1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên - Huế

124 405 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, trong quá trình tổ chức THADS đối với các vụ việc có liên quan đến Phật giáo vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, chưa thật sự đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp

Trang 1

HỒ THỊ THU HẰNG

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT GIÁO

QUA THỰC TIỄN TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

Chuyên ngành: Luật Dân sự

Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình

Trang 2

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

HỒ THỊ THU HẰNG

Trang 3

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Bảng chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 5

6 Tính mới và đóng góp của việc nghiên cứu đề tài 5

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO VÀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT GIÁO 7

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM 7

1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam 7

1.1.2 Chính sách của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo 15

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT GIÁO 21

1.2.1 Đặc điểm Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo 21

1.2.2 Các yêu cầu trong thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo 26

Chương 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT GIÁO Ở THỪA THIÊN - HUẾ 31

2.1 THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở THỪA THIÊN - HUẾ 31

2.1.1 Các yếu tố tự nhiên - xã hội có ảnh hưởng đến công tác thi hành án dân sự ở Thừa Thiên - Huế 31

Trang 4

2.2 THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN

PHẬT GIÁO Ở THỪA THIÊN - HUẾ 42

2.2.1 Thực trạng Phật giáo ở Thừa Thiên - Huế 42

2.2.2 Đặc điểm thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo ở Thừa Thiên - Huế 48

2.2.3 Hoạt động thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo ở Thừa Thiên - Huế 54

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ RÚT RA TỪ THỰC TIỄN TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT GIÁO Ở THỪA THIÊN - HUẾ 89

3.1 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 89

3.1.1 Về hoàn thiện các quy định thủ tục thi hành án 89

3.1.2 Về hoàn thiện các quy định cưỡng chế thi hành án dân sự 95

3.1.3 Về hoàn thiện các chế tài để xử lý nghiêm minh đối với Tăng, Ni, Phật tử vi phạm pháp luật 101

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 102

3.2.1 Về tổ chức cán bộ 102

3.2.2 Về tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan và tổ chức 107

3.2.3 Về tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật 109

KẾT LUẬN 113

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 5

CQTHADS : Cơ quan thi hành án dân sự

GHPGVN : Giáo hội phật giáo Việt Nam

GHPGVNTN : Giáo hội phật giáo Việt Nam Thống nhất HĐND : Hội đồng nhân dân

LTHADS : Luật Thi hành án dân sự năm 2008

MTTQ : Mặt trận Tổ quốc

QĐTHA : Quyết định thi hành án

THADS : Thi hành án dân sự

TAND : Tòa án nhân dân

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Công tác thi hành án (THA) nói chung và thi hành án dân sự (THADS) nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động Nhà nước và đời sống

xã hội Về phương diện nhà nước, THA là một trong những phương thức thực hiện quyền lực nhà nước về tư pháp, giữ nghiêm kỷ cương phép nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước Đối với đời sống xã hội, THA góp phần bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và mọi công dân, tạo ra niềm tin vững chắc của quần chúng nhân dân đối với pháp luật của Nhà nước và bảo đảm trật tự trị an xã hội

Khi nói đến công tác THADS, hầu hết mọi người đều có một quan điểm chung, đây là một công tác hết sức khó khăn và phức tạp Chính điều này đã làm cho hiệu quả THADS thường đạt kết quả thấp Bên cạnh đó, khối lượng công việc đồ sộ và tính phức tạp của nó ngày càng tăng đã dẫn đến số

vụ việc tồn đọng chưa giải quyết ở các cơ quan thi hành án ngày một tăng làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật và ảnh hưởng đến tình hình chính trị tại địa phương Vì vậy, vấn đề này không những thường xuyên được quan tâm đề cập tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp

mà cũng được quan tâm ngay cả tại các kỳ họp của Quốc hội Các cấp có thẩm quyền cần phải khẩn trương hoàn thiện cơ chế pháp luật về THADS, kiện toàn tổ chức bộ máy để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) trong cả nước nói chung và tỉnh Thừa Thiên - Huế nói riêng là vấn đề cấp thiết nhất trong giai đoạn hiện nay

Cho đến nay, hệ thống các CQTHADS đã được thành lập trên 63 tỉnh, thành và đã điều hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, nét đặc thù riêng của hoạt động THADS là nó có sự phụ thuộc rất lớn vào điều kiện

Trang 7

phát triển, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của từng địa phương cụ thể Chúng ta biết rằng, khả năng thi hành pháp luật trên thực tế phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, trình độ học vấn, sự nhận thức cũng như ý thức chấp hành pháp luật của người dân, sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan hữu quan…Từ những vấn đề đó, trong quá trình tổ chức THADS, CQTHADS

có thể cá thể hóa việc áp dụng pháp luật cho từng đối tượng cụ thể Tất nhiên khi áp dụng các chế tài dân sự thường dẫn đến những hậu quả phức tạp, xáo trộn về hoạt động trong đời sống xã hội, vì thế công tác THADS phải có sự gắn kết với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương Hơn thế nữa tỉnh Thừa Thiên - Huế là một trong những địa bàn được xem là vùng trọng điểm tôn giáo của cả nước Ở đây, có các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo Tính riêng Phật giáo, theo số liệu thống kê, tín đồ theo đạo Phật lớn nhất trong dân cư, chiếm 60% dân số toàn tỉnh (quy y và không quy y) Hiện nay, cán bộ làm công tác THADS vẫn chưa tìm hiểu kỹ hệ thống tổ chức của Phật giáo và thật sự chưa nhận thức được tầm ảnh hưởng của giáo hội mà đứng đầu

là Ban trị sự giáo hội phật giáo tỉnh đến các tăng ni, phật tử đối với công tác THADS Do đó, trong quá trình tổ chức THADS đối với các vụ việc có liên quan đến Phật giáo vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, chưa thật sự đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật và hiệu quả công tác THADS chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và sự quan tâm, mong mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân

Để góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, nhất là công tác thi hành án dân sự liên quan đến

Phật giáo, tác giả chọn đề tài: “Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo

qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên - Huế” để làm Luận văn Thạc sỹ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thi hành án dân sự là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp Vì vậy,

Trang 8

thời gian qua đã có một số công trình và bài viết trên các tạp chí về THADS,

như: Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi

hành án”, mã số 96-98-207/ĐT do Cục quản lý thi hành án dân sự Bộ Tư

pháp chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Những cơ sở lý

luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại”, mã số 95-98-114/ĐT do Viện

nghiên cứu khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí

Minh chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: “Luận cứ

khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Viện nghiên cứu khoa học pháp lí thuộc

Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện năm 2003; và công trình nghiên cứu khác, như:

Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Công Long (2000): “Các biện pháp

cưỡng chế thi hành án dân sự Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”; Luận

văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thanh Thủy (2001): “Hoàn thiện pháp luật

về thi hành án dân sự”; Luận văn thạc sĩ luật học của Trần thị Bích Thủy:

“Đổi mới tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự thực tiễn tại thành phố

Hồ Chí Minh”; Luận văn thạc sĩ luật học của Cù Hoàng Hanh (2008): “Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế”; Luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ Thị Lý (2010): “Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình”; Hoàng Thọ Khiêm (2006): “Đổi mới tổ chức cơ quan thi hành án”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội; Đề tài

khoa học cấp cơ sở: “Triển khai áp dụng Luật thi hành án dân sự trong công

tác đào tạo nghiệp vụ thi hành án” do TS Lê Thu Hà, trưởng khoa đào đạo

Chấp hành viên và các chức danh tư pháp khác làm chủ nhiệm; “Những

vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự”, của Nguyễn Thị

Khanh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 05/2010; “Công tác cán bộ thi hành

án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn” của Đinh Duy Bằng, Tạp chí Dân chủ

và pháp luật, số 09/2010; “Vướng mắc trong hoạt động thi hành án dân sự”

Trang 9

của Ngọc Biên, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 09/2011; “Một số khó khăn

sau hai năm áp dụng Luật Thi hành án dân sự” của Lạc Phong, Tạp chí Dân

chủ và pháp luật, số 02/2012; “Nguyên nhân của tình trạng án dân sự tồn

đọng” của Hoàng Thế Anh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, 06/2012; Giáo

trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình kỹ năng thi hành án dân sự của Học viện tư pháp và một số bài viết trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Tin thi hành án dân sự,…Đây là những công trình nghiên cứu công phu, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ đề cập đến các vấn đề mang tính chung trên phạm vi cả nước còn vấn đề về thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo từ thực tiễn ở một địa phương cụ thể thì chưa được nghiên cứu và đề cập đến Thế nhưng, đây vẫn là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện việc nghiên cứu đề tài luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận

về THADS cũng như thực trạng của công tác THADS nói chung và công tác THADS liên quan đến Phật giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên

- Huế, từ đó tìm ra nguyên nhân và những giải pháp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan THADS trong giai đoạn hiện nay

Để thực hiện được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận về THADS như khái niệm, ý nghĩa và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của CQTHADS ở Việt Nam; khảo sát thực trạng của công tác THADS ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, phát hiện những vấn đề tồn tại, vướng mắc, tìm ra nguyên nhân và đề xuất được

Trang 10

những giải pháp cơ bản cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THADS nói chung và công tác THADS liên quan đến Phật giáo nói riêng ở tỉnh Thừa Thiên - Huế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng của việc nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản về THADS, các quy định pháp luật Việt Nam về THADS và thực tiễn tổ chức THADS của các CQTHADS tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế

Tổ chức và hoạt động THADS là lĩnh vực rộng, phức tạp có liên quan đến nhiều vấn đề của đời sống xã hội Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung vào những vấn đề lý luận cơ bản về THADS, các vấn đề liên quan đến quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Phật giáo, các quy định của pháp luật THADS hiện hành và thực tiễn thực hiện chúng ở tỉnh Thừa Thiên - Huế Trong đó, tập trung nghiên cứu những vấn đề THADS có liên quan đến Phật giáo

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp

Các phương pháp được sử dụng nghiên cứu đề tài bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp thực tiễn Trong đó, phương pháp thực tiễn là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài nhằm qua thực tiễn làm rõ những vấn đề

về THADS liên quan đến Phật giáo

6 Tính mới và đóng góp của việc nghiên cứu đề tài

Đây là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đầu tiên về THADS liên quan đến Phật giáo Việc nghiên cứu đã đưa ra và luận giải được một số quan

Trang 11

điểm về THADS nói chung và THADS liên quan đến Phật giáo nói riêng; những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đặt

ra đối với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của CQTHADS Qua đó, việc nghiên cứu bổ sung, làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về THADS

Trên cơ sở lý luận soi rọi vào thực tiễn THADS, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp nói chung và THADS nói riêng, việc nghiên cứu đã đưa ra được một số giải pháp chủ yếu về hoàn thiện

và thực hiện pháp luật THADS, đổi mới tổ chức và hoạt động THADS nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của luận văn gồm có 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề về Phật giáo và thi hành án dân sự liên quan

đến Phật giáo

Chương 2: Thực trạng thi hành án dân sự ở Thừa Thiên - Huế và thi

hành án dân sự liên quan đến Phật giáo ở Thừa Thiên - Huế

Chương 3: Một số kiến nghị rút ra từ thực tiễn tổ chức thi hành án dân

sự liên quan đến Phật giáo ở Thừa Thiên - Huế

Trang 12

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO VÀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT GIÁO

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM

1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam

Phật giáo là một tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng đầu Công nguyên Truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã hoà nhập thích nghi và kết hợp với đời sống tâm linh, văn hoá của người dân Việt Nam nên có những đặc điểm riêng biệt làm cho Phật giáo ở Việt Nam trở nên linh hoạt, phong phú Phật giáo Việt Nam trở thành một tôn giáo gắn bó giữa đạo với đời, thể hiện tinh thần nhập thế; có truyền thống yêu nước, gắn bó, cùng đồng hành với dân tộc trong những giai đoạn thăng trầm của đất nước; góp phần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Văn hoá, đạo đức Phật giáo thấm đẫm trong tâm tưởng phần lớn con người Việt Nam, đã góp phần tạo dựng nên nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc

Lật lại những trang sử của dân tộc, chúng ta biết rằng dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đạo Phật chỉ được xem là một hội đoàn (Đạo dụ số 10 của Cựu Hoàng Bảo Đại ký vào ngày 6/8/1950 trên một chiếc tàu của thực dân Pháp cắm neo tại vịnh Hạ Long) [2, tr.487] Do vậy, hoạt động và quy mô tổ chức của Phật giáo thời bấy giờ rất lỏng lẻo, thiếu sự thống nhất, đòi hỏi cần phải có một tổ chức Phật giáo ra đời để tập hợp lực lượng Tăng Ni, Tín đồ Tình hình đó diễn tiến qua những phong trào chấn hưng Phật giáo của các bậc cao tăng thạc đức có uy tín từ những thập niên 30, 40 của thế kỷ trước Tuy vậy, vấn đề truyền bá chánh pháp, xây dựng tổ chức Giáo hội, tập hợp quần chúng tín đồ của Phật giáo chỉ thực sự lớn mạnh sau khi 06 tập đoàn lớn của

Trang 13

Phật giáo 3 miền Bắc - Trung - Nam (03 tập đoàn tăng già và 03 tập đoàn cư sỹ) cử đại biểu về họp tại Chùa Từ Đàm - Huế để bàn việc thống nhất Phật giáo Sau 4 ngày họp, từ ngày 06-09/5/1951, Hội nghị đã đồng thanh quyết nghị thành lập “Tổng hội Phật giáo Việt Nam” Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (Huế) được suy tôn làm Hội chủ [ 46, tr.14].

Năm 1954, sau Hiệp định Geneve được ký kết, đất nước bị chia đôi Miền Nam sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ - Ngụy Cùng chung số phận của đất nước, tổ chức Phật giáo của hai miền cũng khác nhau Tổng hội Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ thuộc ở miền Nam trên danh nghĩa tuy còn 06 tập đoàn nhưng thực chất đã bị sứt mẻ rất nhiều vì chỉ còn hoạt động từ vĩ tuyến

17 trở vào Tại miền Bắc vào những năm 1960, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam đã được thành lập để tập hợp Tăng Ni, Phật tử, trụ sở đóng tại Chùa Quán Sứ ở Hà Nội do Hòa thượng Thích Trí Độ làm hội trưởng

Ở miền Nam, dưới chế độ gia đình trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm

đã thực thi chính sách kì thị tôn giáo, dựa hẳn vào Công giáo và ra tay đàn áp, chèn ép các tôn giáo khác, nhất là Phật giáo Chính sách kì thị tôn giáo của Ngô Đình Diệm thể hiện ở việc thực thi Đạo dụ số 10 của Bảo Đại ngày 6/8/1950 Đạo dụ này ưu đãi Công giáo và cho phép kiềm chế các tôn giáo khác: “Quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất năm 1950 nhưng Đạo dụ số 10 do ông ký vẫn được chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành, bởi vì Đạo dụ này không ràng buộc Công giáo vào thể chế hiệp hội và cho phép kiềm chế các tôn giáo khác” [34, tr.17] Lễ Phật đản năm 1963, Ngô Đình Diệm đã trấn áp Phật giáo Huế bằng các phương tiện xe tăng, lựu đạn, hàng rào thép gai… Trước pháp nạn đó, Phật giáo Huế cùng Tăng Ni, tín đồ Phật giáo cả nước không chịu khuất phục mà anh dũng đấu tranh với chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, bảo vệ phật pháp và cứu đời Noi gương Thượng tọa Thích Quang Đức và nhà sư Nguyên Hương, các đại đức Thanh Tuệ, đại đức Tiêu

Trang 14

Diêu đã liên tiếp tự thiêu tại Huế để chống chính sách kỳ thị tôn giáo, tàn nhẫn với nhân dân của nhà họ Ngô Phong trào này từ Huế lan tỏa khắp miền Nam và trên thế giới ngày càng quyết liệt, phong trào đấu tranh Phật giáo bùng lên mạnh mẽ đã hòa cùng cách mạng cả nước đánh sập ngụy quyền Ngô Đình Diệm Sau khi thắng lợi, những vị đứng đầu các tổ chức hệ phái Phật giáo ở miền Nam đã đi đến thống nhất quyết định triệu tập một Đại hội để thành lập một tổ chức Phật giáo chung Từ ngày 31/12/1963 đến ngày 04/01/1964 Đại hội thống Nhất phật giáo miền Nam được tổ chức tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn đã thông qua Hiến chương gồm có 11 Chương, 32 Điều và lấy tên tổ chức này là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” (GHPGVNTN) lãnh đạo Phật giáo miền Nam thay “Tổng hội Phật giáo Việt Nam.”

GHPGVNTN tập hợp bởi 11 tổ chức hệ phái Phật giáo ở miền Nam, bao gồm: Giáo hội Tăng già Nguyên thủy, Giáo hội Tăng già Trung phần, Giáo hội Thiền định đạo tràng, Giáo hội Tăng già Nam Việt, Giáo hội Tăng già Bắc Việt, Giáo hội Tăng sĩ THERAVADA (Khơ-me), Hội Phật giáo Nguyên thủy, Hội Phật học Việt Nam, Giáo phái THERAVADA, Hội Phật giáo Việt Nam Trung phần, Hội Việt Nam Phật giáo Nhân sự khóa đầu của GHPGVNTN gồm có hai Viện đó: là Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo Hòa thượng Thích Tịnh Khiết được suy tôn làm Tăng Thống, Thượng tọa Thích Trí Quang được suy tôn làm Chánh Thư ký Viện Tăng Thống Còn Thượng tọa Thích Tâm Châu được suy tôn làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo Trụ sở của GHPGVNTN đặt tại Việt Nam Quốc Tự [ 34, tr.18]

Sau khi thành lập được ít ngày, sự thống nhất đã bị rạn nứt giữa Thượng tọa Thích Tâm Châu- Viện trưởng Viện Hóa Đạo và Thượng tọa Thích Trí Quang- Chánh Thư ký Viện Tăng Thống Mối rạn nứt ngày càng lớn giữa phái Thượng tọa Thích Tâm Châu với phái Thượng tọa Thích Trí Quang Giáo phái Theravada đòi rút khỏi GHPGVNTN Do mối mâu thuẫn

Trang 15

ngày càng tăng, ngày 08/9/1966 Thượng tọa Thích Tâm Châu gửi đơn cho Hòa thượng Thích Tịnh Khiết xin từ chức Viện trưởng Ngày 15/9/1966, Thượng tọa Thích Tâm Châu lại trở về đem theo 200 cảnh sát đến Việt Nam Quốc Tự và ngày 21/9/1966 Thượng tọa Thích Tâm Châu gửi thư xin rút đơn từ chức

Ngày 21/9/1966 Đại hội Phật giáo Thống nhất được tổ chức tại Sài Gòn (thành phố Hồ chí Minh) Lập trường của Vĩnh Nghiêm (miền Bắc di cư vào Nam) theo phái Thượng tọa Thích Tâm Châu, Giáo phái Theravada, Tỉnh hội Phật giáo Gia Định tuyên bố: Giáo hội chẳng cần bầu nữa, Đại hội đã xét bầu lại Viện Hóa Đạo Nhiều vụ lộn xộn, nhiều ý kiến bất đồng do chủ mưu Thượng tọa Thích Tâm Châu gây hấn phá vỡ hội nghị này Ngày 26/9/1966, Đại hội Phật giáo Thống nhất họp, nhiều cãi vã, lộn xộn, xô xát nhau, có nhiều tiếng súng bắn chỉ thiên Gần sáng ngày 27/9/1966, Tăng Ni bị khối Tâm Châu

là Vĩnh Nghiêm gây rối vác cuốc đánh chư Tăng Trước tình cảnh đó, Đại hội lui về Chùa Ấn Quang và bầu Thượng tọa Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Thượng tọa Thích Trí Quang từ chức Chánh Thư ký Viện Tăng Thống Đồng thời quyết định văn phòng Viện Hóa Đạo tạm đặt tại Chùa Ấn Quang, đường Sư Vạn Hạnh Những mâu thuẫn tiếp tục kéo dài và căng thẳng, Thượng tọa Thích Tâm Châu ra thông báo vẫn giữ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo, trụ sở đặt tại Chùa Ấn Quang (sau quen gọi là phái Ấn Quang) Ngày 28/10/1966 Tăng Thống Thích Tịnh Khiết ra lệnh triệu tập Đại hội Phật giáo để giải quyết vấn đề hai Viện Hóa Đạo nhưng không đạt kết quả

Ngày 24/12/1966, Thượng tọa Thích Tâm Châu đề nghị sửa Hiến chương Phật giáo và Hiến chương mới của GHPGVNTN phái Việt Nam Quốc Tự được chính quyền Ngụy Sài Gòn phê duyệt với Sắc luật 23/67 Sau khi lập xong Hiến chương mới (23/67) Thượng tọa Thích Tâm Châu tuyên bố từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo của Việt Nam Quốc Tự, cử

Trang 16

Thượng tọa Thích Thiện Tường làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo Việt Nam Quốc Tự và cử Lục Cả Lâm Em giữ chức Tăng Thống Ngày 02/01/1967, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Theravada quyết định rút khỏi GHPGVNTN Ngày 11/9/1967, Tăng thống Thích Tịnh Khiết triệu tập trưởng phái đoàn các tổ chức giáo phái (11 tổ chức) tham gia sáng lập GHPGVNTN họp bàn kháng nghị việc Hiến chương 23/67 nhưng không thành công Do vậy, Hiến chương 23/67 vẫn được thi hành

Ngày 28/10/1967 phái GHPGVNTN (Ấn Quang) trở về Việt Nam Quốc Tự Lễ xuất phát về lại Việt Nam Quốc Tự bị cảnh sát đến bao vây và

cô lập chùa Ấn Quang nhằm ngăn ngừa không cho tới chiếm Việt Nam Quốc

Tự Cuộc trở về này bất thành Sau khi Thượng tọa Thích Thiện Tường từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo Việt Nam Quốc Tự, Thượng tọa Minh Thành được cử lên thay thế một thời gian đã ký giấy trao trả Việt Nam Quốc

Tự cho GHPGVNTN (Ấn Quang) vào ngày 04/5/1970 Ngày 05/5/1970 phái

Ấn Quang đến tiếp nhận Việt Nam Quốc Tự thì bị chống trả và nổ ra thảm sát tại đây, đốt cháy toàn bộ mặt tiền Viện Hóa Đạo làm cho một số người bị chết

và bị thương Thời gian này, khối thống nhất trong phái GHPGVNTN (Ấn Quang) cũng tiếp tục rạn nứt Sau khi Thượng tọa Thiện Hoa viên tịch tháng 01/1972 nghi ngờ lớn lại nổ ra trong việc tranh chấp vị trí lãnh đạo Do đó, Đại hội kỳ V của GHPGVNTN (Ấn Quang) diễn ra vào ngày 10 đến 12/12/1973 gặp nhiều trở ngại bất thành, vì nổi lên sự vận động tranh chấp của Thượng tọa Thiện Minh và Thượng tọa Huyền Quang với phái của Thượng tọa Thích trí Quang để nắm giữ quyền lãnh đạo chủ chốt Giáo hội này dẫn đến Đại hội kỳ V tan vỡ

Ngày 08/01/1974, GHPGVNTN cử người ra Huế mời Hòa thượng Tăng thống Thích Giác Nhiên vào Sài Gòn để dàn xếp nhưng cuộc dàn xếp này không thành, Thượng tọa Thiện Minh và Thượng tọa Huyền Quang

Trang 17

không chịu từ chức và mặc cả như sau: Nếu muốn được giáo chỉ ổn thỏa bổ nhiệm Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo nhiệm kỳ 1974-1975 thì phải dành cho hai Thượng tọa Thiện Minh và Huyền Quang chức Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo Sau Đại hội V của GHPGVNTN, sự rạn nứt tiếp tục nảy sinh và chống đối nhau, 11 tổ chức hệ phái khi đứng ra thành lập GHPGVNTN hầu như vẫn giữ nguyên tổ chức, hệ phái của mình cho đến 30/4/1975 Mặc dù bị chi phối bởi những khuynh hướng tiêu cực nhưng tuyệt đại đa số Tăng Ni và Phật tử gắn bó với dân tộc, tiếp tục duy trì truyền thống yêu nước, tham gia vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, từ đó GHPGVNTN vẫn hoạt động ở Việt Nam, tiếp tục thực hiện Phong trào Chấn hưng Phật giáo trong điều kiện đất nước hoàn toàn thống nhất đông đảo Tăng Ni, Phật tử có tâm nguyện thống nhất các tổ chức hệ phái Phật giáo thành một giáo hội Ngày 25/4/1976, tổng tuyển cử chung cho cả nước đã được tổ chức, mở đầu một kỷ nguyên mới Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên dải non sông gấm vóc từ Lạng Sơn đến Minh Hải, thống nhất trong cơ chế chính trị và

tổ chức nhà nước Đây là cơ hội tốt nhất trọng lịch sử Phật giáo Việt Nam chưa từng có Các vị tôn túc, các vị đứng đầu trong chín hệ phái tổ chức Phật giáo trong cả nước đều nhất trí tổ chức Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam [34, tr.25]

Ngày 19/9/1981 Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nay là Chính phủ) ký Quyết định 621/V8 cho phép Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam tiến hành tổ chức Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam Tháng 11-1981, Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo đã được

tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 165 đại biểu tăng ni, cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái trong cả nước gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trang 18

Thống nhất, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Ban Liên lạc Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo hội Tăng già Nguyên thuỷ Việt Nam, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Thiên Thai giáo Quán tông,

Hội Phật học Nam Việt Hội nghị đã nhất trí thành lập Giáo hội Phật giáo

Việt Nam, thông qua Hiến chương và đường hướng hoạt động "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” Kết quả cao nhất có tính quyết định sự thành

công lớn của Hội nghị là đã được Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Quyết định số 83-BT ngày 29/12/1981 cho phép thành lập Giáo hội phật giáo Việt Nam (GHPGVN), phê chuẩn văn kiện, hiến chương Giáo hội (gồm lời nói đầu và 11 chương, 46 điều) Công nhận tư cách pháp nhân của Giáo hội phật giáo Việt Nam và thành phần lãnh đạo hai Hội đồng tại Trung ương Giáo hội

Đến nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trải qua 6 nhiệm kỳ Đại hội:

- Nhiệm kỳ I (1981 -1987) là thời kỳ xây dựng và củng cố cơ sở với 50 thành viên Hội đồng Chứng minh, 50 thành viên Hội đồng Trị sự, thành lập

28 Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội, 06 Ban ngành hoạt động

- Nhiệm kỳ II (1987-1992) là giai đoạn phát triển các mặt hoạt động theo chương trình nội dung 6 điểm của Giáo hội trong thời kỳ đổi mới của đất nước, với 60 thành viên Hội đồng Chứng minh, 60 thành viên Hội đồng Trị sự, thành lập 33 đơn vị Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội, 08 Ban ngành hoạt động

- Nhiệm kỳ III (1992- 1997) là giai đoạn tiếp tục phát triển một cách toàn diện và hoàn chỉnh các mặt hoạt động của 10 Ban Ngành, Viện từ Trung ương đến địa phương trong thời kỳ tiếp tục đổi mới và mở cửa của đất nước, tiến tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thành lập 41 đơn vị Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội, với 75 thành viên Hội đồng Chứng minh, 70 thành viên Hội đồng Trị sự

Trang 19

- Nhiệm kỳ IV (1997-2002) thành lập 45 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo, với 65 thành viên Hội đồng Chứng minh, 95 thành viên Hội đồng Trị sự Đây là nhiệm kỳ tổng kết những thành quả của Giáo hội trong những năm cuối của thế kỷ 20 để vững vàng bước sang thế kỷ 21

- Nhiệm kỳ V (2002-2007) là nhiệm kỳ đầu của thế kỷ 21, với 52 đơn

vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo, 85 thành viên Hội đồng Chứng minh, 95 thành viên Hội đồng Trị sự chính thức và 24 thành viên Hội đồng Trị sự dự khuyết

- Nhiệm kỳ VI (2007-2012) kiện toàn cơ chế tổ chức, triển khai nội dung hoạt động theo tinh thần Hiến chương đã tu chỉnh, gồm 03 cấp hành chánh Giáo hội, với 58 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo, 97 thành viên Hội đồng Chứng minh, 147 thành viên Hội đồng Trị sự chính thức và 48 thành viên Hội đồng Trị sự dự khuyết Trong nhiệm kỳ này, Giáo hội đã công nhận 06 Hội Phật tử Việt Nam tại các nước Châu Âu như: Cộng hòa Liên Bang Nga, Đức, Séc, Hungary, Ba Lan và Ucraina [37, tr.2]

Những kỳ Đại hội là những chặng đường phát triển của GHPGVN Giáo hội đã từng bước khắc phục khó khăn, phát huy nội lực ngày càng thể hiện sự thống nhất về mặt tổ chức từ Trung ương đến địa phương, có sự liên

hệ chặt chẽ, điều hành và hướng dẫn Phật sự trong toàn Giáo hội Hiện nay có

58 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo trên 63 tỉnh thành trong cả nước và có trên 10 triệu tín đồ; khoảng 44.000 chức sắc, nhà tu hành; gần 16.000 cơ sở thờ tự, 4 học viện Phật giáo [55, tr.3]

Về tổ chức, Giáo hội được xây dựng theo cơ cấu: Cấp Trung ương có

Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự, với 11 ban chuyên môn như: Ban Tăng sự, Ban Giáo dục Tăng ni, Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Hoằng pháp, Ban Nghi lễ, Ban Văn hoá, Ban Kinh tế - Tài chính, Ban Từ thiện Xã hội, Ban Phật giáo Quốc tế, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Văn phòng

Trang 20

Dưới cấp Trung ương là các Ban Trị sự tỉnh, thành hội và Ban Đại diện huyện (quận) và Đại diện ở xã (phường) Đơn vị cơ sở của GHPGVN là các chùa, tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường

1.1.2 Chính sách của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo

1.1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong lãnh đạo việc quản lý xã hội và điều hành đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến tôn giáo và có chính sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng Năm 1990, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/BCT ngày 16/11 về công tác tôn giáo chỉ rõ "Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới" Năm 1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 37-CT/BCT ngày 02/7 về Công tác tôn giáo trong tình hình mới nêu rõ chủ trương cần tiếp tục quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 24 nhằm làm tốt hơn công tác tôn giáo, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

IX đã ra Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo trên cơ

sở vận dụng chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục phát triển các quan điểm của Nghị quyết số 24 và cụ thể hoá Nghị quyết của Đại hội IX

Tư tưởng của Nghị quyết số 25 được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:

- Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải

Trang 21

nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững

chắc Tổ quốc

- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân

đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật

- Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Đại đoàn kết toàn dân tộc với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập

và thống nhất Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế -

xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo

- Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng

tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân Nghiêm cấm

sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia

Trang 22

- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành vì cuộc sống tinh thần và vật chất của hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bố ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước

- Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo cũng như bỏ đạo [30]

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo." Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của đồng bào các tôn giáo Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân"

Trang 23

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định:

“Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với hành vi lợi dụng tôn giáo, để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.”

1.1.2.2 Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Trước khi có Pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản có quy định về tín ngưỡng tôn giáo Về các quy định của Hiến

pháp, Điều 10 Hiến pháp 1946 ghi nhận: Quyền tự do tín ngưỡng là một

trong năm quyền cơ bản của công dân (Quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong

nước và ra nước ngoài) [47]; Điều 26 Hiến pháp 1959 quy định rõ: "Công

dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” [48]; Điều 68 Hiến pháp 1980 ghi nhận:

"Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo

nào Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” [49]; Điều 70 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung

năm 2001) khẳng định: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo

hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước" [51]

Trên cơ sở các quy định đó của Hiến pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, các văn

bản pháp luật khác đã quy định cụ thể hóa

Trang 24

Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 về Tôn giáo, trong đó Chương I:

Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng có nêu rõ:

- Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý, v.v.) Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

- Các nhà tu hành và các tín đồ đều được hưởng mọi quyền lợi của người công dân và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân

- Các nhà tu hành người ngoại quốc mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép thì được giảng đạo như các nhà tu hành Việt Nam phải tuân theo luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, như các ngoại kiều khác

- Các tôn giáo được xuất bản và phát hành những kinh bổn, sách báo có tính chất tôn giáo, nhưng phải tuân theo luật pháp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc xuất bản

- Các tôn giáo được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo của mình Các nhà thờ, đền, chùa, miếu, thánh thất và các đồ thờ, các trường giáo lý của tôn giáo được pháp luật bảo hộ

- Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật [13]

Trang 25

Ngoài ra, còn có Nghị quyết số 297-CP ngày 11/11/1977 của Chính phủ về một số chính sách đối với tôn giáo; Nghị định số 69-HĐBT ngày 21/3/1991 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo và Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo

Năm 2004, xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong thời kỳ đổi mới và yêu cầu thực hiện công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, ngày 18/6/2004 Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Ngày 01/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có 6 chương, 41 điều đã thể hiện chính sách dân chủ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức,

cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tôn giáo tự giải quyết theo Hiến chương, Điều lệ của các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với việc quản lý các hoạt động tôn giáo được quy định cụ thể theo hướng cải cách các thủ tục hành chính như trình tự, thời hạn, phân cấp rõ thẩm quyền giải quyết của chính quyền các cấp trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân tôn giáo; làm lành mạnh hóa các quan hệ tôn giáo và hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng của tín đồ và tổ chức tôn giáo, vì lợi ích chung của toàn xã hội trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế

Sau khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, Nhà nước ta cũng

đã ban hành một số văn bản nhằm thực hiện đúng pháp luật của Nhà

Trang 26

nước về tín ngưỡng tôn giáo Ngày 04/02/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg về một số công tác đối với đạo Tin lành để giải quyết những vấn đề còn tồn tại, mới nảy sinh trong những năm gần đây liên quan đến sinh hoạt tôn giáo của người dân theo đạo Tin lành Ngày 31/12/2008 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 1940/CT-TTg về nhà đất liên quan đến tôn giáo

Bên cạnh một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo nói chung thì còn có một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Phật giáo nói riêng như: Chỉ thị số 217-CT/TW ngày 09/7/1960 của Ban Bí thư về công tác đối với Phật giáo; Chỉ thị số 161-CT/TW ngày 29/5/1968 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác vận động đồng bào theo đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Tin Lành trong tình hình nhiệm vụ mới; Chỉ thị số 88-TTg ngày 26/4/1973 của Thủ tướng Chính phủ

về việc chấp hành chính sách đối với việc bảo vệ các chùa thờ Phật và đối với Tăng Ni; Thông tri số 136/TT-TW ngày 30/9/1981 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chủ trương thống nhất các tổ chức Phật giáo để thành lập tổ chức chung cả nước

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN

ĐẾN PHẬT GIÁO

1.2.1 Đặc điểm Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo

Bản chất nhà nước của chúng ta là nhà nước “của dân, do dân và vì dân” và thể chế chính trị là xã hội chủ nghĩa cho nên Phật giáo chọn phương châm hoạt động là “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội” Đó là giáo hội luôn thực hiện đúng theo tinh thần của Phật giáo, đối tượng giáo hội phục vụ

là dân tộc và giáo hội phải trung thành với hướng đi, với thể chế của dân tộc

là chủ nghĩa xã hội Hơn nữa khi xét về bản chất của chủ nghĩa xã hội là đề cao quyền lợi tập thể, đất nước là đối kháng với cá nhân, ích kỷ hẹp hòi Như

Trang 27

vậy, về bản chất của chủ nghĩa xã hội hoàn toàn phù hợp với tinh thần vị tha

vô ngã của Phật giáo Đối tượng phục vụ của Phật giáo là tổ quốc, dân tộc, quyền lợi của Phật giáo không nằm ngoài quyền lợi của dân tộc Khác với những tổ chức phục vụ cho một ý đồ đen tối lúc dân tộc lầm than thì họ là những kẻ có nhiều đặc quyền đặc lợi cũng như số người “bán nước cầu vinh” Phật giáo Việt Nam đã gắn liền với dân tộc như hình với bóng, dân tộc phú cường Phật giáo hưng thịnh, dân tộc nô lệ lầm than, Phật giáo bị điêu linh Do vậy, bảo vệ tổ quốc là Phật giáo đang bảo vệ chính mình [10, tr.101] Theo quan điểm của Hòa thượng Thích Giác Quang (Phó trưởng ban thường trực

Ban trị sự Giáo hội phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế): “Phật giáo không chỉ

nằm trong lòng dân tộc mà phật giáo chúng ta phải đồng hành cùng dân tộc, những bước đi lỗi nhịp sẽ tác hại cho đất nước Khi chúng ta đồng hành, chúng ta sống theo pháp luật sẽ được pháp luật bảo vệ chúng ta Phật giáo Việt Nam chúng ta ngày càng có điều kiện phát triển tốt đẹp cũng nhờ Giáo hội chúng ta có đường hướng đúng Mỗi một Tăng Ni, phật tử cố gắng nổ lực

tự thân để cho Phật giáo làm tròn trách nhiệm trước lịch sử dân tộc.”

THADS là việc thực hiện trên thực tế các quyền, nghĩa vụ đã được bản

án, quyết định ghi nhận Hoạt động THA một mặt đảm bảo việc thực hiện quyền tư pháp của nhà nước, mặt khác là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội và công dân khi bị xâm hại Trong THADS, các bên đương sự có thể tự thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo bản

án, quyết định hoặc yêu cầu để thông qua CQTHADS thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó THADS liên quan đến Phật giáo có một số đặc điểm sau:

- Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo là hoạt động mang tính tài sản Điều này thể hiện quá trình THADS nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến Phật giáo cụ thể là tổ chức, chức sắc, hoặc người tu hành theo đạo Phật, Phật tử Đó là tổ chức thi

Trang 28

hành các vụ việc THADS mà tài sản trong các bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến Phật giáo như: thi hành án trả tài sản cho các chủ thể liên quan đến Phật giáo hoặc các chủ thể liên quan đến Phật giáo phải trả lại tài sản; tài sản tranh chấp đang nằm trong phần diện tích đất của cơ sở thờ tự (chùa, tịnh thất, niệm Phật đường, tự viện…) hoặc thuộc diện tích giải tỏa để xây dựng

cơ sở thờ tự; thanh toán nghĩa vụ trả nợ…

- Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo là hoạt động mang tính nhân thân Để giải quyết việc THA đạt hiệu quả thì Chấp hành viên (CHV), người làm công tác THADS trước hết phải tìm hiểu kỹ, nắm được cơ bản đặc điểm về nhân thân các tín đồ, Tăng Ni, chức sắc Phật giáo Phải làm rõ người phải THA về trình độ nhận thức hiểu biết pháp luật, đã từng có tiền án, tiền

sự, hoặc vi phạm nội quy, giáo luật chưa hay đang có biểu hiện những hành vi nghi vấn khác như việc làm phi pháp…hoặc gia đình có thuộc diện chính sách hay không? Việc làm, việc tu hành, lối sống và cách xử sự với trụ trì, các sư môn trong chùa như thế nào, bởi lẽ đối với tu sĩ Phật giáo, ngôi chùa được coi

là ngôi nhà của các tu sĩ Phật giáo, là nơi tu học, hành đạo, truyền đạo và sinh sống hàng ngày tại đó Vì vậy, mọi hoạt động trong đời sống tu hành của người tu sĩ diễn ra phần lớn ngay tại địa phương nơi người tu sĩ đó sinh sống

- Hoạt động thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo phải tuân thủ những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Đó là các quy định dùng để điều chỉnh, tổ chức thi hành các vụ việc THADS mà một trong các đương sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là tổ chức, chức sắc, hoặc người tu hành theo đạo Phật, Phật tử Đồng thời, những người này còn phải tuân thủ những quy định giáo luật, nội quy, điều lệ của Hiến chương Giáo hội phật giáo Việt Nam

- Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo là hoạt động mang tính tự nguyện và thỏa thuận Nhà nước khuyến khích người được THA và người

Trang 29

phải THA, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tự nguyện THA, tự mình lựa chọn để thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Tự nguyện THA có thể thực hiện trong mọi giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án Kể từ khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, các đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có thể tự nguyện THA ngay cả khi chưa có quyết định thi hành án (QĐTHA) của CQTHADS Việc tự nguyện này cũng có thể xảy ra trước, trong hoặc sau khi CHV ra quyết định cưỡng chế vẫn được pháp luật ghi nhận Sự tự nguyện của người được THA chính là họ dùng quyền lợi của mình đã được bản án có hiệu lực pháp luật ghi nhận để thể hiện sự tự nguyện của mình ở chỗ có thể thỏa thuận với người phải THA về thời gian, địa điểm, phương thức THA nhưng thỏa thuận này không trái pháp luật và đạo đức xã hội Người được THA cũng

có thể đơn phương tự nguyện đồng ý cho bên phải THA hoãn thi hành án, thời gian hoãn do bên được THA quyết định Hoặc người được THA cũng có thể đơn phương tự nguyện từ bỏ quyền và lợi ích của họ được hưởng theo bản

án, quyết định nếu việc từ bỏ này không làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước hoặc của người khác Tuy nhiên, khi nói đến tự nguyện THA là chủ yếu nói đến sự tự nguyện THA của người phải THA vì đây là đối tượng thể hiện một cách trực tiếp nhất, cụ thể nhất về bản chất và hình thức tự nguyện Do đó, người phải THA là đối tượng mà các CQTHADS, các CHV đặc biệt quan tâm

và phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người phải THA thực hiện nghĩa vụ của mình đối với QĐTHA Việc tự nguyện của người phải THA có thể được thực hiện đầy đủ, kịp thời và đúng với QĐTHA cũng có thể họ chỉ tự nguyện thực hiện một phần trong các khoản phải THA

Thỏa thuận trong THA được pháp luật THADS quy định là một nội dung của biện pháp tự nguyện THA Thỏa thuận xét về bản chất đó là sự tự nguyện của các đương sự nhằm bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất một

Trang 30

khía cạnh hay toàn bộ nội dung trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của họ đã được xác lập bằng bản án, quyết định Như vậy, thỏa thuận trong THA phải xuất phát từ cả hai phía chủ thể và chỉ được thực hiện đối với loại việc theo đơn yêu cầu THA, còn loại việc chủ động ra QĐTHA thì không có sự thỏa thuận nào khác mà phải thực hiện đầy đủ theo bản án, quyết định bởi CQTHADS không có chức năng và thẩm quyền để thỏa thuận Xuất phát từ nguyên tắc tự thỏa thuận, tự định đoạt của đương sự trong lĩnh vực dân sự, pháp luật khuyến khích các đương sự tự mình bày tỏ thiện chí, duy trì mối quan hệ hàng xóm láng giềng hay quan hệ huyết thống, quan hệ bạn bè, ….Sự thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, không đúng thực tế và làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí THA

Qua đó, các vụ việc THADS liên quan đến Phật giáo được giải quyết bằng biện pháp tự nguyện, thỏa thuận sẽ giữ được sự ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, thắt chặt được mối quan hệ đoàn kết, tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức và hơn hết là tác động đến ý thức chấp hành pháp luật của công dân, các Tăng Ni, Phật tử hạn chế được các chủ thể liên quan đến Phật giáo thiếu thông tin, thiếu kiến thức pháp luật thậm chí cố tình không hiểu, không chấp nhận sự thật khác quan và lợi dụng các chính sách về tôn giáo để chống đối, cản trở việc thi hành án

- Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo còn là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế, được sử dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật Chủ thể liên quan đến Phật giáo phải tôn trọng các bản án, quyết định của Tòa án nhân danh nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phối hợp nghiêm chỉnh thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình để bảo

vệ pháp chế, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản, quyền, lợi ích hợp

Trang 31

pháp của nhà nước, của tập thể, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân nói chung, và của Tăng Ni, phật tử nói riêng Các cơ quan thi hành án được sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để thực hiện việc THA

1.2.2 Các yêu cầu trong thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo

Thi hành án dân sự liên quan đến Phật giáo trước hết phải đáp ứng được các yêu cầu của THADS nói chung: Thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật THADS quy định Sau nữa, việc tổ chức THADS phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa CQTHADS với các cơ quan, tổ chức hữu quan, đặc biệt là với các tổ chức Giáo hội Phật giáo trong việc giáo dục, thuyết phục đương sự THA và cưỡng chế THA

Thứ nhất, về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự do pháp luật quy định

Các đương sự phải làm đơn yêu cầu THA nộp cho CQTHADS có thẩm quyền để thụ lý giải quyết việc THA nhưng phải còn trong thời hiệu yêu cầu THA Theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (LTHADS), thời hiệu yêu cầu THA được quy định là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt thì thời hiệu yêu cầu THA được tính như sau: Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn; đối với bản án, quyết định thi hành án theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn Ngoài ra, trong một số trường hợp theo Luật định, mặc dù người làm đơn yêu cầu THA gửi đơn yêu cầu THA quá hạn nhưng CQTHADS vẫn thụ lý đơn yêu cầu THA là trường hợp người yêu cầu THA chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc

do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu THA đúng thời hạn

Theo Điều 31 LTHADS thì đơn yêu cầu THA phải có những nội dung chính sau: Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu; tên CQTHADS nơi yêu cầu; Họ, tên, địa chỉ của người được THA, người phải THA; nội dung yêu cầu THA;

Trang 32

thông tin về tài sản hoặc điều kiện THA của người phải THA[52] Đối với việc THA liên quan đến Phật giáo thì người làm đơn yêu cầu THA phải cung cấp các thông tin về tài sản của Tăng Ni, Phật tử; đang quản lý tài sản đất đai, cơ sở thờ tự… Theo các quy định tại khoản 1 Điều 44 LTHADS và Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 thì người được THA khi nộp đơn yêu cầu THA phải có biên bản xác minh điều kiện THA của người phải THA có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ các thông tin về tài sản hoặc quản lý tài sản, tài khoản Trong trường hợp người được THA đã áp dụng các biện pháp cần thiết khác mà không thể tự xác minh được điều kiện THA của người phải THA, thì mới có thể yêu cầu CHV xác minh

Về nguyên tắc khi xem xét đơn yêu cầu THA thì đơn yêu cầu THA chỉ được coi là hợp lệ khi có đầy đủ các nội dung chính theo quy định tại Điều 31 LTHADS, nếu không đầy đủ các nội dung thì CQTHADS thông báo để đương sự bổ sung đơn yêu cầu THA trước khi ra QĐTHA CQTHADS có quyền từ chối nhận đơn yêu cầu THA, nếu đơn yêu cầu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 34 LTHADS như sau: Người làm đơn yêu cầu THA không có quyền yêu cầu THA hoặc nội dung đơn yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; CQTHADS được yêu cầu THA không có thẩm quyền THA; hết thời hiệu yêu cầu THA [52]

Thủ trưởng CQTHADS chỉ ra QĐTHA khi có đơn yêu cầu THA nhưng cần phải nghiên cứu cụ thể nội dung đơn yêu cầu THA phải phù hợp với nội dung phần quyết định trong bản án, quyết định của Tòa án Bên cạnh đó, thủ trưởng CQTHADS chủ động ra QĐTHA đối với phần bản án, quyết định sau: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; Thu hồi quyền sử dụng đất và các tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Kể từ ngày ra

Trang 33

QĐTHA, thủ trưởng CQTHADS phải phân công CHV tổ chức thi hành QĐTHA đó CHV được phân công phải lập hồ sơ THA và kịp thời tổ chức thi hành vụ việc đúng nội dung bản án, quyết định, áp dụng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục THA bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp CHV

Trên cơ sở các thông tin liên quan đến Phật giáo khai thác được trong quá trình tổ chức THA, CHV cần phải lập kế hoạch xác minh về quan hệ, quan điểm của địa phương, GHPGVN, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), Ban Tôn giáo và thái độ của dư luận đối với vụ án và đương sự là Tăng Ni, Phật tử Chẳng hạn như xác minh quan điểm của địa phương, GHPGVN, MTTQ, Ban Tôn giáo và thái độ của dư luận đối với vụ án đồng tình hay không đồng tình với bản án, quyết định của Tòa án, vì cho rằng: chưa khách quan, chưa công bằng, chưa có cơ sở, chưa đúng mức kể cả về trách nhiệm hình sự và nghĩa vụ dân sự Hoặc thái độ không đồng tình với đối tượng Tăng Ni, Phật tử do có điều kiện mà không thi hành kịp thời, tìm mọi cách nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ hoặc CQTHADS chưa kiên quyết, triệt để trong việc tổ chức thi hành……Từ đó, có cơ sở đánh giá tình hình còn vướng mắc về những vấn đề

gì và cần giải quyết những vấn đề đó như thế nào

Khi tiếp xúc làm việc với các chức sắc, Tăng Ni, Phật tử… CHV và cán

bộ THA cần hiểu biết cơ bản về giáo lý , giáo luật, lễ nghi, ngôn ngữ của Phật giáo, nắm được đặc điểm cơ bản về nhân thân của chức sắc, nhà tu hành, chức việc… tôn trọng tình cảm, đức tin tôn giáo, nên xử sự với chức sắc tôn giáo cần phải khéo léo và tế nhị nhằm gây thiện cảm với họ

CQTHADS phải thông báo quá trình tổ chức THA cho các đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các cơ quan chức năng Việc thông báo những thông tin về THA đòi hỏi phải thực hiện theo đúng quy định của

Trang 34

pháp luật về nội dung, đối tượng thông báo về THA không phải trường hợp nào cũng như nhau Việc thông báo về THA do người có thẩm quyền thực hiện và theo hình thức nhất định được chuyển tải đến các đương sự biết để tham gia vào việc THA nhằm tạo điều kiện kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Trong hệ thống các quy định pháp luật về thủ tục THADS, nhiều quy định về thủ tục do CQTHADS thực hiện phải báo cáo hoặc gửi các tài liệu, giấy tờ về THA đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trong phạm vi nhất định phải được chuyển tải tới những người tham gia vào hoạt động THA Các quy định này đòi hỏi CQTHADS công khai, thể hiện sự minh bạch hóa hoạt động của CHV, cán bộ THA để các cơ quan chức năng phát hiện những sai sót, lệch lạc trong hoạt động THA, kịp thời uốn nắn, bảo đảm thủ tục THA đúng quy định của pháp luật, tránh tình trạng CQTHADS tùy tiện, quan liêu dẫn đến vi phạm pháp luật trong quá trình THA

Phải tiến hành xác minh điều kiện THA, bởi lẽ xác minh có vai trò quan trọng đối với hầu hết các giai đoạn khác của quá trình THA Kết quả xác minh sẽ là cơ sở để CQTHADS thuyết phục đương sự tự nguyện THA hoặc lựa chọn áp dụng biện pháp cưỡng chế, hoặc ra các loại quyết định khác về THA Việc xác minh đòi hỏi CHV phải trực tiếp xác minh cụ thể hiện trạng tài sản, điều kiện kinh tế không chỉ căn cứ vào nội dung trình bày của đương

sự hoặc xác nhận của ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, phường Điều này rất quan trọng, bởi lẽ CHV sẽ khó mà quyết định được sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nào (tài sản thuộc sở hữu riêng hay tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác, tài sản là động sản hay bất động sản của người phải THA) hoặc khi đã kê biên tài sản chung của người phải THA thì CHV sẽ kê biên toàn bộ hay chỉ kê biên tài sản có giá trị tương ứng với nghĩa

vụ của người phải THA nếu CHV không xác minh một cách cụ thể hiện trạng của tài sản Bên cạnh đó, việc xác minh phải bảo đảm tính chặt chẽ, đầy đủ, bởi lẽ có những vụ việc do công tác xác minh thiếu chính xác, thiếu đầy đủ

Trang 35

dẫn đến CHV đã đưa ra một quyết định khiến dư luận bất bình và mắc sai lầm

ở những giai đoạn THA tiếp theo hoặc thủ trưởng CQTHADS ra quyết định trả lại đơn yêu cầu THA cho người được THA đã gặp phải khiếu nại gay gắt

từ người được THA và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại khó có thể bảo vệ CHV do sự thiếu chặt chẽ của biên bản xác minh

Thứ hai, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa CQTHADS với các cá nhân,

cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc giáo dục, thuyết phục đương sự THA và cưỡng chế THADS

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; cán bộ, công chức nhà nước phải là “công bộc” của dân Trong tổ chức bộ máy nhà nước, các CQTHADS là các cơ quan thuộc hệ thống cơ quan hành pháp do Chính phủ thống nhất quản lý CHV là chức danh tư pháp của CQTHADS thực hiện nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục THADS nhằm bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, CQTHADS nói chung, các CHV và cán bộ THA nói riêng phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan trong việc giáo dục, thuyết phục đương sự THA và cưỡng chế THADS mà không nên “đơn thương độc mã” Mặt khác, để thực thi tốt chủ trương của Đảng và nhiệm vụ của Nhà nước, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác cũng phải phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ CQTHADS trong việc THA nói chung, THADS liên quan đến Phật giáo nói riêng Đặc biệt phải có sự phối hợp của MTTQ, Ban Tôn Giáo và Giáo hội Trong đó, Giáo hội Phật giáo là một tổ chức, một thành viên của xã hội cũng như các thành viên khác Giáo hội phải chịu sự quản lý của Nhà nước Giáo hội Phật giáo còn là thành viên của MTTQ Việt Nam nên tiếng nói của Giáo hội ảnh hưởng rất lớn các Tăng Ni, Phật tử sống và thực hiện việc tu đạo đều phải chấp hành chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT GIÁO Ở THỪA THIÊN - HUẾ

2.1 THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở THỪA THIÊN - HUẾ 2.1.1 Các yếu tố tự nhiên - xã hội có ảnh hưởng đến công tác thi hành án dân sự ở Thừa Thiên - Huế

Thừa Thiên Huế nằm ở bắc Trung bộ với tỉnh lỵ là thành phố Huế, hai thị xã gồm thị xã Hương Trà, Hương Thủy và sáu huyện gồm huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới Tỉnh Thừa Thiên

- Huế trải dài từ 160 đến 16,450 vĩ bắc, rộng từ 1030 đến 108,80 kinh đông Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng qua ranh giới đèo Hải Vân, phía Tây giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với ranh giới là dãy Trường Sơn, phía Đông là biển Đông

Thành phố Huế là đô thị loại 1, thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế cách thủ

đô Hà Nội 660km và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.080km Tỉnh Thừa Thiên

- Huế nằm trên trục đường hành lang chiến lược Đông- Tây (có đường Quốc

lộ 1A, Quốc lộ 49, đường Hồ Chí Minh đi qua), có cửa khẩu Kutai nối với nước bạn Lào, có cảng biển nước sâu Chân Mây, có sân bay Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh, có khu kinh tế

mở Chân Mây- Lăng Cô, khu kinh tế mở cửa khẩu A Đớt

Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp, giao thoa giữa khí hậu á nhiệt đới ở phía Bắc

và khí hậu nhiệt đới ở phía Nam Thời tiết diễn ra theo chu kỳ 4 mùa, mùa xuân mát mẽ, ấm áp; mùa hè nóng bức; mùa thu dịu và mùa đông gió rét Nhiệt độ trung bình cả năm 25°C Số giờ nắng cả năm là 2000 giờ Mùa du lịch đẹp nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau

Trang 37

Diện tích tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên - Huế là 5.053,9km2

trải dài trên dải đất hẹp, chiều rộng trung bình 60km, chiều dài 127km kéo dọc theo hướng Tây bắc- Đông nam song song với biển gồm có đầy đủ các dạng địa hình rừng núi, gò đồi, đồng bằng duyên hải, đầm phá ven biển Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông trong đó phần phía Tây chủ yếu là đồi núi, tiếp đến là lưu vực các sông lớn tạo nên các bồn địa trũng gồm vùng đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, bao bọc quanh vùng đầm phá có diện tích 22.000ha như Phá Tam Giang, Đầm Hà Trung, Đầm Cầu Hai có ba cửa đổ ra biển là Thuận An, Tư Hiền và Lăng

Cô Trong vùng đồng bằng, địa hình phân bổ khá phổ biến là những cồn cát chạy song song với bờ biển có độ dài từ năm đến ba mươi kilô mét

Dân số toàn tỉnh là 1.090.879 người (tính đến năm 2010), trong đó nam 540.172 người, nữ 550.707 người Mật độ dân số là 215,48 người /km2

Về phân bố, có 470.907 người sinh sống ở thành thị và 619.972 người sinh sống

ở vùng nông thôn Tổng số lao động đang làm việc theo phân ngành kinh tế là

557.189 người (trong đó lao động nữ 267.447 người) [59]

Là trung tâm Văn hóa - du lịch lớn của Việt Nam với tài nguyên du lịch khá phong phú, đa dạng bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, không chỉ nổi danh với những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, Thừa Thiên - Huế còn được biết đến với các di sản văn hóa cố đô cùng hàng trăm chùa chiền mang phong cách kiến trúc dân tộc độc đáo và kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú đa dạng với các loại hình lễ hội tôn giáo, lễ hội dân gian, lễ hội cung đình Thành phố Huế là thành phố Festival tiêu biểu của Việt Nam; Huế

là trung tâm giáo dục, đào tạo lớn trong nước, có Đại học Huế gồm có tám trường thành viên thu hút lớn lượng sinh viên các tỉnh tập trung học tập Huế còn là trung tâm hoạt động của các tôn giáo như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Phật giáo hòa hảo với số lượng tín đồ đông nhất cả nước, trong đó Phật giáo có trên 55 vạn tín đồ, chiếm gần 60% dân số Bên cạnh đó, trên địa

Trang 38

bàn tỉnh còn có nhiều di tích lịch sử cách mạng gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh của nhiều danh nhân vĩ đại của dân tộc và thế giới trong đó

có Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại

Tài nguyên rừng và biển: Diện tích rừng và đất rừng khoảng 330.000

ha chiếm 70% diện tích đất tự nhiên và bờ biển dài 120km có vùng đầm phá rộng nhất Đông Nam Á Vùng nội thủy rộng 12 hải lý Vùng đặc quyền kinh

tế mở rộng đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở Trên thềm lục địa biển Đông ở

về phía Đông Bắc cách mũi cửa Khém nơi gần nhất khoảng 600m có đảo Sơn Chà Tuy diện tích đảo không lớn (khoảng 160ha), nhưng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng đối với nước

ta nói chung và tỉnh Thừa Thiên - Huế nói riêng

Tài nguyên khoáng sản: Có 20 mỏ, điểm khoáng sản với 25 loại khoáng sản, tài nguyên nước dưới đất, phân bố đều khắp, trong đó chiếm tỷ trọng đáng kể và có giá trị kinh tế là các khoáng sản phi kim loại và nhóm vật liệu xây dựng Tài nguyên nước (bao gồm cả nước nhạt và nước khoáng nóng) được phân bố tương đối đều trên địa bàn toàn tỉnh Tổng trữ lượng nước dưới đất ở các vùng đã nghiên cứu ở cấp C1 đạt gần 9.200m3/ngày Bảy nguồn nước khoáng nóng có thể sử dụng để uống và chữa bệnh (đáng chú ý nhất trong số này là ba điểm Thanh Tân, Mỹ An và A Roàng)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2011 đạt 11,1%, cao hơn mức bình quân của cả nước (6,1%) Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu người

là 1.300 USD Cơ cấu kinh tế công nghiệp - du lịch, dịch vụ - nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tập trung nguồn lực đẩy nhanh quá trình xây dựng và phát triển đô thị gắn với nông thôn mới, bảo đảm anh sinh xã hội; phát triển các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xứng tầm là trung tâm lớn của miền trung và cả nước, tạo tiền đề xây dựng Thừa Thiên - Huế trở thành thành phố

Trang 39

trực thuộc Trung ương Tỷ trọng giá trị công nghiệp - xây dựng 40,3%, dịch

vụ 45,5%, nông - lâm - thủy sản 14,2% Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 6% (theo chuẩn năm 2005) Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề 44%, tạo việc làm mới cho 16.500 người Giảm tỷ lệ sinh 0,3% và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,14%

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 của Thừa Thiên - Huế là tập trung tối đa các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng, tạo chuyển biến căn bản diện mạo đô thị Huế và các đô thị vệ tinh đồng thời tạo bước đột phá trong tiến trình xây dựng Thừa Thiên - Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2012 đạt 12,5% Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu người là 1.500 USD Cơ cấu các ngành kinh tế

dự kiến: công nghiệp - xây dựng 39,2%, dịch vụ 46,8%, nông - lâm - thủy sản 14% Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,5-8% (theo chuẩn thời kỳ 2011-2015) Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề 48%, tạo việc làm mới cho 16.600 người Giảm

tỷ lệ sinh 0,2% và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,12% [58]

Vị trí địa lý trọng yếu cùng những ưu thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú là những tiền đề quan trọng để Thừa Thiên - Huế xây dựng cho mình định hướng phát triển riêng, khai thác tối đa và phát huy hiệu quả thế và lực của địa phương để vững bước tiến vào Thế kỷ XXI và phấn đấu sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm của khu vực Miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước

về văn hóa, du lịch, khoa học - công nghệ, y tế chuyên sâu, giáo dục - đào tạo

đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao Phấn đấu đến năm 2020, Thừa Thiên - Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, y tế, đào tạo lớn của

cả nước và khu vực các nước Đông Nam Châu Á; có quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị - xã hội ổn định, vững chắc; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện

Trang 40

2.1.2 Tổ chức cơ quan thi hành án dân sự ở tỉnh Thừa Thiên - Huế

Thực hiện Nghị quyết về việc bàn giao công tác THADS từ Tòa án nhân dân (TAND) các cấp sang cơ quan Chính phủ, từ ngày 12/7/1993 đến ngày 31/8/1993 tại tỉnh Thừa Thiên- Huế đã tiến hành bàn giao xong công tác THADS từ Tòa án tỉnh sang cho Sở Tư pháp quản lý Về hệ thống tổ chức, sau khi bàn giao tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thành lập được 01 Phòng và 08 Đội Thi hành án dân sự (Phòng Thi hành án dân sự tỉnh, các đội Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, huyện Hương Trà, huyện Quảng Điền, huyện Phú Vang, huyện Hương Thủy, huyện Phú Lộc, huyện Nam Đông, và thành phố Huế)

Về biên chế cán bộ, công chức đến cuối tháng 12 năm 1993, biên chế cán bộ, CHV được tăng lên Toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế có 27 CHV, cán bộ THADS, trong đó có 14 CHV và 13 cán bộ (tăng lên 17 người so với lúc nhận bàn giao từ Tòa án) Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, CHV nói trên được bổ sung

từ nhiều nguồn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp còn nhiều hạn chế và không đồng đều, đại học luật chỉ có 01 đồng chí, còn lại sơ cấp, trung cấp, kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế.Mặc dù vậy, được sự quan tâm của cấp ủy Đảng, HĐND và UBND tỉnh, huyện, thành phố và lãnh đạo Sở Tư pháp, Cục quản lý THADS chỉ đạo về mọi mặt, từ khâu tổ chức thực hiện, xây dựng cơ

sở vật chất, kiện toàn tổ chức, xây dựng lực lượng thi hành án cùng với sự nổ lực của các CQTHADS tỉnh Thừa Thiên - Huế nên đến năm 2001 đã kiện toàn xong bộ máy các CQTHADS đó là thành lập thêm được 01 Đội Thi hành

án dân sự huyện A Lưới

Năm 2001 chỉ tiêu biên chế được phân bổ cho các CQTHADS tỉnh Thừa Thiên - Huế là 61 biên chế Sở Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan tiến hành tiếp nhận, tuyển dụng nhiều đợt từ nhiều nguồn cán bộ khác nhau về làm công tác thi hành án, trong đó có cán bộ từ Trọng tài kinh tế; ở các xã, phường, thị trấn; sinh viên mới tốt nghiệp đại học luật, đến cuối năm 2001 đã

đủ biên chế 61/61 so với khi bàn giao từ Tòa án sang tăng 51 người

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Anh (2010),“Chi phí cưỡng chế thi hành án”,Tạp chí dân chủ và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chi phí cưỡng chế thi hành án”
Tác giả: Lê Anh
Năm: 2010
2. Thích Hải Ấn (2006), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo xứ Huế
Tác giả: Thích Hải Ấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2006
3. Phạm Văn Bằng (2011), “Những vướng mắc khi tiếp nhận thụ lý và xác minh trong thi hành án dân sự”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vướng mắc khi tiếp nhận thụ lý và xác minh trong thi hành án dân sự”
Tác giả: Phạm Văn Bằng
Năm: 2011
4. Phạm Bằng (2011), “Một số ý kiến về áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số ý kiến về áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự”
Tác giả: Phạm Bằng
Năm: 2011
5. Đinh Duy Bằng (2010), “Công tác cán bộ thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Tháng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công tác cán bộ thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn”
Tác giả: Đinh Duy Bằng
Năm: 2010
6. Bùi Thái Bình (2011), “Những trường hợp đặc thù trong thi hành biện pháp tự nguyện và cưỡng chế thi hành án”,Tạp chí dân chủ và pháp luật, Tháng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những trường hợp đặc thù trong thi hành biện pháp tự nguyện và cưỡng chế thi hành án”
Tác giả: Bùi Thái Bình
Năm: 2011
7. Ngọc Biên (2011), “Vướng mắc trong hoạt động thi hành án dân sự”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Tháng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vướng mắc trong hoạt động thi hành án dân sự”
Tác giả: Ngọc Biên
Năm: 2011
8. Bộ Tư pháp (2005), Quyết định số 739/QĐ-BTP ngày 04/5 về việc thay đổi tên gọi của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 739/QĐ-BTP ngày 04/5 về việc thay đổi tên gọi của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2005
9. Bộ Tư pháp (2008), Quyết định số 295/QĐ-BTP ngày 09/6 về việc quy định cơ cấu tổ chức của Cục Thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 295/QĐ-BTP ngày 09/6 về việc quy định cơ cấu tổ chức của Cục Thi hành án dân sự
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
10. Ban Đại diện Phật giáo huyện A Lưới -Tỉnh giáo hội Thừa Thiên Huế (2011), Kỷ yếu giới thân qua bản mường, số 5 tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu giới thân qua bản mường
Tác giả: Ban Đại diện Phật giáo huyện A Lưới -Tỉnh giáo hội Thừa Thiên Huế
Năm: 2011
11. Ban Dân vận - Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2012), Báo cáo tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo
Tác giả: Ban Dân vận - Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Năm: 2012
12. Ban Dân vận - Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2012), Báo cáo tình hình chức sắc tôn giáo, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình chức sắc tôn giáo
Tác giả: Ban Dân vận - Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Năm: 2012
13. Chính phủ (1955), Sắc lệnh số 234-SL ngày 14/6 ban hành chính sách tôn giáo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 234-SL ngày 14/6 ban hành chính sách tôn giáo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1955
14. Chính phủ (1977), Nghị quyết số 297-CP ngày 11/11 về một số chính sách đối với tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 297-CP ngày 11/11 về một số chính sách đối với tôn giáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1977
15. Chính phủ (1991), Nghị định số 69-HĐBT ngày 21/3 về các hoạt động tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69-HĐBT ngày 21/3 về các hoạt động tôn giáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1991
16. Chính phủ (1993), Nghị định số 30/NĐ-CP ngày 02/6 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 30/NĐ-CP ngày 02/6 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
17. Chính phủ (1993), Chỉ thị số 266/TTg ngày 02/6 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai việc bàn giao và tăng cường công tác thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 266/TTg ngày 02/6 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai việc bàn giao và tăng cường công tác thi hành án dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
18. Chính phủ (1993), Nghị định số 69/CP ngày 18/10 quy định thủ tục thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69/CP ngày 18/10 quy định thủ tục thi hành án dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
19. Chính phủ (2004), Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9 quy định thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9 quy định thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
59. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Cổng thư điện tử - Dư địa chí Thừa Thiên Huế, http://www1.thuathienhue.gov.vn Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w