” [1, tr 21]

Giới là “lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội, v.v [29, tr 389] Khi nói đến giới là nói đến điệu kiện và yếu tố xã hội qui định, vai trò và phát ngôn xã hội của mỗi giới không phải là bất biến

mà thay đổi khi các điều kiện qui định về chúng thay đổi

Trang 22

19

1.4.2 Giới trong ngôn ngữ

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của con người, bản thân nó không bao hàm sự phân biệt về giới tính, nhưng do có sự khác biệt về phân công xã hội, về đặc trưng tính cách về sinh lý giữa hai giới nam và nữ nên mỗi một ngôn ngữ đều mang trong nó những đặc trưng giới tính rõ nét Chính vì vậy, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính

đã sớm được các nhà ngôn ngữ học xã hội trên thế giới quan tâm nghiên cứu Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa hai giới thể hiện chủ yếu trên

ba phương diện:

Thứ nhất, đó là sự khác nhau về cấu tạo cơ thể, “như vị trí của phần “chứa”

ngôn ngữ trong não cũng như những đặc điểm về sinh lí cấu âm”

Thư hai, thể hiện ở ngôn ngữ được dùng để nói riêng về từng giới

Thứ ba, là sự khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ ở mỗi giới

Để giải thích sự khác biệt này, người ta thường dẫn ra những nguyên nhân sau đây:

- Do sự khác nhau về cấu tạo sinh lý (chủ yếu là cơ quan phát âm) dẫn đến phương thức phát âm khác nhau

- Do đặc điểm sinh lý khác nhau của nam và nữ tạo nên sự khác biệt trong sử dụng ngôn ngữ

- Do những mặc định về quan niệm xã hội và truyền thống văn hóa đã ảnh hưởng tới ngôn ngữ của mỗi giới

- Do sự bất bình đẳng về quyền lực và địa vị trong xã hội tạo nên hiện tượng kì thị giới tính trong ngôn ngữ

- Do ảnh hưởng của hoàn cảnh sống và bối cảnh ngôn ngữ của mỗi người trong quá trình phát triển ngôn ngữ

Từ những năm 70 của thế kỷ XX, cùng với các công trình nghiên cứu về giới, thì mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ đã thu hút được sự chút ý của nhiều nhà ngôn

Trang 23

2000, 2003; Lương Văn Hy, 2000; Vũ Tiến Dũng, 2002; Trần Xuân Điệp, 2001, 2002,

2003 Đặc biệt phải kể đến tác giả Nguyễn Văn Khang với công trình “Ngôn ngữ học

xã hội những vấn đề cơ bản”, 2003 Theo tác giả, mối quan hệ giữa giới tính và ngôn

ngữ không chỉ được xem xét trong nội bộ ngôn ngữ ở các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, mà phải nhìn theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học xã hội, liên quan đến nhiều vấn đề như: sinh học, địa vị, vai trò gia đình…

Trang 24

21

Chương 2: CHỦ ĐỀ VÀ CÁCH XƯNG HÔ CỦA CÁC PHÁT NGÔN HỎI – ĐÁP ĐỐI VỚI CẶP GIAO TIẾP VỢ CHỒNG QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN

TRƯỚC CÁCH MẠNG 2.1 Chủ đề của các phát ngôn hỏi – đáp

Mỗi cặp vợ chồng thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau lại giao tiếp xoay quanh các chủ đề khác nhau và đó là một nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau trong sử dụng ngôn từ với các phát ngôn hỏi đáp

Chủ đề thủy chung chồng vợ được đề cập đến trong cả 4 đối tượng giao tiếp: vợ chồng lao động bình dân, chồng là trí thức vợ là lao động bình dân, vợ chồng thành thị,

vợ chồng quan lại, đó cũng là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh mâu thuẫn

vợ chồng và dẫn đến sự khác biệt trong sử dụng ngôn ngữ ở các cặp hỏi đáp

Chủ đề kinh tế gia đình cũng là một trong những chủ đề chính chi phối đến việc

sử dụng ngôn ngữ trong các cuộc hỏi đáp của vợ chồng, đặc biệt ở các cặp vợ chồng lao động bình dân, chồng là trí thức và vợ là lao động bình dân

2.1.1 Vợ chồng lao động bình dân

Vợ chồng lao dộng bình dân xuất hiện trong 12 truyện ngắn với 54 cặp hỏi đáp Chủ đề bao trùm lên các cặp hỏi đáp này, chủ yếu xoanh quanh cuộc sống “cơm áo gạo tiền” của các gia đình nghèo Chính sự bí bách về kinh tế, kéo theo hàng loạt các vấn

đề khác, trong đó có vấn đề xưng hô và các chiến lược hỏi đáp…

Trong số 12 truyện ngắn được khảo sát, thì có tới 7 truyện xuất hiện các cặp hỏi đáp liên quan đến chủ đề kinh tế gia đình, còn lại là xoay quanh các vấn đề: mối quan

hệ trong gia đình, sự thủy chung vợ chồng

Các cuộc cãi vã giữa các cặp vợ chồng bình dân đều bắt nguồn từ vấn đề kinh

tế Gia đình khó khăn, cái ăn, cái mặc chẳng đủ, đó là chưa kể tới những gia đình đông con, gánh nặng tâm lý lại càng đè nặng lên đôi vai họ, vì vậy cãi vã, chửi mắng là điều tất yếu xảy ra với họ

Trang 25

22

Chính vì bắt nguồn từ những chủ đề này mà với các cặp vợ chồng lao động bình dân, lối xưng hô được dùng chủ yếu là xưng hô trống không và xưng hô mày - tao/ông Đôi khi có tình cảm hơn nhưng lại với mục đích lợi dụng nhau hoặc mục đích kinh tế

Một lúc thật lâu, anh chồng về Anh vừa lau tay vào vạt áo, vừa tươi cười hỏi:

- Nhà còn gạo không?(Anh chồng hỏi chị vợ về gạo để đãi cơm khách)

- Làm gì mà còn gạo! (Chị vợ trả lời chồng bằng thái độ tức tối)

(Trẻ con không được ăn thịt chó – Nam Cao)

Nhà đang thiếu gạo chồng lại rước khách về nhà tiếp đãi, khiến vợ bực tức, hai

vợ chồng nói chuyện xưng hô trống không, tiếp đó là cãi và và lên đến cao trào, chồng chuyển sang cách xưng hô mày – tao

Mắt hắn trợn lên Hắn gườm nhìn vợ một giây, rồi hục hặc:

- Cái giống nhà mày khó bảo!

Mắt người vợ đã rân rấn nước Hắn biết là hắn thắng Chỉ cần khéo hơn một chút Hắn lại xoay ra đấu dịu:

- Cái thứ người đâu mà ngang như cua vậy? Phải biết: tao muốn mất tiền làm gì

chứ? Nhưng chết cái ăn của người ta mãi, chẳng lẽ không mời lại người ta một bữa thì cái mặt mình còn ra mặt gì? Nhân tiện con chó nó ăn phải bả hay sao mà chẳng biết, sáng hôm nay cứ rú lên rồi lăn ra giãy chết…

(Trẻ con không được ăn thịt chó – Nam Cao)

Với tương quan chủ đề giao tiếp trong các phát ngôn hỏi đáp của các cặp vợ chồng là lao động bình dân chủ yếu xoay quanh vấn đề kinh tế gia đình, người chồng dường như là người chủ động hơn trong các cuộc giao tiếp Người chồng sử dụng nhiều câu hỏi hơn và chủ yếu là câu hỏi không đích thực với mục đích khẳng định lại điều gì đó Trong khi đó, với câu trả lời, người vợ lại sử dụng nhiều hơn, đặc biệt là cách trả lời gián tiếp

- Mả bố mày vẫn để ở cửa kia à? (Chồng hỏi vợ với ý thúc giục)

… Con vợ túm lấy thằng chồng, vừa thở vừa nói :

Trang 26

Như vậy, chủ đề xoay quanh các cặp hỏi đáp ở đây, phần lớn vẫn là vấn đề kinh

tế Kinh tế khó khăn, kéo theo mối quan hệ vợ chồng có những cung bậc cảm xúc khác nhau, thường là các cuộc tranh luận, cãi vã mặc dù chồng là những nhà văn, những trí thức

Trong các cuộc cãi vã, họ chủ yếu dùng lối xưng hô trống không, ở cả vợ và chồng, không xuất hiện lối xưng hô mày – tao như những cặp vợ chồng là lao động bình dân

Thị ngạc nhiên:

- Làm gì? (Vợ hỏi trống không)

- Dạy học (Chồng trả lời trống không)

(Cười – Nam Cao)

Mặc dù chồng là trí thức, không phải tầng lớp lao động bình dân nhưng lại là những trí thức nghèo, không kiếm đủ tiền để nuôi vợ và con Chính vì thế, gánh nặng

“cơm áo gạo tiền” lại đè lên vai người vợ, họ vừa lao động vất vả vừa lo toan gia đình nên người chồng thường chịu nhún nhường trước vợ Trong các cuộc giao tiếp, người

vợ thường chủ động hơn, sử dụng nhiều câu hỏi hơn chồng, trong đó phần lớn là các câu hỏi không đích thực với mục đích khẳng định, trách móc, chửi bới, tức giận Đáp lại những câu hỏi của vợ, người chồng trả lời nhiều hơn và chủ yếu là cách trả lời gián tiếp là im lặng hoặc không trả lời

Trang 27

Hắn quắc mắt lên, và nghiến răng…

- Im ngay! Câm cái mồm!

- Câm…câm cái gì?(Vợ tức giận khi chồng ra phố về lại quên không không

mang thuốc cho con)

(Nước mắt – Nam Cao)

2.1.3 Vợ chồng thành thị

Trong 4 truyện được khảo sát thì cả 4 truyện đều của tác giả Thạch Lam và có tới 3 truyện xoay quanh chủ đề về mối quan hệ của các thành viên trong gia đình (Bố với đứa con mới sinh, vợ chồng với mẹ già ở quê, vợ với bạn chồng) và 1 truyện đề cập đến vấn đề kinh tế và thủy chung vợ chồng khi gia đình túng thiếu, vợ phải giấu chồng bán thân lấy tiền, chồng đau xót ê chề khi vô tình phát hiện ra điều đó

Có thể đối tượng giao tiếp ở đây thuộc tầng lớp xã hội khác, họ là dân thành thị, đặc biệt dưới ngòi bút của tác giả Thạch Lam, họ xuất hiện cũng nhẹ nhàng hơn, thanh lịch hơn Ít thấy ở họ những cuộc cãi vã mà chủ yếu là trò chuyện, tranh luận, họ sử dụng cả 3 lối xưng hô: trống không, cậu/mợ - em, anh – em

Sinh vơi lấy tay nàng kéo xuống bên mình, âu yếm hỏi:

Trang 28

25

- Ai thế? Kể đi cho anh nghe (Chồng hỏi vợ câu hỏi có từ hỏi “ai”)

Mai âu yếm nhìn chồng:

- Không, anh cứ ăn đi đã kia Vừa ăn, em sẽ vừa nói chuyện (Vợ trả lời lảng

Không có truyện ngắn nào đề cập tới vấn đề kinh tế gia đình, tuy nhiên các cuộc cãi vã giữa vợ chồng quan thường xuyên xảy ra, xoay quanh các vấn đề về việc quan

và sự thủy chung chồng vợ

Mối quan hệ giữa vợ chồng quan có thể phân thành 2 trường hợp chính: 1 Quan ông sợ, lép vế so với quan bà, 2 Quan ông thường quát mắng quan bà, quan bà phải nghe theo và chịu nín nhịn

Với trường hợp 1, họ thường sử dụng cách xưng hô trống không, tuy nhiên khi xảy ra cãi vã liên quan tới việc quan hay thủy chung vợ chồng, quan ông có thể đổi cách xưng hô thành mày – tao/ông

Nhìn chung, ở cả hai trường hợp này, khi sử dụng các phát ngôn hỏi, câu hỏi không đích thực được quan ông dùng nhiều hơn với mục đích chửi bới, trách móc, tức giận Trong khi đó cách trả lời gián tiếp được dùng là chủ yếu, đặc biệt với quan bà, trả lời gián tiếp bằng cách im lặng hoặc trả lời sang ý khác

- Mày có đi hay không?

Bà tối tăm mặt mũi, hổn hển thách:

- Đây, cậu cứ đánh chết tôi đi (Quan bà không trả lời trực tiếp lại câu hỏi của

quan ông)

(Xuất giá tòng phu – Nguyễn Công Hoan)

Trang 29

26

2.2 Xưng hô trong các phát ngôn hỏi – đáp

Mỗi cặp vợ chồng thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau sẽ sử dụng những cách xưng hô khác nhau trong giao tiếp nói chung và trong các phát ngôn hỏi đáp nói riêng Cách xưng hô trống không được sử dụng với cả 4 cặp vợ chồng, tuy nhiên ở mỗi cặp

vợ chồng sẽ có mức độ sử dụng khác nhau ở vợ hoặc chồng Cách xưng hô trống không có thể diễn trong trường hợp vợ chồng cãi vã và thiếu tôn trọng nhau, nhưng cũng có thể là khi vợ chồng thể hiện sự bình đẳng, giản dị đến không cần khách sáo trong giao tiếp

Ngoài ra, với mỗi cặp giao tiếp sẽ xuất hiện các cách xưng hô khác nhau: xưng

hô mày – tao/ông, xưng hô anh – em, xưng hô mình – em/tôi/người ta, xưng hô cậu/mợ

- tôi, ông/bà – tôi, bố mày/thầy em/bu mày/người ta/bu em – tôi

2.2.1 Vợ chồng lao động bình dân

Xuất hiện trong các cặp hỏi đáp ở đối tượng giao tiếp này phổ biến 3 cách xưng hô: Xưng hô trống không, xưng hô mày – tao/ông, xưng hô thân mật: Bố mày/thầy em/bu mày/người ta/bu em – tôi

Trong 3 cách xưng hô này, cách xưng hô trống không được sử dụng nhiều hơn

cả, trong đó người vợ chiếm ưu thế Nó có thể xuất hiện trong các cuộc cãi vã hoặc nó mộc mạc, giản dị đến không cần khách sáo như chính bản chất của những người lao động bình dân vậy Xưng hô mày – tao/ông xuất hiện trong các phát ngôn hỏi đáp của

cả vợ và chồng nhưng chồng sử dụng nhiều hơn hẳn Nó thường xuất hiện khi người phát ngôn tỏ ra nóng nảy lúc tranh luận, cãi vã Tuy nhiên, trong cách xưng hô tình cảm hơn, người chồng cũng là đối tượng sử dụng nhiều hơn người vợ Điều đáng nói là cách xưng hô tình cảm không phải xuất hiện trong những hoàn cảnh giao tiếp bình thường mà thường là hệ quả sau một quá trình giao tiếp, người vợ/chồng muốn hoặc đã đạt được mục đích nào đó của mình, từ đó mới thay đổi chiến lược giao tiếp là chuyển đổi cách xưng hô

Có thể hình dung qua bảng sau:

Trang 30

2.2.1.1 Xưng hô trống không

Lối xưng hô này xuất hiện trong 5 truyện ngắn, với 30 phát ngôn được sử dụng, trong đó vợ sử dụng 19 phát ngôn và chồng sử dụng s11 phát ngôn

- Không thế để nó ăn hết, hả? (Chồng bực mình vì chuyện con mèo, hỏi lại vợ

nhưng hỏi trống không)

- Có mốc gì mà nó ăn? Không trách được!…(Vợ cũng bực mình không kém, trả

lời chồng bằng câu hỏi lại, cũng hỏi trống không)

(Con mèo – Nam Cao)

Cách xưng hô trống không của vợ chồng thường thấy xuất hiện trong trường hợp cãi vã, giận dỗi hoặc cũng có thể bình dị đến không cần khách sáo, được người vợ

sử dụng nhiều hơn trong các cuộc hỏi – đáp

- Biết đứa nào mà đánh? (Hai vợ chồng nói chuyện tâm sự, chị vợ hỏi trống

không với chồng)

- Sao chả biết? Làng này có những đứa nào đi ăn trộm, còn ai chả biết? Tôi cứ vác gậy ra nằm dưới vệ đê, chỗ chúng nó hay qua lại Vô phúc thằng nào gặp tôi…

(Rình trộm – Nam Cao)

2.2.1.2 Xưng hô Mày – tao/ông

Xưng hô mày - tao

Trang 31

28

Lối xưng hô mày – tao xuất hiện trong 5 truyện ngắn với 11 phát ngôn hỏi đáp, trong đó chồng sử dụng 8 phát ngôn, vợ sử dụng 3 phát ngôn Điều đó chứng tỏ chồng thể hiện sự nóng nảy hơn so với vợ trong các cuộc tranh luận, chửi mắng Họ có thể dễ dàng chửi mày, xưng tao hơn so với người vợ

Vợ nó ở trong tất tả chạy ra…

- Mày bắt tao cất cái này? Quý hóa lắm thế à? Ối đời ơi là đời! Chồng ơi là

chồng!

Thằng chồng chẳng nói chẳng rằng, tát bốp vào má vợ một cái rồi đe:

- Mày muốn ở tù thì quang quác cái mồm lên, ông truyền đời cho mày không cất

cái này, lúc ông về thì đừng chết!

(Gói đồ nữ trang – Nguyễn Công Hoan)

Trong đoạn hội thoại có chứa các cặp hỏi đáp trên, cách xưng hô mày – tao được cả vợ và chồng sử dụng trong hoàn cảnh: cả hai vợ chồng đều không hiểu nhau

và không tôn trọng nhau

Chị chỉ vào mặt anh mà hổn hển:

- Mẹ! Không có sợi, không bán thì để mà thờ ông tổ nhà mày, hở?

- Không có sợi! Ấy thế cho nên mày mới giỏi…Không có sợi, mà người ta đang

đi khám khung cửi từng nhà đây kia

Anh cu Thiêm đứng phắt lên, như một cái lò xo bật Mặt anh tái mét

- Người ta đi khám thật?

- Ấy đấy! Ấy đấy! Mày đã biết cái dại nhà mày chưa? Bây giờ mày mới trơ mắt ếch nhà mày ra Sung sướng thật!

- Không sợ! Tao đi kiếm…Cái thẻ của tao đâu rồi? à, trong kèo nhà…

Vợ chồng cãi nhau liên quan đến vấn đề kinh tế gia đình Lí do vợ chửi chồng bởi chồng đã bán khung cửi dệt vải, công cụ kiếm tiền của cả nhà Thấy vợ chửi mắng gay gắt, chồng cũng gay gắt không kém

Thằng chồng phát gắt mà rằng:

Trang 32

29

- Cái đời đàn bà chúng mày sao mà ngu thế? Chết rồi, thì việc cúng giỗ chẳng

qua là việc dối lừa thiên hạ, bộ răng vàng ấy đem bán đi không được chục bạc hay

sao? Mày không nghe ông mặc kệ mày, miễn sao mày đừng để cho vợ chồng anh cả biết Ông làm gì thì mặc xác ông!

Rồi nó nguây nguẩy quay vào, để cho vợ một mình đứng đấy

(Bộ răng vàng – Vũ Trọng Phụng)

Nàng nghẹn ngào, buông đũa đứng dậy toan bước xuống dưới nhà Nhưng có tiếng xô ghế, rồi một bàn tay nắm chặt lấy cổ nàng:

- Mày bảo mẹ tao ác à? Không ác để cho mày tự tiện đi theo trai phải không?

Bàn tay như sắt bóp chặt xoay nàng lại Liên thấy giáp mặt mình, cái mặt ghê

sợ của Tích, hai mắt đỏ ngầu

(Một đời người – Thạch Lam)

Trong hai ví dụ trên, chồng xưng mày – tao với vợ trong khi vợ chỉ biết ngậm ngùi im lặng

Xưng hô mày – ông: Xuất hiện trong 2 phát ngôn, đều được người chồng sử dụng để đe dọa vợ

Thằng chồng phát gắt mà rằng:

- Cái đời đàn bà chúng mày sao mà ngu thế? Chết rồi, thì việc cúng giỗ chẳng

qua là việc dối lừa thiên hạ, bộ răng vàng ấy đem bán đi không được chục bạc hay

sao? Mày không nghe ông mặc kệ mày, miễn sao mày đừng để cho vợ chồng anh cả biết Ông làm gì thì mặc xác ông!

Rồi nó nguây nguẩy quay vào, để cho vợ một mình đứng đấy

(Bộ răng vàng – Vũ Trọng Phụng)

Thằng chồng chẳng nói chẳng rằng, tát bốp vào má vợ một cái rồi đe:

- Mày muốn ở tù thì quang quác cái mồm lên, ông truyền đời cho mày không cất cái này, lúc ông về thì đừng chết!

(Gói đồ nữ trang – Nguyễn Công Hoan)

Trang 33

30

2.2.1.3 Xưng hô thân mật: Bố mày/thầy em/bu mày/người ta/bu em – tôi

Người vợ, gọi Bố mày/thầy em và xưng tôi Người chồng, gọi Bu mày/người ta/bu em và xưng tôi

Lối xưng hô này được sử dụng trong 15 phát ngôn, trong đó người vợ sử dụng

5, chồng sử dụng 10

Tuy nhiên, cách xưng hô này có khi được sử dụng khi “đối phương” có mục đích gì khác thường Khi đó, vợ/chồng thay đổi đột ngột cách xưng hô

Vợ nó ở trong tất tả chạy ra…

- Mày bắt tao cất cái này? Quý hóa lắm thế à? Ối đời ơi là đời! Chồng ơi là

chồng!

Thằng chồng chẳng nói chẳng rằng, tát bốp vào má vợ một cái rồi đe:

- Mày muốn ở tù thì quang quác cái mồm lên, ông truyền đời cho mày không cất

cái này, lúc ông về thì đừng chết!

Một lúc lâu, thằng chồng về Thấy cái thùng vẫn nguyên ở đó, nó hầm hầm đẩy cửa đánh xình một cái, quát :

- Mả bố mày vẫn để ở cửa kia à?

… Con vợ túm lấy thằng chồng, vừa thở vừa nói:

- Mày bảo mả bố ai thì để cái mả bố ấy ra ngoài kia

(Gói đồ nữ trang – Nguyễn Công Hoan)

Khi nhận ra rằng chồng mình ăn trộm được một món đồ nữ trang bằng vàng, vợ đổi cách xưng hô ngay thành: bố mày - tôi :

- Sao bố mày không bảo thực ngay với tôi từ trước? Bố mày khôn quá! Này,

phải đổ ra đất mới dễ tìm hạt vàng, vì nó bé quá!

(Gói đồ nữ trang – Nguyễn Công Hoan)

Khi không thuyết phục được vợ thì quát mắng vợ và xưng hô mày – tao:

Trang 34

31

- Cái thứ người đâu mà ngang như cua vậy? Phải biết: tao muốn mất tiền làm gì

chứ?

(Trẻ con không được ăn thịt chó – Nam Cao)

Sau khi đã thuyết phục được vợ thì chuyển ngay, gọi vợ là: u mày và xưng: tôi

Thị đứng lên, vừa nguýt hắn, vừa lạu bạu:

- Đong mấy hào?

Thế là hắn lại đổi mặt ra tươi cười:

- Thì bu mày liệu đấy Có ba người khách với tôi là bốn Với mẹ con nhà mày

nữa

(Trẻ con không được ăn thịt chó – Nam Cao)

Cách xưng hô thân mật: Bu em/thầy em – tôi, nhưng lại diễn ra trong hoàn cảnh

vợ đi ngoại tình, khi về nhìn thấy chồng sắp chết thì tỏ lòng thương xót và thân thiện khiến chồng cũng động lòng:

Nó đặt bàn tay lên ngực anh và mếu máo:

- Thầy em ơi! Thầy em làm sao thế? Anh lắc đầu Không phải là cái lắc đầu

giận dỗi đâu Đó là cái lắc đầu thất vọng Anh biết anh không còn sống nữa Anh tiếc

vợ Anh tiếc đời Nhưng chút tình thương - thành thực hay giả trá - của con vợ đẹp đã làm anh sống lại

(Điếu văn – Nam Cao)

2.2.2 Chồng là trí thức, vợ là lao động bình dân

Với các đối tượng giao tiếp chồng là trí thức, vợ là lao động bình dân trong các truyện ngắn được khảo sát, có hai cách xưng hô được sử dụng: xưng hô trống không, xưng hô mình – em/tôi/người ta Điều đáng nói là trong mỗi cách xưng hô này, người

vợ và người chồng đều sử dụng với số lượng tương đương Tuy nhiên, trong hai lối xưng hô này thì xưng hô trống không vẫn chiếm ưu thế hơn hẳn, thường xuất hiện trong hoàn cảnh người phát ngôn có điều giận dữ, bực mình Sơ lược về tỉ lệ sử dụng qua bảng sau:

Trang 35

2.2.2.1 Xưng hô trống không

Trong số 45 phát ngôn hỏi – đáp được khảo sát, cách xưng hô trống không xuất hiện trong 33 phát ngôn hỏi hoặc đáp Trong đó, chồng sử dụng trong 17 phát ngôn, vợ

(Những truyện không muốn viết – Nam Cao)

Xưng hô trống không có khi xuất hiện ở cả cặp hỏi – đáp tương ứng của vợ và chồng, có khi chỉ từ một phía vợ hoặc chồng

Thị ngạc nhiên:

- Làm gì? (Vợ hỏi trống không)

- Dạy học (Chồng trả lời trống không)

(Cười – Nam Cao)

2.2.2.2 Xưng hô mình – em/tôi/ người ta

Xưng hô mình – em/tôi:

Trang 36

33

Cách xưng hô mình – em/tôi xuất hiện trong 16 phát ngôn, trong đó vợ sử dụng trong 8 phát ngôn, chồng sử dụng trong 8 phát ngôn Với người vợ, gọi mình xưng em Với người chồng, gọi mình xưng tôi

Lối xưng hô này xuất hiện khi vợ chồng hòa hợp hoặc vợ là người nín nhịn chồng cho dù chồng có giận dữ, chửi mắng thế nào đi nữa

- Có lẽ hôm nay đã là mồng hai, mồng ba tây rồi, mình nhỉ? (Vợ hỏi, gọi chồng

là mình)

- À phải! Hôm nay mồng ba Giá mình không hỏi tôi thì tôi quên Tôi phải đi

xuống phố (Chồng trả lời, gọi vợ là mình và xưng tôi)

(Đời thừa – Nam Cao)

Xưng hô mình – người ta:

Lối xưng hô này xuất hiện trong 2 phát ngôn, trong đó vợ chiếm 1 và chồng chiếm 1 Cả hai trường hợp đều xuất hiện trong hoàn cảnh vợ/chồng tức giận với người kia nhưng vẫn xoa dịu để không gây xung đột

- Hôm nọ thì còn mải đi chết đây, chết đó Hôm nay lù lù vác xác về Còn về làm

gì nữa? Cả nhà có một cái vé sợi nó nuốt mất trôi (Vợ mắng chồng vì chồng đi mấy

ngày không về, đi với cô đầu trên tỉnh)

- Vé sợi nào? Người ta chửa biết đầu đuôi xuôi ngược ra thế nào thì đã làm sôi

sì cả lên (Chồng xưng người ta, khi chưa biết rõ đầu đuôi câu chuyện)

- Thôi, mình ạ Ta không có sợi thì đi dệt thuê cũng được Chẳng được cơm

thì được cháo (Chồng gọi vợ bằng mình, an ủi vợ khi biết lỗi do mình gây ra)

(Những truyện không muốn viết – Nam Cao)

2.2.3 Vợ chồng thành thị

Với đối tượng giao tiếp này, có ba cách xưng hô được sử dụng: Xưng hô trống không, xưng hô cậu/mợ - tôi, xưng hô anh – em Cả ba cách xưng hô này đều được các cặp vợ chồng sử dụng trong những hoàn cảnh giao tiếp rất đỗi bình thường Dù có chuyện gì xảy ra chăng nữa thì họ vẫn giữ được phép lịch sự trong giao tiếp

Trang 37

2.2.3.1 Xưng hô trống không

Cách xưng hô xuất hiện trong 4 phát ngôn, được cả vợ và chồng sử dụng, trong

đó vợ sử dụng 1, chồng sử dụng 3 Lối xưng hô này không tỏ thái độ gay gắt hay coi thường đối phương mà đơn giản là thể hiện sự bình đẳng trong giao tiếp giữa vợ và chồng

Vợ chàng sung sướng hỏi:

- Có phải nó nhớn hơn hôm nọ nhiều không?

(Đứa con đầu lòng – Thạch Lam)

2.2.3.2 Xưng hô cậu/mợ - tôi

Cách xưng hô này được cả vợ và chồng sử dụng, (Vợ sử dụng trong 3 phát ngôn, chồng sử dụng trong 1 phát ngôn) Vợ gọi chồng là cậu và xưng tôi, chồng gọi

vợ là mợ, xưng tôi

Vợ Tâm nũng nịu:

- Thế thành ra suốt một ngày tôi ở đây một mình à? Cậu ích kỷ lắm, chỉ biết nghỉ đến công việc của cậu, mà không nghĩ đến tôi cả

Trang 38

35

Tâm ngẫm nghĩ Muốn chiều vợ chàng bàn:

- Hay là thế này thì tiện nhất Mợ cùng đi với tôi Đến ga, chúng ta rẽ vào cao lâu ăn cơm sáng Rồi mợ đợi tôi ở đấy, tôi về thăm nhà độ một giờ, rồi tôi lại ra ngay

(Trở về - Thạch Lam)

Người vú vừa quay đi thì Khanh đã sầm ngay mặt lại lườm tôi mà rằng:

- Đàn bà, con gái, nửa đêm còn hỏi với han gì? Sao cậu không sai vú già tống

khứ đi cho rồi

(Người bạn cũ – Thạch Lam)

2.2.3.3 Xưng hô anh - em

Lối xưng hô được sử dụng với đôi vợ chồng son chốn thành thị, mặc dù cuộc sống đang gặp khó khăn Với cách xưng hô này, người vợ sử dụng trong 2 phát ngôn, người chồng sử dụng trong 3 phát ngôn Chính cách xưng hô này, người đọc nhận thấy được nét thanh lịch trong giao tiếp của người Hà Thành, mặc dù từ những năm trước Cách mạng

Sinh với lấy tay nàng kéo xuống bên mình, âu yếm hỏi :

- Em đi đâu mà sớm thế?

- Em lại đằng bà Ba ở cuối phố vay tiền

(Đói – Nam Cao)

- Ai thế? Kể đi cho anh nghe

Mai âu yếm nhìn chồng:

- Không, anh cứ ăn đi đã kia Vừa ăn, em sẽ vừa nói chuyện

(Đói – Nam Cao)

2.2.4 Vợ chồng quan lại

Ở cặp giao tiếp này, lối xưng hô phong phú hơn, bao gồm các cách xưng hô: xưng hô trống không, xưng hô cậu/mợ - tôi, xưng hô ông/bà – tôi, xưng hô mày – tao/ông Trong đó xưng hô trống không được sử dụng nhiều hơn cả, đặc biệt với quan

Trang 39

36

ông Cách xưng hô ông/bà – tôi được người vợ sử dụng nhiều hơn hẳn, trong khi cách

xưng hô mày – tao/ông chỉ được các quan ông sử dụng khi họ nổi nóng

2.2.4.1 Xưng hô trống không

Cách xưng hô này chiếm 38/90 phát ngôn hỏi/đáp, trong đó vợ sử dụng trong 13 phát ngôn, chồng sử dụng trong 25 phát ngôn Cách xưng hô trống không thường xuất hiện khi vợ chồng quan tranh luận về một vấn đề

- Có khẽ chứ không? (Quan ông hỏi trống không)

- Việc gì phải nói khẽ? (Quan bà trả lời trống không)

(Đàn bà là giống yếu – Nguyễn Công Hoan)

2.2.4.2 Xưng hô cậu/mợ - tôi

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có 15 phát ngôn sử dụng cách xưng hô này, trong đó chồng sử dụng 7 phát ngôn, vợ sử dụng 8 phát ngôn Cách xưng hô này xuất hiện khi vợ chồng quan chuyện trò tình cảm

- Thế sao cậu lại ngờ cho ông làm vậy?

- Tôi vờ thế, chứ ví đây này, có mất đếch đâu

(Mất cái ví – Nguyễn Công Hoan)

- Mợ chỉ ngại rét chứ gì? Có rét quái đâu! Ở ngoài đường cũng ấm áp lắm

Trang 40

37

- Ở nhà công việc còn bề bề ra, cậu không biết à?

(Xuất giá tòng phu – Nguyễn Công Hoan)

2.2.4.3 Xưng hô ông/bà – tôi

Kiểu xưng hô này xuất hiện trong 29 phát ngôn hỏi/đáp, trong đó người vợ sử dụng nhiều hơn hẳn với 20 phát ngôn, trong khi người chồng chỉ sử dụng trong 9 phát ngôn

Quan bà cau mặt, đáp:

- Thì ông ra lệnh cấm chợ kia mà?

Quan ông trợn mắt, ngạc nhiên nhìn vợ:

- Tôi cấm chợ à?Có đâu?

(Cấm chợ - Nguyễn Công Hoan)

2.2.4.4 Xưng hô mày – ông/tao

Lối xưng hô này được sử dụng khi vợ/chồng nổi nóng Nếu như bình thường, vợ chồng quan xưng hô là ông/bà – tôi, tình cảm hơn là cậu/mợ - tôi thì khi nổi nóng, đặc biệt với quan ông lại đổi ngay cách xưng hô, gọi vợ là mày rồi xưng ông hoặc tao

Cách xưng hô mày – tao xuất hiện trong 3 phát ngôn hỏi/đáp, xưng hô mày – ông xuất hiện trong 5 phát ngôn Điều đặc biệt là cách xưng hô này chỉ được quan ông

sử dụng khi tức giận với vợ (8/8 phát ngôn sử dụng cách xưng hô này được quan ông

sử dụng), trong khi quan bà không dùng trong phát ngôn nào Phải chăng điều đó thể hiện được uy quyền của quan ông trong giao tiếp vợ chồng?

- Mày có đi hay không?

Bà tối tăm mặt mũi, hổn hển thách:

- Đây, cậu cứ đánh chết tôi đi

(Xuất giá tòng phu – Nguyễn Công Hoan)

Trong ví dụ trên, ta thấy mặc dù bị chồng bắt bán mình tiếp quan trên, bị gọi là

“mày”, nhưng vợ vẫn một mực gọi chồng là “scậu”

- Không biết tao hết hơi nói người ta mới cho mượn những thứ này à?

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê chi tiết: - Khảo sát các phát ngôn hỏi đáp từ góc độ giới tính trên cứ liệu một số tác phẩm văn học trước Cách mạng
Bảng th ống kê chi tiết: (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w