Việc nghiên cứu về câu cầu khiến trong tiếng Việt có liên hệ với tiếng Hán chưa ai đề cập đến, do vậy chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn thạc sĩ: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn: PGS.TS Đào Thanh Lan
Hà Nội - 2009
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài……….………… 5
2 Ý nghĩa của đề tài……….…… 5
3 Đối tượng nghiên cứu……… 6
4 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu……… 6
5 Phương pháp nghiên cứu……… 6
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài 1.1 Hành động ngôn từ ……….……….……… 7
1.1.1 Hành động ngôn từ……… 7
1.1.2 Phân loại hành động ngôn từ……… 8
1.1.3 Điều kiện nhận diện hành động ngôn từ……… 9
1.2 Hành động cầu khiến… ……… 10
1.2.1 Khái niệm hành động cầu khiến………10
1.2.2 Phân loại hành động cầu khiến……… 11
1.3 Phương thức biểu hiện hành động cầu khiến……… 14
1.3.1 Phương thức biểu hiện hành động cầu khiến trức tiếp…… 15
1.3.2 Phương thức biểu hiện hành động cầu khiến gián tiếp………… 16
1.4 Câu cầu khiến… ……… 17
1.4.1 Định nghĩa câu cầu khiến……… 17
1.4.2 Câu cầu khiến tường minh và câu cầu khiến nguyên cấp……….19
1.4.3 Câu cầu khiến tiếng Việt………20
1.4.3.1 Điểm qua lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến trong tiếng Việt… 20
1.4.3.2 Nhận diện câu cầu khiến tiếng Việt……… 21
Trang 41.4.4 Câu cầu khiến tiếng Hán……… …………23
1.4.4.1 Điểm qua lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến trong tiếng Hán….23 1.4.4.2 Nhận diện câu cầu khiến trong tiếng Hán……… 24
1.5 Tiểu kết………25
Chương 2 Phương tiện tường minh trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) 2.1 Phương tiện tường minh……… 26
2.1.1 Động từ ngôn hành……… .26
2.1.2 Động từ ngôn hành cầu khiến……… 28
2.1.3 Khảo sát cụ thể……… …29
2.2 Phương tiện bán tường minh……… 40
2.3 Tiểu kết……… 42
Chương 3 Phương tiện nguyên cấp trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) 3.1 Phương tiện nguyên cấp……… ……44
3.1.1 Nhóm vị từ tình thái cầu khiến “hãy, đừng/chớ”………… …44
3.1.2 Nhóm tiểu từ tình thái cầu khiến cuối câu……… 50
3.1.2.1 Nhóm 1: đi, với, xem……… …51
3.1.2.2 Nhóm 2: đã, thôi……… .56
3.1.2.3 Nhóm 3: nào, nhé……… 59
3.1.2.4 Tiểu từ ngữ khí cuối câu cầu khiến trong tiếng Hán…… …62
3.2 Phương tiện bán nguyên cấp……… 63
3.2.1 Nhóm động từ tình thái cầu khiến: nên, cần, phải………… .64
3.2.2 Động từ để……… 71
3.2.3 Động từ giúp, hộ, cho……… 73
3.2 Tiểu kết……… …76
Trang 5PHẦN KẾT LUẬN……… …78 Danh mục tài liệu tham khảo
Danh mục sách làm tư liệu
Phụ lục
Trang 6QUY ƯỚC GHI TẮT
- D1, D2, D3: Danh từ hoặc đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai,
ngôi thứ ba
- V: Vị từ
- Vck: Vị từ cầu khiến
- Vnhck: Động từ ngôn hành cầu khiến
- Vtck: Vị từ tình thái cầu khiến
- V(p): Vị từ, động từ có thể có phần phụ
- D: Dịch
- PA: Phiên âm
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Căn cứ vào mục đích giao tiếp, khi nghiên cứu lời nói trong hoạt động giao tiếp, người ta thường hay chia lời nói thành 4 kiểu, tường thuật, nghi vấn, cảm thán và cầu khiến Việc nghiên cứu câu cầu khiến đã từ lâu thu hút các nhà ngôn ngữ học ở các nước phương Tây Ở Việt Nam, việc nghiên cứu câu cầu khiến chỉ mới trên mười năm nay, cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến câu cầu khiến nhưng xu hướng nghiên cứu này ở tiếng Việt
là mới mẻ, được nhiều người quan tâm đến Việc nghiên cứu về câu cầu khiến trong tiếng Việt có liên hệ với tiếng Hán chưa ai đề cập đến, do vậy chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) qua một số tác phẩm văn học” với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ cho lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp – ngữ nghĩa của lời
2 Ý nghĩa của đề tài
Việc nghiên cứu phương tiện trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt và liên hệ với tiếng Hán có ý nghĩa đặc biệt đối với những vấn đề lý luận và thực tiễn của ngữ dụng học và lý thuyết giao tiếp, vấn đề tổ chức và tri nhận lời nói
Về mặt thực tiễn, việc dạy tiếng Việt hoặc tiếng Hán như một ngoại ngữ
ở các trường đại học chỉ ở bình diện giao tiếp, chứ đi vào lý luận rất ít Sinh viên trong khi học và sử dụng câu cầu khiến tiếng Việt và tiếng Hán, vì chưa
có kiến thức vững chắc về lý thuyết nên thường bị sai và không hiểu rõ được chỗ sai, nên khó sửa Việc nghiên cứu phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) này có thể đóng góp cho lĩnh vực dạy và học hai ngôn ngữ này, để học sinh có thể nắm được sự khác biệt và những đặc điểm của câu cầu khiến ở hai ngôn ngữ, giúp cho việc sự dụng tốt hai ngôn ngữ này
Trang 83 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn này chủ yếu nghiên cứu về câu cầu khiến tiếng Việt, nhất là phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến, và liên hệ với câu cầu khiến tiếng Hán, để khảo sát sự giống nhau và khác nhau của nó ở hai ngôn ngữ
4 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Câu cầu khiến là một kiểu câu được phân loại dựa vào mục đích phát ngôn (mục đích nói) chứ không thuần túy chỉ dựa vào cấu trúc như hướng phân loại câu theo cấu trúc Nói chính xác hơn thì tên gọi câu cầu khiến là kết quả phân loại theo hướng cấu trúc – chức năng Do vậy nó phải được nghiên cứu theo quan điểm và phương pháp của ngữ pháp chức năng Tức là xuất phát từ mục đích giao tiếp để tìm ra phương tiện hình thức thể hiện các chức năng nghĩa học và dụng học của câu cầu khiến Qúa trình nghiên cứu phải đi
từ mục đích đến phương tiện, từ trong ra ngoài, từ nội dung ý nghĩa được thể hiện đến phương tiện ngôn ngữ thể hiện nó Nói cách khác là phải nghiên cứu câu cầu khiến trong mối quan hệ gắn bó với ngữ cảnh
Nhiệm vụ của luận văn này là trên cơ sở kế thừa những kết quả đã có được của những nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu trước, chúng tôi sẽ bước đầu miêu tả đặc điểm của câu cầu khiến trong tiếng Việt và liên hệ với tiếng Hán trên tư liệu một số tác phẩm văn học nhằm làm rõ đặc điểm của phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong hai ngôn ngữ
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh, các thủ pháp phân tích nghĩa, phân tích ngữ cảnh, phương pháp cải biến, so sánh, mô hình hóa, thống kê…
Ngoài ra, luận văn còn quan tâm tới ngữ cảnh đủ rộng để có thể phân tích ngữ nghĩa trong từng phát ngôn cụ thể Vì vậy, tư liệu trích dẫn không phải ở dạng cô lập mà thường kèm theo ngữ cảnh giúp cho việc phát hiện các hành động ngôn trung trực tiếp cũng như gián tiếp của phát ngôn Các ví dụ được sử dụng trong luận văn đều nằm trong ngữ cảnh hội thoại
Trang 9PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Khi người ta nói rằng, “Tôi mời anh sang nhà tôi chơi”, “Em khuyên anh đi đường nên cẩn thận”, lập tức người nói ấy đã thực hiện hành động “mời” và hành động “khuyên” Nội dung những phát ngôn trên không thể nói rằng nó đúng hay sai sự thật như khi nói về một câu trần thuật bình thường, đó là những phát ngôn chứa động từ ngôn hành, khi nói ra cũng là thực hiện hành động Austin cho rằng, mọi phát ngôn đều là phát ngôn ngôn hành, nhờ hiệu lực ngôn trung của chúng để thực hiện hành động nào đó Dù là những phát ngôn thể hiện phán đoán, miêu tả như câu trần thuật thì về bản chất chúng cũng là một loại phát ngôn ngôn hành không có động từ ngôn hành
Austin còn phân chia phát ngôn ngôn hành thành 2 loại: phát ngôn ngôn
Trang 10hành tường minh (câu ngôn hành tường minh) và phát ngôn ngôn hành nguyên cấp (câu ngôn hành nguyên cấp)
Phát ngôn ngôn hành tường minh là phát ngôn chứa động từ ngôn hành dùng để thực hiện hành động khi nói ra nó
Ngoài phát ngôn chứa động từ ngôn hành ra còn có những phát ngôn ngôn hành nguyên cấp Phát ngôn ngôn hành nguyên cấp được thể hiện thông qua những dấu hiệu hình thức đặc trưng mang tính chuyên dụng Một phát ngôn ngôn hành nguyên cấp trong các tình huống giao tiếp khác nhau có thể được hiểu theo ý nghĩa khác nhau
Khi chúng ta phát ngôn ra một câu nói cũng là khi chúng ta thực hiện hành động tạo lời, hành động tại lời và hành động mượn lời, ba hành động cùng một lúc
Hành động tạo lời là các chất liệu ngôn ngữ như đơn vị từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp, cách phát âm được người nói lựa chọn sử dụng trong câu nói Đó là phần nghĩa biểu thị thực tại khách quan trong câu
Hành động tại lời là hành động được thực hiện ngay trong khi nói, là hành động ngôn từ thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của câu Hành động tại lời cũng gọi là hành động ngôn trung của câu, nó tạo nên giá trị ngôn trung của câu
Hành động mượn lời là hành động thông qua phương tiện ngôn ngữ tác động đến tâm lí, hành động người nghe để tạo ra hiệu quả ngoài ngôn ngữ như xúc động, yên tâm, phấn khởi v.v…
1.1.2 Phân loại hành động ngôn từ
Dựa trên các tiêu chuẩn phân loại khác nhau thì có nhiều cách phân loại hành động ngôn từ khác nhau Nhà nghiên cứu Searle có hai cách phân chia hành động ngôn từ:
Thứ nhất, căn cứ vào tiêu chí về đích ngôn trung, hướng khớp ghép lời
Trang 11với hiện thực và điều kiện chân thành 3 tiêu chí chính, ông phân chia các hành động ngôn từ thành 5 nhóm: nhóm hành động phán đoán, nhóm hành động cầu khiến, nhóm hành động hứa hẹn, nhóm hành động diễn đạt, nhóm hành động tuyên bố
Thứ hai, căn cứ vào việc thực hiện mục đích nói có thông qua hành động ngôn từ thứ hai hay không để chia hành động ngôn từ thành hành động ngôn
từ trực tiếp và gián tiếp Có nghĩa là trong một câu có thể chứa hai hành động ngôn từ: hành động ngôn từ chủ yếu và hành động ngôn từ thứ yếu, hành động ngôn từ thứ yếu là hành động mà người tiếp nhận có thể hiểu được theo
ý nghĩa bề mặt của câu, hành động ngôn từ chủ yếu là hành động cần người tiếp nhận suy luận rồi thực hiện trên cơ sở hành động ngôn từ thứ yếu (Trích dẫn từ [16], tr19)
1.1.3 Nhận diện hành động ngôn từ
Ở phần trên chúng tôi đã nói về định nghĩa và phân loại hành động ngôn
từ, động từ ngôn hành thể hiện hành động ngôn từ, động từ ngôn hành là động
từ mà người nói thực hiện hành động bằng cách nói nó ra Bất cứ phát ngôn nào cũng đều có lực ngôn trung để tạo nên giá trị ngôn trung, nhưng không nhất thiết đều thể hiện bằng động từ ngôn hành
Do vậy, một phát ngôn là một câu ngôn hành mà chứa động từ ngôn hành
sẽ thỏa mãn những điều kiện sau đây:
a Chủ ngữ phải là ngôi thứ nhất, nó có thể xuất hiện trong phát ngôn hoặc vắng mặt
b Vị từ phải được dùng ở thời hiện tại và được chỉ định trong mệnh đề chính của câu
c Có bổ ngữ chỉ đối tượng tiếp nhận hành động ngôn hành và đối tượng
đó thường là ngôi thứ hai
Trang 121.2 Hành động cầu khiến
1.2.1 Định nghĩa hành động cầu khiến
Hành động cầu khiến là hành động mà người nói bay tỏ để yêu cầu người nghe thực hiện một hành động nào đó trong tương lai Hành động cầu khiến là khái niệm tổng quát bao gồm các hành động có ý nghĩa “cầu” và các hành động có ý nghĩa “khiến” nói chung Hành động cầu khiến là hành động tại lời
có giá trị ngôn trung biểu thị mục đích giao tiếp làm nên ý nghĩa cầu khiến của phát ngôn, có thể chia thành các tiểu loại theo lực ngôn trung tức là mức
độ cầu khiến như: mệnh lệnh, cho phép, đề nghị, yêu cầu, thỉnh cầu, cầu xin v.v…, trong khi đó, cũng có hành động cầu khiến thực hiện dưới hình thức nghi vấn gọi là cầu khiến gián tiếp
Về khái niệm hành động cầu khiến, luận văn này quan niệm hành động cầu khiến là hành động ngôn từ mà người nói yêu cầu người nghe thực hiện một hành động nào đó Năm 1979, Searle đã nêu ra 4 điều kiện của hành động cầu khiến:
Điều kiện Hành động cầu khiến
Nội dung mệnh đề Người đề xuất (tức người nói) dự kiến người tiếp nhận
sẽ thực hiện hành động A Điều kiện thiết yếu Người tiếp nhận có khả năng thực hiện hành động A
Điều kiện chủ yếu Người đề xuất yêu cầu người tiếp nhận thực hiện hành
động A Điều kiện nội tại Người đề xuất có ý muốn để người tiếp nhận thực hiện
hành động A (Trích dẫn từ [16], tr20)
Nhưng 4 điều kiện nêu trên chưa thể phân biệt được hành động cầu khiến một cách chính xác, vì trong 4 điều kiện đó, điều kiện nội dung mệnh đề và điều kiện thiết yếu còn thiếu sót Trong thực tế, hành động cầu khiến không
Trang 13dự kiến được hành động “tương lai” của người tiếp nhận, người tiếp nhận cũng không nhất định có khả năng thực hiện hành động A Do vậy, chúng ta
có thể tổng hợp lại có ba điều kiện chính sau:
Thứ nhất, người đề xuất ra lệnh cho người tiếp nhận
Thứ nhì, người đề xuất muốn người tiếp nhận thực hiện hành động
Thứ ba, người đề xuất hy vọng thông qua việc ra lệnh cho người tiếp nhận để thực hiện mong muốn thay đổi tình trạng thực tế
Trong đó, “người đề xuất” và “người tiếp nhận” tương ứng với “người nói” và “người nghe” mà các nhà nghiên cứu thường dùng, tức là hai đối tượng đều xuất hiện ở hiện trường thực hành hành động ngôn từ cùng một lúc Nhưng chúng ta cũng nên chú ý đến trường hợp người tiếp nhận không xuất hiện tại hiện trường thực hiện hành động ngôn từ, và trường hợp ra lệnh bằng văn bản thì lúc đó sử dụng tên gọi “chủ ngôn” và “tiếp ngôn” sẽ phủ hợp với thực tế hơn
1.2.2 Cách phân loại hành động cầu khiến
Về việc phân loại hành động cầu khiến và các tiêu chuẩn phân chia, các nhà nghiên cứu thường có những quan điểm khác nhau, có người dựa vào điều kiện thiết yếu, điều kiện chủ yếu và điều kiện nội tại, có người nhìn từ gốc độ mục đích phát ngôn và độ bắt buộc v.v Khái quát lại các quan điểm phân chia của các nhà nghiên cứu thì chủ yếu có hai quan điểm chính: căn cứ vào ý nghĩa cầu khiến và căn cứ vào hình thức cầu khiến để phân loại
1) Căn cứ vào ý nghĩa cầu khiến phân loại hành động cầu khiến
Căn cứ vào ý nghĩa cầu khiến để phân loại hành động cầu khiến, thường xem xét đến 3 nhân tố sau đây:
1 Sự chênh lệnh về vị thế xã hội của người đề xuất với người tiếp nhận
2 Sự khác biệt về lợi ích của người tiếp nhận thực hiện hành động A
3 Sự khác biệt về cường độ yêu cầu của người đề xuất
Trang 14Trước hết, nhân tố 1 là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất trong 3 nhân tố này, nó không chỉ ảnh hưởng đến việc phân chia hành động cầu khiến, nó còn ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp bình thường Ví dụ như “yêu cầu người tiếp nhận giao bai cho mình”, hai người giáo viên và học sinh có sự khác nhau lớn về địa vị xã hội thì sẽ nói bằng câu nói khác nhau Giáo viên có thể sử dụng câu cầu khiến mệnh lệnh đơn giản như “Nộp bai cho tôi” Mà người học sinh sẽ dùng những câu cầu khiến phức tạp, mang tính lịch sự hoặc câu cầu khiến với hình thức nghi vấn để thực hiện hành động cầu khiến một cách gián tiếp, như “Xin hãy trả lại bai cho tôi” hoặc “Trả lại bai cho tôi có được không?” Như vậy, hành đọng cầu khiến mệnh lệnh thường được phát ra từ người đề xuất với địa vị xã hội cao đến người tiếp nhận với địa vị xã hội thấp
Ở đây, cần phải làm rõ hai khái niệm nữa là vị thế xã hội và vị thế giao tiếp Khi phân tích các sắc thái nghĩa cầu khiến cần phải chú ý đến vị thế giao tiếp của người đề xuất và người tiếp nhận Đại đa số trường hợp là vị thế giao tiếp trùng với vị thế xã hội, nhưng cũng có một số trường hợp hai khái niệm không trùng nhau Chúng tôi có thể hiểu như sau:
Vị thế xã hội là địa vị, tư thế của người này so với người khác trong xã hội Vị thế xã hội được tạo thành bởi các nhân tố: nghề nghiệp, chức vụ, tuổi tác … do vậy, vị thế xã hội có tính ổn định tương đối, vì nó không thay đổi bởi ngữ cảnh
Vị thế giao tiếp là địa vị, tư thế của một người nào đó trong bối cảnh cụ thể của cuộc giao tiếp mà người đó tham gia Vị thế giao tiếp được tạo thành bởi các nhân tố: vị thế xã hội + mục đính phát ngôn (hành động ngôn trung) của câu, có thể nói vị thế giao tiếp thường thay đổi tùy theo mục đích phát ngôn
Thông thường, vị thế xã hội chi phối vị thế giao tiếp Nhưng hai khái niệm này không hoàn toàn trùng nhau Mối quan hệ giữa vị thế xã hội và vị
Trang 15thế giao tiếp thường có thể có các khả năng sau:
Nhân tố 2 thường dùng để phân biệt các hành động cầu khiến nguyền rủa Câu “Chết đi” không khác gì câu “Đóng cửa lại” về mặt cấu trúc, nhưng về ngữ nghĩa ngữ dụng thì chúng tôi có thể nhận ra “Chết di” là câu mang tính nguyền rủa, “Đóng cửa lại” chỉ là câu cầu khiến bình thường với ý muốn người tiếp nhận thực hiện hành động đóng cửa Tại sao có sự khác nhau giữa hai câu này, nhân tố 2 có tác động lớn đến việc tạo thành sự khác nhau này, hành động cầu khiến bình thường không thể phán đoán hành động ấy có hại cho lợi ích của người tiếp nhận hay không ở chính câu nói đó, chỉ có thể dựa vào những kiến thức liên quan và ngữ cảnh cụ thể mới có thể nhận ra được Hành động cầu khiến mang tính nguyền rủa thì có thể nhận ra ngay trên bản thân câu nói ấy, chỉ cần người tiếp nhận có kiến thức ngôn ngữ cơ bản
Nhân tố chủ yếu dùng để phân chia các hành động cầu khiến mang tính cho phép, đề nghị Các hành động cầu khiến mang tính mệnh lệnh, cầu xin v.v đều là yêu cầu trực tiếp cho người tiếp nhận thực hiện hành động nào đó,
Trang 16nhưng hành động cầu khiến mang tính cho phép, kiến nghị thì người đề xuất chỉ nêu ý kiến hoặc cho một sự lựa chọn cho người tiếp nhận, chứ không phải
ra lệnh cho người tiếp nhận nhất định phải thực hiện hành động nào đó Cho phép và kiến nghị thường khó mà phân biệt ra nếu chỉ nhìn vào bản thân phát ngôn, trong thực tế, người ta dựa vào ngữ cảnh thì có thể dễ dàng phân biệt được hai hành động này
2) Căn cứ vào hình thức cầu khiến phân loại hành động cầu khiến
Căn cứ vào hình thức cầu khiến có hai loại hành động cầu khiến: hành động cầu khiến trực tiếp và hành động cầu khiến gián tiếp
Hành động cầu khiến trực tiếp là hành động cầu khiến có thể được thể hiện một cách trực tiếp bằng cách sử dụng phát ngôn cầu khiến có mục đích giao tiếp cầu khiến
Ví dụ: - Đi đi!
- Hãy cứu lấy chúng em!
Ở ví dụ trên, hành động cầu khiến “đi” và “cứu” được trực tiếp thể hiện bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến là tiểu từ cầu khiến chuyên dụng “đi” và vị từ tình thái cầu khiến chuyên dụng “hãy” có mặt ở phát ngôn
Hành động cầu khiến gián tiếp là hành động cầu khiến được thể hiện một cách gián tiếp thông qua một hành động ngôn trung khác như hỏi, trần thuật, cảm thán mà có mục đích giao tiếp cầu khiến
Ví dụ: - Tôi có thể ngồi đây được không?
Ở ví dụ trên, hành động cầu khiến được thể hiện thông qua hình thức hỏi, người tiếp nhận phải trải qua một quá trình suy ý để có thể nhận diện được hành động cầu khiến
1.3 Phương thức biểu hiện hành động cầu khiến
Ở phần trên chúng tôi đã nói về định nghĩa và phân loại hành động cầu
Trang 17khiến, căn cứ vào ý nghĩa cầu khiến có thể phân chia hành động cầu khiến từ mức độ khiến đến mức độ cầu thành nhiều mức độ khác nhau; căn cứ vào hình thức cầu khiến thì có thể phân chia thành hành động cầu khiến trực tiếp
và hành động cầu khiến gián tiếp
Trong luận văn này chủ yếu ban về hành động cầu khiến được phân chia theo hình thức biểu hiện
1.3.1 Phương thức biểu hiện hành động cầu khiến trực tiếp
Hành động cầu khiến là một kiểu hành động ngôn trung được thực hiện bằng lời nói nhằm cầu khiến người tiếp nhận (tiếp ngôn) thực hiện hành động
mà người đề xuất (chủ ngôn) mong muốn Hành động cầu khiến được thể hiện một cách trực tiếp bằng câu cầu khiến với hai mô hình K1= D1-Vnhck-D2-V(p), K2= D2-Vttck-V(p) chứa các phương tiện đánh dấu lực ngôn trung cầu khiến trực tiếp như:
Động từ ngôn hành cầu khiến mời, xin, van, lạy, nhờ, cầu, chúc, đề nghị, yêu cầu, ra lệnh, cho phép, khuyên, cấm…
Các vị từ tình thái cầu khiến: hãy, đừng, chớ;
Động từ tình thái cầu khiến: nên, cần, phải;
Tiểu từ cầu khiến: đi, với, xem, đã, thôi, nào ,nhé;
Kết cấu V+giúp/hộ/cho
Trong đó, K1 chủ yếu là mô hình biểu hiện hành động cầu khiến trực tiếp bằng phương tiện từ vựng, cũng gọi là phương tiện tường minh, vì nó chủ yếu nhờ các động từ ngôn hành cầu khiến làm phương tiện trực tiếp chỉ dẫn lực ngôn trung Ý nghĩa cầu khiến trong mô hình K1 là ý nghĩa hiển ngôn, không cần người tiếp nhận tìm hiểu nó qua một quá trình suy ý, nó được thể hiện qua phương tiện tường minh
Mô hình K2 chủ yếu là mô hình biểu hiện hành động cầu khiến trực tiếp bằng phương tiện ngữ pháp, vì nó chủ yếu nhờ các từ tình thái cầu khiến như
Trang 18vị từ tình thái cầu khiến, động từ tình thái cầu khiến và tiểu từ tình thái cầu khiến để làm phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến Ý nghĩa cầu khiến ở trong mô hình cấu trúc câu cầu khiến K2 là ý nghĩa cầu khiến nói chung, trong từng ngữ cảnh cụ thể mà nó được hiểu tương ứng với một ý nghĩa cụ thể Phương tiện biểu hiện lực ngôn trung cầu khiến này là phương tiện cầu khiến nguyên cấp
Phương tiện cầu khiến nguyên cấp đối lập với phương tiện cầu khiến tường minh (tức là phương tiện từ vựng) Hai phương tiện này giống như hai cực, là hai phương tiện hoàn toàn đối lập với nhau, giữa đới trung gian của hai cực này là phương tiện cầu khiến bán tường minh và phương tiện cầu khiến bán nguyên cấp Hai phương tiện trung gian này chỉ khác nhau ở chỗ phương tiện cầu khiến bán tường minh thiên về phương tiện cầu khiến tường minh nhiều hơn; ngược lại, phương tiện cầu khiến bán nguyên cấp thì thiên về phương tiện cầu khiến nguyên cấp nhiều hơn Ở phần dưới sẽ phân tích cụ thể hai phương tiện chính: phương tiện cầu khiến tường minh và phương tiện cầu khiến nguyên cấp; hai phương tiện trung gian: phương tiện cầu khiến bán tường minh và phương tiện cầu khiến bán nguyên cấp
1.3.2 Phương thức biểu hiện hành động cầu khiến gián tiếp
Hành động cầu khiến có thể được bay tỏ một cách gián tiếp thông qua một hành động ngôn trung khác như hỏi, trần thuật để biểu hiện lực ngôn trung cầu khiến và đi đến đích cầu khiến Hành động cầu khiến gián tiếp có thể thể hiện thông qua hình thức hỏi, trần thuật hoặc cảm thán, nhưng theo kết quả của công trình nghiên cứu của Đào Thanh Lan (xem [11]) thì nó được thực hiện thông qua câu hỏi phổ biến hơn câu trần thuật và câu cảm thán Câu hỏi vốn là hình thức thể hiện hành động ngôn trung hỏi mà mục đích
là hỏi điều chưa rõ và yêu cầu tiếp ngôn trả lời điều chưa rõ ấy Nội dung của vấn đề cần hỏi rất rộng nên không phải tất cả mọi câu hỏi đều được sử dụng
Trang 19cho mục đích cầu khiến Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức hỏi thì chủ ngữ của hành động mệnh đề thường ở ngôi hai hoặc ngôi gộp đối với hành động cầu khiến hoặc ở ngôi một đối với kiểu câu có hành động xin phép được làm Về mặt ngữ nghĩa thì hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức hỏi có định hướng nghĩa đã xác định và nhiệm vụ của tiếp ngôn khi trả lời có hay không đồng nghĩa với việc chấp thuận hay từ chối thực hiện hành động
Ví dụ: - Hay mai anh đi sang nhà bác đi?
- Ngày mai em có đi mua sách hộ chị được không?
- Mẹ ơi, con muốn xem tivi, có được không?
Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức trần thuật như:
- Anh mua hoa, em mua hoa quả, nửa tiếng sau anh em mình sẽ gặp lại ở đây (hai anh em định đi bệnh viện thăm người bạn đang ốm)
Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức cảm thán như:
- Ôi, áo này đẹp quá! (hai vợ chồng đi dạo phố, người vợ muốn người chồng mua cho chiếc áo)
Tóm lại, hành động cầu khiến được thể hiện một cách gián tiếp có nhiều hình thức khác nhau, tùy theo yêu cầu lựa chọn sử dụng của người đề xuất, vì cách bay tỏ gián tiếp không áp đặt cho người tiếp nhận, tăng quyền chủ động cho tiếp ngôn, do đó có tính lịch sự cao hơn cách cầu khiến trực tiếp
1.4 Câu cầu khiến
1.4.1 Khái niệm câu cầu khiến
Câu cầu khiến thuộc kiểu loại câu phân chia theo mục đích nói, có dấu hiệu hình thức riêng nhằm yêu cầu, nhắc nhở, khuyên nhủ người tiếp nhận nên hay phải thực hiện một việc gì đó
Về phạm vi của câu cầu khiến, các nhà nghiên cứu vẫn chưa được nhất trí, dưới đây, chúng tôi nêu ra mấy điểm liên quan đến phạm vi nghiên cứu để tham khảo:
Trang 20Điều một, khái niệm câu cầu khiến không chỉ là một khái niệm cú pháp học, ngữ nghĩa học hoặc ngữ dụng học đơn thuần, mà là một khái niệm phức hợp Về mặt cú pháp, câu cầu khiến có đặc trưng cú pháp riêng; về mặt ngữ nghĩa, nó biểu hiện thái độ của người đề xuất kiến nghị, mệnh lệnh, cấm chỉ… đối với hành động của người tiếp nhận; về mặt ngữ dụng, nó là hành động cầu khiến có mục đích của người đề xuất đối với người tiếp nhận Khi khảo sát không thể không để ý đến sự hạn chế về cú pháp và ngữ nghĩa, tuy
về căn bản nó cũng chỉ là phân loại câu theo ngữ dụng, nếu không sẽ làm cho phạm vi câu cầu khiến mở rộng hơn nhiều và không rõ ranh giới
Điều hai, không thể chỉ dựa vào tiêu chuẩn duy nhất nào đó để phân chia câu cầu khiến, như chỉ dựa vào ngữ âm, cú pháp, ngữ nghĩa hay ngữ dụng Chúng ta nên tổng hợp lại những tiêu chuẩn ấy, không ngừng sửa đổi, bổ sung mới có thể phân chia được và ngày càng hoàn thiện
Dựa trên hai quan điểm nói trên, có thể nói rằng định nghĩa câu cầu khiến là: câu có đặc trưng ngữ âm nhất định, có hình thức cú pháp nhất định, với biểu hiện nội dung ngữ nghĩa là người đề xuất kiến nghị, ra lệnh cho người tiếp nhận, với ý nghĩa ngữ dụng là người đề xuất ra lệnh, kiến nghị người tiếp nhận thực hiện hành động nào đó
Có mấy tiêu chí nhận diện câu cầu khiến (hoặc có thể nói là đặc trưng câu cầu khiến) sau đây:
1) Về ngữ âm, ngữ điệu cầu khiến là tạm ngừng đột ngột tuyến âm cao và tuyến âm thấp lên cao rút ngắn
2) Về cú pháp:
a Chủ ngữ câu cầu khiến thường là danh từ hoặc đại từ nhân xưng ở ngôi hai như anh, các anh, ông v.v hoặc đại từ nhân xưng ngôi gộp như chúng tôi, chúng ta, cũng có khi hàm ẩn
b Vị ngữ do ngữ động từ, ngữ tính từ đảm nhiệm
Trang 21c Câu cầu khiến với chủ ngữ là đại từ nhân xưng ngôi hai (ngoài câu chứa từ
“không được, không cho phép, không dùng, cấm” v.v), có thể thêm vào từ
“mời (anh/các anh)” trước chủ ngữ mà không thay đổi ý nghĩa của câu
d Câu cầu khiến thường dùng từ “đừng, chớ” hoặc “đừng có” để biểu hiện ý nghĩa phủ định, chứ ít khi dùng từ “không, không có”
e Thành phần câu chứa từ ngữ khí đứng đầu câu và giữa câu thường dùng từ
“có thể”, “nên”, ở cuối câu thường dùng “thôi, nhé” v.v
3) Quan hệ ngữ nghĩa giữa chủ ngữ và vị ngữ câu cầu khiến là quan hệ cầu khiến với hành động, quan hệ giữa mệnh đề và vị ngữ thì có thể có nhiều khả năng, như quan hệ tiếp nhận hành động, quan hệ thời gian của hành động, quan hệ đối tượng liên quan tới hành động v.v Nội dung ngữ nghĩa
mà câu cầu khiến diễn đạt là kiến nghị, yêu cầu, mệnh lệnh, cấm chỉ hành động liên quan
4) Chức năng ngữ dụng của câu cầu khiến là thực hiện sự kiến nghị, yêu cầu, mệnh lệnh, cấm chỉ hành động liên quan
Nội dung ý nghĩa cầu khiến “cầu khiến người tiếp nhận thực hiện hành động mà người đề xuất cho là cần thiết” có giả định trước “sự đánh giá của người đề xuất đối với sự tình được truyền đạt trong câu là nên hay không nên xảy ra” Do đó, nội dung tình thái cầu khiến bao gồm cả ý nghĩa hiển ngôn và
ý nghĩa hàm ngôn của hành động cầu khiền
Tóm lại, trong một chuỗi phát ngôn, câu cầu khiến được nhận diện bằng hai tiêu chí:
- Câu có ý nghĩa cầu khiến
- Câu có hình thức cầu khiến
1.4.2 Câu cầu khiến tường minh và câu cầu khiến nguyên cấp
Ở phần trên đã nói, phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến trực tiếp có hai loại chính: phương tiện cầu khiến tường minh và phương tiện cầu khiến nguyên cấp
Trang 22Xét về các thành phần tạo nên câu, có thể chia câu cầu khiến thành 2 loại: câu cầu khiến tường minh và câu cầu khiến nguyên cấp
Câu cầu khiến tường minh là câu cầu khiến có sử dụng phương tiện tường minh để tường minh hóa hành động cầu khiến Phương tiện tường minh cũng gọi là phương tiện từ vựng, phương tiện từ vựng là chỉ các phương tiện
do thực từ đảm nhiệm, phương tiện từ vựng cầu khiến là phương tiện sử dụng động từ ngôn hành cầu khiến
Câu cầu khiến nguyên cấp là khái niệm đối lập với câu cầu khiến tường minh Đó là câu cầu khiến có sử dụng phương tiện nguyên cấp, tức là phương tiện ngữ pháp, phương tiện ngữ pháp bao gồm các phương tiện không phải do thực từ đảm nhiệm, đó là hư từ, trật tự từ và ngữ điệu, do vậy, phương tiện ngữ pháp cầu khiến gồm có vị từ tình thái cầu khiến, tiểu từ tình thái cầu khiến và ngữ điệu
1.4.3 Câu cầu khiến trong tiếng Việt
1.4.3.1 Điểm qua lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến trong tiếng Việt
Diệp Quang Ban gọi câu cầu khiến là câu mệnh lệnh và cho rằng: nó được dùng để bay tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người tiếp nhận thực hiện điều được nêu lên trong câu và có những dấu hiệu hình thức nhất định Câu mệnh lệnh đích thực là câu có phụ từ tạo ý mệnh lệnh như hãy, đừng, chớ đứng trước vị từ và đi, thôi, nào đứng sau vị từ Tất cả những câu có chứa các từ như: cấm, mời, xin, đề nghị… đều không phải là câu mệnh lệnh đích thực, đó
là câu trần thuật có ý nghĩa từ vựng mời mọc, cầu xin… nếu trong trường hợp chúng được dùng như câu mệnh lệnh thì đó là kiểu câu mệnh lệnh lâm thời Cao Xuân Hạo cho rằng câu cầu khiến là câu có lực ngôn trung (giá trị ngôn trung) cầu khiến Tức là, câu cầu khiến biểu thị hành động cầu khiến Ông xếp câu ngôn hành (câu có động từ khi được nói ra thì cũng chính là người đề xuất thực hiện hành động mà động từ đó biểu hiện) thuộc loại câu
Trang 23trần thuật tự biểu thị, nếu căn cứ vào hình thức cú pháp của câu, trong tiếng Việt không có sự phân biệt rõ nét giữa ba loại câu của ngữ pháp cổ điển: trần thuật, nghi vấn và mệnh lệnh Sự khác nhau giữa câu trần thuật và nghi vấn gói gọn vào việc sử dụng một yếu tố tình thái riêng cho mỗi loại câu Giữa câu trần thuật thuần túy và câu mệnh lệnh lại càng không có gì khác nhau Sự khác nhau đó chẳng qua là ở việc sử dụng không bắt buộc một vị từ tình thái của vị ngữ là hãy và một vị từ đi dùng như một tiểu từ ngữ khí cũng chẳng có tính chất bắt buộc gì hơn.” Do vậy, Cao Xuân Hạo chỉ coi câu mệnh lệnh như một tiểu loại của câu trần thuật, khác các tiểu loại khác về tình thái
Tác giả Hoàng Trọng Phiến nhận xét về câu cầu khiến như sau: so với câu kể và câu hỏi thì câu cầu khiến không có những dấu hiệu ngữ pháp đặc biệt gì ngoài một số phương tiện hư từ và ngữ điệu Câu cầu khiến nêu lên ý muốn của chủ thể phát ngôn và yêu cầu người tiếp nhận đáp lại bằng hành động Về dạng thức câu cầu khiến cũng có khẳng định và phủ định (hãy, đừng/chớ) Phương tiện cầu khiến có ba loại: hư từ (hãy, đừng, chớ, chứ, nào…), thực từ có nghĩa cầu khiến (cấm, không được, mời, cho phép, chúc…)
và ngữ điệu dùng như nhau cho mọi ngôi của chủ ngữ Tất cả những câu có chứa các từ như: cấm, mời, xin, đề nghị… đều không phải là câu mệnh lệnh đích thực đó là câu trần thuật có ý nghĩa từ vựng mời mọc, cầu xin… nếu như trong trường hợp chúng được dùng như câu mệnh lệnh thì đó là kiểu câu mệnh lệnh lâm thời (dẫn theo[11], tr4-6)
Tóm lại, trước đây câu cầu khiến chưa được quan tâm nhiều và chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống
1.4.3.2 Nhận diện câu cầu khiến trong tiếng Việt
Hai tiêu chí nhận diện cụ thể trong câu cầu khiến tiếng Việt là tiêu chí ý nghĩ và hình thức, tiêu chí ý nghĩa cầu khiến là cái chung của tất cả câu cầu khiến, nhưng về tiêu chí hình thức cầu khiến thì câu cầu khiến tiếng Việt có
Trang 24- Động từ tình thái cầu khiến: nên, cần, phải
- Động từ ngôn hành cầu khiến: ra lệnh, cho phép, đề nghị, khuyên, xin, nhờ v.v…
K1=(D1)-(Trong đó: D1, D2 là danh từ, đại từ ở ngôi một, ngôi hai;
Vnhck là động từ ngôn hành cầu khiến
Vtck là vị từ tình thái cầu khiến
V(p) là vị từ có thể có phần phụ)
- Phương tiện hư từ:
Vị từ tình thái cầu khiến: hãy, đừng, chớ
Tiểu từ tình thái cầu khiến: đi, với, xem, đã, thôi, nào, nhé
- Dấu hiệu ngữ điệu: ngữ điệu thường được dùng kết hợp với ngữ cảnh và xác định theo ngữ cảnh cụ thể
Các phương tiện biểu thị hình thức cầu khiến tiếng Việt nói trên sẽ được
cụ thể hóa ở chương II và chương III, ở đây thì không ban cụ thể nữa
1.4.4 Câu cầu khiến trong tiếng Hán
Trang 251.4.4.1 Điểm qua lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến trong tiếng Hán
Vấn đề câu cầu khiến trong tiếng Hán đã được nghiên cứu từ lâu, nhưng người xác lập định nghĩa và phạm vi cầu khiến hiện tại là Lữ Thúc Tương, trong cuốn sách “Trung Quốc Văn Pháp Lược Yếu” [17,tr72], ông cho rằng cầu khiến là một loại ngữ khí: cầu khiến là một loại ngữ khí “với mục đích là chi phối hành động của chúng ta”, ông đã sáng lập ra khuynh hướng nghiên cứu câu cầu khiến dựa trên lý thuyết ngữ khí Ông cho rằng sự chênh lệnh ngữ khí có cao thấp, nhanh chậm tạo nên sự khác nhau trong câu cầu khiến như cấm chỉ, mệnh lệnh, cầu xin, khuyên nhủ v.v Ông cũng đã khảo sát một
số ngữ khí từ thường gặp có thể diễn đạt ngữ khí cầu khiến
Nhà Hán ngữ học nổi tiếng, giáo sư Vương Lực trong cuốn “Ngữ pháp Trung Quốc hiện đại” [18, tr62] cũng đồng tình với quan điểm của ông Lữ Thúc Tương, ông định nghĩa “ngữ khí cầu khiến” là ngữ khí biểu thị ý nghĩa mệnh lệnh, khuyên bảo, khuyên nhủ, cầu xin v.v Ông còn chú ý đến quan hệ giữa hành động cầu khiến với các hình thức câu
Ngoài “thuyết ngữ khí” nổi tiếng trong việc nghiên cứu câu cầu khiến,
“thuyết chức năng” cũng có nhiều nhà nghiên cứu đi theo Người đề ra
“thuyết chức năng” đầu tiên là ông Chu Đức Hy Trong chương một “Bai giảng ngữ pháp” [20, tr48], ông nói rằng “xét về chức năng câu, có thể chia câu thành năm loại là câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán và câu xưng hô”, “tác dụng của câu cầu khiến là yêu cầu người tiếp nhận làm việc gì đó” Ông còn nhận ra rằng, “quan hệ giữa hình thức câu và chức năng câu rất phức tạp, tức là, có trường hợp trùng nhau”, ông nêu ví dụ một
số câu trần thuật mà thể hiện bằng hình thức nghi vấn, câu nghi vấn lại thể hiện bằng hình thức cầu khiến
Từ những năm tám mươi thế kỷ trước, việc nghiên cứu câu cầu khiến đã
đi vào một thời kỳ mới, phát triển mạnh mẽ, chủ yếu thể hiện ở số lượng các
Trang 26công trình nghiên cứu ngày càng nhiều, phạm vi nghiên cứu ngày càng sâu rộng, phương pháp nghiên cứu ngày càng đổi mới
Tóm lại, việc nghiên cứu câu cầu khiến tiếng Hán cũng đã có một thời gian không gắn, nhưng trong giới Hán ngữ học vẫn có những ý kiến khác hẳn nhau, về một số vấn đề cơ bản như phạm vi câu cầu khiến, tính chất câu cầu khiến và chức năng câu cầu khiến v.v vẫn chưa có một quan điểm nào có thể thuyết phục được tất cả các nhà nghiên cứu Nhưng cũng có điều đáng mừng
là những năm gần đây có nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến câu cầu khiến và ra đời nhiều chuyên luận nói về vấn đề này
1.4.4.2 Nhận diện câu cầu khiến trong tiếng Hán
Các động từ có khả năng hoạt động trong câu cầu khiến thường mang hai đặc trưng ngữ nghĩa, đó là tính điều khiển và tính hành động (tức là động từ ngôn hành) Câu cầu khiến tiếng Hán thể hiện bằng động từ ngôn hành có nhiều hình thức như kiểu câu cầu khiến chỉ có gồm có một thành phần là một động từ ngôn hành; kiểu câu cầu khiến có hai động từ ngôn hành lặp lại; kiểu câu cầu khiến chứa chữ “把”(bǎ)…
Một số tính từ tiếng Hán cũng có thể đi vào hoạt động trong câu cầu khiến đóng vai động từ ngôn hành Chúng chủ yếu hoạt động trong hai kiểu câu:
a “tính từ + 一点(yī diǎn)!”
请小心一点!(qǐng xiǎo xīn yī diǎn)
D: Hãy cẩn thận một chút!
b “别 bié(太 tài)+ tính từ +(了 le)!”
别太粗心了!(bié tài cū xīn le)
D: Đừng sơ ý!
Những tính từ có thể làm vị ngữ trong câu cầu khiến trước hết phải mang đặc trưng ngữ nghĩa tính điều khiển, gồm có hai trường hợp sau: người thực
Trang 27hiện hành động có thể mang hoặc không mang một trạng thái tính chất nào đó theo ý chí của mình; người thực hiện hành động có thể tránh mang hoặc không mang một trạng thái tính chất nào đó theo ý mình
Trường hợp phó từ đứng ra làm câu cầu khiến rất ít, chủ yếu có phó từ mang ý nghĩa phủ định như “别 bié”(đừng), “甭 béng”(chớ), phó từ có ý nghĩa thúc giục như “赶紧 gǎn jǐn”, “赶快 gǎn kuài” (nhanh lên) và những từ chỉ phương thức như “一块 yī kuài(儿 ér)”, “一起 yī qǐ” (cùng nhau) v.v
1.5 Tiểu kết
Chương này chủ yếu trình bay các cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài, trước hết nên làm rõ khái niệm hành động ngôn từ và cách phân loại hành động ngôn từ; hành động cầu khiến nằm trong phạm vi hành động ngôn từ tức
là hành động cầu khiến được thực hiện qua câu cầu khiến; câu cầu khiến có thể chia thành câu cầu khiến trực tiếp và câu cầu khiến gián tiếp nhờ hình thức cấu trúc của chúng, ở luận văn này chúng tôi chủ yếu khảo sát về câu cầu khiến trực tiếp Câu cầu khiến trực tiếp có thể có hai loại phương tiện biểu hiện chính: phương tiện tường minh (tức là phương tiện từ vựng) và phương tiện nguyên cấp (tức là phương tiện ngữ pháp)
Tiếng Việt và tiếng Hán cùng một loại hình ngôn ngữ nên cũng có nhiều nét giống nhau, câu cầu khiến tiếng Việt và câu cầu khiến tiếng Hán có sự giống nhau nhưng cũng có sự khác nhau, luận văn này dựa trên cơ sở tiếng Việt để so sánh điểm giống và điểm khác của câu cầu khiến trong hai ngôn ngữ
Trang 28Chương 2: Phương tiện tường minh trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán)
2.1 Phương tiện tường minh
2.1.1 Động từ ngôn hành
Trong tác phẩm ngôn ngữ học nổi tiếng “How to do things with words” (Nói là hành động), tác giả người Anh J L Austin [16, tr16-20]đã nêu ra thuật ngữ “hành động ngôn từ”, tức là hành động được thực hiện qua con đường nói năng (ở chương I đã nói), với quan niệm đó ông đã nêu ra thuật ngữ “động từ ngôn hành”, nó được hiểu là những động từ chỉ hành động được thực hiện bằng ngôn từ
Ví dụ: - Em chào anh!
Trong ví dụ này chủ ngôn đã thực hiện một hành động là hành động chào hỏi thông qua con đường nói năng, đó là chủ ngôn sử dụng một hành động ngôn từ; đồng thời, lúc chủ ngôn nói ra phát ngôn này là đã thực hiện hành động chào hỏi bằng cách dùng động từ “chào”, do vậy, “chào” là động từ ngôn hành
Trong cụ thể từng ngôn ngữ như tiếng Việt, động từ ngôn hành được nhận diện bằng mấy tiêu chí sau đây:
a Trước hết, động từ ngôn hành phải là động từ biểu thị hành động và được thực hiện bằng cách nói năng, khi chủ ngôn phát ngôn kết thúc cũng là lúc hành động đó được thực hiện xong Do vậy, những động từ không biểu thị hành động động từ trạng thái và động từ được thực hiện bằng hành động như vật lý nào đó thì không phải là động từ ngôn hành
Ví dụ như động từ “đánh”, “ăn”, “mặc” thì không phải là động từ ngôn hành vì chúng tuy là động từ biểu thị hành động nhưng không thể thực hiện bằng cách nói năng, chúng được thực hiện bằng hành động vật lý “đánh”,
“ăn” và “mặc”
Trang 29b Đề ngữ của phát ngôn chứa động từ ngôn hành chủ ngôn nên phải ở ngôi thứ nhất/ngôi gộp: tôi, chúng tôi Cũng có trường hợp đề ngữ không có mặt
Ví dụ: - Tôi khuyên anh nên làm việc cẩn thận (câu cầu khiến)
- Anh ấy khuyên anh nên làm việc cẩn thận (câu trần thuật)
Hai ví dụ trên khác nhau ở chủ ngôn phần đề ngữ Chủ ngôn của phát ngôn thứ nhất là “tôi”, do vậy, lúc câu này được nói ra thì cũng là lúc người
đề xuất (tức là “tôi”) đã thực hiện hành động “khuyên”, thỏa mãn điều kiện câu cầu khiến; chủ ngôn của phát ngôn thứ hai là “anh ấy”, do vậy câu này chỉ
có ý là thông báo cho tiếp ngôn việc anh ấy khuyên anh nên làm việc cẩn thận
vì hành động “khuyên” đó đã được thực hiện trước khi phát ngôn này được nói ra, câu này chỉ là câu trần thuật
c Bổ ngữ của động từ ngôn hành là đối ngôn nên nó phải ở ngôi thứ hai như anh, các anh…
Ví dụ: - Tôi khuyên anh nên làm việc cẩn thận
- Tôi khuyên anh ấy nên làm việc cẩn thận
Sự khác nhau ở hai ví dụ trên là ở chủ ngôn phần thuyết, phát ngôn thứ nhất là “anh”, là ngôi hai, do vậy, phát ngôn này là lực ngôn trung thực tiếp tác động đến tiếp ngôn; phát ngôn thứ hai thì là tác động đến “anh ấy”, người thứ ba ngoài hội thoại, phát ngôn ấy chỉ là thông báo cho tiếp ngôn việc chủ ngôn khuyên anh ấy nên làm việc cẩn thận
d Động từ ngôn hành phải được thực hiện ở thời điểm hiện tại
Ví dụ phát ngôn “Tôi vừa khuyên anh nên làm việc cẩn thận”, thì đây là phát ngôn trần thuật, vì phát ngôn có chứa từ tình thái chỉ thời gian “vừa” nêu
rõ hành động “khuyên” đã xảy ra ở trước thời điểm phát ngôn được nói ra Dó
đó, có thể nhận thấy rằng phát ngôn chứa động từ ngôn hành không được chứa các từ tình thái chỉ thời gian đi kèm
Trang 30e Động từ ngôn hành phải nằm trong mệnh đề chính của phát ngôn
f Động từ ngôn hành không đứng sau các từ phủ định và các từ có hàm ý phủ định như không, chưa, chẳng, suýt… cũng không đứng sau các từ biểu thị
dự định
Ví dụ: - Tôi chẳng khuyên anh nên làm việc cẩn thận,
- Tôi định khuyên anh nên làm việc cẩn thận
Ví dụ thứ nhất có chứa từ “chẳng” cho nên hành động khuyên chưa bao giờ được thực hiện; ví dụ thứ hai chứa từ “định” có nghĩa là chủ ngôn chỉ có ý muốn thực hiện hành động “khuyên”, chứ không nhất thiết sẽ thực hiện hành động Một động từ khi thỏa mãn 6 điểm nói trên mới có thể là một động từ ngôn hành Động từ ngôn hành có thể được phân chia theo lực ngôn trung mà nó chứa,
sẽ có 3 loại động từ ngôn hành và 3 loại phát ngôn chứa chúng tương ứng:
Loại 1: Phát ngôn trần thuật chứa động từ ngôn hành trần thuật, gồm có khẳng định, thông báo…
Loại 2: Phát ngôn nghi vấn chứa động từ ngôn hành nghi vấn, tức là động từ ngôn hành hỏi
Loại 3: Phát ngôn cầu khiến chứa động từ ngôn hành cầu khiến, gồm córa lệnh, cấm, yêu cầu, xin phép…
2.1.2 Động từ ngôn hành cầu khiến
Động từ ngôn hành cầu khiến thuộc phạm vi động từ ngôn hành, do vậy, ngoài việc chúng phải thỏa mãn 6 điểm điều kiện nhận diện động từ ngôn hành nói trên, với ý nghĩa là cầu khiến, chúng còn phải thỏa mãn 2 điểm sau đây:
a Về mặt ý nghĩa, động từ ngôn hành cầu khiến phải có nét nghĩa cầu khiến như ra lệnh, yêu cầu, cho phép…
b Về mặt hình thức, động từ ngôn hành cầu khiến được sử dụng trong
mô hình cầu trúc: (D1) – Vnhck – D2 – V Trong đó, chủ ngôn là đại từ ngôi một - D1, tiếp ngôn là đại từ ngôi hai - D2, mô hình này phải là thời hiện tại
Trang 312.1.3 Khảo sát cụ thể
Dựa trên các lý thuyết trên, chúng tôi có thể tìm ra được danh sách các động từ ngôn hành cầu khiến trong tiếng Việt, trong khi đó, Tiếng Hán với tiếng Việt cùng một loại hình, có nhiều đặc điểm giống nhau, trong danh sách động từ cầu khiến tiếng Hán có nhiều từ tương đương với các từ trong danh sách động từ ngôn hành cầu khiến tiếng Việt
“xin phép” đồng nghĩa với nhau cho nên cho vào cùng nhóm Danh sách động
từ ngôn hành cầu khiến tiếng Việt và tiếng Hán về cơ bản là giống nhau, trong luận văn này các nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở tiếng Việt có liên hệ với tiếng Hán, do vậy trong danh sách trên lấy tiếng Việt làm chủ, và ở phần dưới cũng khảo sát chi tiết từng động từ ngôn hành cầu khiến tiếng Việt có liên hệ với tiếng Hán Chúng tôi sẽ phân tích theo hai phương diện: hiệu lực cầu khiến và tính lịch sự Trong các ví dụ minh họa cho từng động từ ngôn hành
Trang 32cầu khiến tiếng Việt có câu tiếng Hán tương đương kèm theo để phân tích sự khác nhau và giống nhau ở phần này trong hai ngôn ngữ
“Ra lệnh” có nghĩa là “đưa ra mệnh lệnh”, tức là chủ ngôn ép buộc tiếp ngôn nhất định phải làm điều mà chủ ngôn đề xuất, không có sự thỏa thuận nào khác, tiếp ngôn chỉ có thể chấp nhận thực hiện chứ không thể có sự lựa chọn khác Từ này chỉ dùng cho trường hợp chủ ngôn có cả vị thế xã hội lẫn
vị thế giao tiếp đều cao hơn tiếp ngôn “Ra lệnh” có mức độ khiến rất cao, chứ hầu như không có tính cầu, do vậy tính lịch sự của từ này rất thấp
Ví dụ: - Bố ra lệnh cho con phải viết xong bai trong hôm nay
PA: wǒ mìnglìng nǐ bìxū zài jīntiān zhī nèi xiě wán zuòyè (bàba duì háizi shuō)
Ví dụ trên phải nằm trong ngữ cảnh hội thoại là bố đang nói chuyện với
con mình, vì danh từ bố là một danh từ có thể đóng vai trò là đại từ, nhưng là đại từ không xác định được ngôi nếu tách ra khỏi ngữ cảnh, ở câu này bố là ngôi một tự xưng, tức là D1, ra lệnh là động từ ngôn hành cầu khiến, “con” là
danh từ có tính chất cũng giống như từ “bố”, ở đây nó có vai trò là đại từ ngôi hai tức là D2 Động từ “viết” ở đây là vị từ mà nó có thể có phần phụ như viết xong bai, và cũng có thể có trạng ngữ đi kèm để bổ sung cụ thể những thông tin cho câu, ở câu này thì có sự hạn chế về thời gian là “trong hôm nay” Nòng cốt của câu ví dụ này có thể được rút ra là: Bố ra lệnh con viết Do vậy, chúng tôi có thể thấy rằng, câu ví dụ trên thỏa mãn mô hình cấu trúc câu cầu khiến tiếng Việt K1=D1-Vnhck-D2-V(p)
Câu tiếng Hán ở trên là câu dịch từ câu ví dụ tiếng Việt ra, trước hết phải đảm bảo sự tương đương về mặt ý nghĩa của hai câu, như vậy mới có thể so sánh được sự khác nhau về cách diễn đạt cũng như cấu trúc câu cầu khiến trong hai ngôn ngữ
Trang 33Trong hai câu ví dụ trên, bố tương đương với 我, vì câu ví dụ tiếng Hán cũng đã được đặt ra ở trong ngữ cảnh cụ thể giống như ở câu tiếng Việt tức là ngữ cảnh bố đang nói chuyện với con mình Ở tiếng Hán, thông thường bất cứ người đề xuất và người tiếp nhận có mối quan hệ gì với nhau trong ngữ cảnh giao tiếp trực tiếp đại từ ngôi một đều do 我(wǒ) đảm nhiệm và đại từ ngôi hai đều do 你(nǐ)/您(nín) đảm nhiệm Ở đây, “con” tương đương với 你, động
từ ngôn hành cầu khiến “ra lệnh” tương đương với 命令(mìng lìng), “phải” tương đương với 必须(bì xū), vị từ có phần phụ “viết xong bai” tương đương với 写完作业(xiě wán zuò yè), “trong hôm nay” là 在今天之内(zài jīn tian zhī nèi) Chúng được sắp xếp thành câu theo trật từ câu tiếng Hán là 我命令你必须在今天之内写完作业!Nòng cốt câu ví dụ tiếng Hán này cũng có thể rút ra là 我命令你写(wǒ mìng lìng nǐ xiě), từ 写(xiě) cho thêm phần phụ là 写完作业(xiě wán zuò yè) Về mặt cấu trúc câu hai câu này chỉ có khác ở vị trí của trạng ngữ để thông báo thông tin cụ thể về sự hạn chế về thời gian, trong câu tiếng Việt trạng ngữ đó được để cuối câu, trong tiếng Hán trạng ngữ đó được để ở giữa câu
Do vậy, chúng ta có thể thấy, mô hình cấu trúc câu cầu khiến có động từ ngôn hành cầu khiến của hai ngôn ngữ về cơ bản là giống nhau, tức là đều tuân theo mô hình cấu trúc K1=D1-Vnhck-D2-V(p), D1 ở đây là không thể thiếu
“Cấm” có nghĩa là cấm chỉ/không cho phép làm việc gì đó, tức là chủ ngôn không cho phép xảy ra điều chủ ngôn đề xuất, tiếp ngôn nhất định không được làm điều này, nhưng không có nghĩa là không được làm điều khác, tiếp ngôn vẫn có sự lựa chọn làm điều khác ngoài điều chủ ngôn đề xuất
Nó khác từ “ra lệnh” ở chỗ, “ra lệnh” là tiếp ngôn chỉ có thể làm theo điều chủ ngôn đề xuất, “cấm” thì chỉ cấm chỉ tiếp ngôn không được làm điều chủ
Trang 34ngôn đề xuất mà không có nghĩa là không được làm điều khác, “ra lệnh” là khẳng định, “cấm” là phủ định và có không gian lựa chọn cho tiếp ngôn rộng hơn Chủ ngôn mà sử dụng từ “cấm” cũng có vị thế xã hội lẫn vị thế giao tiếp đều cao hơn tiếp ngôn, mức độ khiến cao, tính lịch sự thấp
Ví dụ: - Cấm con không được chơi trò nguy hiểm này nữa
PA: jìnzhǐ nǐ zài wán zhè zhǒng wēixiǎn de yóuxì le.(bàba dùi háizi shuō)
“Cấm” có thể tương đương với từ tiếng Hán 禁止(jìn zhǐ)về mặt ý nghĩa
từ vựng lẫn cách sử dụng trong câu cầu khiến Như ở ví dụ trên, với mục đích đầu tiên là đảm bảo câu dịch tiếng Hán có ý nghĩa tương đương với câu tiếng Việt, chúng ta phải tìm ra từng từ tiếng Hán tương đương, “cấm” tương đương với 禁止(jìn zhǐ), “con” ở đây tương đương với 你(nǐ)(đã nói ở phần trên),
“nữa” tương đương với 再(zài), “chơi trò nguy hiểm này” 玩这种危险的游戏(wán zhè zhǒng wēi xiǎn de yóu xì), 了(le) là từ ngữ khí không có ý nghĩa từ vựng, khi được xếp thành câu theo trật tự câu tiếng Hán thì có chỗ khác với câu tiếng Việt là từ “nữa” tức là 再(zài) được đạt giữa câu, chứ không ở cuối câu như ở câu tiếng Việt Về mặt cấu trúc câu, hai câu đều thỏa mãn mô hình cấu trúc câu cầu khiến K1=(D1)-Vnhck-D2-V(p), nhưng việc sử dụng từ “cấm” có điều khác với “ra lệnh” là D1 có thể có mặt hoặc vắng mặt trong câu
“Cấm” trong tiếng Hán có thể có nhiều cách nói, như không cho phép
Trang 35xuất, không ép buộc tiếp ngôn phải làm theo điều chủ ngôn đề xuất, hơn nữa chủ ngôn còn tạo điều kiện cho tiếp ngôn thực hiện hành động, mức độ khiến của hai từ này thấp hơn “ra lệnh” và “cấm”, nhưng cũng như “ra lệnh” và
“cấm”, “cho/cho phép” không có ý nghĩa cầu Chủ ngôn sử dụng hai từ này vẫn có vị thế xã hội và vị thế giao tiếp cao hơn tiếp ngôn, nhưng tính lịch sự thì cao hơn “ra lệnh” và “cấm”
Ví dụ: - Cho chúng tôi khuân đi thôi, chúng tôi nhà nghèo dùng được tất
[1,8,tr.98]
让我拿去罢。我们小户人家,用得着。[3,8,tr.70]
PA: ràng wǒ ná qù ba Wǒmen xiǎo hù rénjiā, yòngdezháo
Hai ví dụ trên được trích dẫn từ cuốn sách “Tuyển tập truyện ngắn Lỗ Tấn”, bản dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc Nhân dân Văn hóa xuất bản
1957 và 1958 do nhà văn Trương Chính dịch, và bản nguyên của nó Do vậy,
có thể đảm bảo được sự giống nhau về mặt ý nghĩa của chúng Chúng đều thỏa mãn mô hình cấu trúc câu cầu khiến K1=(D1)-Vnhck-D2-V(p), và trong trường hợp này D1 cũng vắng mặt
“Cho” trong tiếng Hán có thể nói là “让”(ràng)、“给”(gěi), do vậy, câu này cũng có thể nói là “给我拿去罢。我们小户人家,用得着。”(gěi wǒ ná
qù ba wǒ mén xiǎo hù rén jia, yòng de zháo.)
“Yêu cầu” có nghĩa là nêu ra điều gì thuộc nhiệm vụ, khả năng của đối tượng mà mình muốn đối tượng thực hiện Chủ ngôn không ép buộc tiếp ngôn phải thực hiện điều chủ ngôn nêu ra, mà là nêu ra ý muốn của mình với hy vọng muốn tiếp ngôn thực hiện Chủ ngôn sử dụng từ này trong khi vị thế xã hội và vị thế giao tiếp cao hơn tiếp ngôn không nhiều “Yêu cầu” có mức độ khiến thấp hơn các từ trên, nhưng cũng không có ý nghĩa cầu, tính lịch sự thì cao hơn các từ trên
Trang 36Vi dụ: - Mẹ yêu cầu con đi tắm ngay bây giờ
PA: wǒ yāoqiú nǐ mǎshàng qù xǐzǎo.(māmā duì háizi shuō)
Để đảm bảo ý nghĩa tương đồng của hai ví dụ trên, chúng ta có “mẹ” tương đương với 我(wǒ) trong trường hợp này, “yêu cầu” tương đương với 要求(yāo qíu), “con” tương đương với 你(nǐ), “đi tắm” tương đương với 去洗澡(qù xǐ zǎo), “ngay” tương đương với 马上(mǎ shàng), trong cấu trúc câu tiếng Hán, từ “ngay” tức là 马上(mǎ shàng) được để ở giữa câu Hai ví dụ này cũng thoả mãn mô hình cấu trúc câu cầu khiến K1=D1-Vnhck-D2-V(p)
Trong tiếng Hán cũng có thể nói là“我要你马上去洗澡。”(wǒ yào nǐ mǎshàng qù xǐzǎo)hai cách nói đều có ý nghĩa cầu khiến giống nhau
“Đề nghị” có nghĩa là chủ ngôn đưa ra ý kiến mình để cho thêm sự lựa chọn cho tiếp ngôn, và có tính khuynh hướng muốn tiếp ngôn chấp nhận và thực hiện điều mình đề xuất Chủ ngôn sử dụng từ này trong phát ngôn thường có vị thế xã hội cao hơn hoặc bằng tiếp ngôn, vị thế giao tiếp thì bằng tiếp ngôn Mức độ khiến của “đề nghị” càng thấp hơn các từ “ra lệnh”, “cấm”,
“cho/cho phép”, “yêu cầu”, nhưng cũng có tính cầu thấp, tính lịch sự cao hơn các từ trên
Ví dụ: - Tôi đề nghị anh nên làm theo quy định
D: 我建议你应该按照规定办。
PA: wǒ jiànyì nǐ yīnggāi ànzhào guīdìng bàn
Trong hai ví dụ trên, “tôi” tương đương với 我(wǒ), “đề nghị” tương đương với 建议(jiàn yì), “anh” tương đương với 你(nǐ), “nên” tương đương với 应该(yīng gāi), “làm theo quy định” tương đương với 按照规定办(àn zhào guī dìng bàn) Hai ví dụ trên cũng thỏa mãn mô hình cấu trúc câu cầu
Trang 37khiến K1=D1-Vnhck-D2-V(p)
“Khuyên” có nghĩa là chủ ngôn khuyến khích tiếp ngôn nên hay không nên làm một việc nào đó, chủ ngôn không hề ép buộc tiếp ngôn điều gì mà chi nêu ra quan điểm của mình và cũng có tính khuynh hướng muốn được tiếp ngôn chấp nhận ý kiến mình Khi chủ ngôn sử dụng từ này là đặt mình ở vị thế giao tiếp bằng nhau hoặc cao hơn tiếp ngôn “Khuyên” có ý nghĩa khiến rất nhẹ nhưng cũng không mang ý nghĩa cầu, tính lịch sự lại cao hơn các từ trên
Ví dụ: - Cô khuyên cháu nên nghỉ ngơi đi!
PA: wǒ quàn nǐ gāi qù xiūxī le (āyí duì zhízi shuō)
Trong hai ví dụ trên, “cô” tương đương với đại từ ngôi một 我(wǒ), động
từ ngôn hành cầu khiến “khuyên” tương đương với 劝(quàn), “cháu” tương đương với đại từ ngôi hai 你(nǐ), “nên” tương đương với 该(gāi), “nghỉ ngơi đi” tương đương với 去休息(qù xīu xī), 了(le) là từ ngữ khí không mang ý nghĩa từ vựng Hai câu trên cũng thỏa mãn mô hình cấu trúc câu cầu khiến K1=D1-Vnhck-D2-V(p)
“Nhờ” có nghĩa là yêu cầu người khác làm giúp cho việc gì, “nhờ” có tiền giả định là chủ ngôn biết rõ khả năng của tiếp ngôn có thể làm được việc này Chủ ngôn nhờ tiếp ngôn làm điều mình đề ra là mang ý nghĩa cầu Vị thế giao tiếp của chủ ngôn thấp hơn tiếp ngôn, nhưng không có nghĩa là vị thế xã hội cũng thấp hơn, trong các trường hợp chủ ngôn sử dụng “nhờ” là vì tính lịch sự của nó, chứ vị thế xã hội của chủ ngôn có cả cao, bằng, thấp - ba khả năng đối với tiếp ngôn
Ví dụ: - Hay là ba có kinh nghiệm, nhờ ba xem giùm cho cháu một tý
Trang 38PA: máfán nǐlǎo fǎ yǎn kànyīkàn, zěnyàng
Ví dụ tiếng Việt trên được trích từ cuốn dịch từ nguyên bản tiếng Hán và được dịch từ câu ví dụ tiếng Hán thứ nhất ra đảm bảo được sự giống nhau về mặt ý nghĩa của chúng 请 (qǐng)(mời), 拜 托 (bài tuō)(nhờ), 麻 烦 (má fán)(phiền) trong trường hợp diễn đạt ý nghĩa cầu khiến nhờ giống nhau Những ví dụ trên thỏa mãn mô hình cấu trúc câu cầu khiến K1=(D1)-Vnhck-D2-V(p), trong đó D1 vắng mặt
“Mời” có nghĩa là tỏ ra ý muốn người khác làm việc gì một cách lịch sự, trang trọng Vị thế xã hội và vị thế giao tiếp của chủ ngôn giống như “nhờ”, vì
“mời” có tính lịch sự cao, nên thường dùng trong các trường hợp trang trọng
Từ “mời” mang ý nghĩa cầu
Ví dụ: - Mời cụ xơi cơm ạ! [1,7,tr.83]
七爷,请在我们这里用饭!
PA: qī yé, qǐng zài wǒmén zhèlǐ yòngfàn
“请”(qǐng) trong tiếng Hán có ý nghĩa rất rộng, có nghĩa phiền nhờ như ở
ví dụ trước, có nghĩa mời mọc như ví dụ này, cũng có nghĩa xin phép như ở phần sau
“Chúc” có nghĩa là tỏ ra ý muốn điều tốt lành xảy ra cho người khác, chủ
Trang 39ngôn không hề khiến tiếp ngôn làm gì, chỉ cầu xin cho điều tốt xảy ra với tiếp ngôn Tiếp ngôn không nhất định có khả năng thực hiện điều chủ ngôn mong muốn, từ này mang tính cầu rất cao và không cần tiếp ngôn thực hiện ngay, điều chủ ngôn mong muốn có thể được thực hiện hay không được thực hiện trong tương lai Vị thế xã hội và vị thế giao tiếp của hai bên không hạn chế
Ví dụ: - Em chúc anh sinh nhật vui vẻ
“Cầu” có nghĩa là mong muốn điều gì cho mình hoặc người khác, điều
đó có thể là tốt cũng có thể là xấu, khác với “chúc” là điều tốt lành Chủ ngôn
có vị thế giao tiếp thấp và vị thế xã hội không hạn chế “Cầu” chỉ mang tính cầu mà không có ý nghĩa khiến
Ví dụ: - Cầu xin cụ lớn không bỏ lệ hát ả đào…! [2,2,tr.136]
D: 求老爷不要废除唱阿道的惯例!
PA: qiú lǎoyé búyào fèichú chàng ādào de guànlì
Để đảm bảo câu dịch trước hết phải có ý nghĩa giống với câu gốc: cầu trong tiếng Hán có nghĩa là 求(Vnhck), cụ lớn là 老爷(D2), không là 不(要),
bỏ là 废除(V), lệ hát ả đảo là 唱阿道的惯例(p) Ví dụ trên thỏa mãn mô hình
cấu trúc câu cầu khiến K1, dù D1 không có mặt ở trong câu
- Em cầu Thánh cầu Mẫu siêu linh phù hộ độ trì lay tâm chuyển tính cho
nó, khiến nó nóng lòng nòng ruột hồi tâm trở về…[2,2,tr.202]
D: 求神灵让他回心转意!
Trang 40PA: qiú shénlíng ràng tā huíxīnzhuǎnyì
Trong câu ví dụ này sử dụng hai từ cầu là để thể hiện mong muốn tha
thiết của chủ ngôn
Ví dụ: - Xin sư phụ để khi khác…! [2,2,tr.150]
D: 请师父另择良辰…!(trong đó, xin là 请, sư phụ là 师父, để khi khác
là 另择良辰)
PA: qǐng shīfu lìng zé liángchén
- Đệ từ xin phép được lên đường…[2,2,tr.302]
D: 弟子申请上路了…(trong đó, đệ từ là 弟子, xin phép là 申请, lên
vị thế giao tiếp thấp hơn “xin”, ít khi xảy ra trường hợp chủ ngôn có vị thế xã hội cao lại “van” tiếp ngôn có vị thế xã hội thấp hơn nhiều so với mình
Ví dụ: - Tao van mày… Tao lạy mày Bây giờ tao là con trâu con chó
buộc góc sân nhà mày [2,1,tr.59]