CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
2.2. Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức
Nhân loại bước vào thế kỷ mới với rất nhiều vận hội mới cũng như nhiều thách thức mới. Sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất với những thành tựu kỳ diệu của cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin là yếu tố vật chất có tính quyết định sâu xa nhất đến xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển kinh tế tri thức đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Kinh tế tri thức với tư cách là sản phẩm của cách mạng khoa học - công
54
nghệ hiện đại đang tạo ra nhiều cơ hội mới, đồng thời đặt ra những vấn đề mới cho các quốc gia, dân tộc, nhất là cho những nước đang phát triển, tiềm lực kinh tế yếu, đi lên từ điểm xuất phát thấp như nước ta. Với vai trò đã có, đang có và sẽ phải có đối với sự phát triển của đất nước, giáo dục đại học Việt Nam có trách nhiệm to lớn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Nhưng với thực trạng giáo dục đại học có cả những thành tựu cũng như nhiều hạn chế, bất cập nêu trên, giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước nhiều vấn đề nan giải, phức tạp do chính yêu cầu khách quan của việc phát triển kinh tế tri thức đặt ra. Nói tóm lại, từ bản chất và đặc điểm của kinh tế tri thức, trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức, trước vai trò cần phải có và trước thực trạng của giáo dục đại học Việt Nam, vấn đề tổng quát đặt ra ở đây là làm sao cho những thành tựu, thế mạnh được phát huy tối đa, còn những hạn chế, yếu kém được khắc phục một cách nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất. Dưới đây xin nêu lên một số vấn đề cấp bách, cơ bản đang đặt ra đối với giáo dục đại học của nước ta trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức.
Thứ nhất, giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển giáo dục đại học để đáp ứng đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức với những điều kiện thực thi yêu cầu này, nghĩa là phải giải quyết vấn đề nguồn lực cho phát triển giáo dục đại học. Để giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng với tư cách là bộ phận nòng cốt, bộ phận quyết định nguồn nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức phải có các nguồn lực cần thiết như nhân lực, vật lực, tài lực.
Trước hết là đội ngủ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học phải
“đủ đức, đủ tài”, là “hiền tài” trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Có thể thấy, từ khi Đảng và Nhà nước ta mở rộng quy mô đào tạo sau đại học, số thạc sỹ và tiến sỹ trong các trường đại học đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, nhìn chung đội ngũ cán bộ, giảng viên ở các trường đại học của Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng. Tỷ lệ sinh viên/giảng viên tính chung trong cả nước hiện ở con số 27, ở một số trường đại học, con số này lên đến 100. Rõ ràng tỷ lệ này là quá cao, nhất là ở các trường ngoài công lập, khi
55
những năm gần đây, số lượng sinh viên đại học ngoài công lập gia tăng với tốc độ chóng mặt. Nhiều giảng viên “chạy xô” quá nhiều, trở thành “thợ dạy”, không còn chút thời gian nào cho nghiên cứu khoa học. Mà đối với giảng viên đại học thì vấn đề dành thời lượng thích đáng cho nghiên cứu khoa học là vô cùng cần thiết để nâng cao chất lượng giảng dạy.
Đầu tư tài chính và cơ sở vật chất cho giáo dục đại học cũng là những vấn đề đang đặt ra. Ngân sách chi cho giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng tuy có chuyển biến theo hướng tăng lên nhưng vẫn quá hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của công cuộc đổi mới và phát triển mạnh mẽ, toàn diện giáo dục đại học, nhất là khi các trường đại học tiến hành đổi mới nội dung chương trình đào tạo, áp dụng các phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Hơn nữa, đầu tư cho giáo dục đại học còn mang tính dàn trải, chưa đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Thứ hai, xử lý mối quan hệ giữa quy mô số lượng và chất lượng giáo dục đại học. Đây thực sự là một câu hỏi khó tìm lời giải đối với chiến lược giáo dục của mọi quốc gia, đặc biệt là trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ và phát triển nền kinh tế tri thức hiện nay. Về mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng của giáo dục đại học Việt Nam, có nhiều đánh giá, nhiều quan điểm khác nhau, nên lời giải mà họ đưa ra cũng rất khác nhau. Mặc dù vậy, số đông thường nghiêng về phía cho rằng chúng ta đang ở trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Vậy phải chăng nền giáo dục đại học Việt Nam đang phát triển quá mức cần thiết về quy mô, về số lượng, nhưng yếu kém về chất lượng, bất cập về cơ cấu đào tạo?
Trước hết, chúng ta hãy xem xét về số lượng sinh viên. Số lượng sinh viên của một nước áng chừng bao nhiêu là hợp lý? Các nhà nghiên cứu chiến lược giáo dục trên thế giới thường dựa vào tỷ lệ sinh viên so với thanh niên ở độ tuổi đại học của nước đó. Như đã trình bày ở mục 2.1.2, nền giáo dục đại học được xem là dành cho số ít người khi tỷ lệ này thấp hơn 15%; được xem là đại chúng hơn khi tỷ lệ này đạt từ 15% đến 50%; được xem là phổ cập khi tỷ lệ này đạt trên 50%. Cũng theo các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới thì giáo dục đại học dành cho số ít người chỉ thích hợp với nền kinh tế nông
56
nghiệp, còn giáo dục đại học phổ cập mới là đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế tri thức.
Thực tế cho thấy giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động về số lượng. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực đạt chuẩn ở hầu hết các ngành, đặc biệt là các ngành mới đã và đang đặt các doanh nghiệp vào tình thế nan giải trong quản lý nhân sự. Tình hình này không chỉ diễn ra ở ngành công nghệ thông tin mà ở cả các ngành kinh tế như tài chính ngân hàng, marketing, du lịch hay đóng tàu,... Để đạt mục tiêu phát triển công nghệ thông tin vào năm 2010, chúng ta cần khoảng 80 ngàn kỹ sư phần mềm chuyên nghiệp, tuy nhiên, theo tổng hợp chung, cho đến thời điểm đó, chúng ta cố gắng cũng chỉ có khoảng 26 ngàn người được đào tạo. Điều đó chứng tỏ, cầu nhân lực công nghệ thông tin Việt Nam hiện đang vượt quá khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo, mặc dù, chỉ tiêu tuyển sinh cho ngành này đã tăng mạnh trong thời gian qua. Theo nghiên cứu của Navigos năm 2007 tại Việt Nam, tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng vẫn tiếp tục diễn ra ở các ngành nghề dệt may, da giày, gỗ, du lịch. Trong quý II, chỉ số cầu nguồn nhân lực của 46/56 ngành nghề tăng đáng kể và tập trung vào các ngành nghề đòi hỏi chuyên môn và trình độ cao. Bán hàng, kế toán tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin, hành chính, tiếp thị, quản lý điều hành đều có nhu cầu cần tuyển tăng trên 200%. Trong khi đó, số lượng lao động cung ứng đã tăng lên đáng kể nhưng chưa thể đáp ứng cầu lao động. Theo họ, nếu nguồn cung tăng khoảng 30% thì cầu lao động lại tăng đến 142% [60].
Còn về chất lượng, có thể nói, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học đáp ứng được yêu cầu thực tế công việc hiện tại là rất thấp. Theo Ngân hàng Thế giới, có tới 50% doanh nghiệp may mặc, hóa chất đánh giá lao động được đào tạo không đáp ứng nhu cầu của mình. Khoảng 60% lao động trẻ tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo cần được đào tạo lại ngay sau khi tuyển dụng, cá biệt, lĩnh vực phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1 năm cho 80%-90% sinh viên tốt nghiệp được tuyển dụng. Không chỉ phải đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ, người sử dụng lao động còn phải huấn luyện cho nhân viên cả thái độ làm việc, nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ trong công việc để có được quyền lợi mà họ được hưởng, các kỹ năng cần thiết trong công việc như giao tiếp,
57
thương lượng, sử dụng máy tính, ngoại ngữ… và đặc biệt là kỷ luật làm việc, tuân thủ thời gian trong công việc, nhất là các doanh nghiệp có quan hệ với đối tác nước ngoài. Những chi phí đào tạo này không chỉ tốn kém tiền bạc của người sử dụng lao động mà cả thời gian, công sức và đôi khi là những cơ hội kinh doanh. Để tiết kiệm chi phí, rất nhiều doanh nghiệp đã chọn giải pháp là sử dụng người nước ngoài tại các vị trí chủ chốt. Thực tế cho thấy, sau khi trở thành thành viên của WTO, số lượng lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam ngày càng tăng, cạnh tranh với lao động trong nước.
Điều này càng chứng tỏ, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là phải tiếp tục tăng số lượng, tăng quy mô giáo dục đại học ở nước ta, nhưng quan trọng hơn là vấn đề chất lượng của giáo dục đại học. Nói một cách cụ thể hơn, vấn đề đặt ra là phải tìm mọi cách nâng cao chất lượng giáo dục đại học, điều chỉnh cơ cấu đào tạo chuyên môn, ngành nghề một cách hợp lý, đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hóa, hiên đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng số lượng đầu vào với tăng chất lượng đầu ra của nền giáo dục đại học ở nước ta.
Thứ ba, nhanh chóng khắc phục sự bất cập giữa chất lượng, cơ cấu ngành nghề và nội dung chương trình đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Đã hơn 20 năm kể từ khi Việt Nam chấp nhận cơ chế thị trường trong phát triển kinh tế xã hội. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, chính sách “đổi mới” và kinh tế thị trường đã thổi một luồng gió mới, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, kéo theo sự gia tăng nhu cầu về nhân lực chất lượng cao, đòi hỏi giáo dục đại học phải đổi mới và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Có thể nói rằng, cơ chế thị trường đã tác động đến tất cả các khía cạnh trong đời sống xã hội ở Việt Nam, trong đó có giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học khi mà thị trường lao động phát triển cùng với sức ép buộc sinh viên tự tìm việc sau đào tạo. Thế nhưng, đứng trên góc nhìn của kinh tế thị trường, có thể thấy, bước vào thế kỷ 21, nền giáo dục Việt Nam chưa chuyển mình kịp để đáp ứng nhu cầu đào tạo và hội nhập quốc tế. Cùng
58
với sự tồn tại của hệ thống các cơ quan quản lý và doanh nghiệp nhà nước là sự xuất hiện và phát triển của hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty cổ phần đã tạo nên một thị trường lao động đầy tiềm năng với cầu ở mức cao. Tuy nhiên, không phải vì thế mà sức ép trong ngành cung ứng lao động thấp bởi nhu cầu lao động qua đào tạo đã và đang ngày càng tăng lên không chỉ về lượng mà đặc biệt là về chất.
Chính vì thế, dù số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học mỗi năm lên tới vài chục vạn người và vẫn tăng lên hàng năm do sự phát triển của các trường đại học công lập và dân lập với nhiều hệ đào tạo khác nhau nhưng hầu hết các doanh nghiệp luôn phàn nàn rằng, họ thường gặp khó khăn trong tuyển dụng nguồn nhân lực theo yêu cầu.
Theo khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hầu hết các sinh viên ra trường đều có được việc làm nhưng tỷ lệ người có được việc làm đúng chuyên ngành đào tạo dưới 20%. Chính vì thế, hầu hết sinh viên mới tốt nghiệp thường phải được đào tạo lại tại nơi mà họ được tuyển dụng từ 6 tháng tới 1 năm. Tất nhiên, cũng có một số (nhưng rất ít) người không cần đào tạo lại vẫn làm việc tốt. Cái mà giáo dục đại học cần hướng tới đó là đại đa số sinh viên ra trường đều có thể bắt tay vào công việc mà họ đã được đào tạo, đáp ứng cơ bản những yêu cầu của công việc đó. Việc phải đào tạo lại sinh viên mới tốt nghiệp đã tạo một sức ép lớn lên các doanh nghiệp trong việc sử dụng những người được coi là đã được đào tạo nhưng lại không hiểu vai trò, trách nhiệm và công việc của mình tại nơi làm việc.
Tình hình trên nói lên nền giáo dục đại học của nước ta đang ở tình trạng chất lượng giáo dục thấp, cơ cấu ngành nghề đào tạo không phù hợp, nội dung chương trình đào tạo không tương thích với yêu cầu của thị trường lao động. Đây thực sự là một bất cập lớn, một vấn đề bức xúc đang đặt ra, nếu không nhanh chóng khắc phục thì chẳng những không đào tạo được nguồn nhân lực trình độ cao để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, mà còn gây nên sự lãng phí lớn khi mà nguồn lực dành cho giáo dục đại học ở nước ta đang trong tình trạng hạn hẹp, ít ỏi.
59
Thứ tư, đổi mới công tác quản lý giáo dục đại học theo hướng đề cao hiệu quả; xây dựng hệ thống giáo dục đại học hợp lý; hiện đại hóa giáo dục đại học; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học. Thực tế cho thấy, phương pháp quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với các trường đại học trong suốt nhiều năm qua, về cơ bản không thay đổi trong khi số lượng các trường đại học, cao đẳng năm 2008 đã tăng gấp 2,4 lần, quy mô đào tạo tăng gấp gần 1,79 lần so với năm 1999… Quản lý đối với giáo dục đại học vẫn theo phương thức tập trung, chưa phân cấp đáng kể, chưa tăng quyền tự chủ cho các trường đại học cũng như cho chính quyền các tỉnh, chưa có quy chế phối hợp với các bộ ngành; khả năng kiểm soát, đánh giá chất lượng đào tạo, hiệu quả đầu tư của nhà nước và việc chấp hành các quy định của các trường ngày càng khó khăn hơn. Trong thời gian tới giáo dục đại học cần tập trung khắc phục sự yếu kém trong quản lý giáo dục. Chính quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn yếu kém, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập, nên chưa huy động, khai thác được nhiều nguồn lực trong xã hội, trong dân, chưa thu hút được các nguồn đầu tư từ bên ngoài để phát triển giáo dục đại học.
Mặt khác, để góp phần quan trọng trong việc huy động, khai thác các nguồn lực cho phát triển giáo dục đại học và nâng cao chất lượng đào tạo, cần xây dựng hệ thống giáo dục đại học hợp lý. Đó là hệ thống đại học, cao đẳng phù hợp về quy mô, có sự phân tầng, liên thông, không khép kín, có sự liên kết giữa các đơn vị trong trường, giữa các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài nước, giữa các trường đại học với các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp,…Ngoài ra, cần phải đẩy mạnh công cuộc hiện đại hoá giáo dục đại học trong toàn bộ hoạt động giáo dục đại học từ cách thức, nội dung chương trình đào tạo, phương pháp và phương tiện giảng dạy, học tập đến công tác quản lý, kiểm định chất lượng giáo dục,… Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày nay, con đường hiện đại hoá giáo dục đại học nhanh nhất là chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đại học.
Từ thực trạng giáo dục đại học Việt Nam và những vấn đề bức xúc đang đặt ra mà giáo dục đại học phải nhận rõ, khắc phục và xử lý để hoàn thành sứ mệnh cao cả là cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, vấn đề đổi