Xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường trong bối cảnh phát triển mới ở Singapore...83 Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Singapore đối với Việt Nam nhằm phát huy vai trò của nhà n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -*** -
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: Tổng quan về vai trò nhà nước trong bối cảnh hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức 10
1.1 Khái lược chung về vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường 10
1.1.1 Tính tất yếu khách quan của vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường 10
1.1.2 Nội dung, công cụ, điều kiện can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế thị trường 17
1.1.3 Khả năng thất bại của nhà nước 19
1.2 Sự hình thành và các đặc điểm của kinh tế tri thức 22
1.2.1 Sự hình thành nền kinh tế tri thức 22
1.2.2 Đặc điểm của kinh tế tri thức 24
1.3 Vai trò của nhà nước trong bối cảnh hình thành nền kinh tế tri thức 30
1.3.1 Tác động của xu hướng hình thành nền kinh tế tri thức và sự biến đổi của vai trò nhà nước 30
1.3.2 Nội dung và phạm vi của vai trò nhà nước trong bước chuyển sang nền kinh tế tri thức 35
Trang 3Chương 2: Vai trò của nhà nước trong bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức ở Singapore 40 2.1 Sơ lược đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của Singapore 40
2.1.1 Một số nét cơ bản về lịch sử phát triển kinh tế ở Singapore 40
2.1.1.1 Một số nét cơ bản về vị trí địa lý, dân số, tôn giáo và ngôn ngữ của Singapore 40 2.1.1.2 Sơ lược về lịch sử phát triển kinh tế - xã hội Singapore 41
2.1.2 Một số nét cơ bản về nhà nước và hoạt động của nhà nước ở Singapore 45
2.1.2.1 Sơ lược về quá trình hình thành và nắm giữ quyền lực của Đảng nhân dân hành động Singapore (PAP) 45 2.1.2.2 Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Singapore 47
2.2 Khái quát vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế ở Singapore trong giai đoạn CNH 50
2.2.1 Các chiến lược CNH và các chính sách thực tiễn 50 2.2.2 Xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường trong phát triển kinh
tế ở giai đoạn 56 2.2.3 Đánh giá vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế ở Singapore trong giai đoạn CNH 61
2.3.Sự xuất hiện của kinh tế tri thức và vai trò nhà nước Singapore trong bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức ở Singapore 65
2.3.1 Bối cảnh dẫn đến sự hình thành nền kinh tế tri thức ở Singapore 65
Trang 42.3.2 Vai trò của nhà nước trong việc tạo lập các điều kiện phát triển kinh
tế tri thức ở Singapore 68
2.3.3 Xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường trong bối cảnh phát triển mới ở Singapore 83
Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Singapore đối với Việt Nam nhằm phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế và từng bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức 94
3.1 Sự tương đồng và khác biệt về KT – XH giữa Việt Nam và Singapore 94
3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Singapore có thể áp dụng cho Việt Nam 99
3.2.1 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Singapore trong bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức 99
3.2.1.1.Bài học chung về lựa chọn mô hình và chiến lược phát triển 100
3.2.1.2 Một số bài học cụ thể 102
3.2.2 Một số khuyến nghị có tính chất giải pháp đối với Việt Nam 112
3.2.2.1.Về chính sách phát triển nguồn nhân lực 107
3.2.2.2 Về chính sách phát triển khoa học – công nghệ 111
3.2.2.3 Về cách ứng xử với khu vực tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước 113
3.2.2.4 Về việc cung ứng các dịch vụ công của nhà nước 114
3.2.2.5 Về xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia 115
Trang 53.2.2.6 Về tăng cường hiệu năng của nhà nước 117
KẾT LUẬN 120 TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ADN Acid deoxyribonucleic Là phân tử acid nucleic mang thông
tin di truyền mã hóa cho hoạt động sinh trưởng và phát triển của sinh vật
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Board
Hội đồng phát triển kinh tế
ICT Information and
communication
technologies
Công nghệ thông tin và truyền thông
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
PAP People’s Action Party Đảng Nhân dân hành động Singapore
WTO World trade organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
hoạt động sản xuất và thương mại của Singapore 65
hoạt động xuất khẩu Singapore với một số nước trong khu
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong phát triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng Bằng hệ thống luật pháp và các chính sách cụ thể, nhà nước sẽ tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các giao dịch và các hoạt động kinh tế, cung cấp những hàng hóa công mà khu vực tư nhân không cung cấp hoặc cung cấp kém hiệu quả Bên cạnh đó, nhà nước còn có vai trò tích cực trong sửa chữa các khuyết tật thị trường, thực hiện chức năng phân phối lại tài sản, thu nhập, tạo môi trường thuận lợi cho sự cạnh tranh lành mạnh, chăm lo phúc lợi xã hội, …, để đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội và ổn định kinh tế vĩ
mô Tuy nhiên, bên cạnh khuôn khổ chung thì vai trò của nhà nước còn bị quy định bởi các yếu tố có tính chất lịch sử, phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế Khi bối cảnh phát triển thay đổi, đặc biệt nếu xuất hiện những biến động sâu sắc, mang tính chất thời đại thì vai trò nhà nước chắc chắn sẽ chịu tác động và
có những thay đổi quan trọng
Xét trên bình diện chung, thế giới ngày nay đang định hình và tiến triển nhanh vào một thời đại kinh tế mới, từ một nền kinh tế dựa trên vốn (capital - based economy) sang một nền kinh tế dựa vào tri thức (knowledge - based economy) - một nền kinh tế mà nền tảng vững chắc chính là tri thức của con người (human ingenuity), các kỹ năng làm việc (skills), và một quyết tâm sáng tạo, thông qua các hoạt động nghiên cứu và triển khai (Research & Development
– R&D) Điều này sẽ làm thay đổi nội dung, tính chất, phạm vi và cách thức sáng
tạo ra của cải của xã hội loài người, tạo ra một thời đại phát triển mới: Thời đại kinh tế tri thức Trong nền kinh tế tri thức, thông tin và tri thức là động lực chính
để tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế, ở đó, công nghệ thông tin và tri thức sẽ thay thế vốn và năng lượng cũng giống như chính vốn và năng lượng đã thay thế lao động và đất đai 200 năm về trước Sự xuất hiện kinh tế tri thức gắn liền với sự
Trang 92
bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và quá trình toàn cầu hóa trong những năm gần đây đã tạo ra sự biến đổi toàn diện trong đời sống kinh tế - xã hội của loài người Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có tính chất toàn cầu Trong đó, các đường biên giới vật lý giữa các quốc gia sẽ trở nên mờ đi trước sự di chuyển
dễ dàng của nguồn lực và hàng hóa Mỗi nền kinh tế quốc gia không còn là một thực thể độc lập mà sẽ chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chung có tính chất toàn cầu Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia cũng như sự phụ thuộc của một nền kinh tế vào nền kinh tế thế giới chung khiến cho mỗi nền kinh tế, kể cả các nền kinh tế đang hoặc kém phát triển đều phải chịu tác động của quá trình toàn cầu hóa chung này Điều đó sẽ đặt ra những cơ hội và thách thức cho các quốc gia trong tiến trình phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với những nước đang hoặc kém phát triển Thực tế đó đòi hỏi để thích ứng với quá trình này, chắc chắn mỗi quốc gia đều phải tiến hành những bước thay đổi trong chiến lược phát triển, trong đó, việc định hình đúng và đổi mới vai trò của nhà nước có ý nghĩa quan trọng
Singapore là một quốc gia đạt được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội thần kỳ trong những năm qua Từ một đảo quốc nhỏ không có nhiều tài nguyên, đất nước này đã có sự phát triển vượt bậc để trở thành một trong những con rồng châu Á Ngay cả trong giai đoạn hiện nay, khi Châu Á và thế giới đang xảy ra những biến động lớn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Singapore vẫn giữ được vị thế và đạt được những thành tựu phát triển đáng kể Để đạt được những thành công đó, không thể phủ nhận những đóng góp quan trọng của nhà nước Singapore trong quản lý, điều hành công cuộc phát triển kinh tế của quốc gia này Nhà nước Singapore không chỉ dẫn dắt nền kinh tế thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, đạt được mức tăng trưởng ấn tượng, mà còn tạo
ra các điều kiện để nền kinh tế thích ứng với bối cảnh phát triển mới và từng bước tiến vào thời đại kinh tế tri thức Trước xu thế phát triển nền kinh tế tri thức trên quy mô toàn cầu, nhà nước Singapore đã ý thức được ưu thế vượt trội của thời đại kinh tế này so với kinh tế công nghiệp Vì vậy, họ đã chủ động triển khai các
Trang 103
chương trình, chiến lược, kế hoạch hành động đi vào kinh tế tri thức và cũng chính trong quá trình đó, dưới tác động sâu sắc của thời đại mới, vai trò nhà nước Singapore đã có những biến đổi quan trọng
Như đã nói ở trên, Việt Nam với tư cách là một thành viên trong nền kinh tế toàn cầu nên tất yếu sẽ chịu tác động bởi xu hướng hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức Với xuất phát điểm thấp, nhiệm vụ đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay rất phức tạp: một mặt phải thực hiện công cuộc CNH – HĐH; mặt khác phải sớm chuẩn bị các điều kiện để thích ứng với thời đại kinh tế tri thức Dưới tác động của bối cảnh thời đại mới, ngay cả tiến trình công nghiệp hóa cũng không thể thực hiện theo con đường truyền thống như trước, nếu như không muốn tụt hậu ngày càng xa so với trình độ phát triển chung của thế giới Sự xuất hiện của thời đại kinh tế tri thức đòi hỏi nhà nước Việt Nam phải xem xét, đánh giá lại các chiến lược phát triển, trong đó, cần phải xem xét lại, xác định lại vai trò nhà nước Để làm được điều đó, bên cạnh nỗ lực của nhà nước thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước đã thành công khi thực hiện bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức như Singapore đóng vai trò rất quan trọng Vì vậy, nghiên cứu vai trò của nhà nước Singapore trong bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức, qua
đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trên bước đường CNH - HĐH, tạo tiền đề phát triển kinh tế tri thức trong giai đoạn hiện nay là thực sự cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về vai trò nhà nước đối với sự phát triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng là một chủ đề được nhiều nhà khoa học, học giả đặc biệt quan tâm Như đã nói ở trên, vai trò nhà nước bên cạnh những khuôn khổ chung còn bị quy định bởi những yếu tố có tính chất lịch sử, đặc biệt là những biến động có tính chất thời đại Sự xuất hiện của thời đại kinh tế tri thức là một tất yếu khách quan đã có tác động to lớn đền mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội Bối cảnh đó
Trang 11J.Stiglitz, Th Friedman… Cuốn sách “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi” (Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1997) của Ngân hàng thế
giới là một trong số ít cuốn sách đề cập khá trực tiếp vào vấn đề vai trò nhà nước trong thời đại kinh tế tri thức Tuy nhiên, dưới dạng một báo cáo phát triển thường niên, những khía cạnh lý thuyết không là mối quan tâm chính trong công trình
này Tác phẩm “Những đỉnh cao chỉ huy” của tác giả Daniel Yergin & Jojep
Stanslaw mặc dù tập trung phân tích về vai trò nhà nước trong bối cảnh kinh tế thị trường nhưng cũng có thể cung cấp những ý tưởng gợi mở để thấy được xu hướng thay đổi tất yếu trong vai trò của nhà nước khi bối cảnh phát triển kinh tế thay đổi…
Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc nghiên cứu vai trò nhà nước trong bối cảnh “toàn cầu hóa” hoặc “đối với
sự phát triển kinh tế tri thức” Tuy nhiên, những nghiên cứu về vai trò nhà nước gắn với kinh tế tri thức thường chủ yếu xoay quanh vấn đề xem xét nhà nước như một nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức, dẫn đến đòi hỏi phải xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia Một số công trình tiêu biểu có thể
kể đến là: kỷ yếu hội thảo khoa học: “Nhà nước và khoa học trong một nền kinh tế tri thức hiệu quả”, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,…Trong đó
các nhà nghiên cứu đã bước đầu đề cập đến xu hướng hình thành nền kinh tế tri thức trên thế giới và tác động tất yếu của xu thế này đến Việt Nam Đề tài khoa
Trang 12“Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức ở một số nước trên thế giới hiện nay”
do PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh chủ nhiệm đề tài đã hệ thống hóa các quan điểm, cách nhận thức khác nhau về kinh tế tri thức, phân tích những đặc trưng chủ yếu
và các tiền đề cơ bản để hình thành nền kinh tế tri thức, như: môi trường thể chế, kết cấu hạ tầng thông tin - viễn thông, hệ thống giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực, hệ thống đổi mới quốc gia…đồng thời mô tả chi tiết thực trạng nền kinh tế tri thức của một số nước công nghiệp phát triển, xem xét các bước đi chủ yếu, các chính sách để tiếp cận và xây dựng kinh tế tri thức của mỗi quốc gia đó, có so sánh điểm giống nhau và khác nhau trong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức giữa các quốc gia. Cũng đã có những công trình khoa học đề cập trực tiếp
đến vấn đề nghiên cứu như: cuốn sách “Nhà nước với phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Nguyễn Thị Luyến (chủ biên) góp phần cung cấp những thông tin cơ bản về sự ra đời và phát triển của nền kinh tế tri thức; vai trò của nhà nước và sự tiến triển của nó đối với nền kinh tế trong quá trình phát triển của lịch sử, đồng thời nêu kinh nghiệm của một số nước trong việc tạo ra các nguồn lực để phát triển kinh tế tri thức và cải thiện về mặt xã hội cũng như điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Cuốn sách cũng đề cập tới một số vấn đề về hội nhập kinh tế thế giới và vai trò nhà nước, pháp luật trong tiến trình chuyển sang phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam Tuy nhiên, tác phẩm là tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả, các vấn đề
Trang 13để xây dựng nền kinh tế tri thức ở Singapore để nhanh chóng biến Singapore thành “đảo quốc thông minh” Một số công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu
này là: “Bí quyết hoá rồng : Lịch sử Singapore 1965-2000 và Singapore và sự bùng nổ kinh tế Châu Á” của cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu; “Phong trào năng suất và năng lực cạnh tranh - Kinh nghiệm của Singapore” của tác
giả Low Choo Tuck, Nguyên Giám đốc Ban Kế hoạch - Cơ quan Tiêu chuẩn,
Năng suất và Đổi mới Singapore Trong các tác phẩm này, vai trò của nhà nước Singapore được xem xét như một nguyên nhân quan trọng để Singapore đạt được
sự phát triển ấn tượng, đồng thời chỉ ra những thách thức mà quốc đảo này phải đối diện trong thời đại mới Tuy nhiên, vấn đề vai trò nhà nước Singapore đã có những biến đổi như thế nào trong bối cảnh kinh tế tri thức thì còn chưa được đề cập đến một cách trực tiếp Ngoài ra, bên cạnh những nghiên cứu về phát triển kinh tế nói chung, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về bản thân nền kinh
tế tri thức ở Singapore, trong đó có nhắc đến (tuy còn rất sơ lược) về vai trò nhà
nước như: “Các sáng kiến của nhà nước và phát triển kinh tế tri thức: trường hợp của Singapore”của Chew Lay Lek và Suliman Al - Hawamdeh
Ở Việt Nam, những công trình bàn một cách trực tiếp vào vấn đề phát triển kinh tế tri thức của Singapore còn rất ít ỏi Vấn đề này chủ yếu được đề cập trong
Trang 147
các công trình khoa học bàn về nhóm nước đang phát triển trong quá trình vươn
tới nền kinh tế tri thức như : Đề tài cấp nhà nước: “Kinh tế tri thức - Vấn đề và giải pháp: Kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển”,Viện
Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương; “Kinh tế tri thức, nhìn từ Singapore,
Nhật Bản, Đan mạch” của tác giả Phúc Tiến
Tóm lại, nghiên cứu về vai trò nhà nước trong bối cảnh thời đại kinh tế tri thức là một chủ đề khá mới mẻ cả về phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn Hiện nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu, phân tích toàn diện vai trò nhà nước trong bước chuyển sang nền kinh tế tri thức ở những quốc gia cụ thể như Singapore Vì vậy, việc nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong bước chuyển sang kinh tế tri thức ở Singapore để từ đó đúc rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, từng bước thích ứng với xu hướng hình thành và phát triển kinh tế tri thức trên toàn thế giới là một việc làm cần thiết
3 Mục tiêu nghiên cứu
Kinh tế tri thức là một hiện tượng đang tiến triển ở giai đoạn đầu nên các vấn đề liên quan đến nó còn khá mới mẻ, trong đó vấn đề vai trò nhà nước trong thời đại kinh tế tri thức cũng không phải là một ngoại lệ Mục tiêu của luận văn là làm sáng tỏ những thay đổi trong vai trò nhà nước của Singapore trước bối cảnh nền kinh tế đang từng bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức Trên cơ sở những phân tích đó sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể vận
dụng trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của nhà nước Singapore trong bối cảnh nền kinh
tế nước này đang từng bước chuyển dần sang nền kinh tế tri thức
Trang 15tri thức – từ năm 1997 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên nền tảng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp trừu tượng hóa khoa học… luận văn chú trọng
sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích đánh giá dựa trên số liệu và những thông tin thực tế Đồng thời, trên cơ sở kết quả nghiên cứu cộng với những kiến thức đã học và kinh nghiệm trong quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân, tác giả đề xuất một số giải pháp đối với Việt Nam
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh
tế, bối cảnh và đặc điểm của nền kinh tế tri thức Trên cơ sở đó làm rõ nội dung
và phạm vi của vai trò của nhà nước trong bối cảnh nền kinh tế tri thức
- Khái quát hóa những chuyển biến trong vai trò của nhà nước Singapore trước bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang kinh tế tri thức
- Tổng kết bài học kinh nghiệm của Singapore và kiến nghị một số giải pháp đối với nhà nước Việt Nam để góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế và từng bước tiến vào thời đại kinh tế tri thức
Trang 17cổ điển (Hà Lan, Anh), kinh tế thị trường kiểu Mỹ, kinh tế thị trường kiểu Pháp, kinh tế thị trường kiểu Phổ.v.v… Trong những kiểu kinh tế thị trường khác nhau
đó, mặc dù có những khác biệt về nhiều mặt nhưng trên thực tế, chưa bao giờ tồn tại dạng kinh tế thị trường hoàn toàn không có nhà nước, thoát ly khỏi nhà nước Nhà nước luôn là một bộ phận cơ hữu nằm trong cấu trúc tổng thể của kinh tế thị trường và sự tồn tại của nhà nước trong cấu trúc đó là một tất yếu khách quan, vừa với tư cách là một chủ thể sở hữu bên cạnh các chủ thể sở hữu khác, vừa với
tư cách là một chủ thể quản lý Sự khác biệt của vai trò nhà nước giữa các giai đoạn lịch sử và giữa các quốc gia chỉ nằm ở chỗ tính chất của nhà nước như thế nào và cách thức can thiệp, điều tiết của nhà nước ra sao cũng như hệ quả của cách thức can thiệp, quản lý đó dẫn đến sự phát triển hay suy bại của nền kinh tế thị trường mà thôi Vì vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường luôn là bài toán đặt ra cho các nhà nước trong mọi thời đại Nhưng, “ranh giới giữa nhà nước và thị trường không thể được phân định dứt khoát bởi một số cuộc hội thảo ôn hòa Đây là chủ đề của các cuộc chiến lớn nhỏ về trí tuệ và chính trị trong suốt một thế kỷ Các cuộc chiến nói chung đã tạo nên một trong những
vở kịch lớn định hình thế kỷ XX Ngày nay, mâu thuẫn giữa thị trường và sự kiểm
Trang 1811
soát của nhà nước đã trở nên sâu rộng đến mức đang làm thay đổi cả thế giới và làm nền cho thế kỷ XXI” [3] Sự thành công hay thất bại của các quốc gia trong tiến trình phát triển kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả hay kém hiệu quả của sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động khách quan của thị trường
Và ngược lại, sự phát triển của kinh tế thị trường tất yếu sẽ kéo theo những biến đổi trong cung cách can thiệp của nhà nước
Từ thế kỷ XV, chủ nghĩa tư bản bắt đầu xuất hiện cùng với quá trình tích lũy nguyên thủy, kéo theo đó, nền kinh tế thị trường từng bước được hình thành Nhà nước lúc đó đóng vai trò vai trò như “bà đỡ” cho sự ra đời của kinh tế thị trường Nhà nước khi đó đã sử dụng những chính sách, biện pháp nghiêm ngặt để tích lũy tiền tệ, ngăn cấm xuất khẩu tiền tệ, kiểm tra, kiểm soát ngoại thương, lập hàng rào thuế quan cao và đánh thuế nặng vào các mặt hàng được nhập khẩu từ nước ngoài, kiểm soát tỷ giá hối đoái, hỗ trợ thương nhân trong nước bằng nhiều chính sách như chính sách lãi suất Nhờ đó, các nước tư bản đã tích lũy được lượng của cải đáng kể để tập trung cho sản xuất, phát triển khoa học - kỹ thuật và làm cho nền sản xuất ở các nước tư bản phát triển rất nhanh, đẩy mạnh trao đổi hàng hóa, đặc biệt là mở rộng quan hệ thương mại ra khỏi biên giới quốc gia Đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, tự do cạnh tranh đã trở thành xu thế tất yếu do sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các nước tư bản Để đạt được cán cân xuất siêu, bản thân nhà nước cũng phải điều chỉnh, thay đổi cách can thiệp cho phù hợp với tình hình kinh tế mới Thay vì sử dụng những giải pháp mang nặng tính hành chính, nhà nước dần gia tăng các giải pháp mang tính kinh tế Sự nhận thức về kinh tế thị trường là không gian kinh tế mở và cạnh tranh đã đưa đến quan điểm “nhà nước không can thiệp vào nền kinh tế” [21], mọi hoạt động của nền kinh tế nên để “bàn tay vô hình” của thị trường quyết định, cũng giống như trong y học, người thầy thuốc không được can thiệp một cách áp đặt đối với con bệnh mà trước tiên, phải tôn trọng những quy luật có tính sinh học trong cơ thể con người [21] Điều này được thể hiện rõ nét trong quan điểm của các nhà kinh
Trang 1912
tế học thuộc trường phái cổ điển như William Petty, Adam Smith, Ricardo.v.v…Theo quan điểm của Adam Smith, trong một nền kinh tế mà ở đó mọi hoạt động kinh tế được điều tiết, dẫn dắt bởi “bàn tay vô hình” là thị trường thì vai trò kinh tế của nhà nước sẽ tập trung vào các chức năng chính: (1) Nhà nước chăm lo cho quốc phòng, đảm bảo môi trường hòa bình, tránh để xảy ra nội chiến và ngoại xâm Để thực hiện nghĩa vụ này, nhà nước cần phải có chỗ dựa về tài chính Tuy nhiên, tài chính để phục vụ cho quốc phòng không thể được giải quyết một cách tùy tiện theo quyền lực chính trị của bản thân nhà nước mà phải dựa vào khả năng sinh lợi của nền kinh tế (2) Tạo lập một môi trường pháp lý nhằm hình thành một khuôn khổ luật pháp để các doanh nghiệp và cá nhân tham gia các hoạt động kinh tế Đây là hoạt động có tính chất nền tảng, chi phí không cao nhưng lại vô cùng quan trọng đối với xã hội Bằng hệ thống luật pháp của mình, nhà nước phải đảm bảo các quyền cơ bản cho từng công dân, ví dụ như quyền sở hữu cá nhân, trên cơ sở đó, đảm bảo những quyền khác như quyền tự do tiêu dùng, tự do ký kết các hoạt động kinh doanh…Nhà nước dùng hệ thống luật pháp để kiểm soát các trật tự xã hội, ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh và các thủ đoạn kinh tế phi đạo đức (3) Nhà nước là người cung ứng các hàng hóa
và dịch vụ công cộng tối thiểu khác để tạo môi trường kinh doanh cho các chủ thể kinh tế cũng như các dịch vụ tạo phúc lợi cho xã hội [21]
Ngoài ba chức năng này thì theo các nhà kinh tế học cổ điển, các hoạt động kinh tế khác nên để cho thị trường tự quyết định
Từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra ngày càng thường xuyên hơn, đặc biệt là cuộc khủng hoảng 1929 -1933 đã chứng
tỏ “Bàn tay vô hình” không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho kinh tế thị trường phát triển.Từ đó đã dẫn đến những tư duy mới về vai trò nhà nước, thể hiện trong lý thuyết “Nhà nước điều tiết kinh tế thị trường” của Maynard Keynes Tác động của khủng hoảng kinh tế đã chứng minh cơ chế thị trường không phải là hoàn hảo, nền kinh tế thị trường không có khả năng tự điều tiết tuyệt đối và vô
Trang 2013
hạn và sự can thiệp của nhà nước để khắc phục các khuyết tật của thị trường là thực sự cần thiết Muốn thoát khỏi khủng hoảng, hạn chế thất nghiệp và suy thoái, trước hết nhà nước cần trực tiếp điều tiết thông qua chương trình chi tiêu công và dùng những chương trình này để kích thích và duy trì tốc độ gia tăng ổn định của tổng cầu, qua đó kích thích sản xuất, giải quyết vấn đề thất nghiệp và đạt được mục tiêu tăng trưởng Ở tầm vi mô, nhà nước trực tiếp thành lập các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng
Trên thực tế, lý thuyết của Keynes đã góp phần giúp các nước tư bản khôi phục lại nền kinh tế sau đại suy thoái 1929 – 1933 Nhưng bắt đầu từ cuối thập kỷ 60 cho đến giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa lại phải đối mặt với dấu hiệu của các cuộc khủng hoảng mới Nguyên nhân chủ yếu của các cuộc khủng hoảng này xuất phát từ việc hầu hết các nhà nước phương Tây đã
áp dụng một cách cực đoan, thái quá công thức điều tiết chủ quan của Keynes Trong quá trình gia tăng chương trình kinh tế công cộng, các nước phương Tây đã đưa vào lưu thông số lượng tiền tệ ngày càng lớn, làm xuất hiện hiện tượng “thừa tiền”, đẩy nền kinh tế đứng trước nguy cơ lạm phát Thực tế đó đã đòi hỏi cần phải nhìn nhận và đánh giá lại vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã gây ra những hậu quả nặng nề không chỉ trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, mà còn đánh dấu bước ngoặt xuống dốc thời
kỳ hoàng kim của chủ nghĩa tư bản tự do Nếu như sự lạm dụng cho vay dưới chuẩn và sự bùng nổ các công cụ nợ phái sinh trên thị trường tài chính toàn cầu đã gây ra tình trạng đầu cơ quá mức và mất khả năng thanh toán trên thị trường bất động sản (vượt ra khỏi sự dự báo và kiểm soát của chính phủ) ở Mỹ là căn nguyên trực tiếp, thì chính các thể chế thị trường tự do cao độ, thiên vị các lợi ích cá nhân
và cục bộ, nới lỏng kiểm soát ở Mỹ mới là căn nguyên sâu xa gây ra khủng hoảng Trong bối cảnh đó, Mỹ đã phải áp dụng các biện pháp chống khủng hoảng khẩn cấp (bỏ ra 700 tỉ USD để quốc hữu hoá các ngân hàng và các hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới; thành lập một quỹ đặc biệt để mua lại các thương phiếu do các
Trang 2114
doanh nghiệp Mỹ phát hành), tức là phải “chủ động sử dụng bàn tay Nhà nước một cách tích cực”.“Liệu pháp bàn tay nhà nước” lan rộng nhanh chóng đến một loạt nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Anh, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Pháp, Đức, Nhật, Iceland [17] Một loạt các cuộc họp, gặp gỡ cấp cao đa phương khu vực và toàn cầu liên tiếp diễn ra với chủ đề duy nhất là làm thế nào để phối hợp các nỗ lực chung ở cấp quốc gia, nhằm ngăn chặn sự lan tỏa và sớm thoát khỏi cuộc khủng hoảng này Nhìn chung, các quốc gia đều đi đến thống nhất là cần thiết phải dùng sức mạnh và bàn tay nhà nước để cứu thị trường tài chính như giảm lãi suất, nâng mức bảo hiểm tiền gửi ngân hàng, “linh hoạt hóa” quy định kế toán, buộc các ngân hàng và các công ty bảo hiểm phải thường xuyên định giá lại tài sản theo giá thị trường Trong đó, các quốc gia cùng nhấn mạnh giải pháp căn bản cho cuộc khủng hoảng hiện nay là phải “tìm ra được một sự cân bằng mới giữa vai trò của nhà nước và thị trường” Điều đó đã dẫn đến tư duy mới về “bàn tay của Nhà nước” trong một thế giới đang biến đổi ngày càng đậm nét dần Một nhà nước tương lai sẽ định hình và hoạt động như thế nào đang là một chủ đề mà các quốc gia đang rất quan tâm nghiên cứu để có thể tiến tới các biện pháp chủ động nhằm thích nghi với những biến đổi của thời đại
Ngày nay, thế giới đang bước vào thời đại có những biến đổi quan trọng có thể tác động đến vai trò của nhà nước Trong đó, sẽ có những yêu cầu cao hơn về tăng cường vai trò của luật pháp; vai trò điều tiết của nhà nước; vai trò kiểm soát các thể chế thị trường; thiết lập hệ thống thông tin công khai, minh bạch; phát triển các công cụ dự báo, cảnh báo và trừng phạt các hành vi gian lận nhưng cũng sẽ xuất hiện những yêu cầu đòi hỏi nhà nước phải giảm mức độ can thiệp vào hoạt động của thị trường Vấn đề đặt ra là, nhà nước sẽ phải chuyển biến như thế nào
để xử lý hiệu quả mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường để tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững
Trang 2215
Tóm lại, cơ sở của sự can thiệp của nhà nước là do thất bại thị trường Tuy
nhiên, trong thời đại ngày nay, tính chất của thất bại thị trường đã có nhiều biến đổi tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong phạm vi và cách thức can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế Thực chất, nhà nước và thị trường là lực lượng bổ sung cho nhau hơn là lực lượng thay thế nhau Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường là cần thiết Công cụ can thiệp của nhà nước có thể giống nhau
ở các quốc gia khác nhau, thậm chí là giống nhau trong các bối cảnh kinh tế khác nhau, nhưng cung cách can thiệp, mức độ và phạm vi can thiệp ra sao cũng như can thiệp tại thời điểm nào là hợp lý… thực sự không phải là những lựa chọn dễ dàng
Nếu nhìn vào lịch sử phát triển của kinh tế thị trường có thể thấy có nhiều mô hình lý thuyết khác nhau về kinh tế thị trường và cũng có rất nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong việc sử dụng vai trò của nhà nước Nhưng mọi mô hình lý thuyết hay mọi kinh nghiệm thực tiễn đều mang tính lịch sử Thế giới đang đổi thay ngày càng mạnh mẽ, kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển và xuất hiện thêm nhiều nhân tố mới của thời đại, điều này đòi hỏi tư duy về vai trò nhà nước cũng cần có sự chuyển biến để theo kịp với thực tế sinh động Thực tiễn đã chứng minh, mô hình kinh tế chỉ huy đã thất bại trong việc duy trì tăng trưởng kinh tế cũng như các mặt khác của đời sống xã hội Vì vậy, việc phát triển kinh tế thị trường là tất yếu khách quan Nhưng cơ chế thị trường không phải là vạn năng, hoàn hảo, bản thân nó cũng tồn tại nhiều khuyết tật như độc quyền, ngoại ứng tiêu cực, cạnh tranh thiếu lành mạnh … đòi hỏi cần phải có sự can thiệp của nhà nước Nhà nước không thể thay thế cho thị trường nhưng có thể tác động, điều tiết để hoạt động của kinh tế thị trường hiệu quả hơn Tuy nhiên sự can thiệp của nhà nước ở thời điểm nào, ở lĩnh vực nào, với mức độ ra sao là bài toán khó khăn đối với mọi quốc gia Nếu nhìn một cách tổng quát, có thể thấy, nhà nước có vai trò quan trọng, và chức năng của nhà nước thể hiện ở ba nội dung: 1 – đảm bảo tính hiệu quả, 2 – đảm bảo tính công bằng, 3 – đảm bảo sự ổn định [21]
Trang 2316
Ở nội dung thứ nhất, hành động cơ bản của nhà nước cần tập trung vào việc khắc phục các khuyết tật của thị trường Một trong những nguyên nhân gây ra những khuyết tật đó là tình trạng độc quyền Chính vì vậy, hướng can thiệp của nhà nước là phải chống độc quyền, hoặc ít nhất là giảm tối đa tình trạng độc quyền Điều quan trọng là cần phải tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, vì đó
là cách tốt nhất để đảm bảo tính hiệu quả của nền kinh tế Đối với việc cung ứng hàng hóa công cộng, cũng cần lựa chọn cách ứng xử một cách thích hợp, theo đó nhà nước chỉ nên can thiệp vào lĩnh vực này khi khu vực tư nhân không có khả năng hoặc tính hiệu quả thấp Mặt khác, có rất nhiều hàng hóa công cộng hết sức cần thiết cho hoạt động kinh tế nói chung như: hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, thông tin liên lạc… Những lĩnh vực này đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nhưng khả năng thu hồi vốn chậm, lợi nhuận thấp nên khu vực tư nhân ít quan tâm, vì vậy nhà nước cần phải đứng ra thực hiện Nhà nước can thiệp vào thị trường không phải xuất phát từ ý thích mà đó là tất yếu khách quan, mọi sự can thiệp của nhà nước phải tạo ra kết quả cuối cùng là tạo môi trường cho khu vực tư nhân làm ăn hiệu quả
Ở nội dung thứ 2 – về vấn đề công bằng: Trên thực tế, ngay cả trong trường hợp lý tưởng nhất thì cũng khó tránh được sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội
Để đảm bảo công bằng, nhà nước có nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính sách như thuế thu nhập cá nhân, trợ cấp, bảo hiểm thất nghiệp.v.v… để giúp đỡ những người có thu nhập thấp, những người già, người tàn tật hoặc người lao động thất nghiệp
Nội dung thứ 3 - Ổn định kinh tế vĩ mô: Khi can thiệp vào nền kinh tế vĩ mô, đòi hỏi nhà nước phải hết sức thận trọng vì bối cảnh kinh tế vĩ mô rất phức tạp, nhiều nhân tố tác động qua lại, thậm chí tác động theo hướng trái chiều nhau Vì vậy, trong quá trình can thiệp, nhà nước cần phải cố gắng lường trước những thất bại có thể xảy ra, ngay cả khi nền kinh tế đang giữ được trạng thái bình ổn
Trang 24Công cụ thứ nhất: Hệ thống pháp luật
Cấu trúc của nền kinh tế là một hệ thống những quan hệ phức tạp, đan xen vào nhau, tác động qua lại và chi phối lẫn nhau Trong đó, chủ yếu là mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực; quan hệ giữa các vùng, các địa phương; quan hệ giữa các doanh nghiệp; quan hệ giữa thị trường nội địa và thị trường quốc tế Việc điều chỉnh kịp thời và hợp lý các quan hệ kinh tế là điều kiện cần thiết để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Để làm được điều đó, phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản
áp dụng quy phạm pháp luật chuẩn xác trong quản lý nhà nước về kinh tế Một hệ thống luật pháp hiệu quả phải tạo ra được tiền đề vững chắc để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, duy trì sự ổn định lâu dài của nền kinh tế quốc dân nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo cơ chế quản lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế quốc dân, tạo cơ sở pháp lý cần thiết để kết hợp hài hòa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
Trang 2518
Công cụ thứ hai:Kế hoạch
Kế hoạch là một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, đó là một hệ thống bao gồm nhiều nội dung như: chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm,…Trong đó, kế hoạch vĩ mô quy định mục tiêu cơ bản của phát triển kinh tế - xã hội trong một thời kỳ nhất định, quy định hàng loạt chỉ tiêu quan trọng về tốc độ, tỷ lệ, hiệu quả, bước đi cơ bản của sự điều tiết vĩ mô của nhà nước Bất kỳ quốc gia nào trước khi tiến hành các bước trong tiến trình phát triển kinh tế đều cần phải xây dựng kế hoạch Kế hoạch chỉ có ý nghĩa nếu nó phản ánh đúng được thực tiễn nền kinh tế của quốc gia đó Nếu xây dựng một kế hoạch quá dài hạn và không dựa trên tính khả thi thì kế hoạch đó sẽ không có ý nghĩa thực tiễn
Công cụ thứ ba: Hệ thống chính sách
Chính sách là một trong những công cụ chủ yếu được nhà nước sử dụng để can thiệp vào nền kinh tế quốc dân Đó là tập hợp các giải pháp nhất định để giải quyết các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt đến mục tiêu chung của sự phát triển kinh tế - xã hội Chính sách là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiều loại, dựa theo lĩnh vực hoạt động, có thể chia chính sách thành hai nhóm:
- Chính sách kinh tế: bao gồm chính sách tài chính; chính sách giá cả; chính sách kinh tế đối ngoại; chính sách đầu tư.v.v…
- Chính sách xã hội: bao gồm chính sách dân số; chính sách giáo dục; chính sách khoa học – công nghệ; chính sách bảo hiểm; chính sách quốc phòng; chính sách xóa đói giảm nghèo; chính sách môi trường.v.v…
Trong hệ thống các công cụ quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước, chính sách là
bộ phận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao với những biến động của đời sống kinh tế - xã hội Thành công hay thất bại trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đều bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng chính sách kinh tế phù hợp hay
Trang 2619
không phù hợp Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với nhu cầu của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử sẽ là một đảm bảo vững chắc cho sự vận hành kinh tế thị trường năng động, hiệu quả
Tóm lại, để thực hiện vai trò của mình, nhà nước có thể sử dụng nhiều công
cụ để tác động đến đời sống kinh tế - xã hội, các công cụ này có mục tiêu và tác động đến những đối tượng cụ thể khác nhau, nhưng đều hướng vào mục đích chung là tạo ra và duy trì sự ổn định, phát triển lành mạnh, bền vững về mọi mặt kinh tế – chính trị – xã hội
1.1.3 Khả năng thất bại của nhà nước
Nhà nước không thể thay thế cho thị trường nhưng có thể tác động đến mọi hoạt động của kinh tế thị trường Sự thất bại của mô hình kinh tế kế hoạch hóa, tập trung , trong đó nhà nước là người trực tiếp tham gia vào mọi hoạt động kinh
tế ở Liên Xô và Đông Âu đã cho thấy, nhà nước không thể can thiệp một cách quá thô bạo vào kinh tế thị trường, bóp méo các quy luật thị trường Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc giúp cho kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả, khắc phục được các khuyết tật,… để đảm bảo cho các quan hệ thị trường được duy trì
và phát triển lành mạnh Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ để can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế Ở các quốc gia khác nhau, các công cụ can thiệp của nhà nước có thể giống nhau, như: đều sử dụng chính sách tài khóa, chính sách tiền
tệ, các nghiệp vụ thị trường mở…thậm chí, mục tiêu trong phát triển kinh tế - xã hội cũng có thể giống nhau (hướng tới đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng cao và ổn định, kiềm chế lạm phát, hạn chế thất nghiệp và đảm bảo công bẳng ) nhưng không phải nhà nước nào cũng thực hiện thành công và đạt được mục tiêu đã đề ra Ngay
ở trong một quốc gia, không phải lúc nào nhà nước cũng can thiệp thích hợp và hiệu quả vào nền kinh tế Trên thực tế, nhà nước có thể thất bại khi can thiệp vào kinh tế thị trường Ở mức độ nào đó, có thể khẳng định hầu, hết các nhà nước đều
đã từng có những quyết định sai lầm khi can thiệp vào hoạt động của thị trường
Trang 2720
Điều này chứng tỏ, nhà nước hoàn toàn có thể gặp thất bại trong việc xử lý các vấn đề của thị trường Khả năng thất bại của nhà nước tùy ở mức độ khác nhau sẽ gây ra những hậu quả khác nhau Hậu quả của những thất bại đó không chỉ tác động đến nền kinh tế mà còn có thể gây tổn hại đến niềm tin đối với nhà nước, thậm chí những thất bại trầm trọng có thể làm lung lay bộ máy nhà nước
Có nhiều lý do dẫn đến thất bại mang tính hệ thống của nhà nước nhằm đạt được những mục tiêu đã định như: thông tin của nhà nước bị hạn chế; kiểm soát hạn chế của nhà nước đối với những phản ứng của tư nhân trước những hành động của nhà nước; kiểm soát hạn chế của nhà nước đối với bộ máy quan liêu và những hạn chế do các quá trình chính trị áp đặt…, cụ thể:
- Tính đa mục tiêu và khả năng xung đột giữa các mục tiêu: Khi các mục tiêu
mà nhà nước theo đuổi xung đột với nhau thì việc nỗ lực để đạt mục tiêu này có thể dẫn đến thất bại trong việc đạt được mục tiêu khác Ví dụ, nhà nước tăng chi tiêu chính phủ để kích cầu, nhưng sự gia tăng chi tiêu đó lại tiềm ẩn nguy cơ gây
ra tình trạng lạm phát, trên thực tế, điều này đã từng xảy ra ở các nước phương Tây sau cuộc khủng khoảng 1929 – 1933
- Hạn chế về thông tin: Khi thiếu những thông tin cần thiết, các hoạt động can thiệp của nhà nước sẽ trở nên kém hiệu quả Ví dụ, trước khi đưa ra chính sách miễn phí khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, nhà nước cần phải có những thông tin đầy đủ về số lượng trẻ dưới 6 tuổi, thông tin về chi phí y tế cho nhóm trẻ này Nhưng việc cung cấp đầy những thông tin này là rất khó khăn dẫn đến nhà nước đưa ra chính sách không hiệu quả
- Hạn chế trong việc kiểm soát phản ứng của khu vực tư nhân: Khi không dự kiến được chính xác các phản ứng của những người sản xuất hoặc tiêu dùng trước các chính sách mà nhà nước triển khai, chính sách có thể dẫn đến những hậu quả trái ngược với mục tiêu mà nó theo đuổi Ví dụ, một trong những lý do
để nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách đưa tiền xu vào lưu thông là tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các máy bán hàng tự động trong nền kinh tế
Trang 2821
Nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp trên thị trường Việt Nam chưa sẵn sàng trong việc phổ biến hình thức bán hàng này và do những hạn chế của tiền xu đã làm người tiêu dùng Việt Nam gặp nhiều bất tiện khi dùng nó trong trao đổi, kết quả là, chính sách đưa tiền xu vào trong lưu thông đã không đạt được kết quả như nhà nước kỳ vọng
- Năng lực hạn chế của bộ máy nhà nước: Bộ máy quản lý nhà nước về kinh
tế là hệ thống các cơ quan nhà nước tổ chức từ trung ương đến địa phương, tổ chức theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành một chỉnh thể đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Nếu tổ chức bộ máy nhà nước hợp
lý, những người làm việc trong bộ máy nhà nước thực sự có năng lực và có trách nhiệm, đồng thời, được tạo cơ hội để phát huy tối đa năng lực làm việc sẽ góp phần làm tăng hiệu năng nhà nước Nhờ đó có thể nâng cao hiệu quả của các chính sách kinh tế, và ngược lại, nếu bộ máy được tổ chức quá cồng kềnh, hoặc quá đơn giản, yếu kém về năng lực sẽ là nguyên nhân trực tiếp nhất dẫn đến thất bại của nhà nước Nền kinh tế thị trường vốn chứa đựng nhiều nhân tố có thể tác động đến bộ máy nhà nước như độ bất trắc, rủi ro cao, nguy cơ dẫn đến tham nhũng lớn, điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của chính sách hoặc làm giảm hiệu lực của chính sách của nhà nước Một bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến cung cách xử lý mối quan hệ với thị trường, bất lực trước các biến động của thị trường hoặc can thiệp cực đoan vào hoạt động của thị trường Vì vậy, để nhà nước có thể thực hiện tốt vai trò của mình, cần phải xây dựng được một bộ máy nhà nước nhạy bén trước những biến đổi của thị trường,
đủ năng lực để đưa ra được những quyết sách đối với những vấn đề phát sinh trong thực tiễn
- Thất bại do quá trình chính trị áp đặt: Các quyết định trong khu vực công cộng thường liên quan đến các quá trình chính trị phức tạp Chính tính phức tạp này có thể dẫn nhà nước đến những lựa chọn không hiệu quả
Trang 2922
1.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH TẾ TRI THỨC
1.2.1 Sự hình thành kinh tế tri thức
Thế giới ngày nay đang định hình và tiến triển nhanh vào một thời đại kinh
tế mới Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt
là công nghệ thông tin; công nghệ sinh học; công nghệ vật liệu mới; công nghệ năng lượng…, nền kinh tế thế giới đang diễn ra những biến đổi rất sâu sắc, mạnh
mẽ về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động Những biến đổi đó sẽ tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trọng đại, tạo ra sự chuyển biến từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, đưa nền văn minh loài người từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ Đã có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ về giai đoạn này kinh tế này, như: kinh tế thông tin”, kinh tế số hóa”, “kinh tế dựa trên tri thức”, “kinh tế học hỏi”, kinh tế tri thức”…trong đó, cụm từ “kinh tế tri thức” là cụm từ được dụng nhiều nhất Dù cho gọi dưới cái tên nào thì cũng không thể phủ định đây là một vấn đề mới, một cách tiếp cận mới đối với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới Khái niệm kinh tế tri thức ra đời đã phản ánh một quan điểm phát triển mới về chất của nền kinh tế thế giới, khi tri thức vừa là nội dung vừa là động lực của sản xuất Cho đến nay, kinh tế tri thức vẫn còn là vấn đề mới mẻ và
có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra định nghĩa về kinh tế tri thức Năm
1996, khái niệm “kinh tế tri thức”được các nhà nghiên cứu của Liên hợp quốc
đưa ra và được hầu hết các quốc gia và các nhà khoa học trên thế giới thừa nhận, theo đó, kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối, sử dụng tri thức và thông tin, là một nền kinh tế mà trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, tạo
ra của cải, tạo ra việc làm trong tất cả các ngành kinh tế [42]
Đã có không ít các nhà phân tích cho rằng kinh tế tri thức đang hình thành
ở nhiều nước phát triển và sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một hoặc hai thập kỷ tới Tuy nhiên, bao giờ thì nền kinh tế tri thức sẽ định hình một cách hoàn
Trang 3023
chỉnh và lan tỏa ra toàn thế giới thì vẫn còn có rất nhiều ý kiến khác nhau Những nhà nghiên cứu lạc quan nhất thì cho rằng điều đó sẽ xảy ra vào khoảng nửa cuối thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21; trong khi Liên Hợp Quốc lại dự báo vào thập kỷ thứ 3; một số nhà nghiên cứu khác khác lại khẳng định giai đoạn quá độ sang kinh tế tri thức sẽ kéo dài suốt thế kỷ 21 Dù thời gian dự báo của các nhà nghiên cứu có thể không giống nhau, nhưng thực tế đã cho thấy trên thế giới đang diễn ra quá trình quá độ sang một nền kinh tế khác với nền kinh tế đã từng tồn tại cho tới ngày nay Quá trình chuyển giao này đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở các nền kinh
tế phát triển, đặc biệt là Mỹ, Canađa, Tây Âu, Nhật, Úc Trong những năm gần đây, các nước công nghiệp mới như Singapore, Hồng Kông cũng đang hướng mạnh vào nền kinh tế tri thức Quá trình quá độ sang kinh tế tri thức với tính chất toàn cầu hóa sẽ không hoàn toàn loại bỏ các nước đang phát triển Đã có không ít quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan…đang tập trung nỗ lực phát triển một số ngành kinh tế tri thức để chuẩn bị tiến vào thời đại kinh tế tri thức Do tính chất quá độ đó nên trong nền kinh tế sẽ có sự đan xen giữa các nhân tố của nền kinh tế cũ và những nhân tố của nền kinh tế mới Ngay trong từng lĩnh vực sản xuất cụ thể, dù là nông nghiệp hay công nghiệp, mặc dù những yếu tố truyền thống để tạo nên các sản phẩm vẫn tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất như sức người, tài nguyên…, nhưng giá trị của chúng trong cấu thành sản phẩm sẽ ngày càng giảm đi, và ngược lại, giá trị của phần chất xám (vốn con người, công nghệ cao và thông tin) sẽ ngày càng chiếm vị trí áp đảo để làm nên giá trị của sản phẩm Công nghệ thông tin, Internet, công nghệ viễn thông, công nghệ gen sẽ tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ và kỹ nghệ mới Sự thay đổi này dần dần sẽ làm thay đổi nếp sống, nếp nghĩ cũng như cách làm việc và giải trí của xã hội Trong nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới, ví dụ như công trình nghiên cứu của Nhóm đặc trách thuộc APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương) về kinh tế tri thức công bố năm 2000, đã cho thấy, ở hầu hết các nước thuộc tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), đặc biệt là ở
Trang 3124
một số nền kinh tế phát triển trong APEC như Mỹ, Canada, Nhật, Singapore, Úc… các yếu tố của kinh tế tri thức đã phát triển ở mức khá cao Ở những nước này, cơ sở hạ tầng thông tin được đặc biệt quan tâm đầu tư và phát triển mạnh, đảm bảo tốt các nhu cầu thông tin với giá cả ngày càng giảm Thương mại điện tử
- một lĩnh vực quan trọng của kinh tế tri thức đang phát triển hết sức nhanh chóng, đặc biệt là ở Mỹ, Canada, Úc Mức tăng trong lĩnh vực này trong vài năm qua đạt tới vài trăm % /năm Nhiều nước phát triển đã thay đổi rõ rệt chính sách, chuyển hẳn ưu tiên cho việc tăng đầu tư vào phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục Tính từ giữa thập niên 80 trở lại đây, mức tăng bình quân đầu tư vào lĩnh vực này của các nước phát triển đã đạt 2,8 %/năm Việc phát triển các ngành kinh tế tri thức đã kéo theo nhu cầu cần có một đội ngũ công nhân tri thức (những người lao động được đào tạo có kiến thức và trình độ nghề nghiệp cao) tăng lên nhanh chóng
Như vậy, việc phát triển kinh tế tri thức đang trở thành xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới Nó phản ánh quan điểm phát triển kinh tế theo chiều sâu mới của nền kinh tế thế giới Động lực chủ yếu của xu hướng này là do
sự bùng nổ của tiến bộ khoa học – công nghệ trong nhiều lĩnh vực, trong đó đặc biệt là trong lĩnh vực thông tin - tin học, quản lý và sinh học, và xu thế toàn cầu hoá
1.2.2 Đặc điểm của nền kinh tế tri thức
Thời đại kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm khác biệt so với các thời đại kinh tế trước đó Hiện nay, những đặc điểm của thời đại kinh tế này vẫn còn đang định hình và tiếp tục được phát hiện chứ chưa phải đã bộc lộ đầy đủ Tuy nhiên, có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản của nền kinh tế tri thức trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mang bản chất toàn cầu
“Toàn cầu hóa” (globalization) là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày
Trang 3225
càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh
tế, v.v trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng tạo ra các dòng chảy tư bản trên quy mô toàn cầu, kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá [27]
Về mặt lý thuyết, kinh tế tri thức chủ yếu dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri thức Vì vậy, nó mang bản chất năng động và lan tỏa không biên giới Sự phát triển của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin khiến cho lực lượng sản xuất thế giới và các hoạt động kinh tế của con người ngày càng được đa phương hóa, quốc tế hóa Điều đó đã làm cho nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mang tính toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, được thúc đẩy bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất Trong đó, các nền kinh tế được liên kết với nhau nhiều hơn, các rào chắn thương mại và mọi ranh giới ngăn cách khác giữa các quốc gia đang dần biến mất Quá trình toàn cầu hóa phản ánh xu thế hội nhập ngày càng nhanh và gắn bó giữa các nền kinh tế thông qua những dòng chảy ngày càng mạnh của vốn, thương mại và đầu tư, suy rộng hơn, những dòng chảy này còn bao gồm cả công nghệ, kỹ thuật, tin tức, thông tin và con người Toàn cầu hóa sẽ thúc đẩy sự phối hợp ngày càng tăng về các chính sách thương mại, tài chính và tiền tệ giữa các quốc gia Trong bối cảnh này, biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia dần bị xóa nhòa, việc sản xuất được tiến hành đồng thời ở nhiều châu lục và hoạt động sản xuất trong nước dần hướng tới thị trường toàn cầu Tất cả điều đó sẽ dẫn tới một nền kinh tế thế giới hội nhập cao, mọi hoạt động kinh tế ngày càng được liên kết thành mạng lưới xuyên biên giới Trong gần một thập kỷ qua, tổng giá trị thương mại thế giới đã tăng lên gấp 2 lần
Nền kinh tế thế giới hiện đại đang được cấu trúc thành một mạng lưới toàn cầu và hệ thống phân công quốc tế - toàn cầu đang thay thế cho hệ thống phân
Trang 3326
công lao động quốc tế - quốc gia Nó vận động theo những nguyên tắc sản xuất, thương mại và tài chính mới trong không gian toàn cầu hóa Quá trình đô thị hóa cũng đang diễn ra theo những xu hướng và nguyên tắc mới, trong đó các đô thị khổng lồ không còn là sự lựa chọn chủ yếu Khái niệm văn phòng, chỗ làm việc tập trung hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn con người kiểu công xưởng
đã biến đổi mạnh mẽ khi công việc chủ yếu của xã hội là sản xuất tri thức, được tiến hành trong môi trường tự động hóa trên cơ sở mạng thông tin với công cụ chủ yếu là máy vi tính nối mạng
Quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu sắc đã cho thấy khả năng vượt
bỏ hay tụt hậu của mỗi quốc gia (hay của bất cứ yếu tố cấu trúc nào) trong phát triển kinh tế phụ thuộc rất lớn vào vị trí – vị thế của nó trong mạng kinh tế toàn cầu và khả năng nắm bắt, tận dụng các điều kiện, lợi thế phát triển do thời đại tạo
ra Để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại mới buộc các quốc gia không thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa, mà phải trở thành thành viên trong mạng toàn cầu Tuy nhiên các quốc gia phải nhận thức được rằng, bên cạnh cơ hội thì xu thế toàn cầu hóa cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro Sự rủi ro này xuất phát từ sự chênh lệch phát triển của mỗi thành viên trong mạng lưới toàn cầu
và cách thức các quốc gia tham gia vào nền kinh tế toàn cầu Nếu khoảng cách về trình độ phát triển càng thấp xa so với trình độ phát triển chung của thế giới thì mức sự rủi ro càng cao, nhưng những rủi ro khi tham gia vào quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế bao giờ cũng ít và thấp hơn những rủi ro mà các quốc gia có thể đối mặt nếu đứng ngoài xu thế này
Trong thời đại kinh tế tri thức, phân công lao động quốc tế sẽ phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, bởi vì các nguồn lực chính cho kiểu sản xuất trước đây như đất đai, tài nguyên… sẽ bị thay thế bởi tri thức và công nghệ trong vai trò tạo nên giá trị trong sản phẩm Các nước có thế mạnh trong phát triển khoa học – công nghệ đang ra sức đầu tư, phát triển những ngành kinh tế dựa trên tri thức như Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu… Ví dụ, Mỹ đặc biệt đầu tư cho phát triển những
Trang 3427
ngành như thông tin, vũ trụ, sinh học, dịch vụ cao cấp; Nhật nỗ lực nâng cấp các
cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ, đầu tư sâu vào nghiên cứu công nghệ nano; Singapore tập trung ưu tiên phát triển, công nghệ điện tử, tin học và tự động Đối lập với xu thế đó, các nước đang và kém phát triển, do trình độ khoa học – công nghệ thấp, thiếu đội ngũ công nhân tri thức,…, đang rơi vào vị thế trở thành nơi sản xuất, cung cấp cho thị trường quốc tế các sản phẩm dịch vụ thấp cấp hơn về công nghệ; ít hàm lượng tri thức hơn và các sản phẩm ở dạng nguyên liệu thô hoặc sơ chế Nếu các nước đang phát triển có được tham gia vào một số ngành
kỹ thuật cao thì cũng khó tiếp cận được những bí mật công nghệ có tính quyết định đối với quá trình sản xuất, quản lý và các quốc gia này thường bị các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia chi phối
Bên cạnh xu thế trên, sự phân công và chuyên sâu trong hợp tác quốc tế cũng được tăng cường theo hướng ngày càng có nhiều công ty chuyên sâu sản xuất một mặt hàng hay một chi tiết cụ thể nào đó của sản phẩm hoặc chỉ cung cấp một dịch
vụ chuyên môn nhất định Theo đó, các nước phát triển đang chuyển một số công đoạn sản xuất sang các nước đang phát triển (có thể là một số chi tiết hoặc lắp ráp) nhằm tận dụng nhân công rẻ và nguồn tài nguyên của các nước này Chiều hướng đó đã dẫn tới hiện tượng: vừa có siêu sáp nhập (để có sức mạnh đầu tư công nghệ đòi hỏi lượng vốn lớn), vừa xuất hiện sự ra đời ngày càng nhiều công
ty quy mô vừa và nhỏ Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến một làn sóng mua, bán, sáp nhập khổng lồ giữa các công ty ở nhiều nước trên thế giới với tổng giá trị giao dịch lên tới vài chục nghìn tỷ USD Ngược lại với xu hướng đó là quá trình hình thành, duy trì nhiều công ty nhỏ, hoạt động rất linh hoạt nhờ hệ thống thông tin thuận lợi (đặc biệt là mạng internet) hoặc chia các công ty lớn thành nhiều công ty nhỏ trong một số lĩnh vực để tăng khả năng thích nghi và hoạt động hiệu quả hơn trong điều kiện toàn cầu hóa Ở Mỹ, hiện có hơn 20 triệu công
ty, trong đó 90% là các công ty vừa và nhỏ Hàng năm số lượng các công ty nhỏ vẫn đang tăng lên rất nhanh, điều đó vừa là kết quả do thành lập mới vừa là kết
Trang 3528
quả của quá trình chia nhỏ các công ty lớn
Thứ hai, Tri thức, khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là lực lượng sản xuất thứ nhất, là lợi thế quyết định đến sự phát triển
Hiện nay, vai trò của tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực đang ngày càng giảm, trong khi trình độ khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành lực lượng đóng vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh Tri thức trở thành sản phẩm có giá trị vật chất cao hơn nhiều sản phẩm vật chất khác, vì nó tạo
ra giá trị mới ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP
Vì vậy, “Các nước đang phát triển không còn có thể mong chờ sự phát triển của mình dựa trên lợi thế so sánh về lao động rẻ, lợi thế so sánh bây giờ là phải ứng dụng kinh tế tri thức”[33]
Dưới tác động của nền kinh tế tri thức, thời gian cần thiết để biến kết quả nghiên cứu khoa học thành công nghệ sản xuất và đưa sản phẩm ra ngoài thị trường ngày càng được rút ngắn Nếu như ở thế kỷ 19, quá trình này mất khoảng
60 – 70 năm; những năm đầu thế kỷ 20 là 30 năm, thì từ những năm 90 của thế kỷ
20, quá trình này rút ngắn lại chỉ mất khoảng 3 năm, và cho đến nay, nhiều giải pháp công nghệ có thể có tính ứng dụng ngay tức thì đối với người sử dụng (một giải pháp công nghệ được đưa lên internet có thể ngay lập tức được hàng triệu người nắm bắt và vận dụng) Ví dụ, để đạt mức 500 triệu người sử dụng điện thoại cố định, trước đây mất tới 74 năm; radio là 38 năm, tivi là 13 năm; đến internet thì chỉ mất có 3 năm Giờ đây, các phòng thí nghiệm và cơ quan khoa học ngoài nghiên cứu còn bao gồm cả chức năng sản xuất, kinh doanh Quá trình đổi mới công nghệ diễn ra hiện nay đôi khi còn nhanh hơn cả khả năng thích nghi của con người Ngày nay, rất khó để một người nào đó có thể nắm bắt được hết các công nghệ hiện có Phát minh khoa học ngày càng nhiều, mở ra khả năng khoa học có thể giải quyết được hầu hết những gì con người muốn làm để phục vụ cho cuộc sống của mình
Trang 36+ Một là, những hàng hóa, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao ngày càng chiếm vị
trí chủ chốt trong thương mại quốc tế Trong thập niên 90 thương mại dịch vụ tăng cao hơn thương mại hàng hóa 1,5 lần và hiện chiếm trên 20% tổng kim ngạch thương mại thế giới
+ Hai là, thương mại điện tử là lĩnh vực phát triển nhanh nhất, được dự báo là sẽ
trở thành lĩnh vực đóng vai trò hàng đầu trong thương mại quốc tế Trên thực tế, mặc dù còn là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng thương mại điện tử đã và đang phát triển với tốc độ rất nhanh
+ Ba là, quá trình chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức đang làm
thay đổi lợi thế so sánh của các quốc gia trong quan hệ thương mại quốc tế Các lợi thế truyền thống như đất đai, tài nguyên, nhân công rẻ, vị trí địa lý đang giảm dần và tăng vai trò, giá trị của các yếu tố tri thức Điều đó sẽ khiến quốc gia nào khai thác, phát triển tốt nguồn tri thức sẽ có cơ hội phát triển và ngày càng có vị trí cao hơn trên thương trường quốc tế Nhìn chung, các nước phát triển có điều kiện và lợi thế hơn các nước đang phát triển vì họ có lợi thế về vốn, làm chủ được khoa học – công nghệ hiện đại và có đội ngũ nhân công tri thức đông đảo
Do vậy, quá trình chuyển sang kinh tế tri thức có thể làm gia tăng sự phân hóa về trình độ phát triển và nới rộng khoảng cách giàu nghèo giữa các nước trên thế
Trang 3730
giới Tuy nhiên, quá trình này không hoàn toàn tác động tiêu cực hoặc bất lợi với các nước đang phát triển Trái lại, nó có thể mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển nếu thực hiện thành công chiến lược “đi tắt, đón đầu” Đã có không ít các quốc gia trước đây thuộc nhóm các nước đang phát triển, nhưng chỉ sau 2 - 3 thập kỷ đã bước lên hàng ngũ các nước công nghiệp mới, như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…
Thứ tư, quan hệ giữa các quốc gia sẽ có sự biến đổi
Nền kinh tế tri thức tất yếu sẽ tác động và làm biến đổi quan hệ giữa các quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự Sự liên kết giữa các quốc gia sẽ trở nên chặt chẽ hơn để giải quyết các vấn đề chung của toàn cầu như xung đột sắc tộc, chiến tranh, môi trường …Đồng thời, do không gian kinh tế mở rộng vượt ra ngoài biên giới quốc gia làm cho chính sách kinh tế của các nước độc lập
sẽ có xu hướng xích lại gần với các chuẩn mực quốc tế Xu hướng hình thành các khu vực phát triển chung giữa các quốc gia như khu vực EU, ASEAN…sẽ ngày càng trở nên phổ biến
1.3 VAI TRÒ C ỦA NHÀ NƯỚC TRONG B ỐI CẢNH HÌNH THÀNH NỀN KINH TẾ TRI TH ỨC
1.3.1 Tác động của xu hướng hình thành nền kinh tế tri thức và sự biến đổi của vai trò nhà nước
Cơ sở cho sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế là do thất bại thị trường Tuy nhiên, trong bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức, tính chất của thất bại thị trường đã có nhiều biến đổi dẫn đến phạm vi và cách thức can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế sẽ biến đổi theo
(1) Vấn đề độc quyền: Cùng với sự phát triển nhảy vọt về thương mại đã diễn
ra quá trình sáp nhập ngày càng nhiều công ty thành các tập đoàn đa quốc gia, cung cấp cho thị trường thế giới những hàng hóa và dịch vụ được thiết kế, sản xuất và lắp ráp ở nhiều nước Điều này đã làm cho hiện tượng độc quyền không
Trang 3831
còn bó hẹp trong không gian kinh tế của một quốc gia mà mở rộng trên quy mô toàn cầu Kinh tế tri thức đang tạo ra khả năng thống trị của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế thế giới, nhưng đồng thời lại khiến cho quan hệ cạnh tranh trên thị trường trở nên gay gắt hơn Sự thay đổi tính chất của độc quyền sẽ khiến
hệ thống luật pháp và các chính sách nhằm nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước
sẽ thay đổi, các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những quan hệ cạnh tranh khốc liệt Trên thị trường, bên cạnh hiện tượng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp độc quyền với các doanh nghiệp ngoài độc quyền còn xuất hiện thêm nhiều loại cạnh tranh mới như các doanh nghiệp độc quyền với nhau và cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền Tính chất của độc quyền thay đổi đã khiến vấn đề “chống độc quyền” không còn là vấn đề riêng của một quốc gia mà cần phải có sự hợp tác quốc tế chặt chẽ Điều này đang thúc đẩy những nỗ lực toàn cầu nhằm xây dựng một thể chế quốc tế chung để phối hợp chống độc quyền Cho dù việc đó được thực hiện như thế nào đi chăng nữa, thì hình thức hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia là cần thiết nếu muốn chống độc quyền hiệu quả trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa Mặt khác, trong nền kinh tế tri thức, năng lực của các doanh nghiệp
tư nhân được nâng cao, có thể tham gia cung cấp có hiệu quả các hàng hóa vốn
từ trước tới nay vẫn thuộc lĩnh vực độc quyền của nhà nước như điện lực, viễn thông…Khi nhà nước còn nắm giữ vị trí độc quyền trong những ngành đó, thì các bộ, ngành sẽ quyết định giá cả các loại dịch vụ như điện thoại, nước và điện , nhưng khi các doanh nghiệp tư nhân đảm nhiệm việc này thì vai trò của nhà nước cũng sẽ thay đổi Công việc của nhà nước bây giờ là bảo vệ người tiêu dùng bằng cách đảm bảo giá cả cạnh tranh, sự an toàn và tiêu chuẩn chất lượng trong các lĩnh vực đó
(2) Vấn đề thông tin: Hiện nay, công nghệ có tác động sâu rộng hơn tới tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của các quốc gia và cộng đồng thế giới, trong đó, nổi bật nhất là tác động của công nghệ thông tin – bao gồm máy tính, phần mềm,
mạng internet và các thiết bị thông minh Một mặt, công nghệ thông tin đang tạo
Trang 3932
ra một thế giới gắn kết; kiến thức và thông tin được phổ biến rộng rãi dưới mọi hình thức; các thư viện mở cửa phục vụ cả trên mạng internet; các nhà nghiên cứu chia sẻ kết quả nghiên cứu theo tốc độc xử lý của máy tính Điều đó đã khiến con người được gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng chia sẻ thông tin và bày tỏ quan điểm Giờ đây, các nhà phân tích và các nhà hoạch định chính sách nhận được thông tin vào cùng một thời điểm và chỉ cạnh tranh với nhau về khả năng nắm
bắt và thời gian phản hồi lại thông tin đó Mặt khác, chính sự bùng nổ về thông
tin sẽ khiến cho các chủ thể trên thị trường đối mặt với nguy cơ thông tin bất đối xứng Tình hình hoạt động và các sự kiện, dù đó là thu nhập hàng quý của một công ty, số liệu lạm phát hay cán cân thương mại của một quốc gia…ngay lập tức
sẽ gây phản ứng lan truyền Thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm sự sụp đổ nhanh chóng của hàng loạt doanh nghiệp vào năm 2008 một phần là do sự tác động của thông tin đã gây ra hiệu ứng lan truyền Sự bùng nổ của thông tin có thể sẽ đặt thị trường trước bối cảnh thông tin nhiều nhưng nhiễu Vấn đề thông tin đặt ra yêu cầu nhà nước phải đóng vai trò là chủ thể cung cấp thông tin đáng tin cậy và có khả năng kiểm soát thông tin một cách hợp lý để thị trường vận hành hiệu quả hơn
(3) Vấn đề công bằng: Xu hướng toàn cầu hóa khiến cho quan niệm về công bằng và quyền bình đẳng không còn như trước nữa Trước đây, quan niệm về một nhà nước hiệu quả trong vấn đề công bằng là thực hiện được nguyên tắc
“nước lên thì thuyền lên”, nhưng giờ đây nguyên tắc đó chỉ thích hợp với kiểu công bằng theo chiều ngang Những cá nhân có năng lực hoàn toàn có quyền lựa chọn làm việc ở trong nước hay nước ngoài để nhận được phần thu nhập xứng đáng với khả năng của mình Điều đó làm cho một nhà nước nào đó nếu thực hiện mục tiêu hướng tới công bằng theo chiều ngang bằng cách đánh thuế thu nhập cao hay thực hiện chủ nghĩa cào bằng có thể sẽ đứng trước nguy cơ chảy máu chất xám Vấn đề công bằng trong thời đại kinh tế tri thức đã đặt nhà nước đứng trước các câu hỏi hóc búa: Làm thế nào để người nghèo có thể tiếp cận
Trang 4033
quyền sở hữu trí tuệ và tham gia vào nền kinh tế, từ đó thoát khỏi đói nghèo? Làm thế nào để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo khi bối cảnh kinh tế đang khiến khoảng cách này ngày càng nới rộng?
(4) Vấn đề môi trường: Trong thời đại kinh tế tri thức, vấn đề môi trường vẫn
là ưu tiên hàng đầu trên cả phạm vi quốc gia và quốc tế Các vấn đề môi trường đang ngày càng trở thành vấn đề có tính chất toàn cầu Ví dụ, hiện tượng cháy rừng ở Indonesia đã phun khói bụi mù mịt sang tận Malaysia và Thái lan, hay sự hoạt động trở lại của núi lửa của Ailen đã làm cả Châu Âu chìm trong khói bụi và khiến cho tất cả các hoạt động bị đình trệ Bên cạnh đó là sự biến đổi khí hậu toàn cầu đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường hợp tác quốc tế để cùng nhau giải quyết Những thay đổi của “thất bại thị trường” như đã nói ở trên khiến cho vai trò của nhà nước không còn giữ nguyên như ở các thời kỳ kinh tế trước đó, cụ thể:
Thứ nhất, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, các đường biên giới quốc
gia trở nên ít có ý nghĩa hơn đối với quá trình phát triển kinh tế dẫn đến quan niệm về nhà nước quốc gia – dân tộc có nhiều biến đổi Toàn cầu hóa khiến cho thế giới ngày càng phẳng hơn, không gian dần thu hẹp, thời gian được rút ngắn lại, các hàng rào biên giới hạ thấp, và thế giới dần trở thành một “ngôi làng” [27] Điều đó, sẽ khiến nền kinh tế thị trường vận hành với nhiều quy tắc mới Đường biên giới – yếu tố cơ bản để thực thi quyền lực quốc gia sẽ dần bị xóa mờ Bản thân các nền kinh tế sẽ kết nối vào với nhau và các hoạt động kinh tế qua biên giới các nước ngày càng tăng Toàn cầu hóa là một thách thức đối với nhà nước Các nhà nước hiện đại khó lòng kiểm soát được hoạt động của các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia; quá trình quốc tế hóa sản xuất và các dòng chảy của vốn cũng như của hàng hóa Vì vậy, vai trò và chức năng của nhà nước chắc chắn cũng sẽ có những thay đổi mạnh mẽ Quyền lực nhà nước bị giới hạn trong phạm
vi quốc gia có thể sẽ xung đột với quá trình toàn cầu hoá trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội