CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
3.2. Tăng cường nguồn lực cho phát triển giáo dục đại học
- Vấn đề đầu tư xây dựng cơ chế, chính sách phát triển giáo dục đại học:
Cơ chế, chính sách là tổng thể những vấn đề quyết định nội dung và chất lượng giáo dục đào tạo, vì vậy tăng đầu tư cho việc nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách phát triển giáo dục đại học là một trong những việc làm rất quan trọng cần thực hiện đầu tiên.
Theo đó, cần xây dựng một cơ sở nghiên cứu chuyên nghiệp mạnh về giáo dục đại học làm chức năng nghiên cứu chính sách về phát triển và quản lý giáo dục đại học. Công tác quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng chính sách, chiến lược phát triển, môi trường pháp lý cho giáo dục đại học;
chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện chính sách, chiến lược phát triển; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra; điều tiết vĩ mô về cơ cấu, quy mô giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ cao của đất nước trong từng thời kỳ.
Đổi mới công tác quản lý theo hướng phân cấp mạnh mẽ, tăng quyền hạn và trách nhiệm cho các trường đại học; trường đại học được quyền tự chủ về đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức, nhân sự, tài chính, hợp tác quốc tế;
tập trung phần lớn thẩm quyền ra quyết định cho cấp trường; nâng cao trách nhiệm xã hội của trường đại học nhằm tăng năng lực cạnh tranh của nhà trường.
- Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục đại học:
66
Cần nhận thức rõ hơn rằng, nhân tố chủ yếu quyết định thành công của đổi mới và phát triển giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực cho giáo dục đại học tất nhiên bao gồm cả đội ngũ giảng viên và đội ngũ quản lý giáo dục từ các trường đến cơ quan chủ quản - Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với thực trạng đội ngũ hiện nay, phải có chính sách thỏa đáng để nhanh chóng phát triển đội ngũ này về số lượng (tăng số giảng viên, đảm bảo không quá 20 sinh viên/1 giảng viên) và nhất là về chất lượng (trình độ, năng lực chuyên môn lẫn phẩm chất đạo đức người thầy, người cán bộ quản lý); phấn đấu giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên đạt 65% vào năm 2010 và 95% vào năm 2020 như Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra. Nói cụ thể hơn, đó là chính sách xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách quản lý và giảng dạy tiên tiến, hiện đại. Để có được đội ngũ như vậy cần có những giải pháp đồng bộ, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đổi mới phương thức tuyển dụng theo hướng khách quan, công bằng, mang tính cạnh tranh. Đồng thời , đổi mới triệt để nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, tầm nhìn chiến lược, năng lực sáng tạo và tính chuyên nghiệp của cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục đại học.
Thứ hai, lựa chọn sinh viên khá giỏi, cán bộ khoa học có năng lực đã kinh qua công tác tại các cơ sở kinh tế - xã hội để bổ sung cho đội ngũ. Một số trường đại học sẽ đảm nhiệm việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên.
Thứ ba, sử dụng cơ chế hợp đồng dài hạn (với mọi đối tượng đủ tiêu chuẩn và điều kiện) để tăng số lượng giảng viên đại học nhằm mau chóng đảm bảo tỷ lệ giảng viên/sinh viên hợp lý đối với từng ngành đào tạo. Đảm
67
bảo sự bình đẳng giữa giảng viên biên chế và hợp đồng dài hạn, giảng viên các cơ sở công lập và ngoài công lập.
Thứ tư, xác định mức lương và các chế độ đãi ngộ phù hợp cho giáo chức và cán bộ quản lý giáo dục đại học theo hướng coi trọng chất xám, hiệu quả công việc, trước hết là chế độ đãi ngộ xứng đáng cho những người thầy vừa có tâm, vừa có tài, đồng thời đảm bảo tương quan hợp lý với các ngành nghề khác.
Thứ năm, đảm bảo được chỗ làm việc đủ tiện nghi tối thiểu tại trường cho giảng viên đại học để tăng thời gian tiếp xúc của họ với đồng nghiệp và sinh viên, điều mà các trường đại học tiên tiến trên thế giới đã thực hiện từ lâu.
Thứ sáu, có chính sách đào tạo đội ngũ giảng viên từ nước ngoài nhờ các chương trình học bổng nhà nước và các nguồn lực khác, đặc biệt chú ý các chương trình đan xen để đào tạo đội ngũ đương chức, các lớp tài năng, thông qua các đề án, các chương trình hợp tác liên kết giữa các trường đại học trong và ngoài nước.
Thứ bảy, xây dựng cơ chế chính sách để thu hút được nhiều chuyên gia giỏi từ các cơ sở nghiên cứu và sản xuất kinh doanh trong nước và ngoài nước (kể cả Việt kiều) để hỗ trợ cho giảng dạy đại học.
- Tăng cường nguồn lực tài chính cho phát triển giáo dục đại học:
Để phát triển giáo dục đại học lên ngang tầm đòi hỏi của xã hội cả về số lượng lẫn chất lượng, một giải pháp thiết yếu không thể xem nhẹ là cần tăng cao hơn nữa tỷ trọng đầu tư cho giáo dục đại học. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học nhằm đa dạng hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư, cụ thể như sau:
- Nhà nước tăng thêm kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho giáo dục đại học, còn các địa phương có kế hoạch điều chỉnh quy hoạch, dành quỹ
68
đất để xây dựng các cơ sở giáo dục đại học mới, hiện đại, đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.
- Thực hiện mạnh mẽ hơn nữa chính sách xã hội hoá giáo dục. Nhà nước có chính sách ưu đãi, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đại học; đảm bảo quyền sở hữu theo pháp luật và các quyền lợi về vật chất và tinh thần của nhà đầu tư.
- Các cơ sở giáo dục đại học chủ động thực hiện đa dạng hóa nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học, khai thác triệt để các nguồn lực từ nghiên cứu và triển khai, nguồn lực từ các dịch vụ tư vấn, nguồn lực ngoài nước và các dự án đầu tư của nước ngoài. Trước hết là cho phép và tăng cường các hoạt động có tính kinh doanh của các cơ sở giáo dục đại học như: mở các chương trình đào tạo ngắn hạn và hoạt động nghiên cứu, tư vấn theo hợp đồng, mở các công ty thuộc trường đại học,... Năm 1996, các hoạt động này đã đóng góp vào tổng thu của các cơ sở giáo dục đại học đến 14% ở Argentina, 17% ở Trung Quốc.
- Thực hiện nguyên tắc nhà trường được tự chủ về hạch toán thu - chi theo nguyên tắc từ nhiều nguồn thu tài chính đủ bù các khoản chi hợp lý, có tích lũy cần thiết để phát triển cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu.
Đảm bảo tự chủ tài chính thông qua việc đa dạng hóa các nguồn thu, nâng cao tỷ lệ các nguồn thu từ các hoạt động liên kết và các hoạt động dịch vụ.
- Xác lập sự chia sẻ chi phí giáo dục đại học giữa Nhà nước, người học và cộng đồng trong đó có sự đóng góp của các cơ sở sử dụng lao động được đào tạo; xây dựng lại hệ thống chính sách học phí, học bổng, tín dụng sinh viên. Thực hiện nguyên tắc người học phải trả học phí, nguồn trang trải học phí có thể từ người học, từ ngân sách hoặc từ cộng đồng. Nhà nước thực hiện sự trợ giúp một phần hay toàn bộ học phí đối với các đối tượng chính sách, người nghèo, đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, trực tiếp thông qua người học.
69
- Đổi mới chính sách tài chính nhằm tăng hiệu quả đầu tư từ ngân sách và khai thác các nguồn đầu tư khác cho giáo dục đại học. Xây dựng và triển khai quy trình phân bổ công quỹ và quản lý tài chính giáo dục đại học công khai, minh bạch và hiệu quả. Xây dựng, bổ sung, điều chỉnh các quy chế về tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập. Thường xuyên tổ chức đánh giá hiệu quả kinh tế của giáo dục đại học.