1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học việt nam

24 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 171 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức rõđiều đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định “…tranh thủ ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ,

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại,đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệumới, công nghệ năng lượng mới,…từ cuối những năm 80 của thế kỷ

XX đến nay, nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ cả về

cơ cấu, chức năng lẫn phương thức hoạt động Đây thực sự là một bướcngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại - nền kinh tế đang chuyển từ kinh tếcông nghiệp sang kinh tế tri thức

Trong nền kinh tế tri thức, yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế làtri thức và tiềm năng tạo ra tri thức, vì thế trên thế giới đang diễn racuộc chạy đua gay gắt giữa các quốc gia để thu hút, chiếm hữu, khaithác nguồn lực trí tuệ Mặc dù các nước phát triển có ưu thế hơn hẳntrong cuộc cạnh tranh này, nhưng kinh tế tri thức cũng tạo ra cơ hội chocác nước đang phát triển vươn lên, rút ngắn khoảng cách với các nướcphát triển Cơ hội này sẽ trở thành hiện thực nếu họ biết nắm bắt, khaithác tiến bộ của khoa học – công nghệ, tri thức của nhân loại để pháthuy nội lực, tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia Nhận thức rõđiều đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định

“…tranh thủ ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức” Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức”.

Để phát triển kinh tế tri thức, chúng ta không có cách nào khác làphải nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũlao động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ - những người trực tiếptham gia vào quá trình sáng chế ra những tiến bộ khoa học – công nghệ

Trang 2

thế giới vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Điềunày đòi hỏi tất yếu phải tập trung phát triển vượt bậc nền giáo dục nướcnhà, đặc biệt là giáo dục đại học vì nó trực tiếp tạo ra nguồn nhân lựctrình độ cao - lực lượng nòng cốt trong nền kinh tế tri thức Bởi thế, Đại

hội Đảng lần thứ X một lần nữa nhấn mạnh vai trò “quốc sách hàng đầu” của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, và xác định một

trong những nhiệm vụ chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã

hội của đất nước là “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục

và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức”

Là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, giáo dục đại học

ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng tự hào,góp phần đắc lực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục đại họccũng đang bộc lộ những hạn chế, bất cập về mặt lý luận cũng như thựctiễn, cần được khắc phục Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá và phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế đang đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi giáo dục đại học ViệtNam phải có sự đổi mới mạnh mẽ và toàn diện trong toàn bộ hoạt độnggiáo dục để có được lời giải hữu hiệu cho một câu hỏi tổng quát đầy hệtrọng là: Giáo dục đại học Việt Nam phải làm gì và làm như thế nào đểtăng nhanh quy mô gắn với nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đápứng được yêu cầu phát triển kinh tế tri thức? Đây thực sự là một vấn đềlớn, cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được luận giảithấu đáo Để góp phần làm rõ vấn đề trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài

nghiên cứu: “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại

học Việt Nam”

Trang 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thuật ngữ “Kinh tế tri thức” xuất hiện trong các công trình nghiêncứu của các nhà khoa học Việt Nam chưa lâu, mới chỉ khoảng mườinăm trở lại đây, song do tính chất quan trọng của vấn đề - một vấn đề

có tính thời sự, thời đại và tác động trực tiếp đến sự phát triển của cácnước – kinh tế tri thức đã nhanh chóng trở thành vấn đề được các nhàkhoa học quan tâm Ở nước ta đã xuất hiện một số công trình nghiêncứu tìm hiểu về kinh tế tri thức dưới những góc độ khác nhau và đượctrình bày dưới dạng các bài báo khoa học, sách hoặc đề tài nghiên cứu

khoa học Chẳng hạn, “Động lực cho kinh tế tri thức”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2003, của GS.VS Đặng Hữu; “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 2004, của PGS,TS Đoàn Văn Khái; “Kinh tế sáng tạo”, Tạp chí Tia sáng, 4-12-2005, của Song Ca; “Tìm hiểu vấn đề

“Đẩy mạnh công nghịêp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” trong Văn kiện Đại hội X của Đảng”, Nxb Chính trị Quốc gia,

2007, của GS.TS Chu Văn Cấp; “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức”, Tạp chí Cộng sản 21/2007, của GS Vũ Đình Cự; “Quản lý tri thức trong nền kinh tế hiện đại”,

Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 8/2007, của GS Boris Mil’ner;

“Một số thông tin bước đầu về xã hội tri thức”, nhiệm vụ cấp bộ, 2008, của PGS,TS Nguyễn Văn Dân; “Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức”, Nxb Khoa học xã hội, 2008, PGS,TS Nguyễn Văn Dân;

Về vấn đề giáo dục và giáo dục đại học, cũng có những công trìnhnghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau xung quanh tìnhhình giáo dục nước ta hiện nay; việc đổi mới giáo dục – đào tạo nhằmnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ cho côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức Tiêu biểu như,

Trang 4

tạo đại học ở Việt Nam hiện nay”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ,

2006, của PGS,TS Đoàn Văn Khái; “ Đổi mới giáo dục và người lãnh đạo: Thế giới thay đổi – giáo dục thay đổi”, Tạp chí Tia sáng, số 17, 5- 9-2006, của Ngô Việt Trung; “Khởi đầu chấn hưng đại học bằng “tinh hoa””, Tạp chí Tia sáng, số 17, 5-9-2007, của GS.Bùi Trọng Liễu;

“Giáo dục đại học: Luận bàn vài điều cấp thiết”, Tạp chí Tia sáng, số

18, 20-9-2007, của GS.Pierre Darriulat; “ Xây dựng một đại học “hoa tiêu””, Tạp chí Tia sáng, số 19, 5- 10-2007, của GS NGND Nguyễn Văn Chiển; “ Tiêu chuẩn của trường đại học đẳng cấp quốc tế”, Tạp chí Tia sáng, số 19, 5-10-2007, của Nguyễn Văn Tuấn; “Đổi mới, nâng cao năng lực vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế”, Nxb Lao động – Xã hội, 2007; “Phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh mới”, Tạp chí Cộng sản, số 5/2007, của Phạm Đỗ Nhật Tiến ;

“Vài suy nghĩ về giáo dục đại học trong thời đại mới”, Tạp chí Tia sáng 2-5-2008, của TS Nguyễn Kim Dung; “Dạy và học theo quan điểm học suốt đời”, Tạp chí Tia sáng, 4-8-2008, của GS Đỗ Đăng Giu;

“Cải cách giáo dục đại học theo hướng tiếp cận các trường đại học đẳng cấp quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số 24/2008, của TS Ngô Tứ Thành; “Giải pháp phát triển giáo dục: Từ góc nhìn nghiệp vụ sư phạm”, Tạp chí Tia sáng, 25-5-2009, của GS Hồ Ngọc Đại ; “Làm gì

để giáo dục đại học nâng cao thứ hạng?”, báo Giáo dục thời đại,

2-7-2009, của Sông Hồng;“Xã hội hóa giáo dục và vai trò của Nhà nước”,

Thời báo kinh tế Sài Gòn, 11-8-2009, của GS,TS Nguyễn Vân Nam;

“Hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam”,

Tạp chí Tia sáng, 19-08-2009, của Ths Phạm Văn Luân;

Tóm lại, xung quanh vấn đề kinh tế tri thức và vấn đề giáo dục vàgiáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay đã có những công trình nghiêncứu ở những góc độ và mức độ khác nhau Tuy vậy, chưa có chuyênkhảo nào luận bàn một cách có hệ thống về vị trí, vai trò của giáo dục

Trang 5

đại học trong kinh tế tri thức, những vấn đề mà kinh tế tri thức đặt rađối với giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế và những việccần phải làm để đổi mới, phát triển giáo dục đại học Việt Nam đáp ứngyêu cầu từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm rõ bản chất của kinh tế tri

thức và những đòi hỏi của nó đối với giáo dục đại học Việt Nam; trên

cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, phát triểngiáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh

tế tri thức

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu

của luận văn là:

Thứ nhất, luận giải những nội dung cơ bản về kinh tế tri thức, qua đó

góp phần làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm, quá trình hình thành và phát triểncủa kinh tế tri thức

Thứ hai, lý giải vai trò của giáo dục đại học trong kinh tế tri thức,

phân tích thực trạng giáo dục đại học Việt Nam, từ đó làm rõ nhữngvấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học trước yêu cầu phát triển kinh tếtri thức

Thứ ba, trình bày một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, phát

triển giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu từng bước phát triểnkinh tế tri thức

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế tri thức và giáo dục đại học Việt

Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Đây là một đề tài rộng nên luận văn giới hạn

ở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên Trong từng vấn đề cụ thể,

Trang 6

luận văn cũng không thể đề cập tất cả mọi khía cạnh mà chỉ tập trungvào những khía cạnh mà tác giả cho là quan trọng nhất.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên các tác phầm của

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và Văn kiện của ĐảngCộng sản Việt Nam có liên quan đến đề tài Luận văn cũng kế thừa cáccông trình nghiên cứu của các tác giả đi trước trong và ngoài nước cóliên quan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu được sử

dụng là: phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgíc và lịch sửvới tinh thần lý luận kết hợp với thực tiễn trên cơ sở phương pháp luậnbiện chứng duy vật

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm, quá trình hìnhthành và phát triển của kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối vớigiáo dục đại học Việt Nam hiện nay trước yêu cầu phát triển kinh tế trithức

- Góp phần làm rõ thực trạng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay,trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, phát triểngiáo dục đại học đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở nước tatrong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài tài liệu tham khảo, phần mở đầu và phần kết luận, luận văngồm 3 chương với 10 tiết

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức

Chương 2: Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức

Trang 7

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức

Trang 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TRI THỨC

1.1 Khái niệm kinh tế tri thức

Sau khi trình bày và nhận xét một vài định nghĩa về kinh tế tri thức,luận văn giới thiệu định nghĩa của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

(OECD) về kinh tế tri thức Theo OECD, “Kinh tế tri thức là một nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức” hoặc “Kinh tế tri thức là kinh tế trong đó tri thức đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế, xã hội loài người” Đây là những định

nghĩa có tính khái quát cao, tuy nhiên trong hai định nghĩa đó, theochúng tôi, định nghĩa thứ nhất chuẩn hơn Bởi vì, định nghĩa này đã chỉ

ra được những thuộc tính cơ bản quy định nội hàm của khái niệm kinh

tế tri thức, đó là: nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối

và sử dụng tri thức Đây cũng chính là những thuộc tính phản ánh bản chất của nền kinh tế tri thức, thiếu những thuộc tính này nền kinh tế

không được gọi là nền kinh tế tri thức Và với một nền kinh tế mangbản chất như vậy, thì yếu tố tri thức có vai trò then chốt đối với sự pháttriển kinh tế – xã hội của loài người là điều đương nhiên, nó chính là hệquả của nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sửdụng tri thức

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển kinh tế tri thức

Sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức là kết quả của một quátrình phát triển lâu dài về khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh tế thịtrường Quá trình này có thể được chia thành 5 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1, từ năm 1770 đến 1825, bắt đầu từ nước Anh; máy

móc ra đời, đặc biệt là việc phát minh ra máy hơi nước của Jame Wattnăm 1784 đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của nhân

loại Phát minh này là điểm mốc đầu tiên của cuộc cách mạng khoa học

Trang 9

- kỹ thuật lần thứ nhất, cuộc cách mạng có công chuyển nền kinh tế thế

giới từ thời kỳ thủ công sang thời kỳ cơ khí hóa

Giai đoạn 2, từ năm 1826 đến 1875, phát sinh chủ yếu ở Anh,

Pháp, Đức Kinh tế thị trường phát triển dựa trên thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng khoa học kỹ thuật thời kỳ trước.

Nhờ đó, giao thông thủy, bộ và ngành chế tạo đã phát triển mạnh.Ngành cơ khí chế tạo ra đời, mở đầu thời kỳ có thể dùng máy để chếtạo ra máy

Giai đoạn 3, từ năm 1876 đến năm 1935, phát sinh chủ yếu ở Mỹ

và Đức Ở thời kỳ này, điện và hơi đốt là nguồn năng lượng chủ yếuthay thế cho hơi nước Song song với sự phát triển của khoa học kỹthuật là sự xuất hiện của nhiều ngành công nghiệp mới như ngành điện,ngành khai thác và chế biến dầu lửa, ngành hóa chất, ngành cơ khí chếtạo ô tô mới ra đời Đặc trưng cơ bản nhất của những ngành mới nổinày so với những ngành truyển thống là hàm lượng cơ khí, máy móctrong sản phẩm chiếm tỷ lệ cao nhất

Giai đoạn 4, từ năm 1936 - 1982 xuất hiện chủ yếu ở Mỹ Đây là

thời điểm diễn ra cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ 2 Cuộc

cách mạng này đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp tới xu hướng và tốc độphát triển của lực lượng sản xuất Mỗi năm thế giới có khoảng 1 triệuphát minh mới, làm xuất hiện 30 vạn mặt hàng mới Chính những phátminh này đã chuyển nền kinh tế thế giới từ thời kỳ cơ khí hóa sang thời

kỳ tự động hóa Bên cạnh những ngành kinh tế truyền thống gắn vớinền đại công nghiệp, các ngành kinh tế mới đã phát triển với tốc độ rấtnhanh (điện tử - bán dẫn, máy tính, viễn thông,…), trong đó các dịch vụliên quan đến thông tin (ngân hàng, tư vấn, thiết kế, bảo hiểm,…) phát

triển mạnh Đây chính là thời điểm đánh dấu sự gia nhập của một yếu tố sản xuất mới trong nền kinh tế, đó là thông tin

Trang 10

Giai đoạn 5, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX Giai đoạn

này cũng mở đầu tại nước Mỹ, khi quốc gia này muốn khôi phục vị trí

bá chủ thế giới của mình nhưng không phải qua công nghiệp mà quacông nghệ cao Mỹ đã sẵn sàng cho cuộc cách mạng khoa học – côngnghệ; kinh tế thế giới chuyển từ thời kỳ tự động hóa sang thời kỳ công

nghệ cao Theo các nhà nghiên cứu, đây chính là thời điểm nền kinh tế tri thức hình thành và phát triển với các mũi nhọn công nghệ cao: công

nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới,công nghệ hàng không vũ trụ…

Nói tóm lại, kinh tế tri thức đã được manh nha từ cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật lần 1, lần 2; nhưng phải đến những năm 80 của thế

kỷ XX khi diễn ra cuộc cách mạng khoa học – công nghệ thì nó mớixuất hiện và cũng chỉ mới xuất hiện ở một vài nước phát triển nhất(Mỹ, Nhật Bản) Như đã khẳng định, sự xuất hiện này không phải là độtbiến mà là kết quả phát triển lâu dài trên cơ sở kế thừa những thành tựucủa nền kinh tế nông nghiệp và nền kinh tế công nghiệp Đồng thời, đócũng là kết quả của một quá trình hai trăm năm phát triển khoa học, kỹthuật, công nghệ với sự gia tăng hàm lượng tri thức trong sản phẩm

cũng như tỷ trọng của nó trong GDP đến ngưỡng để được coi là kinh tế

tri thức (Theo OECD, tỷ trọng các ngành tri thức chiếm trên 70% GDPthì nền kinh tế mới được gọi là kinh tế tri thức) Những kết quả ấy cóthể tóm tắt lại bằng những nhân tố sau:

Tự động hóa cao độ;

Công nghệ tin học và thông tin phát triển cao độ;

Một môi trường an toàn và ổn định cho việc hình thành, sản xuất và tiêu thụ tri thức;

Một nền kinh tế thị trường phát triển cao với các thị trường tài chính quốc tế hoạt động hữu hiệu;

Trang 11

Một hệ thống giáo dục và đào tạo tốt tạo ra nguồn nhân lực chất lượng.

1.3 Đặc điểm của kinh tế tri thức

- Nền kinh tế tri thức coi tri thức là lực lượng sản xuất hàng đầu, lànhân tố quyết định sự phát triển

- Xã hội trong nền kinh tế tri thức là xã hội học tập

- Nền kinh tế lấy thông tin và công nghệ thông tin làm chỗ dựa đểphát triển

- Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững, rất nhạycảm và thân thiện với môi trường

- Nền kinh tế tri thức lấy thị trường toàn cầu làm hướng hoạt độngchính

- Sáng tạo là yếu tố sống còn với nền kinh tế tri thức

Từ những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế tri thức nói trên cho thấymuốn bước vào nền kinh tế tri thức phải có nguồn nhân lực chất lượng cao

Mà khi nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao thì biểu hiện cơ bản chính lànăng lực trí tuệ, trình độ chuyên môn và khả năng sáng tạo Điều này phụthuộc chủ yếu vào vai trò quyết định của nền giáo dục quốc dân, trong đótrực tiếp và quyết định nhất là giáo dục đại học Vai trò của giáo dục đại họcđối với phát triển kinh tế tri thức thể hiện ở những nét khái quát sau:

 Giáo dục đại học cung cấp kiến thức, trang bị trình độ chuyênmôn, nghề nghiệp cho người lao động ở mức cao

 Giáo dục đại học thực hiện chức năng phổ biến, truyền bá trithức (hoạt động đào tạo) và thu nhận, sáng tạo tri thức (hoạt động nghiên cứukhoa học)

 Giáo dục đại học tạo môi trường kích thích sự sáng tạo, dạyngười ta làm quen với nghiên cứu khoa học, với sáng tạo; trang bị những cơ

Trang 12

sở, nền tảng (kiến thức nền, phương pháp luận và những định hướng), qua

đó giúp người học hình thành năng lực sáng tạo

 Giáo dục đại học dạy cách học, cách sáng tạo, qua đó giúpngười học hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu và thực hiện việc họctập suốt đời

 Giáo dục đại học còn dạy người ta cách làm việc trong nềnkinh tế tri thức

Tóm lại, nói một cách tổng quát, vai trò của giáo dục đại học là cung

cấp nguồn nhân lực trình độ cao, có khả năng sáng tạo tri thức, truyền

bá tri thức và khai thác, sử dụng tri thức trong hoạt động khoa học và

thực tiễn Bởi vậy, với bất kỳ một nước nào muốn phát triển kinh tế - xãhội nói chung, nhất là bước vào nền kinh tế tri thức, đều phải tập trungphát triển nền giáo dục quốc dân, đặc biệt là giáo dục đại học

Ngày đăng: 22/01/2016, 09:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w