Trong khuôn khổ luận văn này, luận văn chỉ tập trung vào một số nội dung cơ bản như: phân tích nhu cầu bảo vệ Hiến pháp, khái niệm, vị trí, vai trò của cơ chế nhà nước về bảo vệ Hiến phá
Trang 1đại học quốc gia hà nội
khoa luật
trịnh ph-ơng thảo
xây dựng các cơ chế nhà n-ớc bảo vệ hiến pháp
ở n-ớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2011
Trang 2đại học quốc gia hà nội
khoa luật
trịnh ph-ơng thảo
xây dựng các cơ chế nhà n-ớc bảo vệ hiến pháp
ở n-ớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà n-ớc và pháp luật
Trang 31.2.2 Các mô hình bảo hiến trên thế giới 20
Chương 2: HIẾN PHÁP VÀ CƠ CHẾ NHÀ NƯỚC BẢO VỆ HIẾN
PHÁP VIỆT NAM
24
2.1 Bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam 24
2.2 Cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp Việt Nam 35 2.2.1 Cơ chế nhà nước và cơ chế xã hội bảo vệ Hiến pháp 35 2.2.2 Khái niệm cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp 40
2.3 Khái quát về cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp Việt Nam 44 2.3.1 Nguyên tắc thực hiện hoạt động bảo hiến của cơ chế nhà
nước bảo vệ Hiến pháp Việt Nam
44
2.3.2 Vai trò của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp Việt Nam 45
Trang 42.3.3 Thực trạng hoạt động của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp
Việt Nam
49
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN CƠ CHẾ
NHÀ NƯỚC BẢO VỆ HIẾN PHÁP VIỆT NAM
67
3.1 Nhu cầu khách quan cần hoàn thiện hiến pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động bảo hiến
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ra đời và gây ảnh hưởng đến phương thức sử dụng quyền lực nhà nước từ cuối thế kỷ thứ XIX đến nay, lý luận về nhà nước pháp quyền hơn lúc nào hết, đang thực hiện được sự tác động đến các nhà nước mang tính phổ quát toàn cầu
Trong đời sống pháp lý, căn cứ vào tên gọi, người ta hay hiểu rằng nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó pháp luật giữ vị trí, vai trò tối thượng Thực ra bản chất của nhà nước pháp quyền thể hiện tính nhân văn một cách trực diện hơn nhiều Bản chất của nhà nước pháp quyền là tôn trọng
và bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân Pháp luật trong nhà nước pháp quyền trước hết phải là công cụ bảo đảm thực hiện quyền đó, mà điều được người ta nhắc đến như một điểm sáng của nó là sự ràng buộc của pháp luật trước hết là đối với nhà nước Hãy đừng quên, lý luận nhà nước pháp quyền sinh ra là để chống lại sự độc đoán, chuyên quyền trong các nhà nước chuyên chế, cảnh sát
Bảo hiến là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà nước pháp quyền bởi vậy, có người đã xem hoạt động bảo hiến như một đặc trưng
cơ bản của nhà nước pháp quyền, cũng như họ coi tòa án Hiến pháp (ở một số nước là hội đồng bảo hiến hay Viện bảo hiến) là biểu tượng hay "vương miện" dành riêng cho nhà nước pháp quyền Nhắc đến nhà nước pháp quyền, người ta sẽ nói ngay đến vấn đề bảo hiến, chính vì thế, khi xem xét, đánh giá một quốc gia đã xây dựng được nhà nước pháp quyền hay chưa, người ta thường dựa trên tiêu chí Hiến pháp của quốc gia đó được bảo vệ ở mức độ nào Mức độ được bảo vệ và tôn trọng của Hiến pháp cho phép chúng ta sơ bộ nhận định được về tình trạng bảo vệ và thực thi các quyền con người, quyền công dân của một quốc gia Điều này đồng nghĩa với việc bất cứ quốc gia nào
Trang 6muốn tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền phải chú trọng và không được coi nhẹ vấn đề bảo vệ Hiến pháp ở đất nước mình
Trong pháp luật nước ta, từ lâu đã có các cơ chế bảo đảm thực thi và bảo vệ Hiến pháp với những tính chất, mức độ và cách thức khác nhau Trong
đó, cơ chế bảo vệ hiến pháp có tính chất Nhà nước do các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như: Chủ tịch nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Tòa án, Viện kiểm sát Tuy nhiên, bảo vệ hiến pháp bằng các thiết chế có tính chuyên môn hay chuyên trách (Toà án hiến pháp, Hội đồng bảo hiến ) mới là sự thể hiện rõ rệt về tính chất pháp quyền của nhà nước Song, tính cho đến thời điểm hiện nay, một cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp có tính chuyên môn hay chuyên trách vẫn chưa được tổ chức ở nước ta Trong khi đó vấn đề bảo hiến hiện nay đang là trọng tâm thu hút sự chú ý từ nhiều phía, không chỉ trong phạm vi nước ta Đòi hỏi phải nâng cao
và phát huy hơn nữa vai trò của các cơ chế nhà nước trong vấn đề bảo vệ Hiến pháp đang đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết kể từ khi chúng ta quyết định xây dựng một nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Muốn làm được điều đó, chúng ta cần phải khắc phục những điểm hạn chế còn tồn tại trong quá trình bảo vệ Hiến pháp mà các cơ chế nhà nước bảo hiến hiện nay chưa đáp ứng được, song song với điều đó cần phải kiện toàn lại tổ chức và hoạt động của các cơ chế nhà nước bảo hiến sao cho phù hợp với những thay đổi trong điều kiện kinh tế - chính trị và xã hội của nước ta
Bên cạnh đó, Đảng ta đã xác định một hướng bảo vệ Hiến pháp hết sức mới mẻ nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc tôn trọng và thực thi Hiến pháp nước ta đó là: "Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp" [8, tr 127] Thực hiện chủ trương của Đảng đồng nghĩa với việc chúng ta đang góp phần củng cố hơn nữa cơ chế nhà nước bảo vệ hiến pháp, góp phần tăng cường hơn nữa ý thức tuân thủ, tôn trọng và thực thi các quy định của Hiến pháp ở nước ta Mặt khác, đó cũng là một trong những yêu cầu đặt ra cho chúng ta cần phải
Trang 7xây dựng và hoàn thiện ở mức độ cao hơn đối với cơ chế nhà nước bảo vệ
hiến pháp Đề tài luận văn "Xây dựng các cơ chế nhà nước bảo vệ hiến
pháp ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" được thực hiện vì
những lý do trên
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tuy bảo vệ Hiến pháp là một nhiệm vụ có tầm vóc lớn lao, xây dựng
cơ chế bảo hiến là việc làm cấp bách, nhưng tài phán Hiến pháp mới chỉ được nghiên cứu ở nước ta trong thời gian gần đây nên khối lượng các công trình nghiên cứu so với thế giới còn khá khiếm tốn Cho đến nay, hầu hết công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này là các bài báo, các chuyên đề, chuyên khảo trong các hội thảo, trong đó, nổi bật lên với bài viết của PGS.TS Nguyễn Như
Phát, Mô hình tài phán Hiến pháp ở Cộng hòa Liên bang Đức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11, 2004; PGS TS Thái Vĩnh Thắng, Mô hình cơ quan bảo
hiến ở các nước trên thế giới, Tạp chí Luật học, số 5, 2004; GS TSKH: Đào
Trí Úc, Tài phán Hiến pháp và xây dựng tài phán Hiến pháp ở Việt Nam hiện
nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10, 2006; Báo cáo của Đoàn Ủy ban pháp luật về kết quả nghiên cứu tại Cộng hòa Liên bang Đức; Báo cáo kết
quả của Đoàn công tác của Ban công tác lập pháp tại Cộng hòa Áo và Vương quốc Anh; Tài liệu tham khảo về Hội thảo về cơ chế bảo hiến ở Việt Nam do Ban công tác lập pháp tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An, tháng 3 năm
2005… Hoặc "Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của GS.TSKH Đào Trí Úc (Chủ biên), "Cơ chế giám sát Hiến pháp theo các
Hiến pháp Việt Nam và vấn đề xây dựng tài phán Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay" của PGS.TS Trương Đắc Linh (báo cáo Hội thảo quốc tế về giám sát
Hiến pháp năm 2007), "Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân" của PGS.TS
Lê Minh Thông trong kỷ yếu hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành
và phát triển", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2006, "Những vấn đề lý
Trang 8luận cơ bản về thiết chế bảo hiến" và "Những vấn đề cơ bản trong xây dựng định chế bảo hiến ở nước ta" của PGS.TS Vũ Thư, Tạp chí Tòa án nhân dân
số 5 năm 2006, số 7 năm 2007… Bên cạnh đó có một số công trình được biên soạn dưới dạng sách tham khảo đã bước đầu cung cấp thông tin cho người đọc về kinh nghiệm và nền tài phán Hiến pháp của nước ngoài Trong số này
có thể kể đến: TS Nguyễn Sĩ Dũng (chủ biên), Quyền giám sát của Quốc hội-
Nội dung và thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội,
2004; Ban công tác lập pháp - Đặng Văn Chiến (chủ biên), Cơ chế bảo hiến,
Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, 2005… Và gần đây là đề tài nghiên cứu cấp bộ
về "Tài phán Hiến pháp- một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế
và khả năng áp dụng cho Việt Nam" do PGS.TS Nguyễn Như Phát (Viện
trưởng Viện Nhà nước&pháp luật) chủ nhiệm đã phần nào đi sâu vào nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về vai trò của tài phán hiến pháp đối với việc duy trì và bảo vệ chế độ Nhà nước và nền dân chủ, xu hướng phát triển của chúng trong thế giới đương đại và đặc biệt là về mô hình lý luận cho việc xây dựng tài phán hiến pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình, các nhà khoa học tập trung tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề lý luận xung quanh các cơ chế nhà nước bảo hiến ở nước ta, đồng thời xem xét chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp qua các thời kỳ, và đặt trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã thể hiện sinh động và hiện thực về thực trạng tổ chức và hoạt động của cơ chế nhà nước trong việc bảo vệ Hiến pháp, những bất cập, hạn chế cũng như những luận giải và đề xuất khắc phục những nhược điểm đó nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ chế nhà nước bảo hiến, từ đó đẩy mạnh, tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan này đối với vấn đề bảo hiến, góp phần tôn vinh Hiến pháp ở nước ta Đây chính là nguồn nhận thức
cơ bản và quan trọng, là những kiến thức, cơ sở lý luận để học viên tham khảo, vận dụng, học hỏi để thực hiện đề tài luận văn của mình
Trang 93 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là trên cơ sở tiếp cận tổng thể, phân tích, đánh giá, làm sáng tỏ khái niệm, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp ở nước ta, thực tiễn hoạt động của cơ chế nhà nước bảo hiến và những điểm còn bất cập, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan này gây ảnh hưởng đến việc bảo đảm thực thi, tôn trọng các quy định của Hiến pháp nước ta, đồng thời hướng tới xây dựng, hoàn thiện cơ chế nhà nước bảo hiến Trên cơ sở đó các kiến nghị được đề xuất nhằm sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa tổ chức, hoạt động và vai trò của cơ chế nhà nước về bảo vệ Hiến pháp; đưa ra những kiến nghị phục vụ cho sự thành lập thiết chế bảo hiến chuyên trách ở nước ta góp phần làm chặt chẽ hơn nữa tổ chức và hoạt động của cơ chế nhà nước về bảo
vệ Hiến pháp mà mục tiêu cuối cùng là bảo vệ quyền công dân, quyền con người và xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Phân tích những cơ sở lý luận cơ bản về cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp, vị trí, vai trò của các cơ quan nhà nước trong thực thi nhiệm vụ bảo hiến
- Phân tích và nhận xét về thực trạng cơ chế nhà nước, những điểm còn tồn tại và hạn chế của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp nước ta
- Phân tích những nhu cầu khách quan đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, tổ chức và hoạt động của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của cơ chế bảo hiến ở nước ta
4 Giới hạn của luận văn
Phạm vi của luận văn này tương đối rộng, do đề cập đến thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của nhiều cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ Hiến pháp,
Trang 10thể hiện ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh thuộc nhiều lĩnh vực, không cho phép chúng
ta đi vào tìm hiểu sâu hay đề cập hết các khía cạnh, các mức độ thực thi chức trách, nhiệm vụ bảo hiến được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật nước ta
Trong khuôn khổ luận văn này, luận văn chỉ tập trung vào một số nội dung cơ bản như: phân tích nhu cầu bảo vệ Hiến pháp, khái niệm, vị trí, vai trò của cơ chế nhà nước về bảo vệ Hiến pháp, trong đó chủ yếu đề cập đến hoạt động kiểm tra, giám sát Hiến pháp do các cơ quan nhà nước bảo hiến thực hiện, phân tích những hạn chế, thiếu sót trong quá trình thực thi trách nhiệm bảo hiến của các cơ quan nhà nước, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hơn nữa vai trò bảo hiến của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp, đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện
cơ chế bảo hiến nước ta, đáp ứng yêu cầu mà bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đưa lại
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận mà luận văn sử dụng để thực hiện đề tài nghiên cứu này
là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về nhà nước pháp quyền, về vấn đề bảo vệ Hiến pháp, về đường lối đổi mới đất nước được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng và các Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Hiến pháp và văn bản Pháp luật của Nhà nước
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để hoàn thành đề tài luận văn này là đi từ bản chất đến cụ thể, từ thực tiễn khách quan đến cái chung và cái riêng Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của Triết học Mác - Lênin, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống, liệt kê, kết hợp lý luận với thực tiễn…để giải quyết các vấn đề đặt ra từ luận văn Các phương pháp trên được sử dụng xuyên suốt đề tài luận văn, nhưng trong từng chương, mức độ sử dụng có thể khác nhau do xuất phát
từ yêu cầu của việc nghiên cứu và nội dung của đề tài
Trang 116 Giá trị khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã bước đầu đi vào nghiên cứu và đưa ra quan điểm cụ thể về vấn đề bảo hiến, vi phạm Hiến pháp và cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp, đưa ra một cái nhìn chung nhất về thực trạng của cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay, tìm ra những bất cập, hạn chế trong quá trình thực thi nhiệm vụ bảo hiến của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo hiến trên cơ sở phân tích nhu cầu thực tiễn cần bảo vệ Hiến pháp ở nước ta
Các kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm mục đích đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện hơn nữa cơ chế nhà nước bảo
vệ Hiến pháp, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiến ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nhu cầu bảo vệ Hiến pháp và bảo hiến trên thế giới
Chương 2: Hiến pháp và cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp Việt Nam Chương 3: Phương hướng xây dựng, hoàn thiện cơ chế nhà nước bảo
vệ Hiến pháp Việt Nam
Trang 12nó Các văn bản quy phạm pháp luật khác đều dựa trên cơ sở Hiến pháp và phải phù hợp với Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp Vì vậy, muốn xác định một hành vi là vi phạm Hiến pháp hay kết luận tính hợp hiến của một văn bản quy phạm pháp luật chúng ta phải đối chiếu chúng với các quy định của Hiến pháp Nói cách khác, Hiến pháp phải được viện dẫn khi giải quyết các tranh chấp và phán quyết về các vi phạm Hiến pháp
Về chủ thể của các quan hệ do Hiến pháp điều chỉnh: Phần lớn Hiến pháp quy định về tổ chức, hoạt động của Nhà nước và xác định quyền và nghĩa vụ của công dân Do vậy, chủ thể của vi phạm Hiến pháp có thể là các
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được nhà nước trao quyền (chẳng hạn như Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng )
Về nội dung, Hiến pháp quy định những chế định lớn như chủ quyền quốc gia, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị và vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước, vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chế
độ kinh tế, văn hóa, giáo dục Những nội dung cơ bản trên của Hiến pháp là
cơ sở pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền làm chủ của nhân dân Đồng thời, đó cũng là nền tảng pháp lý quan
Trang 13trọng để đánh giá, xem xét về tính hợp hiến của các đạo luật, các hoạt động do
cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền và các tổ chức xã hội Hiến pháp có ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, nhưng thực tế cho thấy, tình trạng Hiến pháp bị xâm phạm trong quá trình thi hành và vận dụng vào cuộc sống là khá phổ biến, bằng cách này hay cách khác Bởi vậy, bảo vệ Hiến pháp là vấn đề được chú trọng ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới hiện nay và là vấn đề được quan tâm hàng đầu tại các quốc gia theo đuổi
mô hình nhà nước pháp quyền Một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền là tính tối cao của Hiến pháp, đòi hỏi Hiến pháp phải được tuân thủ và thực hiện một cách triệt để Đồng nghĩa với việc nhà nước pháp quyền không chấp nhận bất kỳ một hành vi nào xâm phạm đến tính tối cao và toàn vẹn của Hiến pháp Xuất phát từ đây, nhu cầu bảo vệ Hiến pháp được đặt
ra nhằm đảm bảo Hiến pháp được tôn trọng và giữ gìn nghiêm chỉnh Nhưng trên thực tế, trong quá trình thi hành Hiến pháp luôn xảy ra tình trạng vi phạm Hiến pháp, những hành vi vi hiến do cá nhân hay tổ chức gây ra không chỉ xâm hại trực tiếp đến sự toàn vẹn của Hiến pháp mà còn gây thiệt hại không nhỏ đến lợi ích của nhà nước và cá nhân công dân, đồng thời vi phạm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ Nghiêm trọng hơn, nếu chủ thể vi phạm Hiến pháp là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì hậu quả gây ra thật sự khôn lường, bởi đây là những cơ quan chủ yếu giữ trọng trách bảo vệ Hiến pháp Trong khi đó, những vi phạm Hiến pháp do các cơ quan nhà nước gây ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình lại không phải là hiếm gặp Bởi vậy, có thể khẳng định cần thiết phải bảo vệ Hiến pháp, nhất là trong quá trình các cơ quan
nhà nước thi hành và vận dụng các quy định của Hiến pháp vào cuộc sống
1.1.2 Vi phạm Hiến pháp
Trước hết, cần phải khẳng định vi phạm Hiến pháp là một dạng của vi phạm pháp luật bởi Hiến pháp là một bộ phận trong hệ thống pháp luật quốc
Trang 14gia Do đó, khi nghiên cứu các yếu tố cấu thành nên vi phạm Hiến pháp ta có thể xem xét chúng với các yếu tố cấu thành tương tự như vi phạm pháp luật thông thường bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể Mặc dù vậy, với vị trí, tính chất và tầm quan trọng đặc biệt của Hiến pháp, ta không thể đánh giá vi phạm Hiến pháp như vi phạm pháp luật thông thường, hay nói cách khác, vi phạm Hiến pháp là một loại vi phạm pháp luật đặc biệt
Vì thế, khi kết luận về tính hợp hiến hay vi hiến của một hành vi chúng ta cần phải dựa vào các dấu hiệu như sau:
Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể Chủ thể của vi phạm
Hiến pháp là các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền, trong trường hợp này năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm Hiến pháp được xem xét tương tự như chủ thể vi phạm pháp luật
Tính trái Hiến pháp của hành vi: Một hành vi bị xem là trái Hiến pháp
khi nó không tuân theo những quy định của Hiến pháp, xâm hại những quan
hệ được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ
Yếu tố lỗi: Chủ thể vi phạm Hiến pháp có thể là cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân được Nhà nước trao quyền thẩm quyền, nên việc xác định yếu tố lỗi không đơn giản Hiện nay, đang có đề xuất, nếu công dân bị truy cứu trách nhiệm pháp lý vì hành vi vi phạm pháp luật của mình thì tương tự như vậy, các cá nhân được nhà nước trao quyền cũng phải bị truy cứu trách nhiệm Hiến pháp nếu bản thân họ vi phạm Hiến pháp, hoặc do thiếu trách nhiệm dẫn đến cấp dưới hoặc cơ quan do mình quản lý vi phạm Hiến pháp
Là một dạng đặc biệt của vi phạp pháp luật, vi phạm Hiến pháp(hay còn gọi là vi hiến) cũng thể hiện dưới dạng hành động và không hành động Trên cơ sở đó, vi phạm Hiến pháp và vi phạm các quy định của những văn bản quy phạm pháp luật mang tính Hiến định có thể tạm chia thành hai loại:
"vi phạm một cách chủ động và vi phạm một cách bị động" [17] Vi phạm Hiến pháp một cách chủ động xảy ra khá thường xuyên, khi các cơ quan nhà
Trang 15nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái với các quy định của Hiến pháp hoặc trái với tinh thần của Hiến pháp Sở
dĩ như vậy, bởi các cơ quan ban hành ra các văn bản quy phạm vi hiến này đa phần là các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý, nên khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, họ thường có xu hướng đề ra các quy định tạo thuận lợi cho hoạt động của mình, nhưng cũng vì vậy mà họ đã đẩy những khó khăn và bất lợi về phía người dân- đối tượng trực tiếp chịu sự quản lý, điều này đồng nghĩa với việc họ đã vi phạm các quyền của người dân được Hiến pháp thừa nhận và bảo vệ Bên cạnh đó, với lý do nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý của mình, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cho rằng nội dung các văn bản quy phạm pháp luật do họ ban hành là vi hiến, và cần thiết phải làm như thế nhằm giúp các cơ quan chức năng dễ dàng hơn khi thực hiện nhiệm vụ, hơn nữa, điều đó là có ích cho cộng đồng Chẳng hạn, trong thời gian vừa qua, hàng loạt các văn bản pháp lý do các Bộ ban hành đã bị Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật Bộ tư pháp "tuýt còi" vì chứa đựng những nội dung vi phạm Hiến pháp, điển hình như Quyết định số 33/2008/QĐ-BYT ngày 30/09/2008 của Bộ Y tế về việc ban hành tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, hay thông tư liên tịch Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế số 09/2009/TTLT-BYT-TC ngày 14 tháng
08 năm 2009,…Còn vi phạm Hiến pháp một cách bị động là dạng vi phạm Hiến pháp tương đối khó nhận biết, vì vi phạm này chỉ xảy ra khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy định Hiến pháp, trong khi họ có nghĩa vụ phải ban hành chúng, hoặc không ban hành những văn bản pháp lý mà theo quy định pháp luật là phải ban hành Hay nói cách khác, họ đã không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ mà Hiến pháp và pháp luật đã trao cho họ, và việc các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thực hiện hoặc thực hiện nhưng không đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình cũng chính là hành
vi vi phạm Hiến pháp Nhưng vì những vi phạm Hiến pháp loại này ở dạng
Trang 16dạng không hành động nên rất khó xác định, trừ phi tự bản thân cơ quan nhà nước đó thừa nhận, còn không, hầu hết chúng ta đều khó nhận biết được, mặc
dù hậu quả mà những vi phạm Hiến pháp loại này để lại cũng rất nghiêm trọng Bởi những kẽ hở pháp lý được tạo ra khi các văn bản quy phạm pháp luật không được ban hành để điều chỉnh kịp thời là cơ sở cho những hành vi xâm hại đến quyền, lợi ích của công dân, của xã hội được thực hiện mà không
bị xử lý, hay đến khi phát hiện ra thì hậu quả để lại đã quá lớn, không thể khắc phục được Trên thực tế, nếu căn cứ theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001, thì cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Nhưng nếu chỉ với quy định như vậy, thì cử tri khó lòng thực hiện được quyền bãi nhiệm đối với đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, thậm chí cho tới thời điểm hiện tại, không có bất cứ quy định nào hướng dẫn cụ thể vấn đề đó Điều đó đã hạn chế quyền lợi của cử tri,
vì không có những quy định chi tiết, cụ thể về trình tự, thủ tục bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nên cử tri mặc dù không còn đặt niềm tin vào các đại biểu dân cử của mình, cũng không cách nào thực hiện quyền bãi nhiệm đối với họ Trong trường hợp này, việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã không ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về quyền hạn bãi nhiệm các đại biểu dân cử của cử tri, được xem là vi phạm Hiến pháp Vô hình trung, họ đã hạn chế quyền lợi hợp pháp của cử tri đã được ghi nhận trong Hiến pháp
1.2 Bảo hiến và các mô hình bảo hiến trên thế giới
1.2.1 Bảo hiến
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm về bảo hiến Có người cho rằng "bảo hiến(bảo vệ Hiến pháp) là tổng hợp các biện pháp giữ gìn, chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của hiến pháp"[3, tr.17] Bảo hiến
ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, quan điểm này đã đồng nhất giữa bảo vệ Hiến pháp và bảo đảm Hiến pháp
Trang 17Theo quan điểm khác, bảo hiến lại được hiểu là "hoạt động của chủ thể có thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến của văn bản pháp luật, qua đó làm phát sinh hệ quả pháp lý vô hiệu hóa văn bản pháp luật vi hiến" [1, tr 16] Nếu quan điểm thứ nhất có xu hướng mở rộng nội hàm khái niệm, thì quan điểm thứ hai lại thu hẹp nội hàm của khái niệm "bảo hiến" khi coi hoạt động bảo hiến chỉ gói gọn trong hoạt động xem xét, đánh giá và phán quyết về tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật
Khoan bàn đến tính đúng sai giữa hai khái niệm, ở đây chúng ta phải xuất phát từ bản chất của hoạt động bảo hiến để có được cái nhìn đúng đắn nhất về nó Trước hết, bảo hiến hiểu một cách đơn giản nhất là bảo vệ Hiến pháp, trong đó giữ gìn sự toàn vẹn của Hiến pháp là việc đầu tiên cần làm, quan trọng hơn, cần phải giữ cho Hiến pháp không bị vi phạm, hay nói cách khác, giữ cho các quan hệ được Hiến pháp thừa nhận và bảo vệ không bị xâm hại đến Nói đến các đối tượng hàng đầu được Hiến pháp thừa nhận và bảo vệ không thể không nhắc đến quyền con người và quyền tự do, dân chủ của công dân Hiến pháp được sinh ra là để bảo vệ những quyền đó Nhưng điều này chỉ thực hiện được nếu chúng ta ngăn chặn được những vi phạm Hiến pháp trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước Mặt khác, phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước là rất rộng, không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật, do đó, cần phải kiểm soát sự vi hiến của các cơ quan này ở cả những lĩnh vực khác Do đó, nếu bảo hiến chỉ được hiểu một cách đơn giản là hoạt động xem xét tính hợp hiến hay vi hiến của các đạo luật
và các văn bản pháp lý khác, thì chúng ta không thể kiểm soát được những vi phạm Hiến pháp trong những lĩnh vực hoạt động khác của quyền lực nhà nước Nói cách khác, cần phải hiểu bảo vệ Hiến pháp theo nghĩa rộng nhất
"Bởi lẽ, toàn bộ hoạt động của hệ thống nhà nước, của xã hội và các hành vi pháp lý tích cực của công dân, đặc biệt là hệ thống thanh tra, giám sát và xét
xử, suy cho cùng đều có khả năng và mục tiêu bảo vệ Hiến pháp" [31] Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, chúng ta chỉ xét đến hoạt động bảo vệ
Trang 18Hiến pháp được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền, được Hiến pháp trao cho trọng trách bảo vệ Hiến pháp, vì vậy, không đi sâu vào phân tích hoạt động bảo hiến do cơ chế xã hội thực hiện
Xuất phát từ một thực tế là thi hành Hiến pháp không thể tránh khỏi vi phạm Hiến pháp, bảo hiến là một nhu cầu tất yếu khách quan, cần phải thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nếu đã có cho riêng mình một bản Hiến pháp, dù thành văn hay bất thành văn cũng đều phải nghĩ tới vấn đề bảo vệ Hiến pháp Mặt khác, Hiến pháp giữ vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt trong xã hội, nó đứng trên các thiết chế như nhà nước, xã hội, đồng thời nó là nền tảng pháp lý và chính trị căn bản để từ xã hội tổ chức nên Nhà nước, là cơ sở để xác lập và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, xác lập và tổ chức mối quan hệ giữa Nhà nước - xã hội và công dân…Từ đó, có thể nói, Hiến pháp là công cụ để phân chia và giới hạn các quyền lực chính trị trong đó chủ yếu là quyền lực nhà nước Trong khi việc tổ chức quyền lực nhà nước cũng là một trong những nội dung căn bản của nhà nước pháp quyền, nên nhu cầu bảo vệ Hiến pháp cũng xuất phát từ mục tiêu xây dựng và bảo vệ nhà nước pháp quyền
Khi nói đến vấn đề bảo hiến, không thể không nhắc đến chủ nghĩa hợp hiến phương tây, đây là nền tảng căn bản cho sự hình thành chế độ tài phán hiến pháp Vì bản chất của chủ nghĩa hợp hiến là sự giới hạn pháp lý đối với công quyền, nên nó trở thành cảm hứng để thông qua đó người ta tìm ra các biện pháp nhằm hạn chế quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Trong đó, đòi hỏi trước hết của chủ nghĩa hợp hiến là tổ chức và điều hành của chính quyền phải tuân theo các quy định của Hiến pháp, nhưng
có Hiến pháp không có nghĩa là có chủ nghĩa hợp hiến Bản Hiến pháp phải chứa đựng những quy định nhằm hạn chế bớt quyền lực của chính quyền, điều chỉnh hoạt động của chính quyền theo hướng bảo vệ quyền con người, quyền công dân mới là chủ nghĩa hợp hiến tự do Chính vì vậy, để giới hạn được quyền lực nhà nước, bắt buộc Hiến pháp phải được đứng ở vị trí cao nhất trong
Trang 19trong hệ thống pháp lý cũng như trong đời sống xã hội, hay nói cách khác, đứng trên mọi văn bản pháp luật khác do nhà nước ban hành, và được toàn xã hội tôn vinh Bắt nguồn từ đây, lý thuyết về tính tối cao của Hiến pháp và quyền tài phán hiến pháp đã được hình thành và phát triển, được các quốc gia
có nền lập hiến lâu đời ở Châu Âu và Châu Mỹ thừa nhận Như vậy, có thể kết luận học thuyết hiến pháp tối cao là cơ sở của học thuyết tài phán hiến pháp, bởi Hiến pháp sẽ không giữ được sự toàn vẹn và tính tối cao của nó nếu nội dung của nó bị xâm hại, đồng thời những hành vi xâm hại đó không bị phán xử bởi bất cứ một thiết chế nào Theo quan điểm của các học giả phương Tây, một chính quyền cho dù được thiết lập trên cơ sở Hiến pháp cũng không thể được xem là điều hành theo chủ nghĩa hợp hiến nếu không có một cơ chế phán quyết các vi phạm Hiến pháp của chính quyền đó Trong buổi đầu của nền lập hiến, cơ quan dân cử là đối tượng được lựa chọn để bảo vệ Hiến pháp, bởi thế, thẩm quyền bảo hiến được trao cho hội nghị dân cử, một ủy ban của Quốc hội, Nghị viện hoặc một trong hai viện của Quốc hội Ở một số nước trên thế giới khi lựa chọn mô hình bảo hiến là một cơ quan trong bộ máy nhà nước thì thông thường trọng trách bảo hiến được trao cho cơ quan lập hiến Tuy nhiên ở các nước đó có sự phân biệt giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp Khi đó, Hiến pháp được ban hành bởi một cơ quan ở vị trí thuận lợi để giải thích Hiến pháp, kịp thời nhận biết những vi phạm Hiến pháp và phải ở vị trí cao hơn cơ quan lập pháp Song, quan niệm trao trọng trách bảo hiến cho
cơ quan dân cử đã không còn phù hợp nữa, do đó, mô hình bảo hiến này được rất ít quốc gia áp dụng Sở dĩ như vậy bởi nếu trao quyền bảo hiến cho cơ quan chính trị như cơ quan dân cử thì vấn đề sẽ được xem xét dưới khía cạnh chính trị hơn là khía cạnh pháp lý Trong khi đó việc kiểm soát tính hợp hiến lại là một hành vi pháp lý Nhưng "cơ quan chính trị lại xử lý vấn đề trong quan điểm, góc nhìn chính trị, sự kiểm soát tính hợp hiến dễ bị sai lạc khi cơ quan này nhìn nhận đến tính hợp thời, lợi ích và giá trị thực tiễn của đạo luật hơn là xem xét tính hợp hiến của nó" [8, tr 127] Việc kiểm soát tính hợp hiến
Trang 20của pháp luật thuộc về nghiệp vụ mang tính pháp lý, từ đó phát sinh quan niệm trao trọng trách bảo hiến cho cơ quan tư pháp Quyền lực nhà nước được chia thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó, lập pháp và hành pháp là hai lĩnh vực dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, đặc biệt là quyền lực hành pháp, nên dễ dàng xâm phạm đến các quyền con người và quyền công dân Nhưng tư pháp với đặc thù là đại diện cho công lý để bảo vệ cho những quyền tự nhiên vốn có của con người, nên tư pháp trở thành công cụ hữu hiệu để kiểm soát tính hợp hiến và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con người và công dân Bên cạnh đó, với việc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, việc lựa chọn tư pháp- một ngành quyền lực có những khác biệt với ngành lập pháp và hành pháp, để trao trọng trách bảo hiến là hợp lý, điều này đảm bảo cho hoạt động bảo hiến diễn ra một cách khách quan Vì chẳng cơ quan nào hay cá nhân nào muốn tự mình phán xử hay bãi bỏ một đạo luật hay văn bản pháp quy do mình ban hành khi văn bản
đó chứa đựng nội dung vi hiến, trong khi tòa án có thừa khả năng để vô hiệu hóa những văn bản vi hiến đó Chính vì thế, mô hình tài phán hiến pháp hiện nay được hầu hết các quốc gia trên thế giới lựa chọn là mô hình Tòa án hiến pháp-dùng tư pháp để kiềm chế và kiểm soát quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp Theo đó, các quốc gia trên thế giới đều dựa vào quyền lực tư pháp
để buộc các cơ quan hành pháp cũng như lập pháp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọi hoạt động do cac cơ quan này thực hiện và buộc
họ trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải triệt để tuân thủ các quy định của Hiến pháp
Theo PGS.TS Nguyễn Như Phát, tư tưởng tài phán hiến pháp bắt nguồn từ lịch sử phát triển của Châu Âu và Bắc Mỹ Nhưng sự phát triển của tài phán hiến pháp trên thế giới được ghi dấu ấn đặc biệt từ nửa sau của thế kỷ
20 gắn liền với sự hình thành và phát triển của các thể chế tòa án hiến pháp ở nhiều quốc gia và khu vực Hiện nay, khi nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiến trên thế giới vẫn còn tồn tại khá nhiều ý kiến
Trang 21khác nhau xung quanh vấn đề này Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng, "trước năm 1945 nền tài phán hiến pháp chỉ thực sự tồn tại ở 4 quốc gia đi tiên phong là Mỹ, Thụy Sỹ, Áo và Ai Len" [16] Nhưng tựu trung lại có thể chia lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiến cũng như nền tài phán hiến pháp làm 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn I: Sự hình thành và phát triển của nền tài phán hiến pháp
đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất Trong giai đoạn này, nền tài phán hiến pháp vẫn chưa được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, tòa án hiến pháp mới chỉ được thành lập tại một vài quốc gia như Hoa Kỳ (Tòa án tối cao) vào năm 1803, Thụy Sỹ(tòa án liên bang Thụy Sỹ) vào năm 1874, tại
Áo năm 1920 Bởi ở Châu Âu, trừ một vài quốc gia Bắc Âu, thừa nhận vai trò tối cao của các cơ quan lập pháp, nên họ không tổ chức nên hệ thống kiểm tra tính hợp hiến của tòa án một cách trực tiếp Còn ở Pháp, người ta lại quan niệm rằng cơ quan lập pháp đại diện cho quyền lợi của nhân dân, nên được đánh giá thích hợp nhất để bảo vệ cho các quyền con người, quyền công dân Hay nói cách khác, với quan niệm như vậy, đã có khá nhiều người không ủng
hộ việc thành lập một tòa án hiến pháp hay bất kỳ cơ quan nào đứng trên Quốc hội và phán xét các văn bản pháp lý do cơ quan này đưa ra Tuy vậy, nhưng những mầm mống của tài phán hiến pháp đã bắt đầu xuất hiện tại các quốc gia Châu Âu trong giai đoạn này, chẳng hạn ở Na Uy, tòa án đã có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật vào năm 1890 và nhiều hoạt động kiểm tra tính hợp hiến mang tính tòa án cũng được thực hiện ở các quốc gia như Đan Mạch, Hy Lạp vào thế kỷ XIX Mặc dù không thực sự điển hình, nhưng cho đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở Rumani cũng đã xuất hiện tòa án hiến pháp theo mô hình kiểu Mỹ
Giai đoạn II: Bắt đầu từ khoảng sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất
đến trước chiến tranh thế giới lần thứ hai Đây là giai đoạn mà nền tài phán hiến pháp nói riêng và bảo hiến nói chung trên thế giới mang đậm dấu ấn của tài phán hiến pháp Áo Được thành lập vào năm 1920, tòa án hiến pháp Áo đã
Trang 22mang lại ảnh hưởng to lớn đến hầu khắp các quốc gia Châu Âu Mô hình bảo hiến này đã được vận dụng để kiểm tra tính hợp hiến ở Tschechoslowakei (năm 1920), Liechtenstein (5/11-1925), Hy Lạp (1927), Ai Cập (1941) và Tây Ban Nha (1931) và Ai-len (1937) Song, do bùng nổ chiến tranh thế giới thứ hai, việc mở rộng hoạt động kiểm hiến đã không thực hiện được, đồng thời trong khoảng thời gian này, các thể chế đã được thành lập trên thực tế không còn hoạt động Bắt đầu từ năm 1933 đến năm 1945 hoạt động kiểm tra tính hợp hiến đã không còn được tiến hành ở Áo, trong khi đó, tương tự như vậy,
ở Séc, hoạt động bảo hiến đã dừng lại kể từ sau 1938
Giai đoạn III: Sự phát triển của tài phán hiến pháp sau chiến tranh thế
giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ XX Đây là giai đoạn ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của nền tài phán hiến pháp thế giới và kéo dài cho đến tận ngày nay Giai đoạn này cũng đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa phát xít trên toàn thế giới, mở ra một chương mới trong lịch sử hình thành và phát triển của nền tài phán hiến pháp nói riêng và lịch sử bảo hiến thế giới nói chung Nhân loại đã tiến thêm một bước về mặt nhận thức khi quan niệm việc kiểm tra tính phù hợp với hiến pháp là dấu hiệu của dân chủ Mặt khác, xuất phát từ lý do chính trị, hoạt động kiểm tra tính hợp hiến được nhìn nhận một cách tích cực hơn do nó là một công cụ hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn hiệu lực tối cao của Hiến pháp Với những ưu điểm như vậy, cơ chế bảo hiến đã được
tổ chức ở nhiều quốc gia trên thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai như Braxin (năm 1946), Nhật Bản (1947), Burma / Miến Điện (1947), Thái Lan (1949), Cộng hòa Liên bang Đức (1949), Ấn Độ (1949), Pháp (1958), Luxemburg, Sy Ri (1950) và Uruguay (1952) Đặc biệt, ở Pháp, trọng trách bảo hiến được trao cho Hội đồng bảo hiến, đây không phải là mô hình tòa án hiến pháp mà là thiết chế được tổ chức ngang hàng với cơ quan hành pháp Hội đồng bảo hiến Pháp được thành lập chỉ để thực hiện nhiệm vụ cảnh báo Quốc hội khi cơ quan này có những động thái vi phạm Hiến pháp, nhằm giữ
Trang 23cho Quốc hội hoạt động đúng với phạm vi thẩm quyền mà Hiến pháp đã xác lập cho nó Bởi thế, Hội đồng bảo hiến Pháp không tiến hành hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, không giải quyết những khiếu kiện liên quan đến Hiến pháp cũng như không kiểm soát quyền lực hành pháp
Giai đoạn IV: Từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX cho đến ngày nay
Thập kỷ 70 của thế kỷ trước trôi qua với khá nhiều biến động về mặt chính trị và pháp lý, những sự kiện này tác động rất lớn tới sự hình thành và phát triển của chế độ bảo hiến trên thế giới Chẳng hạn, cùng với sự xóa bỏ chế độ độc tài ở một số quốc gia Nam Âu như Hy Lạp (1968), Tây Ban Nha (1978) và Bồ Đào Nha (1976), hay sự chuyển đổi sang chế độ dân chủ của hệ thống chính trị ở một số quốc gia, mô hình tài phán hiến pháp kiểu Đức và Ý
đã được tổ chức ở nhiều nước Trong đó, theo đánh giá của học giả người Pháp Michel Fromont, mô hình tài phán hiến pháp kiểu Đức là một sáng tạo hoàn toàn mới của Đạo luật cơ bản Đức Nó cũng là tổ chức nổi tiếng nhất ở Đức và trên toàn thế giới Giai đoạn này cũng đánh dấu sự hiện diện của tài phán hiến pháp ở một loạt các quốc gia Mỹ la tinh, Châu Phi và Đông Nam Á
Cơ quan tài phán hiến pháp không chỉ được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp mà còn trở thành đối trọng để cân bằng, kiểm soát quyền lực nhà nước ở một số nước trên thế giới Tuy nhiên, không phải bất cứ quốc gia phát triển nào cũng tổ chức tòa án hiến pháp, có thể kể đến ở đây "như Hà Lan, Điều 120 Hiến pháp nước này quy định các thẩm phán không được phép đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật và hợp đồng" [16], hoặc điển hình như
ở Anh, không thể phủ nhận "về mặt lý thuyết là tính đến thời điểm hiện nay, vương quốc này không có Hiến pháp thành văn, chỉ có truyền thống do các đạo luật của Quốc hội ban hành đem lại" [16]
Hiện nay, có thể nói, nền tài phán hiến pháp đã phát triển ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới Ở đâu có Hiến pháp, tất yếu ở đó phát sinh nhu cầu
Trang 24bảo vệ Hiến pháp, và đương nhiên, điều này đồng nghĩa với việc xuất hiện tài phán hiến pháp Trong thế giới hiện đại ngày nay, quyền con người, quyền tự
do, dân chủ của công dân ngày càng được đề cao, chú trọng và quan tâm, đây
là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tài phán hiến pháp Thậm chí, ngay
cả những quốc gia vẫn còn nhập nhằng trong việc phân định quyền lực nhà nước cũng đã nghĩ tới việc tổ chức một cơ chế bảo hiến chuyên trách, đây được xem là một tín hiệu tích cực cho chế độ bảo hiến trên thế giới, qua đó cho thấy nhận thức của con người đối với tầm quan trọng của việc bảo hiến cũng vấn đề như quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân đã có
sự cải thiện và chuyển biến rõ rệt theo chiều hướng tốt
1.2.2 Các mô hình bảo hiến trên thế giới
Mặc dù đều sử dụng tư pháp để kiểm soát đối với lập pháp và hành pháp nhưng ở mỗi quốc gia khác nhau lại sử dụng mô hình bảo hiến phù hợp với đặc thù chính trị - xã hội - pháp lý riêng của mình Trên thế giới hiện nay
có những mô hình bảo hiến sau đây:
Thứ nhất, là mô hình bảo hiến phi tập trung, hay còn gọi là mô hình
tài phán hiến pháp kiểu Mỹ Theo đó, mô hình này không được tổ chức thành một thiết chế chuyên biệt, mà trọng trách bảo vệ Hiến pháp được trao cho tòa
án, hay nói cách khác, tòa án kiêm luôn chức năng bảo hiến Ở Mỹ, bảo vệ Hiến pháp chỉ là một trong các chức năng của hệ thống tòa án, như vậy, quyền tài phán hiến pháp được tập trung cho hệ thống tòa án- cơ quan nắm quyền lực tư pháp, nhưng đồng thời sự tập trung này cũng chỉ mang tính tương đối vì không chỉ tòa án tối cao liên bang mà tất cả các tòa án trong hệ thống tòa án liên bang đều có thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của tất cả các đạo luật Mô hình bảo hiến kiểu Mỹ cũng có những đòi hỏi rất khắt khe khi thiết lập như: phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức quyền lực nhà nước, có một hệ thống tập quán và án lệ cực mạnh, trình
độ của các thẩm phán phải cực cao Cần phải lưu ý là trong mô hình thiết chế
Trang 25bảo hiến này, quyền tài phán hiến pháp thuộc về nhánh quyền lực tư pháp, chứ không thuộc về riêng tòa án nào Vì thế, nếu xét thấy một đạo luật là vi hiến, thì tất cả mọi tòa án trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều có quyền từ chối áp dụng đạo luật đó Có thể liệt kê một số nước áp dụng mô hình bảo hiến Hoa Kỳ như Australia, New Zealand, Canada, Ấn Độ, Thụy Sỹ hay một số quốc gia Bắc
Âu như Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan và hầu hết các nước khu vực Nam Mỹ Ngoài Hoa Kỳ, có thể nhắc tới Thụy Sỹ, đây là một quốc gia có nền bảo hiến lâu đời (bắt đầu từ năm 1874) Thụy Sỹ đã duy trì vị trí của Tòa
án Liên bang trong Hiến pháp mới của mình (có hiệu lực từ tháng 1/2000) cho tới nay Tuy nhiên, "khác với ở cấp bang, tài phán hiến pháp ở cấp độ liên bang ở Thụy Sỹ bị giới hạn, khi thiếu hụt hẳn sự kiểm tra tính hợp hiến của đối với các đạo luật Liên bang" [34]
Thứ hai, là mô hình bảo hiến tập trung, hay còn gọi là mô hình bảo
hiến kiểu Áo - Đức Đây là kiểu mô hình bảo hiến trong đó quyền tài phán hiến pháp được trao cho một cơ quan bảo hiến chuyên trách, trong trường hợp này là Tòa án Hay nói cách khác, đây là mô hình bảo vệ và giám sát Hiến pháp được tổ chức độc lập về mặt thể chế với hai đại diện điển hình là tòa án hiến pháp Áo và tòa án hiến pháp Liên bang Đức Mô hình bảo hiến này không đòi hỏi những điều kiện ngặt nghèo như mô hình bảo hiến kiểu Mỹ Bên cạnh đó, tòa án hiến pháp theo mô hình Đức - Áo được thành lập chỉ với nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, và giải quyết các tranh chấp Hiến pháp theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân Quyết định của tòa án hiến pháp có hiệu lực pháp lý bắt buộc thi hành đối với mọi tổ chức, cá nhân có liên quan Mô hình tài phán hiến pháp tập trung kiểu Áo - Đức trong những năm qua đã được nhân rộng ra các nước trên thế giới, các nước tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, pháp lý cụ thể của quốc gia mình mà tổ chức tòa án hiến pháp phù hợp Ngoài Đức và Áo, Pháp, Bỉ Hy Lạp, I-ta-li-a, Liechtenstein, Tây Ban Nha, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hung- ga- ri, Séc và Nga cũng là những quốc gia có cơ quan tài phán hiến pháp được tổ chức một cách độc lập Không những thế, các nước
Trang 26khác như Albania, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Bosnia và Hercegovina, Bulgaria, Trung Phi, Chile, Congo, Colombia, Croatia, Ecuador, Ai Cập, Gruzia, Guatemala, Kazakhstan, Hàn Quốc, Kyrgyzstan, Latvia, Litva, Macedonia, Madagascar, Mali, Moldova, Mông Cổ, Bồ Đào Nha, Romania, Serbia, Slovakia, Slovenia, Nam Phi, Tajikistan, Thái Lan, Turkmenistan, Uganda, Ukraina và Uzbekistan cũng có thể được liệt vào danh sách các quốc gia theo đuổi mô hình tài phán hiến pháp tập trung với cơ quan tài phán hiến pháp được tổ chức độc lập
Ngoài hai mô hình bảo hiến trên còn có mô hình bảo hiến hỗn hợp kiểu Âu - Mỹ, mô hình bảo hiến này mang đầy đủ đặc trưng của mô hình bảo hiến kiểu Mỹ và mô hình bảo hiến kiểu Đức - Áo Theo mô hình này, thẩm quyền tài phán hiến pháp được trao cho cả cơ quan bảo hiến chuyên trách lẫn
hệ thống tòa án thông thường Trong đó, thẩm quyền của tòa án hiến pháp và tòa án tối cao đối với mỗi vụ việc được quy định trong Hiến pháp, còn các tòa
án khác khi xem xét, giải quyết một vụ việc cụ thể có quyền phán xét tính hợp hiến của một đạo luật và có quyền từ chối áp dụng nếu đạo luật đó chứa đựng nội dung vi hiến
Trên đây là những mô hình bảo hiến đang có ảnh hưởng rất lớn trên toàn thế giới, tuy nhiên, mỗi mô hình đều đang trong quá trình hoàn thiện, đều bộc lộ những ưu điểm và khuyết điểm riêng, nên thật khó để kết luận mô hình nào là tối ưu nhất Để lựa chọn được mô hình bảo hiến phù hợp, các quốc gia nên cân nhắc kỹ trên cơ sở điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý cụ thể của đất nước mình
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trước hết cần phải khẳng định Hiến pháp có ý nghĩa và tầm quan trọng hết sức to lớn, chính vì thế bảo vệ Hiến pháp là điều tất yếu phải làm Không quốc gia nào có Hiến pháp bất luận là thành văn hay không thành văn
mà không nghĩ đến vấn đề bảo vệ Hiến pháp Nhất là đối với các quốc gia
Trang 27đang tập trung vào xây dựng và duy trì một nhà nước pháp quyền, vì tư tưởng
về nhà nước pháp quyền quan niệm Hiến pháp là tối cao và bất khả xâm phạm Nói cách khác, nhà nước pháp quyền tuyệt đối không chấp nhận bất kỳ hành vi nào vi phạm Hiến pháp Có người nói, vi phạm Hiến pháp chỉ xảy ra khi thực hiện hành vi trái với các quy định của Hiến pháp mới là vi phạm Hiến pháp, điều đó đúng, nhưng không đầy đủ, không hẳn chỉ hành động trái với Hiến pháp mới bị xem là vi phạm Hiến pháp, mà ngay cả không hành động, không tuân thủ hoặc thực hiện các nghĩa vụ mà Hiến pháp đã trao cho mình cũng bị coi là vi hiến Vi phạm Hiến pháp được thể hiện dưới dạng hành động và không hành động, trong trường hợp nào cũng vậy, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của Hiến pháp cũng bị khép vào hành vi vi phạm Hiến pháp Và một khi vi phạm Hiến pháp
đã xảy ra, giống như những vi phạm pháp luật khác, chủ thể của hành vi vi hiến cũng phải chịu truy cứu trách nhiệm Hiến pháp Đây là cơ sở cho sự ra đời của nền tài phán hiến pháp, có thể nói, lịch sử tài phán hiến pháp đã chỉ ra
tư tưởng về tài phán hiến pháp bắt nguồn từ Châu Âu và Mỹ, trải qua nhiều năm, các nước có nền tài phán hiến pháp lâu đời như Mỹ, Pháp, Đức, Áo…đã hình thành nên các mô hình tài phán hiến pháp đặc thù của quốc gia mình Hiện nay, tài phán hiến pháp thế giới chủ yếu được tổ chức theo 3 mô hình như: Mô hình phi tập trung(điển hình như tài phán hiến pháp Mỹ), mô hình tập trung như tòa án Hiến pháp Liên Bang Đức, mô hình hỗn hợp kiểu Âu-
Mỹ Mỗi mô hình có những ưu và nhược điểm khác nhau, cần phải cân nhắc điều kiện kinh tế, chính trị, pháp lý cụ thể của đất nước mình để lựa chọn mô hình tài phán hiến pháp phù hợp
Trang 28Chương 2
HIẾN PHÁP VÀ CƠ CHẾ NHÀ NƯỚC BẢO VỆ HIẾN PHÁP VIỆT NAM
2.1 Bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam
Vấn đề bảo vệ Hiến pháp(hay còn gọi là bảo hiến) từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng, nhưng kể từ khi định hướng xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đặt ra, chủ đề trên mới thực sự trở nên "nóng bỏng" và thu hút được sự chú ý của toàn xã hội Bởi trong nhà nước pháp quyền, Hiến pháp được đặt ở vị trí cao nhất, được xem như biểu tượng hay "vương miện của nhà nước pháp quyền"
Lý luận về nhà nước pháp quyền khẳng định Nhà nước pháp quyền sinh ra để bảo vệ các quyền tự do của công dân được quy định trong nội dung Hiến pháp Cụ thể hơn, bảo vệ Hiến pháp cũng chính là bảo vệ các quyền công dân
đã được Hiến pháp thừa nhận Từ đó nảy sinh nhu cầu cần thiết phải có một
cơ chế bảo hiển nhằm giữ cho các quy định của Hiến pháp được thực hiện và chấp hành ở mức cao nhất Nội dung bản báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX tại Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã một lần nữa đề cập đến vấn đề này khi đưa ra định hướng về việc:
"Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp" [8] Nhu cầu bảo vệ Hiến pháp chỉ xuất hiện
ở nước ta khi bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Hiến pháp năm 1946 ra đời Lúc này để đảm bảo cho Hiến pháp phát huy hiệu lực thực tế, bên cạnh việc sử dụng các công cụ mang tính quyền lực nhà nước để buộc các chủ thể phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Hiến pháp và pháp luật, còn cần thêm sự giám sát việc thực hiện
và tuân thủ Hiến pháp từ phía các cơ quan nhà nước và đoàn thể xã hội Hoạt động giám sát Hiến pháp của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp bắt đầu được
Trang 29thực hiện kể từ đó và xuyên suốt qua thời gian, song hành cùng các bản Hiến pháp nước ta qua các năm như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp
1992 sửa đổi năm 2001 Cùng với sự tiến dần từng bước đến mức hoàn thiện
về mặt nội dung và hình thức của các bản Hiến pháp nước ta, tổ chức của các
cơ quan thực hiện trọng trách bảo hiến và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước này ngày càng được nâng cao và từng bước được đổi mới để phù hợp với bối cảnh phát triển của đất nước, đáp ứng nhu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở nước ta
Trong số các bản Hiến pháp nước ta từ trước tới nay, Hiến pháp năm
1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nội dung hết sức ngắn gọn và súc tích Mặc dù kết cấu của Hiến pháp năm 1946 chỉ bao gồm có Lời nói đầu, 70 điều với 12 chương, nhưng giá trị và ý nghĩa của Hiến pháp năm 1946 vẫn được đánh giá đặc biệt quan trọng trong chiều dài lịch sử lập hiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phần quy định về cơ chế giám sát Hiến pháp của Hiến pháp 1946
có một số điểm khác với các Hiến pháp sau này Theo PGS.TS Trương Đắc Linh trong Hiến pháp 1946 không có quy định cụ thể về hoạt động kiểm tra, giám sát Hiến pháp mà chỉ có quy định về hoạt động kiểm tra, giám sát thông thường của các cơ quan công quyền Chính vì vậy, mức độ được bảo vệ cũng như hiệu lực thực tế của Hiến pháp 1946 vẫn còn nhiều hạn chế Cụ thể là, nội dung của Hiến pháp 1946 chứa đựng một số điểm bất cập lớn như Điều 31 Hiến pháp quy định về các đạo luật của Nghị viện, theo đó: ]
Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri Nhưng trong hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố [18]
Có nghĩa là, trong trường hợp những luật do Nghị viện đã thông qua,
dù trái với Hiến pháp và được Chủ tịch nước phát hiện, yêu cầu thảo luận lại,
Trang 30nhưng Nghị viện vẫn thông qua thì luật đó vẫn phải được ban hành cho dù có nội dung trái với các quy định của Hiến pháp Bên cạnh đó, hoạt động giám sát của Nghị viện đối với hoạt động lập quy của Chính phủ cũng không được quy định một cách cụ thể, chẳng hạn theo quy định tại Điều 36 Hiến pháp
1946 nếu các sắc luật do Chính phủ ban hành có nội dung trái với Hiến pháp, thì Nghị viện có quyền ưng chuẩn hoặc phế bỏ, nhưng căn cứ để Nghị viện phế bỏ sắc luật vi hiến đó thì lại không được xác định rõ Chính những quy định như trên đã phần nào hạn chế hoạt động kiểm tra, giám sát Hiến pháp của các cơ quan nhà nước như Nghị viện hoặc Chủ tịch nước, khiến cho hiệu quả hoạt động của các cơ chế nhà nước trong thời kỳ này không phát huy được Mặt khác, chính vì sự hạn chế trong hoạt động giám sát Hiến pháp nên nhìn chung có thể đánh giá vai trò của cơ chế nhà nước bảo vệ hiến pháp trong giai đoạn này bị hạn chế rất nhiều Một điều rất may mắn là khi đó, do điều kiện và hoàn cảnh đất nước, nên Hiến pháp năm 1946 chưa được ban hành, bởi vậy, mặc dù bị hạn chế về mặt hoạt động, nhưng các cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp cũng phần nào tránh được những trở ngại về mặt thẩm quyền hành động khi bắt tay xử lý các tranh chấp, vi phạm Hiến pháp
Sau Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 của nước ta ra đời, nhưng trong toàn bộ nội dung Hiến pháp 1959 vẫn không có một quy định nào trực tiếp xác nhận địa vị pháp lý tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật Tuy nhiên,
với quy định tại điều 43: "Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất"
trong khi Quốc hội lại là cơ quan ban hành Hiến pháp Đồng thời Hiến pháp
1959 lại trao cho Quốc hội quyền "giám sát việc thi hành Hiến pháp" [19]
Như vậy, Hiến pháp 1959 đã phần nào xác lập vị trí và hiệu lực pháp lý của Hiến pháp cao hơn so với các đạo luật và các văn bản pháp lý khác kể cả những văn bản cùng chủ thể có thẩm quyền ban hành với Hiến pháp Điều này đồng nghĩa với việc các văn bản như luật, nghị quyết hay các văn bản pháp lý khác do Quốc hội và các cơ quan nhà nước khác ban hành không được chứa đựng những quy định đi ngược lại tinh thần, nội dung của Hiến
Trang 31pháp Tuy nhiên, trong khuôn khổ các quy định của mình, Hiến pháp 1959 lại không đề cập tới thẩm quyền của Quốc hội trong việc xử lý các văn bản có nội dung vi hiến, trọng trách này được Hiến pháp 1959 trao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, theo đó, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền: "Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định,
nghị quyết, chỉ thị của Hội đồng Chính phủ trái với Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh và những nghị quyết không chính đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương" [19] Quy định này làm phát sinh một
vấn đề chưa thật hợp lý ở chỗ, quyền giám sát Hiến pháp nằm trong tay Quốc hội, nhưng Hiến pháp 1959 lại không trao cho Quốc hội thẩm quyền xử lý các văn bản pháp luật vi hiến, như vậy, thẩm quyền giám sát Hiến pháp của Quốc hội đã vô tình bị hạn chế Mặt khác, trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền xử lý các văn bản pháp luật có nội dung
vi phạm Hiến pháp, nhưng bản thân cơ quan này lại ban hành những văn bản pháp lý có nội dung trái với các quy định của Hiến pháp, thì sẽ chẳng có cơ quan nào có đủ thẩm quyền xử lý các văn bản này, thậm chí ngay cả Quốc hội- cơ quan quyền lực nhà nước tối cao cũng không có căn cứ pháp lý để trên
cơ sở đó thực hiện việc sửa đổi hoặc bãi bỏ các văn bản do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Đương nhiên, việc áp dụng các văn bản pháp lý có nội dung trái với Hiến pháp này trên thực tế vừa là hành vi vi phạm Hiến pháp lại vừa là cơ sở dẫn đến một loạt các hành vi vi phạm Hiến pháp công khai mà không hề bị xử lý bởi bất cứ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào
Cùng với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hiến pháp 1959 cũng trao quyền xử lý các văn bản có nội dung không hợp lý của các cơ quan nhà nước cấp dưới cho các cơ quan nhà nước khác như Hội đồng Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân, Ủy ban hành chính Cụ thể:
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 74 Hiến pháp 1959, Chương VI - Hội đồng Chính phủ, trong phạm vi thẩm quyền của mình, Hội đồng Chính phủ có
Trang 32quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ các quyết định không thích đáng của các cơ quan hành chính dưới quyền như các Bộ, các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và
Ủy ban hành chính các cấp Không chỉ thế, theo nội dung quy định tại Khoản 5 Điều 74 Hiến pháp 1959, Chương VI - Hội đồng Chính phủ, Hội đồng Chính phủ còn có quyền đình chỉ thi hành đối với các nghị quyết có nội dung không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy
Nội dung quy định của Điều 85 Hiến pháp 1959 cho phép Hội đồng nhân dân có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định của các cơ quan như
Ủy ban hành chính cùng cấp và Ủy ban hành chính cấp dưới trực tiếp khi những quyết định này chứa đựng những nội dung không thích đáng; quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp
Bên cạnh đó, Điều 90 Hiến pháp 1959 lại quy định cho Ủy ban hành chính các cấp có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định có nội dung không thích đáng của các ngành công tác thuộc quyền mình và của Ủy ban hành chính cấp dưới Không những thế, cũng theo quy định của Điều 90 Hiến pháp 1959, Ủy ban hành chính các cấp còn có quyền đình chỉ việc thực hiện các nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và
đề nghị Hội đồng nhân dân cùng cấp có biện pháp xử lý bằng cách sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết đó
Ở đây có thể ngầm hiểu, những văn bản có nội dung không thích đáng trên là những văn bản chứa đựng những nội dung trái với các quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp lý khác Như vậy, ở một mức độ nào đó, hoạt động giám sát bảo hiến mà cụ thể là giám sát tính hợp hiến của các văn bản pháp luật đã được Hiến pháp 1959 quy định và chú trọng đến mặc dù trên thực tế các quy định về hoạt động giám sát Hiến pháp của Hiến pháp 1959
Trang 33vẫn chưa thực sự hợp lý và chưa được toàn diện Chẳng hạn, Hiến pháp 1959
đã bỏ sót vai trò của Quốc hội trong việc xử lý các văn bản vi hiến do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, hay chưa đề cập đến hoạt động kiểm soát tính hợp hiến của các văn bản pháp lý như luật, pháp lệnh, nghị quyết ngay từ khi còn ở khâu dự án nhằm đảm bảo tính khả thi và hợp hiến của các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết này trước khi ban hành cũng như vai trò của các cơ quan nhà nước trong hoạt động thẩm tra tính hợp hiến của các văn bản pháp luật trước và sau khi ban hành
Về hoạt động kiểm soát sự tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, Hiến pháp
1959 trao cho Viện kiểm sát nhân dân thẩm quyền được kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân, nội dung cụ thể được quy định tại Điều 105 Hiến pháp 1959, Chương VIII- Tòa án nhân dân
và Viện kiểm sát nhân dân
Như vậy, so với Hiến pháp 1946, nội dung quy định của Hiến pháp
1959 đối với vấn đề giám sát Hiến pháp đã có phần chặt chẽ, rõ ràng hơn, song vẫn chưa đề cập một cách sâu sắc đến từng hoạt động, từng phương diện
cụ thể của giám sát Hiến pháp Bởi hầu hết các quy định của Hiến pháp 1959 liên quan đến vấn đề bảo vệ Hiến pháp mới chỉ dừng lại ở việc đề cập một cách khái quát đến hoạt động giám sát tính hợp hiến của các văn bản pháp luật và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân một cách chung chung, quyền giám sát Hiến pháp nằm trong tay Quốc hội, song chính những quy định khác của Hiến pháp 1959 lại hạn chế bớt quyền hạn này của Quốc hội, khiến Quốc hội khó có thể phát huy được thẩm quyền của mình trong hoạt động bảo hiến Đó cũng chính là tiền đề đưa đến những bất cập khác như: không có cơ quan nào trực tiếp đứng ra xử lý những văn bản vi hiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội, việc kiểm tra, giám sát tính hợp hiến trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước vì thế cũng gặp nhiều hạn chế, tạo
Trang 34nên kẽ hở cho những hành vi vi phạm Hiến pháp, nhất là khi Hiến pháp không trao quyền bảo vệ Hiến pháp cho bất kỳ một cơ quan chuyên trách nào
Kế thừa Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 được ban hành trong bối cảnh đất nước đã hoàn toàn thống nhất và tiến hành xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội, do đó so với hai bản Hiến pháp 1946 và Hiến pháp
1959, Hiến pháp 1980 có nhiều điểm khác biệt nổi bật Thông qua quy định tại Điều 146 Chương XII, Hiến pháp 1980 lần đầu tiên xác lập vị thế của Hiến
pháp trong hệ thống pháp luật nước ta khi khẳng định: "Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp
lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp" [20] Với
quy định trên, lần đầu tiên Hiến pháp chính thức ngự trị trên đỉnh cao của Hệ thống pháp luật Việt Nam, là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản, buộc các văn bản pháp luật khác phải được ban hành với nội dung phù hợp với các quy định của Hiến pháp Lúc này, hoạt động bảo hiến do các cơ quan nhà nước thực hiện đương nhiên cũng được Hiến pháp 1980 chú trọng hơn hẳn so với các bản Hiến pháp trước đây Trước hết là ở quy định liên quan đến hoạt động giải thích pháp luật, sự xuất hiện của thiết chế Hội đồng nhà nước là một điểm mới đánh dấu sự phát triển trong sự nghiệp bảo vệ Hiến pháp Nếu như trong Hiến pháp 1959 Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền giải thích pháp luật một cách chung chung, và chúng ta ngầm hiểu rằng trong đó bao gồm luôn cả vai trò giải thích Hiến pháp thì nay trong nội dung Khoản 5 Điều 100 Hiến pháp 1980 vai trò của Hội đồng nhà nước đối với vấn đề này đã được
quy định rõ ràng hơn, Hội đồng nhà nước có thẩm quyền và nhiệm vụ: "Giải
thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh" [20] trong đó vai trò giải thích Hiến pháp
được đặt lên hàng đầu
Hiến pháp 1980 cũng trao cho Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất - quyền được: "Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến
pháp và pháp luật" [20] Tuy nhiên, trên thực tế, thẩm quyền giám sát tối cao
đối với việc tuân thủ Hiến pháp của Quốc hội vẫn chỉ mang tính hình thức vì
Trang 35vai trò xử lý các văn bản vi hiến của các cơ quan nhà nước ở trung ương và giải thích Hiến pháp vẫn do cơ quan thường trực của Quốc hội - Hội đồng nhà nước - nắm giữ Theo quy định của Khoản 8 Điều 83 Hiến pháp 1980 thì Hội đồng nhà nước có quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết, nghị định, quyết định của Hội đồng bộ trưởng nếu những văn bản này chứa đựng những nội dung trái với nội dung quy định của Hiến pháp, luật
và pháp lệnh, đồng thời theo quy định của Khoản 10 Điều 83 Hiến pháp 1980 Hội đồng nhà nước còn có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết có nội dung "không thích đáng" của Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương Thậm chí Hội đồng nhà nước còn có quyền giải tán các Hội đồng nói trên trong trường hợp các Hội đồng này làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của nhân dân trong đó tất nhiên bao gồm cả quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ Những quy định trên của Hiến pháp 1980 nhằm đảm bảo cho quyền lợi của nhân dân nói chung, quyền công dân nói riêng không bị xâm hại, qua đó buộc các cơ quan nhà nước hoạt động đúng phạm vi thẩm quyền, không xâm hại đến quyền lợi của công dân và vi phạm các quy định của Hiến pháp Hay nói cách khác, những quy định trên đây đã phần nào kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo các cơ quan này không vi phạm Hiến pháp, góp phần bảo
vệ tính tối cao và bất khả xâm phạm của Hiến pháp Ngoài Hội đồng nhà nước, thẩm quyền xử lý các văn bản pháp luật khác có nội dung trái với Hiến pháp theo quy định của Hiến pháp 1980 còn được trao cho các cơ quan nhà nước khác như Hội đồng bộ trưởng, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân(các khoản 23, 24, 25 Điều 107; khoản 10 Điều 115; Điều 124 Hiến pháp 1980)
Đối với hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, Hiến pháp trao quyền cho các cơ quan như Hội đồng bộ trưởng, Hội đồng nhân dân, và Viện kiểm sát nhân dân, cụ thể như sau:
Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 1980 quy định Hội đồng bộ trưởng có
trách nhiệm "Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật" Trong khi đó,
Trang 36theo quy định của Khoản 1 Điều 115 Hiến pháp 1980 Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ và thẩm quyền bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng
và thi hành nghiêm chỉnh ở địa phương do mình quản lý Tương tự như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 cũng trao cho Viện kiểm sát nhân dân thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước như các bộ
và các cơ quan thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, đồng thời thực hiện quyền công tố, từ đó góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm mình và thống nhất, nội dung cụ thể được quy định tại Điều 138 Hiến pháp 1980
Mặc dù so với hai bản Hiến pháp trước đó, các quy định về bảo hiến của Hiến pháp 1980 đã có phần rõ ràng, chi tiết hơn nhưng Hiến pháp 1980 cũng chưa đưa ra được những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xử lý đối với những văn bản vi hiến và những hành vi vi phạm Hiến pháp của các cơ quan, tổ chức hay cá nhân Cùng với sự thiếu hụt các quy định cụ thể đối với vấn đề nêu trên là sự thiếu vắng một cơ quan chuyên trách để xử lý các văn bản có nội dung không phù hợp hoặc trái với Hiến pháp và những hành vi vi phạm Hiến pháp Bên cạnh đó, cũng giống như hai bản Hiến pháp trước đó, trong số các quy định của Hiến pháp 1980 liên quan đến hoạt động bảo vệ Hiến pháp vẫn còn nhiều quy định chỉ mang tính hình thức, chỉ có hiệu lực pháp lý mà thiếu đi hiệu lực thực tế, chẳng hạn quy định về vai trò Giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của Quốc hội Thực tế cho thấy, Quốc hội khó có thể trực tiếp thực hiện trọng trách này, bởi trong toàn bộ nội dung Hiến pháp không có bất cứ quy định nào cho phép Quốc hội trực tiếp thực hiện vai trò trên, mà thẩm quyền thực tế xử lý những vấn đề trong phạm vi hoạt động giám sát Hiến pháp và kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật lại
do cơ quan thường trực của Quốc hội và các cơ quan nhà nước khác nắm giữ
Gần đây nhất là Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, kèm theo đó là một loạt các luật
Trang 37về tổ chức bộ máy nhà nước và quy chế hoạt động của các cơ quan này được ban hành trên cơ sở các quy định của Hiến pháp đã quy định một cách khá đầy đủ về hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Theo đó, các cơ quan nhà nước được trao thẩm quyền đối với vấn đề này cụ thể như sau:
Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 quy định Quốc hội nắm giữ quyền giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết
do Quốc hội ban hành So với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 đã hiện thực hóa quyền giám sát tối cao của Quốc hội, theo quy định tại Khoản 9 Điều 84 Hiến pháp 1992 Quốc hội có quyền bãi bỏ đối với các văn bản pháp luật do Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành nếu các văn bản này có nội dung trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội Như vậy, bên cạnh quyền giám sát Hiến pháp, quyền xử lý các văn bản có nội dung vi hiến của Quốc hội đã được quy định một cách rõ ràng hơn, góp phần tăng thêm tính hiệu quả cho hoạt động giám sát Hiến pháp do Quốc hội thực hiện
Khoản 5 và 6 Điều 91 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 cho phép Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Khoản 2 Điều 112 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 quy định Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang và công dân Trong khi đó, theo quy định tại Khoản 4 và 5 Điều 115 Hiến pháp 1992, Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ các văn bản như quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, các thành
Trang 38viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu những văn bản này có nội dung trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ chúng
Căn cứ theo quy định tại Điều 116 Hiến pháp1992 sửa đổi năm 2001
Bộ trưởng, và các thành viên khác của chính phủ được quyền ban hành các quyết định, chỉ thị và thông tư kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực mình phụ trách
Nội dung quy định của Điều 120 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 cho phép Hội đồng nhân dân trên cơ sở nội dung Hiến pháp, luật, văn bản của
cơ quan Nhà nước cấp trên được quyền ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 124 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 thì Ủy ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyền
ra quyết định, chỉ thị đồng thời tiến hành kiểm tra việc thi hành những văn bản đó Cũng theo quy định tại Điều 124 Hiến pháp 1992 Chủ tịch Ủy ban nhân dân được quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân và các văn bản sai trái của Uỷ ban nhân dân cấp dưới; đình chỉ thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những nghị quyết đó
Việc kiểm sát các hoạt động tư pháp được trao cho Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm
Trang 392001 nhằm góp phần đảm bảo cho pháp luật nói chung và Hiến pháp nói riêng được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trên phạm vi toàn quốc
Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử lập hiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động bảo hiến đã có sự hoàn thiện dần từng bước song hành cùng với sự hoàn thiện của các bản Hiến pháp từ 1946 cho tới gần đây nhất là Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 Tuy nhiên, nếu xét một cách toàn diện, cơ chế giám sát và bảo vệ Hiến pháp của nước ta vẫn còn tồn tại không ít điểm bất cập khiến cho hoạt động bảo vệ Hiến pháp do các cơ quan nhà nước ta đảm nhiệm chưa đạt tới hiệu quả cao Nguyên nhân chủ yếu
là do các quy định của Hiến pháp nước ta trong một thời gian dài chỉ mang tính hình thức mà thiếu hẳn tính thực tế, góp phần làm giảm hiệu lực áp dụng của Hiến pháp từ đó gây khó khăn cho việc vận dụng các quy định của Hiến pháp của các cơ quan nhà nước trong đó có các cơ quan được trao nhiệm vụ bảo vệ, giám sát Hiến pháp Thêm vào đó, qua nghiên cứu các bản Hiến pháp
có thể nhận thấy trong thể chế nhà nước ta thiếu hẳn một cơ chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách, từ đó dẫn đến những hạn chế nhất định trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà Đảng và nhà nước
ta đang phấn đấu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Với những lý do trên, một lần nữa chúng ta phải nhìn nhận lại cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp nước ta, cần phải có sự đánh giá khách quan, toàn di᳇n trên cơ sở hiệu quả hoạt động của cơ chế nhà nước này, đồng thời tìm ra biện pháp khắc phục những nhược điểm đã hạn chế hoạt động bảo vệ Hiến pháp của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp nhằm đổi mới và mang lại hiệu quả cao hơn nữa cho hoạt động bảo vệ Hiến pháp nước ta
2.2 Cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp Việt Nam
2.2.1 Cơ chế nhà nước và cơ chế xã hội bảo vệ Hiến pháp
Nếu cho rằng ở nước ta chưa có cơ chế bảo hiến để phán quyết những
vi phạm, tranh chấp Hiến pháp thì có chỗ chưa thỏa đáng Hiện nay trong tổ
Trang 40chức bộ máy nhà nước ta có những cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp tạo thành hệ thống nhà nước bảo vệ Hiến pháp Như vậy, ở một mức độ nào đó, Hiến pháp đã được bảo vệ ở cấp độ nhà nước, các tranh chấp, vi phạm Hiến pháp quan trọng và phổ biến mà các thiết chế bảo hiến chuyên trách các nước vẫn giải quyết như: luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác, quyền lập hội, quyền bầu cử… đều được giải quyết trong hệ thống này Về cơ bản, khi xảy ra các tranh chấp, vi phạm liên quan đến nội dung các quy định của Hiến pháp, công dân có thể tìm đến các cơ quan nhà nước để yêu cầu giải quyết và trong nhiều trường hợp, các cá nhân,
tổ chức có thể tạm hài lòng với phương án xử lý do các cơ quan nhà nước này đưa ra, và bản thân các cơ quan này cũng tùy theo vai trò và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được Pháp luật quy định mà tham gia vào hoạt động bảo vệ Hiến pháp ở những mức độ được cho phép khác nhau Đánh giá khách quan, tính cho đến thời điểm hiện nay, chưa xảy ra sai sót gì lớn trong quá trình các cơ quan nhà nước ta giải quyết các tranh chấp, vụ việc, vi phạm liên quan đến việc tôn trọng, thực thi các quy định của Hiến pháp ở nước ta
Song song tồn tại cùng cơ chế bảo hiến mang tính chất nhà nước trên
là cơ chế bảo vệ Hiến pháp có tính chất xã hội với chủ thể thực hiện là các cơ quan, tổ chức Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội khác, công dân Tuy không mang tính quyền lực nhà nước khi tham gia vào hoạt động bảo vệ Hiến pháp, nhưng với tầm ảnh hưởng sâu rộng, các chủ thể này vẫn thực hiện khá tốt vai trò bảo hiến của mình Kết luận trên dựa trên cơ sở các hoạt động giải thích Hiến pháp, tham gia tổ chức thực hiện các quy định của Hiến pháp cũng như việc giáo dục ý thức các thành viên tổ chức mình và quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng trong xã hội, đồng thời tích cực tham gia vào việc góp ý, xây dựng pháp luật, giám sát việc thực thi Hiến pháp
do các chủ thể nêu trên thực hiện một cách đầy đủ và rộng rãi, khiến cho hoạt động bảo hiến thực sự được tuyên truyền đến người dân, cộng đồng và lan truyền ra toàn thể xã hội.Với những kết quả hoạt động như vậy, có thể đánh