1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình

135 2,1K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với hoạt động vui chơi tự do, thoải mái ở tuổi mẫu giáo, hoạt động học tập đòi hỏi một chất lượng mới trong sự phát triển của đứa trẻ cả về mặt trí tuệ, tình cảm, hành động ý chí..

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===========o0o============

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÂM LÝ SẴN SÀNG ĐI HỌC CỦA TRẺ ĐẾN TUỔI VÀO LỚP 1 (6 TUỔI) Ở

TỈNH THÁI BÌNH

Ngành: Tâm lý học Chuyên ngành: Tâm lý học xã hội

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

Chương 1: CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1 Tổng quan lịch sử nghiờn cứu vấn đề 9

1.1.1 Ở nước ngoài 9

1.1.2 Ở trong nước 12

1.2 Một số khỏi niệm cụng cụ của đề tài 15

1.2.1 Khỏi niệm “Tuổi vào lớp 1” (cũn gọi là Tuổi đi học) 15

1.2.2 Khỏi niệm “Lớp 1” 16

1.2.3 Khỏi niệm “Tõm lớ sẵn sàng đi học lớp 1” 17

1.3 Một số vấn đề lý luận liờn quan đến sự phỏt triển tõm lớ sẵn sàng đi học của trẻ em trũn 6 tuổi 19

1.3.1 Khỏi niệm “Hoạt động chủ đạo” 19

1.3.2 Một số đặc điểm của hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo với t- cách là hoạt động chủ đạo 23

1.3.3 Một số đặc điểm của hoạt động học tập của học sinh lớp 1 với t- cách là hoạt động chủ đạo 27

1.3.4 Sự chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập ở trẻ 6 tuổi vào lớp 1 tr-ờng phổ thông……… 33

1.3.5 Một số khó khăn tâm lý khi trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 (Khi diễn ra quá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập) 36

1.4 Một số đặc điểm phỏt triển của trẻ 6 tuổi………38

1.4.1 Vận động……… 38

1.4.2 Chỳ ý………39

1.4.3 Tri giỏc……….39

1.4.4 Trớ nhớ ……… 40

1.4.5 Tư duy……… 40

1.4.6 Tưởng tượng………41

1.4.7 Ngụn ngữ……… 41

Trang 3

1.4.8 í chớ……… 42

1.4.9 Tỡnh cảm - Quan hệ xó hội………42

1.4.10 Động cơ……….43

1.4.11 Giao tiếp……… 43

1.4.12 Mối quan hệ chặt chẽ giữa sự phát triển nhận thức, hành vi ý chí, khả năng chú ý, ngôn ngữ, động cơ, giao tiếp và tình cảm - quan hệ xã hội của trẻ 6 tuổi………45

1.5 Cỏc yếu tố tỏc động đến sự phỏt triển tõm lý sẵn sàng đi học lớp 1 và những việc cần làm của gia đỡnh và trường mầm non để phỏt triển tõm lý sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi………47

1.5.1 Yếu tố giáo dục gia đình……….……….… 47

1.5.2 Yếu tố giỏo dục của lớp mẫu giỏo ở trường mầm non……… 51

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU……….57

2.1 Tổ chức nghiên cứu……… 57

2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiờn cứu……….57

2.1.2 Mẫu nghiờn cứu……… 58

2.1.3 Triển khai nghiờn cứu………60

2.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu……… 60

2.2.1.Phương phỏp nghiờn cứu văn bản và tài liệu……… 60

2.3.2.Phương phỏp trắc nghiệm………60

2.3.3 Phương phỏp điều tra bằng bảng hỏi (ankột)………65

2.3.4 Phương phỏp quan sỏt……… 66

2.3.5 Phương phỏp phỏng vấn sõu……… 67

2.3.6 Phương phỏp xử lý số liệu bằng thống kờ toỏn học……… 67

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIấN CỨU……… 68

3.1 Thực trạng phỏt triển tõm lớ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thỏi Bỡnh qua “Trắc nghiệm sẵn sàng đi học”……… 68

3.1.1 Đỏnh giỏ chung về sự phỏt triển tõm lớ sẵn sàng đi học của toàn bộ nghiệm thể qua “Trắc nghiệm Sẵn sàng đi học”……….68

Trang 4

3.1.2 So sánh sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của khách thể nghiên cứu

giữa các trường 75

3.1.3 Sự khác biệt về mức độ phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 theo tiêu chí giới tính 84

3.1.4 Sự khác biệt về mức độ phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 tỉnh Thái Bình theo xuất thân gia đình 85

3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình 88

3.2.1 Yếu tố trường mầm non với sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình 88

3.2.2 Nhận thức và việc chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ đến tuổi vào lớp 1 của phụ huynh ở tỉnh Thái Bình 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHỤ LỤC 118

1 Trắc nghiệm sẵn sàng đi học 119

2 Bảng hỏi Hiệu trưởng các trường mầm non 126

3 Bảng hỏi Phụ huynh học sinh 129

4 Câu hỏi phỏng vấn sâu Hiệu trưởng các trường mầm non 134

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục tiểu học ngay từ năm 1987 đã được ngành giáo dục coi là bậc

học “nền móng” của hệ thống giáo dục phổ thông (cấp I là nền, lớp 1 là móng)

Ở đây muốn ví nền giáo dục phổ thông hiện đại như một toà nhà đồ sộ được xây dựng trên nền cấp I mà lớp 1 là móng Nền móng có vững chắc mới có thể xây ngôi nhà cao tầng Điều này cho ta hình ảnh trực quan về vị trí và tầm quan trọng của giáo dục tiểu học, đặc biệt là lớp 1 trong hệ thống giáo dục phổ thông

Lớp 1 trường tiểu học là lớp học mà ở đó trẻ em 6 tuổi lần đầu tiên thực hiện hoạt động học với tư cách là hoạt động chủ đạo Lúc này trẻ chuyển từ hoạt động vui chơi sang một hoạt động hoàn toàn mới là hoạt động học tập Khác với hoạt động vui chơi tự do, thoải mái ở tuổi mẫu giáo, hoạt động học tập đòi hỏi một chất lượng mới trong sự phát triển của đứa trẻ cả về mặt trí tuệ, tình cảm, hành động ý chí Chính vì vậy vào giai đoạn đầu tiểu học ở trẻ em diễn ra một quá trình chuyển tiếp từ vui chơi sang học tập Đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời trẻ Sáu tuổi, theo Hồ Ngọc Đại, trẻ em sẽ đến với thầy với bạn, đến với “nền văn minh nhà trường hiện đại để có thêm những gì không có, không thể

có, không bao giờ có trong quá khứ 6 năm qua” [Theo (5), Tr 212] Chính vì vậy, để sớm thích nghi với hoạt động học tập, trẻ phải được chuẩn bị chu đáo từ trước để có tâm lý sẵn sàng đi học khi bước vào lớp 1 trường phổ thông

Tuy nhiên, thực tế hiện nay khi bước chân đến trường không phải tất cả mọi trẻ em đều được chuẩn bị đầy đủ về mặt tâm lý Nhiều bậc phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con và chuẩn bị cho trẻ khá đầy đủ về kiến thức lẫn cơ sở vật chất để trẻ bước vào lớp 1 Song, sự chuẩn bị của cha mẹ cũng như những ứng xử của họ với con không đúng cách, không khoa học nên dẫn đến những khó khăn tâm lý trong học tập khi trẻ vào đầu lớp 1 Nhiều trường mầm non theo yờu cầu của phụ huynh mà dạy chữ cho trẻ, trỏi với yờu cầu của ngành Theo Trần Trọng Thuỷ, đây chính là một trong

Trang 6

những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lưu ban, bỏ học ở học sinh cấp I [Xem thêm (10), Tr 20] Riêng năm 2008, số học sinh bỏ học của Việt Nam là 0,94% - tương ứng với khoảng 150 nghìn học sinh bỏ học trong tổng số 16 triệu học sinh các cấp học Các nghiên cứu từ những năm 1980 cho đến nay đều cho thấy ở bậc Tiểu học, hiện tượng lưu ban, bỏ học ở lớp 1 chiếm tỷ lệ vượt hơn hẳn các lớp khác [Xem thêm (15), (17)] Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện cụng tỏc phổ cập cấp I ở nước ta và công ước về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc: không được để cho học sinh các lớp 1, 2, 3 lưu ban (có cho nợ)

Nhiều thập niên qua, các nước trên thế giới đó có vo số các công trình nghiên cứu về tâm lý sẵn sàng đi học cũng như bước chuyển từ mẫu giáo sang lớp 1 trường tiểu học Tuy nhiên ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ bắt đầu tiến hành từ hơn chục năm trở lại đây Các tri thức về nội dung này ít được xó hội hoỏ, nặng về lý thuyết chung, nhẹ về lý thuyết thực tiễn Trên thế giới chỉ có 3 nước không có học sinh lưu ban, bởi họ có “chiến lược khơi dậy tiềm năng của trẻ” Ở Việt Nam cũng đang bước đầu làm quen với thuật ngữ này, tuy nhiên việc chuẩn bị cho trẻ trước khi trẻ bước vào lớp 1 ở nước ta cũn mang nặng tớnh

ỏp đặt, cứng nhắc

Vì vậy cần phải chỉ ra thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1(6 tuổi) ở trường phổ thông, từ đó góp phần làm cho việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học cho trẻ của gia đình và trường mầm non được tốt hơn

Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi tiến hành Nghiên cứu thực trạng phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình

2 Mục đích nghiên cứu

Chỉ ra thực trạng phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp

1 ở tỉnh Thái Bình, trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần làm cho việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1 trường phổ thông được tốt hơn

Trang 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xõy dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình

- Đề xuất một số kiến nghị gúp phần làm cho việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1 trường phổ thông được tốt hơn

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình

- 100 phụ huynh học sinh của 3 trường: Tiểu học Lê Hồng Phong, Tiểu học Thị trấn Vũ Thư, Tiểu học Tân Lập II

- 30 Hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thái Bình

5 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bìnhh trong quá trình phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ

6 Giả thuyết nghiên cứu

Chúng tôi cho rằng: Sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của đa số trẻ em

đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình còn chưa cao Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, song, chủ yếu là do sự chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học cho trẻ ở lứa tuổi này của các bậc cha mẹ và của trường mầm non còn những bất cập nhất định

Trang 8

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản và tài liệu

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Trong tiến trình phát triển tâm lý của trẻ có một mốc đặc biệt quan trọng,

đó là thời kì trẻ em chuẩn bị đi học, sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời đứa trẻ Vì thế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu công phu, tỉ

mỉ về chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ em trước khi vào lớp 1

+ Hướng thứ 2 nhấn mạnh việc rèn luyện kỹ năng xã hội, ngôn ngữ giao tiếp (không đơn giản là ngôn ngữ), tình cảm xã hội (tình cảm cộng đồng hay hướng ngoại, chứ không đơn giản là tình cảm), nhận thức các quan hệ và sự kiện

xã hội (không đơn giản là nhận thức đồ vật, chữ cái, chữ số…) Steve Grineski (dẫn theo tác giả Đặng Thị Phương Mai) trong “Cooperative learning in Physical Education” (Học cỏch hợp tỏc cựng nhau trong giỏo dục thể chất) cho rằng, những kỹ năng xã hội cần thiết để làm việc trong xã hội gồm: Lắng nghe người khác; giải quyết xung đột; tương trợ và động viên người khác; hoàn thành phần việc được giao; bày tỏ niềm vui trước sự thành công của người khác; thể hiện khả năng phê bình [Xem thêm (12)]

Nếu chỉ theo một trong hai hướng nghiên cứu trên thì chưa đủ để đánh giá

về tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ Vì vậy để đánh giá một cách khách quan cần

Trang 10

phải nghiên cứu theo hướng toàn diện kết hợp cả sự phát triển thể chất - vận động, tâm lý và các quan hệ xã hội của trẻ

- Năm 1970 ở Pháp bộ trắc nghiệm trí lực cho trẻ em chuẩn bị vào lớp 1

“Đến tuổi học” (Test de Maturité Scolaire) có khả năng dự báo về sự “chín muồi học đường” của trẻ vào lớp 1 ngay từ đầu năm học [Theo (13), Tr 11]

- Năm 1985 ở Nhật có bộ trắc nghiệm “Test Sẵn sàng đi học” đo khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ em ở lứa tuổi này

- Theo Trung tâm quốc gia về tài liệu sư phạm của Pháp (1995), làm cho trẻ mẫu giáo học cách “Sống cùng nhau” (vivre ensemble) là mục tiêu đầu tiên phải hướng tới Mỗi đứa trẻ phải học cách chia sẻ với người khác về những hoạt động cùng nhau, học cách quan tâm tới những người xung quanh.Trẻ sẽ dần dần khám phá thế giới thông qua những mối quan hệ phụ thuộc, những qui định của tập thể Tập cho trẻ biết lắng nghe người khác nói, tôn trọng và thực hiện những quy định của tập thể, của lớp, của trường Tập cho trẻ biết bày tỏ suy nghĩ của mình, biết tranh luận về những vấn đề đặt ra trong cuộc sống hàng ngày Từ đó trẻ sẽ tự khẳng định mình và góp phần hình thành nhân cách cho trẻ Cuối cùng học cách sống cùng nhau chính là học cách chia sẻ, hợp tác với nhau

- Bộ giáo dục Quebac (Canada) nêu rõ: “Mục tiêu của giáo dục mầm non

là khuyến khích sự phát triển toàn diện của trẻ bằng cách giúp trẻ tự hình thành thái độ và các khả năng có thể hỗ trợ sự thành công về học vấn và nhân cách bằng cách khuyến khích trẻ hoà nhập vào xã hội” Điều này không đơn giản là dạy trẻ học chữ, học chữ số, học vẽ tranh hay tập vận động mà đòi hỏi phải có những biện pháp phối hợp với nhau, nhất là những biện pháp cho phép kết nối những nỗ lực khác nhau

- Công trình ECLS - K (Early Childhood Longitudinal Study, Kingdergarten Class of 1998 - 1999, US - Nghiên cứu dọc theo tuổi ấu thơ của trẻ, lớp mẫu giáo năm 1998 - 1999, Mỹ) nhằm 3 mảng vấn đề lớn là:

1) Thực trạng và xu thế phát triển của trẻ

2) Việc học và khả năng thực hiện ở các lớp đầu tiểu học

Trang 11

3) Tương tác giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng

ECLS và nhiều nghiên cứu khác đã cho khối lượng dữ liệu rất lớn để những nước tham gia, trước hết là Mỹ và Anh, phát triển hệ thống chuẩn học sớm và phát triển của trẻ em lứa tuổi từ 0 - 8 Trong các chuẩn này đề cập những lĩnh vực phát triển của trẻ, học sớm là ý tưởng gần với khái niệm chuẩn bị cho trẻ đi học và nó gồm các lĩnh vực ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội, thể chất

và vận động [Theo (12)]

- Xuất phát từ việc ở Pháp hàng năm có tới 20% học sinh phải lưu ban, B.Zazzo (dẫn theo tỏc giả Nguyễn Thị Hồng Nga) và các cộng sự đã có công trình nghiên cứu: “Bước chuyển lớn từ mẫu giáo lên cấp 1” của trẻ em Trong

đó các tác giả đã nghiên cứu một cách khá toàn diện quá trình thích ứng của trẻ lớp 1 với hoạt động học tập và sinh hoạt tập thể Về thích ứng với học tập ở trẻ lớp 1, công trình đã đạt được những kết quả đáng chú ý Có thể căn cứ vào những khảo sát về các yếu tố chi phối mức độ thích ứng của trẻ vào đầu năm học

để tiến hành dự báo những trẻ có khả năng sẽ thích ứng kém với hoạt động học tập B.Zazzo đã thử tách riêng những trẻ này lập thành 1 lớp gọi là “lớp 1 thích ứng” Qua thử nghiệm lớp 1 thích ứng, B.Zazzo cho rằng, những biện pháp tác động hiệu quả là những biện pháp tâm lý Nhưng trước hết và hiệu quả nhất là giáo viên lớp 1 hiểu đặc điểm tâm lý học sinh, những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình chuyển từ mẫu giáo lên lớp 1

- C.M.Sukina (dẫn theo Đặng Thị Phương Mai) đã có công trình nghiên cứu về sự thích ứng học tập của trẻ 6 tuổi Nghiên cứu của bà đã chỉ ra rằng sự thích ứng của trẻ 6 tuổi với hoạt động học tập là không như nhau và có 3 trình độ: cao, trung bình và thấp với những biểu hiện cụ thể Bà cũng chỉ ra phương pháp tác động sư phạm ở trường mẫu giáo và trường tiểu học ảnh hưởng lớn tới

sự thích ứng của trẻ Bà cho rằng, để giúp trẻ thích ứng tốt với hoạt động học tập cần có giai đoạn quá độ mà ở đó phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi và quan hệ cô cháu của trường mẫu giáo được duy trì trong nửa năm đầu lớp 1

Trang 12

Các công trình nghiên cứu ở trên đều khẳng định mức độ cần thiết của giai đoạn trẻ bước vào lớp 1 Trong giai đoạn chuyển tiếp này, ở trẻ diễn ra quá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập

Vì vậy, tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 cũng như sự chuẩn bị cho trẻ 6 tuổi vào lớp

1 trường phổ thông và khả năng thích ứng ở lớp đầu bậc tiểu học là vấn đề đã được nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên chủ yếu các công trình nghiên cứu trên thế giới chỉ tiếp cận một trong hai hướng: hoặc là nghiên cứu tâm sinh lý lứa tuổi, hoặc là tiếp cận văn hoá xã hội Để đánh giá một cách khách quan tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi, cần phải đánh giá toàn diện cả

về khả năng tâm vận động, sự phát triển tâm lý và các kỹ năng xã hội của trẻ Bên cạnh đó, việc đi sâu tìm hiểu sự tác động của trường mầm non và các bậc phụ huynh tới quá trình hình thành, phát triển tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 của trẻ cũng là điều vô cùng quan trọng mà ít được quan tâm nghiên cứu

1.1.2 Ở trong nước:

Vấn đề tâm lý sẵn sàng đi học hay chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 được bàn đến trong nhiều tài liệu, chủ yếu là giáo trình và tài liệu tập huấn giáo viên Tác giả Nguyễn Kế Hào trong tài liệu “Sự phát triển trí tuệ của học sinh đầu tiểu học” - năm 1985 và “Học sinh tiểu học và nghề dạy học” - năm 1992, đã đề cập đến đặc điểm phát triển tâm lý, trí tuệ của trẻ 6 tuổi và việc chuẩn bị cho trẻ em đến trường

Ngay từ năm 1988 với tài liệu “Tâm lý trẻ em trước tuổi học” và với giáo trình bồi dưỡng giáo viên mầm non “Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông” xuất bản năm 1998, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự đã chỉ rõ ý nghĩa của việc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông, yêu cầu và nội dung chuẩn bị cho trẻ Trong nhiều bài viết khác, tác giả cho rằng nếu việc chuẩn bị không phù hợp sẽ gây những hậu quả đáng tiếc khi trẻ vào lớp 1

Tác giả Đào Như Trang và cộng sự nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục trẻ 5 tuổi chuẩn bị đi học lớp 1 Nội dung chương trình nêu rõ cần

Trang 13

chuẩn bị những gì cho trẻ để trẻ có đủ năng lực tiếp nhận chương trình của bậc tiểu học

Theo Trần Trọng Thuỷ, “Sự sẵn sàng đi học của trẻ cần phải được chuẩn

bị theo 3 hướng: những tri thức cần thiết, những kỹ năng điều khiển hành vi của bản thân và các động cơ kích thích hứng thú học tập” [Theo (12)]

Năm 1993, Trung tâm Tâm lý học - Sinh lý lứa tuổi (Viện Khoa học Giáo dục) đã nghiên cứu mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1 bằng trắc nghiệm “Đến tuổi học” (được Việt hoá từ bộ trắc nghiệm “Test de Maturité Scolaire” của Pháp) [Theo (13)]

Test “Đến tuổi học” cũng được tác giả Phan Trọng Ngọ và Dương Diệu

Hoa sử dụng nghiên cứu đề tài: “Thử nghiệm Test Đến tuổi học ở trẻ chuẩn bị

vào lớp 1” [Theo (16), tr13 - tr14]

Đến năm 1995, Trung tâm này lại tiến hành một đề tài nghiên cứu “Sự thích nghi với hoạt động học tập” của học sinh đầu bậc tiểu học do Vũ Thị Nho làm chủ nhiệm Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình thích ứng với học tập thể hiện chủ yếu trên hai mặt: sự thích ứng với các mối quan hệ xã hội mới ở lớp học, trường học và sự thích ứng với chính những đòi hỏi của việc học Về sự thích ứng học tập, có 20 - 30% học sinh lớp 1 khi vào trường học kém thích ứng với hoạt động học tập Phần lớn những em này thường không qua mẫu giáo, gia đình lại không có ý thức và điều kiện chuẩn bị trước tâm lý sẵn sàng đi học cho con

Cũng trong năm 1995, nhiều công trình nghiên cứu tuy không trực tiếp tìm hiểu về tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi học nhưng cũng có liên quan khá nhiều đến vấn đề này như: đề tài “Phát hiện năng lực khái quát hoá của học sinh tiểu học” do Phạm Thị Đức làm chủ nhiệm trong đó có nghiên cứu mức độ khái quát hoá của học sinh đầu cấp I; đề tài “Hình thành tính kỷ luật của học sinh lớp 1” của Nghiêm Thị Phiến

Năm 1997, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học sư phạm tâm lý của Nguyễn

Thị Hồng Nga “Góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm Sẵn sàng đi học cho trẻ 6

Trang 14

tuổi vào lớp 1” đã xây dựng bộ “Trắc nghiệm sẵn sàng đi học” trên cơ sở bổ sung, hoàn chỉnh “Test P.C” (phát triển chậm), kế thừa trắc nghiệm “Đến tuổi học” và tham khảo “Test Sẵn sàng đi học” của Nhật Bản (1985) Bộ trắc nghiệm này đo cả sự sẵn sàng về mặt trí tuệ và giao tiếp, thích ứng xã hội của trẻ 6 tuổi, hiện cũng được nhiều tác giả sử dụng vào công tác nghiên cứu và tuyển sinh

Theo chương trình Giáo dục mầm non mới của Bộ giáo dục và Đào tạo (bắt đầu thử nghiệm từ năm 2005 - 2006), mục tiêu giáo dục mầm non đã chú trọng đến việc hình thành một số phẩm chất cho trẻ như: tính tự tin, tự lập, tính sáng tạo, tính hoà nhập, kĩ năng giao tiếp; đã quan tâm hơn đến việc hình thành thói quen, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống thực của trẻ Nội dung giáo dục mầm non được cấu trúc theo các lĩnh vực: phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm, phát triển thẩm mỹ

Năm 2007, tác giả Đặng Thị Phương Mai đã nghiên cứu đề tài Luận án Tiến sĩ Giáo dục học: “Chuẩn bị về mặt xã hội cho trẻ mẫu giáo lớn sẵn sàng đi học lớp 1 ở đồng bằng sông Cửu Long” Trong đó tác giả cũng sử dụng kết hợp test “Sẵn sàng đi học” của Nguyễn Thị Hồng Nga để đánh giá sự sẵn sàng đi học

về mặt xã hội của trẻ lớp mẫu giáo lớn

Trong giai đoạn 2005 - 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với UNICEF thực hiện Dự án xây dựng chuẩn phát triển của trẻ em Việt Nam 72 tháng tuổi (tức là cuối cùng của tuổi mầm non) Dự án này thực chất là hoạt động chịu ảnh hưởng của xu thế quốc tế, bắt đầu dự án quốc tế mang tên ECLS nói trên, mang phong cách và kỹ thuật hiện đại

Đầu năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức cho ra mắt bản Dự thảo “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” để lấy ý kiến dư luận Bản dự thảo bao gồm 29 chuẩn chia làm 4 lĩnh vực: Lĩnh vực phát triển thể chất, lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội, lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp, lĩnh vực phỏt triển nhận thức và sẵn sàng với việc học Trong đó, lĩnh vực phát triển nhận thức, sẵn sàng với việc học gồm có các chuẩn sau: Chuẩn nhận thức về môi

trường xó hội, Chuẩn nhận thức về môi trường tự nhiên, Chuẩn nhận thức về

Trang 15

nghệ thuật, Chuẩn nhận thức về số, đếm và đo, Chuẩn nhận thức về hỡnh học và hướng trong không gian, Chuẩn nhận thức về thời gian, Chuẩn về sự tũ mũ và ham hiểu biết, Chuẩn chú ý có chủ định và kiờn trỡ, Chuẩn khả năng suy luận,

Chuẩn khả năng sáng tạo Hiện đang có rất nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh bộ

“Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” Tuy nhiên việc lấy ý kiến dư luận cho bộ “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” cũng chỉ là một việc làm cần thiết trước khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra quyết định chính thức

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong nước về lứa tuổi bắt đầu vào lớp 1

(6 tuổi) còn ít và mới ở bước đầu thích nghi những trắc nghiệm của nước ngoài Trong khi đó ở các nước trên thế giới, các công trình nghiên cứu tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 được tiến hành trước đó hàng chục năm Từ năm

1993 trở về trước, các nội dung về học sinh đầu bậc tiểu học hoặc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông… chủ yếu chỉ được bàn trong các giáo trình và tài liệu tập huấn giáo viên mầm non, các công trình nghiên cứu sâu về lứa tuổi này chỉ bắt đầu

từ năm 1993 trở lại đây, nhưng số lượng còn rất hạn chế Riêng đối với tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ em 6 tuổi bước vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình cho đến nay chưa có

đề tài nào nghiên cứu Thái Bình là một tỉnh có truyền thống hiếu học, hàng năm tỷ

lệ học sinh đỗ cấp ba đứng thứ 3 toàn quốc và đỗ đại học, cao đẳng đứng thứ 6 cả nước Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi ở bậc học nền móng (lớp 1) của tỉnh Thái Bình là việc làm cần thiết, qua đó góp phần làm cho việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 trường phổ thông được tốt hơn

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Khái niệm “Tuổi vào lớp 1” (còn gọi là Tuổi đi học)

Trên thế giới hiện nay, ở những nước khác nhau trẻ em bắt đầu vào lớp 1

ở những độ tuổi không giống nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm văn hoá và tập quán của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc

Ở Bănglađet, Mianma, trẻ em vào lớp 1 lúc 5 tuổi Ở Ấn Độ, Lào, Hàn Quốc, trẻ em vào lớp 1 lúc 6 tuổi Ở Thái Lan, Philippin thì đến 7 tuổi trẻ em mới bắt đầu vào lớp 1

Trang 16

Ở nước ta, trước đây trẻ em 6 tuổi bắt đầu đi học lớp vỡ lòng (hay còn gọi

là lớp Mẫu giáo lớn) Ở giai đoạn chuẩn bị để vào lớp 1, trong vòng một năm học đó, người ta đã dạy trẻ tập đọc, tập viết, tập đếm và nhận mặt chữ số từ 1 đến 10 Đến 7 tuổi thì những trẻ em có đủ điều kiện như biết đọc, biết viết, biết đếm và nhận mặt chữ số từ 1 đến 10 sẽ được vào học lớp 1 [Xem thêm (9), Tr 145]

Từ khi cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba triển khai (năm 1981) trẻ em cả nước bắt đầu đi học lớp 1 từ 6 tuổi Thực tiễn gần 10 năm triển khai cải cách giáo dục và hơn mười năm nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp 1 (6 tuổi) cho thấy, ở độ tuổi này nếu có sự phát triển bình thường về sinh lí và tâm lí thì các

em hoàn toàn có thể học lớp 1, có thể lĩnh hội chương trình học do Nhà nước quy định và cả chương trình cao hơn (chương trình hướng vào khả năng phát triển tối ưu của trẻ) Trẻ em đi học lớp 1 từ 6 tuổi là thích hợp, chưa thấy biểu hiện của những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể chất và tâm lí của trẻ do việc học gây ra [Xem thêm (10), Tr 23]

Như vậy, ở nước ta, khái niệm " tuổi vào lớp 1 " được hiểu là khi trẻ

em đến 6 tuổi

1.2.2 Khái niệm "lớp 1"

Đối với mỗi đứa trẻ, 6 tuổi là một “cột mốc” đánh dấu một bước phát triển tâm lý cực kỳ quan trọng cho cả cuộc đời Ở tuổi này, lần đầu tiên trong cuộc đời, trẻ bắt đầu vào học lớp 1 của trường phổ thông, được học tập theo phương pháp nhà trường, mở đầu cho việc tiếp thu những kiến thức khoa học do loài người phát hiện ra, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện nhân cách trong tương lai Dưới góc nhìn tâm lý học thì đây là quá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập (Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo bắt đầu được hình thành và phát triển)

Theo D.B.Elcônhin, đặc điểm cơ bản của môi trường nhà trường đối với học sinh lớp 1 là:

Trang 17

- Đến trường, trẻ bước vào “xã hội công dân” với vai trò, vị trí mới trong cuộc sống, hình thành quan hệ xã hội mới: thầy – trò, bạn bè cùng học và với chính bản thân mình

- Vào trường, trẻ bắt buộc tuân thủ các quy tắc, luật lệ cho mọi người – những quy tắc ứng xử xã hội quy định hành vi cá nhân Ví dụ: phải làm việc theo lệnh của thầy, phải giữ trật tự…

- Vào trường trẻ học cách cư xử với thế giới xung quanh, cư xử bằng khái niệm khoa học, trên cơ sở tư duy khoa học

Tất cả những đặc điểm trên được quyết định và thể hiện tập trung ở hoạt động chủ đạo mới: hoạt động học tập [Theo (12), tr55 - 56]

Như vậy, lớp 1 là lớp học đầu tiên của bậc tiểu học, ở đó phần đông là trẻ 6 tuổi, bắt đầu được tiếp thu những kiến thức khoa học do loài người phát hiện ra Thông qua hoạt động chủ đạo mới là hoạt động học tập ở lớp 1, trẻ phải tuân thủ các quy tắc của nhà trường; thay đổi cách ứng xử với thế giới xung quanh bằng các khái niệm khoa học trên cơ sở tư duy khoa học; hình thành quan hệ xã hội mới giữa thầy - trò, bạn bè và với chính bản thân mình

1.2.3 Khái niệm “Tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1”

Theo Tiến sĩ Giáo dục học Đặng Thị Phương Mai, sự sẵn sàng đi học lớp

1 là sự đạt được một mức độ phát triển về thể chất, tâm lý, xã hội cho phép trẻ sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu của trường tiểu học [Theo (12)]

Như vậy, sự sẵn sàng đi học lớp 1, theo định nghĩa trên, bao gồm: khả năng sẵn sàng về mặt tâm lý, khả năng sẵn sàng về thể chất và khả năng sẵn sàng về mặt xó hội Đây là ba yếu tố đủ để tạo nên sự sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1 Tuy nhiên trong cách diễn đạt định nghĩa cũn nhắc lại từ ngữ của khỏi niệm “sẵn sàng đi học” “Sẵn sàng” theo từ điển tiếng Việt, đó là trạng thỏi

cú thể sử dụng hoặc hành động được ngay do đó được chuẩn bị đầy đủ từ trước Theo cỏch hiểu này, định nghĩa trên có thể diễn đạt lại như sau: Sự sẵn sàng đi học lớp 1 là sự đạt được một mức độ phát triển nhất định về thể chất, tõm lý, xó

Trang 18

hội cho phộp trẻ 6 tuổi đáp ứng được những yêu cầu mà lớp 1 ở trường tiểu học

đề ra

Định nghĩa trên về “sự sẵn sàng đi học” của Đặng Thị Phương Mai đã khái quát được đầy đủ các yếu tố của sự sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi Đây là những nội dung rất gần với khái niệm “tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1” của đề tài nghiên cứu Tuy nhiên hai khái niệm này không hoàn toàn giống nhau Nếu núi

về tõm lý sẵn sàng đi học lớp 1 thì sự phỏt triển thể chất ở đây chỉ nói về sự phát

triển tâm vận động

Cũng bàn về khái niệm “sẵn sàng đi học” của trẻ đến tuổi vào lớp 1,

Nguyễn Thị Hồng Nga lại có định nghĩa như sau: Sẵn sàng đi học là trạng thái của trẻ em đã được chuẩn bị đầy đủ về mặt trí tuệ, hành vi ý chí, khả năng thích ứng với môi trường học đường và nhu cầu hứng thú đi học

Ở đây, tác giả đã căn cứ vào Quyết định 55 của Bộ Giáo dục & Đào tạo (năm 1990) quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo của nhà trẻ – trường mẫu giáo

và Chuẩn đánh giá chất lượng mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) của Vụ mầm non 1996, khi bước chân vào trường phổ thông trẻ phải được chuẩn bị cả về mặt tinh thần lẫn về thể chất cho việc học tập, tức là chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ Trẻ sẵn sàng bước vào thời kỳ mới quan trọng trong cuộc sống của mình, sẵn sàng thực hiện những yêu cầu đa dạng mà nhà trường đề ra cho các em Trước hết trẻ phải được chuẩn bị tâm lý cho việc học ở trường phổ thông, nghĩa là nó

có một trình độ phát triển tâm lý cần thiết để bắt đầu học tập:

- Trình độ phát triển trí tuệ

- Có kỹ năng ban đầu trong lĩnh vực học tập (như kỹ năng cầm bút, kỹ năng thực hiện theo tín hiệu )

- Phải biết điều khiển hành vi của mình một cách có chủ định

- Biết xây dựng quan hệ qua lại với trẻ khác

- Có nguyện vọng, hứng thú đối với việc đến trường (quan trọng)

- Ngoài ra cần phải tính đến những đặc điểm về mức độ phát triển thể chất khi trẻ bước vào lớp 1

Trang 19

Toàn bộ những điều kiện trên tạo nên cái được gọi là “sự sẵn sàng đi học” [Theo (13), Tr 34]

Đây là định nghĩa khá đầy đủ và chi tiết Tuy nhiên để tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm “tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1” của trẻ 6 tuổi, chúng tôi tiếp tục xem

xét tài liệu mới nhất của Vụ Giáo dục Mầm non: “Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi” Trong đó nêu rõ mục tiờu

chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giỏo 5 - 6 tuổi bao gồm: Phỏt triển tỡnh cảm và quan

hệ xó hội, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thể chất

Theo đó, trẻ 6 tuổi trũn được coi là có khả năng sẵn sàng đi học khi có đủ

4 điều kiện trên: sự phát triển tỡnh cảm và quan hệ xó hội, sự phỏt triển nhận thức, sự phát triển ngôn ngữ và sự phát triển thể chất Ở phạm vi đề tài này, sự phát triển thể chất là sự phát triển tâm vận động

Từ những quan điểm trên, chúng tôi tán thành nhất với định nghĩa của Nguyễn Thị Hồng Nga và khái quát thành định nghĩa “tâm lý sẵn sàng đi học

lớp 1” của đề tài nghiên cứu như sau: Tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 là trạng thái của trẻ 6 tuổi đã được chuẩn bị đầy đủ về mặt trí tuệ, động cơ, ý chí, tình cảm

- quan hệ xã hội và các kỹ năng vận động cho phép trẻ đáp ứng được ngay những yêu cầu của lớp 1 trường tiểu học

Như vậy, tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 của trẻ 6 tuổi là sự thống nhất toàn diện giữa các mặt trí tuệ, động cơ, hứng thú đi học, khả năng làm chủ hành vi cùng với các kỹ năng, tình cảm xã hội và khả năng thành thục của hệ thần kinh Trẻ có đầy đủ các yếu tố này sẽ dễ dàng thích nghi ngay với hoạt động học tập ở lớp 1 và các hoạt động khác ở trường tiểu học

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÍ SẴN SÀNG ĐI HỌC CỦA TRẺ EM TRÒN 6 TUỔI

1.3.1 Khái niệm “hoạt động chủ đạo”

Cơ cấu hoạt động có hai hình thái (hình thức): bên ngoài và bên trong Tức là có sự chuyển hoá về hình thức của một bản chất Hình thái bên ngoài được coi là cơ sở Việc tổ chức quá trình chuyển hoá của hoạt động - từ hình thái bên ngoài, vật chất, chuyển thành hình thái bên trong, tinh thần, thành nhân cách

Trang 20

của mỗi đứa trẻ Nhưng quá trình sống hiện thực không bao giờ chỉ xẩy ra một chiều mà còn có quá trình biến hoá ngược lại - từ hình thái bên trong, tinh thần, chuyển thành hình thái bên ngoài, vật chất

Sự chuyển hoá liên tục giữa hoạt động bên trong và hoạt động bên ngoài (giữa xuất tâm và nhập tâm) trong quá trình vận hành của hoạt động từ khi bắt đầu đến khi kết thúc hoạt động (xuất hiện sản phẩm của hoạt động trong hiện thực)

Nguyên lý cơ bản của giáo dục là biến những thành tựu của xã hội loài người thành tài sản cho mỗi cá nhân Muốn thế phải tổ chức được hoạt động bên ngoài của đứa trẻ Mỗi đối tượng lĩnh hội xác định một hoạt động Vì vậy, tổ chức hệ thống các hoạt động của trẻ em bằng cách tổ chức chính bản thân hệ thống các đối tượng và tổ chức sự phát triển của hệ thống này

Thực chất của việc tổ chức hệ thống đối tượng là ngày càng cụ thể hoá hai lớp đối tượng A, B Trong đó: Lớp A gồm những quan hệ của trẻ em với người lớn, với xã hội; lớp B gồm những quan hệ của trẻ em với thiên nhiên, với thế giới đồ vật do loài người sáng tạo (hay phát hiện ra) Những đối tượng cho hoạt động lĩnh hội của trẻ trong các lớp A, B ấy thoạt đầu còn trừu tượng, chưa phân hoá, về sau ngày càng cụ thể hơn, càng phát triển triệt để hơn, thành những đối tượng cụ thể Mỗi đối tượng này xác định một kiểu hoạt động Sự phát triển các loại hình hoạt động là sơ sở hiện thực tạo ra sự phát triển của trẻ em

Cuộc “khủng hoảng” năm 3 tuổi đánh dấu một sự chuyển biến của chủ thể đối với bản thân mình: một quan hệ C với bản thân mình

Trang 21

Từ 3 - 6 tuổi: đối tượng thuộc quan hệ A: các quan hệ, chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày

Từ 6 - 7 đến 11 - 12 tuổi: đối tượng thuộc lớp B: các tri thức khoa học Cuộc khủng hoảng thứ hai thường xẩy ra ở quãng 12 - 13 tuổi Quan hệ C

có một trình độ phát triển cao hơn lần đầu

Từ 12 đến 16,17 tuổi: đối tượng thuộc lớp A: quan hệ bạn bè, quan hệ thân tín

Từ 18 tuổi trở đi: đối tượng thuộc lớp B: nghề nghiệp chuyên môn

Nói đến hoạt động chủ đạo (Theo Elkonhin) là nói đến sự xuất hiện một hoạt động có đối tượng lần đầu tiên xuất hiện (đối với đứa trẻ)

Nếu hiểu theo giả thuyết này thì mỗi giai đoạn (lứa tuổi) chỉ đặc trưng bởi một lớp đối tượng nổi lên hàng đầu Tuy nhiên trong cuộc sống thực lại không chỉ có thuần một loại hoạt động mà có hai, thậm chí cả ba quan hệ A, B, C cùng một lúc Vì vậy, giả thuyết của D.B Elkonhin đã gây ra nhiều ý kiến trái ngược nhau về vấn đề chỉ có một hoạt động chủ đạo duy nhất cho một lứa tuổi hay một lứa tuổi có thể có nhiều hoạt động chủ đạo

Một giả thuyết khác cho rằng cùng một lúc có hai đối tượng mới cùng xuất hiện, tức là cùng một lúc hình thành hai hoạt động chủ đạo

Tán thành với D.B Elkonhin, Hồ Ngọc Đại cho rằng: mỗi giai đoạn phát triển được đặc trưng bởi một hoạt động chủ đạo duy nhất Vấn đề là xác định

đúng được đối tượng mới xuất hiện, theo logic của cuộc sống

Căn cứ vào giả thuyết mỗi giai đoạn phát triển được thực hiện bởi một hoạt động chủ đạo, có thể hình dung qua sơ đồ sau:

Từ 0 - 1 tuổi: sơ đồ hết sức sơ lược, chỉ một hoạt động duy nhất, đồng thời cũng là hoạt động chủ đạo

Từ 1 - 3 tuổi: có hai hoạt động, một là hoạt động cũ còn tiếp tục và một hoạt động mới, lần đầu tiên được hình thành: hoạt động trên đối tượng là các đồ vật hàng ngày, kết tinh năng lực người Điều đó cũng giống hệt như khi trong xã hội đã có xe đạp, người ta vẫn đi bộ

Trang 22

Từ 18 tuổi: sẽ có 6 kiểu hoạt động, trong đó chỉ có một hoạt động mới, lần đầu tiên được hình thành trên đối tượng mới là nghề nghiệp Năm kiểu hoạt động khác vốn là hoạt động của các giai đoạn trước vẫn tiếp tục (và tiếp tục suốt đời) tồn tại và phát huy tác dụng

Chẳng hạn, hoạt động chủ đạo của người lớn là lao động sản xuất Nhưng người lớn không chỉ có lao động sản xuất mà còn có vui chơi, học tập [Theo (5), Tr 74 - Tr 78]

Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển tâm lý chỉ có một hoạt động chủ đạo

duy nhất, hay có thể có vài hoạt động chủ đạo vẫn là vấn đề đang tranh cãi giữa các nhà tâm lý học

Nói về khái niệm của hoạt động chủ đạo, Leonchiep nhấn mạnh: Hoạt

động chủ đạo là hoạt động mà sự phát triển của hoạt động ấy quy định những biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình tâm lý và trong những đặc điểm tâm lý của nhân cách trẻ, về mặt tâm lý, có thể coi những dấu hiệu phát triển tư duy

của trẻ là một biểu hiện rõ nét nhất

Sự phát triển diễn ra theo từng chặng, tuân theo một quy luật vận động chung và mỗi chặng hay còn gọi là giai đoạn có một hoạt động đóng vai trò chủ đạo Người ta thường chia quá trình này thành các giai đoạn cơ bản như sau:

Giai đoạn Hoạt động chủ đạo

Từ sơ sinh đến 1 tuổi Giao lưu xúc cảm trực tiếp

Từ 1 đến 3 tuổi Hoạt động với đồ vật

Từ 3 đến 6 tuổi Hoạt động vui chơi

Từ 6 đến 12 tuổi Hoạt động học tập Hoạt động giao lưu xúc cảm trực tiếp hướng tới làm thoả mãn nhu cầu chủ yếu về mặt xúc cảm của trẻ dưới 1 tuổi Đến giai đoạn tiếp theo, từ 1 đến 3 tuổi, nhu cầu khám phá thế giới đối tượng chủ yếu là khám phá chức năng và phương thức sử dụng đồ vật bao trùm đời sống tâm trí của trẻ vì vậy xuất hiện

hoạt động với đồ vật, tạo ra ở trẻ một đặc trưng mới về tư duy, đó là: tư duy trực quan hành động

Trang 23

Từ 3 tuổi ở trẻ bắt đầu xuất hiện khả năng tách rời hành động ra khỏi đồ

vật nảy sinh các kí hiệu về đồ vật, làm cơ sở hình thành tư duy trực quan hình tượng

Vào học phổ thông, để nắm được các tri thức khoa học, tư duy của trẻ phải đạt tới trình độ phát triển cao hơn so với sự phát triển trước đó Quá trình trẻ em tham gia vào hoạt động học tập, lĩnh hội tri thức, hình thành khái niệm thông qua các hành động học được thực hiện bằng hệ thống thao tác là điều kiện kích thích sự xuất hiện năng lực tư duy mới tương ứng Động cơ của sự lĩnh hội tri thức ở học sinh nằm ở cuối quá trình hoạt động, tức là ở kết quả của hoạt động: chiếm lĩnh tri thức khoa học

Hoạt động chủ đạo diễn ra trong khoảng thời gian khá dài, ban đầu còn ở dạng sơ khai khi đạt tới hình thái chính thức cũng là lúc chuẩn bị chuyển sang thời kì với hoạt động chủ đạo mới lại bắt đầu ở dạng sơ khai [Theo (22)]

Tóm lại, hoạt động chủ đạo có thể hiểu là hoạt động mà sự phát triển của

hoạt động ấy quy định sự xuất hiện những đặc trưng tâm lý mới, những biến đổi chủ yếu nhất trong quá trình phát triển tâm lý ở giai đoạn đó

Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi, hoạt động chủ đạo của học sinh lớp 1 là hoạt động học tập Như vậy, việc chuẩn bị của trường mầm non và phụ huynh học sinh cho trẻ mẫu giáo lớn vào lớp 1 trường phổ thông bao gồm những việc làm nhằm tạo điều kiện thuận lợi để trẻ 6 tuổi có thể

dễ dàng thích ứng với hoạt động học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo Đó là một số kỹ năng trí tuệ, kỹ năng giao tiếp xã hội với thầy cô, với bạn bè phù hợp với yêu cầu hình thành hoạt động học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo trong những ngày đầu tiên khi trẻ bước vào lớp 1

1.3.2 Một số đặc điểm của hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo với tƣ cách là hoạt động chủ đạo

1.3.2.1 Đặc điểm về đối tượng của hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo

Trang 24

Đối tượng của hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo là quan hệ của trẻ với thế giới con người, bao gồm các quan hệ giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với chính bản thân mình

Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong khi chơi với nhau Trò chơi đối với trẻ mẫu giáo thường phản ánh một mặt nào đó của các mối quan hệ xã hội của người lớn Bởi vậy, để tiến hành một trò chơi nhằm mô phỏng lại đời sống xã hội thì nhất thiết phải có nhiều trẻ em tham gia

Những mối quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi:

+ Những quan hệ chơi: Đó là những quan hệ qua lại của các vai trong trò chơi theo một chủ đề nhất định, mô phỏng mối quan hệ của người lớn trong xã hội

+ Những quan hệ thực: Đó là những quan hệ qua lại giữa những trẻ là những người tham gia trò chơi, những người bạn cùng thực hiện một công việc chung Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, các quan hệ xã hội được bộc lộ ra rõ rệt Việc thực hiện hành động của vai chơi là phải tạo ra các mối quan hệ với các vai khác nhau Sức sống của trò chơi đóng vai theo chủ đề là ở chỗ nó tạo ra được những mối quan hệ giữa các vai Đó chính là bản chất của trò chơi đóng vai theo chủ đề

1.3.2.2 Đặc điểm của các hành động chơi trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo

Trong mỗi vai chơi, trẻ phải biết thực hiện các hành động của vai đó Vì đúng vai cú nghĩa là tỏi tạo lại hành động của người lớn với các đồ vật trong những mối quan hệ nhất định với những người xung quanh Những hành động này xuất phỏt từ hành động thực tế mà trẻ đó trụng thấy trong cuộc đời thực hay nghe kể lại Những thao tác của hành động lại phụ thuộc vào đồ chơi, như vậy hành động chơi và cả thao tác chơi đều phải phù hợp với điều kiện thực tế, cũng

có nghĩa là để thực hiện vai chơi trẻ không hành động tuỳ tiện mà hành động chơi phải xuất phát từ vai chơi Vai chơi trong trò chơi quy định hành động của

Trang 25

trẻ đối với đồ vật và đối với bạn cùng chơi Tuy nhiên đây chỉ là hành động mô phỏng, do đó nó không đũi hỏi phải có thao tác đúng kỹ thuật, mà chỉ cần phỏng theo hình thức của nó và mang tính khái quát Chính tính khái quát và ước lệ của hành động chơi cho phép trẻ tiến hành trò chơi trong những điều kiện các đồ chơi khác nhau

1.3.2.3 Đặc điểm về động cơ hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo

Vui chơi là dạng hoạt động không mang tính bắt buộc, trẻ tham gia nhiệt tình do chính sức hấp dẫn của trò chơi

Vậy động cơ của hoạt động vui chơi nằm ngay trong quá trình hoạt động, nên trò chơi mang tính tự nguyện rất cao, mang lại niềm vui sướng cho trẻ Đây

là tính chất đặc biệt của hoạt động vui chơi

1.3.2.4 Sự phát triển một số chức năng tâm lý ở trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi

Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định của quá trình tâm lý Trong trò chơi, trẻ bắt đầu hình thành chú ý có chủ định và ghi nhớ có chủ định Khi chơi trẻ tập trung chú ý tốt hơn và ghi nhớ được nhiều hơn

Đối với trẻ, trò chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập Trong khi chơi, trẻ mẫu giáo thể hiện rõ ý thức làm chủ, trẻ hoạt động hết mình, tích cực

và độc lập

Tình huống trò chơi và những hành động của vai chơi ảnh hưởng thường xuyên tới sự phát triển của hoạt động trí tuệ của trẻ mẫu giáo Trò chơi góp phần rất lớn vào việc chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài (tư duy trực quan – hành động) vào bình diện bên trong (tư duy trực quan - hình tượng) Trò chơi giúp cho trẻ tích luỹ biểu tượng làm cơ sở cho hoạt động tư duy, đồng thời cũng giúp cho trẻ lập kế hoạch hành động và tổ chức hành vi của bản thân mình Trò chơi của tuổi mẫu giáo mang tính chất ký hiệu – tượng trưng Trong khi chơi, mỗi đứa trẻ đều tự nhận cho mình một vai nào đó và thực hiện hành động phù hợp với vai chơi, nhưng đó chỉ là hành động giả vờ Trong khi chơi, trẻ còn lấy vật này thay thế vật kia và

tự đặt tên cho vật thay thế, rồi sử dụng vật thay thế đó cho phù hợp với tờn gọi của nó

Trang 26

Đây chính là dấu hiệu tư duy chuyển dần từ thao tác cụ thể sang thao tác hình thức của trẻ

Trò chơi đóng vai theo chủ đề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo Trong hoạt động vui chơi, đứa trẻ học thay thế

đồ vật này bằng các đồ vật khác, nhận đóng các vai khác nhau Đó là cơ sở để phát triển trí tưởng tượng Chính hoạt động vui chơi của trẻ đó làm nảy sinh hoàn cảnh chơi, tức làm nảy sinh trí tưởng tượng

Tất cả những điều giả vờ trong trò chơi lại mang một ý nghĩa rất thực, vỡ

nú phản ánh một sự việc có thực đó xảy ra như vậy trong cuộc sống thực Đó chính là sự ra đời của chức năng mới của ý thức: Chức năng ký hiệu - tượng trưng

Vui chơi ảnh hưởng rất lớn đến đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Tình huống trò chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Do đó để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùng chơi, trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách mạch lạc

Trò chơi đóng vai theo chủ đề có tác động rất mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm trẻ mẫu giáo Trẻ lao vào chơi với tất cả tinh thần say mê của nó Trong khi vui chơi trẻ tỏ ra vui sướng và nhiệt tình Khi phản ánh vào trò chơi những mối quan hệ giữa người và người, nhập vào những mối quan hệ đó thì những rung động mang tính người của trẻ được gợi lên Trong trò chơi trẻ đó thể hiện được tình người, như thái độ chu đáo, ân cần, sự đồng cảm, tinh thần tương trợ và một số phẩm chất đạo đức khác

Những phẩm chất ý chí của trẻ mẫu giáo được hình thành mạnh mẽ qua trũ chơi đóng vai theo chủ đề Khi tham gia trò chơi, trẻ buộc phải điều tiết hành

vi của mình theo mối quan hệ giữa vai mình đóng với các vai khác, sao cho phù hợp với những quy tắc của trò chơi Từ đó trẻ biết điều khiển hành vi của mình bằng ý chí, đặt ý riêng phục tùng mục đích chung của nhóm người Qua trò chơi, trẻ còn được hình thành những phẩm chất ý chí như: tính mục đích, tính kỷ luật, tính hợp tác, tính dũng cảm…

Trang 27

Tóm lại, hoạt động vui chơi, mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ

đề ở tuổi mẫu giáo thực sự đóng vai trò chủ đạo Ý nghĩa chủ đạo thể hiện trước hết là ở chỗ nó giúp trẻ giải quyết mâu thuẫn trong bước phát triển từ tuổi ấu nhi lên tuổi mẫu giáo Mâu thuẫn ở đây là nguyện vọng muốn làm được như người lớn với khả năng của trẻ còn quá non yếu Trò chơi là phương tiện góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ Trò chơi tạo ra những nét tâm lý đặc trưng cho tuổi mẫu giáo, mà nổi bật là tính hình tượng và tính dễ xúc cảm, khiến cho nhân cách của trẻ mẫu giáo mang tính độc đáo khó tìm thấy ở các lứa tuổi khác

Do đó tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ Trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người [Theo (21), Tr214-Tr219]

1.3.3 Một số đặc điểm của hoạt động học tập của học sinh lớp 1 với tƣ

cách là hoạt động chủ đạo

1.3.3.1 Đặc điểm về đối tượng của hoạt động học tập của học sinh lớp 1

Khác với hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo, đối tượng của hoạt động học tập của học sinh lớp 1 là những tri thức khoa học (các khái niệm trong từng môn học)

Khi nghiên cứu về đối tượng lĩnh hội trong mối quan hệ với chủ thể học sinh, Leonchiep đã đưa ra những kết luận quan trọng cần được chú ý:

+ Đối tượng của hoạt động học tập và sự phát triển của chủ thể trong hoạt động học tập luôn thống nhất với nhau trong suốt quá trình

+ Đối tượng lĩnh hội được sinh thành cùng với chủ thể hoạt động, có mối quan hệ hữu cơ với chủ thể, luôn luôn chứa đựng nhu cầu nào đó của chủ thể Điều này cho thấy chỉ khi nào chủ thể tham gia vào hoạt động thì đối tượng mới xuất hiện và chỉ có những nội dung nào trở thành đối tượng thì mới đem lại sự phát triển cho chủ thể học sinh

+ Đối tượng lĩnh hội ở trình độ nào thì chủ thể phát triển ở trình độ đó Cấu trúc mới của đối tượng trong hoạt động học tập ở trình độ khái niệm sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự hình thành tư duy khoa học ở học sinh

Trang 28

Hiện nay, chương trình học ở lớp 1 được thiết kế thành 9 môn cụ thể: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Kĩ thuật, Hát nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Sức khoẻ Trong đó, môn tiếng Việt có vị trí đặc biệt quan trọng, bao gồm các hệ thống khái niệm: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Trong đó ngữ âm lại

là đối tượng của hoạt động học tiếng Việt Vì vậy, chuẩn bị cho trẻ về mặt ngôn ngữ trước khi đến trường là việc làm vô cùng quan trọng

1.3.3.2 Đặc điểm về các hành động học trong hoạt động học tập của học sinh lớp 1

Các hành động bao giờ cũng được triển khai bằng hệ thống thao tác Hoạt động học ở học sinh lớp 1 được thực hiện thông qua 4 hành động sau:

- Hành động phân tích: Hành động phân tích là hành động phân giải đối tượng thành đơn vị ngày càng nhỏ hơn, cụ thể hơn Hành động phân tích là điểm tựa đầu tiên của quá trình lĩnh hội Dựa vào hành động phân tích, trẻ em có thể phân giải cấu trúc tiếng Việt, phân giải tập hợp thành các bộ phận, phân giải các lớp số trong toán học

- Hành động mô hình hoá: Hành động mô hình hoá là hành động diễn ra quá trình trẻ em ghi lại kết quả thực hiện hành động phân tích dưới dạng mô hình Mô hình dùng để thể hiện logic của đối tượng, làm cho đối tượng lĩnh hội được trải ra một cách trực quan, cụ thể

Đối với học sinh lớp 1, nội dung, khái niệm khoa học còn rất trừu tượng

Vì vậy, việc sử dụng mô hình để phân tích đối tượng giúp quá trình lĩnh hội thực hiện một cách hiệu quả

- Hành động cụ thể hoá: Thực hiện hành động cụ thể hoá có nghĩa là trẻ

em đi vào giải quyết những tình huống cụ thể Dựa trên mẫu khái quát ban đầu, trẻ em thay thế vào đó các vật liệu mới, để tìm ra kết quả

Hành động cụ thể hoá làm cho đối tượng lĩnh hội trở nên thực tiễn và được củng cố vững chắc hơn đối với nhận thức của học sinh

- Hành động kiểm tra, đánh giá: Hành động kiểm tra, đánh giá được triển khai để xác định mức độ kết quả hoạt động Đây là khâu cuối cùng của quá trình

Trang 29

hoạt động Trong đó trẻ em xem xét chính xác hoá toàn bộ nội dung của đối tượng lĩnh hội

1.3.3.3 Đặc điểm về động cơ của hoạt động học tập của học sinh lớp 1

Động cơ ở lứa tuổi học sinh bé còn chưa bền vững, vừa chú ý nghe cô giảng 2 - 3 phút lại quay ra nghịch ngầm, nói chuyện riêng Trẻ học bài vì không muốn bị điểm kém, không muốn cha mẹ buồn Trẻ say mê học tập chủ yếu vì những lý do đơn giản: thích đến trường, thích được mang cặp sách mới, được học cô giáo mới, có nhiều bạn mới đó là những biểu hiện của động cơ xã hội ở trình độ sơ khai

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh: vào những ngày đầu tiên tới trường, động cơ chiếm ưu thế của trẻ lớp 1 là muốn chiếm vị thế của người học sinh; nhưng chỉ sau một thời gian học tập rất ngắn, động cơ này dần dần bị phai mờ

và lụi tàn, nó ít có tác dụng thúc đẩy hoạt động học tập ở trẻ

1.3.3.4 Một số chức năng tâm lý cần có ở học sinh lớp 1 để tiến hành hoạt động học tập

Để việc chuyển hoạt động chủ đạo của trẻ 6 tuổi từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập diễn ra một cách thuận lợi thì trẻ cần có sự “chín muồi đến trường” hay sự “sẵn sàng đi học”

Theo Trần Trọng Thuỷ: “sự sẵn sàng đi học” của trẻ cần phải được chuẩn

bị theo 3 hướng: những tri thức cần thiết, những kỹ năng điều khiển hành vi của bản thân và các động cơ kích thích hứng thú học tập” [Theo 12]

Cùng quan điểm với Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Thị Hồng Nga cho rằng trẻ phải được chuẩn bị chu đáo trước khi đến trường theo các nội dung sau:

Trước hết trẻ cần có một số tri thức, biểu tượng và kĩ năng thực hiện hoạt

động trí óc nhất định Tri thức của trẻ là những hiểu biết nhất định của trẻ về các

sự vật, hiện tượng ở xung quanh trẻ Biểu tượng là những hình ảnh của sự vật, hiện tượng mà trẻ hình dung được ở trong đầu mỗi khi nhắc đến các sự vật hay hiện tượng đó Còn kĩ năng hoạt động trí óc là những hành động trí óc đơn giản

Trang 30

như: phân biệt sự giống, khác nhau giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng, đếm,

so sánh

Thứ hai, trẻ cần phải biết điều khiển hành vi của mình Nghĩa là trẻ phải

có kĩ năng điều khiển các hành động, cử chỉ, việc làm của mình cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội, của nhà trường, của tập thể lớp hay của gia đình Điều này rất cần thiết vì ở nhà trường trẻ không phải chỉ làm cái mà nó muốn mà cả cái nó phải làm mặc dù nó không muốn, học tập không phải chỉ khi nào trẻ thích

mà còn phải học cả khi nó không thích và có nhiều khó khăn nữa

Thứ ba, trẻ phải hình thành được những động cơ kích thích nó học tập Nói cách khác, bản thân đứa trẻ phải muốn được học, nó đến trường không chỉ

vì mẹ nó đưa nó đến hoặc vì tất cả mọi trẻ em đều đi học, mà là công việc quan trọng, thích thú, cần phải làm [Theo (23), Tr 135 - Tr 138]

Về việc chuẩn bị tri thức, biểu tượng, kĩ năng thực hiện công việc trí óc,

có thể kể ra các yêu cầu tương ứng với từng hoạt động học như sau:

* Hoạt động đọc với kỹ năng tương ứng: Khi tập đọc trẻ cần phải nhận ra một số dấu hiệu (hoặc kí hiệu) và nói lên được âm tương ứng

hệ thống cơ quan phát âm

- Các kỹ năng trẻ cần có trong hoạt động đọc là:

+ Định hướng được trong không gian và thời gian, trẻ nhận ra sơ đồ thân thể của mình và vị trí của bản thân trong không gian đối lập với những vật thể

Trang 31

khác Trẻ nhận ra trình tự tiếp diễn trước sau của thời gian Nhận ra sự tương ứng giữa bố cục trong không gian và trình tự trong thời gian

+ Về tư duy, trẻ biết phân tích, so sánh và nhận xét đối tượng tri giác và nhớ được, tổng hợp nhanh thì trẻ mới tự động đọc được Hơn nữa, trẻ còn phải biết thay thế một sự vật cụ thể bằng một ký hiệu tương đương

+ Về ngôn ngữ, trẻ phát âm không bị rối, cảm nhận được nhịp điệu, cường

độ để đọc diễn cảm, sinh động

+ Trẻ cần tự tin và thoải mái không lo sợ khi đọc bài

* Hoạt động viết và kỹ năng tương ứng:

- Viết là kẻ lại những ký hiệu có ý nghĩa, khi kẻ lại một chữ, trẻ cần nhận

ra âm tương ứng và biết nhớ lại để mỗi lần kẻ không cần nhìn vào mẫu

- Các kỹ năng cần có trong hoạt động viết:

+ Kĩ năng thành thục đến một mức độ nhất định mà theo Piaget là đã đạt giai đoạn thao tác cụ thể

+ Khả năng nhớ tức thì

+ Khả năng phân tích và suy luận

+ Thành thục về vận động, đặc biệt là làm chủ mọi cử động và biết phối hợp chức năng của các ngón tay và bàn tay

+ Định hướng trong không gian tốt, tức là nhận rõ cái gì ở trên, ở dưới, ở

xa, ở gần, nhận rõ bên phải, bên trái và biết đảo ngược khi quay mặt lại Có như vậy, trẻ mới viết được

* Hoạt động tính toán và kỹ năng tương ứng:

- Học toán ở lớp 1 trẻ cần đạt được những yêu cầu sau:

+ Biết đếm số, hiểu về con số (về số lượng, cách biểu diễn những số lượng ấy theo hệ thống) tức là có ý niệm về con số

+ Biết làm hai phép tính, hiểu thế nào là lớn hơn, nhỏ hơn, bằng nhau, thêm bớt, biết vận dụng những ký hiệu cộng trừ, biết ghi kết quả bằng con số - tức là trẻ đã có ý niệm về tính toán

Trang 32

+ Biết giải một số bài tập vận dụng hai phép tính và biết dùng những đơn

vị đo lường

- Các yêu cầu cần có trong hoạt động tính toán:

Trẻ cần đạt được trình độ tư duy có thể nhận ra tính bất biến của những tập hợp khác nhau về thuộc tính cụ thể, nhưng giống nhau về số lượng vật thể, theo Piaget cho đến 6 - 7 tuổi những con số đối với trẻ em vẫn còn là hình tượng tri giác, chưa thật sự là con số Chính vì vậy nên khi học toán cần cung cấp cho trẻ vốn từ vựng trừu tượng về những con số và cách suy luận khi làm toán, để cần đạt được năng lực trừu tượng và suy luận qua việc giải các bài toán cụ thể bằng những thao tác trừu tượng [Theo (17) và (13)]

Theo tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, theo nội dung đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục”, mục tiêu của giáo dục mầm non là hình thành phát triển trẻ trên các lĩnh

vực tâm lý và thể chất Về lĩnh vực tâm lý, cụ thể là các nội dung sau:

- Tình cảm và quan hệ xã hội: nhằm cung cấp cho trẻ một số hiểu biết về các hiện tượng xã hội xung quanh, từ đó giáo dục và hình thành ở trẻ tình cảm, thái độ tích cực đối với cộng đồng và môi trường xung quanh Giáo dục trẻ sự tự tin vào khả năng, năng lực của bản thân Phát triển ở trẻ tính tự lực, biết hành động theo sáng kiến của chính bản thân mình, biết chịu trách nhiệm về những việc mình làm Hình thành ở trẻ khả năng đánh giá và tự đánh giá tương đối phù hợp Hình thành ở trẻ nếp sống và hành vi văn hoá biết gần gũi, bảo vệ thành quả lao động của người khác và môi trường sống, phát triển ở trẻ những cảm xúc thẩm mỹ, yêu thích cái đẹp, thích tạo ra cái đẹp

- Phát triển nhận thức: nhằm cung cấp cho trẻ một số hiểu biết về thế giới xung quanh, biết hành động đúng hợp lý trong môi trường đó Hình thành và phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ cho trẻ (quan sát, phân tích, so sánh, phân loại, khái quát, khả năng giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau) Trẻ hiểu được một số quan hệ nhân quả trong môi trường gần gũi với trẻ Hình thành

ở trẻ một số kỹ năng cần thiết cho việc học tập ở trường phổ thông (Các biểu

Trang 33

tượng toán sơ đẳng, những kỹ năng ban đầu cho việc học đọc, học viết ở lớp 1 ) Phát triển ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết, khả năng chú ý, tưởng tượng, trí nhớ và tư duy sáng tạo, khả năng làm việc độc lập

- Phát triển ngôn ngữ: nhằm rèn luyện và phát triển ở trẻ các kỹ năng nghe, nói cần thiết để giao tiếp với mọi người xung quanh Biết cách diễn đạt suy nghĩ, mong muốn, yêu cầu, cảm xúc của mình một cách rõ ràng, dễ hiểu đối với người xung quanh Cho trẻ làm quen với các kỹ năng đọc, viết ban đầu để chuẩn bị vào lớp 1 Phát triển ở trẻ hứng thú, sự say mê “đọc” sách, truyện , tô,

“viết” [Theo (2), Tr 4 - Tr 5]

Như vậy, để trẻ đến tuổi học chuyển hoạt động chủ đạo một cách thuận

lợi thì trẻ phải có những tiền đề sau: tri thức, biểu tượng, kĩ năng thực hiện hoạt động trí óc; ngôn ngữ; tình cảm - quan hệ xã hội; khả năng điều khiển hành vi và động cơ, hứng thú học tập

1.3.4 Sự chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập ở trẻ 6 tuổi vào lớp 1 trường phổ thông

Nói đến hoạt động tức là nói đến tính đối tượng của nó Các hoạt động khác nhau bởi đối tượng của mình Nói cách khác, khi chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác, chúng ta đã thay đổi kiểu hoạt động

Cho đến nay, bước chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác với tư cách là hoạt động chủ đạo ở con người, cụ thể trong trường hợp đang nói là bước chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập ở trẻ em vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Tuy nhiên, các nhà chuyên môn đều khẳng định bước chuyển này là rất quan trọng

Trẻ đến tuổi vào lớp 1 chuyển từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Quá trỡnh chuyển hoỏ giữa hai loại hoạt động này thực

chất là quỏ trỡnh chuyển hoỏ từ đối tượng là quan hệ của trẻ với thế giới con người là chủ yếu (bao gồm các quan hệ giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với chính bản thân mình) sang đối tượng khác

là khỏi niệm khoa học là chủ yếu

Trang 34

Học sinh lớp 1 là đối tượng rất đặc biệt Đây là thời kì giao thoa của nhiều yếu tố xét về nhiều phương diện: đặc trưng tâm lý lứa tuổi, vai trò vị trí hoạt động trong đời sống trẻ em, động cơ và sản phẩm hoạt động

Từ mẫu giáo (5 tuổi) chuyển sang lớp 1, sự phát triển của đứa trẻ chịu sự chi phối của 2 thời kì phát triển Có thể quan sát một vài yếu tố qua bảng so sánh sau:

Tuổi mẫu giáo (5 tuổi) Học sinh lớp 1

- Vui chơi tuỳ hứng - Học tập bắt buộc

- Hoạt động chủ đạo là vui chơi - Hoạt động chủ đạo là học tập

- Hình thái tư duy trực quan hình

tượng

- Hình thái tư duy trừu tượng bắt đầu manh nha hình thành

- Động cơ hoạt động vui chơi nằm

ngay trong quá trình vui chơi

- Động cơ hoạt động học tập nằm ở kết quả: chiếm lĩnh tri thức khoa học

Ở tuổi Mẫu giáo, sự phát triển hoạt động vui chơi với tư cách là hoạt động chủ đạo đã đạt tới hình thái chính thức Lúc này trẻ đã sử dụng thành thạo hệ thống kí hiệu tượng trưng để nhận thức thế giới Trong vui chơi, trẻ học hành động với vật thay thế mang tính chất tượng trưng Các biểu tượng được tích luỹ

đã giúp cho quá trình nhận thức được chuyển hoá từ bên ngoài vào bên trong dễ dàng hơn, phát triển khả năng suy luận giải các bài toán ngầm trong óc Tuy nhiên cuối tuổi Mẫu giáo, tư duy trừu tượng chưa phát triển mạnh, tư duy trực quan hình tượng vẫn chiếm ưu thế, làm hạn chế khả năng suy luận Quá trình này vẫn phải dựa căn bản vào biểu tượng và những kinh nghiệm đã có và vẫn gắn liền hành động trực tiếp với đối tượng là vật thật hay vật thay thế Trong hoạt động vui chơi, trẻ hình thành những cấu tạo tâm lý có vai trò là tiền đề cơ bản cho hoạt động học tập: sự đánh giá xã hội, óc tưởng tượng và kỹ năng hành động với vật thay thế

Vào học lớp 1, trẻ em chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập Lúc này vui chơi vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống trẻ nhưng đã mất đi vai trò quyết định sự phát triển những đặc trưng tâm lý

Trang 35

mới Hình thái tư duy trực quan hình tượng đang chiếm ưu thế ở trẻ không đủ để thích hợp với đối tượng lĩnh hội đã phát triển ở trình độ mới - khái niệm Ở đây muốn chiếm lĩnh đối tượng buộc trẻ em phải biết tiến hành hàng loạt thao tác trí tuệ rất cơ bản như thao tác phân tích, thao tác mô hình hoá, thao tác phân hạng, phân loại để phát hiện mối quan hệ bên trong hay cấu trúc lôgich của đối tượng cũng như nội dung hiện thực của các khái niệm khoa học Vì vậy nếu không thông qua hoạt động vui chơi được bắt chước một cách hợp lý, tăng tiến để thuận lợi cho việc hình thành các thao tác trí tuệ khi bắt đầu vào lớp 1 thì trẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi lĩnh hội kiến thức ở lớp 1

Ở lớp 1, học tập là nhiệm vụ bắt buộc Do đó, khi chuyển từ hoạt động vui chơi tuỳ hứng sang học tập cần phải có một bước chuẩn bị về tính tự lập, tự làm chủ các hành vi, khả năng tập trung chú ý và cả hứng thú học tập để trẻ có thể tiếp thu bài học một cách hiệu quả

Cùng với việc chuẩn bị tạo tiền đề thuận lợi cho việc hình thành các thao tác trí tuệ, khả năng tập trung chú ý, làm chủ hành vi thì việc hình thành cho trẻ động cơ học tập đúng đắn cũng là vấn đề vô cùng quan trọng Động cơ học tập

có hai loại: động cơ tri thức và động cơ xã hội Động cơ tri thức chính là những yếu tố bên trong của chính bản thân hoạt động học tập (nội dung, quá trình, các phương pháp ) có tác dụng thúc đẩy hành động của trẻ trong quá trình lĩnh hội tri thức Động cơ xã hội biểu hiện ở nhu cầu học tập mang tính xã hội: trẻ muốn chiếm lĩnh vị thế của người học sinh, muốn có uy tín trước bạn bè, muốn làm vui lòng cha mẹ Nếu không được chuẩn bị từ trước về nhu cầu, hứng thú đi học dễ gây cho trẻ cảm giác sợ đến trường hoặc hay nghịch ngầm, nói chuyện riêng, không nhớ nhiệm vụ học tập, không làm việc hoặc làm việc không đúng yêu cầu của cô giáo Vì vậy ngay trước khi trẻ bước vào lớp 1, người lớn phải hình thành ở các em nhu cầu, hứng thú đi học, bao gồm cả nhu cầu xã hội và nhu cầu tri thức Một số nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như V.V.Đavưđôv, A.K.Marcova đã nhấn mạnh: vào những ngày đầu tiên tới trường, động cơ chiếm ưu thế ở trẻ lớp 1 là muốn chiếm lĩnh vị thế của người học sinh; nhưng

Trang 36

chỉ sau một thời gian học tập rất ngắn, động cơ này dần dần bị phai mờ và lụi tàn, nó ít có tác dụng thúc đẩy hoạt động học tập ở trẻ Để hoạt động này tiếp tục được duy trì một cách có hiệu quả, chúng ta phải nhanh chóng hình thành ở các

em hứng thú, động cơ nhận thức trong quá trình lĩnh hội [Xem thêm (23), Tr 89

- Tr 97]

Tóm lại, việc tạo tiền đề thuận lợi cho sự chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt

động vui chơi ở tuổi mẫu giáo sang hoạt động học tập ở tuổi học sinh tiểu học đóng vai trò quyết định cho chất lượng, hiệu quả học tập của trẻ ở lớp 1 trường phổ thông

1.3.5 Một số khó khăn tâm lý khi trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 (Khi diễn ra quá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập)

Những yêu cầu mới ở phổ thông đặt ra cho học sinh lớp 1 nhiều khó khăn cần được quan tâm và không dễ gì đạt được ngay Phần lớn trẻ em đã bắt đầu hình thành thói quen đối với yêu cầu của trường phổ thông chỉ sau khi kết thúc lớp 1 Song cũng còn một bộ phận không nhỏ vẫn rất lúng túng, đặc biệt là khó khăn trong việc nắm bắt phương thức lĩnh hội nội dung các môn học, lúng túng

về cách học Các khó khăn của học sinh lớp 1 có thể quy về một số dạng như sau:

- Sự thay đổi các thói quen sinh hoạt

Những qui định trong sinh hoạt của trẻ trước khi đến trường thường chỉ là những ước định mang tính cá thể Trước đó, trẻ thường được thoả mãn các nhu cầu về vui chơi, nghỉ ngơi và ăn uống việc tham gia các hoạt động chung cũng xuất phát phần lớn từ nhu cầu cá nhân

Ở trường phổ thông các qui định trong sinh hoạt hoàn toàn mang tính nguyên tắc, qui định đối với giờ học, giờ chơi, qui định các yêu cầu về kiến thức

kĩ năng trong mỗi tiết học, bài học được định lượng trở thành yêu cầu bắt buộc phải thực hiện đối với học sinh

Trang 37

Khó khăn đầu tiên với trẻ học lớp 1 là sự thay đổi trong thói quen sinh hoạt, mà điểm đáng được quan tâm nhất là thói quen về chế độ học tập

Trong các giờ học đầu tiên ở lớp 1 (khoảng nửa thời gian của học kì một) phần lớn trẻ còn ngơ ngác lúng túng trước yêu cầu của giáo viên, nhiều trẻ lơ đãng, ngủ gật, biểu hiên mệt mỏi, bứt rứt ngồi không yên Đến hết lớp 1 tình trạng này mới cơ bản chấm dứt, dần dần trẻ đi vào nề nếp

Những hỗ trợ giúp trẻ em làm quen với chế độ sinh hoạt ở phổ thông là công việc rất cần thiết, giảm bớt đi tình trạng căng thẳng trong quá trình chuyển đổi từ thói quen sinh hoạt tự do để hình thành thói quen sinh hoạt theo quy định

có tính nguyên tắc ở phổ thông

- Sự thiết lập quan hệ mới

Nghĩa vụ và quyền hạn học sinh đã làm thay đổi địa vị của trẻ em ngay khi vào lớp 1 Việc hoàn thành nhiệm vụ học tập ở trường phổ thông có ý nghĩa giúp trẻ thực hiện nghĩa vụ công dân Chính sự thay đổi này là nguyên nhân căn bản thúc đẩy sự hình thành giữa trẻ và những người xung quanh một quan hệ mới so với trước đó

Những thay đổi trong mối quan hệ với thầy cô giáo và tập thể học sinh cùng lớp có ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với đứa trẻ Nếu như trước đó, sự phân biệt trách nhiệm giữa ta (đứa trẻ) với người khác (cô giáo và bạn bè) còn chưa rõ rệt thì đến lúc này đã được khẳng định Giáo viên có trách nhiệm giảng dạy, học sinh có trách nhiệm học và hoàn thành nhiệm vụ học tập Giáo viên là người sẽ phải đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách công bằng, thậm chí sẽ phải nhắc nhở, khiển trách những học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ Học sinh phải làm việc độc lập trong suốt quá trình tham gia hoạt động học tập từ việc lĩnh hội tri thức đến thực hành kiểm tra, đánh giá Bên cạnh đó, kết quả đạt được của từng học sinh lại liên quan đến kết quả chung của cả tập thể lớp

Mối quan hệ trên đòi hỏi ở học sinh lớp 1 tính tự lập cao hơn, cứng rắn và

có ý thức không chỉ đối với nhiệm vụ được giao mà còn ý thức được trách nhiệm tập thể Những trẻ nhút nhát hoặc chưa nhanh chóng điều chỉnh nhận thức

Trang 38

để hoà vào mối quan hệ mới dễ dẫn tới tình trạng lo lắng, sợ sệt ngại tiếp xúc với cô giáo và bạn bè

Tạo ra cho trẻ ngay từ khi ở mẫu giáo hay ở nhà một tâm thế thoải mái, hình thành tính tự lập, tự tin là một điều kiện giúp trẻ nhanh chóng tiếp nhận, hoà đồng vào mối quan hệ mới trong trường phổ thông

- Sự thay đổi cơ chế lĩnh hội (thay đổi cách học)

Nội dung học tập ở trường phổ thông được cấu trúc thành hệ thống theo chương trình các môn học Học sinh lĩnh hội các kiến thức khoa học trong từng bài, từng tiết theo mục đích yêu cầu môn học để đạt mục tiêu toàn cấp

Lần đầu tiên học sinh lớp 1 giải quyết nhiệm vụ học tập theo một phương thức hoàn toàn mới so với trước đó Phương thức học hay còn gọi là cách học ở tiểu học được tuân thủ theo nguyên tắc của bậc học Ở tiểu học việc tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức hay dạy cho các em học cách học là một nhiệm vụ trọng yếu Riêng đối với lớp 1 cách học còn phải được tổ chức chu đáo và công phu hơn nhiều

Một trong những khó khăn nhất của học sinh lớp 1 là lĩnh hội được tri thức khoa học vừa trừu tượng lại vừa mang tính khái quát, trong khi tư duy trẻ lại chưa vượt qua được trình độ tư duy trực quan hình tượng, nhận thức còn hết sức cảm tính, rất khó khăn khi đi sâu tìm hiểu, khám phá cấu trúc lôgic, bản chất của đối tượng lĩnh hội Điều hết sức quan trọng ở lớp 1 là trẻ phải tập nghĩ, tập làm việc trí óc, biết chuyển các hành động bên ngoài thành các hành động bên trong (tư duy) Kết quả học tập ở lớp 1 phụ thuộc rất cơ bản vào yếu tố này Bên cạnh những khó khăn như trên còn hàng loạt những vấn đề đặt ra như: tư thế ngồi học, cách cầm bút, thực hiện các hiệu lệnh học tập, cách làm bài kiểm tra…cũng là những khó khăn không nhỏ đối với học sinh lớp 1 [Theo (22), Tr

38 - 41]

1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ 6 TUỔI

1.4.1 Vận động

Vận động thô: Trẻ ở tuổi đi học cấp I có khả năng thực hiện những vận

động có phương hướng kiểm soát được (Nichols, 1990) Vào 5 tuổi trẻ có đủ các

Trang 39

kỹ năng có tính máy móc đã hình thành: Biết chạy, nhẩy và đi lò cò một chân Những vận động này được thực hiện từ từ và có ít sai sót Sự khéo léo về thể lực làm cho chúng hưng phấn quan tâm đến các loại thể thao khác nhau và những hình thức vận động tích cực Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy sự phát triển vận động trong thời kỳ này có nhiều tiến bộ, tuy nhiên vẫn còn rất vụng về

Vận động tinh: Vận động tinh cũng phát triển nhanh chóng trong suốt thời

kỳ niên thiếu trên cơ sở những kỹ năng trẻ học được ở các nhà trẻ và vườn trẻ, trẻ biết vẽ hình tròn, hình vuông và hình tam giác Mỗi hình hình học phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp bằng mắt và sự vận động mà chúng phải đạt được trước khi chúng học viết Phần lớn các kỹ năng vận động tinh cần thiết để tập viết phát triển vào năm đứa trẻ 6 -7 tuổi Tuy nhiên, có một số trẻ hoàn toàn bình thường không có khả năng vẽ hoặc viết được một số chữ cái cho đến 7 tuổi

1.4.2 Chú ý

Chú ý của trẻ em 6 tuổi chưa đạt độ bền vững và thường không có chủ định, dễ bị phân tán Khả năng chú ý của trẻ phụ thuộc vào hứng thú và vào mục đích hoạt động của trẻ Khối lượng chú ý còn hạn chế, trẻ chỉ có thể bao quát được 2 - 3 đối tượng cùng một lúc Khả năng phân phối chú ý còn kém, trẻ chỉ

có thể biết được giáo viên nói gì khi các em ngừng mọi việc và chú ý lắng nghe

Vì vậy có tình trạng trẻ vừa học vừa chơi, làm gì cũng tản mạn, thiếu tập trung [Theo (10), (13) và (17)]

1.4.3 Tri giác

Khi tri giác, khả năng phân tích có mục đích, có tổ chức và sâu sắc của trẻ còn yếu Thường trẻ phân biệt những chi tiết ngẫu nhiên mà người lớn ít chú ý đến nhưng lại không nhìn thấy được những chi tiết quan trọng và bản chất Tri giác gắn chặt với hành động, hoạt động của trẻ Các sự vật trực quan, rực rỡ, sinh động được trẻ tri giác tốt hơn, rừ ràng hơn, có cảm xúc hơn

+ Khả năng định hướng trong không gian thể hiện qua việc nhận rõ vị trí các sự vật trên, dưới, xa, gần, bên phải, bên trái và biết đảo ngược phải trái khi

Trang 40

quay mặt lại Khả năng này giúp trẻ nhận thức được vị trí các hàng trên một trang sách: trên, dưới, trước, sau, phải, trái Như vậy trẻ mới đọc, mới viết được

+ Khả năng định hướng trong không gian phát triển song song với khả năng định hướng về thời gian Đối với các sự việc xảy ra liên tiếp, có trước, có sau kế tiếp nhau hoặc cùng trong khoảng thời gian không quá xa, trẻ có thể nhớ được tức thỡ theo giờ, theo buổi, theo ngày trong hiện tại Sự cảm nhận được quá khứ, hiện tại và tương lai là trẻ đó định hướng được thời gian Định hướng trong không gian, thời gian là nền tảng cảm giỏc và vận động của trớ khụn [Theo (17)]

1.4.4 Trí nhớ

Ở độ tuổi này, ghi nhớ có chủ định của trẻ đã phát triển nhưng ghi nhớ máy móc vẫn chiếm ưu thế Trẻ thường học thuộc lòng tài liệu theo đúng từng câu, từng chữ mà không sắp xếp, sửa đổi lại một cách căn bản, không có ý định diễn đạt nội dung tài liệu bằng những lời khác Đối với chúng, tái hiện nguyên văn từng câu từng chữ dễ dàng hơn là diễn đạt ý nghĩa bằng ngôn ngữ của mình [Theo (10) và (17)]

1.4.5 Tƣ duy

Tư duy của trẻ em 6 tuổi mang nặng màu sắc cảm tính, kinh nghiệm chủ nghĩa mà đặc trưng của nó là kiểu tư duy trực quan - hình ảnh Đó là kiểu tư duy được hình thành trong cuộc sống, trong hoạt động vui chơi của trẻ, tạo tiền đề cho việc hình thành kiểu tư duy mới - tư duy trừu tượng

Ở trẻ 6 tuổi xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới là kiểu trung gian quá độ lên kiểu tư duy lôgich Đó là tư duy trực quan - sơ đồ Trẻ có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng

có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật Kiểu tư duy này tạo cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ Đây là điều kiện cần thiết để lĩnh hội những tri thức khái quát Tuy tư duy trực quan - sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng song bản thân các hình tượng đã khác trước: chúng đã mất

Ngày đăng: 23/03/2015, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ chuẩn phỏt triển trẻ 5 tuổi (Dự thảo), Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chuẩn phỏt triển trẻ 5 tuổi (Dự thảo)
2. Bộ Giáo dục & Đào tạo, Vụ Giáo dục mầm non - Trung tâm Nghiên cứu giáo dục mầm non, “H-ớng dẫn thực hiện ch-ơng trình chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”, năm học 2003 – 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “H-ớng dẫn thực hiện ch-ơng trình chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định 55/QĐ ngày 03 tháng 02 năm 1990 qui định về mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trẻ, tr-ờng mẫu giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 55/QĐ ngày 03 tháng 02 năm 1990 qui
4. Hồ Ngọc Đại (1983), Tâm lý học dạy học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1983
5. Hồ Ngọc Đại (2000), Tâm lí học dạy học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
6. Phạm Thị Đức, Một số đặc điểm tâm lý học sinh lớp 1 và việc tổ chức hoạt động cho các em, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 12 – 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm tâm lý học sinh lớp 1 và việc tổ chức hoạt "động cho các em
7. Vũ Ngọc Hà (2003), Vài nét về sự phát triển tâm lý của học sinh lớp 1, Tạp chí Tâm lý học, Số 5 / 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về sự phát triển tâm lý của học sinh lớp 1
Tác giả: Vũ Ngọc Hà
Năm: 2003
8. Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Uốn, Tâm lý học, NXB. GD, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Nhà XB: NXB. GD
9. Nguyễn Kế Hào (1985), Sự phát triển trí tuệ của học sinh đầu tuổi học, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển trí tuệ của học sinh đầu tuổi học
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1985
10. Nguyễn Kế Hào (1992), Học sinh tiểu học và nghề dạy học ở bậc Tiểu học, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học sinh tiểu học và nghề dạy học ở bậc Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1992
11. Trần Kiểm, Thực trạng l-u ban bỏ học của học sinh từ 1981 – 1990, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 3 – 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng l-u ban bỏ học của học sinh từ 1981 – 1990
12. Đặng Thị Ph-ơng Mai (2007), “Chuẩn bị về mặt xã hội cho trẻ mẫu giáo lớn sẵn sàng đi học lớp 1 ở đồng bằng sông Cửu Long”, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuẩn bị về mặt xã hội cho trẻ mẫu giáo lớn sẵn sàng đi học lớp 1 ở đồng bằng sông Cửu Long”
Tác giả: Đặng Thị Ph-ơng Mai
Năm: 2007
13. Nguyễn Thị Hồng Nga (1996), “Góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm đo l-ờng mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1 ”, Luận án Phó tiến sĩ khoa học s- phạm tâm lí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm đo l-ờng mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1”
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga
Năm: 1996
14. Nguyễn Thị Hồng Nga (1996), ảnh h-ởng của giáo dục mầm non đối với tâm thế sẵn sàng đi học, Tạp chí Giáo dục mầm non số 3 - 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh h-ởng của giáo dục mầm non đối với tâm thế sẵn sàng đi học
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga
Năm: 1996
15. Nguyễn Thị Hồng Nga (1996), Mấy suy nghĩ về một bộ trắc nghiệm trí tuệ của trẻ tr-ớc tuổi học tại Nhật Bản. Tạp chí Thông tin khoa học giáo dục số 53 - 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về một bộ trắc nghiệm trí tuệ của trẻ tr-ớc tuổi học tại Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga
Năm: 1996
16. Phan Trọng Ngọ, D-ơng Diệu Hoa, Thử nghiệm Test “Đến tuổi học” ở trẻ chuẩn bị vào lớp 1, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 8 – 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm Test “Đến tuổi học” ở trẻ chuẩn bị vào lớp 1
17. Nguyễn Thị Kim Quý (1996), “Nghiên cứu khả năng ứng dụng thang đo trí lực trẻ 6 tuổi vào lớp 1”, Luận án PTS Khoa học sư phạm tâm lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu khả năng ứng dụng thang đo trí lực trẻ 6 tuổi vào lớp 1”
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Quý
Năm: 1996
20. Trần Trọng Thuỷ, Về nguyên nhân của hiện t-ợng l-u ban của học sinh lớp 1, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7 – 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên nhân của hiện t-ợng l-u ban của học sinh lớp 1
21. Nguyễn ánh Tuyết (1988), Tâm lý học trẻ em tr-ớc tuổi học, Nxb. Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em tr-ớc tuổi học
Tác giả: Nguyễn ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb. Giáo dôc
Năm: 1988
22. Nguyễn ánh Tuyết (chủ biên), L-ơng Kim Nga, Tr-ơng Kim Oanh (1998), “Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào tr-ờng phổ thông” , Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào tr-ờng phổ thông”
Tác giả: Nguyễn ánh Tuyết (chủ biên), L-ơng Kim Nga, Tr-ơng Kim Oanh
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2:  Kết  quả  điểm  số  của  các  tiểu  nghiệm  thu  đƣợc  qua  đo  trắc  nghiệm “Sẵn sàng đi học” - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
ng 2: Kết quả điểm số của các tiểu nghiệm thu đƣợc qua đo trắc nghiệm “Sẵn sàng đi học” (Trang 70)
Bảng 4: Số nghiệm thể đạt và chƣa đạt tiêu chuẩn sẵn sàng đi học tại  các trường - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
Bảng 4 Số nghiệm thể đạt và chƣa đạt tiêu chuẩn sẵn sàng đi học tại các trường (Trang 75)
Bảng 7: Điểm số đạt được của các trường đối với tiểu nghiệm ngôn  ngữ (điểm tối đa: 8) - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
Bảng 7 Điểm số đạt được của các trường đối với tiểu nghiệm ngôn ngữ (điểm tối đa: 8) (Trang 79)
Bảng 8: Điểm số đạt được của các trường đối với tiểu nghiệm biểu  tƣợng về số (điểm tối đa: 10) - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
Bảng 8 Điểm số đạt được của các trường đối với tiểu nghiệm biểu tƣợng về số (điểm tối đa: 10) (Trang 81)
Bảng 9: Điểm số đạt được của các trường đối với tiểu nghiệm tâm  vận động (điểm tối đa: 6) - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
Bảng 9 Điểm số đạt được của các trường đối với tiểu nghiệm tâm vận động (điểm tối đa: 6) (Trang 82)
Bảng 11: Điểm trung bình chung và điểm các tiểu nghiệm của nam và nữ - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
Bảng 11 Điểm trung bình chung và điểm các tiểu nghiệm của nam và nữ (Trang 85)
Bảng 12: Kết quả điểm số đạt đƣợc của trẻ theo trình độ học vấn của - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
Bảng 12 Kết quả điểm số đạt đƣợc của trẻ theo trình độ học vấn của (Trang 86)
Bảng 13: Kết quả điểm số của trẻ đến tuổi vào lớp 1 theo nghề nghiệp của - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
Bảng 13 Kết quả điểm số của trẻ đến tuổi vào lớp 1 theo nghề nghiệp của (Trang 88)
14. Hình thành ở trẻ khả năng đánh giá và tự - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
14. Hình thành ở trẻ khả năng đánh giá và tự (Trang 95)
Bảng  18:  Những  việc  làm  cần  thiết  cho  việc  chuẩn  bị  tâm  lí  sẵn  sàng đi học lớp 1 cho trẻ - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
ng 18: Những việc làm cần thiết cho việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học lớp 1 cho trẻ (Trang 102)
Bảng 19: Nhận thức của phụ huynh về thế nào là chuẩn bị tâm lý  sẵn sàng đi học cho trẻ - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
Bảng 19 Nhận thức của phụ huynh về thế nào là chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ (Trang 103)
Hình  thế  giới  đồ  vật”,  “Bộ  ghép  hình  ngôi - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
nh thế giới đồ vật”, “Bộ ghép hình ngôi (Trang 108)
4. Hình thành ở trẻ những biểu t-ợng toán sơ - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
4. Hình thành ở trẻ những biểu t-ợng toán sơ (Trang 128)
14. Hình thành ở trẻ khả năng đánh giá và tự - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
14. Hình thành ở trẻ khả năng đánh giá và tự (Trang 129)
15. Hình thành ở trẻ nếp sống và hành vi văn - Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình
15. Hình thành ở trẻ nếp sống và hành vi văn (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w