Leech khẳng định rằng, trong hoạt động giao tiếp, một hành động được coi là lịch sự hay không lịch sự là tùy thuộc vào phát ngôn cụ thể gắn với một tình huống giao tiếp cụ thể nào đó.. M
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ TẠO ĐẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Đặng Thị Hảo Tâm
2 TS Vũ Tiến Dũng
SƠN LA - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Đoàn Văn Đạt
Trang 3Lêi c¶m ¬n
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đặng Thị
Hảo Tâm, TS Vũ Tiến Dũng đã tận tình hướng dẫn và tạo những điều kiện tốt
nhất giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô phản biện đã đọc và có những nhận xét quý báu cho bản luận văn
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khoá học
Sơn La, tháng 12 năm 2015
Tác giả
Đoàn Vãn Đạt
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích, nhiệm vụ, ý nghĩa của đề tài 8
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 9
6 Cấu trúc của đề tài 10
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ THUYẾT 11
1.1 Lí thuyết hành động ngôn ngữ 11
1.1.1 Lí thuyết hành động ngôn ngữ của Austin 13
1.1.2 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ của Searle 24
1.2 Lí thuyết hội thoại 26
1.2.1 Khái niệm cuộc thoại 28
1.2.2 Những đặc điểm khái quát về cuộc hội thoại 28
1.3 Lí thuyết lịch sự 33
1.3.1 Quan điểm lịch sự của R.Lakoff 34
1.3.2 Quan điểm lịch sự của Leech 37
1.3.3 Quan điểm của Brown và Levinson về lịch sự 39
1.3.4 Quan điểm về lịch sự của các nhà nghiên cứu phương Đông 40
Tiểu kết chương 1 43
Chương 2 : HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ VÀ LỊCH SỰ CỦA HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ 45
2.1 Hành động đề nghị 45
2.1.1 Hành động cầu khiến 45
2.1.2 Hành động đề nghị 46
2.1.3 Nhận diện lời đề nghị 49
2.1.4 Các kiểu hành động đề nghị 51
Trang 52.2 Lịch sự của một số hành động đề nghị trong giao tiếp tiếng Việt 55
2.2.1 Văn hóa giao tiếp và lịch sự trong văn hóa giao tiếp 55
2.2.2 Các cách diễn đạt tình thái cơ bản trong lời đề nghị của tiếng Việt 57 2.2.3 Các yếu tố ngôn ngữ diễn đạt tính lịch sự của lời đề nghị trong giao tiếp tiếng Việt 58
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3 : HỒI ĐÁP LỜI ĐỀ NGHỊ VỚI TÍNH LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP 73
3.1 Chấp thuận lời đề nghị 73
3.1.1 Chấp thuận lời đề nghị bằng cách nói giảm 76
3.1.2 Chấp thuận lời đề nghị bằng ngôn ngữ trực tiếp 77
3.2 Từ chối lời đề nghị 78
3.2.1 Từ chối bằng lời 81
3.2.2 Từ chối phi lời 88
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân chia hành động cầu khiến theo lực ngôn trung 46 Bảng 2.2: Khảo sát từ xưng hô trong lời đề nghị 64
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Có thể nói, xã hội ngày nay là một xã hội phát triển và chuyển động không ngừng, với tình hình thực tế đặt ra thách thức cũng như cơ hội đối với mỗi quốc gia, dân tộc, và bản thân mỗi người chúng ta Chính vì vậy, quan hệ ngoại giao, nhu cầu giao tiếp của con người được mở rộng trên nhiều lĩnh vực Giao tiếp là hoạt động liên cá nhân nhằm trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội Hoạt động giao tiếp có thể tiến hành bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng giao tiếp bằng ngôn ngữ là cơ bản và quan trọng nhất Vai trò quan trọng của chức năng giao tiếp bằng ngôn ngữ ngày càng được nhận thức đầy đủ trong giới ngôn ngữ học và các giới nghiên cứu hữu quan Bên cạnh đó, việc giảng dạy ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp đang trở thành một đòi hỏi thực tế ngày càng gia tăng Do đó việc nghiên cứu lời nói trong giao tiếp trở thành một nhu cầu hết sức quan trọng, đôi khi
có vai trò quyết định trong các hoạt động
Lịch sự đã có từ rất lâu đời và được biểu hiện trong nhiều ngôn ngữ, ở nhiều nền văn hóa khác nhau Tuy nhiên, phải đến năm 1870 với các công trình nghiên cứu của N.Boston và J.C.Lock, thì tính lịch sự (politeness) mới được xem như là một khái niệm đáng được quan tâm Từ đó về sau, nó trở thành đối tượng thu hút sự quan tâm của ngữ dụng học nói riêng và ngôn ngữ học nói chung
Lịch sự theo các nhà nghiên cứu phương Tây được hiểu là có tính chiến lược, tức là trong giao tiếp người ta phải vận dụng đến các chiến lược lịch sự trong ứng xử ngôn ngữ như tế nhị, khéo léo, tránh xung đột, va chạm hay áp đặt đối với người đối thoại, đồng thời làm gia tăng sự hài lòng của họ, nhờ đó
mà nâng cao hiệu quả giao tiếp Lịch sự theo quan niệm của người phương
Trang 8Đông lại được coi như những chuẩn mực xã hội, chịu áp lực mạnh của những quy tắc trong tương tác, còn được gọi là “lịch sự lễ độ” Một số nhà nghiên cứu lại coi lịch sự là sự dung hợp của các chuẩn mực xã hội và những chiến lược mang tính cá nhân
Lời đề nghị tồn tại trong các nền văn hóa khác nhau và ở các ngôn ngữ
Nó được thực hiện với nhiều mục đích khác nhau như: yêu cầu, nhờ, ra lệnh nhưng vấn đề là đề nghị như thế nào, đề nghị ra sao để cho người tiếp nhận lời đề nghị cảm thấy vui vẻ và nếu người tiếp nhận từ chối thì từ chối như thế nào cho hợp lí, không mất lòng người khác cũng là vấn đề đặt ra Cách thức
sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đối với mỗi cộng đồng dân tộc luôn có sự khác nhau, và ngay cả mỗi dân tộc thì từng cá nhân trong giao tiếp cũng có sự khác nhau do mối quan hệ về lứa tuổi, họ hàng, vị trí xã hội quy định Điều
đó tạo nên những nét đặc trưng văn hóa ứng xử cũng như các nét bản sắc riêng của mỗi dân tộc, của mỗi cá nhân Trong giao tiếp, người Việt cũng có những nét đặc trưng riêng, tạo nên bản sắc văn hóa trong ứng xử mà khó có thể bắt gặp ở một cộng đồng ngôn ngữ khác
Việc nghiên cứu lời đề nghị, và hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học sẽ không chỉ giúp việc giảng dạy một số tác phẩm văn học hiệu quả hơn mà còn giúp người dạy hiểu rõ hơn về sắc thái trong từng lời đề nghị
và hồi đáp lời đề nghị một cách lịch sự, có văn hóa
Giới nghiên cứu ngôn ngữ học đã quan tâm nhiều tới giao tiếp lời nói ở một số hành động ngôn ngữ như: Chào hỏi, mời, xin lỗi, cảm ơn, cầu khiến với các mức độ khác nhau và tiếp cận nó ở nhiều phương diện khác nhau Các phương diện đó có thể là các hình thức xưng hô, các hành động ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp, mối quan hệ giữa giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác với hành động ngôn ngữ Tuy nhiên, tính lịch sự của các hành động ngôn ngữ đặc biệt lịch sự của lời đề nghị và hồi đáp lời đề nghị cũng là một nội dung quan
Trang 9trọng, thể hiện văn hóa giao tiếp của mỗi người cũng chưa được quan tâm nghiên cứu thích đáng
Khi mỗi cá nhân đưa ra một lời đề nghị nào đó đối với cá nhân hoặc tổ chức, tức là người đề nghị đã đặt cá nhân hoặc tổ chức đó có trách nhiệm phải giải quyết các nội dung nêu ra trong lời đề nghị Việc đáp ứng hay không đáp ứng được yêu cầu của người đề nghị còn lệ thuộc vào điều kiện, khả năng và thái độ của người tiếp nhận lời đề nghị đó Cách thức đề nghị và cách thức tiếp nhận lời đề nghị nhằm làm hài lòng cả người người nói và người nghe trong mỗi cuộc thoại để cuộc giao tiếp đạt được hiệu quả như mong muốn là vấn đề đặt ra
Đây chính là một trong những lí do chính yếu giúp chúng tôi mạnh dạn
lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Tính lịch sự của lời đề nghị và hồi đáp lời
đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại”
2 Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ mật thiết với nhau, không ai có thể phủ nhận những mối quan hệ khăng khít không thể tách rời (có thể ví ngôn ngữ và văn hóa như hai mặt của một tờ giấy, xé mặt này không thể không xé mặt kia) Mỗi một ngôn ngữ lại mang trong mình những đặc trưng văn hóa riêng biệt của chính mình và chúng được phản ánh vào ngôn ngữ bằng những cách khác nhau cả về chất lượng, nội dung và hình thức Chính vì văn hóa và ngôn ngữ không thể tách rời nhau mà có thể thấy ngôn ngữ vừa là một bộ phận cấu thành văn hóa, vừa là phương tiện để thể hiện, lưu trữ, và truyền bá văn hóa
Định nghĩa về văn hóa đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn về văn hóa một cách khá rõ ràng và đầy đủ,
và theo Người thì: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
Trang 10khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [3]
Có thể thấy ngôn ngữ là một bộ phận của văn hóa và đồng thời cũng
phản ánh văn hóa sâu sắc nhất Clyne (1994) nhận xét: “Ngôn ngữ là sự thể
hiện sâu sắc nhất một nền văn hóa, hệ thống giá trị bao gồm cả những giá trị thừa hưởng từ cộng đồng và có một vai trò lớn tác động đến cách thức sử dụng không chỉ ngôn ngữ thứ nhất mà cả ngôn ngữ được tiếp thụ sau đó”
Hay nói một cách nôm na thì “Văn hóa qui định cái chúng ta nói, nói với ai
và nói như thế nào…” (Dẫn theo [19])
Con người sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ suy nghĩ, mong muốn của mình tới người nghe Qua đó, chúng ta không chỉ thu nhận được thông tin đơn thuần mà còn biết được tâm tư, tình cảm của người nói Ngôn ngữ với chức năng giao tiếp của mình còn có vai trò trong hình thành và duy trì mối quan
hệ giữa con người với con người trong xã hội Ngược lại văn hóa “in đậm”
vào ngôn ngữ, nó chi phối cách sinh hoạt, ứng xử, giao tiếp của mỗi người
trong cộng đồng Bởi vậy không thể tách rời ngôn ngữ và văn hóa
Ngày nay, lịch sự được nhiều người quan tâm và có một vị trí rõ nét trong giao tiếp Do vậy nó có mối quan hệ qua lại mật thiết với ngôn ngữ và văn hóa và là cái đích chúng ta cần hướng tới Nhờ lịch sự trong giao tiếp, chúng ta có thể đạt được những điều chúng ta mong muốn một cách tốt nhất Vấn đề lịch sự trong giao tiếp từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu về ngữ dụng học
Xuất phát từ những nguồn cứ liệu khác nhau thuộc các dân tộc khác nhau, ngày nay trên thế giới đang tồn tại ba khuynh hướng chính nghiên cứu
về lịch sự:
Trang 11Khuynh hướng thứ nhất coi lịch sự là một phổ niệm, tức là một khái niệm có tính phổ quát và là chiến lược lựa chọn của các cá nhân trong tương tác xã hội Những người đại diện và bảo vệ cho khuynh hướng này là các nhà nghiên cứu Âu-Mĩ, tiêu biểu là R.Lakoff, G.N.Leech, Brown và Levinson, J.Thomas, G.M.Green
R.Lakoff (1973) cho rằng “Lịch sự là một thiết bị được sử dụng để giảm bớt trở ngại trong sự tương tác giữa các cá thể” (Dẫn theo [14]) R.Lakoff đề xuất ba quy tắc lịch sự gắn với từng bối cảnh giao tiếp cụ thể để người nói có thể lựa chọn và sử dụng sao cho phù hợp Lakoff đã chỉ ra được phương thức chung nhất để đạt được tính lịch sự trong giao tiếp Nhưng những cách thức chung nhất đó chưa được cụ thể hoá bằng những chiến lược
cụ thể So với các quy tắc của Lakoff, mô hình lịch sự của Leech chi tiết hơn
Lí thuyết lịch sự của Leech dựa trên khái niệm “thiệt” (sost) và “lợi” (benefit) giữa người nói và người nghe do ngôn từ gây nên Leech cho rằng lịch sự là
sự bù đắp cho những hao tổn, thiệt thòi do hành động nói năng của người nói gây ra cho người đối thoại Để có một phát ngôn lịch sự, cần phải điều chỉnh mức lợi - thiệt nhằm đảm bảo sự cân bằng trong tương tác liên nhân Nói cách khác, lịch sự là sự bảo toàn sự cân bằng xã hội và tình thân giữa người nói và người nghe Leech đã cụ thể hóa nguyên tắc lịch sự của mình trong sáu phương châm Leech khẳng định rằng, trong hoạt động giao tiếp, một hành động được coi là lịch sự hay không lịch sự là tùy thuộc vào phát ngôn cụ thể gắn với một tình huống giao tiếp cụ thể nào đó Mặt khác, cũng theo Leech,
có những hành động ngôn ngữ có bản chất không lịch sự như hành động sai bảo, ra lệnh và đồng thời có những hành động có bản chất lịch sự như khen tặng Mô hình của Leech đã được đề xuất được đo mức lợi - thiệt, đo mức gián tiếp và đo khoảng cách xã hội cho phương châm khéo léo nhưng lại chưa
có thang độ xác định cho các phương châm còn lại, đây là một khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu
Trang 12Brown và Levinson (1978/1987) lại lấy điểm tựa là khái niệm “thể diện” (face) làm cơ sở để xây dựng lí thuyết về lịch sự với cách hiểu “thể diện
là hình ảnh của bản thân trước công chúng” (pubic self image) Trong nghiên cứu về lịch sự với điểm tựa là khái niệm “thể diện”, Brown và Levinson đã đưa ra một cặp lưỡng phân quan trọng, xuyên suốt toàn bộ các kết quả nghiên
cứu Đó là sự đối lập và thống nhất giữa thể diện dương tính (positive face) và
thể diện âm tính (negative face) Trong tương tác bằng ngôn ngữ, hầu hết các
hành động ngôn ngữ đều tiềm tàng khả năng gây tổn hại đến thể diện của chính người nói và của người nhận Do vậy, để giữ thể diện cho cả người nhận và người nói, người nói luôn phải tìm cách làm dịu nguy cơ đe dọa thể diện rằng các hành động giữ thể diện Theo Brown và Levinson, hành động lịch sự là hành động thể hiện ý thức về thể diện của người khác và thể diện của cả chính mình Nói cách khác, lịch sự là chiến lược nhằm sửa đổi, giảm thiểu mức độ mất thể diện đã hoặc sẽ xảy ra trong hoạt động giao tiếp của con người Quan điểm lịch sự của hai tác giả này được xem là nhất quán, có ảnh hưởng rộng rãi nhất, có hiệu quả nhất đối với việc nghiên cứu về phép lịch sự
Các nhà nghiên cứu khác như K.Orecchioni, J.Thomas, G.M.Green, G.Yule cũng đồng quan điểm cho rằng lịch sự là một khái niệm mang tính phổ quát, mang tính chiến lược, là sự lựa chọn của cá nhân trong tương tác xã hội
Khuynh hướng thứ hai xuất phát từ nền văn hóa phương Đông thì cho rằng lịch sự mang tính chuẩn mực xã hội Gu, Matsumoto cho rằng quan niệm về lịch sự của người phương Tây, nhất là khái niệm về thể diện và lịch sự của Brown và Levinson không phản ánh đúng quan niệm về thể diện và lịch sự với các nước thuộc nền văn hóa phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản Theo các tác giả này, lịch sự phải gắn với các giá trị thuộc về chuẩn mực giao tiếp của cộng đồng xã hội, bị chi phối bởi các chuẩn mực ấy hơn là những ý muốn về tự do lựa chọn chiến lược của cá nhân trong giao tiếp Lịch sự theo
Trang 13tiêu chuẩn này được gọi là lịch sự chuẩn mực, tức là những quy tắc ứng xử ngôn ngữ phù hợp với chuẩn mực xã hội của các cá nhân trong giao tiếp
Khuynh hướng thứ ba quan niệm lịch sự là sự kết hợp hài hòa của cả hai khuynh hướng trên, tức là coi lịch sự vừa mang tính chiến lược, lại vừa chịu áp lực của chuẩn mực xã hội Đại diện cho khuynh hướng này là hai tác giả lớn Hill và Kasper
Ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Văn Khang (1966), Bùi Minh Yến (1966), Vũ Thị Thanh Hương (1999), Nguyễn Thị Thanh Bình (2000), Vũ Tiến Dũng (2003) cũng đều cho rằng có sự khác biệt nhất định trong việc ứng xử lịch sự Những khác biệt này được làm rõ thông qua các hành động giao tiếp cụ thể Bên cạnh đó, hai tác giả Vũ Thị Thanh Hương và Vũ Tiến Dũng còn đưa ra được những kết luận về nội dung của lịch sự theo quan niệm của người Việt, đó là quan niệm coi lịch sự vừa là chiến lược của cá nhân, vừa là chuẩn mực xã hội trong tương tác
Văn học chính là bức tranh phản ánh hiện thực, hiện thực cuộc sống luôn đặt con người vào mối quan hệ qua lại với nhau Trong mối quan hệ đó, lời đề nghị luôn là một phần trong hoạt động giao tiếp, và lời đề nghị cũng xuất hiện khá thường xuyên trong các lời đối thoại của các nhân vật trong các tác phẩm văn chương Lời đề nghị và hồi đáp lời đề nghị trong giao tiếp nói chung và trong các tác phẩm văn học nói riêng mới được một số tác giả đề cập đến Đặc biệt, hành động đề nghị và cách thức tiếp nhận lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học thì hầu như chưa có tác giả nào đề cập Đây chính là một "khoảng trống" trong khoa học để giúp chúng tôi có thể tiến hành nghiên cứu đề tài này
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là tính lịch sự của lời đề nghị
và hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu chỉ hạn chế trong các số liệu thống kê về tính lịch sự của lời đề nghị và hồi đáp lời đề nghị trong lời thoại của các nhân vật trong một số tác phẩm văn chương Bên cạnh đó, luận văn cũng tập trung phân biệt các hành động ngôn ngữ có nội dung ý nghĩa gần gũi với hành động đề nghị, và tập trung làm rõ trong các hoàn cảnh, vị trí xã hội, các vai xã hội sử dụng lời đề nghị như thế nào trong tương tác xã hội
Nguồn ngữ liệu trong luận văn chủ yếu tập trung vào lời đề nghị và cách thức hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại
4 Mục đích, nhiệm vụ, ý nghĩa của đề tài
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được tìm hiểu lí thuyết, xây dựng tiêu chí về hành động đề nghị, tìm hiểu các yếu tố ngôn ngữ (và có thể bao gồm cả yếu tố kèm lời) diễn đạt tính lịch sự của hành động đề nghị, cách thức tiếp nhận hành động đề nghị trong một số tác phẩm văn học
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt tới mục đích như đã trình bày, luận văn hướng tới những nhiệm vụ cụ thể sau:
Giới thiệu một số quan điểm khác nhau về lịch sự của các nhà nghiên cứu về lịch sự trên thế giới và ở Việt Nam, và cách nhìn về tính lịch sự riêng trong tiếng Việt, nghiên cứu lí thuyết hội thoại, nghiên cứu lí thuyết về hành động ngôn ngữ
Nghiên cứu lời đề nghị và hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học
Tìm hiểu lí thuyết lịch sự và phân tích lời đề nghị trong mối quan hệ với lịch sự trong tương tác
Trang 154.3 Ý nghĩa luận văn
4.3.1 Ý nghĩa lí luận
Luận văn sơ bộ tổng kết một cách có hệ thống những thành tựu đã đạt được trong nghiên cứu về tính lịch sự của một số hành động ngôn ngữ và lịch
sự trong giao tiếp tiếng Việt
Xác định mối quan hệ giữa tính lịch sự của lời đề nghị và cách thức hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại
số tác phẩm văn học, để từ đó khai thác có hiệu quả các yếu tố ngôn ngữ diễn đạt tính lịch sự về hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn chương và trong giao tiếp tiếng Việt Luận văn còn góp phần tạo dựng mối quan tâm chung trong nghiên cứu giao tiếp lời nói tiếng Việt
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp như: phương pháp mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các nhận định, đánh giá được rút ra trong luận văn chủ yếu là từ việc phân tích số liệu thống kê (qua câu hỏi khảo sát) và nguồn tư liệu bản thân người viết thu
thập được trong thực tế giao tiếp và văn học
Phương pháp chủ đạo được sử dụng trong luận văn là phương pháp mô
tả, phân tích Đây là phương pháp được thực hiện trong sự mô tả, phân tích lí
Trang 16thuyết đã có, đặc biệt quan trọng là phân tích nguồn ngữ liệu thu thập được và
từ đó đưa ra các đánh giá, kết luận
Ngoài phương pháp chủ đạo là phương pháp mô tả, phân tích, tác giả luận văn còn sử dụng một số phương pháp tiếp cận khác là: phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp Phương pháp thống kê được thực hiện trên
cơ sở thống kê các câu hỏi khảo sát, đây là căn cứ thực tiễn giúp đề tài mang tính khách quan và thuyết phục Phương pháp miêu tả được thực hiện để miêu
tả các cách thức, các chiến lược đề nghị trong và tiếp nhận lời đề nghị để có thể đi đến những kết luận có giá trị khoa học vững chắc
so với lời thoại tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày theo ý đồ của nhà văn nhưng chúng vẫn không mất đi các chức năng (giao tiếp lí trí, cảm xúc) và các đặc trưng (tính cá thể, tính cụ thể, tính cảm xúc) của phong cách sinh hoạt hằng ngày dưới cách nhìn của phong cách chức năng Do đó, các lời thoại của ngôn ngữ tự nhiên và các lời thoại trong các tác phẩm văn học được sử dụng phân tích đều đáng tin cậy về mặt khoa học
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Hành động đề nghị và lịch sự của hành động đề nghị
Chương 3: Hồi đáp lời đề nghị với tính lịch sự trong giao tiếp
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Trong xã hội ngày nay, lịch sự đã trở thành mối quan tâm lớn và thường xuyên của ngữ dụng học Nhiều nhà nghiên cứu Âu - Mĩ đã xây dựng một số quan điểm tương đối hoàn chỉnh về lịch sự, nâng những vấn đề thực
tiễn trong giao tiếp lịch sự lên thành “lí thuyết lịch sự” (theory of politeness)
theo đúng nghĩa của tên gọi này
Nói năng là một dạng hoạt động mà phương tiện là ngôn ngữ Do đó nó cũng chịu sự chi phối của những quy tắc chung trong hoạt động Có hai kiểu hoạt động bằng phương tiện ngôn ngữ:
- Hoạt động đơn phương là hoạt động một mình, cá thể Nói một mình
là hoạt động đơn phương (độc thoại);
- Hoạt động xã hội là hoạt động đòi hỏi có sự cộng tác của người khác Nói năng với người khác, đó là hội thoại
J L Austin – một nhà triết học người Anh là một trong những người khởi xướng quan điểm về hành động ngôn ngữ (speech act) Khi nói năng, con người thực hiện hành động bằng phương tiện ngôn ngữ Nói một mình như tự than thở là hành động đơn phương, còn nói với người khác trong cuộc hội thoại là hành động xã hội
1.1 Lí thuyết hành động ngôn ngữ
Hành động (hay còn gọi là hành vi) là toàn bộ nói chung các phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể, xác định [26]
Trong cuộc sống hàng ngày, dưới sự điều khiển của tư duy, con người
có hai loại hành động dễ thấy là nói (Speak) và làm (Do) Thông thường,
người ta hay đối lập giữa nói và làm, thậm chí người Việt chúng ta còn quan
Trang 18niệm giữa nói và làm là hai phạm trù khác hẳn nhau Làm là một phạm trù thực tế còn nói chỉ dùng ngôn ngữ để biểu hiện diễn tả thông báo cái gì đó
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nói cũng là một hoạt động Hoạt động lời nói là
một phần một dạng trong hoạt động sống của con người Tư tưởng này đã được Hegel đề cập tới từ lâu Ông viết: "Lời nói thực chất là những hoạt động diễn ra giữa những con người, cho nên nó không phải là trống rỗng" (Dẫn theo [17])
Tuy nhiên, phải đợi mãi tới năm 1955, tại Trường Đại học Tổng hợp Harvard, J.L.Austin - một nhà triết học người Anh đã trình bày 12 chuyên đề, những chuyên đề này vào năm 1962 được tập hợp lại xuất bản thành sách với
nhan đề: How to do things with words (tạm dịch là: Người ta hành động như
thế nào bằng lời nói) để kỉ niệm hai năm ngày mất của ông Trong cuốn sách
này, J.L.Austin đề cập tới nhiều vấn đề trong đó có lý thuyết về hành động
ngôn ngữ (Speech act theory) Hiện nay ở Việt Nam, cụm từ: speech act có
khá nhiều cách dịch khác nhau như: Hành động ngôn ngữ, hành động nói,
hành động ngôn từ, hành động phát ngôn Chúng tôi chỉ nêu ra các cách
dịch của các nhà nghiên cứu, chứ không bình luận Bắt đầu từ tư tưởng của J.L.Austin và sau này được hoàn chỉnh bởi J.Searle (1969) đã đi sâu nghiên cứu lí thuyết hành động ngôn ngữ, một lí thuyết làm xương sống cho ngành ngữ dụng học Hai ông cho rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo, miêu tả cái gì đó mà nó thường được dùng để làm một cái gì đó, để thể hiện các hành động Hành động ngôn ngữ chính là ý định và chức năng của một phát ngôn trong hoạt động giao tiếp của con người
Khái niệm về hành động ngôn ngữ được hiểu khi chúng ta nói năng tức
là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện ngôn ngữ Đó là hành động ngôn ngữ
Như chúng ta đã biết nói năng là hành động Hành động nói là hành
Trang 19động được thực hiện bằng lời nói khi nói Khi gặp một người quen, ta nói:
chào anh, chào chị, tức là chúng ta thực hiện hành động chào Khi ta cảm ơn, xin lỗi, sai khiến là chúng thực hiện hành động cảm ơn, xin lỗi, sai khiến
Trong đời sống giao tiếp, chúng ta có thể nói (hoặc viết) nhằm những đích nhất định: khuyên, hỏi, trần thuật, sai khiến, xin, hứa, mời, chào, xin lỗi, cảm
ơn, giải thích, phàn nàn
1.1.1 Lí thuyết hành động ngôn ngữ của Austin
J.L.Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: hành động tạo lời (Locutinonary act), hành động tại lời (Illocutionary act) và hành động mượn lời (Perlocutionary act)
Hiện nay ở Việt Nam, chúng ta thấy có một số cách dịch khác nhau Đáng chú ý là các cách dịch cụm từ: Locutinonary act (hành động tạo lời, hành động tại lời, hành động tạo ngôn); Illocutionary act (hành động ngoài lời, hành động ở lời, hành động trong lời, hành động tại lời, hành động ngôn trung); Perlocutionary act (hành động mượn lời, hành động sau lời, hành động xuyên ngôn)
1.1.1.1 Hành động tại lời
Hành động tại lời (hành động ngôn trung) là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói (viết) ra Chính cái đích này phân biệt các hành động tại lời với nhau Đó là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hành động tại lời được thực hiện nhờ hiệu lực giao tiếp của phát ngôn Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Chẳng hạn, khi ta hỏi có đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp điều mà ta chưa biết hoặc còn hoài nghi và mong được người nghe trả lời; khi
ta chào thì người nghe sẽ có hành động tương ứng là chào Thông thường, nó
lập thành một cặp thoại tương ứng: Chào - chào, hỏi - trả lời, cầu khiến -
Trang 20chấp thuận (hoặc từ chối) Còn khi người nói cam kết với ai một điều gì đó
tức là người nói đã tự ràng buộc mình vào một hành động sẽ được thực hiện trong tương lai
Đích của hành động tại lời được gọi là đích tại lời và nếu đích đó được thoả mãn thì ta có hiệu quả tại lời Dấu hiệu của hiệu quả tại lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động tại lời, tức người nghe
Ví dụ:
(1) Sp1: Cậu đã học bài chưa?
Sp2: Rồi
Hiệu quả của hành động tại lời trong ví dụ (1) thể hiện ở phát ngôn trả
lời của Sp2: Rồi
Đặc điểm của hành động tại lời nói là có ý định (đích), có tính quy ước,
có thể chế mặc dù quy ước và thể chế không được diễn đạt hiển ngôn nhưng mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ vẫn tuân thủ một cách không tự giác Chẳng hạn, người Việt hỏi là thể hiện sự quan tâm và dần dần một số câu hỏi được ước định trở thành lời chào giữa những người đã quen biết nhau Ví như khi ta gặp một người quen, ta biết họ đang trên đường đi chợ về, mang theo rau, thịt, cá , ta vẫn hỏi:
Ví dụ:
(2) - Đi chợ về đấy à? hoặc: Mua nhiều đồ ăn vậy?
Hình thức các phát ngôn ở ví dụ (2) là câu hỏi nhưng đích của các phát ngôn (2) là lời chào Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, có một số lời mời mang tính xã giao của người Việt nhưng đích của các lời mời xã giao đó trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể có thể là lời chào Chẳng hạn, ta đến nhà một người bạn quen nào đó và gia đình họ đang ăn cơm, chủ nhà mời khách:
(3) Mời bác ăn cơm với gia đình
thì đây chính là lời chào của chủ nhà khi có khách tới chơi Việc nhận ra ý
Trang 21định của người nói phụ thuộc vào từng tình huống giao tiếp, và có những tình huống giao tiếp "độc nhất vô nhị" thì còn phụ thuộc vào sự trải nghiệm sống,
sự nhạy cảm của những người tham gia giao tiếp nữa Có thể minh chứng thêm qua ví dụ sau:
Khi chúng ta nghe câu nói:
(4) Tôi vừa mới pha một ấm trà ngon
là để tạo ra một phán đoán hoặc là để mời chào hoặc là để giải thích hay vì một mục đích giao tiếp nào đó Những ý định như vậy chỉ có những người tham gia trực tiếp vào cuộc giao tiếp đó mới xác định được một cách chính xác mà thôi
Giả sử một người nói:
Trong giao tiếp tiếng Anh, lời thỉnh cầu lịch sự (polite request) thường được diễn đạt dưới dạng câu hỏi Đó là quy ước về phép lịch sự của người Anh - hành động ngôn ngữ gián tiếp đồng biến với lịch sự Tiếng Việt và một
số ngôn ngữ khác không hoàn toàn như vậy Có thể nhận thấy điều này qua các dẫn dụ sau:
(6) Would you mind closing the door? (Phiền anh đóng hộ cái cửa lại ạ.) (7) Would you like a cup of tea? (Mời anh dùng trà ạ.)
Từ những phân tích như trên, chúng ta có thể suy ra rằng nắm được một ngôn ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu của ngôn ngữ đó
mà còn phải nắm được những quy tắc điều khiển các hành động tại lời của
Trang 22ngôn ngữ đó Chẳng hạn, chúng ta phải biết hỏi, biết yêu cầu, thỉnh cầu, biết
xin lỗi, cảm ơn đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với ngữ cảnh, mới là biết sử
dụng ngôn ngữ đó
1.1.1.2 Hành động tạo lời
Hiểu một cách đơn giản, hành động tạo ra lời nói bằng những âm (hay con chữ) theo những quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ được gọi là hành động tạo lời Nói một cách rõ hơn, hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ theo một quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu để tạo ra một phát ngôn có nghĩa phù hợp về hình thức và nội dung của một cộng đồng ngôn ngữ nào đó Như vậy, với hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức ngôn ngữ có nghĩa Hiểu theo hướng này, nếu gặp khó khăn trong việc phát âm các từ ngữ nào đó (chẳng hạn người nói là người nước ngoài hoặc người nói bị ngắn lưỡi) hoặc không tìm ra từ thích hợp, hoặc không nắm vững các quan hệ cú pháp để tổ hợp từ ngữ thành câu mà nói rộng ra là tạo thành văn bản, thành diễn ngôn thì người nói không hoàn thành hành động tạo lời, không tạo ra các biểu thức có nghĩa để phục vụ cho hoạt động giao tiếp mà người nói có ý định đặt ra Ví
dụ, có một người nước ngoài nói tiếng Việt:
(8) Xin chao cac ban
thì như vậy chưa được coi là thực hiện xong hành động tạo lời (vì phát
âm không đúng hệ thống ngữ âm tiêu chuẩn tiếng Việt) mà người nói hoàn thành hành động tạo lời phải nói là:
(9) Xin chào các bạn.!
Giả định có một sinh viên người Việt nói tiếng Pháp:
(10) Je être étudiant (Tôi là sinh viên - nam sinh viên)
thì anh ta chưa hoàn thành hành động tạo lời Hành động tạo lời phải là:
(11) Je suis étudiant
hoặc giả định có một sinh viên người Việt nói tiếng Anh
Trang 23Ví dụ:
(14) Sp1: Đóng cửa lại!
Sp2: Đứng dậy đóng cửa, khó chịu, bực tức, càu nhàu, gắt gỏng
Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn Có những hiệu quả mượn lời là đích của một hành động tại lời Hành động vật lí: đóng cửa là hiệu quả mượn lời của hành động tại lời mệnh lệnh: Đóng cửa lại nhưng có những hiệu quả không thuộc đích của hành động tại lời như khó chịu, bực tức, càu nhàu, gắt gỏng khi nghe mệnh lệnh Đây cũng là hiệu quả thuộc về hành động mượn lời Chẳng hạn, khi chủ tọa nói :
(15) Tôi tuyên bố khai mạc hội thi giáo viên dạy giỏi tỉnh Lai Châu
năm học 2014-2015
thì hành động tại lời là hành động khai mạc hội thi Mọi người tham dự hội
Trang 24nghị lập tức trật tự, chờ đợi nghi thức tiếp theo của hội nghị Cái giá trị này thuộc về hiệu quả của hành động mượn lời
Cũng vậy, một bản tin báo bão trên ti vi cũng có thể tạo ra những phản ứng khác nhau trong tâm lí của khán giả xem truyền hình Những cư dân ở khu vực mà bão đổ bộ vào sẽ rất lo lắng phòng chống bão; còn nhiều cư dân ở ngoài khu vực bão không đổ bộ vào, thường có thái độ thờ ơ với bản tin báo bão Hiệu quả của hành động mượn lời phụ thuộc tâm lí, điều kiện hoàn cảnh sống của người tiếp nhận, không có những quy tắc chung để nhận biết
Có thể tìm hiểu thêm ví dụ sau để thấy được tính chất phức tạp của hành động mượn lời Trong một hội nghị ở cơ quan Y có một vị quan chức X
tuyên bố: Tôi sẽ tham gia đoàn thanh tra vụ việc tiêu cực ở cơ quan chúng ta
Sau khi vị quan chức X tuyên bố như vậy, cán bộ viên chức ở cơ quan Y có
những tâm trạng rất khác nhau:
Có một bộ phận tỏ ra bình thường khi nghe vị quan chức X nói như vậy
vì họ không quan tâm tới mọi diễn biến xảy ra ở cơ quan Đây là dạng cán bộ
mà ngày nay, chúng ta vẫn thường hay nói tới: "Sáng cắp ô đi, tối cắp ô về"
Có một bộ phận có thể ngạc nhiên vì họ không thể ngờ rằng cơ quan họ lại có
vụ việc tiêu cực Bộ phận đấu tranh chống tiêu cực rất phấn khởi vì có đoàn thanh tra đến, những vụ việc tiêu cực sẽ được phanh phui và những kẻ tiêu cực, có những việc làm khuất tất sẽ bị pháp luật trừng phạt Còn những kẻ vi phạm pháp luật sẽ rất lo lắng khi những việc làm sai trái của họ sẽ bị đưa ra ánh sáng và pháp luật sẽ không dung thứ cho họ Chúng ta đang bàn ở đây là hình ảnh vị quan chức X là công bộc của dân Còn nếu hình ảnh vị quan chức
ấy là vị "quan tham", cùng phe cánh với những kẻ tiêu cực trong cơ quan Y thì tâm trạng của những kẻ tiêu cực sẽ rất phấn khởi vì đã có "ô che" Những người đấu tranh chống tiêu cực sẽ rất thất vọng vì họ mất niềm tin về sự tranh đấu đúng đắn của họ
Trang 25Cũng có trường hợp và chắc không phải là ngoại lệ, khi vị quan chức X nói như vậy thì những kẻ tiêu cực trong cơ quan Y sẽ nảy sinh suy nghĩ: Hay
là vị quan chức này "bật đèn xanh" để cho họ lo lót chạy tội?
Như vậy, hiệu quả mượn lời của phát ngôn là những hiệu quả ngoài ngôn ngữ (đúng hơn là ngoài diễn ngôn), rất phân tán, không có tính quy ước và khó tìm ra cơ chế chung nên người nói không thể tính toán, kiểm soát hết được
1.1.1.4 Phát ngôn ngôn hành và biểu thức ngôn hành
Phát ngôn ngôn hành là phát ngôn - sản phẩm của một hành động tại lời nào đó khi hành động này được thực hiện một cách trực tiếp chân thực Nói
một cách ngắn gọn nói là hành động bằng lời Để làm rõ cho cách hiểu này,
người ta thường xuất phát từ những phát ngôn tiêu biểu, đại thể như:
(16) Tôi đánh cuộc với anh là đội Man đỏ sẽ thắng Man xanh trong
trận này
(17) Em cảm ơn thầy ạ
(18) Anh khuyên em nên bỏ hút thuốc đi để đỡ hại cho sức khoẻ
Trong những ví dụ trên, hành động tại lời ví dụ (16) là hành động đánh cuộc, ví dụ (17) là cảm ơn, ví dụ (18) là khuyên Những phát ngôn như thế được gọi là những phát ngôn ngôn hành Phát ngôn ngôn hành là phát ngôn - sản phẩm của một hành động tại lời nào đó khi hành động này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực
Có thể phân biệt biểu thức ngôn hành và phát ngôn ngôn hành Biểu thức ngôn hành là thể thức nói năng cốt lõi do các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực tại lời kết hợp với (hoặc không có) nội dung mệnh đề đặc trưng cho một hành động tại lời nào đó Biểu thức ngôn hành (còn gọi là biểu thức ngữ vi, biểu thức ngôn trung ) vừa là phương tiện vừa là sản phẩm tại lời Phát ngôn ngôn hành là sự hiện thực hoá một biểu thức ngôn hành trong giao tiếp gắn với từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
Trang 26Ví dụ:
(19a) Anh mua giúp em cuốn sách nhá
(19b) Nếu ngày mai anh đi Hà Nội, anh mua giúp em cuốn sách nhá
Trong ví dụ (19a), biểu thức ngôn hành trùng với phát ngôn ngôn hành tối giản; còn trong ví dụ (19b), phát ngôn ngôn hành có thêm mệnh đề phụ:
Nếu ngày mai anh đi Hà Nội nữa, và biểu thức ngôn hành của ví dụ (19b) là: Anh mua giúp em cuốn sách nhá
Chúng ta cần phải quan tâm tới biểu thức ngôn hành tường minh và biểu thức ngôn hành nguyên cấp
Biểu thức ngôn hành tường minh là những biểu thức ngôn hành có động từ ngôn hành trực tiếp tạo ra hành động tại lời Chẳng hạn, các biểu thức sau đây được J.L.Austin gọi là biểu thức ngôn hành tường minh (explicit):
(20) Em mời anh uống nước ạ
(21) Anh hứa với em là từ ngày mai anh không hút thuốc lá nữa
(22) Anh ơi, em hỏi anh chú Hải có nhà không ạ?
(23) Tôi khuyên anh đừng nên mất thời gian vào những trò vô bổ này nữa
Biểu thức ngôn hành (20) là biểu thức ngôn hành tường minh mời, biểu thức ngôn hành (21) là biểu thức ngôn hành tường minh hứa, biểu thức ngôn hành (22) là biểu thức ngôn hành tường minh hỏi và biểu thức ngôn hành (23)
là biểu thức ngôn hành tường minh khuyên vì trong bốn biểu thức đó có động
từ ngôn hành: mời, hứa, hỏi, khuyên
Các biểu thức sau đây tuy vẫn có hiệu lực tại lời: mời, hứa, hỏi, khuyên nhưng không phải là biểu thức ngôn hành tường minh:
(24) Mời anh uống nước ạ
(25) Ngày mai anh không hút thuốc lá nữa
(26) Anh ơi, chú Hải có nhà không ạ?
(27) Anh đừng nên mất thời gian vào những trò vô bổ này nữa
Trang 27Theo J.L.Austin, đây là các biểu thức ngôn hành nguyên cấp (primary) hay biểu thức ngôn hành hàm ẩn (implicit) Như vậy, biểu thức ngôn hành không có động từ ngôn hành được gọi là biểu thức ngôn hành nguyên cấp
Chúng ta cần chú ý rằng cũng như các động từ được dùng trong chức năng ngôn hành, các biểu thức ngôn hành nguyên cấp cũng phải được thực hiện ở ngôi thứ nhất, thời hiện tại và không có các yếu tố tình thái và người nhận cũng phải là ngôi thứ hai
Ví dụ:
(28) Bác sang dùng cơm với các cháu
(29) Cuộc hội thảo bắt đầu
(30) Bác đã sang dùng cơm với các cháu
(31) Cuộc hội thảo đã bắt đầu rồi
Ví dụ (28) là biểu thức ngôn hành nguyên cấp mời, ví dụ (29) là biểu thức ngôn hành nguyên cấp tuyên bố Còn ví dụ (30) không phải là biểu thức ngôn hành nguyên cấp mời vì không có hiệu lực tại lời mời nữa mà có thể hiệu lực tại lời trần thuật Tương tự, ví dụ (29) là biểu thức ngôn hành nguyên cấp tuyên bố nhưng ví dụ (31) lại có hiệu lực tại lời tuyên bố mà có hiệu lực tại lời nhắc nhở
1.1.1.5 Động từ ngôn hành
Động từ ngôn hành là động từ mà khi phát âm ra cùng với biểu thức ngôn hành (có khi không cần biểu thức ngôn hành đi kèm) là lời nói thực hiện luôn cái hành động tại lời do chúng biểu thị
Hay nói một cách đầy đủ hơn, động từ ngôn hành là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngôn hành (có thể không cần biểu thức ngôn hành đi kèm) là người nói thực hiện luôn cái hành động tại lời do
chúng biểu thị Ví như khi ta nói: Anh hứa ngày mai anh sẽ đến thăm em là chúng ta đã thực hiện xong hành động tại lời: hứa Hiệu lực tại lời: Anh
Trang 28hứa ngày mai anh sẽ đến thăm em đã phát huy ngay tác dụng, tư cách pháp
nhân của người hứa và người được hứa cũng lập tức thay đổi Người hứa
lập tức bị ràng buộc bởi nội dung: ngày mai anh sẽ đến thăm em và người được hứa cũng bị ràng buộc: ngày mai em phải ở nhà (hoặc ở phòng) để
đón anh tới thăm Tiếp tục, chúng ta có thể khảo sát động từ ngôn hành
trong các ví dụ sau:
(32) Tôi xin tuyên bố khai mạc đại hội lớp K.51 Đại học Sư phạm Ngữ
văn năm học 2011 - 2012
(33) Tôi xin lỗi
(34) Em mời anh xơi nước
Với các phát ngôn (32), (33), (34), người nói đã thực hiện các hành
động tại lời: tuyên bố, xin lỗi, mời; và các động từ: tuyên bố, xin lỗi, mời là
động từ ngôn hành
Cần chú ý rằng, như chúng ta đã nói động từ ngôn hành là những động
từ có thể thực hiện chức năng ngôn hành trong phát ngôn Nói như vậy có nghĩa là không phải bao giờ một động từ ngôn hành cũng luôn được dùng với chức năng ngôn hành J.L.Austin cho rằng động từ ngôn hành chỉ được thực hiện chứng năng ngôn hành khi trong phát ngôn nó thực hiện ở ngôi thứ nhất (người nói Sp1), thời hiện tại (hiện tại phát ngôn), thể chủ động, và thức thực thi
Ví dụ:
(35a) Tôi xin lỗi anh
(35b) Tôi đã xin lỗi anh (nhưng anh từ chối)
(36a) Em mời anh uống nước
(36b) Em đã mời anh uống nước (nhưng anh không uống)
Trong các ví dụ (35a), (36a), động từ: xin lỗi, mời là động từ ngôn hành
vì chúng được dùng ở ngôi thứ nhất, thời hiện tại, thức thực thi; còn trong các
Trang 29ví dụ (35b), (36b), động từ: xin lỗi, mời là động từ trần thuật vì chúng được
dùng ở thời quá khứ, với chức năng miêu tả, trần thuật
Đỗ Hữu Châu căn cứ vào khả năng có thể hay không có thể được dùng với chức năng ngữ vi (ngôn hành) trong các biểu thức ngữ vi (ngôn hành), các động từ nói năng tiếng Việt có thể chia thành ba loại:
(i) Những động từ nói năng vừa có thể dùng với chức năng ngữ vi, vừa
có thể dùng với chức năng trần thuật lại một hành vi, một sự tình nói năng nào
đó như hỏi, hứa, mời, tuyên bố, tuyên án, phê bình, cảnh cáo
Ví dụ:
(37) Cháu mời bác xơi cơm
(38) Cháu đã mời bác xơi cơm rồi
Ví dụ (37), động từ mời là động từ ngôn hành; ví dụ (38) là động từ trần thuật
(ii) Những động từ nói năng chỉ được dùng trong hiệu lực ngôn hành,
không thể dùng với chức năng miêu tả Đó là một số ít động từ như cảm tạ,
đội ơn, đa tạ Chẳng hạn, chúng ta không thể nói: Được sự giúp đỡ tận tình, anh ta đa tạ thủ trưởng rối rít Mà chúng ta chỉ có thể nói: Xin đa tạ hoặc Đa
tạ ngài
(iii) Những động từ chỉ có thể dùng trong chức năng miêu tả lại hành động ở lời (hành động tại lời), không thể dùng trong chức năng ngôn hành
(ngữ vi) Đó là các động từ như hỏi han, hứa hẹn, bảo ban, sai khiến, chửi,
mắng, khoe, doạ, chế giễu, mời mọc
Chúng ta không thể chấp nhận cách nói:
(39) Cháu mời mọc bác xơi cơm
(40) Em hỏi han anh mãi mà anh không trả lời
1.1.1.6 Phân loại các hành động ngôn ngữ theo Austin
Trước Austin, Wittgenstein đã nói tới hành vi ngôn ngữ mặc dù nhà triết học này không sử dụng thuật ngữ hành động mà dùng thuật ngữ trò chơi
Trang 30ngôn ngữ Wittgenstein đã liệt kê hàng loạt những hành động ngôn ngữ như
đã đưa ra một mệnh lệnh và tuân lệnh, tường thuật lại một sự kiện, cảm ơn, chào, chửi, chào và cầu nguyện nhưng ông cho rằng không thể phân biệt được chúng Austin là người thử nghiệm thực hiện thực hiện sự phân loại và ông đã xếp chúng vào 5 phạm trù: phán xử, hành xử, cam kết, trình bày, ứng xử
1.1.2 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ của Searle
Với công trình của speech acts (hành động ngôn ngữ) năm 1969, Searrle được thừa nhận là một vị trí đặc biệt trong sự phát triển lí thuyết hành động ngôn ngữ
1.1.2.1 Phân loại hành động ngôn ngữ theo Searle
Searle liệt kê 11 điểm khác biệt giữa các hành động ngôn ngữ có thể sử dụng làm tiêu chí phân loại
a Đích ở lời
b Hướng khớp ghép với lời thực hiện mà nó có thể đề cập đến
c Trạng thái tâm lí được thể hiện
d Sức mạnh và đích được bày ra
e Tính quan yếu của mối quan hệ liên cá nhân giữa Sp1 và Sp2
k Đặt tên thánh và rút phép thông công
m Không phải tất cả các động từ gọi tên hành động tại lời đều là động
từ ngữ vi
1.1.2.2 Điều kiện thực hiện hành động tại lời theo quan điểm của Searle
Các hành động tại lời cũng đòi hỏi những điều kiện nhất định Các hành động tại lời bị chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng
Trang 31đồng Vì vậy mỗi loại hành động tại lời có những điều kiện sử dụng của nó
mà Austin gọi tên chúng là những điều kiện thuận lợi Về vấn đề này, Searle chia làm ba loại chính như sau:
- Điều kiện ban đầu
- Điều kiện chân thực
- Điều kiện thiết yếu (điều kiện căn bản)
Điều kiện ban đầunày liên quan đến quan hệ giữa hai người: người nói
và người nghe, tới những ý nguyện, lợi ích và khả năng của người nghe Về quyền lợi, người nói là người ra lệnh, người nghe là người nhận lệnh Người nói là người có lợi, người nghe là người bị thiệt (về thời gian, công sức, hay tiền của ) Về vị thế giao tiếp, người nói có vị thế giao tiếp (biểu hiện vị thế
xã hội) cao hơn hoặc là người bậc trên Người nghe có vị thế giao tiếp thấp hơn hoặc là người bậc dưới (trong trường hợp vị thế xã hội không bình đẳng)
Điều kiện chân thực tập trung chủ yếu nói đến trạng thái tâm lí của hành động mà người nói thực hiện Thông báo hay ra lệnh một điều gì đó cho người khác thì phải tâm niệm rằng thông tin đó là sự thật và phải thực sự mong muốn người nhận lệnh, nhận thông tin chấp hành đồng ý Nếu là hỏi thì không phải hỏi xã giao, lấy lệ Nếu là mời mọc thì phải mong muốn người nghe nhận lời mời của mình Về quyền lợi, người nói là người chịu thiệt (người nói phải tốn tiền, mất thời gian chuẩn bị bữa ăn .), người nghe là người thường được mang lợi Vì vậy một lời mời chân thành không chỉ hiển ngôn điều lợi người nghe sẽ nhận được mà cần phải gia tăng tính ép buộc sao cho không làm mất đi tính lịch sự của lời mời
Điều kiện căn bản là điều kiện nói về trách nhiệm, sự ràng buộc của người nói hoặc người nghe khi hành động đã được thực hiện Đối với hành động ra lệnh thì trách nhiệm ấy thuộc về người nhận lệnh Điều kiện thiết yếu của hành động mời mọc là người nghe sẵn sàng nhận lời mời của hành động
Trang 32khuyên răn là người nghe nhận thấy được giá trị của lời khuyên và thực hiện lời khuyên ấy hay của hành động yêu cầu đề nghị là người nghe chấp nhận lời yêu cầu, đề nghị Ngoài ra, lí thuyết hành động ngôn từ của Searle còn có các điều kiện các như: điều kiện xuất phát và tới đích, điều kiện về nội dung mệnh đề có tác động không nhỏ vào hiệu quả giao tiếp trong hội thoại
1.2 Lí thuyết hội thoại
Giao tiếp là hành động tiếp xúc giữa con người với con người trong xã hội thông qua một phương tiện nhất định, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất Giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết, tuy nhiên dạng nói là phổ biến và chủ yếu Trong giao tiếp dạng nói thì hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến, và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức căn bản này
Trong giao tiếp có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều Giao tiếp một chiều là độc thoại, tức là chỉ có một bên nói, bên kia tiếp nhận (mệnh lệnh quân sự, diễn văn ) Trong giao tiếp hai chiều bên này nói, bên kia nghe
và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò hai bên thay đổi bên nghe trở thành bên nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò hai bên thay đổi bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe Một cuộc giao tiếp bao giờ cũng diễn ra trong một thoại trường cụ thể Thông thường thoại trường có hai loại tiêu biểu:
- Thoại trường diễn ra ở nơi công cộng
- Thoại trường riêng tư
Thoại trường không phải chỉ có nghĩa không gian, thời gian tuyệt đối
mà gắn với khả năng can thiệp của những người thứ ba với cuộc hội thoại đang diễn ra
Căn cứ vào số lượng người tham gia hội thoại, người ta thường chia cuộc thoại thành:
Trang 33- Song thoại (tay đôi)
- Tam thoại (tay ba)
- Đa thoại (tay tư hoặc nhiều hơn nữa)
Nên lưu ý rằng, dạng cơ bản của hội thoại là dạng song thoại (dialogue) tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật đối đáp Tuy nhiên, hội thoại có thể có dạng tam thoại và nói chung là đa thoại Lý thuyết hội thoại thế giới đang bắt đầu nghiên cứu các dạng đa thoại của hội thoại Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm tới dạng song thoại, một dạng điển hình của hội thoại
Trong hội thoại, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố như sau:
- Tính chủ động hay bị động của các đối tác
- Sự có mặt hay vắng mặt của vai nghe trong hội thoại
- Có những cuộc hội thoại trong đó cặp vai nói/ nghe đồng thời thuộc những lớp khác nhau
Ví dụ, trong lớp học ít ra chúng ta có 2 lớp nói và nghe: lớp thứ nhất là lời giảng của giảng viên nói trên bục giảng, lớp thứ hai là ý kiến của sinh viên
về một vấn đề nào đó mà giảng viên đưa ra
- Các cuộc hội thoại còn được phân biệt theo tính chất được điều khiển hay không được điều khiển.Ví dụ, các cuộc đại hội chi đoàn được diễn ra bởi
sự điều hành của đoàn chủ tịch đại hội
- Tính có đích hay không có đích của những cuộc hội thoại như thương thuyết, ngoại giao, hội thảo khoa học có đích được xác định một cách rõ ràng; trong khi những cuộc chuyện trò tán gẫu thường là không có đích
Tính có hình thức hay không có hình thức trong những cuộc hội nghị thương thảo…là những cuộc hội thảo mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ Còn những chuyện trò đời thường không cần một hình thức tổ chức nào cả
Trang 341.2.1 Khái niệm cuộc thoại
Trong cuộc sống hiện nay giao tiếp luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng, và trong quá trình giao tiếp đó diễn ra với nhiều cách thức Một trong những cách thức đó chính là cuộc thoại Cuộc thoại chính là một lần nói chuyện, trao đổi giữa những cá nhân, ít nhất là hai trong một xã hội
1.2.2 Những đặc điểm khái quát về cuộc hội thoại
1.2.2.1 Những đặc điểm nội tại của một cuộc thoại
a Sự tương tác qua lại
Sacks và Schegloff (1973) đã nêu nguyên tắc này với nội dung: Trong một cuộc hội thoại mỗi lúc có một người nói và không nói đồng thời Các người nói luân phiên nhau tạo thành sự luân phiên lượt lời
(42) Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
- Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
- Cụ bán rồi?
- Bán rồi! Họ vừa bắt xong
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà oà lên khóc Bây giờ thì tôi không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc
Trang 35Tôi hỏi cho có chuyện :
- Thế nó cho bắt à?
Mặt lão đột nhiên co dúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc
- Khốn nạn Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy
ngay về, vẫy đuôi mừng Tôi cho nó ăn cơm Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên [43]
c Tính mục đích
Mọi cuộc hội thoại đều có tính mục đích, đều chứa đựng một hoặc nhiều chủ đề Ở mỗi cá nhân còn có thể tìm thấy được những mục đích riêng Những chủ đề mục đích có thể được biểu thị tường minh hoặc ngầm ẩn đằng sau những lời thoại, thể hiện qua những hành động tại lời hay qua những hành động ngôn ngữ gián tiếp: Khi mua bán, hỏi đường đi, hỏi thời gian mục đích thực hiện tại lời
Mục đích cuộc thoại cũng có thể nằm ngoài ở lời Chẳng hạn, những lời
"bắt chuyện", hỏi để làm quen, làm lành, hỏi để thể hiện tình cảm nhằm nói cho vui và mục đích nhiều khi chỉ để nói để mà nói, để mà tiêu thời gian trong những lúc tán gẫu chuyện phiếm
(43) Một lần hắn đang gò lưng kéo cái xe bò thóc vào dốc tỉnh, hắn hò
một câu chơi cho đỡ nhọc Hắn hò rằng:
"Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!
Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!"
Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại
cứ đẩy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ:
- Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy!
Trang 36Thị cong cớn:
- Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?
Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên mặt cười:
- Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!
Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng
- Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ ! - Thị liếc mắt, cười tít
Tràng thích lắm Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế [42]
1.2.2.2 Những đặc điểm bên ngoài
a Về số lượng
Do không gian tâm lí mà mỗi cuộc thoại đều có giới hạn một số lượng người nhất định tham dự thảo luận để tiện cho việc trao đổi Như trong hội thảo hoặc giao tiếp số lượng người tham dự không quan trọng lắm, mỗi buổi, mỗi chủ đề số lượng người có thể thay đổi sao cho phù hợp với nội dung hoặc chủ đề câu chuyện
b Về quan hệ
Quan hệ giữa những người tham dự có thể có những quan hệ cá nhân trước hoặc không cần có trước quan hệ cá nhân Trong quá trình hội thoại sẽ hình thành quan hệ cá nhân đó
c Chu cảnh
Có hai phương diện chính để hình thành chu cảnh là thời gian và không gian hội thoại Thời gian có thể ngắn hoặc dài khó có thể xác định được trước, ngoại trừ những cuộc đàm phán giữa những quốc gia những cuộc thương lượng có tính chất quan trọng Có những cuộc thoại có thể ngầm ẩn về thời gian hoặc không gian Ví dụ cuộc thoại ở phòng làm việc, ở trường học Không gian có những không gian khác nhau cho những cuộc thoại và đặc điểm về không gian có tác động đến mục đích và nội dung hội thoại Chẳng
Trang 37hạn, cuộc thoại giữa các nhân viên đó ở bãi tắm, nhà hàng sẽ khác so với ở công sở
1.2.2.3 Cấu trúc hội thoại
Cấu trúc thông thường của một cuộc thoại là: Mở thoại - thân thoại - kết thoại Mở thoại chính là bắt đầu diễn ra một cuộc thoại, với một nội dung, ý nghĩa bất kì nào đó Thân thoại chính là quá trình diễn biến chính cuộc thoại, có thể triển khai các nội dung của cuộc thoại Còn kết thoại, chính là dừng lại, kết thúc cuộc thoại
1.2.2.4 Các nguyên tắc hội thoại
a Luân phiên lượt lời
Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời của nhau Vì thế, khi hai người hội thoại, người kia phải nói khi người này nhường lời theo cách lời người này kế tiếp lời người kia
Ta thấy có những dấu hiệu nhất định thông báo cho người kia biết rằng
họ có thể nói Đó là những dấu hiệu như sự trọn vẹn về ý nghĩa, sự trọn vẹn
về cú pháp, ngữ điệu, các câu hỏi, các hư từ…
Ví dụ:
(44) - Anh ăn cơm chưa?
- Anh ăn rồi! Còn em?
Trang 38Nguyên tắc cộng tác hội thoại bao gồm:
- Phương châm về lượng: Phương châm này được chia làm hai vế: + Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đủ như đòi hỏi của đích cuộc thoại;
+ Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi;
- Phương châm về chất: Phương châm này được phát biểu tổng quát như sau:
- Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là: + Đừng nói điều gì mà anh tin rằng không đúng;
+ Đừng nói điều gì mà anh không có đủ bằng chứng;
- Phương châm quan hệ (phương châm quan yếu): Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu (pertinent), tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra
c Nguyên tắc tôn trọng thể diện những người tham gia hội thoại
Đối với những người tham gia hội thoại việc giữ gìn thể diện, dù đồng
ý hay không đồng ý với lời đề nghị cũng cần phải có lời nói, thái độ hồi đáp sao cho đảm bảo tính lịch sự, không mất lòng đối với người đề nghị Đó chính
là cách tôn trọng thể diện những người tham gia hội thoại Tránh đụng chạm
Trang 39tới chỗ yếu của người đối thoại mình, hoặc chọn cách nói sao cho người đối thoại ít bị xúc phạm nhất Ngay cả khi trực tiếp đối thoại, người đối thoại đưa
ra một lời đề nghị hay yêu cầu cực kì vô lí, nhưng vì ngữ cảnh, vì mối quan
hệ chúng ta cũng khó có thể bác bỏ thẳng thừng
1.3 Lí thuyết lịch sự
Ngày nay, lịch sự đã trở thành mối quan tâm lớn và thường xuyên của ngữ dụng học Nhiều nhà nghiên cứu Âu - Mĩ đã xây dựng những quan điểm tương đối hoàn chỉnh về lịch sự, nâng những vấn đề thực tiễn trong giao tiếp lịch sự lên thành “lí thuyết lịch sự” (theory of politeness) theo đúng nghĩa của tên gọi này
Lịch sự trong thực tế đã trở thành một nhu cầu xã hội, là một sự thực khách quan không thể bỏ qua trong giao tiếp bằng ngôn ngữ Lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn ngữ thể hiện rõ nhất trong hội thoại, tức là trong hoạt động giao tiếp giữa người với người trong xã hội Một cuộc thoại thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên tắc mà những người tham gia hội thoại cần phải tuân thủ Các nguyên tắc được các nhà nghiên cứu chỉ ra là nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) và nguyên tắc lịch sự (principle of politeness), ở Việt Nam gọi là phép lịch sự
Nguyên tắc cộng tác liên quan đến cách giải thuyết các phát ngôn và các hành động nói trong chính quá trình cuộc thoại, còn nguyên tắc lịch sự lại liên quan đến những vấn đề thuộc bản thân người tham gia hội thoại Những vấn đề này có thể là những kiến thức lí tính, những vấn đề về khoảng cách giữa người tham gia hội thoại, hoặc quan hệ quyền lực - thân hữu của con người trong tương tác, về giới tính, về tính dân tộc và đặc trưng văn hóa giao tiếp của cá nhân…
Như thế phép lịch sự có ảnh hưởng rất lớn đến việc tạo lập các phát ngôn trong quá trình giao tiếp, là yếu tố quy định sự thành công hay thất bại
Trang 40của mọi hoạt động giao tiếp trong đời sống cũng như trong văn chương Tầm quan trọng của lịch sự đã được bàn đến trong rất nhiều cuộc hội thảo, nhiều công trình nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả xin trình bày ba quan điểm được coi là tương đối hoàn chỉnh về lịch sự thường được nhắc đến và có những hiệu quả nhất định đối với việc nghiên cứu lịch sự Đó là quan điểm của R.Lakoff, của G.N.Leech và của P.Brown và S.Levinson Cùng với ba quan điểm này, luận văn còn đề cập đến một quan điểm có tác dụng chi phối rất nhiều tới việc phân tích phép lịch sự trong hoạt động giao tiếp của tiếng Việt, đó là quan điểm lịch sự của phương Đông
1.3.1 Quan điểm lịch sự của R.Lakoff
R.Lakoff xem lịch sự là những quy tắc đối với quan hệ liên cá nhân Trong bài báo có tựa đề “the Logic of politeness” (Logic của lịch sự 1975) mặc dù R.Lakoff chưa lần nào khẳng định rõ ràng lịch sự là gì nhưng qua cách diễn giải của bà có thể hiểu lịch sự là né tránh những gì làm người khác bực mình Cũng trong bài báo này, R.Lakoff phát biểu “Lịch sự nhiều khi là
sự nhân nhượng tuyệt vời; người ta coi trọng hơn cả sự minh bạch, rõ ràng trong hội thoại nhằm tránh những điều gây phiền toái bực mình” (Dẫn theo [12])
Điều này có thể xem là rất xác đáng, vì có thể thấy rằng trong các cuộc hội thoại mang tính chất thân mật, việc chúng ta làm cho mối quan hệ bạn bè tốt đẹp hơn có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với việc làm sáng tỏ mọi điều trong hội thoại
Trong các tác phẩm sau đó, R.Lakoff trình bày quan điểm rõ ràng hơn
về lịch sự, coi lịch sự là “một thiết bị được sử dụng để giảm bớt trở ngại trong
sự tương tác giữa các cá thể” R.Lakoff đưa ra hai quy tắc:
1 Diễn đạt rõ ràng;