1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam

91 810 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi thế, Đại hội Đảng lần thứ X một lần nữa nhấn mạnh vai trò “quốc sách hàng đầu” [16, tr.95] của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, và xác định một trong những nhiệm vụ chủ y

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ



BÙI NGỌC DŨNG

KINH TẾ TRI THỨC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

-

BÙI NGỌC DŨNG

KINH TẾ TRI THỨC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 80

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS ĐOÀN VĂN KHÁI

HÀ NỘI - 2009

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TRI

THỨC 8

1.1 KHÁI NIỆM KINH TẾ TRI THỨC 8 1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Và PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI

THỨC 141.3 Đặc điểm của kinh tế tri thức 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC YÊU CẦU PHÁT

TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 39

2.1 Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam 392.1.1 Những thành tựu cơ bản của giáo dục đại học Việt Nam 392.1.2.Những hạn chế chủ yếu của giáo dục đại học Việt Nam………46

2.2 Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam trước yêu

cầu phát triển kinh tế tri thức 55

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT

TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU

CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC………62

3.1 Nhận thức đúng bản chất, đặc điểm của kinh tế tri thức, vai trò của

giáo dục đại học đối với phát triển kinh tế tri thức và thực trạng

giáo dục đại học Việt Nam hiện nay 633.2 Tăng cường nguồn lực cho phát triển giáo dục đại học 663.3 Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, phương pháp

giảng dạy và học tập, phương pháp đánh giá kết quả học tập theo

hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá”, đáp ứng yêu cầu của công cuộc

công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức 70

Trang 4

3.4 Phát triển qui mô gắn với nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo

dục đại học 763.5 Tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế trong giáo dục đại học…80

KẾT LUẬN 82TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 5

Trong nền kinh tế tri thức, yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế là tri thức và tiềm năng tạo ra tri thức, vì thế trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua gay gắt giữa các quốc gia để thu hút, chiếm hữu, khai thác nguồn lực trí tuệ Mặc dù các nước phát triển có ưu thế hơn hẳn trong cuộc cạnh tranh này, nhưng kinh tế tri thức cũng tạo ra cơ hội cho các nước đang phát triển vươn lên, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Cơ hội này sẽ trở thành hiện thực nếu họ biết nắm bắt, khai thác tiến bộ của khoa học - công nghệ, tri thức của nhân loại để phát huy nội lực, tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia Nhận thức rõ điều đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX

đã khẳng định “…tranh thủ ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức” [15, tr.25] Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” [16, tr.87]

Để phát triển kinh tế tri thức, chúng ta không có cách nào khác là phải nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ lao động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ - những người trực tiếp tham gia vào quá trình sáng chế ra những tiến bộ khoa học - công nghệ và tiếp thu, áp dụng

Trang 6

2

những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại của thế giới vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Điều này đòi hỏi tất yếu phải tập trung phát triển vượt bậc nền giáo dục nước nhà, đặc biệt là giáo dục đại học

vì nó trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực trình độ cao - lực lượng nòng cốt trong nền kinh tế tri thức Bởi thế, Đại hội Đảng lần thứ X một lần nữa nhấn mạnh

vai trò “quốc sách hàng đầu” [16, tr.95] của giáo dục và đào tạo, khoa học và

công nghệ, và xác định một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức” [16, tr.210]

Là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, giáo dục đại học ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, góp phần đắc lực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục đại học cũng đang bộc lộ những hạn chế, bất cập về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cần được khắc phục Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi giáo dục đại học Việt Nam phải có sự đổi mới mạnh mẽ và toàn diện trong toàn bộ hoạt động giáo dục để có được lời giải hữu hiệu cho một câu hỏi tổng quát đầy hệ trọng là: Giáo dục đại học Việt Nam phải làm gì và làm như thế nào để tăng nhanh quy mô gắn với nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế tri thức? Đây thực sự là một vấn đề lớn, cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được luận giải thấu đáo Để góp phần làm rõ vấn đề trên, chúng tôi đã lựa chọn đề

tài nghiên cứu: “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam”

Trang 7

3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thuật ngữ “Kinh tế tri thức” xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam chưa lâu, mới chỉ khoảng mười năm trở lại đây, song do tính chất quan trọng của vấn đề - một vấn đề có tính thời sự, thời đại và tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nước - kinh tế tri thức đã nhanh chóng trở thành vấn đề được các nhà khoa học quan tâm Ở nước ta đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu tìm hiểu về kinh tế tri thức dưới những góc độ khác nhau và được trình bày dưới dạng các bài báo khoa học,

sách hoặc đề tài nghiên cứu khoa học Chẳng hạn, “Kinh tế tri thức - Thời cơ

và thách thức với nước ta”, Tạp chí Cộng sản, số 8/2000; “Tìm hiểu kinh tế tri thức”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 273/2000, của TS Lê Minh Tâm và

Lê Huỳnh Trường; “Nền kinh tế tri thức và yêu câu đổi mới giáo dục Việt Nam”, NXB Thế giới, Hà Nội, 2001, của TS.Trần Văn Tùng; “Kinh tế tri thức và giáo dục - đào tạo phát triển người”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Kinh

tế tri thức, Trung tâm thông tin tư liệu Khoa học và Công nghệ quốc gia,

2001, của GS.VS Phạm Minh Hạc;“Động lực cho kinh tế tri thức”, Tạp chí

Lý luận chính trị, số 6/2003, của GS.VS Đặng Hữu; “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 2004, của PGS,TS Đoàn Văn Khái; “Kinh tế sáng tạo”, Tạp chí Tia sáng, 4-12-2005, của Song Ca; “Tìm hiểu vấn đề “Đẩy mạnh công nghịêp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” trong Văn kiện Đại hội X của Đảng”, Nxb Chính trị quốc gia, 2007, của GS.TS Chu Văn Cấp; “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức”, Tạp chí Cộng sản 2/2007, của GS Vũ Đình Cự; “Quản lý tri thức trong nền kinh tế hiện đại”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 8/2007, của GS Boris Mil’ner; “Một số thông tin bước đầu về xã hội tri thức”, nhiệm

vụ cấp bộ, 2008, của PGS,TS Nguyễn Văn Dân; “Diện mạo và triển vọng của

xã hội tri thức”, Nxb Khoa học xã hội, 2008, PGS,TS Nguyễn Văn Dân;

Trang 8

4

Về vấn đề giáo dục và giáo dục đại học, cũng có những công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau xung quanh tình hình giáo dục nước ta hiện nay; việc đổi mới giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ cho công nghiệp hoá, hiện đại

hoá và phát triển kinh tế tri thức Tiêu biểu như, “Nền giáo dục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng của Châu Á - Thái Bình Dương”, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 1994; “Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Cộng sản, số 1/1997, của GS.VS Nguyễn Văn Hiệu; “Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI” Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2002 của GS.VS Phạm Minh Hạc và các tác giả khác;

“Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ 21”, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 2003, của Vũ Ngọc Hải, Trần Khánh Đức;“Công tác đào tạo đại học, cao đẳng và ngành nghề để phát triển nguồn nhân lực ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2003, của Nguyễn Khắc Chương; “Vấn đề kết hợp truyền thống và hiện đại trong đổi mới giáo dục đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 2006, của PGS,TS Đoàn Văn Khái;

“Đổi mới giáo dục và người lãnh đạo: Thế giới thay đổi - giáo dục thay đổi”, Tạp chí Tia sáng, số 17, 5-9-2006, của Ngô Việt Trung; “Khởi đầu chấn hưng đại học bằng “tinh hoa””, Tạp chí Tia sáng, số 17, 5-9-2007, của GS.Bùi Trọng Liễu; “Giáo dục đại học: Luận bàn vài điều cấp thiết”, Tạp chí Tia sáng, số 18, 20-9-2007, của GS.Pierre Darriulat; “ Xây dựng một đại học

“hoa tiêu””, Tạp chí Tia sáng, số 19, 5- 10-2007, của GS NGND Nguyễn Văn Chiển; “Tiêu chuẩn của trường đại học đẳng cấp quốc tế”, Tạp chí Tia sáng, số 19, 5-10-2007, của Nguyễn Văn Tuấn; “Đổi mới, nâng cao năng lực vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế”, Nxb Lao động - Xã hội, 2007;

“Phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh mới”, Tạp chí Cộng sản, số 5/2007, của Phạm Đỗ Nhật Tiến; “Vài suy nghĩ về giáo dục đại học

Trang 9

5

trong thời đại mới”, Tạp chí Tia sáng 2-5-2008, của TS Nguyễn Kim Dung;

“Dạy và học theo quan điểm học suốt đời”, Tạp chí Tia sáng, 4-8-2008, của

GS Đỗ Đăng Giu; “Cải cách giáo dục đại học theo hướng tiếp cận các trường đại học đẳng cấp quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số 24/2008, của TS Ngô Tứ Thành; “Giải pháp phát triển giáo dục: Từ góc nhìn nghiệp vụ sư phạm”, Tạp chí Tia sáng, 25-5-2009, của GS Hồ Ngọc Đại; “Làm gì để giáo dục đại học nâng cao thứ hạng?”, báo Giáo dục thời đại, 2-7-2009, của Sông Hồng;“Xã hội hóa giáo dục và vai trò của Nhà nước”, Thời báo kinh tế Sài Gòn, 11-8-2009, của GS,TS Nguyễn Vân Nam; “Hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam”, Tạp chí Tia sáng, 19-08-2009, của Ths Phạm Văn Luân;

Tóm lại, xung quanh vấn đề kinh tế tri thức và vấn đề giáo dục và giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay đã có những công trình nghiên cứu ở những góc độ và mức độ khác nhau Tuy vậy, chưa có chuyên khảo nào luận bàn một cách có hệ thống về vị trí, vai trò của giáo dục đại học trong kinh tế tri thức, những vấn đề mà kinh tế tri thức đặt ra đối với giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế và những việc cần phải làm để đổi mới, phát triển giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm rõ bản chất của kinh tế tri thức

và những đòi hỏi của nó đối với giáo dục đại học Việt Nam; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, phát triển giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh tế tri thức

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của

luận văn là:

Trang 10

6

Thứ nhất, luận giải những nội dung cơ bản về kinh tế tri thức, qua đó

góp phần làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm, quá trình hình thành và phát triển của kinh tế tri thức

Thứ hai, lý giải vai trò của giáo dục đại học trong kinh tế tri thức, phân

tích thực trạng giáo dục đại học Việt Nam, từ đó làm rõ những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức

Thứ ba, trình bày một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, phát triển

giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh tế tri thức

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế tri thức và giáo dục đại học Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Đây là một đề tài rộng nên luận văn giới hạn ở

mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên Trong từng vấn đề cụ thể, luận văn cũng không thể đề cập tất cả mọi khía cạnh mà chỉ tập trung vào những khía cạnh mà tác giả cho là quan trọng nhất

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên các tác phầm của

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến đề tài Luận văn cũng kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng

là: phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgíc và lịch sử với tinh thần

lý luận kết hợp với thực tiễn trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm, quá trình hình thành và phát triển của kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam hiện nay trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức

Trang 11

7

- Góp phần làm rõ thực trạng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, trên

cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở nước ta trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài tài liệu tham khảo, phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm

3 chương với 10 tiết

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức

Chương 2: Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam và những vấn đề đặt

ra trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển giáo dục đại học

Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức

Trang 12

8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TRI THỨC

1.1 Khái niệm kinh tế tri thức

Thập niên 80, 90 của thế kỷ XX chứng kiến sự xuất hiện của một hình thái kinh tế mới chủ yếu dựa trên việc sản xuất, phân bổ và sử dụng tri thức Hình thái kinh tế này đã tác động sâu sắc và mạnh mẽ tới kinh tế thế giới, làm thay đổi về căn bản cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động của mỗi nền kinh tế Vai trò cũng như tác động của nó tới kinh tế toàn cầu là điều không thể phủ nhận Tuy nhiên, để đưa ra được một cách hiểu, cách lý giải bao quát

và toàn diện về hình thái kinh tế này là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi

“Kinh tế tri thức” - tên gọi phổ biến nhất của hình thái kinh tế này, là

một thuật ngữ xuất phát từ tiếng Anh, knowledge economy Ngoài ra, còn một

số thuật ngữ khác tương đương như: “Nền kinh tế dựa trên tri thức” (knowledge -based economy), “Nền kinh tế được dẫn dắt bởi tri thức” (knowledge - driven economy), “Nền kinh tế dựa trên ý tưởng” (idea - based economy), “Nền kinh tế học hỏi” (learning economy), “Xã hội thông tin” (information society), “Nền kinh tế công nghệ cao” (high - tech economy),

“Nền kinh tế số hoá” (digital economy), “Nền kinh tế mới” (new economy)… Thực ra, trong số những thuật ngữ trên, chỉ có thuật ngữ “Nền kinh tế dựa trên tri thức” xem ra có nội hàm bao quát hơn, gần với thuật ngữ “Kinh tế tri thức”

Hiện nay, theo đánh giá chung của các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới, kinh tế tri thức mới đang định hình ở một số nước công nghiệp phát triển như Mỹ và Nhật Bản Ngay cả những quốc gia còn lại trong nhóm các nước công nghiệp phát triển G8 cũng chỉ đang chuyển dần từng bước cơ cấu kinh tế cho phù hợp với điều kiện mới; còn đối với các quốc gia đang phát triển, có nước đang ở giai đoạn làm quen với khái niệm mới này Do đó, hiện chưa có

Trang 13

và tri thức lý tính; tính đúng đắn của nó thể hiện bằng sự kiểm nghiệm của thực tiễn Tri thức về một sự vật, hiện tượng, lĩnh vực cụ thể (ví dụ tri thức về kinh tế, tri thức về xây dựng…) là những kiến thức, sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng, lĩnh vực đó Những kiến thức này có thể học được và người có tri thức chuyên sâu trở thành các chuyên gia trong lĩnh vực đó Hơn nữa, tri thức ngày nay đã chuyển từ số ít sang số nhiều, từ đặc quyền, đặc lợi của một số cá nhân sang quyền lợi cơ bản của mọi tầng lớp trong cộng đồng, từ chỗ được ứng dụng trong phạm vi nhỏ hẹp sang việc ứng dụng trên quy mô toàn cầu

Bước chuyển này đã tạo ra sức mạnh cho tri thức, tạo ra giá trị mới cho xã hội

Vậy kinh tế tri thức là gì?

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế tri thức Có nhà nghiên cứu đã đồng nhất nền kinh tế sử dụng công nghệ cao với kinh tế tri thức Định nghĩa này không chính xác vì tri thức không thể chỉ có công nghệ cao (bao gồm các công nghệ trụ cột là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới và năng

Trang 14

10

lượng tái sinh, công nghệ không gian vũ trụ và khoa học kỹ thuật hải dương) Đây là một cách hiểu hẹp vì nó đã tách rời tri thức về khoa học, công nghệ ra khỏi tri thức rộng lớn hơn nhiều của con người cũng như tách rời khoa học, công nghệ ra khỏi môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội nói chung

Khái quát hơn, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thành trong bài viết “Tản mạn về kinh tế tri thức” đăng trên trang web http//:www.giaodiem.com ngày

08/01/2001 đã đưa ra định nghĩa: “Kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng hoá tư bản, trong đó, công thức hoạt động

cơ bản Tiền - Hàng - Tiền được thay thế bằng công thức Tiền - Tri thức - Tiền” Định nghĩa này đã chỉ ra được tầm quan trọng của tri thức trong nền

kinh tế mới, tuy nhiên, nó mới chỉ đề cập đến tri thức trong môi trường kinh

tế, kinh doanh, khi tri thức thay thế vị trí của hàng hoá trong công thức cũ, có nghĩa là tri thức là một dạng hàng hoá cao cấp, có thể dùng tiền mua được và việc sử dụng tri thức mua được ấy mang lại lợi nhuận lớn hơn số tiền bỏ ra ban đầu Tuy nhiên, tri thức không chỉ tác động đến môi trường kinh tế mà còn tác động đến nhiều môi trường khác trong nền kinh tế tri thức như môi trường văn hoá, môi trường xã hội, môi trường giáo dục… Do đó, định nghĩa ngày cũng chỉ là một định nghĩa hẹp, chưa bao quát được tổng thể vấn đề

Cho đến nay, hầu hết các tài liệu quốc tế khi đề cập đến kinh tế tri thức đều sử dụng định nghĩa đơn giản nhưng bao quát của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra trong báo cáo “Kinh tế dựa trên tri thức” năm

1996 Theo báo cáo đó, “Kinh tế tri thức là một nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức” hoặc “Kinh tế tri thức là kinh tế trong đó tri thức đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế, xã hội loài người” Đây là những định nghĩa có tính khái quát cao, tuy nhiên trong

hai định nghĩa đó, theo chúng tôi, định nghĩa thứ nhất chuẩn hơn Bởi vì, định

nghĩa này đã chỉ ra được những thuộc tính cơ bản quy định nội hàm của khái niệm kinh tế tri thức, đó là: nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân

Trang 15

Nói tóm lại, định nghĩa thứ nhất là một định nghĩa có tính thông tin, giúp người đọc dễ nắm bắt được vấn đề Hơn nữa, định nghĩa này đã khắc phục được nhược điểm của các định nghĩa trên, vừa cho thấy vị trí, vai trò của tri thức trong nền kinh tế tri thức vừa chỉ ra được mối quan hệ giữa tri thức và quá trình phát triển kinh tế, xã hội của loài người (bao gồm các môi trường văn hoá, giáo dục, xã hội, kinh tế như đã nói ở trên) Tuy nhiên, khó khăn ở đây là do mang tính khái quát cao nên định nghĩa có nhiều tầng ý nghĩa Việc tiếp cận, hiểu, đánh giá và vận dụng định nghĩa này tuỳ thuộc vào quan điểm, thái độ đối với kinh tế tri thức cũng như địa vị, lợi ích và trí tuệ của các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia Có hai phương pháp tiếp cận chính trong định nghĩa này là phương pháp tiếp cận trực tiếp và phương pháp tiếp cận gián tiếp

Trang 16

12

* Phương pháp tiếp cận trực tiếp:

Phương pháp tiếp cận này dựa trên sự nhận thức toàn diện về tri thức

và kinh tế tri thức Không mâu thuẫn với cách hiểu về tri thức ở trên, OECD

đã đưa ra một cách nhìn nhận mới về tri thức thông qua việc phân ra 4 loại tri thức quan trọng gọi là “4 chữ W” Đó là, “Biết cái gì” (know what), “Biết vì sao” (know why), “Biết ai” (know who), “Biết làm thế nào” (know how) GS,

TS Ngô Quý Tùng của Trung Quốc đã bổ sung thêm 2 chữ W nữa là “Biết ở đâu” (know where) và “Biết khi nào” (know when) vì trên thực tế, dù đã biết cái gì, vì sao, ai làm và làm như thế nào nhưng nếu làm sai địa điểm và thời gian thì vẫn có sai lầm

Với nhận thức toàn diện về tri thức như trên, có thể hiểu định nghĩa của OECD đã khẳng định rõ vai trò của tri thức trong nền kinh tế tri thức Khác với nền kinh tế nông nghiệp hay công nghiệp rất coi trọng các nhân tố vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên,… trong nền kinh tế tri thức, tri thức, hay cụ thể hơn là những hoạt động sản xuất, truyền bá và sử dụng tri thức, đã vượt qua những lực lượng sản xuất truyền thống trên để vươn lên vị trí dẫn đầu, trở thành nguồn lực chi phối mọi hoạt động tạo ra của cải vật chất trong xã hội

Đã có một sự thay đổi lớn trong tư duy khi con người chấp nhận một yếu tố

vô hình là tri thức trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu và dần dần xếp xuống vị trí thứ yếu những lực lượng sản xuất hữu hình trước đây từng được coi trọng “6 chữ W” đang dần dần trở thành nguồn lực đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế

Đây là cách hiểu trực tiếp xuất phát từ định nghĩa về kinh tế tri thức của OECD cho thấy rõ vai trò của tri thức trong nền kinh tế Tuy nhiên, nếu đi theo cách hiểu này sẽ gặp một mâu thuẫn là các nhà khoa học mặc dù đều đồng ý là khoa học, công nghệ và tri thức chiếm hàm lượng và tỷ trọng lớn nhất trong mỗi sản phẩm của nền kinh tế tri thức nhưng lại không thể thống nhất được với nhau về phương pháp, cách thức đo lường cũng như con số cụ

Trang 17

* Phương pháp tiếp cận gián tiếp:

Cách tiếp cận này khắc phục được điểm chưa rõ ràng của cách tiếp cận trực tiếp Theo đó, kinh tế tri thức thực chất là một loại môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội mới Môi trường này có đặc tính phù hợp với việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo, trong đó tri thức tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế Nếu hiểu theo cách này, tri thức không còn thuần tuý là khoa học, công nghệ mới, cũng không chỉ là một nhân

tố trong phát triển kinh tế nữa Nó là một nhân tố trong môi trường tổng thể kinh tế - văn hóa - xã hội Do vậy, cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế tri thức là phát triển một nền văn hoá đổi mới, sáng tạo để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi tri thức, mọi hiểu biết của nhân loại Như vậy, kinh tế tri thức có thể được hiểu như một giai đoạn phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hoặc nói rộng hơn, điều này sẽ dẫn tới một giai đoạn phát triển mới của xã hội nói chung

Đây là cách tiếp cận được nhiều người ủng hộ vì tính bao quát của nó Tuy nhiên, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, kinh tế tri thức có thể được diễn đạt theo cách này hay cách khác, được hiểu và tiếp cận theo cách này hay cách khác Tóm lại, kinh tế tri thức là một thuật ngữ mới, có thể được diễn giải với

độ linh hoạt cao Mặc dù vậy, cách hiểu kinh tế tri thức như là một môi trường tổng thể kinh tế - văn hoá - xã hội trong đó việc sản xuất, phổ biến và sử dụng

tri thức được tạo điều kiện thuận lợi tối đa là cách hiểu hợp lý hơn cả về bề rộng cũng như bởi chiều sâu của nó Phải nói rằng, để đưa ra được một định nghĩa chính xác, nhất là định nghĩa cho một phạm trù mới hình thành, chưa

Trang 18

14

hoàn thiện là rất khó khăn Song, dù là định nghĩa này hay định nghĩa khác, vấn đề quan trọng nhất là định nghĩa đó phải chỉ ra được bản chất của hiện tượng, giúp cho người đọc hiểu được thế nào là kinh tế tri thức để từ đó đánh giá đúng vị trí cũng như tầm vóc của hình thái kinh tế mới này Định nghĩa thứ nhất đã đáp ứng được yêu cầu đó

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển kinh tế tri thức

Như đã trình bày trong phần 1.1, “kinh tế tri thức là một nền kinh tế trực tiếp và chủ yếu dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức”, có

nghĩa là tri thức là nhân tố quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, không phải chỉ trong hình thái kinh tế ấy, con người mới biết tầm quan trọng của tri thức Bởi xét đến cùng, tri thức là nhân tố duy nhất phân biệt loài người với loài vật, phân biệt sức sáng tạo với hành động bản năng, nên ngay

từ thời cổ xưa, con người đã biết sử dụng tri thức như một công cụ để làm cuộc sống tốt đẹp hơn Tri thức của loài người ngày càng được mở rộng hơn, phong phú hơn và do đó, làm cuộc sống tiến tới đích văn minh nhanh hơn Chính vì vậy, có thể coi sự xuất hiện của kinh tế tri thức là một tất yếu khách

quan Đó không phải là một bước nhảy đột biến mà là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài về khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh tế thị trường

Quá trình này có thể được chia thành 5 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1, từ năm 1770 đến 1825, bắt đầu từ nước Anh Đây là thời

kỳ sơ khai của kinh tế thị trường Con người lần đầu tiên đã biết đưa những ứng dụng của khoa học vào trong đời sống qua những cải tiến về công cụ sản xuất và đặc biệt là việc chế tạo được chiếc máy dệt hoàn chỉnh đầu tiên năm

1785 Máy dệt được ứng dụng rộng rãi đã đưa mức dệt của công nhân tăng

200 lần so với dệt thủ công Ngoài ra, còn có phát minh dùng than đá nấu gang thành sắt làm cho năng suất lao động trong ngành luyện kim tăng lên: năm 1840 nấu được 650 - 750 nghìn tấn gang, năm 1853 đạt 2,7 triệu tấn, năm 1872 lên tới 6,7 triệu tấn [56, tr.23] Đặc biệt, việc phát minh ra máy hơi

Trang 19

thế giới từ thời kỳ thủ công sang thời kỳ cơ khí hóa Hơn thế nữa nó cũng mở

đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trong lịch sử và đưa nước Anh

lên vị trí lãnh đạo thế giới, đồng thời nhấn chìm Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia vào thế kỷ XVII còn giàu hơn cả Châu Âu xuống hàng các nước thuộc địa và ngày nay vẫn còn là nước đang phát triển Tuy nhiên, ở thời kỳ này, nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo trong nền kinh tế, công nghiệp đang ở giai đoạn từng bước khẳng định vị trí của mình Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1825 đã kết thúc giai đoạn này

Giai đoạn 2, từ năm 1826 đến 1875, phát minh chủ yếu ở Anh, Pháp,

Đức Kinh tế thị trường phát triển dựa trên thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng khoa học kỹ thuật thời kỳ trước Nhờ đó, giao

thông thủy, bộ và ngành chế tạo đã phát triển mạnh Công nghiệp phát triển yêu cầu phải tăng cường các phương tiện giao thông và đường giao thông Có hai phương tiện giao thông mới xuất hiện là tàu thủy và tàu hỏa Tuyến đường sắt đầu tiên được xây dựng ở nước Anh là Manchester-Liverpool dài 27km Đến năm 1848, Liên minh Vương quốc Anh - Xcốtlen đã có tới 5.996 dặm đường sắt, và ở Pháp vào năm 1869, tổng chiều dài đường sắt đã lên tới con

số 17.600km [56, tr.27] Đường sắt phát triển nhanh đã huy động được nhiều nhà tư bản công nghiệp lớn, chủ ngân hàng và các tầng lớp tư sản khác đầu tư vào sản xuất công nghiệp, thúc đẩy công nghiệp phát triển mạnh hơn Ngoài

ra, vào thời kỳ này, những ứng dụng của khoa học còn được sử dụng trong chế tạo máy Khi đã có máy dệt, đường sắt,… thì phải có một ngành cơ khí chế tạo ra máy công cụ, đảm bảo độ chính xác, tinh vi Các máy phay, máy bào, máy tiện lần lượt thay thế các phương tiện thô sơ của thế kỷ XV - XVI

Trang 20

đã tăng nhanh hơn rất nhiều so với thời đại phong kiến Cuộc khủng hoảng những năm 70 của thế kỷ XIX đã kết thúc giai đoạn thứ hai này

Giai đoạn 3, từ năm 1876 đến năm 1935, phát sinh chủ yếu ở Mỹ và

Đức Trong lịch sử kinh tế tư bản chủ nghĩa, đây là giai đoạn phát triển và khủng hoảng xen kẽ Kinh tế thị trường phát triển lên giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền bắt đầu từ khi có những phát minh mới trong các lĩnh vực sản xuất, vận tải và đời sống Trước hết phải kể đến những phát minh về năng lượng Ở thời kỳ này, điện và hơi đốt là nguồn năng lượng chủ yếu thay thế cho hơi nước Sự phát minh ra điện được các nhà khoa học ứng dụng trong các ngành kinh tế (máy phát điện, máy biến thế, tàu chạy bằng điện, bóng đèn điện…) Việc phát minh ra điện cho phép máy móc ở xa nơi cung cấp điện vẫn có thể nhận được điện Đây là một ưu thế lớn, cho thấy sự vượt trội của điện so với hơi nước Do dầu lửa cũng được phát hiện ra trong thời kỳ này, người ta đã phát minh ra đầu máy chạy bằng đốt trong, và sau đó là ô tô (năm

1883 - 1885), đầu máy diesel (năm 1891)

Trang 21

17

Cuối thế kỷ XIX, số phát minh khoa học đã tăng lên đáng kể Một cuộc cách mạng thực sự đã diễn ra trong lĩnh vực vật lý học: phát hiện ra tia Rơn-ghen (1895), hiện tượng phóng xạ (1896), điện tử (1897), radium (1898)… đến những phát minh mới về nguyên tử và vũ trụ Khoa học đã thu thập được một khối lượng khổng lồ những tri thức về thế giới tự nhiên, tổng hợp lại ở các thuyết cơ bản như thuyết Lượng tử và thuyết Tương đối…, tạo nền móng cho khoa học hiện đại ngày nay Theo tính toán của nhiều nhà khoa học, toàn

bộ lượng thông tin, tri thức trong thời kỳ này nhiều hơn cả tổng tri thức mà loài người tích lũy được trong suốt 19 thế kỷ đã qua

Song song với sự phát triển của khoa học kỹ thuật là sự xuất hiện của nhiều ngành công nghiệp mới như ngành điện, ngành khai thác và chế biến dầu lửa, ngành hóa chất, ngành cơ khí chế tạo ô tô mới ra đời Đặc trưng cơ bản nhất của những ngành mới nổi này so với những ngành truyển thống là hàm lượng cơ khí, máy móc trong sản phẩm chiếm tỷ lệ cao nhất Đây là những ngành đòi hỏi tính khoa học cao và sự chính xác tuyệt đối Cơ sở kỹ thuật biến đổi đã kéo theo sự thay đổi trong sản xuất và quản lý kinh doanh

“Chế độ Taylor” - chế độ quản lý theo phương châm “Củ cà rốt và chiếc gậy” lần đầu tiên được biết đến Phương pháp quản lý này đã cho thấy tính hiệu quả và ưu việt hơn hẳn các phương pháp quản lý trước Kinh tế thị trường cũng tiến một bước mới khi hình thức tập trung vốn mới là công ty cổ phần xuất hiện Công ty cổ phần trở thành một hình thức trung gian giữa những hãng riêng lẻ của thế kỷ XIX với tư bản độc quyền của thế kỷ XX Nó đã mở rộng được khả năng phát triển sản xuất và là bước đầu của các hình thức công

ty độc quyền sau này như cácten (về giá cả), xanhđica (về tiêu thụ), tờrớt (về sản xuất và tiêu thụ), côngxoócxiom (sản xuất, tiêu thụ và tài chính) Lúc đầu

mô hình này chỉ xuất hiện ở một số ngành nhất định, nhưng về sau, theo mối liên hệ dây chuyền, các tổ chức độc quyền này mở rộng ra nhiều ngành khác trong nền kinh tế Đến đầu thế kỷ XX, mô hình độc quyền trở nên phổ biến ở

Trang 22

18

các nước tư bản phương Tây Sản xuất công nghiệp với quy mô lớn, độc quyền lũng đoạn nền kinh tế đã là những nguyên nhân gây ra tình trạng sản xuất thừa - nguyên nhân trực tiếp của cuộc Đại suy thoái năm 1929 - 1933 Đây là thời điểm đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn thứ ba

Giai đoạn 4, từ năm 1936 - 1982 xuất hiện chủ yếu ở Mỹ do các nước

đế quốc mạnh ở Châu Âu như Anh, Pháp, Đức… phải bước vào cuộc chiến tranh thế giới lần 2 ( 1939 - 1945) nên không thể có điều kiện đầu tư cho phát triển kinh tế cũng như kỹ thuật Tuy nhiên, cuộc chiến tranh gây tổn thất nặng

nề nhất trong lịch sử nhân loại này gây thiệt hại cho các nước Châu Âu bao nhiêu thì mang lại lợi nhuận bấy nhiêu cho nước Mỹ Mỹ không tham chiến,

cơ sở hạ tầng cũng không bị tàn phá bởi chiến tranh; hơn thế nữa, Mỹ còn lợi dụng chiến tranh để làm giàu khi gần như là nước duy nhất bán vũ khí cho cả hai phía tham chiến Nếu như ở chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Mỹ thu về

35 tỷ đôla lợi nhuận thì đến chiến tranh thế giới lần thứ 2, lợi nhuận Mỹ thu

về do “ kinh doanh chiến tranh” đã lên tới 117,2 tỷ đô la Khả năng tài chính mạnh, cơ sở hạ tầng vững đã tạo điều kiện cho Mỹ chiếm được 1/2 sản lượng công nghiệp, 3/4 kim ngạch xuất khẩu và 3/4 trữ lượng vàng trong thế giới tư bản vào thời điểm năm 1945

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước trên thế giới bắt tay vào

tái thiết đất nước Đây là thời điểm diễn ra cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ 2 Cuộc cách mạng này đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp tới xu

hướng và tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất Mỗi năm thế giới có khoảng 1.000.000 phát minh mới, làm xuất hiện 30 vạn mặt hàng mới [56, tr.55] Chính những phát minh này đã chuyển nền kinh tế thế giới từ thời kỳ

cơ khí hóa sang thời kỳ tự động hóa Nắm bắt được xu thế này, trong chiến lược phát triển của mình, Mỹ đã coi việc phát triển khoa học - kỹ thuật là chiến lược ưu tiên nhằm hiện đại hóa sản xuất và chuyển nền kinh tế phát triển theo chiều sâu Ngoài ra, với tiềm lực sẵn có, Mỹ đã tìm cách lôi kéo

Trang 23

19

những chuyên gia giỏi của Tây Âu và các nước đang phát triển về Mỹ sinh sống và làm việc Chính vì vậy, có thể nói trung tâm của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ 2 là ở Mỹ, nơi có số phát minh và công trình nghiên cứu khoa học nhiều nhất trên thế giới Mỹ đã dành 75% - 80% vốn phát triển để đầu tư cho khoa học, kỹ thuật Kết quả thu được là sự xuất hiện của một loạt các ngành công nghiệp mới như điện tử, vi điện tử, công nghiệp hóa học, công nghiệp vũ trụ… Đây là những ngành có hàm lượng khoa học

kỹ thuật cao, vốn đầu tư lớn nhưng lợi nhuận thu về còn lớn hơn rất nhiều lần Lần đầu tiên người ta ý thức được sâu sắc lợi ích của việc đầu tư vào khoa học, kỹ thuật, coi đây là một lĩnh vực đầu tư mới đầy tiềm năng

Khoa học, kỹ thuật phát triển kéo theo sự phát triển của kinh tế thị trường Trên thế giới cũng như ở nước Mỹ, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ 2, quá trình tích tụ và tập trung tư bản, tích

tụ và tập trung sản xuất ngày càng diễn ra với tốc độ nhanh, trên quy mô lớn Đây là thời kỳ các tổ chức tư bản tài chính mở rộng và bành trướng quyền lực kinh tế, chính trị 18 tập đoàn tư bản lớn như Moocgan, Rockfeller,… đã khống chế hầu hết các mạch máu kinh tế quan trọng của nước Mỹ Các tập đoàn này là những công ty xuyên quốc gia, phạm vi kinh doanh của nó trải dài cả trong nước và ngoài nước với nhiều ngành nghề đa dạng khác nhau (Đây chính là cơ sở của xu hướng toàn cầu hóa ở giai đoạn 5)

Đến giữa thập kỷ 50 của thế kỷ XX, quá trình phục hồi kinh tế, tái thiết đất nước của các quốc gia Tây Âu và Nhật Bản đã đạt được những kết quả nhất định Các nước này đều muốn vươn lên giành lấy vị trí vốn có của mình trong thế giới tư bản như trước khi chiến tranh xảy ra Sự lớn mạnh nhanh chóng của Nhật Bản và Tây Âu đồng nghĩa với việc Mỹ mất dần địa vị thống trị trong thế giới tư bản Chỉ tính riêng trong công nghiệp, tỷ trọng giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản đã thể hiện rất rõ nét: năm 1948, Mỹ chiếm 54,6%, Tây

Âu 28,8%, Nhật Bản 1,2%; đến năm 1973, Mỹ chiếm gần 40%, Tây Âu 31%,

Trang 24

20

Nhật Bản 9,2% [56, tr.58] Như vậy, sức mạnh kinh tế của Tây Âu và Nhật Bản cộng lại đã vượt Mỹ Từ đây hình thành nên 3 trung tâm kinh tế của thế giới: Mỹ - Nhật Bản - Tây Âu Ba trung tâm này cạnh tranh với nhau rất mạnh

mẽ và mỗi động thái của nó đều ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế thế giới Nền kinh tế toàn thế giới bắt đầu cơ cấu lại, trang bị lại Bên cạnh những ngành kinh tế truyền thống gắn với nền đại công nghiệp, các ngành kinh tế mới đã phát triển với tốc độ rất nhanh (điện tử - bán dẫn, máy tính, viễn thông,…), trong đó các dịch vụ liên quan đến thông tin (ngân hàng, tư vấn, thiết kế, bảo hiểm,…) phát triển mạnh Thậm chí, ở một số quốc gia lĩnh vực

này chiếm tới trên 70% thu nhập của nền kinh tế quốc dân Đây chính là thời điểm đánh dấu sự gia nhập của một yếu tố sản xuất mới trong nền kinh tế, đó

là thông tin Các quốc gia cạnh tranh quyết liệt để giành thông tin, ai có thông

tin trước, kẻ đó là người chiến thắng Vào khoảng năm 1979 - 1982, kinh tế

Mỹ suy thoái, chấm dứt giai đoạn thứ tư

Giai đoạn 5, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX Giai đoạn này

cũng mở đầu tại nước Mỹ, khi quốc gia này muốn khôi phục vị trí bá chủ thế giới của mình nhưng không phải qua công nghiệp mà qua công nghệ cao Mỹ

đã sẵn sàng cho cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; kinh tế thế giới chuyển từ thời kỳ tự động hóa sang thời kỳ công nghệ cao Theo các nhà

nghiên cứu, đây chính là thời điểm nền kinh tế tri thức hình thành và phát

triển với các mũi nhọn công nghệ cao: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ…

Trước hết, các ngành công nghệ cao được hình thành và trở thành những mũi nhọn kinh tế của các quốc gia, trong đó hàng đầu là công nghệ thông tin vì công nghệ thông tin đang đóng vai trò cốt lõi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Nó phản ánh giai đoạn mới về chất của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm Trong cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, máy móc có thể trợ giúp một

Trang 25

21

phần trí tuệ con người, làm cho tốc độ tư duy tăng lên và năng lực tư duy phức tạp mở rộng Công nghệ thông tin bao gồm cả phần cứng như chế tạo các vi mạch điện tử, máy vi tính, mạng máy tính,… và các phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng Ngoài ra, phải kể đến các loại thiết bị viễn thông, điện tử công nghiệp, điện tử tiêu dùng, điện tử y tế, điện tử quốc phòng,… Đó đều là những bộ phận quan trọng của công nghệ thông tin Nền kinh tế mới được trang bị lại chủ yếu nhờ áp dụng công nghệ thông tin, tạo ra các “bộ não

- thần kinh” để tích hợp ngày càng rộng hơn trong toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, công nghệ thông tin là yếu tố khoa học, là công nghệ cốt lõi, tạo ra điều kiện kỹ thuật của toàn cầu hóa nhờ công nghệ thông tin toàn cầu, tức internet với xa lộ thông tin

Thứ hai, công nghệ sinh học đã chứng tỏ được tầm quan trọng của nó trong thế giới hiện đại Khoa học tiên tiến đã khám phá ra gen dưới dạng các phân tử hình xoắn kép (ADN), hiểu rõ được mật mã của sự sống,… đã tạo ra tiềm năng vô tận cho việc sản xuất các vật phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vật liệu công nghiệp để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người Sự phát triển của công nghệ sinh học, việc tạo ra những sinh vật và nhân giống chúng một cách tối ưu đã mở ra những triển vọng vô cùng to lớn trong việc tăng năng suất lao động, giải đáp những nhu cầu cuộc sống mà loài người trước đây chưa từng biết đến

Ngoài ra, nhiều công nghệ mới quan trọng khác như công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ Nano,… ra đời đã mở ra những tiềm năng mới, triển vọng mới Ngày nay, việc sử dụng nguồn điện nguyên tử, thủy điện và điện mặt trời ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống xã hội Các vật liệu mới như chất dẻo đặc biệt, vật liệu tổng hợp, sợi quang học,… thay thế dần các nguyên liệu truyển thống

Trang 26

22

Không ít nhà phân tích cho rằng dưới tác động của cách mạng khoa học

- công nghệ và quá trình toàn cầu hóa, kinh tế tri thức đang hình thành ở nhiều nước phát triển sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một hoặc hai thập kỷ tới Tuy nhiên, bao giờ kinh tế tri thức sẽ hoàn chỉnh và lan toả ra toàn thế giới thì còn nhiều ý kiến khác nhau: những người lạc quan nhất cho rằng điều đó sẽ xảy ra vào nửa cuối thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI; Liên hợp quốc thì dự báo vào thập kỷ thứ ba; một số ý kiến khác lại cho rằng giai đoạn quá độ sang kinh tế tri thức sẽ kéo dài suốt thế kỷ XXI Bất luận như thế nào thì trên thực tế cũng đang diễn ra sự quá độ sang một nền kinh tế khác với nền kinh tế đã tồn tại cho tới nay Quá trình chuyển giao này đã và đang diễn ra mạnh mẽ trong các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là ở Mỹ, Canada, EU Nhật Bản, Hồng Kông, Xingapo, Ôxtrâylia Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy hầu hết các nước thuộc OECD và APEC, các yếu tố thuộc nền kinh tế tri thức đã phát triển ở mức khá cao Trong các nước thuộc OECD, các ngành công nghiệp dựa trên tri thức (knowledge based industries) đã đóng góp trên 40% GDP Tỷ lệ này ở Xingapo là 57,3%; Mỹ: 55,3%; Nhật Bản: 53%; Canada: 51%,… Các cơ sở hạ tầng thông tin được đặc biệt quan tâm đầu tư và phát triển, đảm bảo tốt các nhu cầu thông tin với giá cả ngày càng giảm Ôxtrâylia và Canada có tới 50% số dân sử dụng điện thoại di động, 40% có máy tính cá nhân và 30% sử dụng mạng internet Thương mại điện tử, một lĩnh vực quan trọng của kinh tế tri thức đã phát triển hết sức nhanh chóng, đặc biệt ở Mỹ, Canada, Ôxtrâylia Mức tăng trong lĩnh vực này trong vài năm qua

đã đạt tới con số vài trăm % Nhiều nước phát triển đã thay đổi rõ rệt chính sách, chuyển hẳn ưu tiên cao cho việc tăng đầu tư vào phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục Năm 1995, tổng đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học, công nghệ mới và phát triển giáo dục chiếm 8,8% GDP ở Canada, 8,4% ở Mỹ, 6,8% ở Ôxtrâylia Tính từ giữa thập niên 80 trở lại đây, mức tăng bình quân đầu tư vào lĩnh vực này của các nước đạt trên 2,8%/năm Việc phát

Trang 27

23

triển các ngành kinh tế tri thức kéo theo đòi hỏi phải có đội ngũ công nhân trí thức, tức là người lao động được đào tạo có kiến thức và trình độ nghề nghiệp cao Đội ngũ này trong các nước phát triển tăng lên nhanh chóng, hiện nay tỷ

lệ công nhân trí thức chiếm gần 40% lực lượng lao động trong các nước nói trên, dự kiến đến năm 2010 sẽ tăng lên 80% Riêng ở Mỹ, chỉ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, vốn chỉ chiếm 8,3% tổng sản phẩm quốc nội nhưng đã đóng góp gần 1/3 sự tăng trưởng của kinh tế Mỹ Số người làm việc liên quan đến lĩnh vực internet tăng gấp đôi trong năm 1999 và thu nhập hàng năm của ngành này tăng 74%

Quá trình quá độ sang kinh tế tri thức cũng không “bỏ quên” các nước đang phát triển Các nước công nghiệp mới (NICs) đang chuyển mạnh theo hướng phát triển kinh tế tri thức và đã đạt được nhiều tiến bộ Một số nước khác như Trung Quốc, Malaixia, Thái Lan cũng đã tích cực chuẩn bị các cơ

sở cơ bản cho phát triển kinh tế tri thức, đặc biệt là tập trung xây dựng và phát triển những ngành kinh tế có hàm lượng tri thức cao như thông tin, công nghệ phần mềm, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học, vũ trụ, dịch vụ, giáo dục - đào tạo… Do tính quá độ đó nên có sự đan xen giữa các nhân tố của nền kinh tế cũ và những nhân tố của nền kinh tế mới Ngay trong lĩnh vực sản xuất cụ thể, những yếu tố truyền thống để tạo nên các sản phẩm vẫn tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của chúng trong cấu thành sản phẩm giảm đi, và ngược lại, giá trị của phần chất xám (vốn con người, công nghệ cao…) ngày càng chiếm vị trí áp đảo

Nói tóm lại, kinh tế tri thức đã được manh nha từ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần 1, lần 2; nhưng phải đến những năm 80 của thế kỷ XX khi diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ thì nó mới xuất hiện và cũng chỉ mới xuất hiện ở một vài nước phát triển nhất (Mỹ, Nhật Bản) Như đã khẳng đinh, sự xuất hiện này không phải là đột biến mà là kết quả phát triển lâu dài trên cơ sở kế thừa những thành tựu của nền kinh tế nông nghiệp và nền

Trang 28

24

kinh tế công nghiệp Đồng thời, đó cũng là kết quả của một quá trình hai trăm năm phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ với sự gia tăng hàm lượng tri thức trong sản phẩm cũng như tỷ trọng của nó trong GDP đến ngưỡng để được coi là kinh tế tri thức (Theo OECD, tỷ trọng các ngành tri thức chiếm trên 70% GDP thì nền kinh tế mới được gọi là kinh tế tri thức) Những kết quả ấy có thể tóm tắt lại bằng những nhân tố sau:

Tự động hóa cao độ: Tự động hóa cao độ quá trình sản xuất không

những giảm đến mức thấp nhất chi phí cho những yếu tố phi tri thức, mà còn rút ngắn một cách căn bản thời gian từ khi nghiên cứu phát triển đến sản xuất hàng loạt Và như vậy, mới gia tăng được một cách đáng kể hàm lượng tri thức trong sản phẩm Ngoài ra, chỉ có sự tự động hóa cao độ mới đáp ứng được nhu cầu sản xuất sản phẩm vừa với số lượng lớn, vừa rất linh hoạt đáp ứng nhu cầu chuyên biệt của khách hàng ở những thị trường khác nhau trên thế giới

Công nghệ tin học và thông tin phát triển cao độ: Đây là một trong

những điều kiện căn bản nhất đảm bảo sự phát triển của kinh tế tri thức Nó không những là một ngành kinh tế then chốt sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tri thức mà còn là điều kiện đảm bảo hiệu quả việc tiếp cận, trao đổi, xử lý thông tin, sáng tạo tri thức của các ngành kinh tế xã hội khác Trong sản xuất - kinh doanh, sự phát triển công nghệ này đã dẫn đến cuộc cách mạng giảm chi phí quản lý, điều hành Chi phí liên lạc rất thấp cũng góp phần giúp doanh nghiệp

có những phản ứng kịp thời cho mọi biến động trên phạm vi toàn cầu Ngoài

ra, công nghệ tin học và thông tin phát triển cao độ có những đóng góp tích cực vào việc nâng cao tri thức cho người tiêu thụ bình thường, giúp họ nâng cao khả năng sử dụng sản phẩm

Một môi trường an toàn và ổn định cho việc hình thành, sản xuất và tiêu thụ tri thức: Đó là một môi trường pháp lý bào đảm tự do hoàn toàn cho

Trang 29

Một hệ thống giáo dục và đào tạo tốt tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, trước hết có khả năng theo kịp sự phát triển như vũ bão của khoa học,

công nghệ trong nền kinh tế tri thức của thế giới Hơn nữa, nguồn nhân lực đó còn phải biết tạo ra, phổ biến và sử dụng tri thức, đổi mới công nghệ và sản phẩm, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện vị trí của quốc gia trên trường quốc tế Muốn được như vậy, có thể nói, tri thức chỉ có thể tồn tại, phát triển và phổ cập nhanh ở những quốc gia có trình độ dân trí cao với một

hệ thống nghiên cứu khoa học hiện đại mang tính hợp tác và đổi mới

1.3 Đặc điểm của kinh tế tri thức

Với một lịch sử hình thành hơn 200 năm và một quá trình phát triển mạnh mẽ gần 3 thập kỷ như vậy, nền kinh tế tri thức rõ ràng có những điểm khác hẳn so với những hình thái kinh tế trước đó Bên cạnh đó, do mô hình nền kinh tế tri thức vẫn chưa thực sự hoàn thiện, mới chỉ xuất hiện ở rất ít quốc gia nên những đặc điểm của nó chắc chắn chưa phải là những đặc điểm đầy đủ Tuy vậy, có thể thấy được những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, nền kinh tế tri thức coi tri thức là lực lượng sản xuất hàng đầu, là nhân tố quyết định sự phát triển

Đây chính là đặc điểm lớn nhất chỉ ra sự khác biệt giữa nền kinh tế tri thức với nền kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp Nếu như kinh tế nông

Trang 30

26

nghiệp coi đất đai, lao động… là nhân tố quyết định; kinh tế công nghiệp coi máy móc, nhà xưởng… là quan trọng nhất; thì ở kinh tế tri thức, nhân tố đó chính là tri thức hay trí tuệ của con người Cũng giống như trong nền kinh tế công nghiệp vẫn còn duy trì yếu tố nông nghiệp nhưng nông nghiệp nhỏ bé, trong nền kinh tế tri thức, các ngành công nghiệp và nông nghiệp không bị mất đi mà chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong nền kinh tế và tỷ trọng này ngày càng nhỏ đi Ngược lại với sự co lại của công nghiệp và nông nghiệp là quá trình phát triển và ngày càng lớn mạnh của các ngành tri thức Theo tính toán của OECD, một nền kinh tế được gọi là kinh tế tri thức khi có tỷ trọng của các ngành tri thức chiếm trên 70% GDP của quốc gia đó Không những thế, trong quá trình sản xuất, hàm lượng tri thức cũng phải đóng vai trò quyết định Theo nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thì hàm lượng này phải chiếm ít

nhất 65% giá thành sản xuất và 35% giá trị sản phẩm [48]

Một phần quan trọng của tri thức là sức sáng tạo của con người Chính nhờ những sáng tạo như máy hơi nước, điện thoại, máy vi tính, Internet… mà nền sản xuất đã phát triển nhanh chưa từng thấy, kinh tế tăng trưởng với tốc

độ đáng kể, mức sống của người dân được cải thiện và nâng cao… Các số liệu

đã công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy thành tựu mà kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp đạt được trong gần hai thiên niên

kỷ Vì vậy, bước vào nền kinh tế tri thức có nghĩa là các quốc gia trên thế giới đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, trong đó, thay vì cạnh tranh với nhau về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân công rẻ,… các quốc gia cạnh tranh với nhau về sở hữu trí tuệ Như vậy, nhân tố của cạnh tranh chính là con người và do con người tạo ra Trong cuộc cạnh tranh này, lý thuyết “Lợi thế

so sánh” của David Ricardo đã không còn được áp dụng Các nhân tố vô hình (trí tuệ, công nghệ, sức sáng tạo…) đã thế chỗ cho các nhân tố hữu hình (đất đai, vốn tư bản, lao động…) vì phần đóng góp của đất đai, sức lao động thông thường là hết sức nhỏ bé khi so với phần của tri thức trong quá trình sản xuất

Trang 31

27

Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên hay những lợi thế so sánh mà các quốc gia từng có thể đạt được lợi nhuận trong thương mại quốc tế được thay bằng trí tuệ Ai chiếm hữu được nhiều tài sản trí tuệ hơn, người đó sẽ thắng Nói như vậy không có nghĩa là nền kinh tế không cần đến vốn hay nhân lực nữa Trái lại, các yếu tố này còn được đầu tư với số lượng đáng kể hơn, ví dụ: trang thiết bị, máy móc công nghệ cao cần đầu tư một lượng vốn rất lớn nếu muốn theo kịp sự phát triển của thời đại Tuy nhiên, vốn vô hình như thông tin, tri thức, kỹ năng lao động, công nghệ còn có giá trị cao hơn nhiều lần, trở thành

phần vốn cơ bản nhất, yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất

Việc thay thế các lực lượng sản xuất truyền thống bằng tri thức, bằng trí tuệ đã làm thay đổi cách nhìn nhận của con người về “các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất” Trước đây, các yếu tố sản xuất luôn ở trong tình trạng báo động vì bị khai thác cạn kiệt (đến tận đầu thế kỷ XIX, người ta vẫn tin rằng rằng là vô hạn, nhưng sang đến thế kỷ XX, tất cả các quốc gia trên thế giới đều biết rằng diện tích rừng đang bị thu hẹp theo cấp số nhân và với tốc độ như thế, sang đến giữa thế kỷ XXI, Trái đất sẽ không còn rừng) Ngược lại, tri thức là yếu tố sản xuất đầu tiên mà người sản xuất không phải lo lắng

vì sự cạn kiệt của nó Không những không bị mất giá trị sau mỗi lần sử dụng

mà ngược lại, giá trị của nó còn tăng lên nhiều lần Bằng công nghệ khai thác cấp cao, chỉ một lượng nhỏ tài nguyên được sử dụng nhưng lại tạo ra những sản phẩm có giá trị lớn Ví dụ: năng lượng lấy từ hyđrô nặng trong 1 gallon nước tương đương với năng lượng lấy từ 300 lít xăng hoặc từ vài gram đá silic có thể tạo thành mạch tổ hợp IC trong máy tính có giá trị bằng cả tấn thép Tất cả điều này đạt được nhờ các vật liệu thông minh và vốn kiến thức,

trí tuệ để sáng chế ra chúng

Những tác động rõ ràng của trí tuệ, của tri thức như vậy đã làm các quốc gia ý thức được sâu sắc giá trị của việc sở hữu trí tuệ Nhật Bản là đất nước đi tiên phong trong lĩnh vực này qua chiến lược mua bản quyền các phát

Trang 32

28

minh, sáng chế của các nước trên thế giới, tạo điều kiện tối đa ứng dụng các phát minh đó vào thực tiễn trong giai đoạn “phát triển thần kỳ” và nhanh chóng bằng “con đường tắt” này vươn lên trở thành một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất công nghiệp và công nghệ cao Như vậy, tri thức đã trở thành đối tượng mua bán trên thị trường, trở thành hàng hoá trong

nền kinh tế

Trở thành hàng hoá trên thị trường nhưng “tầm vóc” của hàng hoá này khác hẳn với những hàng hóa vật chất thông thường Trong nền kinh tế tri thức, tri thức vừa được sử dụng để quản lý, điều khiển, tham gia vào quá trình sản xuất như công cụ sản xuất vừa trực tiếp là thành tố trong sản phẩm như nguyên liệu sản xuất Vì vậy, ngoài vai trò là hàng hoá, tri thức cũng là tư liệu sản xuất Tri thức để xử lý tri thức, để tạo ra tri thức và để quản lý điều hành… Chưa có hàng hoá nào trong nền kinh tế lại có nhiều vai trò quyết định đến như vậy trong cả quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất cũng như

trong phương thức sản xuất nói chung

Với vị trí như vậy trong nền kinh tế tri thức, tri thức cũng đã tạo ra một hiện tượng chưa từng có từ trước đến nay, đó là sự thu hẹp khoảng cách giữa người trí thức và người công nhân Kinh tế tri thức càng phát triển thì khoảng cách này càng bị thu hẹp Hiện tượng này chứng minh điều C.Mác đã từng chỉ

ra là khi hàm lượng cơ bắp trong sản phẩm do con người làm ra giảm đến mức cực nhỏ thì lúc đó sẽ xuất hiện giai cấp công nhân khoa học Lực lượng công nhân lao động chân tay (hay còn gọi là công nhân cổ xanh) giảm đi (tính chung ở các nước phát triển lực lượng công nhân cổ xanh trong công nghiệp chỉ chiếm khoảng 20% lực lượng lao động) tương ứng với sự gia tăng mạnh

mẽ của lực lượng công nhân khoa học hay công nhân trí thức hay công nhân

cổ trắng Ở Mỹ, 60% lực lượng công nhân là công nhân trí thức Trong nhiều ngành hiện nay không còn phân biệt giữa người công nhân và nhà khoa học nữa Những người làm việc trong các phòng thí nghiệm, trong các xưởng

Trang 33

29

phần mềm để tạo ra sản phẩm mới là các nhà khoa học nhưng cũng chính họ lại là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm như một người công nhân thực thụ Trong nền kinh tế tri thức, vai trò của người công nhân trí thức là rất quan trọng; họ là lực lượng chủ yếu tạo ra của cải cho xã hội, tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới Chính vì vậy, lực lượng công nhân trí thức hầu như không phải đối mặt với vấn đề thất nghiệp Thậm chí, những ngành có hàm lượng tri thức cao như máy tính, viễn thông, thông tin… còn đang trong tình trạng khan hiếm lao động và có nhu cầu cao về nhập khẩu lao

động từ nước ngoài

Nói tóm lại, trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng bậc nhất, hơn cả vốn, tài nguyên thiên nhiên và đất đai Giá trị xã hội cũ lấy sản xuất sản phẩm vật chất làm chủ đạo đang dần được thay thế bởi giá trị mới lấy tri thức làm động lực và mục tiêu phát triển Do đó, việc chiếm hữu và quản lý tri thức khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với việc sở hữu và quản lý các nguồn tài nguyên truyền thống Quản lý tốt quyền

sở hữư tài sản tri thức chính là tạo điều kiện, tạo tiền đề để kinh tế tri thức

phát triển

Thứ hai, xã hội trong nền kinh tế tri thức là xã hội học tập

Nhận thức rõ vai trò và vị trí của tri thức trong nền kinh tế tri thức đã làm con người ý thức nghiêm túc hơn về vấn đề học tập Sự bùng nổ thông tin, bùng nổ tri thức mới làm mỗi cá thể trong nền kinh tế phải liên tục đào tạo

và tự đào tạo nếu không muốn bị tụt hậu so với thời đại Mô hình giáo dục truyền thống: được đào tạo xong ở một cấp học nhất định (phổ thông, đại học, học nghề…) là có thể yên tâm làm việc giờ đây không còn phù hợp nữa Phải xác định đúng bản chất của việc đào tạo trong trường lớp là chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, nền tảng, còn khi làm việc phải tiếp tục đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc Quá trình đào tạo này có thể không qua trường lớp mà chủ yếu do tự nghiên cứu, tự đào tạo Trong thời đại kinh tế tri thức, quá trình

Trang 34

30

tự đào tạo gặp nhiều thuận lợi do thông tin trên mạng Internet luôn sẵn có và rất phong phú trên mọi lĩnh vực Điều quan trọng là mỗi cá nhân phải xác định được tầm quan trọng của học tập và nâng cao trình độ Trình độ chuyên môn phải theo kịp tốc độ phát triển của ngành thì mới có thể làm việc được

Phát triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội Do đó, đầu tư cho giáo dục và khoa học chiếm tỷ lệ rất cao Hiện nay, ở các quốc gia đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, kinh phí nghiên cứu khoa học chiếm khoảng trên 3% tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân, kinh phí cho giáo dục chiếm khoảng 6 - 8% tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân [53, tr.51] Thế giới hiện nay đang có xu hướng đầu tư vô hình (đầu tư cho con người, giáo dục, khoa học, văn hoá, xã hội…) cao hơn đầu tư hữu hình (đầu tư xây dựng

là cạnh tranh với nhau về thông tin: ai có thông tin trước, người đó sẽ thắng Đây chính là nguyên nhân giải thích cho sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong kỷ nguyên này Nó đã giúp cho mọi hoạt động trong xã hội, trong nền kinh tế được chất lượng hơn, hiệu quả hơn qua việc thâm nhập vào mọi lĩnh vực của cuộc sống và một xã hội càng có tốc độ xã hội hóa thông tin cao thì càng tiến gần hơn tới nền kinh tế tri thức Chính vì vậy, công nghệ thông tin chiếm một tỷ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế Theo số liệu của các nước trong EU thì các doanh nghiệp và người tiêu thụ của EU

Trang 35

Thế giới ngày nay cũng đang có xu hướng đầu tư vào phát triển hệ thống siêu xa lộ thông tin với các máy tính tí hon được cài ở khắp nơi, điều khiển mọi hoạt động trong nền kinh tế, từ đó đi tới một xã hội tự động hoá hoàn toàn, hầu như không cần tới công nhân sản xuất nữa Xu hướng phát triển này đã kéo theo một hệ quả, đó là việc sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến nhất và tiêu biểu nhất cho kinh tế tri

thức mà biểu tượng của nó chính là các khu công nghệ (technology park) Mỹ

là chiếc nôi của kinh tế tri thức cho đến nay đã có hơn 300 khu công nghệ cao, Pháp có khoảng 35, Nhật có khoảng 32 Các khu công nghệ cao là cầu nối chủ yếu liên kết giữa khoa học và công nghệ tiên tiến với sản xuất, từ thử nghiệm đến triển khai đại trà Khu công nghệ cao Sillicon của Mỹ đến nay thu hút hơn 7000 công ty kỹ thuật cao, tổng giá trị thị trường khoảng 450 tỷ USD, mức lương của những người làm việc ở đây cao gấp 5 lần mức lương bình quân ở Mỹ [46] Hai thập niên gần đây, các khu công nghệ cao phát triển rất nhanh, trở thành những chiếc cầu nối giữa mô hình kinh tế hiện tại với nền kinh tế tri thức

Thứ tư, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững, rất nhạy cảm và thân thiện với môi trường

Trước hết, phải thấy ngay rằng yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ở nền kinh tế tri thức khác với yếu tố đầu vào ở các mô hình kinh tế khác Nếu

Trang 36

32

như kinh tế nông nhiệp dựa vào đất đai, kinh tế công nghiệp dựa vào tài nguyên thiên nhiên thì kinh tế tri thức dựa vào chất xám của con người Đất đai trồng mới sẽ bị bạc màu, đất cằn cỗi cho năng suất kém; tài nguyên thiên nhiên khai thác mới sẽ bị cạn kiệt; không có nguyên vật liệu đầu vào có thể làm phá sản cả một ngành sản xuất, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Kinh

tế tri thức không phải đối mặt với những vấn đề như vậy Trí tuệ hay chất xám của con người là nguồn tài nguyên vô tận Giá trị của nó sau mỗi lần sử dụng không những không bị giảm đi mà trái lại còn tăng lên Nền kinh tế phát triển dựa trên yếu tố này sẽ luôn ổn định và tăng trưởng với tốc độ nhanh mà không phải bận tâm về vấn đề cạn kiệt tài nguyên Chính vì vậy, nền kinh tế phát triển dựa trên tri thức là một nền kinh tế phát triển bền vững

Bên cạnh đó, mục tiêu phát triển bền vững trong từng mô hình kinh tế khác nhau được nhìn nhận khác nhau ở nền kinh tế công nghiệp, con người phải sử dụng nguyên vật liệu, nhà xưởng, máy móc để sản xuất, do đó, phải tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng vì thế mà nhìn chung vấn đề môi trường sinh thái ít được quan tâm Nền kinh tế đó phát triển dựa trên nguyên tắc nguồn tài nguyên thiên nhiên là vô tận, không bao giờ cạn kiệt Từ giữa thế kỷ XX, những báo động về môi trường sinh thái xuất hiện ngày càng nhiều nhưng hầu như không có biện pháp hữu hiệu nào được thực hiện Vấn đề cơ bản là phương thức sản xuất Chừng nào nền kinh tế còn coi việc cướp đoạt tài nguyên thiên nhiên làm mục đích thì khi đó môi trường sống của con người còn bị đe doạ Kinh tế tri thức phát triển không dựa trên nền tảng như vậy Ý thức được rõ mối quan hệ điều hoà giữa con người và thiên nhiên, phương châm phát triển của kinh tế tri thức là thông qua công nghệ cao, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên hiện có, đồng thời tập trung khai phá nguồn tài nguyên chưa được tận dụng hết để thay thế nguồn tài nguyên hiện đang bị cạn kiệt Do đó, vấn đề cân bằng sinh thái hầu như được đảm bảo trong mô hình kinh tế mới này

Trang 37

33

Ngoài ra, môi trường trong nền kinh tế tri thức cũng được bảo vệ tốt hơn Các nhà máy, công xưởng trong nền kinh tế công nghiệp có thể xả khói vào bầu khí quyển, ngành công nghiệp ô tô, công nghiệp hoá chất đang làm ô nhiễm không khí Bằng chứng là lỗ thủng ở tầng ozôn ngày càng rộng ra, hiệu ứng nhà kính xuất hiện ngày càng nhiều… Ngược lại, các khu công nghệ cao, lực lượng sản xuất chủ yếu trong nền kinh tế tri thức là những khu công nghệ sạch, tuân theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt để bảo vệ môi trường nên không hề làm ô nhiễm môi trường

Hơn nữa, khi kinh tế tri thức phát triển, thương mại điện tử cũng phát triển theo Ở những nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật và một số quốc gia Châu Âu, nhịp độ tăng hoạt động thương mại điện từ những năm đầu thế kỷ XXI được dự đoán sẽ là 2 đến 3 lần một năm Thông qua thương mại điện tử, khách hàng có thể đặt hàng và người sản xuất dựa vào những đơn đặt hàng đó để sản xuất Sản xuất không bị rơi vào tình trạng sản xuất thừa hoặc thiếu; giữa sản xuất và tiêu dùng đã đạt được sự hài hoà Do đó, nền kinh tế luôn đạt được trạng thái ổn định, cân bằng và qua đó, phát triển bền vững

Thứ năm, nền kinh tế tri thức lấy thị trường toàn cầu làm hướng hoạt động chính

Công nghệ thông tin, nhất là mạng Internet làm cho không gian trở nên nhỏ bé Tri thức, công nghệ, vốn, hàng hóa, lao động, cách quản lý… không

bị bó buộc trong biên giới một quốc gia, giúp cho hoạt động kinh tế mang tính toàn cầu Mối quan hệ kinh tế, công nghiệp, thương mại xuyên quốc gia giữa các nước, các khu vực và các doanh nghiệp thúc đẩy kinh tế toàn cầu phát triển và tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt Có rất ít công ty, doanh nghiệp tồn tại được trong cuộc cạnh tranh ấy; đó chủ yếu là các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia với tiềm lực tài chính mạnh, vốn đầu tư lớn, phạm vi hoạt động trên toàn thế giới Các công ty này phát triển chưa từng có trong lịch sử

và đóng vai trò hết sức quan trọng; chúng thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá và khu

Trang 38

34

vực hoá Theo thống kê của Liên hợp quốc, năm 1996, trong số hàng chục triệu công ty đang xuất hiện khắp nơi trên thế giới có 44.000 công ty xuyên quốc gia, trong đó, 28.000 công ty con có tổng giá trị sản xuất chiếm 40% GDP thế giới, chiếm 50% giá trị thương mại của thế giới Tổng kim ngạch tài sản năm 1996 của các công ty xuyên quốc gia này lên tới 3.200 tỷ USD Hàng năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài của chúng chiếm 90% đầu tư trực tiếp của

thế giới [45]

Tuy nhiên, để có đủ lực phát triển công nghệ mới, tăng sức cạnh tranh trên toàn cầu, xu hướng của các doanh nghiệp trên thế giới hiện nay là vừa cạnh tranh vừa hợp tác để phát triển: cạnh tranh với nhau trên thị trường và khi một công ty thành công hơn, lớn mạnh hơn thì các công ty còn lại phải tìm cách sáp nhập hoặc chuyển sang lĩnh vực khác nếu không muốn bị phá sản ở Mỹ cũng như EU và Nhật Bản hiện đang diễn ra việc mua, sáp nhập của rất nhiều công ty xuyên quốc gia trở thành tập đoàn tư bản chi phối thị trường khu vực và thế giới Năm 1998, giá trị các vụ sáp nhập đã lên tới 2.500

tỷ USD Năm 1999, riêng 10 vụ sáp nhập các công ty lớn trên thế giới đã lên tới 1500 tỷ USD Vụ sáp nhập 3 ngân hàng lớn ở Nhật Bản tháng 8/1999 với

1200 tỷ USD đã bằng tổng giá trị của 7.700 vụ sáp nhập năm 1998 Ngành ô

tô của Mỹ đã sáp nhập lại thành 3 tập đoàn lớn, ngành tài chính kiểm toán thành 5 tập đoàn lớn, ngành thuốc lá thành 3 công ty [45] Xu hướng này mới chỉ phát triển thực sự mạnh mẽ trong nền kinh tế tri thức, trong môi trường

toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới

Thứ sáu, sáng tạo là yếu tố sống còn với nền kinh tế tri thức

Yếu tố sáng tạo nói chung rất quan trọng với mọi hình thái kinh tế Sáng tạo là cơ sở phát triển lực lượng sản xuất của xã hội nhưng đồng thời cũng là động lực cạnh tranh giữa các thực thể kinh tế nông nghiệp, hay hình thái kinh tế công nghiệp vai trò của sáng tạo đều rất quan trọng trong việc phân biệt mức độ phát triển của mỗi nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát

Trang 39

35

triển và chuyển hoá đến một hình thái kinh tế mới tiến bộ hơn Nhưng đối với kinh tế tri thức, vai trò của sự sáng tạo lại càng được nhấn mạnh hơn Sáng

tạo có thể coi như một tiêu chí để đánh giá sự phát triển của kinh tế tri thức

Sáng tạo có thể chỉ là việc đưa ra một phương pháp, cách thức mới để giải quyết một vấn đề cũ hay đưa ra một vấn đề, hiện tượng, giải pháp mới Trong thực tế sáng tạo có thể nhận biết qua các cải tiến, giải pháp hữu ích mới hay việc phát minh ra một sản phẩm mới, một công nghệ quản lý mới hay một

dịch vụ mới…

Trong nền kinh tế tri thức, khoa học, kỹ thuật phát triển rất nhanh, vòng đời sản phẩm ngắn, thời gian ứng dụng công nghệ ngắn… đó chính là hệ quả nhưng cũng là động lực thúc đẩy yếu tố “sáng tạo” phát triển Khi cái mới đưa

ra cũng đồng nghĩa với việc phủ nhận hay làm giảm giá trị của cái cũ hoặc ít nhất là cũng làm sự hấp dẫn của những cái tương tự đang tồn tại giảm đi rất nhiều trong trường hợp việc cái mới đưa ra hoàn toàn khác hẳn với cái cũ Vì vậy để tồn tại không thôi cái cũ cần phải tự sáng tạo phát triển, hoàn thiện thông qua đó thúc đẩy ra cái mới Ví dụ, khi công nghệ GMS ra đời đánh dấu việc phát triển mạng thông tin không dây, dịch vụ mà nó cung cấp sẽ làm giảm đi những nhu cầu đối với các dịch vụ PSTN có sẵn mà loài người đang

sử dụng Một ví dụ khác cũng trong lĩnh vực truyền thông là việc các loại modem (Bộ chuyển đổi tín hiệu số sang tín hiệu tương tự giúp máy tính truyền và nhận dữ liệu qua mạng tương tự) tốc độ cao hơn ra đời với giá thành

ngày càng rẻ hơn sẽ phủ nhận các loại modem thế hệ trước tốc độ thấp hơn

Với ý nghĩa như vậy, sáng tạo là yếu tố không thể thiếu được và có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế tri thức Hàm lượng sáng tạo trong một nền kinh tế càng cao càng cho thấy sự phát triển của nền kinh tế đó Thực tế cho thấy

ở những nước có nền kinh tế phát triển cao như Nhật Bản, Mỹ, Đức, Anh… chiếm phần lớn số lượng các phát minh sáng chế và giải pháp hữu ích… trên toàn thế giới Đối với các nền kinh tế này, việc sáng tạo lại càng đặc biệt được

Trang 40

36

coi trọng và bảo vệ hơn các nước đang và kém phát triển nhiều, chính bởi vì họ hiểu rõ vai trò và sự cần thiết của sáng tạo Hơn nữa, việc sáng tạo và đón đầu công nghệ còn giúp các nền kinh tế hội nhập và phát triển theo hướng kinh tế tri thức Đơn cử như trường hợp của Hàn Quốc, việc nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ CDMA do hãng QUANCOM của Mỹ phát minh ra đã biến quốc gia này trở thành một trong những nước đứng đầu về công nghệ và dịch vụ CDMA và hiện nay Hàn Quốc không những sản xuất những sản phẩm theo định hướng công nghệ này để phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu các sản phẩm này tới các thị trường có nền khoa học, kỹ thuật phát triển như Nhật Bản và Bắc Mỹ Ngoài ra, sáng tạo còn là yếu tố tích cực tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế tri thức như: giáo dục, khoa học, công nghệ, tài nguyên tri

thức…

Tóm lại, sáng tạo là tiêu chí đánh giá, là cơ sở cũng như động lực để

phát triển nhiều mặt của một nền kinh tế tri thức toàn diện

Trên đây là những đặc điểm cơ bản phân biệt nền kinh tế tri thức với các nền kinh tế khác đã từng tồn tại trong lịch sử Việc xác định chính xác những đặc điểm này có ý nghĩa định hướng rất quan trọng đối với mỗi quốc gia trong việc đề

ra các chính sách vĩ mô để phát triển nền kinh tế theo hướng nền kinh tế tri thức

Từ những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế tri thức nói trên cho thấy muốn bước vào nền kinh tế tri thức phải có nguồn nhân lực chất lượng cao Mà khi nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao thì biểu hiện cơ bản chính là năng lực trí tuệ, trình độ chuyên môn và khả năng sáng tạo Điều này phụ thuộc chủ yếu vào vai trò quyết định của nền giáo dục quốc dân, trong đó trực tiếp và quyết định nhất là giáo dục đại học Vai trò của giáo dục đại học đối với phát triển kinh tế tri thức thể hiện ở những nét khái quát sau:

 Giáo dục đại học cung cấp kiến thức, trang bị trình độ chuyên môn, nghề nghiệp cho người lao động ở mức cao

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995), 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995), Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1995
3. Song Ca (04/12/2005), “Kinh tế sáng tạo”, Tạp chí Tia sáng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế sáng tạo
Tác giả: Song Ca
Nhà XB: Tạp chí Tia sáng
Năm: 2005
4. Chu Văn Cấp (2007), Tìm hiểu vấn đề “Đẩy mạnh công nghịêp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” trong Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu vấn đề “Đẩy mạnh công nghịêp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” trong Văn kiện Đại hội X của Đảng
Tác giả: Chu Văn Cấp
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
5. Nguyễn Khắc Chương (2003), “Công tác đào tạo đại học, cao đẳng và ngành nghề để phát triển nguồn nhân lực ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác đào tạo đại học, cao đẳng và ngành nghề để phát triển nguồn nhân lực ở nước ta”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Nguyễn Khắc Chương
Năm: 2003
6. Nguyễn Văn Chiển (2007), “Xây dựng một đại học “hoa tiêu””, Tạp chí Tia sáng, (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một đại học “hoa tiêu””, "Tạp chí Tia sáng
Tác giả: Nguyễn Văn Chiển
Năm: 2007
8. Vũ Đình Cự (2007), “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức”, Tạp chí Cộng sản, (21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Vũ Đình Cự
Năm: 2007
9. Pierre Darriulat (2007), “Giáo dục đại học: Luận bàn vài điều cấp thiết”, Tạp chí Tia sáng, (18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học: Luận bàn vài điều cấp thiết”, "Tạp chí Tia sáng
Tác giả: Pierre Darriulat
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Dân (2008), Một số thông tin bước đầu về xã hội tri thức, Nhiệm vụ cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin bước đầu về xã hội tri thức
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2008
11. Nguyễn Văn Dân (2008), Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2008
12. Hồ Ngọc Đại (25/5/2009), “Giải pháp phát triển giáo dục: Từ góc nhìn nghiệp vụ sư phạm”, Tạp chí Tia sáng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển giáo dục: Từ góc nhìn nghiệp vụ sư phạm”
13. Nguyễn Kim Dung (02/5/2008), “Vài suy nghĩ về giáo dục đại học trong thời đại mới”, Tạp chí Tia sáng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về giáo dục đại học trong thời đại mới
Tác giả: Nguyễn Kim Dung
Nhà XB: Tạp chí Tia sáng
Năm: 2008
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
20. Phạm Văn Đồng (1999), Vấn đề giáo dục - đào tạo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục - đào tạo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
21. Đổi mới, nâng cao năng lực vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế (2007), Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, nâng cao năng lực vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế (2007)
Tác giả: Đổi mới, nâng cao năng lực vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2007
22. Đỗ Đăng Giu (04/8/2008), “Dạy và học theo quan điểm học suốt đời”, Tạp chí Tia sáng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học theo quan điểm học suốt đời”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1.1: Số l-ợng các tr-ờng đại học, cao đẳng - Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam
Hình 2.1.1 Số l-ợng các tr-ờng đại học, cao đẳng (Trang 45)
Hình 2.1.2. Số l-ợng sinh viên qua các năm - Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam
Hình 2.1.2. Số l-ợng sinh viên qua các năm (Trang 46)
Bảng  2.1.1.  Số  lượng  các  trường  đại  học,  cao  đẳng giai  đoạn  1999- - Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam
ng 2.1.1. Số lượng các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 1999- (Trang 46)
Bảng 2.1.2. Chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục - Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam
Bảng 2.1.2. Chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục (Trang 49)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w