ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ THỊ THANH XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ THANH
XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP
VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mạc Văn Tiến
Trang 2CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Đóng góp của đề tài 4
9 Kết cấu luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG DẠY NGHỀ VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.1.Đào tạo 5
1.1.2.Nghề 5
1.1.3.Đào tạo nghề 5
1.1.4.Việc làm 6
1.1.5 Liên kết 8
1.1.6 Liên kết đào tạo nghề 9
1.2.Đào tạo nghề và liên kết đào tạo nghề 10
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề 10
1.2.2.Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 12
1.2.3 Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác liên kết đào tạo nghề 14
1.2.4.Liên kết đào tạo nghề 21
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mối liên kết giữa Trường với các đơn vị sử dụng lao động 23
Trang 41.3.3 Cơ chế và lợi ích của các bên tham gia liên kết 24
1.3.4.Quy mô, chất lượng của các bên tham gia liên kết 24
1.4 Lợi ích của các bên tham gia liên kết 24
1.4.1 Lợi ích của Trường dạy nghề 24
1.4.2 Lợi ích của các đơn vị sử dụng lao động 25
1.5 Các hình thức và nội dung liên kết đào tạo nghề giữa Trường dạy nghề với các đơn vị sử dụng lao động 25
1.5.1 Các hình thức liên kết 25
1.5.2 Các nội dung liên kết 26
1.5.3.Quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa Trường với các đơn vị sử dụng lao động 28
1.6 Kinh nghiệm quốc tế về đào tạo nghề và liên kết đào tạo nghề giữa nhà trường với các đơn vị sử dụng lao động 29
1.6.1 Công tác dạy nghề ở cộng hòa liên bang Đức 30
1.6.2 Công tác dạy nghề ở Nhật Bản 31
1.6.3 Công tác dạy nghề ở Na Uy 32
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 35
2.1 Lược sử về sự hình thành và phát triển của Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp 35
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Trường 35
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ của Trường 38
2.1.3.Quy mô đào tạo và các chuyên ngành đào tạo 40
2.2 Thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động 43
2.2.1 Thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động từ năm 2008 đến nay 43 2.2.2 Kết quả hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng
Trang 5nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động 59
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH VÀ CÁC BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 70
3.1 Những bối cảnh, định hướng phát triển của đào tạo nghề trong thời gian tới 70
3.1 Những bối cảnh, định hướng phát triển của đào tạo nghề trong thời gian tới 70
3.1.2 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp phát triển đào tạo nghề đến năm 2020 71
3.1.3 Mục tiêu của Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp đến năm 2020 77
3.1.4 Định hướng phát triển hoạt động liên kết đào tạo nghề của Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp trong thời gian tới 80
3.2 Đề xuất mô hình liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động 82
3.2.1 Các nguyên tắc cần đảm bảo trong xây dựng mô hình 82
3.2.2.Đề xuất mô hình liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động 83
3.2.3 Kết quả thăm dò ý kiến về tính khả thi của mô hình đề xuất liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
2 Khuyến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều trường dạy nghề đang thực hiện đào tạo nghề với quy mô tương đối lớn và cơ cấu ngành nghề phong phú góp phần đáng kể thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Tuy nhiên, chất lượng đào tạo ở hầu hết các trường dạy nghề chưa cao Rất nhiều người sau khi đã tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này là do thiếu sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề Cung đào tạo do các trường dạy nghề đưa ra chủ yếu dựa trên khả năng của mình mà không tính tới đường cầu tương ứng từ các doanh nghiệp Điều này dẫn đến sự mất cân đối cung – cầu đào tạo cả về quy mô, cơ cấu và đặc biệt là chất lượng
Hiện nay, các doanh nghiệp thiếu trầm trọng nhân lực công nhân kỹ thuật và công nhân lành nghề Trong khi đó, số công nhân kỹ thuật ra trường không đáp ứng được công việc thực tế cho các doanh nghiệp ngay mà vẫn phải đào tạo lại Thậm chí có những nơi phải đào tạo lại từ đầu gây lãng phí tiền của cho xã hội Những thách thức đó đang đặt ra bức bách cần phải có giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để giải quyết
Thời gian qua, nước ta có một số công trình nghiên cứu, luận án và luận văn về quản lý và phát triển đào tạo nghề như: Nguyễn Cảnh Hồ và Đặng Bá Lãm, 1996 – Khái quát về nghiên cứu chiến lược chính sách phát triển giáo dục, số 1 – 1996; Đặng Bá Lãm 1998 – các quan điểm phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH ở nước ta, những vấn đề về phát triển giáo dục, Hà Nội; Trần Khánh Đức 2004 – Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM; Đặng Bá Lãm 2003 – Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI, chiến lược phát triển – NXB Giáo dục Hà Nội; Trụng
Trang 7tâm nghiên cứu Khoa học Dạy nghề, Thông tin thị trường lao động qua đào tạo nghề - Nhà xuất bản lao động – xã hội, 2005; Trường nghiên cứu Khoa học Dạy nghề, Dự án Giáo dục Kỹ thuật và Dạy nghề; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Xây dựng mô hình liên kết dạy nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp (CB 2004 – 02 – 03), 2004 và một số luận văn, luận án thạc sỹ, tiến sỹ về quản lý và phát triển đào tạo nghề
Trên cơ sở mục đích và các góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đều đặc biệt quan tâm đến bình diện quản lý giáo dục và đã có tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng quản lý giáo dục đào tạo nói chung, trong đó có quản lý ĐTN và quản lý hoạt động liên kết ĐTN nói riêng Tuy nhiên, để đi sâu nghiên cứu đặc điểm riêng trong đơn vị Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp, từ đó xây dựng mô hình liên kết đào tạo nghề giữa nhà trường với các đơn vị sử dụng lao động hiệu quả thì cho đến nay chưa có công trình nào
Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, bằng những kiến thức đã được đào tạo cơ bản tại lớp cao học quản lí giáo dục -
Trường đại học giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội, tôi chọn đề tài “Xây
dựng mô hình liên kết đào tạo nghề giữa Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động” làm nội dung nghiên
cứu cho luận văn tốt nghiệp khóa học
2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
- Hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản về liên kết đào tạo nghề giữa trường dạy nghề với các đơn vị sử dụng lao động
- Phân tích và đưa ra những đánh giá về thực trạng hoạt động liên
Trang 8giữa Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị
sử dụng lao động nói riêng
- Đề xuất mô hình và các biện pháp triển khai mô hình liên kết đào tạo nghề giữa trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về sự liên kết giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động 3.2 Đánh giá thực trạng hoạt động và quản lí hoạt động liên kết đào tạo nghề
gắn với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp
3.3 Đề xuất mô hình và các biện pháp quản lý, triển khai hoạt động liên kết
đào tạo giữa Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về sự liên kết trong đào tạo nghề giữa nhà trường với doanh nghiệp và xây dựng mô hình liên kết đào tạo nghề giữa Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận : Phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tế: Điều tra thực tế, khảo sát, thống kê
số liệu
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được mô hình liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động, sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường cao đẳng nghề Thương
Trang 9mại và Công nghiệp, đáp ứng nhu cầu cung ứng nguồn lao động qua đào tạo cho xã hội
Tổng quan hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản
lý hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động
9 Kết cấu luận văn
Ngoài mở đầu, kết kuận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về liên kết đào tạo nghề giữa trường dạy nghề với các đơn vị sử dụng lao động
Chương 2: Thực trạng liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động
Chương 3: Đề xuất mô hình và các biện pháp liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA
TRƯỜNG DẠY NGHỀ VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.Đào tạo
Theo nghĩa chung nhất: Đào tạo (training) là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định để đáp ứng yêu cầu của
Nghề được hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội, mỗi nghề
có những yêu cầu về kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành tương ứng, như vậy cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc thì đồng thời cũng xuất hiện những nghề mới
và yêu cầu về kiến thức lý thuyết cũng như kỹ năng thực hành cũng có sự thay đổi và phát triển nghĩa Mỗi nghề khác nhau thì có một mục tiêu đào tạo khác nhau, căn cứ mục tiêu đào tạo, Nhà Nước ban hành bản danh mục nghề
đào tạo
1.1.3.Đào tạo nghề
Có rất nhiều định nghĩa về đào tạo nghề, có thể nêu một số định nghĩa
cụ thể sau:
Trang 11- Theo Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận những công việc được đáp ứng với những người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động Đào tạo nghề được thực hiện tại nơi lao động, Trường đào tạo, các trường dạy nghề, các lớp không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cường cơ hội việc làm và cải thiện địa vị cho người lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế - xã hội
- Leconnard Nadler (1984): Đào tạo nghề là để học những điều nhằm cải thiện việc thực hiện những công việc hiện tại
- Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả những nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao
Khi tiếp cận dưới góc độ quản lý, các khái niệm trên đều là kinh điển, song chưa thật đầy đủ vì chưa đề cập đến nội dung quan trọng nhất, đó là việc đào tạo nhân lực gắn với việc làm Vì vậy có thể hiểu, đào tạo nghề là quá trình giáo dục, phát triển nhân cách, phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái
độ nghề nghiệp và khả năng tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm
Luật dạy nghề 2006 quy định: Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học Mục tiêu đào tạo nghề là trạng thái phát triển nhân cách được dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và được hiểu là chất lượng cần đạt tới đối với người học sau quá trình đào tạo
1.1.4.Việc làm
Theo quan điểm chung trên thế giới thì khái niệm việc làm chỉ được đề
Trang 12việc ) và một loại là việc làm không được trả công nhưng vẫn tạo ra thu nhập (giới chủ, những người làm kinh tế hộ gia đình )
Qua quá trình nghiên cứu phân tích tại hội nghị Quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động (ILO – 1993) đã đưa ra khái niệm việc làm như sau: Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm, có thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật Những người có việc làm là những người làm một công việc gì đó và được trả công, có lợi nhuận, được thanh toán bằng hiện vật, hoặc tham gia vào một hoạt động mang tính chất tự tạo ra việc làm vì lợi ích và thu nhập của bản thân hoặc gia đình mà không nhận tiền công hoặc hiện vật
Tùy theo luật pháp của từng quốc gia quy định về việc làm nêu trên có những sửa đổi, bổ xung cho phù hợp nhưng về cơ bản nó vẫn mang đầy đủ những nội dung mà ILO đã đưa ra
Theo điều 18 Luật lao động của Việt Nam: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm
Khái niệm này về cơ bản là không có sự khác biệt so với khái niệm về việc làm ILO đã đưa ra trong hội nghị Quốc tế lần thứ 13
Theo luật lao động, một hoạt động được coi là việc làm khi đáp ứng được 2 điều kiện sau:
Thứ nhất, đó là các hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm
Thứ hai, hoạt động đó phải mang lại thu nhập cho người lao động hoặc tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo thu nhập, hoăc tiết kiệm chi phí cho gia đình
Hoạt động tạo ra thu nhập có thể nhận diện được dưới các dạng: Người lao động làm việc để nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc bằng hiện vật từ người sử dụng lao động; tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ, tự tiến hành tổ chức
và tiến hành các hoạt động đó; hoặc đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người lao động thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình, do gia
Trang 13đình quản lý Như vậy một hoạt động được coi là việc làm hai không chủ yếu được dựa trên tính hợp pháp và tạo ta thu nhập của hoạt động đó
1.1.5 Liên kết
Theo đại từ điển Tiếng Việt – NXB Văn hóa – Thông tin 1998 (Nguyễn Như Ý chủ biên) thuật ngữ “liên kết” được định nghĩa là: “Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ nhằm mục đích nào đó” Khái niệm liên kết phản ánh các mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau giữa các thành phần trong một tổ chức hoặc giữa các tổ chức với nhau nhằm hướng đến một mục tiêu chung Tính hướng đích là tiêu điểm, là cơ sở và động lực của các mối liên kết giữa chúng Sự liên kết giữa các tổ chức theo một mục đích nào đó (lợi ích chung, giả thuyết một vấn đề chung ) tạo nên một sức mạnh mới, khả năng mới mà từ thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ không thể
có Tùy theo từng loại hình mà có các mối liên kết bên trong hoặc bên ngoài của một tổ chức (nhà trường, doanh nghiệp, trường đại học) trong bối cảnh và môi trường kinh tế nhất định Nói đến liên kết là nói đến các nội dung sau:
- Mục đích, mục tiêu liên kết: Phản ánh lợi ích, mong muốn chung và cụ thể của từng tổ chức thành phần tham gia liên kết như lợi ích kinh tế, lợi ích
xã hội, lợi ích môi trường phát triển
- Các thành phần, tổ chức liên kết: bao gồm các thành phần, tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân thuộc nhiều loại hình, tổ chức kinh tế - xã hội, giáo dục – đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước tham gia với nhũng vai trò vị trí nhát định trong liên kết
- Các hình thức liên kết: tùy theo mục đích và tính chất liên kết mà có thể theo hình thức thành lập các tổ chức liên doanh, thỏa huận phối hơp thực hiện các dự án nghiên cứu hay phát triển các sản phẩm dịch vụ Các hợp đồng kinh
Trang 14- Các nội dung liên kết: tùy thuộc vào mục đích, đối tượng và hình thức liên kết mà có các nội dung liên kết khác nhau bao gồm từ các nội dung các hoạt động liên kết: Đầu tư, hỗ trợ tài chính, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực, nghiên cứu KH & CN đến các hoạt động sản xuất – kinh doanh với vai trò, vị trí, trách nhiệm tham gia theo thỏa thuận của các bên tham gia liên kết
- Cơ chế liên kết: Là cách thức tổ chức, quản lý và các nguyên tắc vận hành các mối liên kết bảo đảm đạt được mục tiêu mong muốn và trách nhiệm, quyền, lợi ích của các bên tham gia liên kết Trên thực tế có thể phối hợp nhiều cơ chế khác nhau như cơ chế thị trường (Theo quy luật cung – cầu, giá trị, giá cả ) cơ chế đấu thầu, cơ chế xin – cho; cơ chế công ty mẹ - công ty con
- Sản phẩm liên kết: Là các sản phẩm được tạo ra của quá trình liên kết như các sản phẩm hàng hóa – dịch vụ; sản phẩm đào tạo (nhân lực KH & CN); sản phẩm nghiên cứu khoa học – công nghệ (vật liệu mới, thiết bị, quy trình công nghệ mới )
- Môi trường và các điều kiện liên kết: là tập hợp các nhân tố bên ngoài (môi trường chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa, các tổ chức khác ) và môi trường bên trong của mối liên kết giữa các đối tác (các quan hệ nội bộ, các điều kiện, đặc tính bên trong của từng đối tác )
1.1.6 Liên kết đào tạo nghề
Liên kết đào tạo nghề là quá trình các cơ sở đào tạo nghề (các Trường dậy nghề, các trường), các doanh nghiệp phối kết hợp lại với nhau tăng cường các nguồn lực cho quá trình đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
- Mục đích, mục tiêu liên kết đào tạo nghề: Huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của các cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp để đào tạo đa dạng các loại nghề, trình độ nghề giảm chi phí và nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 15nghề phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động xã hội và nhu cầu của doanh nghiệp
- Các thành phần, tổ chức liên kết đào tạo nghề: Bao gồm các cơ sở đào tạo nghề (các trường, Trường ), các doanh nghiệp
- Các hình thức liên kết đào tạo nghề: Liên kết đào tạo nghề chủ yếu theo hình thức thỏa thuận phối hợp thực hiện các hợp đồng kinh tế trong hợp tác nghiên cứu, đào tạo nghề
- Các nội dung liên kết đào tạo nghề: Các bên tham gia liên kết có trách nhiệm tham gia các thỏa thuận: Đào tạo nghề, đầu tư, hỗ trợ tài chính, tổ chức các hoạt động sản xuất – kinh doanh
- Cơ chế liên kết đào tạo nghề: Cách thức tổ chức, quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề theo cơ chế phối hợp thực hiện các cam kết theo hợp đồng kinh tế
- Sản phẩm liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm là nguồn nhân lực có tay nghề và có khả năng kiếm được việc làm
- Môi trường và các điều kiện liên kết dựa trên các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, năng lực đào tạo, năng lực quản lý, khả năng tài chính, cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề, các doanh nghiệp
1.2.Đào tạo nghề và liên kết đào tạo nghề
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã nêu rõ:”phát triển mạnh mẽ hệ giáo dục nghề nghiệp,tăng qui mô đào tạo cao đẳng nghề,trung cấp nghề cho các khu công nghiệp,các vùng kinh tế động lực và cho xuất khảu lao động.mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề,phát triển Trường dạy nghề quận,huyện Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ nghề tiên tiến của khu vực và cả thế giới.đẩy mạnh xã hội hoá,khuyến khích phát triển
Trang 16Việt Nam đặt mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm
2020 Điều đó đòi hỏi chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, trong đó có công tác dạy nghề cần được đặt lên hàng đầu để đáp ứng nhu cầu phát triển
Thực tế trong những năm qua, công tác dạy nghề đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Biểu hiện ở chỗ, số lượng trường, cơ sở dạy nghề không ngừng tăng lên; đội ngũ giáo viên dần được kiện toàn và nâng cao; việc tuyên truyền đã tác động tích cực đến suy nghĩ của người dân về việc học nghề
Theo số liệu từ Tổng cục Dạy nghề, riêng năm 2009, các cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh được hơn 1,7 triệu người, đạt 104% so với kế hoạch, tăng 11,2% so với thực hiện năm 2008 Trong đó, Cao đẳng nghề (CĐN) đạt 89.000 người, Trung cấp nghề (TCN) được hơn 198.000 người, sơ cấp nghề
và dạy nghề thường xuyên dưới 3 tháng tuyển sinh 1,42 triệu người
Thực hiện kiếm soát chất lượng dạy nghề, Tổng cục cũng đã cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề cho 114 trường, trong đó có 87 trường CĐN và 27 trường đại học, cao đẳng có tham gia dạy nghề Tổng số nghề được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động trình độ TCN và CĐN là
145 nghề, trong đó có 80 ngề trình độ cao đẳng, 113 nghề trình độ trung cấp
Trong năm 2009, công tác kiểm định chất lượng dạy nghề cũng đã được chú trọng khi số trường được kiểm định tăng lên con số 20 trường CĐN
và TCN
Tổng cục triển khai xây dựng 85 bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, trong đó 10 bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề trong lĩnh vực xây dựng Tổ chức biên soạn ngân hàng câu hỏi lý thuyết và bài thi thực hành đánh giá kỹ năng nghề quốc gia
Từ năm 2006 đến nay đã hoàn thành xây dựng 164 chương trình khung trình độ CĐN và TCN, trong đó 114 chương trình khung đã được ban hành,
50 chương trình khung đã được tổ chức thẩm định
Trang 17Hiện cả nước có 21.630 giáo viên tại trường CĐN, TCN và Trường dạy nghề So với năm 2008, con số này tăng hơn 1.400 giáo viên Riêng giáo viên trong các trường CĐN tăng 3.650
1.2.2.Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.2.2.1 Nguồn nhân lực
Trong lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực, theo nghĩa rộng được hiểu như: Nguồn lực con người của một Quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính
Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và có thể lượng hóa được, là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động Số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu của giới tính và sự phân bổ theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số Ở nước ta, số lượng lao động trong độ tuổi lao động được xác định bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam 16 – 60 tuổi, nữ 16 – 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc
1.2.2,2 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp độ khác nhau (quốc gia, vùng miền, địa phương ), đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ vậy mà phát triển được năng lực, tạo được công
ăn việc làm, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống, địa vị kinh tế, xã
Trang 18Phát triển nguồn nhân lực là những hoạt động nhằm hỗ trợ, giúp đỡ cho những thành viên, các bộ phận và toàn bộ tổ chức hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời làm cho tổ chức đáp ứng kịp thời những thay đổi về nhân sự, công việc và môi trường Quá trình phát triển nguồn nhân lực đối với một thành viên của tổ chức được tiến hành từ khi người đó bắt đầu làm việc cho tổ chức cho đến khi nghỉ Quá trình này bao gồm việc huấn luyện ban đầu giúp người
đó hội nhập vào tổ chức, bồi dưỡng tay nghề và kỹ năng trong suốt quá trình lao động của họ trong tổ chức
Phát triển nguồn nhân lực có thể được coi là một lĩnh vực của “quản lý nguồn nhân lực” Về vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược CNH, HĐH đất nước bao gồm đồng bộ cả 3 mặt chủ yếu: Giáo dục đào tạo con người, sử dụng con người, tạo môi trường việc làm và đãi ngộ thỏa đáng cho con người trong đó giáo dục và đào tạo được coi như là cơ sở để sử dụng con người có hiện quả cũng như để mở rộng và cải thiệ môi trường làm việc
Cơ cấu mới của nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH là định hướng cho sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệc cho sự phát triển của Giáo dục và Đào tạo nhằm đảm bảo các loại hình lao động cần thiết; đó là: Cơ cấu phân công lao động theo ngành, chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ
Trong phát triển nguồn nhân lực đặc biệt phải chú ý đến kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, chính sách phát triển nguồn nhân lực
Kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta phải nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lưc,
GD & ĐT có chất lượng các loại hình lao động cần thiết cho CNH, HĐH; sử dụng, phát huy tốt lao động được đào tạo và việc tạo môi trường lao động phong phú về việc làm, từ chủng loại (nghề nghiệp, cấp bậc trình độ kỹ năng ) đến số lượng công việc làm Chính sách này phải tạo điều kiện cho tất
Trang 19cả các thành phần kinh tế và xã hội cùng nhà nước phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích động viên từng cá nhân vươn lên những giá trị cao, mỗi người đều có cơ hội thăng tiến, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
1.2.3 Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác liên kết đào tạo nghề
1.2.3.1.Đặc điểm liên kết đào tạo nghề trong giải quyết việc làm
Liên kết đào tạo nghề cần được đề cập ở hai góc độ: một là liên kết giữa các cơ sở đào tạo nghề này với các cơ sở đào tạo nghề khác để đạo những nghề hoặc đào tạo ở trình độ nghề mà một cơ sở chưa đủ khả năng đào tạo; hai là, liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với các cơ quan, doanh nghiệp(trên thế giới đã phát triển nhiều hình thức hợp tác phong phú với các doanh nghiệp,bao gồm hợp tác đào tạo;hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ từ nhà trường sang doanh nghiệp, nhà trường cung cấp dịch vụ hỗ trợ sắp xếp việc làm; sự tham gia của doanh nghiệp vào các hội đồng ban cố vấn nhà trường)
Khi phân tích khái niệm đào tạo nghề ở phần trên cho thấy: bản thân khái niệm đào tạo nghề đã thể hiện rõ một đặc trưng là đào tạo nghề và giải quyết việc làm luôn có sự gắn kết với nhau
Hoạt động liên kết đào tạo gắn với giải quyết việc làm có đặc điểm nổi bật là mục tiêu đào tạo nghề ở đây không chỉ ở chỗ tạo ra lực lượng lao động
có nghề mà còn gắn chặt với vấn đề việc làm cho người lao động sau khi học nghề , đó chính là hướng đi mới có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường
về lao động có tay nghề cao,góp phần tăng tình hiệu quả của thị trường lao động,rút ngắn khoảng cách cung-cầu lao động, giữa đào tạo và sử dụng
Sự gắn kết giữa đào tạo nhân lực với thị trường lao động nói chung và
hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm nói riêng thể hiện tính kinh tế trong đào tạo Trong chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo ở
Trang 20cấu hệ thống; nâng cao chất lượng đào tạo nghề; đào tạo gắn với nhu cầu thị trường
Vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu thị trường và hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm là một vấn đề phức tạp gồm nhiều khía cạnh khác nhau Trong thực tế, khi đầu tư vào phát triển con người, nhà nước đã tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục – đào tạo, kích thích tính năng động, sáng tạo, đồng thời giữ cho hệ thống giáo dục luôn mở và ổn định Bằng cơ chế phân bổ nguồn lực và ban hành các chính sách nguồn lực, nhà nước khuyến khích các cơ sở đào tạo gắn bó chặt chẽ với thị trường lao động Sự gắn kết phải đảm bảo sự tương thích cung và cầu lao động trong phạm vi quốc gia nói chung và ở các vùng, miền, lĩnh vực, ngành kinh tế xã hội, tránh dư thừa hoặc thiếu hụt lao động chuyên môn kỹ thuật so với nhu cầu, dẫn tới phá vỡ mục tiêu phát triển chung tính toán được nhu cầu lao động chuyên môn kỹ thuật nhằm thích ứng với mục tiêu tăng trưởng sản xuất thay khối lượng dịch vụ với trình độ công nghệ đã lựa chọn
để lập kế hoạch đào tạo cung cấp nhân lực cho các địa chỉ sử dụng thực trạng lệch pha giữa đào tạo và sử dụng đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc đối với
xã hội Vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu thị trường lao động là một vấn đề phức tạp bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau Hệ thống giáo dục đào tạo, với nhiều nhân tố và thành phần như hệ thống chính sách,
cơ cấu hệ thống nhà trường, mục tiêu, nội dung đào tạo tương tự vậy, bản thân thị trường lao động ở nước ta cũng là một hệ thống bao hàm nhiều cấp
độ khác nhau: Thị trường lao động toàn quốc, thị trường lao động các vùng, các khu vực, các địa phương, các ngành kinh tế kỹ thuật Về trình độ nhân lực
có thể có các thị trường lao động chất xám, thị trường lao động có kỹ năng, thị trường lao động phổ thông Thị trường lao động nước ta đã hình thành và đang trong quá trình phát triển với nhiều biến động trong thời kỳ chuyển đổi Nhiều nhân tố thị trường đã xuất hiện như nhân tố cạnh tranh giữa những
Trang 21người tìm việc làm trong các kỳ tuyển lao động của các công ty – xí nghiệp,
cơ quan nhà nước; sự chi phối về mức sống và giá cả sức lao động ở các ngành kinh tế, khu vực địa phương khác nhau trong bối cảnh vai trò can thiệp của nhà nước bằng hệ thống chính sách, pháp luật chưa đầy đủ, tạo ra những “nhiễu” trong thị trường lao động vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn Đặc biệt, cho đến nay chúng ta chưa hình thành được hệ thống thông tin
về thị trường lao động một cách đầy đủ và đồng bộ, được cập nhật theo thời gian, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá các đặc trưng và biến động của thị trường lao động để phục vụ cho công tác kế hoạch hóa đào tạo cho từng cơ
sở đào tạo, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực của thị trường Thông qua việc phân tích đánh giá những chuyển đổi về mục tiêu – nội dung đào tạo; phương pháp và tổ chức quản lý đào tạo; mối quan hệ giữa nhà trường và cơ sở sản xuất Việc nghiên cứu tình hình việc làm của học sinh tốt nghiệp là một vấn đề quan trọng, đào tạo cơ sở đánh giá mức độ thích ứng của
cơ sở đào tạo với thị trường lao động và làm căn cứ để có những điều chỉnh,
bổ xung cần thiết cho các hoạt động đào tạo của cơ sở giáo dục Trong thị trường lao động Việt Nam có hai vấn đề hết sức quan trọng mà nhiều công trình nghiên cứu Nhiều tài liệu và cả chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đã chỉ rõ, đó là:
- Cung lao động quá lớn và nhiều khi không đáp ứng đủ hết cầu của người lao động về việc làm;
- Thiếu lao động kỹ thuật, mất cân đối về cơ cấu lao động theo trình độ được đào tạo, ngành nghề được đào tạo
Hai vấn đề trên đã dẫn đến một hệ quả là một bên không có chỗ để làm việc và một bên có rất nhiều chỗ làm việc cần người nhưng lại không tìm được người phù hợp
Trang 22tạo mà còn có sự tham gia của các doanh nghiệp (người sử dụng lao động) Công tác đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp nhằm tạo ra những “sản phẩm” – người lao động có trình độ, kỹ năng nghề phù hợp với công nghệ của doanh nghiệp, yêu cầu của người sử dụng lao động trên cơ sở các cơ chế, chính sách và định hướng chung của Nhà nước là một hướng đi tích cực để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện nay
Hoạt động đào tạo nghề gắn với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp sẽ tạo ra sự chủ động hơn cho các cơ sở ĐTN trong việc cung ứng lao động có tay nghề cho thị trường lao động Chất lượng lao động qua đào tạo được nâng cao, sự gắn kết giữa cơ sở đào tạo nghề và cơ sở sử dụng lao động chặt chẽ hơn Phương thức đào tạo này cũng làm tiết kiệm thời gian
và việc tạo nhiều cơ hội việc hơn cho người lao động, làm cho người lao động yên tâm và chủ động hơn trong quá trình học tập Đồng thời giúp cơ sở sản xuất chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn nhân lực và nâng cao trách nhiệm của họ đối với quá trình đào tạo của cơ sở đào tạo Khác hẳn với công tác dạy nghề thông thường, vấn đề liên kết đào tạo nghề với các đơn vị sử dụng lao động thể hiện yêu cầu cao về sự gắn kết giữa đào tạo nghề với thị trường lao động Nó bắt đầu từ việc khảo sát nhu cầu của thị trường lao động
để xây dựng kế hoạch đào tạo, hướng nghiệp cho người học, tổ chức quá trình đào tạo giúp người tốt nghiệp và người sử dụng lao động gặp nhau
1.2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề, trong đó có thể nêu một số yếu tố cơ bản sau:
* Nhận thức xã hội về đào tạo nghề:
Nhận thức xã hội về đào tạo nghề có tác động mạnh mẽ đến công tác đào tạo nghề, ảnh hưởng rõ rệt nhất là tới số lượng học sinh đầu vào của các
sơ sở doanh nghiệp Nếu mọi người trong xã hội đánh giá đúng đắn tầm quan trọng của việc học nghề thì trước hết lượng lao động tham gia đào tạo nghề sẽ
Trang 23chiếm một tỉ lệ lớn hơn so với toàn bộ lao động trên thị trường và sẽ có cơ cấu trẻ hơn, đa dạng hơn Hơn nữa nếu xã hội nhận thức được rằng giỏi nghề là một phẩm chất quý giá của người lao động, là cơ sở vững chắc để có việc làm
và thu nhập ổn định thì công tac đào tạo nghề sẽ nhận được thêm nhiều nguồn lực hỗ trợ cần thiết của xã hội để phát triển mạnh hơn
Luật dạy nghề đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2007 Luật ra đời tạo nhiều cơ hội cho người lao động tìm được việc làm và thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động dạy nghề Tuy nhiên, cho đến nay, sự nhận thức của số đông người dân về lĩnh vực hoạt động dạy nghề còn chưa đầy đủ Tâm lý của phụ huynh, học sinh muốn học Đại học, cao đẳng chuyên nghiệp Nếu phải học trung cấp thì chọn trung cấp chuyên nghiệp vì có thể liên thông học Cao đẳng, đại học dễ dàng hơn bởi trong năm học 2009-2010, Bộ lao động Thương binh và Xã hội chưa có văn bản chính thức quy định cho HS học TCN được học liên thông lên CĐ, ĐH Hơn nữa, tâm lý phụ huynh và học sinh thường muốn con làm thầy hơn là làm thợ Theo ý kiến nhiều phụ huynh học sinh khi cán bộ tuyển sinh của Trường tiếp cận thì mặc dù học cao đẳng nhưng vẫn là cao đẳng nghề, tức là vẫn chỉ làm công nhân nên tâm lý người dân chưa sẵn sàng chấp nhận Trong khi đó, có những học sinh thi đại học chỉ được 4-5 điểm nhưng vẫn có rất nhiều giấy báo gọi nhập học của các trường đại học dân lập Như vậy, sự lựa chọn của các thí sinh đương nhiên sẽ chọn học đại học dân lập hơn là học nghề Bên cạnh đó, chính sách cho HS học nghề chưa rõ ràng so với HS, sinh viên các bậc học khác; chưa có bậc thang lương cụ thể cho người lao động tốt nghiệp các trường TCN, CĐN nên họ không mặn mà; kinh phí đào tạo nghề và chế độ đãi ngộ cho người học chưa tương xứng…Vì vậy, việc làm chuyển biến nhận thức của từng gia đình và
Trang 24Đội ngũ giảng viên nói chung và giảng viên dạy nghề nói riêng là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục đồng thời giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục Điều 14 Luật
Giáo dục khẳng định:"Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục" Người giảng viên không chỉ có nhiệm vụ truyền thụ
kiến thức đơn thuần mà còn có nhiệm vụ dạy cho người học cách học, cách thu nhận và xử lý các kiến thức, các tình huống trong thực tiễn đời sống đa dạng Trên cơ sở đó, chức năng của người giảng viên là tổ chức và điều khiển các hoạt động giáo dục và dạy học, để hướng tới mục đích hình thành nhân cách con người đáp ứng yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử Nói cách khác, người giảng viên trong nền giáo dục hiện đại không chỉ được coi là người truyền thụ những kiến thức được coi
là chính thống có sẵn mà phải là người đề xướng, thiết kế nội dung và phương pháp dạy nhằm làm thay đổi thị hiếu, hứng thú người học, là người giúp cho người học biết cách học cách tự rèn luyện
Những thay đổi này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên, đặc biệt phải coi trọng hơn việc bồi dưỡng thường xuyên cho giảng viên với nhiều hình thức đa dạng và có hệ thống tri thức, kỹ năng cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của họ Khuyến cáo 21 điểm của UNESCO
cũng chỉ rõ: "thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức" (điểm 18) và đặc biệt
là " các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học mới nhất" (điểm 16)
Có thể nói, trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình phát triển giáo dục nói riêng và xã hội nói chung, vai trò, vị trí của người thầy giáo luôn luôn được coi trọng Những thay đổi trong nhiệm vụ và chức năng của người thầy giáo trong quá trình giáo dục và dạy học của nhà trường hiện đại không làm giảm vai trò, vị trí của người giảng viên trong xã hội mà trái
Trang 25ngược lại nó càng nâng cao và khẳng định vai trò và vị trí của họ trong tiến trình phát triển xã hội
Như vậy, khái quát lại người thầy giáo trong nền giáo dục hiện đại có 7 vai trò hết sức cơ bản, đó là: Nhà giáo là người phát triển cộng đồng, người điều tra nghiên cứu, người thúc đẩy học tập, người triển khai các chương trình giảng dạy, người học, người đánh giá và người giới thiệu công nghệ
* Chương trình đào tạo, nguồn học liệu, tài liệu giảng dạy
Là quản lý việc xây dựng nội dung đào tạo, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý quá trình đào tạo thực tế của giáo viên
và học sinh sao cho kế hoạch, nội dung, chương trình giảng dạy được thực hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian, quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Khi xác định nội dung đào tạo cho một nghề cụ thể phải lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đề ra, phát huy được tài nguyên, tiềm năng mà con người đang có cần khai thác, phù hợp với phương hướng và chính sách phát triển KTXH của quốc gia, của địa phương, phản ánh và tiếp thu được tiến bộ khoa học kỹ thuật Để thích ứng với nền kinh tế thị trường, nội dung chương trình đào tạo cần xây dựng theo hướng đào tạo CNKT có diện nghề rộng, kiến thức hiện đại, sáng tạo và linh hoạt trong công việc sản xuất và kinh doanh, dịch vụ
* Cơ sở vật chất
Trong hệ thống giáo dục, nhất là dạy nghề, phương tiện dạy học, máy móc thiết bị và cơ sở vật chất, nguồn tài chính là điều kiện quan trọng góp phần quyết định chất lượng dạy học Việc đảm bảo cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo nghề nhằm:
Trang 26- Đảm bảo đầy đủ nguồn tài chính cho việc xây dựng cơ sở vật chất và các hoạt động khác phục vụ cho quá trình dạy học
- Đảm bảo lớp học, xưởng thực hành, phòng thí nghiệm, thư viện, đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập
- Cung cấp đầy đủ giáo trình tài liệu giảng dạy và học tập
1.2.4.Liên kết đào tạo nghề
1.2.4.1.Mô hình liên kết đào tạo nghề
Hoạt động liên kết đào tạo nghề có nhiều mô hình cụ thể khác nhau như
cơ sở đạo tạo nghề liên kết với các cơ quan quản lí lao động, Trường giới thiệu việc làm , song có thể khái quat mô hình chung nhất như sau:
Trang 27Hình 1.1: Mô hình liên kết đào tạo nghề
Trường(cơ sở đào tạo nghề)
Trung tâm giới thiệu việc làm
Doanh nghiệp Cơ quan quản lý lao động
1.2.4.2.Yêu cầu của liên kết đào tạo nghề
Để có được sự thành công từ mô hình đào tạo thực nghiệm (liên kết đào tạo nghề với các đơn vị sử dụng lao động) đòi hỏi các trường nghề phải có các giải pháp đồng bộ:
Thứ nhất, mô hình này đòi hỏi cơ sở đào tạo phải trang bị hệ thống phòng học thực hành theo đúng tiêu chuẩn thực tế
Thứ hai, phương pháp giảng dạy phải có sự kết hợp cùng lúc giữa lý thuyết và thực hành
Thứ ba, xây dựng bộ phận hướng nghiệp, tư vấn học viên lựa chọn nghề đúng khả năng, sở thích và phù hợp nhu cầu thực tế tại các doanh nghiệp Điều này giảm thiểu rủi ro không có việc làm cho học viên
Trang 28Thứ tư, sự kết hợp với doanh nghiệp mang lại tính thực tiễn và chất lượng cao cho đào tạo Nhờ vậy tạo niềm tin và sự yêu thích cho sinh viên theo học
Thứ năm, cuối cùng mô hình đào tạo thực nghiệm giúp tiết kiệm cả 3 chi phí: học phí của học viên khi học đúng ngành nghề xã hội đang cần; tiết kiệm chi phí doanh nghiệp khi nhà tuyển dụng không phải đào tạo lại và tiết kiệm thời gian đào tạo cũng như kinh phí của nhà trường
Việc áp dụng mô hình thực nghiệm mặc dù không mới ở nhiều quốc gia nhưng tại Hải Dương, điều này đã phần nào mở ra một loại hình liên kết chặt chẽ giữa các trường dạy nghề và các doanh nghiệp sử dụng lao động nhằm đáp ứng đúng và đủ nhu cầu của các doanh nghiệp trong tình hình hiện nay
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mối liên kết giữa Trường với các đơn vị sử dụng lao động
1.3.1 Mức độ phát triển của nền kinh tế
Nền kinh tế càng phát triển, mức độ cạnh tranh càng cao thì các doanh nghiệp càng cần có tỷ lệ cao về lao động qua đào tạo, có nhiều lao động với tay nghề cao và thích ứng được với sự đổi mới thiết bị, công nghệ… nên càng cần đến các Trường dạy nghề để có sự định hướng chọn những nhân tố phù hợp nhất ngay từ khi học nghề, cũng như để đào tạo những người lao động có thể tạo nên năng suất, chất lượng cao nhất Nền kinh tế phát triển buộc các trường nghề phải liên kết với các đơn vị sử dụng lao động càng chặt chẽ hơn,
vì nếu không, sản phẩm dịch vụ của trường đào tạo không thể thích ứng được với tốc độ nhanh về đổi mới thiết bị, công nghệ… hơn nữa chính mức độ phát triển kinh tế, mức độ hội nhập của nền kinh tế cũng dẫn đến yêu cầu cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo nói chung và trường nghề nói riêng
1.3.2.Nhận thức và năng lực của người quản lý
Mối liên kết giữa Trường với các đơn vị sử dụng lao động phụ thuộc vào mức độ nhận thức và năng lực của người quản lý nhà trường cũng như
Trang 29quản lý các đơn vị sử dụng lao động Có nhận thức sâu sắc về triết lý của mối liên kết thì mới xây dựng được một cách khoa học cơ chế, chiến lược, kế hoạch hành động thiết thực trong việc liên kết song phương giữa 1 trường với
1 đơn vị sử dụng lao động hoặc đa phương giữa nhiều trường với nhiều đơn vị
sử dụng lao động trên cơ sở đặc thù và thế mạnh của mỗi đối tác tham gia vào mối liên kết
1.3.3 Cơ chế và lợi ích của các bên tham gia liên kết
Cơ chế chung của nền kinh tế (tập trung, hay thị trường), cơ chế quản
lý đơn vị sự nghiệp có thu của nhà nước, cơ chế phối hợp giữa các bên tham gia liên kết có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả của việc liên kết Lợi ích hợp pháp và hài hòa trên cơ sở phương châm “đôi bên cùng có lợi” là động lực thúc đẩy và cũng là đảm bảo cho mối liên kết có tính bền vững
1.3.4.Quy mô, chất lượng của các bên tham gia liên kết
Quy mô, chất lượng đào tạo của trường càng lớn thì càng có nhiều doanh nghiệp đặt vấn đề liên kết Và ngược lại, chính các doanh nghiệp có quy mô lớn, trình độ công nghệ cao, tiềm lực kinh tế lớn sẽ thu hút và tạo sự bền vững cho mối liên kết với cơ sở đào tạo nghề nói chung và Trường dạy nghề nói riêng
1.4 Lợi ích của các bên tham gia liên kết
1.4.1 Lợi ích của Trường dạy nghề
Liên kết với các doanh nghiệp, trường dạy nghề nâng cao được về Chất lượng dạy nghề phổ thông, hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, chất lượng dạy nghề chuyên sâu cho các đối tượng khác nhờ có sự điều chỉnh chương trình phù hợp, thực hành trong thực tiễn sản xụất kinh doanh được nhiều hơn Công tác kiểm định chất lượng được chính xác và khách quan hơn nhờ sự tham gia của các chuyên gia trong hội đồng chấm thi…và đặc biệt, giáo viên
Trang 30Ngoài ra, việc liên kết tạo nên sự năng động, linh hoạt cho cán bộ quản
lý trường nghề, đồng thời cũng tăng thêm thu nhập tài chính cho trường nhờ hiệu quả đào tạo cao (đào tạo theo địa chỉ) và nhiều dịch vụ gia tăng khác
1.4.2 Lợi ích của các đơn vị sử dụng lao động
Liên kết với các trường dạy nghề trước hết tạo nên sự đảm bảo phát triển bền vững vì có nhiều học sinh, sinh viên có năng lực phù hợp sẽ định hướng học nghề thuộc lĩnh vực doanh nghiệp và sau này ra trường là thành viên tích cực của đoanh nghiệp Nhiều vấn đề nảy sinh trong sản xuất kinh doanh sẽ có được sự tư vấn của những người thầy giáo giỏi, tâm huyết nên sẽ vững vàng hơn trong sản xuất kinh doanh Việc chuyển đổi nghề, đào tạo lại cho người lao động sẽ gặp thuận lợi và có thể tranh thủ được các nguồn kinh phí chính phủ về lĩnh vực dạy nghề Cuối cùng là lợi nhận tài chính DN sẽ được nâng cao hơn
1.5 Các hình thức và nội dung liên kết đào tạo nghề giữa Trường dạy nghề với các đơn vị sử dụng lao động
1.5.1 Các hình thức liên kết
Có 3 hình thức liên kết đào tạo:
Thứ nhất, trường nghề và doanh nghiệp phối hợp cùng tuyển sinh và đào tạo, sau khi tốt nghiệp sinh viên trở về làm việc tại doanh nghiệp Với hình thức này, 100% học viên được giải quyết việc làm sau tốt nghiệp
Thứ hai, doanh nghiệp đặt hàng cơ sở đào tạo, theo phương thức này, doanh nghiệp ủy thác toàn bộ việc đào tạo cho cơ sở đào tạo dựa trên các tiêu chuẩn nghề mà hai bên đã thỏa thuận Khâu giải quyết việc làm do doanh nghiệp cam kết thực hiện
Thứ ba, nhà trường chủ động nghiên cứu và dự báo nhu cầu lao động tại địa phương và các doanh nghiệp, thiết kế khung chương trình, giáo trình dựa trên ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp có nhu cầu Theo khảo sát, phương thức này giúp 90% học viên có việc làm sau tốt nghiệp
Trang 311.5.2 Các nội dung liên kết
1.5.2.1.Hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông, dạy nghề chuyên sâu, bồi dưỡng, đào tạo lại và tuyển dụng lao động
Trường tham gia tư vấn cho DN về hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực ngắn hạn và dài hạn Đồng thời, DN tham gia
tư vấn cho trường dạy nghề hoạch định chiến lược đào tạo, xây dựng kế hoạch phát triển Trường Doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo, trong đó chú trọng chương trình dạy thực hành
Trường lập kế hoạch tham quan thực tế ở doanh nghiệp, thực hành kỹ thuật và thực tập sản xuất cho học sinh phổ thông, học viên học nghề của Trường DN tiếp nhận, tạo điều kiện cơ sở vật chất và tham gia hướng dẫn học sinh học nghề của Trường đến tham quan, thực tập, thực hành
Trường tiếp nhận lao động của doanh nghiệp để đào tạo mới, tư vấn hướng nghiệp để chuyển đổi nghề và đào tạo lại theo hợp đồng liên kết đào tạo DN đặt hàng về yêu cầu tay nghề, yêu cầu định hướng nghề và thời gian hoàn thành việc đào tạo cho từng trường hợp cụ thể Tận dụng máy móc thiết
bị, cơ sở vật chất của doanh nghiệp phục vụ quá trình đào tạo cho người lao động
Trường bồi dưỡng ngắn hạn và cập nhật kiến thức, kỹ năng mới cho cán
bộ, người lao động của doanh nghiệp DN tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên trường dạy nghề đến tham quan, thực tập để không ngừng cập nhật kiến thức, công nghệ mới, phục vụ cho việc nâng cao chất lượng đào tạo
Trường cử giáo viên giỏi tham gia các hội đồng của doanh nghiệp để chấm thi nâng bậc, giám khảo các hội thi kỹ thuật do DN tổ chức DN cử chuyên gia tham gia các hội đồng thi thực hành cho học sinh, sinh viên học nghề
Trang 32để điều chỉnh, đổi mới chương trình, phương pháp dạy-học Đồng thời, DN cũng phải phản hồi cho trường dạy nghề thông tin về kỹ năng tay nghề, thái
độ lao động và tác phong công nghiệp của học sinh, sinh viên khi lao động, thực tập tại doanh nghiệp
1.5.2.2 Liên kết nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới và các dịch vụ khác
Trường lập đề cương nghiên cứu, tính toán chi phí cho việc nghiên cứu trưng cầu ý kiến chuyên gia của doanh nghiệp về đề cương, kinh phí, tổ chức lực lượng giáo viên, nhà khoa học tham gia nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ DN đặt hàng công trình khoa học, chuyển giao công nghệ xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất kinh doanh Tham gia các hội đồng tư vấn việc lập đề cương, kế hoạch kinh phí, tổ chức thực nghiệm, kiểm tra đánh giá nghiệm thu…
Trường ký kết hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; giải ngân và thanh quyết toán theo đúng chế độ tài chính hiện hành DN ký kết hợp đồng, cho ứng kinh phí và thanh, quyết toán kinh phí nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Phản hồi về tính hiệu quả của công trình để đặt hàng những công trình tiếp theo
Trường phối hợp với doanh nghiệp tổ chức hội thảo về xu hướng công nghệ mới, hoặc hội nghị tập huấn về nghiệp vụ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới DN tham gia hội thảo, hội nghị tập huấn với trường dạy nghề, tạo nên phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong tập thể cán bộ, người lao động để làm tiền đề cho việc phát hiện vấn đề, nảy sinh các công trình khoa học, công nghệ mới…
Trường tăng cường công tác tuyên truyền để tuyển sinh người lao động học nghề định hướng nhằm xuất khẩu lao động DN hợp đồng với các đối tác nước ngoài trong việc trao đổi lao động, xuất khẩu lao động
Trường hỗ trợ về chương trình, chuyên môn và liên kết với doanh nghiệp mở cơ sở đào tạo nghề theo cơ chế xã hội hóa DN đầu tư tài chính, máy móc thiết bị và liên kết với trường dạy nghề mở xưởng sản xuất trực thuộc trường dạy nghề theo quy chế đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính
Trang 33Trường tổ chức gian hàng giới thiệu năng lực đào tạo trong Hội chợ việc làm, đưa học sinh học nghề phổ thông đến các gian hàng doanh nghiệp
để giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh DN phối hợp tổ chức gian hàng giới thiệu năng lực sản xuất kinh doanh, thiết bị, công nghệ mới, góp phần trong việc định hướng nghề nghiệp, kích thích tìm tòi nghiên cứu khoa học của giáo viên và học sinh
1.5.3.Quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa Trường với các đơn vị
sử dụng lao động
Nội dung quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề với các đơn vị sử dụng lao động là quản lý các yếu tố của quá trình đào tạo nghề Các yếu tố của quá trình đào tạo nghề bao gồm:
- Xác định mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo nghề
- Xây dựng các điều kiện cần thiết khả thi: Đội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật, cơ sở vật chất, trường, xưởng, nguồn tài chính, môi trường sư phạm
- Xác định quy mô phát triển số lượng, chất lượng của từng ngành nghề đào tạo
- Tổ chức chỉ đạo hoạt động dạy và học của thày và trò
- Hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý
- Phát triển cơ chế cộng đồng, phối hợp trong và ngoài
- Tổ chức đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề
Quá trình quản lý đào tạo nghề được mô hình hóa qua sơ đồ như sau:
Trang 34- Đối tượng tuyển sinh
Giáo viên, học sinh
- Kiến thức
- Kỹ năng
- Thái độ
- Thói quen nghề nghiệp
- Tình hình việc làm sau tốt nghiệp
- Năng suất lao động
- Khả năng thu nhập
- phát triển nghề nghiệp
Đánh giá/ lựa chọn
Phát triển chương trình Lựa chọn phương pháp đào tạo/ đánh giá quá trình
- Kiểm tra/ đánh giá
Hình 2: Sơ đồ hóa quá trình quản lý đào tạo nghề
(Nguồn: Trần Khánh Đức, Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực
(tr 129), nhà xuất bản giáo dục)
Các thành phần trên có quan hệ chặt chẽ với nhau và hình thành các thong tin ngược để đảm bảo đầu vào và hoàn thiện quá trình đào tạo Quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề với các đơn vị sử dụng lao phải quản lý ngay
từ khâu đầu vào của quá trình đào tạo, quản lý quá trình đào tạo để đảm bảo kết quả đào tạo thích ứng với thị trường lao động (người lao động sau khi đào tạo có khả năng kiếm được việc làm)
1.6 Kinh nghiệm quốc tế về đào tạo nghề và liên kết đào tạo nghề giữa nhà trường với các đơn vị sử dụng lao động
Đào tạo nghề đóng vai trò quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế Đào tạo nghề và liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm rất
đa dạng và ở từng quốc gia khác nhau có những cách thức khác nhau, nhưng
Trang 35chúng ta có thể học tập và áp dụng một cách có chọn lọc kinh nghiệm của một
số nước trên thế giới như sau:
1.6.1 Công tác dạy nghề ở cộng hòa liên bang Đức
Đức là đất nước có nền công nghiệp phát triển và có thu nhập quốc dân cao so với các nước phát triển trên thế giới Tổng dân số Đức tính đến năm
1998 cũng tương tự nước ta, khoảng 80 triệu người, trong đó có trên 30 triệu người trong độ tuổi lao động, chỉ có 5% không qua đào tạo Có được kết quả như vậy do hệ thống giáo dục mà trong đó cơ sở dạy nghề ở Đức được chính phủ quan tâm và phát triển mạnh Luật pháp quy định trách nhiệm và quyền lợi rõ rang trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề đối với người học và người sử dụng lao động, phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục đào tạo nghề theo hướng thực hiện đa dạng hóa loại hình đào tạo và loại nghề đào tạo (có tới 400 nghề) Loại hình đào tạo theo hệ thống đào tạo song hành có vai trò lớn trong việc cung cấp lao động có tay nghề cao cho thị trường lao động, đó
là quá trình đào tạo nghề có sự kết hợp chặt chẽ giữa dạy lý thuyết ở trường dạy nghề và thực hành ở các doanh nghiệp Các doanh nghiệp Đức luôn xác định trách nhiệm và đóng vai trò to lớn trong đào tạo thực hành tay nghề cho người học nghề, sau khi học xong lý thuyết, học sinh học nghề được đào tạo thực hành ngay tại xưởng sản xuất dưới sự hướng dẫn của các giáo viên thực hành và học sinh được tiếp cận ngay máy móc, thiết bị công nghệ mới Trong thời gian thực tập tay nghề tại doanh nghiệp, nếu có sản xuất sang sản phẩm thì người học sẽ được hưởng một khoản tiền lương căn cứ trên số sản phẩm
mà người học đã tham gia
Hàng năm có 65% học sinh trong độ tuổi được tuyển sinh vào các trường dạy nghề (trong đó 50% từ trung học cơ sở, 35% từ trung học chuyên ban, 15% từ phổ thông trung học)
Trang 36Nguồn kinh phí cho giáo dục đào tạo nghề được xác định rất rõ trong các khoản thuế thu nhập từ doanh nghiệp sử dụng lao động qua đào tạo, các gia đình có người đi học nghề…
Thời gian đào tạo tại trường kéo dài từ 2, 3, 5 năm, chủ yếu là theo chế
độ thời gian không đầy đủ Trên quan điểm chú trọng thực hành, nên thời gian dành cho lý thuyết, thực hành theo tỉ lệ 1:4
Đối với giáo viên dạy nghề yêu cầu phải tốt nghiệp đại học Giáo viên dạy nghề sau khi tốt nghiệp đại học ít nhất là 4 năm, phải qua làm việc thực tế tại xưởng 6 tháng và có thời gian thực tế tại trường, nơi sẽ tham gia giảng dạy
là 5 tuần Hai tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với giáo viên dạy nghề là phải có trình độ lý thuyết và kinh nghiệm cao mới có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo nghề của nền công nghiệp và tiến bộ kỹ thuật mới
Người học nghề có quyền lựa chọn nơi học tập, họ ký hợp đồng học tập với trường nơi họ đăng ký học Kết thúc khóa học người học nghề phải qua kỳ sát hạch cuối cùng của một hội đồng, trong đó những thành viên của hội đồng là những người có chuyên môn cao làm việc tại hội đồng, các cơ sở dạy nghề và đại diện cho giới sử dụng lao động Chứng chỉ nghề được cấp theo quyết định của hội đồng Nhờ áp dụng những chính sách khuyến khích như vậy nên ngay
từ những năm 1971, 62% những người đang làm việc đều đã qua đào tạo nghề
và được cấp chứng chỉ hành nghề, trong số đó có tới 14% đạt trình độ tay nghề cao tương đương với với trình độ kỹ sư tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng
kỹ thuật chuyên nghiệp
1.6.2 Công tác dạy nghề ở Nhật Bản
Mô hình đào tạo tại công ty là mô hình đào tạo chủ yếu ở Nhật Bản Phần lớn thanh niên Nhật Bản sau khi tốt nghiệp phổ thông tham gia vào thị trường lao động, được công ty thuê và tham gia vào quá trình đào tạo nghề do công ty sử dụng tổ chức Chương trình học kiến thức thực hành nghề nghiệp được thực hiện chủ yếu thông qua các chỉ dẫn không chính thức trong quá
Trang 37trình làm việc, các cuốn cẩm nang tự học và các khóa tương ứng Phương thức thực hiện đào tạo kiến thức thực hành nghề là các buổi thảo luận kỹ thuật, thảo luận chất lượng, chuyển đổi vị trí và tự học Điều quan trọng để thực hiện phương thức đào tạo này là giáo dục phổ thông phải tốt và học sinh TNTHPT phải có khả năng tự học và tự học vững
1.6.3 Công tác dạy nghề ở Na Uy
Mô hình đào tạo
Mô hình chung của đào tạo nghề ở Na Uy là “2+2”, nghĩa là 2 năm học đại cương và 2 năm học nghề tại nhà máy hoặc DN Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đã thiết lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt và uyển chuyển như “mô hình 1+ 3” (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề), “mô hình 0+ 4” (cả 4 năm đều học nghề) v.v…
Các cơ sở dạy nghề ở Na Uy có được sự liên kết chặt chẽ đối với các đối tượng liên quan Đặc biệt là có sự hợp tác ba bên chặt chẽ của Tổ chức giới chủ, Công đoàn và đại diện cơ quan giáo dục từ cấp quốc gia, đến cấp tỉnh và địa phương Các đối tác liên quan đặc biệt ủng hộ với độ tin cậy cao
về chất lượng đào tạo của mô hình dạy nghề này Thêm vào đó, trong tình hình thị trường lao động tương đối khan hiếm hiện nay, các chủ DN rất quan tâm đến việc thực tập sinh
Trái với Na Uy, thị trường lao động Việt Nam đang bị các DN “thả nổi” Các DN và các TTDN ở Việt Nam chưa thực sự bắt tay hợp tác với nhau nên mới có tình trạng thợ đào tạo ra không đáp ứng nhu cầu của DN, thị trường lao động Việt Nam ở trong tình trạng “thừa mà thiếu” DN luôn “than” khó tuyển dụng lao động có kĩ năng và chuyên môn nghề nghiệp và ngược lại, người lao động cũng luôn trong tình trạng phải “nhảy việc” thường xuyên do
Trang 38Về tính liên kết giữa các bên liên quan trong công tác đào tạo và dạy nghề, rõ ràng các DN Việt Nam cần phải học hỏi nhiều từ các mô hình đào tạo nghề của Na Uy
Nguyên tắc đào tạo
Ở Na Uy, những người lựa chọn con đường học nghề sẽ kí hợp đồng với một công ty mà công ty này phải được cơ quan có thẩm quyền công nhận là DN đào tạo Trong khoảng thời gian 2 năm thực hành về một ngành nghề cụ thể, DN cần phải bảo đảm nguyên tắc: Năm 1 các công nhân lành nghề sẽ hướng dẫn về
kĩ thuật Năm 2 giảm bớt hướng dẫn, tăng việc tự học Học viên sẽ được hưởng lương học việc trong cả 2 năm học Sau khi kết thúc học việc, học viên sẽ được trao chứng chỉ và bắt đầu có thể tìm kiếm việc làm Các mô hình đào tạo nghề khác cũng hoạt động dựa trên nguyên tắc của mô hình “2+2”
Về nội dung chương trình dạy nghề sẽ do Các tổ chức 3 bên cấp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng giáo trình dạy nghề và tổ chức đào tạo nghề Nội dung đào tạo được soạn thảo dựa trên nguyên tắc: Xây dựng kiến thức cơ bản
về đọc, viết, làm toán, khoa học, ngoại ngữ và các kĩ năng thực tiễn
Các tổ chức ba bên cấp khu vực – Ban đào tạo- chịu trách nhiệm xác định quy mô đào tạo nghề, kinh phí của chính phủ cấp cho đào tạo nghề, cung cấp dịch vụ đào tạo nghề, giám sát và tổ chức các cuộc thi cấp chứng chỉ đào tạo nghề v.v… hầu hết các nội dung của chương trình đào tạo nghề đều dựa trên triết lý của Cựu Thủ tướng Na Uy – Gro Harlem Brundtland: “Mục tiêu chung của tất cả hệ thống giáo dục đào tạo nghề là phải cung cấp được kiến thức đồng bộ giữa lý thuyết và thực hành để người học có thể ứng dụng những kinh nghiệm thực tế vào cuộc sống”
Theo đánh giá của tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống đào tạo nghề của Na Uy khá toàn diện và ít khiếm khuyết khi kết hợp quá trình đào tạo nghề với chương trình giáo dục phổ thông Sự kết hợp này đã tạo điều kiện để những
Trang 39người thợ có thể học lên cao hơn khi họ muốn để có một tương lai sự nghiệp vững vàng hơn
Từ kinh nghiệm trên của các nước, ta thấy trình độ của nguồn lao động
tỷ lệ thuận với trình độ phát triển kinh tế và ngược lại Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam muốn theo kịp trình độ phát triển kinh tế thế giới thì phải nhanh chóng nâng cao trình độ của người lao động Nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ về lâu dài không còn là lợi thế cạnh tranh để phát triển Lợi thế so sánh đang chuyển từ yếu tố tài nguyên, nguồn vốn, giá nhân công rẻ sang nguồn nhân lực có chất lượng cao Chất xám trở thành nguồn vốn lớn và quý giá, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng và ổn định của mỗi quốc gia Việt Nam muốn theo kịp sự phát triển chung của kinh tế thế giới thì phải đòn đầu khoa học công nghệ hiện đại nhưng nước ta lại thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ và quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và nhất là công nhân kỹ thuật, do đó khó có thể tiếp thu, càng khó có thể khai thác có hiệu quả nên làm giảm hiệu suất của vốn đầu tư Chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo nguồn nhân lực quý giá hoặc phải chịu tụt hậu so với các nước khác
Tiểu kết chương 1
Chương 1 luận văn phân tích làm rõ các khái niệm cơ bản có tính chất
là công cụ nghiên cứu sát với nội dung của đề tài, đồng thời luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đào tạo nghề, liên kết đào tạo nghề, quản lý liên kết đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và những kinh nghiệm về đào tạo nghề và liên kết đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp, đây là cơ sở để chương 2, chương 3 tác giả có thể phân tích đánh giá đúng thực trạng và đề xuất mô hình liên kết đào tạo nghề giữa Trường cao
đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP
VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
2.1 Lược sử về sự hình thành và phát triển của Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trường
+ Tên trường: Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp (tên giao dịch quốc tế: Industrial and Commercial Vocational College )
+ Địa điểm: Thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương +.Điện thoại: (0320) 3786.471; Fax (0320) 3785.925; Website: http/www.civcedu.vn
+ Quá trình thành lập: Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp tiền thân là Trường Công nhân Kỹ thuật vật tư thuộc Bộ Vật tư thành lập ngày 24/3/1973 qua các thời kỳ sáp nhập các Bộ, ngày 03/01/1997 Trường được đổi tên thành Trường Đào tạo nghề Thương mại; ngày 03/8/2007 được đổi tên thành Trường Trung cấp nghề Thương mại
Qua quá trình xây dựng và trưởng thành ngày 21/02/2008 trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng Nghề Thương mại và Công nghiệp - Bộ Công Thương ( Theo Quyết định thành lập trường số 250/QĐ-BLĐTBXH ngày 21/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Quyết định số 2596/QĐ-BCT, ngày 02/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Trường )
Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà trường gồm có:
- Ban Giám Hiệu: 01 Hiệu trưởng và 02 Phó Hiệu trưởng
- Các hội đồng tư vấn và các Ban chỉ đạo, Ban kiểm tra được thành lập theo quyết định của Hiệu trưởng
- Các khoa trong trường gồm 06 Khoa:
1 Khoa Xăng Dầu
2 Khoa Điện - Điện tử