1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

101 635 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa một số vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, kinh tế tri thức, tác động của kinh tế tri thức với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến vượt bậc trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Để có những thành công đó, một phần rất quan trọng nhờ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung

và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng

Tuy nhiên, hiện nay với xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức phát triển như vũ bão trên quy mô toàn cầu Nền kinh tế tri thức đã ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Không có một quốc gia nào muốn vươn lên mà nằm ngoài xu thế đó, ngay cả đối với những nước đang phát triển như Việt Nam Nền kinh tế tri thức dần xuất hiện và có những ảnh hưởng tới mọi mặt trong mọi hoạt động kinh tế Chính vì vậy, nghiên cứu về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết

Vì nếu chúng ta có một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, phát triển huy được những lợi thế, tiềm năng của đất nước, phù hợp với sự phát triển của nền kinh

tế tri thức thì chúng ta sẽ tạo ra được những bước phát triển nhảy vọt, góp phần nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, đuổi kịp các nước phát triển trên thế giới

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, em đã chọn đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình để làm rõ hơn quá trình chuyển

dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện mới - sự phát triển của nền kinh tế tri thức

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam Tuy nhiên những

Trang 2

nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và các khía cạnh của nó chưa được nghiên cứu nhiều

Có một số tác phẩm như: “Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế

kỷ XXI” của GS TS Ngô Quý Tùng, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam” của Đỗ Hoài Nam, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới” của Lê

Duy Phong và Nguyễn Thành Độ v v

Tuy đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan nhưng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức vẫn là một vấn đề mới, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu thêm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế, kinh tế tri thức, tác động của kinh tế tri thức với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và khái quát một số kinh nghiệm của vài nước láng giềng về chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức

- Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở nước ta và các phương hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu như trên, đối tượng nghiên cứu của luận văn

là vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích một số vấn đề chung và kinh nghiệm quốc tế về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích, diễn giải, suy luận và tổng hợp để làm rõ hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện

Trang 3

phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay và đề xuất các phương hướng, giải pháp để thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn

(i) Hệ thống hóa lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tác động của kinh tế tri thức đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

(ii) Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở nước ta

7 Bố cục luận văn

Với lý do lựa chọn và mục đích nghiên cứu như trên, luận văn này có

bố cục gồm phần mở đầu, kết luận và 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức

- Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

- Chương 3: Những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

1.1 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế

“Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố

có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian

và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hội cụ thể, hướng vào thực hiện các mục tiêu nhất định.” [12, tr.11]

Hệ thống kinh tế hợp thành cơ cấu kinh tế, thường được nghiên cứu theo ba phương diện, tạo thành ba loại hình cơ cấu khác nhau:

- Cơ cấu ngành kinh tế

- Cơ cấu thành phần kinh tế

- Cơ cấu vùng lãnh thổ

Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế giữ vai trò quan trọng hơn cả, nó được hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất Trong cơ cấu ngành kinh tế có ba ngành hay còn gọi là ba khu vực chính Đó là: khu vực nông nghiệp, khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ

Cơ cấu ngành kinh tế có thể hiểu là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân Đó là thước đo phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động của mỗi quốc gia

Cơ cấu thành phần kinh tế được phân chia dựa trên chế độ sở hữu Cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý sẽ thúc đẩy lực lượng sản suất và phân công lao động xã hội phát triển

Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ được hình thành dựa trên việc bố trí kinh

tế theo vùng địa lý Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, xã hội riêng biệt của từng vùng để phát triển các ngành kinh tế phù hợp

Trang 5

Các loại hình cơ cấu kinh tế nói trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau

Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể được hình thành và phát triển dựa trên phạm vi vùng lãnh thổ Ngược lại việc xác định cơ cấu vùng, lãnh thổ hợp lý sẽ thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế không bao giờ cố định, bất biến mà liên tục thay đổi để phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng quốc gia, ở mỗi một giai đoạn nhất định Sự thay đổi đó còn gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nền kinh tế muốn phát triển thì phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp Sự chuyển dịch đó diễn ra nhanh hay chậm và theo chiều hướng nào tùy thuộc vào các nhân tố chủ yếu là: Quy mô của nền kinh tế, mức độ mở cửa để hội nhập của nền kinh tế với bên ngoài, lượng dân số, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn nhân lực, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa … của từng nước

Ngày nay, với sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu hướng toàn cầu hóa, thế giới bước sang kỷ nguyên của kinh tế tri thức Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đi theo xu hướng tỷ trọng các ngành công nghệ kỹ thuật mới tăng lên nhanh chóng và dần chiếm ưu thế, tỷ trọng các ngành truyền thống giảm dần Các quốc gia đi đầu trong những lĩnh vực công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường sẽ giành vị trí thống trị, áp đảo trong nền kinh tế khu vực và thế giới

Điều đó làm cho các quốc gia khác cũng phải có các chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế toàn cầu

1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một yêu cầu khách quan, xuất phát

từ sự phát triển của quá trình phân công lao động xã hội, cách mạng hóa sản xuất và chịu sự tác động của cách mạng khoa học, công nghệ

Trang 6

Cơ cấu ngành kinh tế luôn phải chuyển dịch để phù hợp với sự biến đổi của môi trường khoa học kỹ thuật bên ngoài Một số ngành cũ mất đi, một số ngành mới ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần trong thời đại mới Không bao giờ có cùng tốc độ tăng trưởng, phát triển cho tất cả các ngành Ngành nào thực sự cần thiết cho quốc tế dân sinh thì sẽ phát triển ngày càng nhanh, và ngược lại có những ngành quy mô và tốc độ phát triển ngày càng thu hẹp lại Sự phát triển không đồng đều dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế quốc dân

Như vậy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự vận động, phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ tương tác giữa chúng theo thời gian, dưới tác động của những yếu tố kinh tế, xã hội nhất định của đất nước và quốc tế

Trên tầm kinh tế vĩ mô, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là kết quả của sự vận động, phát triển của ba ngành chính: Công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ

Ở Việt Nam, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được xem là một yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp để phấn đấu đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp Chúng ta đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn để có quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đúng hướng Nếu không xây dựng được một cơ cấu ngành kinh tế phù hợp với xu hướng chung của thế giới, thì chắc chắn quá trình phát triển kinh tế đất nước sẽ gặp phải rất nhiều trở ngại

1.1.4 Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế luôn là một trong nhưng quốc sách hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới Việc xây dựng một chiến lược chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phù hợp với điều kiện riêng của từng nước

Trang 7

là rất cần thiết Có một chiến lược chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phù hợp thì nền kinh tế mới có điều kiện phát triển nhanh và bền vững

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò rất quan trọng đối với

sự phát triển của nền kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trước tiên để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống người dân như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng Việc xây dựng các ngành trọng điểm, mũi nhọn cũng rất cần thiết để có thể tập trung sức lực và vật lực, khai thác tối đa các ngành có lợi thế cạnh tranh và giá trị cao trên thị trường, phục vụ cho xuất khẩu nhằm thu được nhiều ngoại tệ mạnh phục vụ cho việc cải tiến kỹ thuật, công nghệ trong nước

Xu thế của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghệ kỹ thuật cao

và ngành dịch vu, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, ưu tiên những ngành tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường

Việt Nam đã đạt được nhiều thành công vì có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đúng hướng Đảng và Nhà nước ta chủ trương giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 24,3% năm 2000 xuống còn 20,9% năm 2005 Công nghiệp và xây dựng tăng từ 36,6% năm 2000 lên 41% năm 2005 Thương mại

và dịch vụ giảm nhẹ từ 39,1% năm 2000 xuống còn 38,1% năm 2005 [35, 36] Điều đó đã làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam với mức bình quân 5 năm (2000-2005) đạt 7,5%, đứng thứ hai trong khu vực Đông Á

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã cải thiện đáng kể cuộc sống của người dân Việt Nam từ một nước thiếu ăn, thường xuyên phải nhập khẩu lương thực, đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới

Nhưng bên cạnh những thành công thì quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam vẫn còn có nhiều khó khăn, thách thức Như là chưa đầu tư đúng mức cho các ngành công nghiệp công nghệ cao, vẫn còn

Trang 8

nặng về công nghiệp sử dụng nhiều lao động Quá trình hiện đại hóa vẫn chưa được quan tâm đúng mức, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý Ngành công nghiệp chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tập trung vẫn là các ngành sử dụng nhiều lao động, chất lượng chưa cao và vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế Chính vì vậy làm cho sức cạnh tranh của hàng công nghiệp thấp, tình trạng

“thua trên sân nhà” diễn ra phổ biến Chất lượng hàng nội thấp tất yếu dẫn đến tâm lý “thích hàng ngoại”

Ngành nông nghiệp vẫn còn sự chưa đồng bộ về mở rộng diên tích và đầu ra của sản phẩm Dẫn đến tình trạng sản phẩm nông nghiệp không có nơi tiêu thụ, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người nông dân, tầng lớp chiếm 70% dân số cả nước, làm cho người nông dân không những mất mùa

1.2.1 Khái niệm về nền kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức trong những năm gần đây được nói đến rất nhiều, như một biểu trưng xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế hiện tại và tương lai Thuật ngữ kinh tế tri thức không còn dừng lại trên sách vở, tài liệu tham khảo dưới dạng học thuật mà tất cả các quốc gia kể cả quốc gia đang phát triển cũng đã, đang hoạch định các chiến lược, mục tiêu cụ thể để đi đến nền kinh

tế tri thức

Khái niệm thuật ngữ “kinh tế tri thức” được xác định theo các quan điểm khác nhau Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD định nghĩa:

Trang 9

“Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất, phân bổ và sử dụng tri thức và thông tin (OECD 1996)

Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế (APEC 2000)

Ngân hàng Thế giới (WB, 2000) đánh giá: “Đối với các nền kinh tế tiền phong trên thế giới, cán cân giữa hai yếu tố tri thức và các nguồn lực đang nghiêng về tri thức Tri thức đã thực sự trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định mức sống - hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả yếu tố tư liệu sản xuất, hơn cả yếu tố lao động Các nền kinh tế phát triển nhất về công nghệ ngày nay thực

sự đã dựa vào tri thức”

Vậy nền kinh tế tri thức là gì? Chưa có một định nghĩa chính xác được chấp nhận chung về nền kinh tế tri thức nhưng có thể nói rằng đặc trưng nổi bật nhất của nền kinh tế tri thức là tri thức đã vượt qua những nhân tố sản xuất truyền thống là vốn và sức lao động để trở thành nhân tố quan trọng nhất đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của quốc gia Nói cách khác đang có sự chuyển biến toàn cầu từ các nền kinh tế dựa trên bắp thịt và tiền vốn chuyển sang nền kinh tế dựa trên trí não

Trang 10

1.2.2 Những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế tri thức

Thứ nhất, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tri thức hóa

Kinh tế tri thức ra đời dẫn đến sự chuyển biến to lớn, sâu sắc về cơ cấu kinh tế, về cách thức và các quy tắc hoạt động của nền kinh tế Các ngành kinh tế dựa vào tri thức phát triển nhanh, các ý tưởng đổi mới và công nghệ là chìa khóa tạo ra việc làm và năng cao chất lượng cuộc sống

Nếu trong nền kinh tế nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, trong nền kinh tế công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chủ yếu thì trong nền kinh tế tri thức, các ngành kinh tế tri thức giữ vai trò thống trị Nền kinh tế tri thức được tổ chức trên cơ sở sự sản xuất linh hoạt hàng hóa

và dịch vụ dựa vào công nghệ cao và giá trị công nghiệp công nghệ cao tăng rất nhanh kéo theo sự gia tăng việc làm và thu nhập từ ngành này cao hơn hẳn các ngành khác Kinh tế tri thức cũng là nền kinh tế văn phòng (người trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm trong các nhà máy ít đi, người làm việc trong các văn phòng nhiều lên) Họ là những chuyên gia trong rất nhiều lĩnh vực: Tin học, tài chính , y tế, ngân hàng…

Trong khối các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD hiện nay hơn 60% lực lượng lao động là công nhân tri thức và tạo ra hơn 50% tổng GDP của các quốc gia.[37]

Thứ hai, công nghệ sản xuất luôn đổi mới, mang tính sáng tạo cao

Sáng tạo chính là linh hồn của kinh tế tri thức, không có sự sáng tạo thì không có kinh tế tri thức, chính vì điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới Các doanh nghiệp đều phải sản xuất theo công nghệ ngày một cao hơn, sản phẩm có nhiều tính năng, công dụng và giá thành cạnh trạnh hơn Chính vì vậy khoa học và sản xuất luôn đi đôi với nhau, khó có thể tách rời, không còn ranh giới rõ ràng giữa phòng thí nghiệm và nơi sản xuất Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà nhà nghiên cứu và người công nhân nhập làm một

Trang 11

Do tri thức đem lại siêu lợi nhuận biến một người từ hai bàn tay trắng như Bill Gate sau 10-15 năm đã trở thành một tỉ phú USD nên đầu tư vào sản xuất công nghệ, trong đó đặc biệt là đầu tư mạo hiểm tăng lên nhanh chóng Đầu tư mạo hiểm nhằm nghiên cứu triển khai tạo ra công nghệ mới Và cái nôi của sản xuất công nghệ chính là các khu công nghệ (technology park) - đó chính là vườn ươm cho sự ra đời công nghệ mới Thung lũng Silicon là ví dụ thành công tiêu biểu cho một cách tổ chức để đi vào nền kinh tế tri thức

Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi

Công nghệ thông tin phát triển kéo theo sự phát triển của tất cả các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội loài người Nó làm tăng tốc độ, hiệu quả và thời gian trao đổi dữ liệu, làm con người trở nên gần nhau và thế giới trở thành một ngôi làng nhỏ bé

Công nghệ thông tin góp phần làm cho nền kinh tế phát triển năng động với các ứng dụng hiệu quả của nó như thương mại điện tử, thị trường ảo, tổ chức ảo, xí nghiệp ảo, học tập và làm việc từ xa…làm xóa nhòa khoảng cách

và không gian địa lý Chính vì vậy nhiều người gọi kinh tế tri thức là kinh tế

số hay kinh tế mạng

Thƣ tƣ, các doanh nghiệp vừa hợp tác, vừa cạnh tranh để phát triển

Hợp tác và cạnh tranh chính là cánh thức linh hoạt để các doanh nghiệp từng bước nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ của mình, để chinh phục người tiêu dùng Hợp tác để trở thành các tập đoàn khổng lồ, mặt khác từ các tập đoàn khổng lồ lại cơ cấu lại thành nhiều công ty mẹ - con để tăng hiệu quả hoạt động Nên hợp tác và cạnh tranh vừa đối lập vừa thống nhất trong thời đại nền kinh tế tri thức

Thứ năm, kinh tế tri thức thúc đẩy hình thành một xã hội học tập

Con người phải thường xuyên trau dồi kiến thức và tri thức cho mình,

để không bị lạc hậu trước thời cuộc Mỗi người phải có chế độ học tập suốt

Trang 12

đời, không ngừng nâng cao tay nghề của mình để có được thu nhập và địa vị cao hơn trong xã hội

Đầu tư cho con người trở thành nguồn đầu tư có hiệu quả cao nhất và

xu hướng đầu tư vô hình (cho con người, cho giáo dục, khoa học, văn hóa - xã hội…) cao hơn đầu tư hữu hình (cho cơ sở vật chất kỹ thuật) Vì chỉ có con người mới có sự sáng tạo, mới tạo ra tri thức chứ không phải máy móc

Thứ sáu, vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức

Tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo nên sự tăng trưởng, việc chia sẻ cho càng nhiều người cùng sử dụng tri thức làm cho giá trị của tri thức đó tăng lên chứ không giảm đi Điều đó có thể mô tả bằng hình tượng: “Anh châm ngọn nến của anh nhờ ngọn nến của tôi làm cho anh sáng lên mà tôi không bị tối đi” Vì vậy nền kinh tế tri thức chính là nền kinh tế dư dật chứ không phải nền kinh tế khan hiếm

Tri thức là vốn quý nhất nên phải có luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Có được điều đó thì mới kích thích sự sáng tạo và làm cho nguồn tri thức ngày càng giàu có Quốc gia nào có luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thực thi luật càng cao thì quốc gia đó chính là nơi sản sinh tri thức một cách tốt nhất

Thứ bảy, sự đổi mới thường xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đẩy sự phát triển

Trong nền kinh tế tri thức, vòng đời của sản phẩm rất ngắn chỉ tính bằng tuần, bằng tháng nên sự đổi mới được coi trọng và trở nên cấp thiết hơn bất kỳ nền kinh tế nào trước nó Doanh nghiệp không đổi mới hay dậm chân tại chỗ sẽ lâm vào tình trạng bị đào thải khỏi nền kinh tế

1.2.3 Sự tác động của phát triển kinh tế tri thức đến chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế

Sự phát triển kinh tế tri thức có sự tác động rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Nếu trong nền kinh tế nông nghiệp, cơ cấu kinh tế được

Trang 13

hình thành chủ yếu từ nguồn lực tự nhiên (đất đai) và sức lao động của con người Còn trong nền kinh tế công nghiệp, lợi thế công nghệ và vốn lại được đánh giá cao cùng với việc phát triển các ngành chế biến với giá trị ngày càng lớn hơn, thì với sự phát triển của kinh tế tri thức lợi thế lớn nhất là kinh tế tri thức từ tri thức sẽ tạo ra công nghệ với trình độ cao và tạo lợi thế cạnh tranh trong các quan hệ kinh tế quốc tế

Về cơ cấu kinh tế, trong kinh tế tri thức, nông nghiệp và công nghiệp vẫn tồn tại và phát triển nhưng chiếm tỷ lệ ngày càng nhỏ, các ngành kinh tế dựa vào tri thức và những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Sự phát triển khoa học

và công nghệ trong kinh tế tri thức tác động đến biến đổi các bộ phận truyền thống trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia theo các hướng sau:

- Hiện đại hóa các ngành truyền thống: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ

Các ngành truyền thống sản xuất ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của con người Ngành nông nghiệp cung cấp cho con người lương thực, thực phẩm, vải vóc…vẫn được duy trì để phục vụ cuộc sống con người nhưng sẽ được áp dụng các phương pháp tiên tiến của thời đại kinh tế tri thức như kỹ thuật gen, kỹ thuật vi sinh…góp phần tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao và năng suất vượt trội so với các phương pháp truyền thống truyền lại từ ngàn năm nay

Điều đó cũng tạo ra sự biến đổi xã hội sâu sắc khi càng ngày càng cần

ít người hơn để tạo ra một khối lượng sản phẩm nhiều hơn gấp hàng nghìn lần thậm chí hàng triệu lần so với phương pháp truyền thống

- Hình thành những ngành mới, những ngành đại diện cho nền kinh tế tri thức

Đó là những ngành, những doanh nghiệp chế tạo ra những sản phẩm công nghệ mới với trình độ cao Vì tính khác biệt, mới mẻ của nó, người ta

Trang 14

còn gọi là ngành sản xuất thứ tư (Tuy nhiên, cách gọi này chưa thật sự phù hợp vì mọi ngành đều có thể áp dụng công nghệ cao để gia nhập nền kinh tế tri thức ở giai đoạn thích hợp)

Những ngành này có thể kể đến như:

+ Ngành công nghệ thông tin + Ngành công nghệ sinh học + Ngành công nghệ năng lượng mới và nguồn năng lượng tái sinh

+ Ngành công nghệ kỹ thuật cao có lợi cho môi trường + Ngành công nghệ vật liệu mới

+ Ngành khoa học kỹ thuật không gian + Ngành khoa học kỹ thuật hải dương + Ngành khoa học kỹ thuật mềm [20, tr 109-115]

Các ngành khoa học kỹ thuật cao nêu trên về cơ bản khác với các ngành khoa học số học, vật lý, hóa học, thiên văn địa lý và sinh vật trước đây

vì nó không lấy việc tìm kiếm tri thức hệ thống làm tiêu chuẩn mà theo đuổi tiêu chuẩn hiệu quả

Ví dụ, một mục tiêu của công nghệ thông tin là phải mở rộng, tăng nhanh việc tích lũy, xử lý và vận chuyển thông tin với số lượng ngày càng lớn, chất lượng ngày càng cao Quang điện tử, mạch IC quy mô lớn và máy tính đều phục vụ cho mục đích này Công nghệ vật liệu mới nhằm tạo ra được những nguyên liệu mới như kỹ thuật nguyên liệu mô sinh vật đã vượt ra khỏi khái niệm vật lý và hóa học của các nguyên liệu truyền thống Khoa học hải dương chính là khoa học tổng hợp lấy toàn bộ biển làm đối tượng nghiên cứu, bao gồm một loạt khoa học kỹ thuật cao như phát điện thủy triều, sinh vật biển và thăm dò khoáng sản dưới đáy biển Chính điều đó tạo điều kiện cho

sự tăng trưởng kinh tế và tạo ra sự tiến bộ về xã hội

Trang 15

Tuy nhiên, thế giới vẫn là một bức tranh không đồng nhất về sự phát triển kinh tế tri thức Các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và những nước phát triển đã

có được sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng đó Điển hình là

Mỹ, năm 1998, tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm đến 71% GDP, nông nghiệp chỉ chiếm 2% và bản thân trong ngành nông nghiệp cũng ứng dụng công nghệ rất cao

Còn các nước đang phát triển hiện nay, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế này mới ở bước đầu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chủ yếu diễn ra theo chiều rộng chứ chưa phải theo chiều sâu Phần lớn công nghệ ở các nước đang phát triển vẫn còn rất lạc hậu, chủ yếu là mua lại những máy móc thiết

bị thế hệ hai hoặc ba của các nước phát triển

Cùng với thời gian sư chênh lệch này diễn ra theo khoảng cách ngày càng xa, nguy cơ tụt hậu ngày càng lớn Điều đó đòi hỏi mỗi nước đang phát triển phải tìm con đường đi cho riêng mình nhằm bước đầu tạo ra các nhân tố của kinh tế tri thức, tạo bệ phóng thoát ra khỏi tình trạng tụt hậu và kém phát triển

1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM

1.3.1 Trung Quốc

Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức của Trung Quốc còn nhiều khó khăn, vì cơ sở hạ tầng và kỹ thuật then chốt của Trung Quốc còn kém xa các nước phát triển và hầu hết các nước trong khu vực

Tuy vậy, Chính phủ Trung Quốc chủ trương chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo chiến lược “thúc đẩy nền kinh tế dựa trên khoa học và giáo dục”

Để đặt nền móng cho kinh tế tri thức, Trung Quốc phấn đấu hai mục tiêu vừa nâng cao trình độ phát triển công nghiệp, vừa quan tâm xây dựng và

Trang 16

hoàn thiện nền móng thực thi kinh tế tri thức, tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, truyền thông thông tin và giáo dục đào tạo

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Trung Quốc cụ thể bằng triển khai áp dụng công nghệ cao trong mười ngành công nghiệp chủ chốt Đây chính là những ngành hạt nhân, mũi nhọn

để phát triển công nghệ cao và kỹ thuật tiên tiến

Bên cạnh đó, Trung Quốc đã xây dựng được một hệ thống các cơ quan nghiên cứu về khoa học cơ bản và công nghệ gồm 53 Viện công nghệ cao cấp Quốc gia và đã đổi mới hệ thống nghiên cứu khoa học và công nghệ có khả năng đáp ứng nhu cầu của đất nước hiện tại và trong tương lai

Mặc dù hiện tại các ngành dựa trên tri thức mới chỉ chiếm 10% GDP của quốc gia nhưng bằng nhiều nỗ lực, Trung Quốc cũng đã xây dựng thành công một số yếu tố cấu thành cơ bản nền kinh tế tri thức

Ngành tiêu biểu tiến vào nền kinh tế tri thức là bưu chính viễn thông

Từ khi cải cách mở cửa đến nay, ngành này đã có những bước phát triển nhảy vọt liên tục trong nhiều năm, quy mô mạng thông tin và số hộ sử dụng các dịch vụ loại này ở Trung Quốc đã vượt lên vào hàng các nước đứng đầu thế giới, trình độ kỹ thuật cũng như trình độ dịch vụ được nâng lên rõ rệt

Năm 2000, có trên 200 triệu người Trung Quốc thuê bao điện thoại cố định, đạt 17,8% tổng số dân toàn quốc, còn ở các thành phố lớn là 38%, tỷ lệ

sử dụng điện thoại di động đạt 5,8% Hiện nay cùng với sự phát triển nhanh chóng mạng Internet, các lĩnh vực như thương mại điện tử, thông tin qua mạng Internet , giáo dục từ xa, dịch vụ y tế từ xa ở Trung Quốc cũng có những bước phát triển khá nhanh

Tỷ trọng sản phẩm thông tin mới trong tổng kim ngạnh xuất khẩu Trung Quốc năm 2000 đã vượt lên 18% so với 10% năm 1994 và dự đoán trong tương lai sẽ thay thế sản phẩm dệt để trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc [9, tr 81]

Trang 17

Những thành quả trên có được một phần nhờ Trung Quốc đã có những biện pháp khuyến khích vai trò của các doanh nghiệp trong quá trình sáng tạo

kỹ thuật, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất lớn trong việc nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật, đưa thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của mình Đó cũng chính là chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu về sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao và đa dạng Từ đó, các doanh nghiệp coi thị trường là cơ sở để chọn lựa và áp dụng cơ chế kích thích hoạt động nghiên cứu và phát triển

Ngoài ra, Trung Quốc không ngừng tăng cường công tác nghiên cứu và phát triển hợp tác khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của nước ngoài Điều này không có nghĩa là mô phỏng hay bắt chước mà là để rút ra kinh nghiệm thực hiện sáng tạo kỹ thuật của chính mình, từ đó làm giàu thêm cho tài sản khoa học của thế giới

Với cơ chế khuyến khích đổi mới cách thức quản lý và điều hành doanh nghiệp, với thị trường nội địa rộng lớn nhất thế giới hơn một tỷ dân và với việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc đang phấn đấu đến năm 2010 sẽ đạt tới trình độ phát triển của các quốc gia tiên tiến trung bình trên thế giới

Nếu các biện pháp trên được thực hiện một cách có hiệu quả thì đến năm 2010 chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức, tiêu biểu là ngành công nghệ thông tin, kim ngạnh xuất khẩu sản phẩm thông tin của Trung Quốc có thể đạt tới 400 tỷ USD [9, tr 83], cao hơn khoảng 30% so với Nhật Bản, vượt tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Malaixia, Singapore, Đài Loan cộng lại, trở thành sản phẩm thông tin lớn nhất thế giới Đó là dự báo của công ty Solomon (Hongkong) Và cũng theo công

ty này, Trung Quốc với các ưu thế như giá thành rẻ và thị trường rộng lớn sẽ

Trang 18

dần trở thành nước sản xuất chủ yếu các sản phẩm thông tin của khu vực châu

Á - Thái Bình Dương

Dự báo đến năm 2010, Trung Quốc sẽ đứng thứ hai thế giới về doanh

số sản phẩm công nghệ thông tin và đến năm 2015, Trung Quốc sẽ đứng ngang với Mỹ về chỉ tiêu này [9, tr 83]

Tuy nhiên, bên cạnh những việc đã làm được thì Trung Quốc còn gặp những khó khăn như việc phát triển các ngành công nghệ có hàm lượng tri thức cao vẫn còn nhỏ yếu và vẫn chưa tương xứng với tiềm lực và khả năng của Trung Quốc Với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân Trung Quốc, tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ sớm có sụ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển kinh tế tri thức

Trung Quốc là một nước láng giềng có mối quan hệ hàng ngàn năm gắn

bó với Việt Nam nên mỗi bước đi của Trung Quốc cũng là một tấm gương để Việt Nam rút ra bài học cho mình

1.3.2 Xinhgapo

Mặc dù là một quốc đảo nhỏ bé xong Xinhgapo đã đạt được những thành tựu vững chắc trong quá trình công nghiệp hóa đất nước và quá trình tiến tới một nền kinh tế dựa trên tri thức

Ngay từ những năm đầu thập niên 1980, Xinhgapo đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm hướng tới phát triển nền kinh tế dựa vào tri thức và nhấn mạnh vào việc sản xuất các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao Xinhgapo bắt đầu thực hiện từng bước chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng nhấn mạnh đến những ngành có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao

Xinhgapo xác định các trụ cột của nền kinh tế là: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…

Ngay từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Chính phủ Xinhgapo đã bắt đầu khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế Các

Trang 19

nhà hoạch định coi công nghệ thông tin như nhân tố chiến lược quyết định nhằm hướng đến việc hình thành một cơ cấu công nghiệp và dịch vụ hiện đại

có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường toàn cầu

Năm 1981, Chính phủ Xinhgapo đã thành lập Hội đồng tin học quốc gia (NCB) để thực hiện Kế hoạch tin học hóa quốc gia (NCP) được ban hành một năm trước đó Và từ đó cho đến khi bị thay thế bởi Cơ quan Phát triển thông tin, viễn thông (IDA) năm 1999, NCB là cơ quan đóng vai trò chủ chốt trong việc đề ra và thực hiện các kế hoạch phát triển công nghệ thông tin của Xinhgapo

Thời kỳ này, dưới tác động của CSCP, các dịch vụ trực tuyến như: Mạng thương mại (Tradenet), mạng trường học (Schoolink), mạng pháp luật (Lawnet) đã được thiết lập Hiện các công ty đóng tại Xinhgapo có khả năng đàm thoại trực tiếp đến hơn 160 thành phố trên thế giới

Năm 1989, Xinhgapo đã trở thành nước đầu tiên trên thế giới cung cấp trên toàn quốc dịch vụ thương mại ISDN nhờ sự hình thành mạng cáp quang Như vậy là ngay từ những năm 1980, tại Xinhgapo những nền tảng cơ bản quan trọng nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã được thiết lập, đây là những viên gạch đầu tiên cho giai đoạn tiếp theo

Năm 1992, NCB đã ban hành Kế hoạch tổng thể IT 2000 Kế hoạch này có tham vọng biến Xinhgapo trở thành một hòn đảo thông minh, một trung tâm công nghệ thông tin của khu vực có khả năng cạnh tranh cao trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống

Năm 1996, Singapore One, mạng duy nhất cho mọi người (One Network for Everyone) đã được thiết lập tạo nên mạng lưới truyền thông đa chiều biên độ rộng đầu tiên trên thế giới và được áp dụng trên toàn quốc

Đến tháng 10/2000, Singapore One đã tiếp cận hơn 99% các gia đình, tất cả các trường học và hầu hết các cơ sở công cộng Thậm chí người không

Trang 20

có máy tính cũng có thể dễ dàng truy cập tại các quầy công cộng đặt ở góc phố hay các siêu thị lớn

Như vậy có thể nói, việc triển khai IT 2000 và Singapore One đã giúp Xinhgapo thiết lập được nền móng IT vững chắc, làm tiên đề để “con rồng” này bước sang một giai đoạn phát triển mới cao hơn với Kế hoạch tổng thể công nghệ thông tin - viễn thông 21 (ICT 21) Với kế hoạch này, Xinhgapo hy vọng tới năm 2010 sẽ trở thành đầu mối công nghệ thông tin - viễn thông của nền kinh tế mới trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Bên cạnh công nghệ thông tin, Chính phủ Xinhgapo đã đầu tư hàng tỷ USD vào việc nghiên cứu, thử nghiệm và thu hút các công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới giúp xây dựng ngành công nghệ sinh học để phấn đấu tới năm 2010 Xinhgapo sẽ trở thành các trung tâm phát triển các liệu pháp y tế và dược ở khu vực

Những thành tựu đạt được do Xinhgapo khi chuyển dịch sang nền kinh

tế tri thức đã bắt đầu cải cách bộ máy hành chính để xây dựng một chính phủ

có tính chất đổi mới, dám nghĩ, dám làm Chính phủ cải tạo các công thức mới để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu thay đổi trong các ngành, trong bộ máy Thế mạnh của Chính phủ Xinhgapo là một số thành viên vốn là các nhà doanh nghiệp, nhà kinh doanh lớn, dồi dào kinh nghiệm trong thương trường, biết kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa chủ trương chính sách của nhà nước với chiến lược, kế hoạch, chương trình hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế Ngược lại, chính thực tiễn của thị trường, các hoạt động của doanh nghiệp sẽ tạo kinh nghiệm cho Chính phủ trong quản lý hành chính và kinh tế,

cả trong nước và nước ngoài

Xinhgapo đã thành lập các Ủy ban cấp Nhà nước để tư vấn cho hoạt động của Chính phủ về các lĩnh vực phát triển thương mại và kinh tế tri thức như: Ủy ban Tư vấn quốc tế về khoa học đời sống, Ủy ban Phát triển kinh tế

để tiến tới tổ chức một trung tâm kinh tế toàn cầu, trong đó điều hành các

Trang 21

ngành công nghiệp chủ yếu cho thế kỷ 21 mà dự kiến có tới 10 ngành công nghiệp đặc trưng dựa trên tri thức và khoa học để đạt được 40 % GDP và tạo

ra 23000 việc làm mỗi năm, trong đó dầu khí và hóa dầu được coi là mũi nhọn để làm tăng sản lượng lên ba lần

Bên cạnh đó, Xinhgapo rất chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực Chính phủ thành lập Quỹ phát triển kỹ năng để nâng cao năng lực cho lực lượng lao động Nền giáo dục đang hướng vào phổ cập các khóa học về khoa học, cơ khí, công nghệ thông tin cho người dân ở mọi trình độ Đây là các môn học mang tính bắt buộc cho nền công nghệ thông tin Ủy ban Phát triển kinh tế xây dựng Xinhgapo như một trung tâm giáo dục có hạng trên thế giới với vốn tri thức và sáng tạo lớn Trung tâm thu hút một số trường đại học hàng đầu của nước ngoài, trong đó có 6 trường và viện công nghệ của Mỹ để đào tạo sau đại học, nhằm đảm bảo cả khu vực công và khu vực tư được trang

bị tri thức tốt nhất cho nền kinh tế tri thức

Ngoài ra một chính sách kinh tế, thương mại quan trọng nữa của Xinhgapo là mở cửa cho nước ngoài đầu tư nhằm thu hút công nghệ tiên tiến

và giải quyết việc làm Biến Xinhgapo trở thành một vị trí thuận lợi cho các công ty đa quốc gia đặt trụ sở chính vừa hỗ trợ hoạt động trong nước, vừa hoạt động toàn cầu với 50 công ty nội địa dựa trên cơ sở tri thức có tầm cỡ thế giới để có sản phẩm, dịch vụ đủ sức cạnh tranh với toàn cầu, đồng thời mở rộng hoạt động ra ngoài biên giới

1.3.3 Malaixia

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức đã trở thành một mục tiêu then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế,

xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Malaixia

Malaixia bước vào nền kinh tế tri thức với một ý thức rõ ràng rằng mong muốn đó phải cùng tồn tại với một nền kinh tế sản xuất hiện vẫn đang chiếm ưu thế Chính vì vậy Kế hoạch triển vọng lần thứ nhất và lần thứ hai

Trang 22

(OPP1 và OPP2) cùng Chính sách phát triển mới (NDP) của Malaixia có nhiệm vụ tiếp tục đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm điều chỉnh những mất cân đối về mặt kinh tế, xã hội

Trong bản công bố Tầm nhìn mới 2001-2010, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế của Malaixia cần phải dựa trên cơ sở ứng dụng công nghệ và quy trình sản xuất tiên tiến nhằm cải thiện năng suất, duy trì sức mạnh và khả năng phục hồi kinh tế Điều này đã được chính Thủ tướng M Mohamad nhấn mạnh:

“Việc phát triển đất nước thành một nền kinh tế dựa trên tri thức sẽ phải thấm vào mọi ngành và có sự tham gia của mọi người dân” Kinh tế tri thức phải là chỗ dựa để cải thiện khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Malaixia

Từ năm 1996, Malaixia đã bắt đầu xây dựng các kế hoạch nhằm nhanh chóng chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức

Thứ nhất, tăng cường phát triển công nghệ tin học, xây dựng cơ sở

hạ tầng cho nền kinh tế

Cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế tri thức là sự phát triển đi trước của công nghệ thông tin Bởi vậy, vào năm 1996, Malaixia đã công bố Chương trình Công nghệ thông tin Quốc gia nhằm phát triển khoa học máy tính, tin học cơ bản và tin học ứng dụng biến các nhân tố này trở thành động lực mới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Malaixia tham vọng sẽ hoàn thành việc phổ cập kiến thức cơ bản về tin học đến mọi người dân Malaixia vào năm 2020, theo đó mức

độ đầu tư cho tin học sẽ tăng đều đặn 20% mỗi năm so với thời kỳ 1996 - 2000

Chính phủ Malaixia cũng quyết định mở rộng ngành bưu điện, nâng cấp toàn bộ hệ thống cáp quang hiện có Theo thống kê, tỷ lệ người dùng điện thoại của Malaixia tăng từ 16,6 máy/100 người (năm 1995) lên 24,7 máy/100 người vào năm 2000 Riêng điện thoại di động từ 3,5 máy/100 người (1995) đến 2000 là 16,5 máy/100 người [19]

Bên cạnh đó, nhằm năng cấp cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực ICP, Chính phủ nước này đã quyết định xây dựng “mạng Malaixia” (Malaixia network)

Trang 23

Theo dự kiến, khoảng 5 - 10 năm tới, Malaixia sẽ có “mười hai thành phố tri thức” với các hành lang đa hệ siêu cấp được nối mạng trực tiếp với xa

lộ thông tin toàn cầu

Hiện nay, “một Chính phủ điện tử” trong “Siêu hành lang truyền thông

đa phương tiện (MSC)” đã được xây xong ở Malaixia Nó trở thành một đầu mối dịch vụ của hệ thống hành chính công Toàn bộ công việc quản lý hành chính thường được vi tính hóa “Chính phủ điện tử” này được kết nối toàn bộ

500 đơn vị hành chính trong nước với Chính phủ trung ương thành một hệ thống duy nhất, nhưng vẫn đảm bảo tính độc lập của mỗi đơn vị này

Thứ hai, từng bước tin học hoá, mạng hóa và mô hình hóa ngành dịch vụ

Điện tử hóa tiền tệ: Năm 1997, Malaixia thành lập công ty điện tử hóa hệ thống tiền tệ, tiếp đến tháng 3/1999 đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống hỗ trợ an toàn giao dịch ngân hàng, tạo thành một hệ thống liên mạng với thế giới

Ngày 31-08-2000, Chính phủ Malaixia đã phát hành loại thẻ “trí khôn” (smart card) tinh thể mầu ghi số liệu, chỉ cần hệ thống an toàn của ngân hàng

là cho phép người chủ này có thể tiếp cận với nguồn vốn của mình

Phát triển thương mại điện tử: Malaixia đã thành lập Ủy ban Dịch vụ thương mại toàn quốc nhằm động viên và có chế độ ưu đãi đối với các xí nghiệp vừa và nhỏ khi sử dụng dịch vụ này

Mạng hóa các dịch vụ ngân hàng: Năm 1997, Malaixia khánh thành Phòng bảo đảm an ninh ngân hàng đầu tiên và 1998 lại cho ra đời thêm một phòng nữa Các phòng này sử dụng mạng máy tính để thay thế cho hoạt động tác nghiệp trực tiếp của con người Nó giúp các nhà đầu tư chỉ việc ngồi một chỗ để điều khiển các giao dịch ngân hàng và hoạt động đầu tư của mình

Thứ ba, phát triển siêu hành lang truyền thông đa phương tiện, quy hoạch các khu công viên kỹ thuật cao

Trang 24

Siêu hành lang truyền thông đa phương tiện và Khu công viên kỹ thuật cao được kỳ vọng là “đầu tàu” chính đưa quốc gia này gia nhập kinh tế tri thức

Siêu hàng lang truyền thông đa phương tiện và Khu công viên kỹ thuật cao sẽ là nơi tập hợp các xí nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu thành một thể thống nhất, là khâu quan trọng biến kỹ thuật cao thành một ngành kinh tế thực thụ

Với hạt nhân là “Thành phố tin học”, toàn bộ thành phố là một khu công viên khoa học, kỹ thuật tổng hợp Theo kế hoạch đã được định hướng của chính phủ Malaixia, đến trước năm 2020 sẽ biến thành Khu công viên khoa học, kỹ thuật này trở thành “trung tâm sản xuất phần mềm” thế giới với dân số là 24 vạn người, cùng sự hiện diện của 500 công ty phần mềm máy tính

Thứ tƣ, là chú trọng phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ và bồi dƣỡng nhân tài

Chính phủ Malaixia chủ trương điều chỉnh lại phương châm giáo dục, đẩy mạnh giáo dục công nghệ thông tin

Nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh, từ truyền thụ tri thức sang tiếp nhận tri thức nhằm nâng cao khả năng sáng tạo cho học sinh Từ năm 2000, ngành giáo dục Malaixia bắt đầu phổ cập tin học trong các cấp học

và máy tính được trang bị ngay từ bậc tiểu học Ngay cả các sinh viên đại học chưa biết sử dụng vi tính cũng được tham gia các lớp huấn luyện cấp tốc do nhà nước tài trợ để đáp ứng yêu cầu đặt ra

Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) Malaixia thành lập Quỹ nghiên cứu trong những lĩnh vực trọng điểm nhằm hỗ trợ các xí nghiệp và nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới Năm 2000, đầu tư cho R&D của Malaixia là 1% GDP

Trang 25

Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện cho người dân có cơ hội tiếp cận với bậc đại học, Chính phủ Malaixia quyết định rút ngắn thời gian đào tạo cử nhân từ

4 năm trước đây xuống còn 3 năm

Bằng những chiến lược trên, Malaixia bước đầu đã tạo được nền móng cho ngôi nhà mơ ước Những ngành có hàm lượng tri tuệ cao đều có được vai trò, vị trí quan trọng trong kế hoạch phát triển tổng thể của Malaixia Bên cạnh đó, Malaixia còn gặp phải những khó khăn thách thức như: Mặc dù đã khá thành công trong chiến lược đi tắt, đuổi kịp một số lĩnh vực trong công nghệ thông tin, nhưng cái nền khoa học cơ bản của Malaixia lại tương đối yếu

và thiếu, khả năng sáng tạo chưa đủ mạnh, thiếu đội ngũ làm khoa học, công nghệ thực tài Sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn kéo theo khoảng cách giàu nghèo khá xa Đó là những thách thức Malaixia cần phải vượt qua

và không phải một sáng, một chiều có thể giải quyết được

1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức, Việt Nam cần ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin và coi chúng là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế Đó là hướng đi mà hầu hết các nước đều tuân thủ

Tuy nhiên, mức độ đầu tư khác nhau do sự khác biệt về điều kiện kinh

tế, chính trị, xã hội của từng nước Tại các nước công nghiệp phát triển, do có trình độ khoa học công nghệ ở mức cao, các nước này có điều kiện tập trung đầu tư nhiều cho các ngành công nghệ sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ vật liệu mới… Còn ở các nước đang phát triển do nguồn lực hạn chế nên chỉ có điều kiện tập trung vào công nghệ thông tin và công nghệ sinh học

Bên cạnh đó, do nhận thức khác nhau nên cơ cấu đầu tư vào khoa học công nghệ của các nước cũng khác nhau Ví dụ: Mỹ đầu tư rất nhiều vào công

Trang 26

nghệ thông tin chiếm 34% tổng vốn đầu tư cho kinh doanh, trong khi Nhật Bản chỉ là 20% và các nước châu Á khác còn ít hơn

Có một điểm tương đồng khác là để tập trung nguồn lực phát triển công nghệ, hay các dự án về công nghệ thông tin, truyền thông, trên thực tế hầu hết các quốc gia đều có các khu công viên kỹ thuật cao hay các khu công nghệ cao Và hiện nay trên thế giới có rất nhiều khu kiểu đó, biểu tượng niềm

tự hào của các quốc gia VD: Thung lũng Silicon của Mỹ, Bengan của Ấn Độ, còn Malaixia với Siêu hành lang truyền thông đa phương tiện

- Cốt lõi để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức chính là phải hình thành vốn nhân lực, khuyến khích

và bồi dưỡng nhân tài, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển

Nói một cách ngắn gọn, lĩnh vực đầu tư quan trọng nhất chính là đầu tư vào vốn con người, làm thế nào để có thể đào tạo, thu hút và sử dụng tốt nhân tài Đào tạo nguồn nhân lực phải hướng tới mục tiêu biến tri thức thành kỹ năng, tri thức thành trí lực và suy rộng ra dân trí phải trở thành nhân lực

Với sự hình thành nền kinh tế tri thức, nhân loại đang quá độ sang một thời đại văn minh mới mà ở đó quyền lực tri thức được khẳng định rõ rệt Việc đào tạo nguồn nhân lực đặt ra vấn đề vừa phải trang bị công nghệ giúp cho con người hoạt động sáng tạo và phát triển trình độ chuyên môn, kỹ năng,

kỹ xảo, thái độ lao động tức là tay nghề và lương tâm nghề nghiệp

Tốc độ công nghệ và sự đổi mới của kiến thức diễn ra nhanh chóng nên cán bộ, viên chức và người lao động buộc phải học tập, đào tạo liên tục trong suốt cuộc đời công tác của mình, chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc đẩy sự đổi mới

Chính vì vậy, đến nay nhiều nước trên thế giới từ các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật, Liên minh châu Âu (EU)…lẫn các nước đang phát triển như Trung Quốc, Malaixia…đều rất chú trọng đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực và đang tập trung trên các phương diện chủ yếu sau:

Trang 27

Thứ nhất: Tăng cường đầu tư cho giáo dục, xúc tiến cải cách, hiện đại

hóa hệ thống giáo dục nhằm đào tạo cho xã hội và nền kinh tế một lực lượng lao động có trình độ tri thức cao, có kỹ năng, tay nghề giỏi, tạo cơ hội để mọi người được học tập, đào tạo thường xuyên suốt đời

Thứ hai: Gắn kết một cách chặt chẽ, hiệu quả các cơ sở nghiên cứu

khoa học, các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm dạy nghề với doanh nghiệp, tăng đầu tư vào nghiên cứu phát triển (R&D) nhằm triển khai và ứng dụng nhanh chóng các kết quả nghiên cứu khoa học và đào tạo vào sản xuất hàng hóa, dịch vụ (phổ biến công nghệ), kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết,

lý luận với thực tế, thực hành, gắn giáo dục đào tạo với việc làm, tăng cường kết hợp học tập với sản xuất

Nhìn chung, hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều đi theo cách tiếp cận này đối với vấn đề đào tạo nguồn nhân lực Tất cả những kết hợp nêu trên không chỉ là phương pháp dạy kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc tương lai mà còn là cách thông qua thực tập làm việc và sản xuất để học tập, tạo kỹ năng nghề nghiệp cũng như khả năng thích ứng linh hoạt với môi trường năng động của nền kinh tế tri thức

Thứ ba: Tăng đầu tư để phát triển, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kỹ

thuật, trước hết là hạ tầng thông tin, Internet, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân, mọi tổ chức xã hội, mọi doanh nghiệp được tiếp cận, khai thác cơ

sở hạ tầng thông tin hiện đại để hấp thu được nguồn tri thức của thế giới

Thứ tƣ: Hình thành một bầu không khí xã hội dân chủ, khuyến khích

tự do (phát triển và bầy tỏ) tư tưởng, nhất là tư tưởng mới, đầy tính sáng tạo,

có chế độ sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân tài xứng đáng tạo điều kiện để mỗi người có thể làm việc độc lập nhưng lại có thể phát huy được hết sức sáng tạo và trách nhiệm của mình Vì tri thức sẽ không thể ra đời được nếu con người không được sử dụng, đánh giá và đãi ngộ xứng đáng, nếu họ không

Trang 28

được sống và làm việc trong một bầu không khí dân chủ, một xã hội mà tính sáng tạo và quyền con người của mỗi cá nhân được tôn trọng

Để đào tạo được nguồn nhân lực có tri thức và chuyên môn cao, nhiều nước đã tăng chi phí hàng năm cho giáo dục đào tạo vượt qua chi phí về quốc phòng Đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển thuộc OECD, hiện đã tăng

tỷ lệ bình quân đầu tư cho tri thức (bao gồm đầu tư cho giáo dục, R&D và phân mềm) lên đến 8% GDP, tương đương với đầu tư cho thiết bị vật chất Do vậy, chất lượng nguồn nhân lực trong các nước OECD không ngừng được nâng cao Các nước nay, nói chung đã phổ cập giáo dục trung học phổ thông

và một tỷ lệ đáng kể thanh niên đang tiếp tục học lên đại học nên các chính sách và việc đầu tư cho giáo dục ở đây thường nhấn mạnh đến việc năng cao chất lượng hơn là đến việc phổ cập giáo dục tiểu học hoặc trung học cơ sở như các nước đang phát triển Theo thống kê, 13% dân số của các nước trong

độ tuổi từ 25 đến 64 có trình độ đại học, riêng ở Mỹ và Hà lan, tỷ lệ này đặt 20% Xét về tổng thể, 60 - 70% lực lượng lao động hiện nay của các nước OECD là công nhân tri thức

Thứ năm: Nền giáo dục truyền thống cho rằng số kiến thức và kỹ năng

học được ở trường lúc còn trẻ về cơ bản có thể dùng được cả đời Thế nhưng, ngày nay tư duy đó đã trở nên lỗi thời Các tính toán khoa học cho thấy rằng, khối lượng kiến thức được ứng dụng của một nhân viên làm việc trong ngành khoa học kỹ thuật chỉ có khoảng 20% kiến thức được học ở nhà trường, 80% còn lại do yêu cầu công việc và đời sống hình thành

Dựa vào điểm này, nhiều nước nhất là các nước phát triển, tiêu biểu là

Mỹ, Canada, Nhật Bản và một số nước đang phát triển như Trung Quốc…đã

và đang tăng cường giáo dục tại chức, tích cực thực hiện công tác giáo dục suốt đời cho công chúng Thực hiện ở các nước phương Tây cho thấy trong tương lai, việc giáo dục suốt đời được tiến hành rộng khắp trên phạm vi toàn cầu, không chỉ gồm việc giáo dục ở trường trước tuổi đi làm mà còn mở rộng

Trang 29

giáo dục vỡ lòng về trí lực cho trẻ em Ngoài ra còn tiếp tục giáo dục sau trung học, sau đại học và đổi mới kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng cho từng thạc

sỹ, tiến sỹ tại chức, giáo dục cho người già

Về mặt thời gian, giáo dục suốt đời người về mặt không gian, giáo dục

mở rộng cho toàn xã hội Ngoài ngành giáo dục phổ thông truyền thống hiện giờ cả xã hội đều lập ra các trường, mở các lớp học ngắn ngày, các trường hàm thụ, trường buổi tối, trường ở các phường xã, trường ở các gia đình Các dịch vụ quần chúng như bảo tàng, viện điện ảnh, nhà văn hóa, rạp hát, câu lạc

bộ, thư viện… đều có thể làm công việc giáo dục Các hình thức giáo dục xã hội, giáo dục gia đình đều có thề đưa vào trường đại học để giảng dạy Ngược lại, hình thức giáo dục ở trường học, ngoài xã hội có thể đưa vào nhà ở của học sinh

Trong tương lai, giáo dục sẽ là sự hòa hợp cao độ giữa xã hội và gia đình, giữa xã hội và ngành giáo dục

Thứ sáu: Mặc dù các nước đã tích cực đầu tư phát triển giao dục đào

tạo nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực của mình Song trước yêu cầu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sang kinh tế tri thức dẫn đến việc thiếu hụt các chuyên gia có trình độ cao, đặc biệt là các chuyên gia công nghệ thông tin xảy

ra ở hầu khắp các nước

Chính vì thế, Chính phủ và các công ty đang bước vào một cuộc chạy đua toàn cầu để tranh giành chất xám Cuộc chạy đua này ngày càng gay gắt

do hầu hết các quốc gia, cả phát triển và đang phát triển Theo một vài thống

kê cho biết hiện trên thế giới đang thiếu khoảng 3 triệu kỹ sư tin học Riêng ở

Mỹ, mỗi năm cần khoảng 200.000 nhân viên tri thức bậc cao (đặc biệt là lập trình viên và nhân viên phân tích hệ thống có trình độ cử nhân và thạc sỹ), trong khi cả Mỹ và Tây Âu chỉ đào tạo được độ 300.000 người Chính vì vây, thu hút nhân tài trong nước và quốc tế tránh tình trạng chảy máu chất xám cũng là vấn đề mà hầu hết các nước trên thế giới quan tâm

Trang 30

- Tiến hành cải tổ và cải cách kinh tế xã hội theo hướng tự do hóa hơn và cởi mở hơn

Kinh nghiệm cho thấy, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức chỉ thành công khi đất nước đó tạo dựng một Nhà nước pháp quyền, nơi mà người dân có thể bày tỏ quan điểm

và chính kiến, cũng như các ý tưởng sáng tạo của mình, có hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định và không bị thay đổi một cách tùy tiện và có một nền kinh

tế thị trường cạnh tranh lành mạnh

Tại Trung Quốc, Hội nghị lần thứ 5 Trung ương Đảng cộng sản khóa

15 đã coi cải cách các doanh nghiệp nhà nước là mắt xích quan trọng để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại, đồng thời Nhà nước sẽ nới lỏng hơn nữa sự kiểm soát với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hình thành một thị trường thống nhất trong cả nước, các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình sở hữu đều có thể cạnh tranh công bằng với nhau trên thị trường, không chấp nhận độc quyền hay địa phương hóa bất kỳ một sản phẩm nào, tạo điều kiện để thị trường phát huy hết vai trò tự cân bằng của nó

- Lấy doanh nghiệp làm chủ thể của các chương trình đầu tư nghiên cứu và triển khai

Ngày nay, các phát minh khoa học chủ yếu do các công ty thực hiện Các tập đoàn kinh tế lớn thường có các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu phục vụ cho nhu cầu đổi mới sản phẩm, ứng dụng công nghệ mới nhằm thu được lợi ích kinh doanh Do vậy, hiện nay các nhà nước đều khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và triển khai Và một lý do nữa, do các phát minh khoa học xuất phát từ các viện nghiên cứu, nếu không có thực tiễn kiểm nghiệm sẽ rơi vào lãng quên Chính vì vậy, các nghiên cứu công nghệ phát triển đã có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đứng ra đảm trách một phần hay một số lĩnh vực của quá trình nghiên cứu và triển khai

Trang 31

Thông thường ở các nước phát triển, các doanh nghiệp đảm nhận 2/3 số

dự án, mức kinh phí và nhân viên thực hiện, Chính phủ chỉ tập trung đầu tư 1/3 còn lại, chủ yếu trong các lĩnh vực khoa học cơ bản hay phục vụ lợi ích chung của xã hội Còn các nghiên cứu và triển khai nhằm thương mại hóa sản xuất, phần lớn được chuyển về cho các doanh nghiệp đảm nhận Tỷ lệ chuyển hóa này ở các nước phát triển là 50%, trong khi ở Trung Quốc tỷ lệ này chỉ đạt 20% [9, tr 103]

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức phải gắn chặt với hội nhập kinh tế quốc tế, sẵn sàng đương đầu với thách thức, tận dụng lợi thế so sánh tương đối về các nguồn lực để thực hiện chiến lược đuổi kịp và phát triển bền vững

Hội nhập quốc tế là một cách chủ động và tích cực để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế quốc tế

Có hội nhập quốc tế, chúng ta mới xác định được ngành nào là ngành mũi nhọn, lĩnh vực nào bỏ ngỏ cần nghiên cứu để tạo đột phá, từ đó điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế theo nhu cầu đích thực của thị trường, tránh được các sai lầm chủ quan, duy ý chí

Thêm nữa, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp cho nước ta có điều kiện

mở rộng thị trường, thu hút các nguồn vốn và công nghệ mới cao từ bên ngoài vào Việt Nam là một nước đi sau nhưng điều đó nếu biết tận dụng thì chưa hẳn là bất lợi mà còn là một lợi thế trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay

Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho các quốc gia tồn tại trong mối quan

hệ ràng buộc lẫn nhau Các dòng di chuyển thông tin, tài chính, hàng hóa, dịch vụ…diễn ra với tốc độ nhanh chóng Vốn giao dịch trên thị trường tài chính toàn cầu ước tính lên tới 2000 tỷ USD nên không một quốc gia nào có thể chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức mà không tính đến những điều kiện

đó

Trang 32

Hội nhập kinh tế quốc tế biểu hiện rõ nhất đối với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là hiệu ứng “chảy tràn” hoặc hiệu ứng “làn sóng” các công nghệ thấp dần cho các nước đi sau Tuy nhiên, nếu các nước đang phát triển như Việt Nam tập trung sức lực cho các lĩnh vực đi tắt, đón đầu như vậy sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sang các sản phẩm công nghệ cao, tăng tỷ trọng công nghiệp chế tạo và dịch vụ tạo nên sự “nhảy vọt” về cơ cấu sản phẩm

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH

TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Báo cáo Chính trị tại Đại hội của Đảng lần thứ 9 đã xác định “Phát huy lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức độ cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”

Do đặc điểm nước ta có xuất phát điểm thấp cả về lực lượng sản xuất

và trình độ quản lý, Đảng và Nhà nước chủ trương chọn phương thức tiếp thu các thành tựu khoa học của kinh tế tri thức và đi thẳng vào kinh tế tri thức theo cách lựa chọn các ngành phù hợp và có thế mạnh

Việt Nam ưu tiên đầu tư cho một số ngành kinh tế, một số công nghệ mũi nhọn để không bị tụt hậu so với một số quốc gia đã có nền kinh tế tri thức Có nghĩa là, chúng ta không chờ đến công nghiệp hóa hoàn thành cơ bản mới chuyển sang kinh tế tri thức mà phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang tiến hành

Trang 33

2.1.1 Ngành công nghệ thông tin và viễn thông

Với ngành công nghệ thông tin, do sớm tiên đoán được vai trò của ngành này, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chiến lược đồng bộ nhằm phát triển ngành công nghiệp này và coi đó là một lĩnh vực ưu tiên đầu tư phát triển

Cụ thể: Năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 49/CP và Kế hoạch tổng thể về phát triển công nghệ thông tin của nước ta đến năm 2000 với mục tiêu chung là “Xây dựng nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cấu hạ tầng về công nghệ thông tin trong xã hội, có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản về công nghệ thông tin trong xã hội, có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản về thông tin trong quản lý nhà nước và trong các hoạt động kinh

tế, xã hội, đồng thời tích cực xây dựng ngành công nghiệp công nghệ thông tin thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, góp phần chuyển bị cho nước ta có vị trí xứng đáng trong khu vực khi bước vào thế kỷ 21” Chỉ thị số 58 – CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị (Khóa 8) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giao cho “ Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc rà soát lại và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin

Việc thực hiện chương trình quốc gia về công nghệ thông tin trong những năm qua đã đem lại bộ mặt mới cho công nghệ thông tin Việt Nam

Công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam phát triển với tốc độ trung bình 25% năm và tổng giá trị công nghiệp công nghệ thông tin năm 2003 vào khoảng 1,65 tỷ USD Công nghệ thông tin đang hình thành, phát triển, phục

vụ ngày càng có hiệu quả mọi đối tượng nhân dân [14]

Theo số liệu Vụ Công nghiệp công nghệ thông tin - Bộ Bưu chính viễn thông năm 2005, ngành công nghiệp phần mềm máy tính và dịch vụ của Việt Nam đạt 170 triệu USD, đạt mức tăng trưởng 35-40%/ năm Giá trị xuất khẩu

là 45 triệu USD

Trang 34

Công nghiệp phần mềm Việt Nam chủ yếu là gia công phần mềm và được xếp vào một trong số 20 nước có tiềm năng cao về gia công phần mềm

và dịch vụ Năng suất lao động đạt khoảng 10.000 USD/người/năm Có nhiều doanh nghiệp đã đạt chứng chỉ quản lý chất lượng phấn mềm CMM1, CMM3, CMM5 và chứng chỉ ISO-9001 [2, tr 29]

Biểu đồ 2.1: Số doanh nghiệp và nhân lực phần mềm 1996 - 2004

(Nguồn : Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2005,

Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại)

Từ năm 1996 - 2004, số lượng doanh nghiệp và người lao động làm việc trong lĩnh vực phần mềm máy tính tăng lên nhanh chóng Từ chỗ chỉ có

95 doanh nghiệp đến năm 2006 đã có 600 doanh nghiệp phần mềm và số người làm việc cũng tăng từ 100 người lên 15.000 người, tăng 150 lần trong vòng 8 năm Điều đó chứng tỏ ngành công nghiệp phần mềm của Việt Nam

Trang 35

đó làm giảm khả năng cạnh tranh và khả năng thâm nhập thị trường quốc tế của doanh nghiệp phần mềm Việt Nam

Ngành công nghiệp phần cứng máy tính Việt Nam năm 2005 doanh thu ước đạt 1,2 tỷ USD, giá trị phần cứng xuất khẩu đạt khoảng 670 triệu USD chủ yếu từ các công ty 100% vốn nước ngoài [2, tr 31]

Ngoài các doanh nghiệp lắp ráp máy tính đã có thương hiệu như FPT Elead, CMS, VTB, Mekong Green, T&H, khoảng 200 doanh nghiệp còn lại đều lắp ráp chưa theo quy trình công nghiệp, giá trị gia tăng thấp

Công nghiệp phần cứng máy tính Việt Nam đã đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu nội địa và bắt đầu tiến hành xuất khẩu

Ứng dụng công nghệ thông tin đã trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển của một số ngành kinh tế trọng yếu như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, du lịch, viễn thông, hàng không…Đến năm 2004 khoảng 50% doanh nghiệp đã ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Trên 30% doanh nghiệp có kết nối internet, 10% có trang web phục

vụ kinh doanh, tiếp thị trong nước và quốc tế

Ứng dụng công nghệ thông tin đã tương đối phổ biến trong hệ thống cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội, tại một số địa phương, và trong quốc phòng, an ninh, Hơn 50% bộ, ngành và hơn 80% tỉnh thành phố trực thuộc đã

có trang web, hàng chục tờ báo điện tử và trang tin điện tử đang góp phần đáng kể vào công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại [14]

Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin đã có những chuyển biến tích cực, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu lao động với tỷ lệ lao động tri thức ngày càng cao Tính đến năm 2004 đã có 62 cơ sở bậc đại học, 101 cơ sở bậc cao đẳng, 108 cơ sở bậc trung học chuyên nghiệp thực hiện đào tạo chính quy

về công nghệ thông tin và 69 cơ sở đào tạo phi chính quy ở các trình độ khác nhau [14] Mỗi năm cung cấp cho đất nước hàng chục ngàn chuyên viên công

Trang 36

nghệ thông tin, góp phần đẩy nhanh sự phát triển ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam

Những kết quả ban đầu của ngành công nghệ thông tin Việt Nam tuy vẫn còn ở mức thấp nhưng đã tạo ra nguồn động lực to lớn góp phần đẩy nhanh sự phát triển của ngành này trong tương lai

- Viễn thông

Cùng với Công nghệ thông tin, Viễn thông Việt Nam trong những năm qua đã có những bước tiến ngoạn mục, đặt cơ sở cho nền kinh tế tri thức, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường thương mại quốc tế và cải thiện đời sống xã hội, phúc lợi của nhân dân

Ngay từ những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ 20, trong lúc nền kinh tế của Việt Nam còn chậm phát triển, mạng viễn thông đã đào tạo được nguồn nhân lực tương ứng Đến nay Việt Nam đã xây dựng được mạng viễn thông rộng khắp có công nghệ hiện đại

Mạng lưới viễn thông của Việt Nam đã được tự động hóa hoàn toàn với 100% hệ thống truyền mạch số Tuyến cáp quang trục Bắc - Nam có tốc độ 2,5Gb/s nối tất cả các tỉnh thành, mạng nội tỉnh hình thành từ nhiều đường ring cáp quang chạy qua các huyện Mạng cáp quang tạo điều kiện cho việc phát triển nhiều dịch vụ mới và Internet

Cả nước đã được trang bị các tổng đài kỹ thuật số Tính đến cuối năm

2005, tổng số máy điện thoại toàn mạng lên đến 15,779 triệu máy (Trong đó VNPT chiếm 13,289 triệu máy), tăng 5,480 triệu máy so với năm 2004, đạt mật độ gần 19,01 máy/100 dân Số thuê bao di động tiếp tục tăng mạnh và đã chiếm 57% tổng số thuê bao điện thoại Năm 2005 là năm đạt mục tiêu 100%

số xã trên cả nước có điện thoại, nâng số bưu điện văn hóa xã lên 7.717 điểm [2, tr 32]

- Phát triển Internet

Trang 37

Internet là một danh từ riêng dùng để chỉ hệ thống các mạng máy tính toàn cầu, cho phép mọi người trên thế giới có thể truy cập đến các Worl Wide Webs (www) để trao đổi thông tin

Internet ban đầu được biết đến qua mạng ARPAnet - mạng của cơ quan nghiên cứu dự án cao cấp Hoa Kỳ những năm 60 của thế kỷ 20 Đến năm

1995, Internet được công nhận là mạng toàn cầu

Internet cung cấp khả năng truy cập dễ dàng nhiều thông tin về nhiều lĩnh vực khác nhau từ máy tính có kết nối modem hoặc qua điện thoại di động bằng công nghệ giao thức áp dụng không dây

Với những tiến bộ vượt bậc của ngành công nghệ thông tin, mạng Internet được sử dụng trên phạm vi toàn cầu Ở Việt Nam, trong những năm gần đây Internet cũng có bước phát triển ngoạn mục

Bảng 2.1: Tình hình phát triển Internet Việt Nam

TT Chỉ tiêu thống kê 12/2003 12/2004 12/2005

1 Số lượng thuê bao Internet quy đổi 804.528 1.659.013 2.891.028

2 Số ngườI sử dụng Internet 3.098.007 6.345.049 10.657.102

3 Tỷ lệ người sử dụng so với dân số 3.08 % 7.69 % 12.84 %

4 Băng thông kết nối Internet quốc tế

5 Lưu lượng Internet trong nước trao

Trang 38

7 Địa chỉ IP đã cấp 152.064 454.912 755.200

(Nguồn : Trung tâm thông tin Internet Việt Nam)

Như vậy tính đến hết năm 2005, số thuê bao Internet ở Việt Nam đã lên tới 2.891.028 thuê bao, nâng số người sử dụng Internet thành 10.657.102 người, chiếm 12,84% dân số Chỉ trong hai năm (2003 - 2005) số người sử dụng và số thuê bao Internet đã tăng hơn ba lần, chứng tỏ tiềm năng phát triển Internet mạnh mẽ của Việt Nam

Dung lượng kết nối Internet quốc tế tiếp tục phát triển mạnh trong các năm qua Tính đến tháng 12/2005, tổng dung lượng kết nối Internet quốc tế của các IXP Việt Nam đã đạt 3.505 Mbps, gấp ba lần so với thời điểm tháng

12 /2003 và gấp đôi so với thời điểm tháng 12 /2004

Phát triển mạnh các ứng dụng trên Internet như: Giáo dục từ xa, y tế từ

xa, ngân hàng điện tử, thương mại điện tử… tạo ra một môi trường thuận lợi cho tất cả các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục ở Việt Nam cũng như sử dụng được những nguồn tri thức quý giá của nhân loại trên Internet để góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức

- Phát triển dịch vụ thông tin di động

Tính đến hết năm 2005, Việt Nam có trên 9 triệu thuê bao di động của

hệ thống toàn cầu GSM và đã kết nối với hơn 50 nước Tốc độ phát triển điện thoại di động đã nhanh hơn điện thoại cố định

Hiện nay, đã có 6 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động được cấp phép là: Mobiphone, Vinaphone, S-Fone, Viettel, EVN Telecom và Hà Nội Telecom Trong đó, VNPT chiếm đến 91,84% thị phần, thứ hai Viettel chiếm 4,26% thị phần và 4 hãng còn lại chiếm 4,26% thị phần và 4 hãng còn lại chia nhau 3,9% thị phần còn lại [2, tr.32]

Sự xuất hiện của Viettel đã làm thị trường thông tin di động trở nên thực sự mang tính cạnh tranh Với tốc độ phát triển nhanh chóng, sau hơn một

Trang 39

năm kể từ ngày chính thức hoạt động (từ 15/10/2004) đã có 1,4 triệu khách hàng Viettel đã làm thay đổi bức tranh thị phần thông tin di động tại Việt Nam

Cạnh tranh đã góp phần làm giảm giá cước viễn thông rõ rệt, giúp nhiều đối tượng có mức thu nhập thấp khác nhau trong xã hội có thể tiếp cận với các dịch vụ viễn thông Mặt khác, cạnh tranh góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin di động ứng dụng công nghệ mới

- Phát triển thương mại điện tử

Thương mại điện tử hiểu theo một nghĩa đơn giản nhất là quá trình kinh doanh qua Internet

Giao dịch thương mại điện tử thông qua Internet có thể chia thành ba hình thức chính:

B2C: (Business to consumer): Là hình thức công ty bán sản phẩm cho khách hàng

B2B: (Business to business): Là hình thức giao dịch buôn bán giữa các công ty với quy mô lớn

B2G: (Business to government): Là cách thức trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với cơ quan Chính phủ

Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, thương mại điện tử đã có ngôi vị vững chắc trên thị trường, tạo điều kiện cho các quốc gia tiến nhanh đến toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức

Thương mại điện tử Việt Nam đến năm 2005 đã có dấu hiệu khởi động

Đó cũng là năm đầu tiên nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng cho sự phát triển của thương mại điện tử, điển hình là kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010, luật giao dịch điện tử, luật thương mại và bộ luật dân sự, luật về quyền sở hữu trí tuệ, hải quan, đấu thầu, mua sắm công tạo ra khung hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động thương mại điện tử

Trang 40

Bên cạnh việc ban hành chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan mật thiết đến thương mại điện tử đã được triển khai

Năm 2005 Bộ Tài chính triển khai thử nghiệm hải quan điện tử được coi là một bước cải cách lớn trong khối dịch vụ công, giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm cơ hội phát sinh tiêu cực

Bộ Thương mại ngoài việc nâng cấp hệ thống truyền visa điện tử hàng dệt may sang Hoa Kỳ (ELVIS) đã cung cấp dịch vụ tra cứu trực tuyến thông tin liên quan tới visa điện tử của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may, giúp cho các doanh nghiệp này chủ động hơn trong kinh doanh …v v

Bộ Thương mại còn khai trương cổng thương mại điện tử quốc gia (ECVN) giúp các doanh nghiệp làm quen với giao dịch thương mại điện tử B2B (Business to Business) Tháng 7/2006, Bộ Thương mại ra văn bản về sử dụng chữ ký bằng con số điện tử trên mạng

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa vào hoạt động website đấu thầu mua sắm công góp phần tạo nên sự minh bạch và cạnh trạnh bình đẳng trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các cơ quan nhà nước

Bên cạnh đó, chất lượng website của nhiều bộ ngành, cơ quan Nhà nước, các tổ chức và doanh nghiệp đã được cải thiện rõ rệt một phần nhờ Nhà nước đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ, khuyến khích thương mại điện tử : như là các hoạt động đánh giá xếp hạng các website thương mại điện tử, bình chọn, trao giải thưởng cho doanh nghiệp hay sản phẩm thương mại điện tử xuất sắc

Thương mại điện tử có thể phát triển nhanh chóng nhờ Nhà nước đã có quan tâm đào tạo nguồn nhân lực phù hợp theo hai hướng:

Đào tạo chính quy và đào tạo tại chỗ Các trường đại học như Đại học Thương mại, Đại học Ngoại thương, Đại học Bách khoa Hà Nội đã thành lập các khoa hoặc bộ môn Thương mại điện tử Ngoài ra, Bộ Thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và một số đơn vị khác đã năng động

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1994), Đổi mới kinh tế và phát triển ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới kinh tế và phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
5. Trần Ngọc Hiên (11/2004), Tác động của kinh tế tri thức đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta và suy nghĩ vận dụng vào thực tiễn, NXB Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của kinh tế tri thức đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta và suy nghĩ vận dụng vào thực tiễn
Nhà XB: NXB Thông tin khoa học xã hội
6. Đặng Hữu (2004), Kinh tế tri thức – Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức – Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam
Tác giả: Đặng Hữu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
7. Đặng Hữu (2000), “Phát triển nhanh và bền vững dựa trên tri thức”, Tạp chí Lý luận Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, (số 11,12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhanh và bền vững dựa trên tri thức”, "Tạp chí Lý luận Chính trị
Tác giả: Đặng Hữu
Năm: 2000
9. Vũ Trọng Lâm (2004), Kinh tế tri thức ở Việt Nam - Quan điểm và giải pháp phát triển, NXB khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức ở Việt Nam - Quan điểm và giải pháp phát triển
Tác giả: Vũ Trọng Lâm
Nhà XB: NXB khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
10. Đặng Mộng Lân (2002), Kinh tế tri thức – Những khái niệm và vấn đề cơ bản, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức – Những khái niệm và vấn đề cơ bản
Tác giả: Đặng Mộng Lân
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2002
11. Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hoài Nam
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1996
12. Nguyễn Trần Quế (2004), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21
Tác giả: Nguyễn Trần Quế
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
13. Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hóa từ nông nghiệp. Lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa từ nông nghiệp. Lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
14. Đỗ Trung Tá, Bộ trưởng Bộ Bưu chính viễn thông, “ Công nghệ thông tin - truyền thông Việt Nam. Thời cơ vận hội và con đường rút ngắn khoảng cách” . Báo Bưu điện Việt Nam, (Số 1 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin - truyền thông Việt Nam. Thời cơ vận hội và con đường rút ngắn khoảng cách” . "Báo Bưu điện Việt Nam
15. GS TS Lê Hữu Tầng, GS Lưu Hàm Nhạc (2002), Nghiên cứu so sánh đổi mới kimh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế ở Trung Quốc, NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh đổi mới kimh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế ở Trung Quốc
Tác giả: GS TS Lê Hữu Tầng, GS Lưu Hàm Nhạc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội
Năm: 2002
16. Bùi Tất Thắng (1994), Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ CNH của các NIEs Đông Á và Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ CNH của các NIEs Đông Á và Việt Nam
Tác giả: Bùi Tất Thắng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
17. Bùi Tất Thắng (3/2004): “EU mở rộng và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: EU mở rộng và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
18. Trần Đình Thiên (2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam – Phác thảo lộ trình, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam – Phác thảo lộ trình
Tác giả: Trần Đình Thiên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
19. Phạm Tiến, Viện kinh tế thế giới (2004), “Con đường hướng tới nền kinh tế tri thức của Malaixia” đăng trên “Hội thảo kinh tế tri thức- Cơ hội và thách thức đặt ra cho Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường hướng tới nền kinh tế tri thức của Malaixia” đăng trên “"Hội thảo kinh tế tri thức- Cơ hội và thách thức đặt ra cho Việt Nam
Tác giả: Phạm Tiến, Viện kinh tế thế giới
Năm: 2004
20. GS TS Ngô Quý Tùng (2000), Kinh tế tri thức, xu hướng mới của thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức, xu hướng mới của thế kỷ XXI
Tác giả: GS TS Ngô Quý Tùng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
21. Trần Văn Tùng (2001), Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Tùng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2001
23. APEC (11/2000), Towards knowledge-based-economic in APEC – Report by APEC Economic Committee Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards knowledge-based-economic in APEC –

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình phát triển Internet Việt Nam - Chuyển dịch cơ cấu  ngành kinh  tế  trong điều kiện phát triển kinh tế tri  thức  ở  Việt Nam hiện  nay
Bảng 2.1 Tình hình phát triển Internet Việt Nam (Trang 37)
Bảng 2.3: Bảng so sánh giá cước viễn thông của Việt Nam - Chuyển dịch cơ cấu  ngành kinh  tế  trong điều kiện phát triển kinh tế tri  thức  ở  Việt Nam hiện  nay
Bảng 2.3 Bảng so sánh giá cước viễn thông của Việt Nam (Trang 56)
Bảng 2.4: Cơ cấu của lực lƣợng lao động chia   theo trình độ chuyên môn kỹ thuật của cả nước năm 2003 - Chuyển dịch cơ cấu  ngành kinh  tế  trong điều kiện phát triển kinh tế tri  thức  ở  Việt Nam hiện  nay
Bảng 2.4 Cơ cấu của lực lƣợng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật của cả nước năm 2003 (Trang 62)
Bảng 2.6: Khả năng phát huy tác dụng của cán bộ khoa học công nghệ - Chuyển dịch cơ cấu  ngành kinh  tế  trong điều kiện phát triển kinh tế tri  thức  ở  Việt Nam hiện  nay
Bảng 2.6 Khả năng phát huy tác dụng của cán bộ khoa học công nghệ (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w